1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng tác giả nữ trong thơ vi thùy linh (2017)

95 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khóa luận được chúng tôi xác định ởđây là: Sự biểu hiện cụ thể của hình tượng tác giả nữ trong thơ Vi Thùy Linh.. Nhiệm vụ nghiên cứ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

********

LÊ THỊ KIM OANH

HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ NỮ TRONG THƠ VI THÙY LINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lý Luận văn học

Người hướng dẫn khoa học

ThS NGUYỄN THỊ VÂN ANH

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy

cô giáo của khoa Ngữ văn nói chung và các thầy cô trong tổ Lý luận Văn họcnói riêng đã tận tình dạy dỗ tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình họctập và nghiên cứu đề tài

Em cũng xin chân thành cảm ơn ThS Nguyễn Thị Vân Anh, người đã

tận tình hướng giúp dẫn em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này

Xin cảm ơn gia đình và bạn bè luôn đồng hành, tạo điều kiện giúp đỡ

để em hoàn thành nhiệm vụ học tập

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2017

Sinh viên

Lê Thị Kim Oanh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.Các dẫn chứng và kết quả trong khóa luận đều chính xác, trung thực, chưacông bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào

Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2017

Sinh viên

Lê Thị Kim Oanh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Mục đích nghiên cứu 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Đóng góp của khóa luận 6

8 Cấu trúc của khóa luận 6

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ NỮ TRONG THƠ TRỮ TÌNH 8

1.1 Khái niệm hình tượng tác giả 8

1.2 Đặc điểm của hình tượng tác giả 9

1.2.1 Tự biểu hiện của chính tác giả 9

1.2.2 Cái nhìn nghệ thuật 11

1.2.3 Giọng điệu nghệ thuật 12

1.3 Hình tượng tác giả nữ và một số biểu hiện đặc thù 13

1.3.1 Khái niệm hình tượng tác giả nữ 13

1.3.2 Đặc tính của hình tượng tác giả nữ 13

Chương 2 VAI GIAO TIẾP CỦA HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ NỮ TRONG THƠ VI THÙY LINH 17

2.1 Hình tượng tác giả nữ trong vai giao tiếp “ta” – nhân danh giới nữ 17

2.2 Hình tượng tác giả nữ trong vai người mẹ 22

2.3 Hình tượng tác giả nữ trong vai người yêu 25

2.4 Hình tượng tác giả nữ trong vai người con 28

Trang 5

2.5 Hình tượng tác giả nữ và ý thức về nét đẹp bản thể giới 30

2.5.1 Vẻ đẹp ngoại hình 30

2.5.2 Vẻ đẹp phẩm chất 33

Chương 3 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ NỮ TRONG THƠ VI THÙY LINH 37

3.1 Tự biểu hiện của hình tượng tác giả nữ 37

3.2 Những biểu tượng thể hiện cái nhìn nữ tính 39

3.2.1 Biểu tượng “cái tôi” 40

3.2.1 Biểu tượng tình yêu 43

3.1.2 Biểu tượng thời gian 48

3.3 Giọng điệu 51

3.3.1 Giọng điệu trầm tư, sâu lắng 51

3.3.2 Giọng điệu cuồng nhiệt 53

KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

1 Lý do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trang 7

1.1 Tác giả có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình văn học Tác

giả là người sáng tạo ra tác phẩm Trong quá trình tồn tại, tác phẩm có ý nghĩakhách quan Song, chúng ta không thể không thừa nhận vai trò của chủ thểsáng tạo Dù cố ý hay vô ý thì trong tác phẩm, tác giả bao giờ cũng sẽ lưu lạidấu ấn nhân cách, quan điểm thẩm mỹ, ở nội dung và hình thức của tácphẩm Hình tượng tác giả có vai trò, vị trí, đặc điểm riêng trong hệ thống hìnhtượng của tác phẩm Hình tượng tác giả liên quan đến vai giao tiếp nghệ thuậtđược nghệ sĩ chọn để tác động đến độc giả qua tác phẩm

