TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA NGỮ VĂN === === QUYỀN THỊ MINH HIỂN KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN TRÊN MẠNG FACEBOOK Ở LỨA TUỔI HỌC ĐƯỜNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=== ===
QUYỀN THỊ MINH HIỂN
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN TRÊN MẠNG FACEBOOK
Ở LỨA TUỔI HỌC ĐƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học
TS KHUÂT THỊ LAN
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận được sựhướng dẫn nhiệt tình và chu đáo của TS Khuất Thị Lan – giảng viên tổ Ngônngữ, cùng sự ủng hộ, góp ý của toàn thể các thầy cô trong khoa Ngữ văn –Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tác giả khóa luận xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và gửi lời cảm
ơn trân trọng tới các thầy cô, đặc biệt là TS Khuất Thị Lan, người đã giúp tôihoàn thành khóa luận này
Hà Nội, ngày 10 tháng 04 năm 2017
Tác giả khóa luận
Quyền Thị Minh Hiển
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu củariêng tôi, dưới sự hướng dẫn của cô giáo TS Khuất Thị Lan Khóa luận tiếpthu và kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của những người đi trước, songkhông trùng với kết quả nghiên cứu của tác giả nào khác Nếu sai, tôi xinhoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2017
Tác giả khóa luận
Quyền Thị Minh Hiển
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Bố cục khóa luận………
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1.1 Một số vấn đề chung về giao tiếp 6
1.1.1 Khái niệm về giao tiếp 6
1.1.2 Các nhân tố của giao tiếp từ góc nhìn ngữ dụng học 10
1.1.2.1 Ngữ cảnh 10
1.1.2.2 Ngôn ngữ 15
1.1.2.3 Diễn ngôn 16
1.2 Giao tiếp mua bán ở lứa tuổi học đường trên mạng facebook 16
1.2.1 Khái niệm giao tiếp mua bán 17
1.2.2 Giao tiếp mua bán ở lứa tuổi học đường trên mạng Facebook 18
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIỚI THIỆU, MỜI CHÀO, QUẢNG CÁO TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN TRÊN MẠNG FACEBOOK Ở LỨA TUỔI HỌC ĐƯỜNG 21
2.1 Khảo sát giao tiếp mua bán trên mạng Facebook ở lứa tuổi học đường 24
2.1.1 Kết quả khảo sát………24
2.1.2 Nhận xét kết quả khảo sát……… 25
2.2 Đặc điểm ngôn ngữ giới thiệu và các biểu thức sử dụng 23
2.3 Đặc điểm ngôn ngữ mời chào và các biểu thức sử dụng 26
Trang 52.4 Đặc điểm ngôn ngữ quảng cáo và các biểu thức sử dụng 27
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ XƯNG HÔ TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN TRÊN MẠNG FACEBOOK Ở LỨA TUỔI HỌC ĐƯỜNG 31
3.1 Xưng hô trong giao tiếp của người Việt 31
3.1.1 Các kiểu xưng hô của người Việt 31
3.1.2 Xưng hô và các quan hệ được biểu hiện ……… 35
3.2 Kết quả khảo sát……… 36
3.3 Đặc điểm xưng hô trong giao tiếp mua bán trên mạng Facebook ở lứa tuổi học đường ………40
3.3.1 Quan niệm của người Việt về xưng hô trong giao tiếp mua bán …… 40
3.3.2 Kết quả khảo sát ……… Error! Bookmark not defined.0 3.4 Từ ngữ dùng để xưng hô trong giao tiếp mua bán………45
KẾT LUẬN 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 61 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
MỞ ĐẦU
Trang 7Mua bán là một trong những hình thức giao tiếp quan trọng góp phầnthúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Bởi lẽ, trong xu thế hội nhập ngày nay, muốn kinh tế phát triển thì trước hết sản phẩm phải có người biết đến và tiêuthụ theo nguyên tắc thị trường Không một phương thức giới thiệu, mua bánsản phẩm nào nhanh và hiệu quả hơn giao tiếp mua bán trên mạng Facebook Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về mua bán (xin được nói kĩ hơn ởphần lịch sử vấn đề), nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu tìmhiểu đặc điểm ngôn ngữ mua bán trên mạng Facebook Nghiên cứu đề tài này,người viết muốn có cái nhìn sâu sắc hơn về phương tiện và phương thức muabán trên mạng Facebook trên bình diện ngôn ngữ, từ đó thấy được ưu điểm vàhạn chế của việc sử dụng mua bán trên mạng Facebook ở lứa tuổi học đường
Vì những lý do trên nên tôi chọn “Khảo sát đặc điểm ngôn ngữ trong giao
tiếp mua bán trên mạng Facebook ở lứa tuổi học đường” làm đề tài khóa
luận Hi vọng khóa luận sẽ là tài liệu tham khảo cho những người có nhu cầumua bán để tiếp cận và tiêu thụ sản phẩm
Quảng cáo là một phương tiện quan trọng trong mua bán Khi mua bánxuất hiện thì quảng cáo cũng xuất hiện sau đó với mục đích phục vụ cho quá
Trang 8trình mua bán của con người Đầu thập kỉ 90 của thế kỉ trước, Việt Nam bắtđầu công cuộc đổi mới vì thế mà mua bán ngày càng tăng cao, kéo theo đóquảng cáo cũng xuất hiện nhiều để đẩy nhanh quá trình sản phẩm đến tayngười tiêu dùng
Đặc biệt, ngày 4 tháng 2 năm 2004, mạng Facebook ra đời được thànhlập bởi Mark Zuckerberg, đến năm 2009 mạng Facebook trở nên phổ biến ởViệt Nam Nó đã trở thành một trong những phương tiện dùng để trao đổi,mua bán của con người trong nhiều năm trở lại đây, lợi ích của mua bán trênmạng Facebook ngày càng tăng cao, ở bất cứ đâu con người chỉ cần một cáiclick chuột là có thể có những thứ mình cần thông qua mạng Facebook Muabán trên mạng Facebook hay còn gọi là mua bán online nó đã tạo nên cơn sốtmua bán qua mạng trong nhiều năm qua
