1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Liên văn bản trong tác phẩm của f kafka (2017)

105 130 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy chưa có những công trình tầm cỡ, song do được thừahưởng những thành quả nghiên cứu của thế giới mà việc nghiên cứu sáng tác củaKafka ở Việt Nam cũng đạt được một số thành quả nhất đị

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

HOÀNG KIM YẾN

LIÊN VĂN BẢN TRONG TÁC PHẨM CỦA F.KAFKA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

HOÀNG KIM YẾN

LIÊN VĂN BẢN TRONG TÁC PHẨM CỦA F.KAFKA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Người hướng dẫn khoa học

TS MAI THỊ HỒNG TUYẾT

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện

dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Mai Thị Hồng Tuyết Các kết quả nêu trong

khóa luận là trung thực Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng Tôihoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Xuân Hòa, tháng 5 năm 2017

Tác giả

Hoàng Kim Yến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, xin chân thành cảm ơn những người thân yêu trong gia đình đã tạomọi điều kiện cần thiết để tôi tập trung hoàn thành khóa luận

Đặc biệt, xin cảm ơn TS.Mai Thị Hồng Tuyết, người đã tận tình chỉ dạy,

hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi sớm hoàn thành khóa luậntrong điều kiện tốt nhất có thể

Xin cảm ơn lãnh đạo Khoa Ngữ văn, lãnh đạo trường Đại học sư phạm Hà Nội

2 đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện khóa luận

Xin cảm ơn tất cả quý thầy cô, bạn bè – những người đã luôn động viên,

khuyếnkhích và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Xuân Hòa, tháng 5 năm 2017

Tác giả

Hoàng Kim Yến

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 1

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Dự kiến đóng góp 4

7 Bố cục 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÍ THUYẾT LIÊN VĂN BẢN 5

1.1 Sự ra đời của lí thuyết liên văn bản 5

1.1.1 Sự thoái trào của chủ nghĩa cấu trúc 5

1.1.2 Những gợi ý từ lí thuyết của M.Bakhtin 8

1.2 Một số vấn đề cơ bản của lí thuyết liên văn bản 9

1.2.1 Khái niệm văn bản 9

1.2.2 Văn bản và tác phẩm 9

1.2.3 Từ vấn đề liên chủ thể đến liên văn bản 11

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình liên văn bản 18

1.2.4.1 Quan điểm thẩm mĩ của thời đại 18

1.2.4.2 Vốn sống, vốn văn hóa và ngôn ngữ của nhà văn 19

1.2.4.3 Sự chi phối của thể loại nói chung 20

1.3 Ảnh hưởng của lí thuyết liên văn bản đến văn học Việt Nam hiện nay 22

Tiểu kết 24

CHƯƠNG 2: LIÊN VĂN BẢN TRONG SÁNG TẠO VÀ TIẾP NHẬN TÁC PHẨM CỦA F.KAFKA 25

2.1 Các hình thức liên văn bản trong sáng tạo của F.Kafka 25

2.1.1 Về môtíp 25

2.1.1.1 Môtíp hóa thân/ biến dạng 25

Trang 6

2.1.1.2 Môtíp mê cung 26

2.1.1.3 Môtíp con người bị đeo bám 30

2.1.2 Sự huyền thoại hóa không gian và thời gian nghệ thuật 31

2.1.2.1 Không gian huyền thoại 32

2.1.2.2 Thời gian huyền thoại 35

2.1.3 Trích dẫn và giễu nhại 41

2.1.3.1 Trích dẫn 41

2.1.3.2 Giễu nhại 42

2.2 Liên văn bản trong tiếp nhận tác phẩm của F.Kafka 45

2.2.1 Sự tiếp nhận môtíp “mê lộ” từ sáng tác của F.Kafka 46

2.2.1.1 Hiện tượng kể chuyện theo lối “mê lộ” trong tiểu thuyết của Paul Auster 46 2.2.1.2 Sự tiếp nhận môtíp “mê lộ” trong tác phẩm của J.Borges 49

2.2.2 Liên văn bản trong các tác phẩm chuyển thể 50

Tiểu kết 55

KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

1 Lí do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

1.1 Khái niệm “liên văn bản” (intertextuality) xuất hiện vào nửa sau thế kỉ XX

đã gây tác động mạnh đến nhận thức văn học và trở thành mối quan tâm chủ yếu củanhà nghiên cứu ngữ văn hàng đầu thế giới J.Kristeva, M.Bakhtin, R.Barthes,Genette, Refaterre, Bloom… được xem là những nhà lập thuyết và thực hành quantrọng Cho đến nay, có một nhận thức chung rằng bất kì văn bản nào cũng có mốiquan hệ với các văn bản khác ra đời trước đó Quan hệ này dựa trên những sự kếtnối giữa các văn bản với nhau bằng những phương thức khác nhau như: ám chỉ,trích dẫn, giễu nhại, chuyển thể, chuyển dịch, đạo văn, mô phỏng, pha trộn…Những quan hệ này được tác giả tạo lập bằng ý thức hoặc vô thức, được tri nhậntrong tực tiễn giao tiếp nghệ thuật và chúng tương tác với tri thức và trải nghiệm vănbản của người đọc, gây ra hứng thú diễn giải, qua đó, các giá trị văn hóa khôngngừng được sản sinh và đón nhận Liên văn bản là thuật ngữ được dùng để miêu tảthuộc tính hay phương thức quan hệ trên đây, nơi mà mỗi văn bản đều chứa đựng sựtham chiếu đối với các văn bản khác, qua đó chúng sinh sản và nảy nở ý nghĩa Mặc

dù có vị thế rất quan trọng trong từ vựng nghiên cứu phê bình văn học trên thế giới,song nó vẫn chưa được khảo sát, nghiên cứu, giới thiệu một cách có hệ thống

1.2 F.Kafka là một trong những nhà văn lớn nhất thế kỉ XX Sinh thời, ôngviết không nhiều nhưng những tác phẩm của ông đều trở thành kinh điển Tác phẩmcủa ông mang tính ẩn dụ và sự đa nghĩa trong các hình tượng nghệ thuật, đồng thờichúng còn thể hiện sự đổi mới kĩ thuật viết ở nhiều phương diện Các tác phẩm củaKafka thể hiện tính liên văn bản rất rõ Một mặt, người ta thấy ông là một nhà cáchtân song đồng thời ông cũng là người kế thừa truyền thống Mặt khác, đã có rấtnhiều tác giả khác chịu sự ảnh hưởng sâu đậm từ các tác phẩm của Kafka

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Liên văn bản trong tác phẩm của F.Kafka” để nghiên cứu với mục đích tìm hiểu thêm về sáng tác của

Kafka ở phương diện liên văn bản

2 Lịch sử nghiên cứu

Trang 8

Sau hơn 45 năm kể từ khi Kristeva đặt ra thuật ngữ liên văn bản (1967), đã córất nhiều công trình nghiên cứu luận bàn, phát triển và vận dụng lý thuyết, trong đó

đáng chú ý là các công trình: Intertextuality (Liên văn bản - 2000) của Graham Allen, Intertextuality: Debates and Contexts (Liên văn bản: Tranh luận và ngữ cảnh

- 2003) của Mary Orr… Nhìn chung, nghiên cứu lí thuyết này trên thế giới thống

nhất ở nhiều điểm: về sự xuất hiện của khái niệm, về nội hàm của khái niệm, vềdanh sách những nhà lập thuyết và thực hành tiêu biểu, về sự phát triển và tiềmnăng ứng dụng của lí thuyết Về cơ bản, có hai xu hướng khác nhau trong luận giải

và thực hành phân tích liên văn bản: hướng cấu trúc - trần thuật (Genette vàRiffaterre là đại diện) và hướng giải cấu trúc - hậu hiện đại (với các đại biểu nhưBarthes, Derrida, Eco, Kristeva, Bloom) Mỗi xu hướng trên đây đều đã có nhữngđóng góp nhất định trong việc lí giải, phát triển và vận dụng lí thuyết liên văn bản,

có ảnh hưởng trên phạm vi thế giới

F.Kafka đến với bạn đọc Việt Nam khoảng giữa những năm 50 của thế kỉ XX

Từ đó đến nay đã là một khoảng cách khá xa và số công trình viết về ông đã dày lênrất nhiều Độc giả Việt Nam biết đến Kafka chủ yếu thông qua các công trình lí luận

về tiểu thuyết hiện đại Tuy chưa có những công trình tầm cỡ, song do được thừahưởng những thành quả nghiên cứu của thế giới mà việc nghiên cứu sáng tác củaKafka ở Việt Nam cũng đạt được một số thành quả nhất định, có thể kể đến các công

trình nghiên cứu như: “Franz Kafka và vấn đề huyền thoại trong văn học phương

Tây hiện đại” của Hoàng Trinh; “Chủ nghĩa hiện sinh và vấn đề huyền thoại” của

Phạm Văn Sĩ; “Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka” của Trương Đăng Dung; bài nghiên cứu về Kafka và các tác phẩm của ông trong giáo trình Văn học phương Tây

của Đặng Anh Đào…

Từ chỗ xác định vị trí, vai trò của F.Kafka đối với văn học hiện đại thế giới,các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu những đổi mới về nghệ thuật tiểu thuyết màKafka là người mở đường Đó là những sáng tạo độc đáo của Kafka về cốt truyện,nhân vật, bối cảnh, không gian và thời gian trong tiểu thyết Điều này được các nhà

nghiên cứu thể hiện trong các công trình của mình như: Hi vọng và phi lí trong tác

phẩm của Franz Kafka của A Camus, Viết về nghệ thuật của Becton Brecht, Trên hành trình

Trang 9

chân lí Franz Kafka của Lê Huy Bắc…

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu: Đề xuất một hướng tiếp cận mới trong tác phẩm của F.Kafka – Liên văn

bản trong tác phẩm của Kafka

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về lí thuyết liên văn bản

- Nghiên cứu liên văn bản trong sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm của F.Kafka ở cácphương diện: Các hình thức liên văn bản trong sáng tạo của F.Kafka (về môtíp,không gian và thời gian nghệ thuật, trích dẫn và giễu nhại); Liên văn bản trong tiếpnhận của F.Kafka (liên văn bản trong các công trình nghiên cứu, liên văn bản trongcác tác phẩm chuyển thể)

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề liên văn bản trong các tác phẩm của F.Kafka.