Đặc điểm giới tính có ảnh hưởng không nhỏ đến hành trình sáng tạocủa nghệ sĩ Cùng tìm hiểu hình tượng tác giả nữ trong thơ là giúp chúng tahiểu sâu sắc hơn những đóng góp của thơ nữ trong nền văn học

1.2 Vi Thùy Linh là một những cây bút trẻ thuộc thế hệ 8X, chịu ảnhhưởng của nhiều luồng văn học trên thế giới, có những nét phá cách và cónhiều thể nghiệm mới mẻ Cùng với hành trình tìm cho mình phong cách thơmới định hình, thơ của tác giả đang có những bứt phá mới Vi Thùy Linh đãtrở thành “một hiện tượng của thơ ca Việt Nam hiện đại” với sức sáng tạo khásung mãn Đọc thơ Vi Thùy Linh, người đọc trở về với những gì chân thậtnhất, đời thường nhất: đó là tình yêu trần thế, bản chất giới tính, sự tồn tạimang giá trị nhân văn… Bằng cá tính thơ của mình, cây bút trẻ này đã bộc lộcái tôi, thổi vào văn đàn một luồng gió mới Cũng từ đó, một phong cách thơ

nữ hình thành với gương mặt riêng, không trộn lẫn trong nền thơ ca đươngđại Nhờ không ngừng nỗ lực phương diện sáng tạo nội dung lẫn thi pháp, ViThùy Linh được coi là một trong những nhà thơ trẻ góp phần tạo ra diện mạomới của thơ đương đại

Trang 8

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Hình tượng

tác giả nữ trong thơ Vi Thùy Linh” Tiếp cận thơ Vi Thùy Linh theo hướng

này, chúng tôi hi vọng có cái nhìn sâu sắc hơn đối với thế giới nghệ thuật củamột nhà thơ Đây cũng là một đề tài nghiên cứu chứa nhiều tư liệu hữu ích,đáp ứng ham muốn tìm hiểu thơ của sinh viên Văn và những ai quan tâm đếnthơ nữ trẻ Việt Nam thời kỳ đổi mới

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Từ góc độ lý luận phê bình

Đầu thế kỷ XX, các nhà phê bình chưa có những nghiên cứu tập trung

về hình tượng tác giả nữ Tuy nhiên, đâu đó vẫn xuất hiện những bài nhận xétchung về mối quan hệ giữa văn chương gắn liền với tài năng của các nữ thi sĩ

Năm 1987, trong bài viết: Một vài suy nghĩ về thơ tình trong những

năm gần đây, Hà Minh Đức nhận xét: “Thơ chị là tiếng nói của trái tim xúc

động, da diết, chân thực Nếu xem tình cảm sâu lắng chân thực như một phẩmchất quan trọng của thơ tình thì chính thơ tình của các tác giả nữ sẽ ưu trôihơn về phương diện này” [8;528]

Năm 1993, trong bài Văn chương nữ giới – một cách thể hiện ở đời

Huỳnh Như Phương đã nhận xét: “Người phụ nữ đem tính nữ của mình phảlên mặt giấy thì cũng chính là họ tìm cách đưa tính nữ đó vào cuộc sống Dovậy văn chương nữ giới là văn chương của sự quân bình và hài hòa - quânbình và hài hòa giữa động và tĩnh, giữa dương và âm, giữa lý trí và tình cảm”[28;137]

Tạp chí văn học số 6/1996 đăng tải nhiều ý kiến đóng góp của các nhàphê bình: Lại Nguyên Ân, Phạm Xuân Nguyên, Vương Trí Nhàn, Văn Tâm,

Đặng Anh Đào,… về Phụ nữ và văn chương các tác giả đã đề cấp đến nhiều

vấn đề về nữ giới trong đó nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào cho rằng: “Phụ nữthường mạnh ở chỗ họ đưa tất cả tâm hôn và cuộc đời vào trong sách”[27;129]