Ở Việt Nam, mua bán trên mạng Facebook xuất hiện muộn và gần đâymới thực sự phát triển nên nghiên cứu về ngôn ngữ trên mạng xã hội chưanhiều, nhất là ngôn ngữ mua bán trên mạng Facebook Các công trình nghiêncứu ở Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu viết về đặc điểm ngôn ngữ trênmạng Facebook của giới trẻ, một số bài viết, luận văn nói về ngôn ngữ quảng
cáo Tiêu biểu là công trình nghiên cứu Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trên
Facebook của giới trẻ hiện nay của Cao Thị Trì - Đại học Sư phạm Tây
Nguyên, hay công trình nghiên cứu Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trên mạng xã
hội của Đàm Thị Phượng - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Chưa thấy công trình nào nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ mua bántrên mạng Facebook của sinh viên một cách toàn diện về cấu tạo ngữ pháp,ngữ nghĩa và ngữ dụng Đặc biệt các công trình nghiên cứu đã dẫn chỉ mớinói một cách chung chung về ngôn ngữ trên mạng xã hội chứ chưa có côngtrình nào đi sâu vào nghiên cứu một khía cạnh của đặc điểm ngôn ngữ trênmạng xã hội Facebook
Trang 9Khoá luận này tìm hiểu về khía cạnh đặc điểm ngôn ngữ mua bán trênmạng Facebook
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc mua bán có thể được thực hiện bằng nhiều phương tiện thông tinkhác nhau nhưng cơ bản được diễn ra dưới hai hình thức Đó là mua bán trựctiếp và mua bán gián tiếp, mua bán trực tiếp như: chợ, siêu thị, cửa hàng…hay mua bán gián tiếp như: qua các trang mạng xã hội, trang mạng mua bánonline (mạng facebook, các shop online,…), phát tờ rơi… bằng những ngônngữ khác nhau để kích thích, thu hút sự chú ý của người tiêu dùng Trongkhuôn khổ khóa luận này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu đặc điểm sửngôn ngữ mua bán trên mạng Facebook ở lứa tuổi học đường Đây là một loạihình thức mua bán có một số đặc điểm riêng biệt so với các loại hình thứcmua bán khác
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi chủ yếu khảo sát đặc điểm ngôn ngữ mua bán trên trangmạng Facebook ở lứa tuổi học đường các trang, các nhóm bán hàng, các shoponline được tạo trên mạng Facebook của lứa tuổi học đường
Đề tài dựa trên 26 các trang, nhóm, shop mua bán được tạo lập trênmạng Facebook ở lứa tuổi học đường
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Mục đích nghiên cứu
Thấy được đặc điểm sử dụng ngôn ngữ mua bán trên mạng xã hội ngàynay, đặc biệt là trên mạng Facebook của lứa tuổi học đường, đồng thời có cáinhìn toàn diện hơn về cách sử dụng từ ngữ trong mua bán của con người, để
từ đó có cảm nhận và đánh giá đúng thực trạng về việc sử dụng ngôn ngữ muabán trong thời kì hội nhập như hiện nay
Trang 10Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích bổ sung vào kết quả nghiên cứu vềngôn ngữ mua bán trên mạng xã hội của các tác giả đi trước với những vấn đềcòn bỏ ngỏ hoặc chưa được nghiên cứu kĩ, để thấy được sự phong phú cũngnhư vai trò của loại hình giao tiếp trong hoạt động mua bán trên mạngFacebook
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đặt ra, khóa luận cần thực hiên một số nhiệm vụchủ yếu sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận về mua bán trên mạng xã hội Facebook và cácphương tiện có liên quan đến mua bán trên mạng Facebook
- Khảo sát và phân loại ngôn ngữ mua bán trên mạng Facebook Miêu
tả, đánh giá đặc điểm ngôn ngữ mua bán trên mạng Facebook
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khóa luận này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được dùng khiphân tích chỉ ra các đặc điểm của ngôn ngữ mua bán trên mạng Facebook, rồitổng hợp các đặc điểm đó, chỉ ra quy luật chung của chúng
- Phương pháp thống kê, đối chiếu: Phương pháp nhằm thống kê, đốichiếu các yếu tố trong ngôn ngữ mua bán trên Facebook nhằm phục vụ chokhóa luận Sự thống kê, đối chiếu này giúp có được những số liệu chính xác,làm tăng tính thuyết phục của khóa luận
- Phương pháp điều tra: Phương pháp này được dùng để thu thập cácđặc điểm ngôn ngữ mua bán trên mạng Facebook
Trang 116 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đối với chúng tôi vì chỉ là sinh viên nên chúng tôi không có khả năngcũng như điều kiện để nghiên cứu sâu về đặc điểm ngôn ngữ mua bán trênmạng xã hội hiện nay Chúng tôi chỉ tập trung vào nghiên cứu một yếu tố đặcđiểm ngôn ngữ mua bán trên mạng Facebook ở lứa tuổi học đường
Ở một chừng mực nhất định, từ các kết quả nghiên cứu của khóa luận,người đọc có thể có sự liên hệ, so sánh đặc điểm ngôn ngữ mua bán trên mạngFacebook với các đặc điểm ngôn ngữ trên các phương tiện mua bán khác Từ
đó khóa luận hướng tới cái nhìn khái quát về những đặc điểm chung và nétriêng (ở khía cạnh đặc điểm ngôn ngữ) của ngôn ngữ mua bán trên mạngFacebook so với các phương tiện mua bán còn lại Quan điểm như vậy có thểlàm phong phú cho lí thuyết mua bán
Về mặt thực tiễn, những nhận xét của khóa luận có thể giúp ít nhiềucho những người mua bán, đồng thời giúp cho việc định hướng chỉ đạo hoạtđộng mua bán trên mạng xã hội sao cho hiệu quả, phù hợp hơn với văn hóangười Việt
7 BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN
Khóa luận này của chúng tôi gồm ba phần:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung:
+ Chương 1: Cơ sở lí luận
+ Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ giới thiệu, mời chào, quảng cáo tronggiao tiếp mua bán trên mạng Facebook ở lứa tuổi học đường
+ Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ xưng hô trong giao tiếp mua bán trênmạng Facebook ở lứa tuổi học đường
- Phần kết luận
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Một số vấn đề chung về giao tiếp
1.1.1 Khái niệm về giao tiếp
Giao tiếp có vai trò quan trọng trong cuộc sống, nhờ giao tiếp mà conngười trở nên gần gũi, thấu hiểu nhau hơn Giao tiếp là hoạt động tiếp xúc giữangười với người trong xã hội nó diễn ra sự trao đổi thông tin, sự trao đổi nhậnthức, tư tưởng, tình cảm và sự bày tỏ mối quan hệ, sự ứng xử, thái độ giữangười với người và với những vấn đề giao tiếp
Nhìn từ góc độ ngữ dụng học, tác giả Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa về
giao tiếp như sau: “Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin (bao gồm cả tri
thức, tình cảm, thái độ, ước muốn, hoạt động…) giữa ít nhất hai chủ thể giao tiếp (kể cả trường hợp một người giao tiếp với chính mình) diễn ra trong một ngữ cảnh và tình huống nhất định bằng hệ thống tín hiệu nhất định” Trong
giao tiếp lời nói và hành động là các yếu tố quan trọng
Lời nói không chỉ bao gồm sản phẩm của sự nói năng (văn bản) mà cònbao gồm các cơ chế (sinh lí, tâm lí), những quy tắc điều khiển sự sản sinh racác sản phẩm đó Lời nói nằm ở vị trí trung tâm bởi chính ở lời nói và bằng lờinói mà ngôn ngữ hành chức giao tiếp; chính ở đây quan hệ giữa ngôn ngữ với
xã hội, với người dùng mới hiện ra, đồng thời những quan hệ này mới tác độngtrở lại ngôn ngữ, chi phối cấu trúc của ngôn ngữ, tức chi phối mặt nội tại củangôn ngữ
Mô hình giao tiếp của Aristotle: Công trình giao tiếp ban đầu về giaotiếp bằng ngôn ngữ đã được mở ra từ các nhà tu từ học La Mã và Hi Lạp cổ đại– những người đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo các nhà hùng biện một cáchđúng đắn Vì thế mà trong nội hàm các học thuyết ban đầu về giao tiếp luôn
Trang 13nhấn mạnh đến vai trò của tác giả trước quần chúng Chúng phản ánh cái đượcgọi là quan điểm một chiều về giao tiếp Điều này được biểu hiện bằng môhình tuyến tính (một chiều) về giao tiếp của Aristotle bao gồm: người phát,thông điệp, người nhận Đó là những phác họa đầu tiên về quá trình giao tiếpbằng ngôn ngữ Đây cũng là cơ sở để các nhà nghiên cứu ngôn ngữ nhận thứcđầy đủ và sâu sắc hơn về giao tiếp Từ mô hình cơ bản này, những nghiên cứu
về giao tiếp được nới dần biên độ với các thành phần bổ sung
Sơ đồ giao tiếp của R.Jakobson: Sơ đồ này được hình thành khi líthuyết văn bản ra đời Gắn với quá trình tạo lập văn bản, Jakobson đã trình bàyquan điểm của mình về giao tiếp và các nhân tố giao tiếp trong công trình
Linguistics and poetics Ở đây, tác giả đưa ra sơ đồ giao tiếp gồm 6 thành tố
như sau:
NGỮ CẢNHNGƯỜI PHÁT……… THÔNG ĐIỆP ……… NGƯỜI NHẬN MÃ
TIẾP XÚCMÃVới việc bổ sung thêm ba nhân tố “ngữ cảnh, tiếp xúc, mã”,R.Jakobson đã thể hiện bước tiến trong quan điểm về giao tiếp so với mô hìnhgiao tiếp của Aristotle Song nhìn chung, đây vẫn là mô hình giao tiếp sơ giản,mang tính một chiều, chưa thấy được sự tác động qua lại của các nhân tố giaotiếp mặc dù có chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng đến giao tiếp, đặc biệt lànhân tố ngữ cảnh [1; 10]
Lược đồ giao tiếp của J.Lyons: Nếu như mô hình giao tiếp gắn với quá
trình tạo lập văn bản cuae R.Jakobson chú ý đến thông điệp với chắc năng thi
học, thì J.Lyons lại đưa ra một mô hình giao tiếp gắn với sự truyền tin như sau
Trang 14Tín hiệu truyền Tín hiệu nhận
X VẬT TRUYỀN KÊNH VẬT NHẬN Y
TIẾNG ỒN
Lược đồ giao tiếp của J.Lyons (dẫn theo Đỗ Hữu Châu)
Trong lược đồ này, X là nguồn phát tin và Y là nguồn nhận tin Thôngđiệp xuất phát từ X, được kí mã tại VẬT TRUYỀN và truyền đi theo KÊNHgiao tiếp đến VẬT NHẬN và chuyển đến Y Ở lược đồ này, J.Lyons đã pháthiện ra nhân tố nhân vật giao tiếp trung gian giữa các nhân vật giao tiếp trựctiếp Có thể nhìn nhận đây là mô hình giao tiếp giản yếu lấy sự trao đổi lời làmtrung tâm Tuy có bổ sung một số thành tố, song các học thuyết về giao tiếpnêu trên nhìn chung vẫn chỉ là những mô hình tuyến tính (một chiều) Đó là sựchủ định và chủ động của người nói và sự thụ động của người nghe Nói khác
đi, những mô hình này đã không tính đến sự biến thiên, đổi thay trong quátrình giao tiếp, trong khi bản chất của giao tiếp là hoạt động có tính hai chiều
Vì vậy, lược đồ giao tiếp của J.Lyons tuy được xem xét trong sự chi phối củanhiều nhân tố giao tiếp song chủ yếu vẫn nhìn nhận giao tiếp ở góc độ tĩnh nênchưa được coi là mô hình giao tiếp tối ưu
Mô hình tác động qua lại về giao tiếp: Thấy được sự tác động qua lại củacác nhân tố giao tiếp, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ sau này đã mở rộng ýniệm và chứng minh động lực, bản chất đang diễn ra của giao tiếp, đó là giaotiếp phải tính đến chiều phúc đáp của người nhận Chính vì thế, các nhànghiên cứu đã đề xuất ra mô hình tác động qua lại về giao tiếp như sau:
Trang 1510
Trang 16Môi trường giao tiếp thích ứng
Tiếng ồnNgười mã hóa
thông điệp
Người giải
mã hoáthông điệp
Tiếng ồn Tiếng ồn
Mô hình tác động qua lại về giao tiếp [3; 44].