Phạm vi nghiên cứu:

- Về phạm vi tư liệu: Chúng tôi khảo sát hiện tượng liên văn bản trong những tác

phẩm chính của Kafka đã được dịch sang tiếng Việt như: Vụ án, Lâu đài, Hóa thân cùng một số truyện ngắn như Hang ổ, Một thầy thuốc nông thôn, Người cưỡi xô,

Mười một người con trai …

- Về vấn đề nghiên cứu: Trong khi khảo sát hiện tượng liên văn bản trong tác phẩmF.Kafka, chúng tôi nhận thấy không chỉ trong tác phẩm của Kafka có sự chồng xếpcác dạng văn bản trước đó và đương thời mà trong các tác phẩm sau này, các nhàvăn hay các nghệ sĩ thuộc các lĩnh vực khác nhau cũng chịu ảnh hưởng lớn từKafka Nói cách khác, liên văn bản không chỉ có trong quá trình Kafka sáng tạo tácphẩm mà còn có ở quá trình tiếp nhận tác phẩm của ông Vì thế, bên cạnh vấn đềliên văn bản trong sáng tạo, chúng tôi còn nghiên cứu cả hiện tượng liên văn bảntrong tiếp nhận tác phẩm Kafka

5 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng phối hợp nhiều phương pháp, trong đó phương pháp lịch sử - loại

Trang 10

hình và phương pháp cấu trúc - hệ thống được sử dụng chủ yếu.

- Phương pháp lịch sử - loại hình: Chúng tôi khảo sát lịch sử hình thành và sự vậnđộng của lí thuyết liên văn bản, đặc trưng và nội hàm của khái niệm qua từng nhàlập thuyết - thực hành và từng thời điểm Những công trình của các nhà lí luận nhưBakhtin, Kristeva, Barthes sẽ được đánh giá theo phương pháp trên

- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Trước hết chúng tôi dùng để nghiên cứu mộtcách hệ thống tư tưởng của các nhà lập thuyết về liên văn bản Sau đó được dùng đểnghiên cứu thực tiễn liên văn bản trong sáng tác của F.Kafka

Ngoài ra chúng tôi sử dụng kết hợp các thao tác và phương pháp phân tích, thốngkê,

so sánh, đối chiếu

6 Dự kiến đóng góp

- Về mặt lí thuyết: Khóa luận trình bày một cách tương đối đầy đủ về một số vấn đề

cơ bản của lí thuyết liên văn bản (khái niệm văn bản, văn bản và tác phẩm, từ vấn đềliên chủ thể tới liên văn bản )

- Về mặt thực tiễn: Tiếp cận liên văn bản trong sáng tác của F.Kafka nhằm làm rõ líthuyết, qua đó đánh giá được sự kế thừa và sáng tạo trong bút pháp nghệ thuật củaKafka - một hiện tượng lớn của văn học hậu hiện đại

7 Bố cục

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục phần nội dung được triển khai làm 2 chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về lí thuyết liên văn bản

Chương 2: Liên văn bản trong sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm của F.Kafka

Trang 11

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÍ THUYẾT LIÊN VĂN BẢN 1.1 Sự ra đời của lí thuyết liên văn bản

1.1.1 Sự thoái trào của chủ nghĩa cấu trúc

Theo Đại từ điển tiếng Việt, khái niệm “cấu trúc” có nghĩa là “Tổng hòa các

mối qua hệ bên trong của một chỉnh thể” [18, tr.285] Trong tiếng Pháp cũng định

nghĩa từ “structure” là cách sắp xếp giữa các bộ phận của một tập hợp cụ thể hay

trừu tượng, hay là việc tổ chức các bộ phận của một hệ thống làm cho nó có một tính

cố kết mạch lạc và mang tính đặc trưng thường xuyên Từ “structure” trong tiếng Pháp có xuất xứ từ từ Latin “structura” nghĩa là xây dựng, kiến tạo Trong số các

định nghĩa trên đây, có định nghĩa tỏ ra giống với định nghĩa về hình thức Nhưngnói chung, phạm trù trung tâm của khái niệm cấu trúc là các mối quan hệ nội tại.Thuyết cấu trúc là một học thuyết xuất hiện ở châu Âu vào khoảng giữa nhữngnăm 1950 Nguồn gốc của nó là ở các công trình ngôn ngữ học của Ferdinand deSaussure Quan điểm chủ chốt của Saussure là: ngôn ngữ là hình thức chứ khôngphải chất liệu; nó là một hệ thống ký hiệu, mà ký hiệu lại là một thực thể kết hợpgiữa cái biểu đạt với cái được biểu đạt

Nhưng sự xuất hiện thực sự của chủ nghĩa cấu trúc phải được tính từ năm

1955, khi nhà nhân chủng người Pháp Claude Gustave Lévi-Strauss (1908) cho

đăng trên tờ tạp chí Journal of American Folklore một bài báo nhan đề Nghiên cứu

cấu trúc thần thoại Ông khẳng định, giống như các thành phần khác của ngôn ngữ,

một câu chuyện thần thoại được tạo thành bởi các đơn vị hợp thành mà chúng cầnphải được xác định, được tách ra và được liên hệ với một mạng lưới ý nghĩa rộnglớn Như vậy, mọi hiện tượng văn hoá cần phải được nhìn nhận như là các sảnphẩm của một hệ thống các ý nghĩa mà chúng chỉ được xác định trong mối quan hệgiữa chúng với nhau ở trong hệ thống, như thể chính bản thân hệ thống đang đặt racác ý nghĩa Mọi mã ý nghĩa đều mang tính tuỳ tiện, nhưng không thể hiểu đượchiện thực mà không dựa vào một mã nào đó Và chủ nghĩa cấu trúc tìm cách xácđịnh các quy tắc và những điều bó buộc mà trong đó và nhờ đó ý nghĩa được tạothành và được thông báo Chủ

Trang 12

nghĩa cấu trúc với tư cách là một phương pháp đã được áp dụng cho ngành xã hộihọc, lý luận - phê bình văn học và triết học Nó đặc biệt tỏ ra có hiệu quả trong lĩnhvực nghiên cứu cấu trúc tự sự.

Chủ nghĩa cấu trúc coi trọng cấu trúc đồng đại hơn diễn biến lịch đại của các

sự vật, tức là nó không coi trọng tính lịch sử của sự vật, và nó coi trọng tổng thể hơn

cá thể Nó cho rằng sự vật chỉ có ý nghĩa khi được xem xét trong một cấu trúc củatổng thể Theo nó, cấu trúc của một sự vật là một chỉnh thể thống nhất và toàn vẹn,bao gồm cả nội dung lẫn hình thức, và nó có một ý nghĩa chính xác của nó, độc lậpvới bất cứ yếu tố bên ngoài nào

Ở Hoa Kỳ, chủ nghĩa cấu trúc được coi như là một loại của trường phái Phêbình mới Nửa cuối thế kỷ XX, ở Hoa Kỳ đang có hai xu hướng trong nghiên cứuvăn học Một là, xu hướng nghiên cứu hướng vào tác giả, với đại diện tiêu hiểu làE.D.Hirsch; xu hướng này đặt cho mình nhiệm vụ đi tìm dụng ý của tác giả để giảinghĩa văn bản Hai là, xu hướng nghiên cứu hướng vào độc giả, với đại diện làtrường phái hậu cấu trúc ở Đại học Yale, nơi có nhà hậu cấu trúc luận người PhápJacques Derrida thường xuyên đến thỉnh giảng; xu hướng này dành đặc quyền chongười đọc trong việc đáp lại văn bản Nhưng trường phái Phê bình mới lại bác bỏ cảhai xu hướng trên Nó không để ý đến tác giả và cũng không để ý đến độc giả Nóchỉ công nhận những gì có trong văn bản tác phẩm và chỉ tập trung phân tích cái cấutrúc khép kín của văn bản tác phẩm mà thôi; tác phẩm được coi là một đơn vị cấutrúc tách biệt khỏi thế giới xung quanh, không có bất cứ một mối liên hệ nào với thếgiới, thậm chí với cả tác giả sản sinh ra nó Những điều trên đây cho thấy, đối vớicác nhà cấu trúc luận, tác phẩm nghệ thuật là một cấu trúc tự thân, chặt chẽ vàchính xác, không cần đến bất cứ một yếu tố nào khác ngoài chính nó

Khái niệm “cấu trúc” chỉ mô tả tác phẩm như là một bộ khung, chỉ bao gồm

những mối quan hệ chủ yếu chứ không bao gồm tất cả mọi mối quan hệ tương tácnội tại của tác phẩm Và việc phân tích cấu trúc chính là để làm sáng rõ cái bộkhung chi phối giá trị của một tác phẩm Đây là hạn chế của phương pháp phân tíchcấu trúc Do đó phải nói rằng phương pháp cấu trúc chỉ có giá trị là một phươngpháp cận cảnh

Trang 13

cụ thể nhằm đạt tới những kết quả chính xác về kết cấu của tác phẩm, chứ nó khôngcho ta những giải pháp xác đáng về giá trị của tác phẩm Tức là nó chỉ có ý nghĩa làmột phương pháp cục bộ Chính cái quan niệm cực đoan về tính độc lập chặt chẽcấu trúc của chủ nghĩa cấu trúc “cổ điển” đã dẫn đến sự phản kháng chống lại nó vàlàm xuất hiện chủ nghĩa cấu trúc phân giải hay “hậu cấu trúc”.