Trang 9

Sách Nữ văn sỹ Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX do Mai Hương biên soạn

và tuyển chọn (1997) đã giới thiệu 16 gương mặt nữ nghệ sĩ tiêu biểu vàkhẳng định “Các tác giả nữ đã tạo thành một mảng riêng, hài hòa trong bứctranh văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ”

Gần đây nhất trong công trình Lý Luận phê bình văn học Việt Nạm đầu

thế kỷ XX, nhà nghiên cứu Trần Mạnh Tiến khẳng định: “cái nhìn mới mẻ về

tiềm năng của người phụ nữ” trong văn học đầu thế kỷ XX

2.2 Những nghiên cứu về thơ Vi Thùy Linh

Ngay từ tập thơ đầu tiên, Vi Thùy Linh đã tạo nên sự chú ý từ côngchúng Chỉ riêng ở khía cạnh tiếp nhận thơ, có thể thấy hai hướng phân lập rấtrõ: khen ngợi, tôn vinh khẳng định và phủ nhận, phê phán, tẩy chay Vi ThùyLinh trở thành “Một hiện tượng của thơ ca Việt Nam hiện đại” [39]

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã thấy một “Hiện tượng Vi Thùy Linh”(in trong báo Sinh viên Việt Nam, 9.2003) “Nhiều người nói với tôi rằng ViThùy Linh là biểu tượng sex trong thơ Tôi không thấy thế Vi Thùy Linh làmột biểu tượng trong trắng đấy chứ Vi Thùy Linh là một hiện tượng trong thơViệt Nam Một tiếng thơ lạ” [45]

Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên khi đọc tập Đồng tử thấy

Linh là “Người “tận lực tham ô tuổi trẻ” để sống thơ” [24] “Vẫn một niềmkhao khát của Linh như ngày nào, khao khát vừa ngây thơ vừa đau đớn màhạnh phúc Tôi (và ta) gặp lại ở đây những khát vọng cháy bỏng và thăng hoatrong thơ Linh về tình yêu “Chân lý” bị khước từ ở đây là những con mắt đạođức giả, những rao giảng tới điều nhàm chán cũ rích, những sự bất lực, nhữngchân lý lỗi thời Mặc tất! - vì tình yêu mạnh hơn và sinh tạo ra những chân lýđẹp nhất, đó là phát minh vĩ đại nhất của mọi thời đại… Thế là đủ cho Linhhát ca và hoan lạc Một niềm hoan lạc sống đời thơ” [4]

Trang 10

Nguyễn Việt Chiến khi đọc tập thơ này đã viết bài Thơ Vi Thùy Linh

cơn cuồng lưu từ những mê - lộ - chữ và nhận thấy “Vi Thùy Linh có một đời

sống nồng cháy đam mê và nhiều nỗi đau mờ, nhiều nỗi đau Trong những bàithơ định mệnh của mình, Vi Thùy Linh như một người dệt tầm gai nhẫn nạiđan dệt những cảm xúc của mình với nỗi đau vô hình trong tay - ngôn - ngữluôn bị trầy xước, rớm máu bởi những nỗi đau vô hình trong thi ca và hữuhình trong tình yêu, đời sống con người” [46]

Nhà thơ, dịch giả Dương Tường khẳng định: “Vi Thùy Linh là một cơnlốc - lốc ý tưởng, lốc chữ (chứa chất nổ), lốc tình (đôi khi là khoái cảm) Cơnlốc không kiềm chế đó đương nhiên gây sốc, khiến nhiều người ngộ nhậnnhững cố gắng trong thơ cô và lầm lẫn cho sự bất chấp những ước lệ và kiêng

kị và phạm húy Với tôi, Vi Thùy Linh là một biểu tượng giải phóng phụ nữtrong thơ” [49]