Trong mô hình trên, nguồn mã hóa thông điệp được gửi tới người nhận thôngqua nhiều kênh giác quan Người nhận có vai trò tiếp nhận và giải mã thôngđiệp (như trong giao tiếp tuyến tính) nhưng sau đó lại phải mã hóa phản hồi
và gửi phản hồi này tới nguồn Tiếp đó, nguồn giải mã thông điệp, phản hồitheo căn cứ theo thông điệp gốc đã được gửi và phản hồi đã nhận được mãhóa một thông điệp mới thích ứng với phản hồi nhận được Vậy là quá trìnhgiao tiếp trở thành hai chiều (giao tiếp thích ứng)
Từ mô hình giao tiếp trên, hàng loạt định nghĩa về giao tiếp đã được
đưa ra A.Leongciev khái quát: “Giao tiếp là một hệ thống những quá trình
có mục đích và động cơ đảm bảo tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan
hệ tâm lí và sử dụng phương tiện đặc thù mà trước hết là ngôn ngữ” Parghin
lại đưa ra định nghĩa như sau: “Giao tiếp là một quá trình quan hệ, tác động
giữa các cá thể, là quá trình thông tin giữa con người với con người, là quá trình hiểu biết lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và trao đổi cảm xúc lẫn nhau”
[3; 12]
Với rất nhiều định nghĩa được đưa ra, để tìm một định nghĩa hoàn
Trang 17chỉnh về giao tiếp quả thật không đơn giản Bởi mỗi nhà nghiên cứu, vớinhững mục đích nghiên cứu khác nhau, sẽ đề xuất những định nghĩa và môhình giao tiếp khác nhau Tuy nhiên, theo chúng tôi, giao tiếp được hiểu là:
“Hoạt động mà người nói dùng ngôn ngữ để truyền đạt cho người nghe
những hiểu biết, tư tưởng, tình cảm, thái độ của mình về một thực tế khách quan nào đó để người nghe có hành động với thực tế như người nói mong muốn”.
1.1.2 Các nhân tố của giao tiếp từ góc nhìn ngữ dụng học
Giả định nghe câu: Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ? Ngữ pháp cổ
điển độc lập với ngữ cảnh, cho rằng không cần đến bất cứ chỉ dẫn nào khác,người nghe đã hiểu ngay nghĩa của nó Sự thực thì như sẽ chứng minh ở cácmục sau, nếu không gắn câu đó với các nhân tố của cuộc giao tiếp trong đó nóđược tạo ra thì chưa hiểu gì về nó Được hiểu là nhân tố giao tiếp các nhân tố
có mặt trong một cuộc giao tiếp, chi phối cuộc giao tiếp đó và chi phối diễnngôn về hình thức cũng như nội dung Các nhân tố giao tiếp là: ngữ cảnh,ngôn ngữ và diễn ngôn
Về vai giao tiếp: Trong một cuộc giao tiếp có sự phân vai: Vai phát radiễn ngôn tức là vai nói (viết), kí hiệu bằng Sp1 (speaker 1) và vai tiếp nhậndiễn ngôn, tức nghe (đọc), kí hiệu bằng Sp2 (speaker 2) Trong cuộc giao tiếpnói, mặt đối mặt, hai vai nói, nghe thường luân chuyển, Sp1 sau khi nói xong
Trang 18chuyển thành vai nghe Sp2 và ngược lại Sự thực thì vai nói, nghe không hềđơn giản Giả định có một người nói tên Hiền nói với một người tên Hoa mộtdiễn ngôn như sau:
Hiền (Sp1):
Hoa nói với cái Hà thầy giáo bảo nó nộp bài kiểm tra ngay.
Diễn ngôn này có quan hệ với bốn người: Hiền, Hoa, Hà và thầy giáo.Trong những người đó, Hiền là người nói trực tiếp, Hoa là người nghe trựctiếp nhưng người nói thực sự là thầy giáo và người tiếp nhận thực sự là Hà
Trong trường hợp này lời Hà nộp bài kiểm tra ngay không phải do Hiền tạo ra
và Hoa cũng không phải là người chịu trách nhiệm thực hiện nó Hoa chỉ cótrách nhiệm nói lại với Hà nội dung đó mà thôi Ta nói, trong trường hợp này,
thầy giáo là chủ ngôn (hay là nguồn phát), Hà là đích ngôn (hay nguồn nhận) còn Hiền chỉ là thuyết ngôn và Hoa chỉ là tiếp ngôn Trong một cuộc giao tiếp
bằng lời trừ thuyết ngôn, các vai tiếp trên có thể có hoặc vắng mặt và tiếpngôn hoặc đích ngôn (nói chung là người nhận) có thể ở tình trạng chủ động(có thể đáp lời ngay lời của người nói) mà cũng có thể bị động (chỉ tiếp nhận,không phản hồi tại chỗ)
Về quan hệ liên cá nhân: Quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa cácnhân vật giao tiếp đối với chính sự phát, nhận trong giao tiếp Quan hệ liên cánhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữacác nhân vật giao tiếp với nhau
Quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp có thể xét theo haitrục, trục tung là trục vị thế xã hội còn gọi là trục quyền uy (power), trụchoành là trục của quan hệ khoảng cách (distance), còn là trục thân cận(solidarity) Trong xã hội, con người khác nhau về địa vị xã hội Cái gọi là địa
vị xã hội có thể do chức quyền, tuổi tác, nghề nghiệp… mà có Cũng tùy theoquan niệm văn hóa của từng xã hội trong từng giai đoạn lịch sử mà địa vị xã
Trang 19hội khác nhau Theo trục quyền uy thì những người giao tiếp ở mức độ cao –thấp hoặc bình đẳng với nhau và quan hệ vị thế là phi đối xứng, có nghĩa làmột khi đã được xác định đúng thì sẽ giữ nguyên trong quá trình giao tiếp,không thể qua thương lượng mà thay đổi vị thế Trên trục khoảng cách cácnhân vật giao tiếp có thể gần gũi mà cũng có thể xa cách nhau Trục này cóhai cực: thân tình và xa lạ với những mức độ khác nhau Nên chú ý mức độthân cận có thể tỉ lệ thuận với mức độ hiểu biết về nhau của những người giaotiếp nhưng không nhất thiết là đã hiểu nhau thì sẽ thân nhau Thân cận là trụcđối xứng, có nghĩa là trong quá trình giao tiếp nếu Sp1 dịch gần lại Sp2 cũngdịch lại gần Sp1 (tất nhiên trừ trường hợp có người không cộng tác, chối từ sựbiến đổi đó) và ngược lại Qua thương lượng có thể thay đổi khoảng cách.