Chủ nghĩa cấu trúc phân giải hay hậu cấu trúc được hình thành từ phản ứngcủa chính những nhà cấu trúc luận có chủ trương đổi mới chủ nghĩa cấu trúc bằngcách cải cách cái tư tưởng giáo điều cứng nhắc của nó về trật tự ổn định của các sựvật Nếu như chủ nghĩa cấu trúc sử dụng ngôn ngữ học để tìm ra mối quan hệ trật tự

ở bất cứ lĩnh vực nào, thì chủ nghĩa hậu cấu trúc sử dụng ngôn ngữ học để lập luậnrằng tất cả mọi trật tự trên thế giới đều được dựa trên một sự mất trật tự đặc trưngchủ yếu trong ngôn ngữ và trên thế giới, mà sự mất trật tự này không bao giờ có thể

bị chế ngự bằng một cấu trúc hoặc một mã ngữ nghĩa nào đó Ngay từ đầu nhữngnăm 1960, khi chủ nghĩa cấu trúc đang còn thịnh hành ở phương Tây, thì đã xuấthiện một phong trào phản kháng chống lại nó Phong trào này ít quan tâm đến việctìm hiểu xem các hệ thống vận hành như thế nào, mà nó quan tâm đến việc chúng ta

có thể bị dỡ bỏ như thế nào để cho các nguồn năng lượng và tiềm năng của chúng

có thể được giải thoát và được sử dụng cho việc xây dựng một kiểu xã hội hoàntoàn khác Nếu như chủ nghĩa cấu trúc, bất chấp những tư tưởng chính trị thiên tảcủa những người đại diện xuất xắc nhất của nó, về mặt phương pháp luận vẫn mangtính bảo thủ - đó là một chủ nghĩa ủng hộ các cấu trúc ổn định vĩnh hằng, một thứcấu trúc “cô đặc như một tinh thể” nói theo cách nói của Lévi-Strauss, thì chủnghĩa hậu cấu trúc có thể coi là mang tính cấp tiến một cách hoàn toàn tự giác, nóđòi xét lại các phương pháp mà tư duy duy lý truyền thống thường sử dụng để mô tảthế giới Nếu chủ nghĩa cấu trúc coi ký hiệu là cửa sổ nhìn ra cái thế giới siêunghiệm của một trật tự “tinh thể”, của những bản sắc hình thức có khả năng tự duytrì vượt ra ngoài thời gian và ngoài lịch sử, của những mã ý nghĩa mà dường nhưnằm ngoài mọi khác biệt do những hiện tượng bất ngờ của cuộc sống hàng ngàysinh ra, thì chủ nghĩa hậu cấu trúc cho rằng mọi cấu trúc như vậy chỉ là nhữngchiến lược cai trị và kiểm soát xã hội, là những

Trang 14

cách phớt lờ hiện thực chứ không phải là tìm hiểu hiện thực Chủ nghĩa hậu cấu trúccho rằng đã đến lúc cần phải tiêu huỷ các ký hiệu, và cùng với chúng là tiêu huỷluôn cả mọi trật tự ý nghĩa và trật tự hiện thực mà nhờ có ký hiệu mà chúng có thểtồn tại.

Chủ nghĩa hậu cấu trúc đã phê phán cái tính chất độc đoán áp đặt của chủnghĩa cấu trúc Nó cho rằng chủ nghĩa cấu trúc dường như lấy phương tiện kỹ thuật

để quyết định kết quả nghiên cứu, rằng đối với chủ nghĩa cấu trúc sẽ không còn cơhội cho tính sáng tạo và cho những điều bất ngờ Ở chủ nghĩa hậu cấu trúc, ngườiđọc được lên ngôi thay chỗ cho tác giả Người đọc được quyền tự do tạo nghĩa chotác phẩm, bất chấp khả năng có thể xảy ra việc hiểu và lý giải sai văn bản tác phẩm.Đây là một xu hướng cực đoan, vô nguyên tắc

Như vậy, với quan niệm mở rộng nghĩa đến vô cùng để chống lại quan niệm

bó hẹp ngữ nghĩa của chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu cấu trúc đã chuyển từ cựcđoan này sang cực đoan khác, vượt cả giới hạn của lý thuyết hiện tượng học

1.1.2 Những gợi ý từ lí thuyết của M.Bakhtin

M.Bakhtin (1895-1975) là nhà triết học, mỹ học và nghiên cứu văn học lớn củaLiên Xô và thế giới thế kỉ XX Trong công trình nghiên cứu đầu tiên vào năm 1924

về vấn đề nội dung, chất liệu, và hình thức trong sáng tạo nghệ thuật ngôn từ ôngkhẳng định mỗi lời phát biểu cụ thể bao giờ cũng hiện diện trong một ngữ cảnh vănhóa đầy ý nghĩa và chỉ trong ngữ cảnh lời phát biểu mới sống và mới được nhận biếtđúng hay sai, đẹp hay xấu, chân thành hay xảo trá, cởi mở trơ trẽn hay đầy quyền

uy, những lời trung tính không có và không thể có

Trong tiểu luận Ngôn ngữ tiểu thuyết Bakhtin cho rằng bất cứ lời nói nào cũng

nhằm để đáp lại và không thể tránh khỏi ảnh hưởng sâu xa của lời đáp dự kiến sẽ có.Mỗi phát ngôn không thể trung tính, nó sẽ bị vây bọc bởi quan điểm, lập trường,giọng điệu khác và buộc phải gia nhập các mối quan hệ tương tác, tán đồng, li khai

Và ông khẳng định thuộc tính của lời nói là tính đối thoại Nếu F.de.Saussure chorằng lời nói là hành vi mang tính cá nhân thì ngược lại, Bakhtin đặt ngôn ngữ trongquan hệ với tình huống xã hội cụ thể, ý nghĩa Của các từ và các phát ngôn tùy thuộcvào chủ thể Theo Bakhtin khi không có ý thức chủ động, người nói không nhận ra

Trang 15

mình bị bao bọc bởi muôn ngàn tiếng nói khác nhau Quan điểm này trở thành nhân

tố quan trọng nó quy định chủ thể trong vòng biến động, trong cuộc đụng độ ý thức.Nguyên tắc đối thoại của Bakhtin trở thành tiêu chuẩn sự tiến hóa xã hội Hdquistxác định rằng, với Bakhtin tồn tại là đối thoại, ngôn ngữ là đối thoại, và tính tiểuthuyết là đối thoại, bởi theo Bakhtin ý thức bắt đầu ở đâu thì ở đó có đối thoại Từnguyên lí đối thoại Bakhtin tiếp cận thể loại tiểu thuyết, ông xem lí luận về thể loạitiểu thuyết là tính đối thoại sự phát triển của tiểu thuyết là khơi sâu tính đối thoạị,

mở rộng nó và làm cho nó ngày càng trở nên tinh tế Tiểu thuyết mang tính đathanh, phức điệu, tính nhiều giọng nói Lời nói của tiểu thuyết tồn tại như một sựlặp lại, có tính giễu nhại, nó đối thoại với lực lượng quan phương, nghiêm trang,những chân lí bất biến giáo điều đầy sức ì bằng một ý thức hệ bình đẳng, dân chủkhỏe khoắn lành mạnh, mang tính chất tái sinh giàu sức sống Theo Bakhtin, biểuhiện của tính đối thoại là tính dị ngôn, tức là ngôn ngữ luôn thẩm thấu những vếttích khác, những cách dùng khác, những ý thức khác Lời nói vừa có quan hệ nộibản, vừa có quan hệ liên văn bản Bản chất lời nói luôn có mối quan hệ với lờinói… do đó tự nhiên đã thực hiện sự kết nối liên văn bản, liên ý thức, liên chủ thểđối thoại Với quan niệm ngôn ngữ tiểu thuyết mang tính đối thoại, Bakhtin đượcxem là nhà khai sáng lí thuyết liên văn bản

1.2 Một số vấn đề cơ bản của lí thuyết liên văn bản

1.2.1 Khái niệm văn bản

Theo Mĩ học tiếp nhận: Văn bản là một chuỗi kí hiệu được in trên giấy, là mộtcấu trúc có tính lược đồ, có nhiều tầng bậc chưa xã định Nó không tự sản sinh ýnghĩa Nếu không được đọc thì nó cũng chẳng khác gi các từ trong từ điển Tácphẩm là sản phẩm tiếp nhận văn bản, tồn tại trong ý thức người đọc [12, tr.21]

1.2.2 Văn bản và tác phẩm

Văn bản và tác phẩm là hai khái niệm thống nhất nhưng không đồng nhất, cầnđược phân biệt ở phương thức tồn tại

Văn bản là một hệ thống ngôn ngữ do nhà văn sáng tạo, chờ người đọc đến đọc,

nó chưa tham gia vào sự hành chức xã hội thẩm mĩ, là đối tượng của sự phân tích

Trang 16

khép kín về mặt giải thích học Tác phẩm văn học là hệ thống ngôn ngữ đã đượcngười đọc đọc và phủ cho một ý nghĩa nhất định Với sự xuất hiện của lí thuyết cấutrúc, kí hiệu và lí thuyết tiếp nhận, sự phân biệt văn bản và tác phẩm ngày càngđược chấp nhận rộng rãi Người đầu tiên chủ chương phân biệt văn bản và tác phẩm

là nhà lí luận văn học Ba Lan Roman Ingarden Có thể nói ông là người đầu tiên đềcập đến phương thức tồn tại của tác phẩm, đưa ra một cách nhìn khác về tác phẩmbên ngoài sự thống nhất nội dung và hình thức Theo ông, tác phẩm thông thườngchỉ là một văn bản vốn là một khách thể có tính chủ ý thuần túy, trong đó có nhiềutính không xác định và yếu tố chưa hoàn thành Chỉ thông qua sự cụ thể hóa các yếu

tố đó thì tác phẩm mới trở thành tác phẩm văn học trong thực tế Như thế văn bảnkhông đồng nhất với tác phẩm Nhưng chính văn bản mới là phương thức tồn tại đầutiên của tác phẩm