Trần Đăng Khoa trong bài viết Đọc lại thơ Vi Thùy Linh đã đưa ra một

cái nhìn tổng thể, khẳng định cá tính, sức sống của thơ Vi Thuỳ Linh: “Thơ

Vi Thùy Linh là thế Ngổn ngang và rậm rạp trong những suy nghĩ trăn trởcủa ngày hôm nay… Phải nói Vi Thùy Linh là người dũng cảm, tự tin Thơchị có nội lực Chị vin vào nội lực ấy mà đứng dậy trên hai chân của mình vàsáng bằng nước mắt Đọc chị, ta luôn có cảm giác rợn ngợp như đang đứngtrước một ngọn núi lửa mới tuôn trào với một sức mạnh không thể ngăn cảnnổi Lẫn trong ngổn ngang đất đỏ, nham thạch là không ít những thỏi quặngquý” [2]

Đài AFI, chương trình tết Đinh Hợi (2007) có nhận xét: “Vi Thùy Linh

là nhà thơ trẻ Việt Nam có nội lực mạnh nhất hiện nay Cô sở trường nhấttrong đề tài tình yêu Nói đến Vi Thùy Linh, là nói đến những bài thơ tình yêukhông thể trộn lẫn của cô” [7]

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khóa luận được chúng tôi xác định ởđây là: Sự biểu hiện cụ thể của hình tượng tác giả nữ trong thơ Vi Thùy Linh

3.2 Phạm vi khảo sát của khóa luận

Thực hiện đề tài nghiên, chúng tôi tập trung khảo sát ba tập thơ tiêu

biểu của Vi Thùy Linh: Khát (Nxb Hội nhà văn, 1999), Linh (Nxb Thanh Niên, 2000) và Đồng tử (Nxb Văn nghệ, 2005).

4 Mục đích nghiên cứu

Đi sâu tìm hiểu là lý giải nét riêng về hình tượng tác giả nữ trong thơ

Vi Thùy Linh như: Cái nhìn nghệ thuật, giọng điệu nghệ thuật, sự thể hiện vaigiao tiếp của hình tượng tác giả Trên cơ sở đó, chúng tôi muốn tham góp mộthướng tiếp cận mới về thơ Vi Thùy Linh, đồng thời nêu lên những đóng gópcủa chị trong nền văn học Việt Nam đương đại

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Chỉ ra các biểu hiện, những đặc điểm của hình tượng tác giả nữ trong

thơ Vi Thùy Linh đặc biệt qua ba tập thơ Khát, Linh và Đồng tử.

- Chỉ ra những biểu hiện, những đặc điểm của hình tượng tác giả qua

các phương diện nghệ thuật

- Nêu lên ý nghĩa của việc nghiên cứu hình tượng tác giả trong văn

học đồng thời chỉ ra những đóng góp của Vi Thùy Linh trong nền văn họcViệt Nam đương đại

Trang 12

6 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã vận dụng một số phươngpháp nghiên cứu cơ bản như sau:

- Phương pháp khảo sát văn bản

Đề tài nghiên cứu “Hình tượng tác giả nữ trong thơ Vi Thùy Linh”

phạm vị nghiên cứu là ba tập thơ Khát, Linh, Đồng Tử với ba tập thơ gồm rất

nhiều bài như vậy, tôi cần phải sử dụng phương pháp này để phát hiện bài thơthực sự cần để phục vụ cho đề tài nghiên cứu được tác giả thể hiện trong tậpthơ

7 Đóng góp của khóa luận

- Xác định những quan niệm về hình tượng tác giả Từ đó, lập một cách

hiểu thống nhất về hình tượng tác giả; chỉ ra các dấu hiệu nhận diện hình tượngtác giả trong thơ, làm cơ sở cho việc khảo sát các hiện tượng văn học cụ thể

- Lần đầu tiên hình tượng tác giả nữ trong thơ Vi Thùy Linh được

nghiên cứu một cách hệ thống Theo đó, một số yếu tố căn cốt liên quan đếnhình tượng tác giả cũng sẽ được làm sáng tỏ như: Cái nhìn nghệ thuật, giọngđiệu, vai giao tiếp nghệ thuật, hệ thống các biểu tượng,…