Quan hệ liên cá nhân chi phối cả tiến trình giao tiếp, cả nội dung vàhình thức của diễn ngôn Trong các ngôn ngữ, đặc biệt trong tiếng Việt, xưng
hô chịu áp lực rất mạnh của quan hệ liên cá nhân Qua xưng hô mà Sp2 nhậnbiết Sp1 đã xác định quan hệ vị thế và quan hệ thân cận Chính quan hệ liên
cá nhân chi phối mạnh cách xưng hô để thử nghiệm hoặc bày tỏ ý muốn thayđổi quan hệ liên cá nhân Trong các ngôn ngữ như tiếng Việt, sử dụng từ ngữxưng hô là một chiến lược thiết lập quan hệ liên cá nhân trong hội thoại
Hiện thực ngoài diễn ngôn: Trừ nhân vật giao tiếp, tất cả những yếu tố
vật chất, xã hội, văn hóa… có tính cảm tính và những nội dung tinh thầntương ứng không được nói đến trong diễn ngôn của cuộc giao tiếp được gọi là
hiện thực ngoài diễn ngôn (đối với ngôn ngữ thì là hiện thực ngoài ngôn ngữ).
Tuy gồm cả những yếu tố vật chất và tinh thần nhưng hiện thực ngoàidiễn ngôn phải được nhân vật giao tiếp ý thức Khi đã trở thành những hiểubiết của những người giao tiếp (và của những người sử dụng ngôn ngữ) thì
hiện thực ngoài diễn ngôn hợp thành tiền giả định bách khoa hay tiền giả định
giao tiếp của diễn ngôn.
Trang 20Một cuộc giao tiếp chỉ đạt hiệu quả khi các nhân vật giao tiếp có mộtlượng tiền giả định bách khoa chung nào đấy mặc dù về chất lượng và sốlượng tuyệt đối thì hiểu biết về hiện thực ngoài diễn ngôn của các nhân vậtgiao tiếp (và của những người sử dụng cùng một ngôn ngữ) không đồng nhất.
Về mặt thông tin mà nói, giao tiếp là nhằm biến đổi tiền giả định báchkhoa (quan yếu và không quan yếu) của từng người Theo diễn biến của cuộcgiao tiếp, người này cung cấp cho người kia những lượng tin mới, điều chỉnhlượng tin cũ, làm tăng dần tiền giả định bách khoa chung so với lúc khởi đầucuộc giao tiếp
Nhân tố hiện thực ngoài diễn ngôn gồm 4 bộ phận:
Hiện thực – đề tài của diễn ngôn, thế giới khả hữu và hệ quy chiếu: Khi
giao tiếp các nhân vật giao tiếp dùng diễn ngôn của mình để “nói” về một cái
gì đó Cái được nói tới là hiện thực – đề tài của diễn ngôn Thuộc hiện thực –
đề tài diễn ngôn trước hết là những cái tồn tại, diễn biến trong hiện thực ngoàingôn ngữ và ngoài diễn ngôn Hiện thực – đề tài của diễn ngôn còn là bảnthân ngôn ngữ Đề tài diễn ngôn là một mảng trong hiện thực ngoài diễn ngônđược các nhân vật giao tiếp (người nói, người nghe: Sp1, Sp2) thỏa thuận lấylàm đối tượng để trao đổi trong cuộc giao tiếp đó
Hoàn cảnh giao tiếp: Loại trừ thế giới khả hữu – hệ quy chiếu, loại trừ
hiện thực – đề tài, tất cả những cái còn lại trong hiện thực ngoài ngôn ngữ làmnên hoàn cảnh giao tiếp rộng của cuộc giao tiếp, của diễn ngôn Hoàn cảnhgiao tiếp rộng bao gồm những hiểu biết về thế giới vật lí, sinh lí, tâm lí, xãhội, văn hóa, tôn giáo, lịch sử,… ở thời điểm và ở không gian trong đó đangdiễn ra cuộc giao tiếp
Thoại trường (hoàn cảnh giao tiếp hẹp): Một cuộc giao tiếp phải diễn ra
trong một khoảng không gian cụ thể ở một thời gian cụ thể Thoại trườngđược hiểu là cái không gian – thời gian cụ thể ở đó các cuộc giao tiếp diễn ra
Trang 21Ngữ huống giao tiếp: Quan hệ liên cá nhân, các tiền giả định bách khoa,
thoại trường của một cuộc giao tiếp không phải nhất thành bất biến đối vớicuộc giao tiếp Những yếu tố của các nhân tố, nhân vật giao tiếp, của hiệnthực ngoài diễn ngôn thay đổi liên tục suốt quá trình giao tiếp Tác động tổnghợp của các yếu tố tạo nên ngữ cảnh ở từng thời điểm của cuộc giao tiếp làcác ngữ huống của cuộc giao tiếp Thông qua ngữ huống mà ngữ cảnh chiphối diễn ngôn Sự thay đổi của các yếu tố tạo nên ngữ cảnh phải được nhữngngười đang giao tiếp ý thức thì mới được gọi là ngữ huống
Trang 221.1.2.2 Ngôn ngữ
Tất cả các cuộc giao tiếp đều phải sử dụng một tín hiệu làm công cụ.Trong trường hợp giao tiếp bằng ngôn ngữ thì hệ thống tín hiệu là các ngônngữ tự nhiên Các phương diện sau đây của ngôn ngữ tự nhiên sẽ chiphối diễn ngôn
Đường kênh thính giác và kênh thị giác của ngôn ngữ: Ngôn ngữ tự
nhiên là ngôn ngữ có đường kênh cơ bản là đường kênh thính giác Về sau,cùng với sự phát triển của xã hội, ngôn ngữ có đường kênh thị giác Từ đó,diễn ngôn có hai dạng thức: diễn ngôn nói (miệng) và diễn ngôn viết
Các biến thể của ngôn ngữ: biến thể chuẩn mực hóa, biến thể phương ngữ địa lí và phương ngữ xã hội, ngữ vực và phong cách chức năng Khác với