M.Bakhtin cũng đã phân biệt văn bản với tác phẩm như một sự thật chất liệu

và khách thể thẩm mĩ Năm 1973, trong bài Lí thuyết văn bản, R.Barthes thử trả lời câu hỏi “Văn bản là gì?” Theo ông, văn bản không phải là tác phẩm, cũng không

phải là khách thể, thậm chí không phải là một khái niệm Văn bản nảy sinh trongkhông gian giữa người đọc và con chữ, nó là một nơi sản sinh Văn bản lại là mộtthực tiên ý chí mà hạt nhân là một tính đa nguyên xuất hiện dưới hình thức mâuthuẫn Văn bản với tư cách là hoạt động sinh sản, nó sản sinh ra không phải là sảnphẩm, mà là nơi gặp gỡ giữa tác giả và người đọc, người diễn xuất, người tiến hànhcác trò chơi chữ Do đó, văn bản không phải là sự kết thúc của sinh sản mà là quátrình sinh sản Tư liệu sinh sản của nó là ngôn ngữ, là thứ ngôn nữ người ta dùng đểgiao tiếp, tái hiện, biểu đạt Văn bản giải cấu trúc ngôn ngữa ấy và tạo thành mộtthứ ngôn ngữ khác, cú thế tuần hoàn không dứt Điều này cũng được ông thể hiện

rất rõ trong cuốn S/Z, trong tác phẩm này khái niệm văn bản được Barthes mô tả như

là tính đa bội đắc thắng

Như vậy, tác phẩm văn học là sản phẩm sinh nghĩa và tạo nghĩa của văn bản,

là sự thống nhất có tính quá trình giữa văn bản nghệ thuật với khách thể thẩm mĩhình thành trong hoạt động tiếp nhận của người đọc

Trang 17

1.2.3 Từ vấn đề liên chủ thể đến liên văn bản

Trong cuốn Những vấn đề thi pháp Dostoievski M.Bakhtin cho rằng: từ trong

bản chất, lời nói mang tính đối thoại và giao tiếp đối thoại chính là môi trường đíchthực của đời sống ngôn ngữ Điều này có nghĩa mọi phát ngôn bằng lời, không cóngoại lệ, đều là những quan điểm của chủ thể khác nhau được biểu hiện trong lờinói, vì những quan điểm ấy đều thuộc về những ngữ cảnh và nhãn quan giá trị - xãhội trái ngược, rất khác nhau và đôi khi thù nghịch nhau, nên bất kì phát ngôn nàocủa chủ thể về một đối tượng cũng xuất hiện như là kết quả tiếp nhận tích cực vàphản ứng cũng tích cực như thế đối với các phát ngôn về chính đối tượng ấy Lờinói nào cũng xuất hiện trong quá trình định hướng qua lại đầy căng thẳng vớinhững quan điểm của người khác, những phát ngôn của người khác, và sự địnhhướng qua lại ấy được phân bố trên một khoảng âm vực rộng lớn giữa tán thànhtuyệt đối và cương quyết phản đối trước lời nói của người khác, khoảng âm vực baogồm cả hoài nghi, giễu nhại, dằn vặt, cười cợt…

Có thể tạm chia ước lệ quan hệ đối thoại trong Những vẫn đề thi pháp

Dostoievski thành 2 hình thức cơ bản: đối thoại sinh tồn và đa thanh phức điệu Khi

xác định đặc điểm đối thoại, M.Bakhtin đặc biệt coi trọng và đưa lên bình diện thứnhất các khái niệm tâm hồn, tự nhận thức, ý thức của cá nhân, tức là của con ngườinội tâm Đặc điểm cơ bản của con người nội tâm là sự tự do của của nó, nó khôngphải là một đại lượng hữu hạn, xác định để từ đó có thể kiến tạo những toan tínhchặt chẽ nào đó; con người hoàn toàn tự do và vì thế nó có thể phá hủy mọi quy luậttrói buộc nó Con người không bao giờ đồng nhất với bản thân, vì thế cuộc sốngđích thực của cá nhân luôn luôn diễn ra ở cái điểm không đồng nhất ấy của conngười với bản thân mình, ở cái điểm vượt ra ngoài giới hạn của tất cả những gì mà

nó chỉ tựa như một tồn tại bên ngoài, thứ tồn tại có thể xem xét, xác định, tiên đoánvắng mặt nó, ngoài ý chí của nó Bởi thế, cá nhân con người là bất định - phi xácquyết, thể hiện tính không hoàn kết, một thuộc tính khiến không thể khách thể hoá,

đồ vật hoá theo bất kì cách thức nào Đồng thời, vì cá nhân bao giờ cũng tồn tạitrong môi trường của những tập hợp người bao bọc xung quanh, nên hy vọng sâuthẳm của nó là làm thế

Trang 18

nào để trực tiếp tự bộc lộ trước những người khác, được người khác thừa nhận vàkhẳng định tự do của mình trong hành vi đối thoại đích thực như một bản thể: Phảithâm nhập bằng đối thoại thì mới hiểu được đời sống cá nhân, đó là kiểu thâm nhập

mà tự bản thân cá nhân sẽ bộc lộ một cách tự do và có trách nhiệm

Nhưng mâu thuẫn là ở chỗ, ở cấp độ sinh tồn (trong thực tiễn đời sống), ý thứccủa người khác bao giờ cũng có sức mạnh và quyền lực được vật chất hoá mà sự tự

do tự nhận thức của cá nhân luôn luôn chống lại Hơn nữa, ngược lại, người khác lạimuốn ngoại hình hoá, hoàn tất nó để khẳng định và thừa nhận sự tự do vô hạn củacon người nội tâm; về phía mình, con người nội tâm, tìm mọi cách nổi loạn đểcưỡng lại việc ngoại hình hoá như thế, bởi vì nó cảm nhận một cách sống động sựkhông hoàn kết nội tâm của mình: Chừng nào con người còn sống, nó sẽ sống bằngcon người vẫn chưa hoàn kết và vẫn chưa nói lời cuối cùng của mình

Ta hiểu vì sao, ở cấp độ sinh tồn, theo tinh thần của Bakhtin, đối thoại là cuộcđấu tranh nảy lửa giữa tôi và người khác Do không một ai có thể sống thiếu sự thừanhận và khẳng định của người khác, nên cá nhân phải tự nguyện kéo cái nhìn củangười khác về phía mình Nhưng tuỳ vào mức độ ý chí của người khác, sự phán xétcủa người khác mà cái nhìn ấy chứa đựng trong bản thân, chính cá nhân kia phải nớilỏng và thực hiện những ý đồ đầy tuyệt vọng nhằm tránh khỏi sự khách quan hoá:lời của nó bắt đầu quằn quại và vỡ vụn dưới ảnh hưởng của lời người khác, bắt đầucãi lại, phỏng đoán, chống đỡ lại nó, biến thành muôn vàn sự cân nhắc và những kẽnứt bất tận… miễn sao bảo vệ được sự độc lập của mình, duy trì được cho bản thânlời nói cuối cùng về mình, lời tự ý thức của mình để nó trở thành không phải là cáinhư nó vốn có

Sơ đồ đối thoại của Dostoievski khá đơn giản: đối lập giữa con người và conngười như là sự đối lập giữa tôi và người khác (theo công thức: tôi thì chỉ có mộtmình, còn họ là tất cả) Kết quả của sự đối lập như thế là thế giới bị chẻ ra thànhlưỡng diện: ở bên này là tôi, bên kia là họ, có nghĩa, tất cả những người khác, bất kể

họ là ai, không có ngoại lệ Con người theo quan niệm của Bakhtin không có khảnăng thâm nhập vào người khác, nếu người khác không có khả năng đồ vật hoá con

Trang 19

người nội tâm, thì bản thân con người nội tâm cũng không đủ sức nắm bắt sự đóngkín và phi xác quyết của mình với sự trợ giúp của cái người khác ấy.