- Cung cấp thêm một số tài liệu tham khảo cho người đọc, người dạy, và

những độc giả quan tâm thơ ca đương đại nói chung thơ Vi Thùy Linh nóiriêng

8 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, Nội dung củakhóa luận được triển khai thành 3 chương:

Trang 14

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ NỮ

TRONG THƠ TRỮ TÌNH 1.1 Khái niệm hình tượng tác giả

Văn học cũng như mọi loại hình nghệ thuật khác là hình ảnh chủ quancủa thế giới quan Tác phẩm văn học là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, là đốitượng tiếp nhận của bạn đọc, là yếu tố trung tâm của hoạt động văn học Tácphẩm là quá trình tư duy nghệ thuật của tác giả Do vậy, vai trò của sáng tạo

cá nhân được đề cao hơn bao giờ hết Thuật ngữ “hình tượng tác giả” ra đời

để chứng minh điều đó

Khái niệm “hình tượng tác giả” cho tới nay vẫn chưa có sự thống nhấtcao trong giới nghiên cứu Có nhiều ý kiến khác nhau về thuật ngữ này từ cácnhà nghiên cứu văn học nước ngoài như M.Bakhtin, V.Viongradov, IvanFranko,…

Thuật ngữ “hình tượng tác giả” được M Bakhtin sử dụng lần đầu tiên

trong bài viết Mỹ học sáng tạo ngôn ngữ (viết từ những năm 1920 – 1940

nhưng phải đến năm 1986 mới xuất bản), khi lý giải “tác giả và nhân vật tronghoạt động thẩm mỹ” Sau M Bakhtin, nhiều nhà nghiên cứu đã chú ý đến

“hình tượng tác giả”, V Viongradov cho rằng: “Việc nghiên cứu tính đặc thùcủa hình tượng tác giả, vai trò của hình tượng tác giả trong văn học là vấn đềtrung tâm của tu từ học và thi pháp học” [28;326]

Ở Việt Nam, khái niệm “hình tượng tác giả” cũng đã được nhiều nhànghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, một trong số những quan niệm được xem làtiêu biểu nhất là quan niệm của Trần Đình Sử Khái niệm này xuất hiện trong

mục từ của Từ điển thuật ngữ văn học (1922) do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi làm chủ biên Trong đó, Trần Đình Sử khẳng định: “Nhàvăn xây dựng một văn bản đồng thời với việc xây dựng ra một hình tượng

Trang 15

người phát ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định” [9;149] Trong

cuốn 150 thuật ngữ văn học (1995), Lại Nguyên Ân cũng cho rằng: “Hình

tượng tác giả - người trần thuật với tư cách là hình thức có mặt gián tiếp củatác giả ngay bên trong tác phẩm của mình Nói hình tượng tác giả là nói đếndấu ấn cá nhân của những lớp ngôn từ nghệ thuật mà người ta không thể nàogán cho các nhân vật chính hoặc người kể chuyện hư cấu Có thể coi hình

tượng tác giả là hình tượng lời nói” [1;146] Trong công trình Dẫn luận thi

pháp học, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã nêu rõ “Hình tượng tác giả cũng

là một hình tượng được sáng tạo trong tác phẩm, hình tượng nhân vật theomột quy tắc khác Nếu hình tượng nhân vật xây dựng theo nguyên tắc hư cấu,được miêu tả theo một quan niệm nghệ thuật về con người và theo tính cáchnhân vật, thì hình tượng tác giả được thể hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện sựcảm nhận và thái độ thẩm mỹ đối với thế giới xung quanh” [34;137]

Khái niệm “hình tượng tác giả” vẫn đang là vấn đề nghiên cứu còn gâynhiều tranh luận Kế thừa những nghiên cứu trên chúng tôi muốn xác lập rõnội hàm của khái niệm này nhằm tránh những sự nhầm lẫn đáng tiếc trongquá trình nghiên cứu