tất cả hệ thống tín hiệu giao tiếp thông thường khác mà tính đồng nhất (cónghĩa là không có các biến thể) là chủ đạo, ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu chỉtồn tại và hành chức trong những biến thể nhất định Ngôn ngữ chuẩn mực(tiếng Việt chuẩn mực) là một biến thể của những biến thể đó Ngônngữ chuẩn mực bao gồm những đơn vị từ vựng, kể cả các ngữ cố định, cáckết cấu cú pháp, các cách phát âm được toàn thể một cộng đồng ngôn ngữchấp nhận, cho là đúng Phương ngữ địa lí bao gồm cách phát âm, các đơn vị
từ vựng và một số những kết cấu cú pháp được sử dụng ở những địa phươngnhất định trong một quốc gia Phương ngữ xã hội là những biến thể chủyếu bao gồm các đơn vị từ vựng và một số quán ngữ, một số kiểu kết cấuđược sử dụng trong một cộng đồng xã hội theo nghề nghiệp, theo hoạt độngkhoa học, nghệ thuật, tôn giáo… thậm chí trong cộng đồng của những ngườisinh sống ngoài vòng pháp luật Ngữ vực là một biến thể của ngôn ngữ theocác hoàn cảnh xã hội như: tư pháp, báo chí, tự nhiên… Trong nhiều tác
phẩm ngôn ngữ, hai thuật ngữ ngữ vực và phong cách dùng đồng nghĩa với
nhau
Trang 23Loại thể: Là những biến thể sử dụng của các diễn ngôn Loại thể đã
Trang 24khởi động tâm lí tiếp nhận và quy tắc thuyết giải diễn ngôn theo loại thể khi gặp những diễn ngôn được viết theo một loại thể nào đó.
1.1.2.3 Diễn ngôn
Diễn ngôn bao gồm: Câu, phát ngôn và diễn ngôn
Câu là đơn vị cú pháp quen thuộc được xem là lớn nhất của ngữ
pháp tiền dụng học Câu có hai mặt: trừu tượng và cụ thể Câu trừu tượng lànhững mô thức kết học do các đơn vị từ vựng trừu tượng kết hợp vớinhau theo những quy tắc chủ yếu là tuyến tính Về mặt cụ thể, các câu trừutượng sẽ làm đầy bởi các đơn vị từ vựng cụ thể
Phát ngôn: Một câu được làm đầy bằng những đơn vị từ vựng cụ thể có
thể được dùng ở những ngữ cảnh khác nhau, nhằm nhiều đích khác nhau.Lúc này, câu là phát ngôn
Diễn ngôn: Là bất kì một dải nói và viết nào của ngôn từ được cảm nhận
là tự nó đã hoàn chỉnh (Michael Hoey) Diễn ngôn là đơn vị lớn hơn câu, lớnhơn một phát ngôn nó có thể do một phát ngôn hoặc vô số phát ngôn hợplại Diễn ngôn phải có tính mạch lạc, nghĩa là nó phải có đề tài, chủ đềchung, giữa các phát ngôn trong một phát ngôn phải có quan hệ về hình thức
và nội dung trong một cuộc giao tiếp Là thuật ngữ chung cho tất cả các đơn
vị lời nói, tùy theo đường kênh hay dạng ngôn ngữ được sử dụng chia thànhhai loại diễn ngôn: Diễn ngôn nói và diễn ngôn viết
1.2 Giao tiếp mua bán ở lứa tuổi học đường trên mạng Facebook
Từ trước đến nay, hoạt động mua bán diễn ra không ngừng, nó xuấthiện mọi lúc, mọi nơi, không phân biệt vùng, miền, lứa tuổi Mua bán ởlứa tuổi học đường ngày nay đang phát triển mạnh trên phạm vi rộng Bắtnguồn từ chính nhu cầu của bản thân, nắm bắt được thị hiếu của đông đảosinh viên hay chỉ là muốn kiếm thêm thu nhập cho mình nên họ đã tổ chức
Trang 25mua bán, trao đổi Dựa vào sức mạnh của công nghệ thông tin, đặc biệt làcác trang mạng xã
Trang 26hội như zalo, facebook, skype… họ thực hiện công việc mua bán của mìnhmột cách gián tiếp nhưng mang lại hiệu quả cao Như sinh viên Trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội 2 đã dùng trang Facebook cá nhân của mình tham giavào các shop online, các trang bán hàng của trường ( Khoa bán hàng Đại học
Sư phạm Hà Nội 2), các chợ online trên địa bàn (chợ Sinh viên, chợ lớn –Vĩnh Phúc) để quảng cáo, mua bán, trao đổi
1.2.1 Khái niệm giao tiếp mua bán
Như chúng ta đã biết, giao tiếp là một quá trình hoạt động trao đổithông tin giữa người nói và người nghe nhằm đạt được một mục đích nàođó
Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa
vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanhtoán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán và nhận hàng và quyền
sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận [8]
Như vậy, giao tiếp mua bán là một quá trình hoạt động, là ngườimua tiếp cận với sản phẩm, tìm hiểu thông tin về sản phẩm dưới sự chămsóc, tư vấn của người bán Khi người mua quyết định đặt mua sản phẩm,người bán có nhiệm vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu sản phẩm chongười mua và nhận thanh toán, người mua thanh toán cho bên bán, nhậnhàng và sử dụng sản phẩm
Chủ thể của hoạt động mua bán hàng hóa trong thương mại là
Trang 27Mua bán hàng hóa được phân chia thành hai loại sau:
Thứ nhất, mua bán hàng hóa trong nước: không có sự dịch chuyển hàng
Trang 28hóa qua biên giới quốc gia hoặc vào khu vực hải quan riêng biệt có quy chếriêng như khu chế xuất hoặc khu ngoại quan.