Sự định hướng qua lại mang tính đối thoại của các cá nhân không dẫn tới sựthay đổi hay đột biến trong nội tâm của họ; ngược lại, nhiệm vụ của con người nộitâm là làm thế nào để nhất quyết bảo vệ bằng được lời nói cuối cùng cho mình Lờinói cuối cùng ấy phải thể hiện sự độc lập tuyệt đối của nhân vật trước cái nhìn và lờinói của người khác, thể hiện sự dửng dưng hoàn toàn của nó với ý kiến của ngườikhác và sự đánh giá của người khác Điều đó có nghĩa là: việc tiếp xúc căng thẳnggiữa sự tự ý thức không hoàn kết của tôi và ý thức hoàn kết của người khác tất yếubiến thành cuộc xung đột đối thoại vô vọng, không lối thoát Bởi thế, nếu vấn đề đốithoại được Bakhtin giải quyết bằng chìa khoá triết học sinh tồn, thì vấn đề phức điệuđược ông giải quyết bằng chìa khoá của triết học đa bội

Thứ nhất, ở đây cá nhân không phải là một nhân cách chưa hoàn kết, mà,ngược lại, là một nhân cách toàn vẹn, như một đại diện cho một lập trường nhấtquán của cá nhân, một quan điểm nhất quán, hoặc chân lí về thế giới, được phản ánhtrong giọng nói sống động của một con người nhất quán

Thứ hai, tất cả các giọng nói - điểm nhìn đều thuộc những ngữ cảnh xã hội,hoặc các nhãn quan giá trị khác nhau về chất Một mặt, tất cả các nhãn quan giá trị

ấy đều không có bất kì một nguồn gốc chung nào (do thuộc về những hệ tính khácnhau, chúng hoàn toàn xa lạ với nhau), mặt khác, ngay từ đầu, chúng đã có khuynhhướng khác nhau, nên giữa chúng không có một mục đích chung nào cả: chúnghoàn toàn độc lập, xung đột với nhau và, đương nhiên, không tương hợp với nhau–chúng không đồng nhất và hoàn toàn không hoà hợp Theo Bakhtin, phức điệukhông đơn giản là tính đa bội của những giọng nói và ý thức độc lập, không hoàhợp, mà là tính đa bội của những trung tâm - ý thức không thể quy về một mẫu số tưtưởng hệ

Thiếu mẫu số chung, tức là thiếu một trung tâm chung để những trung tâm - ýthức cá nhân và rời rạc hướng về, đó là đặc điểm tối quan trọng thứ ba của thế giớiphức điệu của Bakhtin Ở đây, những quan điểm khác nhau không nằm trong quátrình cùng tìm kiếm chân lí, chúng không có nhu cầu đời đời cùng - hân hoan, cùng-

Trang 20

chiêm nghiệm, cùng - đồng thuận và chúng cũng chẳng bị giày vò bởi hoà âm của những giọng nói không hoà hợp.

Ngược lại, các quan hệ định hướng qua lại một cách căng thẳng mà những cơchế ngữ nghĩa khác nhau tham gia vào đó tuyệt nhiên không phải là phức điệu củanhững giọng nói dung hoà với nhau, mà là phức điệu của những giọng nói tranh đấu

và phân rẽ tự bên trong Xung đột và đấu tranh - đó là những gì thắt buộc và nối kếtcác cơ chế ngữ nghĩa, dẫn tới sự thống nhất của cái xung khắc, không cho phép thếgiới phức điệu phân rã Bakhtin phân biệt hai dạng đấu tranh ngôn từ - tư tưởng hệdiễn ra giữa ngữ cảnh xã hội và nhãn quan giá trị: năng động và tĩnh tại

Nếu trong công trình Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ, cái được đưa lên

bình diện thứ nhất là thực tiễn giao tiếp xã hội sinh động, nơi mỗi lời của người nói

tự nó chỉ có sự đồng nhất với bản thân và tính ổn định nhất thời, lúc nào cũng vấpphải lời đối lập, vì thế nó bị cuốn vào dòng tương tác ngôn từ bất tận bị chia vụn bởinhững mâu thuẫn sinh động, dòng tương tác ngôn từ này kéo dài giống như một quátrình hình thành liên tục, không có hồi kết, không có sự hoà giải, hay sự yên lòng,thì trong cuốn sách về Dostoievski, trọng tâm lại được dồn vào đối lập tĩnh tại ở các

cơ chế ngữ nghĩa của lời nói đa dạng, những cơ chế mà về cơ bản, không một cơ chếnào trong số đó có khả năng thay đổi hoặc làm phong phú thêm dẫu chỉ là cho nhãnquan giá trị của người khác, nhờ đó làm biến dạng chuỗi ngữ nghĩa liên tục của thếgiới phức điệu Vì trong thế giới ấy, chất liệu ngữ nghĩa bao giờ cũng được cungcấp tất thảy, tức thời cho ý thức nhân vật, hơn nữa, nó được cung cấp dưới dạng cácthiết chế ngữ nghĩa nhân bản, dưới dạng những giọng nói, và mọi sự chỉ tập trungvào sự lựa chọn giữa chúng với nhau, sau nữa, vì cuộc đấu tranh tư tưởng hệ trongnội tâm mà nhân vật tiến hành là cuộc đấu tranh để lựa chọn những khả năng ngữnghĩa hiện hữu mà số lượng của chúng vẫn giữ nguyên, gần như không thay đổi, chonên ở đây không có sự hình thành tư tưởng, không có sự hình thành mang tính biệnchứng một tinh thần thống nhất, nói chung, không có sự hình thành, không có sựlớn lên, mà chỉ có sự cộng tồn không gian của những mâu thuẫn và những đối lập

mà về nguyên tắc, không thể xoá bỏ trong một hợp đề biện chứng, cũng không thểthoả hiệp, không thể

Trang 21

giải quyết, kết quả là, phức điệu hoá ra hoàn toàn không đơn giản là đa thanh, mà

là sự đa thanh, sự đa bội của những ý thức không thể dung hoà dẫn tới cuộc tranhluận bất tận và vô vọng

Ở những nét cơ bản, quan điểm đối thoại - phức điệu của Bakhtin là như vậy

Lí thuyết liên văn bản của J.Kristeva xuất phát từ đó Từ, Đối thoại và Tiểu thuyết là

công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên của Kristeva với tư cách là lí thuyết giangười Paris Đây cũng là một trong những công trình đầu tiên giới thiệu tư tưởngBakhtin đến với độc giả phương Tây Nhiều tư tưởng của Bakhtin như tnh đốithoại, sự đối lập giữa đối thoại và độc thoại, đa thanh/phức điệu, siêu ngôn ngữ,carnival, trào phúng Menippean, giễu nhại, lưỡng trị, sự khác biệt giữa sử thi vàtiểu thuyết đã được Kristeva chuyển dịch, tóm lược, bình luận, diễn giải, tinh chế,làm khác, bổ sung và vận dụng Có cơ sở để đồng ý rằng tiểu luận này là cuộc đốithoại xuyên ngôn ngữ giữa hai tình thế liên văn hóa: đó là đối thoại giữa Kristeva

với Bakhtin trên cơ sở di sản Hình thức luận Nga (mà Kristeva đã thu nhận trực tiếp

ở quê hương Đông Âu) và Lí thuyết Pháp đương đại mà Kristeva tiếp thu và phát

triển cùng những bậc thầy và đồng nghiệp khác như L.Goldman, R.Barthes,E.Benveniste, J.Lacan, M.Foucault, J.Derrida… Trên đại thể, việc Kristeva sáng tạo rathuật ngữ liên văn bản để thay thế cho quan niệm về tnh đối thoại/tnh liên chủthể của Bakhtin không phải là sự chuyển dịch không trung thành sang tiếng Pháp,cũng không phải là sự bóp méo đơn thuần mà là một chiến lược cố ý, một sự đọcsai (misreading)/tái diễn giải mới theo lối hậu cấu trúc luận Và ở đây, chí ít là có 3điểm, bà đã bóp méo quan điểm của M.Bakhtin

Thứ nhất, Kristeva đã làm thay đổi hoàn toàn - theo tinh thần phân tâm học

Freud - khái niệm người khác của Bakhtin Bà giải thích rằng thoạt đầu, người kháccủa Bakhtin cũng chính là người khác của ý thức theo triết học Hegel, chứ khôngphải là người khác lưỡng phân của phân tâm học Về phía mình, chính tôi muốnnghe thấy điều đó như một chiều kích mở ra một hiện thực khác bên trong hiệnthực của ý thức, chứ không phải như một người khác giữa các cá thể Tức làKristeva muốn xoay chuyển Bakhtin của chủ nghĩa Hegel để biến ông thành Bakhtin

Trang 22

của chủ nghĩa Freud Quả thực, chính ý thức (chứ không phải cái vô thức) luôn nằm

ở trung tâm suy ngẫm

Trang 23

của Bakhtin, người xuất phát từ quan niệm về sự thống nhất giữa ý thức và sự tựnhận thức của chủ thể tự do và mang trách nhiệm đạo đức giống như là đại diệncủa một quan điểm nhất quán và giọng nói không thể chia cắt của tư tưởng Trongkhi đó, Kristeva lại đặc biệt hứng thú với những tư tưởng của chủ nghĩa Marx -Freud luận, với bà điều tối quan trọng là phải đặt vấn đề hoài nghi trước tnh hợppháp của những khái niệm “duy tâm”, kiểu như ý thức Bà tập trung chú ý vào cáctiến trình vô thức điều khiển thế giới ngôn từ - tư tưởng hệ Với Kristeva, “cáikhác” có chức năng khám phá một “sàn diễn khác”, một “kiểu khác của lôgic” -khám phá cái vô thức, chứ không phải là cá nhân khác.