1.2 Đặc điểm của hình tượng tác giả

Hình tượng tác giả là một phạm trù của thi pháp học, đặc điểm của hìnhtượng tác giả trong những sáng tác văn học cụ thể cũng là vấn đề đang cầnđược nghiên cứu Có nhiều ý kiến về những đặc điểm của hình tượng tác giảtrong tác phẩm văn học cụ thể Tuy nhiên theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sửthì hình tượng tác giả được biểu hiện qua ba góc cạnh: Sự tự thể hiện của tácgiả, cái nhìn nghệ thuật, giọng điệu tạo thành hình tượng

1.2.1 Tự biểu hiện của chính tác giả

Hình tượng tác giả cũng là một hình tượng được sáng tạo trong tác phẩm

và nó được biểu hiện một cách đặc biệt Có rất nhiều trường hợp tác giả tự

Trang 16

hình dung về mình, tự biểu hiện chính mình thành hình tượng trong tác phẩm.Hình tượng tác giả được biểu hiện tùy thuộc vào thể loại tác phẩm Sự tự biểuhiện của tác giả cũng phụ thuộc vào thể loại tác phẩm Với những tác phẩmtrữ tình, hình tượng tác giả được bộc lộ rõ hơn, đầy đủ hơn Nhà thơ ĐứcI.W.Gớt nhận xét: “Mỗi nhà văn bất kể muốn hay không muốn đều miêu tảchính mình trong tác phẩm của mình một cách đặc biệt” [50;14] Như vậy, sự

tự thể hiện của tác giả thành hình tượng luôn có trong tác phẩm nhưng ở mức

độ đậm nhạt của hình tượng tác giả trong mỗi thể loại văn là khác nhau

Nhà nghiên cứu L.Ghindơnbua nghiên cứu tác giả trong thơ trữ tình vànhận thấy: “Nhà thơ thường xuyên hình dung về mình, tự giới thiệu vềmình”[50;15]

Chẳng hạn khi Thế Lữ viết:

“Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãngĐường trần gian xuôi ngược để vui chơi”

(Cây đàn muôn điệu)

Hay khi Xuân Diệu viết:

“Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mấtTôi muốn buộc gió lạiCho hương đường bay đi”

(Vội Vàng)

thì hình tượng nhà thơ được thể hiện ra trong tác phẩm Các tác giả tùy bút,bút ký, ký sự, tiểu thuyết,… cũng không ít những trường hợp miêu tả mình

trong tác phẩm Chẳng hạn, trong truyện ngắn Lão Hạc, Nam Cao đã miêu tả

chính mình thông qua nhân vật “ông Giáo” - đóng vai trò vừa là người dẫnchuyện, đối thoại với bạn đọc vừa là một nhân vật sống thực, có số phận, tâm

tư, nỗi niềm Ông Giáo làm độc giả liên tưởng đến chính tác giả là Nam Cao

Trang 17

Điều đáng lưu ý là không nên đồng nhất hình tượng tác giả với bản thân tácgiả ngoài đời Có thể hình tượng tác giả phản ánh một đặc điểm nào đó củabản thân tác giả ngoài đời, nhưng không phải bất cứ cái gì ngoài đời đều đượcthể hiện trong hình tượng tác giả trong sáng tác

Có thể khẳng định rằng: khi đặt bút sáng tác, chủ thể sáng tạo dù vô tìnhhay cố ý đều sẽ để lại dấu ấn riêng của chính mình trong tác phẩm Như vậy,vấn đề tự biểu hiện của tác giả thành hình tượng cũng là một biểu hiện củahình tượng tác giả trong tác phẩm

1.2.2 Cái nhìn nghệ thuật

Cái nhìn của tác giả về con người về cuộc sống là một phương diệnquan trọng hơn cả Nó quy định phong cách nghệ thuật của nhà văn đồng thờichi phối toàn bộ hành trình sáng tạo của tác giả Mỗi một tác phẩm văn họcđều thể hiện cách nhìn, thái độ của chính tác giả đối với cuộc sống Khinghiên cứu cá tính sáng tạo của nhà văn, M.B Khrapchenco đã chỉ ra: “chân

lý của cuộc sống trong sáng tác nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìnnghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới, vốn có ở từng nghệ sĩ” [34;66]