Thứ hai, mua bán hàng hóa quốc tế: mua bán hàng hóa quốc tế
được thực hiện dưới các hình thức:
- Xuất khẩu: Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnhthổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ ViệtNam
được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
- Nhập khẩu: Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vàolãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổViệt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
- Tạm nhập, tái xuất: Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hóa đựơcđưa từ nước ngoài hoặc từ những khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổViệt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vàoViệt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩuchính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam
- Chuyển khẩu: Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng hóa từ mộtnước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt
Nam mà không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam [8]
1.2.2 Giao tiếp mua bán ở lứa tuổi học đường trên mạng Facebook
Mua bán diễn ra ở phạm vi rộng và với mọi đối tượng, nhưng cụm từ
“giao tiếp mua bán” phần lớn thông dụng với các thương nhân, những người
hoạt động trong lĩnh vực thương mại, am hiểu về việc mua bán Trong nhữngnăm gần đây, xã hội đang rộ lên xu hướng mua bán ở lứa tuổi học đường
– lứa tuổi vẫn ngồi trên ghế nhà trường Hai từ “học đường” khiến chúng ta
tự hiểu rằng, đó là lứa tuổi học sinh, sinh viên đang trong giai đoạn cắp sáchtới trường Là tuổi học trò, tuổi trăng rằm, tuổi mực tím, tuổi mộng mơ, tuổi
Trang 29mới lớn cái tuổi bỗng thấy mình vụt lớn và tâm hồn tràn ngập ước mơ
là một
Trang 30giai đoạn phát triển quá độ của tuổi thơ sang người lớn mà gọi chung làtuổi vị thành niên - đây là lứa tuổi, là giai đoạn phát triển đặc biệt, duy nhấtcủa cuộc sống, vì xảy ra đồng thời một loạt các thay đổi, bao gồm: sự chínmuồi về thể chất, sự biến đổi, điều chỉnh tâm lí và sự biến đổi các quan hệ xãhội, nhằm đáp ứng các yêu cầu và nhiệm vụ của sự phát triển.
Giao tiếp mua bán của tuổi học đường cho chúng ta thấy họ đã nắm bắt
được nhu cầu, thị yếu của đại đa số học sinh, sinh viên cũng như người dânsinh sống trên địa bàn Một phần, bắt nguồn từ chính nhu cầu của bản thân
mà họ muốn kiếm thêm thu nhập, việc làm cho mình sau những giờ họctrên giảng đường Sinh viên ngày nay họ năng động và sáng tạo, muốn mìnhtrải nghiệm cuộc sống, muốn bước vào kinh doanh, muốn tự lập nhiều hơn
Với sự nhanh nhạy của mình, lứa tuổi này đã lựa chọn cho mình nhiềuhình thức mua bán khác nhau Tận dụng lợi ích của mạng internet vàsức mạnh của công nghệ thông tin mà phần lớn học sinh, sinh viên lựachọn con
đường mua bán online Mua bán online là một hình thức mua bán hàng trựctuyến qua mạng xã hội, đặc biệt mua bán qua mạng Facebook – một trangmạng được sử dụng phổ biến nhất hiện nay được đông đảo sinh viên lựachọn Sinh viên chỉ việc lập một trang Facebook hoặc thiết kế một trang web(website) bán hàng, hay tham gia vào các chợ, các shop, các trang bán hàng…Sau đó đăng sản phẩm mình kinh doanh hoặc các sản phẩm mình muốn mualên, sẽ có nhiều bạn tham gia các trang mạng xã hội đang có nhu cầumua, bán sản phẩm sẽ tìm đến bạn và mua sản phẩm dễ dàng hơn Và cóthể nói đây là sự lựa chọn thông minh của sinh viên vì so với mở một cơ sởkinh doanh thì mua bán hàng online có nhiều lợi thế
Hiện nay internet đang phủ sóng khắp thế giới, thị trường kinh doanhonline nói chung và kinh doanh qua mạng Facebook ở lứa tuổi học đường nói
Trang 31riêng đang phát triển rất mạnh mẽ Và mua bán hàng qua mạng internetnói
Trang 32chung mang lại nhiều lợi ích như:
Tiết kiệm chi phí: Bán hàng trên mạng không phải tốn nhiều chi phí để
mở của hàng, chịu thuế, tiền thuê nhân viên… Chỉ cần tạo trang web muabán hàng, bỏ thời gian ra viết quảng cáo, tạo nội dung hấp dẫn thu hút mọingười Điều này phù hợp với đối tượng là sinh viên và trở thành một vấn đềđơn giản đối với họ Vấn đề thuê nhân viên không quá khó khăn, vì khi muabán phát triển cần thêm người tham gia thì họ chỉ cần tuyển cộng tác viênonline, công việc của cộng tác viên là viết bài, đăng bài, tư vấn, bán hàng,giao hàng
Không phải chịu nhiều áp lực, thời gian thoải mái: Người bán hàng
online sẽ linh động được thời gian rảnh, không phải chịu áp lực cho cáckhoản chi phí, thời gian làm, doanh thu,v.v Bạn chỉ cần dùng điện thoạismartphone (điện thoại thông minh) có kết nối internet là bạn có thể bánhàng, tư vấn cho khách hàng bất cứ đâu và bất cứ lúc nào Người mua hàng
có thể cập nhật thông tin sản phẩm mọi lúc, mọi nơi và qua vài bước đơngiản họ có thể mua
được sản phẩm mình muốn và được giao hàng tận nơi Điều này phù hợp với sinh viên, ngoài giờ học họ có thể làm tốt công việc này
Tích hợp sẵn nhiều công cụ quảng cáo: Trên trang Facebook đều tích
hợp các công cụ hỗ trợ cho việc marketing online hiệu quả giúp cho trang củabạn được xuất hiện rộng rãi và tiếp cận được lượng lớn khách hàng
Trang 33CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIỚI THIỆU, MỜI CHÀO, QUẢNG CÁO TRONG
GIAO TIẾP MUA BÁN TRÊN MẠNG FACEBOOK
Ở LỨA TUỔI HỌC ĐƯỜNG 2.1 Khảo sát giao tiếp mua bán trên mạng Facebook ở lứa tuổi học đường
2.1.1 Kết quả khảo sát
Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ giới thiệu, mời chào, quảng cáo của muabán trên Facebook ở lứa tuổi học đường, chúng tôi tiến hành khảo sát
126 hoạt động giới thiệu, mời chào, quảng cáo và thu được kết quả như sau:
Bảng 2.1.1 Cách sử dụng từ ngữ trong giao tiếp mua bán trên mạng Facebook ở lứa tuổi học đường
STT Kiểu từ ngữ Từ Giới thiệu Mời chào Quảng cáo
hòn họt
Trang 34Nhìn vào bảng khảo sát trên, ta thấy được một số kiểu sử dụngngôn ngữ trong giới thiệu, quảng cáo, mời chào trên mạng Facebook ở lứatuổi học
đường Cụ thể như sau:
Kiểu sử dụng từ ngữ sáng tạo: Trong đó quảng cáo chiếm tỉ lệ cao nhất(12,7%), tiếp sau là giới thiệu (9,5%) và mời chào (7,9%) Các hoạt động giới
thiệu có sử dụng từ “xiền” tương đương với từ “tiền”.