Thứ hai, từ đây, sự xuất hiện của bản thân tư tưởng liên văn bản là điều dễ

hiểu Nếu với Bakhtin, đối thoại phức điệu bao giờ cũng diễn ra đích thị ở giữanhững chủ thể tự chủ, những chủ thể có “hạt nhân” cá nhân không thể vắt kiệt,không thể phân rã, thì với Kristeva, giữa các cấp độ lời nói - tư tưởng hệ (các vănbản, các diễn ngôn) đặt bên ngoài cá nhân, phi cá nhân - trên cá nhân và tiền cánhân, những cấp độ chỉ gặp gỡ, bện kết với nhau trong những cá nhân riêng lẻ, màđến lượt mình, chúng té ra chẳng phải là gì khác ngoài những văn bản di động nằmtrong quá trình trao đổi lẫn nhau, phân bổ qua lại: trục hoành (chủ thể - ngườinhận) và trục tung (văn bản - ngữ cảnh) cuối cùng trùng khớp với nhau khi tìm thấyđiều cơ bản: mỗi lời (văn bản) đều là sự giao cắt của hai lời (hai văn bản), nơi còn

có thể đọc thêm ít nhất một lời nữa (văn bản) Nếu đối thoại phức điệu của Bakhtin

là tnh “liên chủ thể” theo ý nghĩa chính xác của từ ấy, thì lôgic về liên văn bản củaKristeva từ trong bản chất của nó lại cần tới “cái chết của chủ thể”, nếu cá nhân với

tư cách là “chủ thể của lối viết” tự tan rã do đánh mất “hạt nhân” quen thuộc vàcùng với nó, mọi sự tự trị Ta hiểu vì sao, thuật ngữ liên văn bản của Kristeva không

bổ sung, mà có nhiệm vụ lấn át, thay thế tnh liên chủ thể Mọi văn bản đều được

tổ chức như một bức khảm bằng những trích dẫn, mọi văn bản đều là sự hấp thụ

và biến đổi một văn bản khác nào đó Bởi thế, khái niệm liên văn bản đã thế chỗcho khái niệm liên chủ thể, và hoá ra, ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ bị đọc theo kiểu

Trang 24

nước đôi ít nhất Bởi vậy, ranh giới phân biệt đối thoại liên cá nhân của Bakhtin vàđối thoại liên văn bản của Kristeva là ranh giới

Trang 25

giữa những nguyên tắc của “nhân cách luận” (personnalisme), nguồn cảm hứng

của tác giả Những vấn đề thi pháp Dostoievski, và những tư tưởng của chủ nghĩa

Marx - Freud luận được Kristeva lấy làm nền móng cho những công trình như:

Bakhtin, ngôn từ, đối thoại và tiểu thuyết, Một nền thi pháp học sụp đổ…

Thứ ba, cảm hứng nổi loạn thấm đẫm chương IV (“Những đặc điểm thể loại

và kết cấu – truyện kể trong những tác phẩm của Dostoievski”) cuốn sách của

Bakhtin bị Kristeva trộn lẫn một cách cố ý với phương diện tư tưởng làm nền móngcho chuyên luận về “văn hoá carnival” của ông Như được mô tả trong chương IVcủa cuốn sách, bằng cách thể hiện “tnh tất yếu cùng với tính sáng tạo của sự thayđổi - làm mới, thể hiện tnh vui nhộn tương đối của mọi chế độ và trật tự, mọiquyền lực và vị thế (đẳng cấp), carnival xoá bỏ triệt để mọi “luật lệ, kị huý và chếtài”, nhưng xoá bỏ chủ yếu là để giải phóng ý thức con người - giải phóng nó thoátkhỏi quyền lực của truyền thống và quyền uy, không cho phép tư tưởng dừng lại

và đông cứng trong sự nghiêm túc đơn điệu, trong “tnh xác định và đơn nghĩa bỉổi”, “không cho phép tuyệt đối hoá bất kì một điểm nhìn nào, một cực nào của đờisống và bằng cách ấy nó tìm thấy bản chất hai mặt và không hoàn kết của con

người và tư tưởng con người” Vì thế, tiếng cười “lưỡng diện” trong chương IV cuốn Những vấn đề thi pháp Dostoievski có ý nghĩa thanh tẩy, nó nhắm tới sự tháo

bỏ gông xiềng cho trí tuệ con người, và ở đây, Bakhtin cần “carnival hoá đối thoại”

là để chống lại chủ nghĩa độc thoại, để đối lập chủ nghĩa độc thoại với phươngpháp khám phá chân lí bằng đối thoại của Socrates, thứ chân lí không sinh ra vàkhông cư trú trong đầu của con người riêng lẻ, mà sinh ra giữa những con ngườicùng nhau tìm kiếm chân lí trong quá trình giao tiếp đối thoại của họ Ngược lại,

carnival hoá liên văn bản mà Kristeva khởi xướng lại chủ yếu nhắm vào mục đích

giải thoát khỏi chân lí

Nếu với M.Bakhtin, hiện thân của cuộc tranh luận triền miên và vô vọng chính

là tiểu thuyết phức điệu, nơi tác giả không chỉ hành động như người tổ chức, màchủ yếu còn xuất hiện như người tham gia đối thoại bình đẳng, người không chừalại phía sau cả sự thừa dư ngữ nghĩa thiết yếu, lẫn lời phán quyết cuối cùng có khả

Trang 26

năng đặt dấu chấm hết, thì với Kristeva, hình ảnh và kiểu mẫu của tiểu thuyết liênvăn bản là

Trang 27

tác phẩm mà ở đó tác giả cố ý đóng vai trò đặc biệt của người viết kịch bản có

nhiệm vụ tổ chức mối xung đột giữa vô số các hệ tư tưởng (“các điểm nhìn”, “các

giọng nói”, “các văn bản”) mâu thuẫn với nhau, không thể phân chia thành cấp độ,

nhưng bản thân anh ta không tham gia vào xung đột ấy, bởi vì anh ta đứng ngoàimọi hệ tư tưởng, vô luận đó là tư tưởng như thế nào Người viết kịch bản chỉ làngười cáo giác các hệ tư tưởng ấy theo kiểu carnival: Văn bản (phức điệu) không

có hệ tư tưởng riêng, vì nó không có chủ thể (tư tưởng hệ) Đó là một kiến tạo đặcbiệt - là khu vực mà các hệ tư tưởng khác nhau xông ra để vắt kiệt sức nhau trongmột cuộc đối đầu

Dù có những điểm khác nhau như đã chỉ ra ở trên, rõ ràng, cả tổ hợp tư

tưởng trong Những vấn đề thi pháp Dostoievski (thực chất là tác phẩm của

M.Bakhtin nói chung), lẫn tư tưởng hệ ở những công trình của Kristeva, như

Bakhtin, Ngôn từ, Đối thoại và tiểu thuyết, Một nền thi pháp học sụp đổ, đã vượt ra

ngoài phạm vi của song đề nền tảng - ra ngoài xung đột giữa nguyên tắc bản thểluận về sự thống nhất của tồn tại và ý thức, ở phía này, và nhu cầu về tính đa trịthực thể luận, ở phía kia

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình liên văn

nó ảnh hưởng đến số phận của tác phẩm sau khi sinh thành Khi sáng tác, ngườinghệ sĩ cần phải lấy đó làm căn cứ để sáng tác, bởi nếu tác phẩm không phù hợpvới quan điểm thẩm mĩ thì nó sẽ mang một số phận ngắn ngủi

Mặt khác, để tạo ra tác phẩm tác giả tất yếu phải vận dụng vốn văn bản vôtận của mình và kiến tạo cấu trúc ngữ nghĩa cùng với sự bổ trợ của chất liệu ngônngữ được cất giữ trong văn bản, đó có thể là lời nói, câu văn, đoạn văn được vaymượn từ tác phẩm của người khác, được nghe, đọc từ các kênh thông tin khác

Trang 28

nhau… và mọi văn bản đều là liên văn bản, mà văn bản là kí ức vô thức của vănhóa, theo đó văn bản cũng chịu sự chi phối của quan điểm thẩm mĩ thời đại Nhưvậy quan điểm thẩm mĩ có vai trò quan trọng trong quá trình liên văn bản, hìnhthành tác phẩm Trong văn

Trang 29

học dân gian, với tư duy đơn giản của nười xưa cùng với thuộc tnh của nó (tínhtruyền miệng, tnh thực hành, tnh dị bản…) mà quá trình đồng sáng tạo có thểđược coi như một dạng thức của quá trình liên văn bản Trong Văn học trung đại,một trong những đặc trưng của thi pháp Văn học trung đại là lệ cổ, ưa dùng điển

cố, điển tch Chính bởi vậy khi sáng tác, họ có xu hướng trích dẫn, đưa vào tácphẩm của mình những điển cố, điển tích hay câu văn câu thơ của các tác giả đi

trước Ví dụ trong Truyện Kiều có viết “Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài, chữ

mệnh khéo là ghét nhau” hay câu “Giữa đường đứt gánh tương tư/ Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em” (điển tch keo loan) Trong văn học hiện đại ta cũng thấy quan

điểm thẩm mĩ của thời đại chi phối mạnh mẽ đến hoạt động sáng tác, quá trình liênvăn bản (Ví dụ: Huy Cận đã mượn câu thơ của Thôi Hiệu để diễn tả tâm trạng cô

đơn, nhớ nhà và niềm hoài cổ trước thực tại đất nước lúc bấy giờ trong bài Tràng

Nhà văn là người có vai trò tổ chức, nhào nặn văn bản thành tác phẩm, mànhư ta đã biết mọi văn bản đều là liên văn bản và văn bản là kí ức vô thức của vănhóa, kinh nghiệm đọc và vốn văn hóa của nhà văn là có hạn nó chỉ cho phép nhàvăn một lãnh địa nào đó để thực hiện quá trình liên văn bản (trích dẫn, giễu nhại,pha trộn…) Chính bởi vậy mà vốn sống, vốn văn hóa và vốn ngôn ngữ có ảnhhưởng trực tiếp đến quá trình này Một tác phẩm hay và có giá trị ít nhiều phụthuộc vào vốn văn hóa và vốn sống cũng như khả năng kiến tạo ngữ nghĩa của tácgiả Vốn văn hóa sâu, vốn sống rộng, sự am hiểu ngôn ngữ sẽ làm nên một tác

Trang 30

phẩm phong phú về mọi mặt Chẳng hạn, những tác giả người Hoa, chịu ảnhhưởng phương Tây, thường có một thao tác chung là tìm cách khế hợp quan điểmdụng điển của Trung Hoa truyền thống với quan điểm nghiên cứu liên văn bản hiệnđại Họ đưa ra các so sánh đối chiếu giữa