Kiểu sử dụng từ ngữ khoa học, chiếm tỉ lệ cao nhất là giới thiệu(10,3%), quảng cáo (5,6%) và mời chào (2,4%)
Ví dụ: “Mặt nạ Calla Thành phần: than tre hoạt tính, gel lô hội,
vitamin E, chiết xuất dâu tằm…” ta thấy có sử dụng các từ ngữ khoa học như: chiết xuất dâu tằm, vitamin E… Vì giới thiệu là một trong những khâu quan
trọng hàng đầu của mua bán nên việc sử dụng các từ ngữ khoa học sẽgiúp cho người đọc, người quan tâm có cảm tính rằng sản phẩm của ngườibán có uy tín và sẽ mang lại hiệu quả cao
Kiểu sử dụng từ ngữ tác động: chiếm tỉ cao nhất là quảng cáo (11,9),sau đó là giới thiệu (8,7%) và mời chào (4,8%)
Ví dụ: “sản phẩm siêu hót đang thịnh hành trong mùa hè năm nay đó
Trang 35chính là kem chống nắng Vaseline Với chiết xuất từ thiên nhiên, không gây kích ứng da bảo vệ các nàng khỏi nắng và ngày càng trắng hồng rạng rỡ Sử
dụng từ “siêu hót, trắng hồng rạng rỡ” có sự tác động mạnh vào tâm lí của
người tiêu dùng, khiến họ tò mò và dùng thử sản phẩm Vì quảng cáochiếm vị trí quan trọng trong mua bán nên sử dụng những từ ngữ tác độngmạnh sẽ tăng số lượng người dùng sản phẩm
Sử dụng từ tiếng Anh xen lẫn trong hoạt động mua bán xuất hiện trong
cả ba khâu giới thiệu, mời chào và quảng cáo Trong đó, quảng cáo chiếm tỉ lệcao nhất (14,3%), giới thiệu (7,9%) và mời chào (5%) Tuổi học đường hiệnnay đang có xu hướng sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh xen lẫn trong khi sử dụngtiếng Việt
Ví dụ: “ ăn là mê, uống là say, nhà em có đủ đồ ăn, thức uống phục vụ
nhu cầu của các chị em nhé, ai cần gì thì ib hoặc call 0988…356” Các từ tiếng
Anh được sử dụng: ib (viết tắt của inbox (nhắn tin)), call (gọi), đây là các từ
thường xuyên được sử dụng trong các hoạt động giới thiệu, mời chào, quảngcáo
2.2 Đặc điểm ngôn ngữ giới thiệu và các biểu thức sử dụng
Mua bán nói chung và mua bán online nói riêng là một ngành thiết yếucủa xã hội Họ phải đề ra những kế hoạch riêng cho mình để quảng bá đượcsản phẩm, phải làm sao để sản phẩm của mình nhanh chóng chiếm lĩnh thịtrường tiêu dùng Ngoài ra, họ phải làm thế nào để người tiêu dùng có thểtin dùng và mua sản phẩm của mình Mua bán trên mạng Facebook của lứatuổi học đường cũng vậy Lứa tuổi này vẫn còn non nớt khi chưa đủ kinhnghiệm để có thể bán hàng một cách tốt nhất nhưng họ lại có những khảnăng tốt để thử sức mình cho một công việc Họ sẽ gặp khó khăn trong việcquảng cáo, giới thiệu sản phẩm, vì vậy họ chọn mạng xã hội nơi các tín đồ
Trang 36săn lùng, tìm kiếm sản phẩm mình ưa thích Để sản phẩm được người tiêudùng biết đến, họ
Trang 37sẽ phải làm công việc giới thiệu sản phẩm và giới thiệu sẽ là con đường ngắnnhất để người tiêu dùng online tiếp cận sản phẩm.
Không như giới thiệu sản phẩm trực tiếp, họ giới thiệu sản phẩm củamình trên trang Facebook cá nhân (profile) hoặc các trang nhóm (fanpage) và
sử dụng chủ yếu là kênh chữ và kênh hình Họ phải đưa ra những thôngtin chi tiết về tên, xuất xứ, công dụng, chức năng, cấu tạo của sản phẩm vàkèm theo hình ảnh Ví dụ:
“ Hot Mascara super Model, 2 đầu làm dày và dài mi gấp 3 lần đã hạ cánh tại shop.
Xuất xứ: thương hiệu Mistine Thailand
Giá:120k (nghìn đồng)
Mascara super Model chuốt hai đầu, có hai chế độ dày và dài, với công thức không trôi, không lem Cho bạn hàng mi dài cong và khuyến rũ.
Chất mascara hoàn toàn mau khô, dễ xài, không hề vón cục nhé
Sẽ không bao giờ thất vọng khi bạn tin dùng Mascara super Model 2”
(Hình ảnh kèm theo bài giới thiệu)
Biểu thức giới thiệu: X + Y + Z
Trong đó, X là tên sản phẩm, Y là những thông tin, đặc điểm về sản phẩm, Z là lời khuyên nên sử dụng sản phẩm hoặc lời cam kết chất lượng của