Trang 31

hai hệ thống quan niệm và dùng liên văn bản để soi sáng nghiên cứu điển cố trongtruyền thống Mục đích của thao tác này là chỉ ra tnh cơ chế liên văn bản của hoạtđộng dẫn điển, từ đó, cho thấy tnh hữu dụng của khái niệm liên văn bản đối vớiviệc thực hành phân tích điển cố Hán học trong thơ ca cổ điển Bằng việc vận dụngkhái niệm liên văn bản, các nhà nghiên cứu đã đưa hoạt động phân tch dụng điểnvốn chỉ dừng lại ở thói quen trình bày yêu cầu, phân loại từ chương, thể nghiệmmang tnh cá nhân trong thời trung đại sang các thao tác lý thuyết hiện đại Hoặcmột số tác giả Việt Nam như Nguyễn Du, đại thi hào dân tộc Việt Nam, bằng những

am hiểu về văn học Trung Quốc mà ông đã vay mượn cốt truyện Kim Vân Kiều

truyện để viết lên Truyện Kiều bằng ngôn ngữ dân tộc (chữ Nôm), bằng thể loại dân

tộc (truyện thơ Nôm) và bằng thể thơ quen thuộc, thể thơ truyền thống của dântộc (lục bát) Không chỉ vậy, Nguyễn Du còn mượn những hình ảnh, thi liệu quen

thuộc được sử dụng trong ca dao, tục ngữ để viết Truyện Kiều như: “Vầng trăng ai

xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường”; “Gặp cơn bình địa ba đào/ Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em” Không chỉ đến Truyện Kiều Nguyễn Du mới

đưa vào các sáng tác văn học dân gian, ngay từ những sáng tác đầu tay bằng tiếngdân tộc Nguyễn Du đã có khuynh hướng đưa ca dao, dân ca và ngôn ngữ quần

chúng vào trong sáng tác Trong hai bài Thác lời trai phường nón và Văn tế sống hai

cô gái trường lưu Nguyễn Du sử dụng khá nhiều thành ngữ và ca dao như “cốc mò

cò xơi”, “quýt làm cam chịu”, “bóng chim tăm cá”, “trâu buộc ghét trâu ăn” Hoặc

như Tố Hữu, ta biết đến ông là một nhà thơ trữ tình chính trị nhưng với nhũng câuthơ rất tâm tình, ngọt ngào, đậm chất dân gian trong đó Bởi lẽ, Tố Hữu đã vay

mượn rất thành công cụm từ “ta

-mình” và lối hát giao duyên trong ca dao để nói lên tình cảm của cán bộ miền xuôi

với nhân dân miền ngược trong bài thơ Việt Bắc… Đặc biệt là chất giọng tâm tìnhngọt ngào thương mến của thơ Tố Hữu, đó là sự ảnh hưởng bởi ngôn ngữ quêhương, nơi Tố Hữu sinh ra (Huế) và có nhiều năm tháng hoạt động cách mạng

Từ hai ví dụ trên ta có thể thấy, vốn sống, vốn văn hóa và ngôn ngữ là yếu tố có

Trang 32

ảnh hưởng quan trọng đến quá trình sáng tác, quá trình liên vănbản.

1.2.4.3 Sự chi phối của thể loại nói chung

Trang 33

Thể loại cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình liên vănbản Sự ra đời của các tác phẩm ở nhiều thể loại khác nhau nó cũng góp phần vàođịnh hướng sáng tác cho nhà văn qua sự tiếp nhận các tác phẩm ở các thể loại đểtạo nên tác phẩm của riêng mình.

Ví dụ như trong văn học dân gian Việt Nam hơn 90% số bài ca dao sử dụngthể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể Trong ca dao còn có thể thơ khác, như: songthất lục bát, vãn bốn, vãn năm Nguyễn Du đã rất thành công trong việc sử dụng

thể thơ lục bát của dân tộc với tác phẩm Truyện Kiều Ngoài ra, còn có một số tác phẩm văn học viết cũng được sử dụng thể thơ dân tộc này như Lục Vân Tiên”

(Nguyễn Đình Chiểu)…

Vào nửa đầu thế kỉ XX, các nhà văn, nhà thơ Việt Nam đã tiếp nhận ảnhhưởng từ thơ ngụ ngôn của La Fontaine, kịch của Molière, tiểu thuyết của Hugo,Dumas, Balzac Chế Lan Viên đã tiếp nhận kiểu thơ ngụ ngôn của La Fontaine Còn

Hoàng Ngọc Phách với tác phẩm Tố Tâm (1925) ông trở thành cây bút tiên phong

mở đường cho trào lưu lãng mạn trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ Tố Tâm là

cuốn tiểu thuyết báo hiệu bước phát triển mới của thể loại văn xuôi tự sự Sự đổi

mới và cách tân này của Tố Tâm trên cơ sở tác giả chịu ảnh hưởng và tiếp thu

những thành tựu của tiểu thuyết hiện đại của Pháp Khi nói về vấn đề này, Hoàng

Ngọc Phách đã thừa nhận tiểu thuyết Tố Tâm về hình thức được xếp đặt theo

những tiểu thuyết mới của Pháp, lối kể chuyện, tả cảnh theo văn chương Pháp cả

về tinh thần Tác phẩm mang những tư tưởng mới, tâm lý nhân vật được phân tchtheo phương pháp của những nhà tâm lý tiểu thuyết có tiếng đương thời Một số

tiểu thuyết mang tnh chất quái dị của Thế Lữ (Vàng và máu - 1934, Trại Bồ Tùng

Linh - 1941 ) cũng chịu ảnh hưởng khá rõ một số truyện kể quái dị của Hofmann

và E.Poe Khi tiếp thu những yếu tố mang tính chất huyễn tương trong truyện của

E.Poe, tác phẩm Vàng và máu (Thế Lữ) đã thể hiện sự đổi mới trong phong cách

nghệ thuật thể hiện

Nửa sau thế kỉ XX, đặc biệt là sau 1975, một số tác giả tiếp nhận khung cảnh

tự sự của văn học nước ngoài để đưa vào bối cảnh cụ thể của Việt Nam Trong lĩnh

Trang 34

vực này, Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương là những vídụ

Trang 35

tiêu biểu.

Qua đó có thể thấy yếu tố thể loại đã góp phần không nhỏ vào hoạt động tiếpnhận văn học, quá trình liên văn bản Đó là điều kiện cần để văn học có những tácphẩm mới mẻ ở nhiều thể loại

1.3 Ảnh hưởng của lí thuyết liên văn bản đến văn học Việt Nam hiện nay

Ở văn học Việt Nam, không phải chỉ đến văn học đương đại người ta mới đặt

ra vấn đề liên văn bản Thực chất liên văn bản đã có từ văn học trung đại Tuy nhiêntrạng thái liên văn bản lúc này chỉ tồn tại như việc trích dẫn các uy tn Liên văn bảnchủ yếu tồn tại ở dạng thức của việc sử dụng các điển cố, điển tch và hàm ẩn các ýnghĩa của các điển cố điển tch này thường là không đổi Đến văn học hiện đại,dạng thức của liên văn bản chủ yếu được vận dụng như thủ pháp, kĩ thuật viết, vànhiều hơn cả là sự ngưỡng vọng hoặc trích dẫn, giễu nhại

Văn học đương đại Việt Nam đã đem đến một sắc thái mới trong hành trìnhtiếp cận liên văn bản Liên văn bản được sử dụng một cách có ý thức và mang tnh

tự giác, đem lại diện mạo mới mẻ cho văn học Văn học Việt Nam trở nên gần gũihơn với văn học thế giới trong cảm quan hậu hiện đại, trong trường nhìn liên vănbản Các tác giả như Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Xuân Khánh đã xử

lí liên văn bản không chỉ ở cấp độ thủ pháp, kĩ thuật mà còn ở cấp độ nội dung tưtưởng Ở đó người ta thấy rõ có sự xuất hiện của các tư tưởng triết học, tư tưởngtôn giáo, tư tưởng văn học, tư tưởng xã hội và hơn thế là sự đối thoại của tác giảvới các tư tưởng này và sự đối thoại của các tư tưởng này với nhau Chưa bao giờtrong văn học Việt Nam, các vấn đề về tôn giáo, triết học, xã hội học, văn học lạiđược các nhà văn quan tâm nhiều đến thế Quan tâm không chỉ ở việc tả lại, kể lại

mà còn đối thoại lại Vượt thoát khỏi bóng dáng của những cuốn lịch sử, tôn giáo,triết học, xã hội học, lí thuyết văn học thông thường; vượt thoát khỏi cái bóng hưcấu hoàn toàn mà tác phẩm văn học thường có, các tác phẩm của Bảo Ninh, PhạmThị Hoài, Nguyễn Xuân Khánh, Hồ Anh Thái, Cao Duy Sơn, Thuận, Nguyễn BìnhPhương, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Huy Thiệp đã thẳng thắn đặt ra và

Trang 36

đối thoại với rất nhiều quan điểm, học thuyết - các văn bản vĩ mô của truyềnthống Cụ thể đó là sự đối thoại

Trang 37

với nỗi buồn, sự cô đơn, cảm giác lưỡng lự, thân phận bị lưu đày (chủ nghĩa hiệnsinh) trong các sáng tác của Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương; là sự soi chiếu từ

góc nhìn phân tâm học trong Song song của Vũ Đình Giang; là cảm thức về cái phi

lí, sự đỗ vỡ, bất tn nhận thức (kịch phi lí) trong các sáng tác của Thuận; là vấn đề

cách viết của nhà văn được đặt ra trong Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh, Đi tìm

nhân vật - Tạ Duy Anh, Một truyện cổ điển - Phạm Thị Hoài ; là xu thế đối thoại

với lịch sử, huyền thoại trong Hồ Quý Ly Nguyễn Xuân Khánh Những Đức Phật

-nàng Savitri và tôi (Hồ Anh Thái), Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), đã có

sự giải thiêng, giải mã tri thức theo thời đại về tôn giáo trong văn học, dưới góc

nhìn liên văn bản Trong Mẫu thượng ngàn Nguyễn Xuân Khánh đã khẳng định nét

đẹp của tín ngưỡng thờ Mẫu trong sự đối thoại với Nho học, Thiên chúa giáo Đókhông phải là một hủ tục mê tn mà là một tn ngưỡng bản địa có ảnh hưởng sâurộng trong tâm linh người Việt, là một nét đẹp văn hóa của dân Việt.Hơn thế nhàvăn còn đặt giải quyết vấn đề văn hóa sức sống Việt qua sức mạnh của tnh Mẫuđược ẩn chứa qua các nhân vật bà Tổ cô bia ẩn, bà Ba Váy đa tình, cô đồng Mùi,

mõ Hoa khốn khổ, trinh nữ Nhụ Sức mạnh làm cho văn hóa ngoại lai tưởng đidẫn dụ nhưng thực ra là bị dẫn dụ Vậy nên khi có ý kiến cho rằng tính dục trong

Mẫu Thượng ngàn chỉ là yếu tố “câu khách”, Nguyễn Xuân Khánh đã biện giải:

trong mười cuộc làm tình của Mẫu Thượng ngàn đều có hàm chứa sức sống vànhân ái, không thuần tuý sex Còn nói như Nguyễn Hưng Quốc, nhà văn NguyễnXuân Khánh đã tạo nên một diễn ngôn kiểu Mẫu Tất nhiên với liên văn bản, sẽkhông có khởi thủy, sự đối thoại đa dạng sẽ đem những tiếng nói khác nhau trongvăn bản Nói như J.Kristeva: sau sự xuất hiện của Adam, thế giới không có gì lànguyên thủy Điều đó có nghĩa như sẽ không có văn bản khởi nguyên, mọi văn bản

sẽ là liên văn bản, ở đó có vô số những mảnh vụn của các mã ngôn ngữ khác vàtrước đó Tuy nhiên mỗi văn bản mới ngoài sự hấp thụ còn là sự chuyển thể; mỗiquy ước, mỗi khuôn mẫu, mỗi hình thức diễn ngôn vốn từng phổ biến cần đặt lạitrong tính đối thoại, tương tác Các tư tưởng triết học, tôn giáo, văn học, xã hội

Trang 38

học trong văn xuôi đương đại Việt Nam không mới, cái mới là ở chỗ các nhà vănđặt lại vấn đề trong sự đối thoại, tranh luận, tư biện Nói cách

Trang 39

khác thời đại của liên văn bản không chỉ là thời đại của “những cái chết” mà còn làthời đại của sự lên ngôi: sự lên ngôi của độc giả, sự lên ngôi của các văn bản truyềnthống Sự lên ngôi này được đặt ra trong sự đối thoại đã đem đến cho văn xuôiđương đại sau 1980 một diện mạo mới mẻ về nội dung tư tưởng Đây cũng là điểmtạo nên sự khác biệt giữa liên văn bản và đạo văn.

Tiểu kết

Lí thuyết liên văn bản đã có một lịch sử hình thành và phát triển khá dài Qua

đó ta có thể thấy được quan điểm và tinh thần của từng nhà lập thuyết về lí thuyếtliên văn bản cũng như sự kế thừa và phát huy của những nhà nghiên cứu sau này

từ kết quả nghiên cứu của các nhà lập thuyết trước đó Dù trải qua các giai đoạnhình thành và phát triển, từng có những quan điểm trái chiều nhưng cuối cùngchúng ta vẫn có được sự thống nhất chung về lí thuyết liên văn bản Và cho đếnnay, đây vẫn là một vấn đề nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu vănhọc Sự vận dụng lí thuyết liên văn bản vào phân tch các tác phẩm và trong sángtác cũng rất phổ biển Phạm vi ảnh hưởng của lí thuyết liên văn bản đã được mởrộng và ngày càng có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ nền văn học thế giới nóichung

Trang 40

CHƯƠNG 2: LIÊN VĂN BẢN TRONG SÁNG TẠO VÀ TIẾP NHẬN TÁC PHẨM

CỦA F.KAFKA 2.1 Các hình thức liên văn bản trong sáng tạo của F.Kafka

2.1.1 Về môtíp

2.1.1.1 Môtíp hóa thân/ biến dạng

Theo Đại Từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản Văn hóa thông tin: Hóa thân là

sự biến hóa của thần thánh thành người hay thành vật khác [18, tr.819] Nhữngkiểu hóa thân thường gặp trong văn học truyền thống: Người - Chết - Vật; Vật -Người; Vật - Người - Vật; Người - Vật - Người; Tiên (Thần) - Người - Tiên (Thần) Ta

có thể bắt gặp những kiểu hóa thân đó trong truyện cổ tích hay trong truyền

thuyết Ví dụ như Tấm trong truyện Tấm Cám sau 4 lần hóa thân (chim vàng anh

-cây xoan đào - khung cửi - quả thị) thì được hoàn kiếp trở về làm người Môtip này

ta bắt gặp rất nhiều trong truyện cổ Grim… Các nhân vật trong truyện cổ tchthường có kết thúc có hậu, họ sẽ trút bỏ vỏ xấu xí và được hưởng hạnh phúcnhưng nhân vật của Kafka thì cay đắng hơn Trong các tiểu thuyết của Kafka, ôngvẫn sử dụng môtp biến dạng/hóa thân nhưng theo một cách khác thường, riêng

biệt Đó có thể là sự biến dạng về hình hài (trường hợp của Samsa trong Hóa thân),

cũng có thể là sự biến dạng về suy nghĩ cá nhân, biến dạng về nhân tnh

Trong ba cuốn tiểu thuyết của Kafka, sự biến dạng của nhân vật cũng ẩn sau

đó sự chi phối của một quyền lực vô hình Nó thường bắt đầu với sự xóa bỏ cácđường viền lịch sử Hầu hết các nhân vật của Kafka chỉ là một cái tên viết tắt như

Jôzep K., K.; có tên không họ, hoặc không rõ là họ hay tên: Hunt, Leni, Block (Vụ án), Klamm, Olga, Pepi… (Lâu đài) Cái tên chỉ còn là một kí hiệu, một dạng khuyết thiếu, biến dạng Từ Nước Mĩ, tới Vụ án, rồi Lâu đài, tên nhân vật ngày càng được

rút gọn: từ cái tên đầy đủ Karl Rossmann → Jôzep K → K chỉ còn là một kí hiệu…Các yếu tố xác định nhân thân như tuổi tác, quê hương, gia đình, thời đại… hầunhư cũng đều được bỏ trống Chẳng hạn như nhân vật Jôzep K., độc giả chỉ biết anh

ta là một nhân viên ngân hàng chẳng may vướng phải một vụ án Anh ta có một

Ngày đăng: 06/01/2020, 17:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Văn Dân (1998), Văn học so sánh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
[2]. Trương Đăng Dung (2003), “Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka”, Tạp chí Văn học nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2003
[3]. Dương Ngọc Dũng (16/04/2012), “Huyền thoại và giải huyền thoại trong tư tưởng của Roland Barthes”, ht t p://ph e b i nhvanhoc. c o m .vn / h u y en - thoai-va- g iai- h u y en-thoa i -trong- t u -t u ong-roland - barthes/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyền thoại và giải huyền thoại trongtư tưởng của Roland Barthes
[4]. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại Phương Tây, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại PhươngTây
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1995
[5]. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điểnthuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[6]. F.Kafka (1998), Lâu đài, Trương Đăng Dung dịch, Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâu đài
Tác giả: F.Kafka
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 1998
[7]. F.Kafka, Tuyển tập truyện ngắn Franz Kafka, Truyện dịch Ebook, http://vie t messen g er.c o m / books/?title=tuyen%20taptruyen%20ngan%20franz%20k afka&page=7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn Franz Kafka
[8]. Kosikov G.K., Văn bản – Liên văn bản – lí thuyết liên văn bản, Lã Nguyên dịch, languyen.wordpress.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản – Liên văn bản – lí thuyết liên văn bản
[9]. Meletinsky E.M. (2004), Thi pháp của huyền thoại, Trần Nho Thìn, Song Mộc dịch. Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp của huyền thoại
Tác giả: Meletinsky E.M
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia
Năm: 2004
[10]Nhiều tác giả (1999), Văn học Phương Tây, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Phương Tây
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
[11]. Nguyễn Đào Nguyên (28/11/2016), “Điển cố văn học từ góc nhìn liên văn bản”, h t tp://w w w.vhn t .org.vn/ti n - tuc/van - ho c -nhiep-anh / 30046 / die n - c o -van-hoc- t u- goc-nhin-lien-van-ban Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển cố văn học từ góc nhìn liên vănbản
[12]. Hoàng Phê (chủ biên) (2001), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2001
[13]. Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận thi pháp học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
[15]. Nguyễn Văn Thuấn (06/11/2013), “Dẫn luận ngắn về lí thuyết liên văn bản”, http: / /phebi n hva n hoc.c o m .v n /da n -lu a n - n gan-ve- l y -t h u y e t -li e n- v a n -ban/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngắn về lí thuyết liên vănbản
[16]. Mai Thị Hồng Tuyết (2016), Hình tượng văn học như là kí hiệu, Nxb Khoa học xã hội, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng văn học như là kí hiệu
Tác giả: Mai Thị Hồng Tuyết
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 2016
[17]. Phùng Văn Tửu (13/11/2014), “Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học”,http://ng u van.hnu e .ed u .vn/Nghie n cuu/Va n ho c nuocngoai / tabid/1 0 5/n e wstab/3 6 2 / De f ault.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức huyền thoại trong sáng tácvăn học
[18]. Nguyễn Như Ý, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
[14]. Trần Đình Sử (chủ biên) – Phan Huy Dũng – La Khắc Hòa – Phùng Ngọc Kiếm – Nguyễn Xuân Nam, Giáo trình Lí luận văn học - Tập hai - Tác phẩm và thể Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w