Trong cuốn Dẫn luận thi pháp học, Trần Đình Sử khẳng định: “cái nhìn là

một năng lực tinh thần đặc biệt của con người, nó có thể thâm nhập vào sựvật, phát hiện đặc điểm của nó mà vẫn ở ngoài sự vật, bảo lưu toàn vẹn thẩm

mỹ của sự vật, do đó cái nhìn được vận dụng muôn vẻ trong nghệ thuật”

Cái nhìn nghệ thuật không chỉ biểu hiện cá tính sáng tạo mà còn thểhiện chiều sâu tư tưởng và sự nhạy bén của nghệ sĩ Cái nhìn nghệ thuật là sựkhám phá tìm tòi của nhà văn đối với những hiện tượng của đời sống Cùngvới một sự việc nhưng nhà văn khác nhau thì cho ra cái nhìn khác nhau Cáinhìn thể hiện sự nhận thức của tác giả, mà đã là nhận thức thì sẽ có nhận thứcđúng đắn và nhận thức sai lệch, có cái nhìn sâu sắc thì cũng có cái nhìn hờihợt Cái nhìn nghệ thuật biểu hiện rõ tư tưởng của nhà văn Điều này M.B

Trang 18

Khrapchenco đã nhận xét: “Cái nhìn của nhà văn càng tinh bao nhiêu thì anh

ta càng thâm nhập sâu vào thực chất của sự vật, những khái quát nghệ thuậtcủa anh ta, những khám phá sáng tạo của anh ta càng lớn bấy nhiêu” [22]

Như vậy, cái nhìn nghệ thuật của tác giả không phải là biểu hiện cá tínhsáng tạo của người nghệ sĩ mà nó là thước đo để đánh giá chiều sâu tư tưởng

và khả năng nhạy bén trong nhận thức của nhà văn đối với vấn đề cuộc sống.Trong nghệ thuật, tác giả thường đem cách nhìn, sự quan sát của mình ra giaotiếp, tác động đến độc giả Vì vậy mà toàn bộ thế giới nghệ thuật trong tácphẩm đều thấm đượm cái nhìn cảm quan của tác giả

1.2.3 Giọng điệu nghệ thuật

Giọng điệu là một yếu tố vô cùng quan trọng để tạo lập vị thế và phongcách riêng cho tác giả Do đó, giọng điệu trong tác phẩm văn học cũng là mộtphương tiện quan trọng biểu hiện hình tượng của tác giả

Theo Từ điển tiếng Việt: “Giọng điệu là giọng nói, lối nói biểu thì một

thái độ nhất định” [52] Trong văn chương “giọng điệu được xem là nơi biểuthị thái độ cảm xúc, tư thế của chủ thể phát ngôn qua lời văn nghệ thuật”

Theo Trần Đình Sử: “Giọng điệu là một yếu tố đặc trưng của hìnhtượng tác giả trong tác phẩm mang nội dung tình cảm, thái độ, ứng xử trướccác hiện tượng đời sống không chỉ biểu hiện bằng cách xưng hô, trường từvựng mà còn hệ thống tư thế, cử chỉ biểu cảm trong tác phẩm Giọng điệu cócấu trúc của nó Xét lời văn trong quan hệ với người đọc ngoài văn bản thì cóngữ điệu Sự thống nhất hai yếu tố này tạo nên giọng điệu” [33;132] Nhànghiên cứu Lại Nguyên Ân cũng khẳng định khả năng của giọng điệu bộc lộđược “thái độ, lập trường, tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượngđược miêu tả Nó thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng

từ, sắc diện tình cảm, cảm thụ xa, gần, thân xơ, thành kính, suồng sã, ngợi cahay châm biếm” [1;152]

Trang 19

Mỗi nhà văn cần tạo ra cho mình một giọng điệu riêng, không hòa lẫn,trộn lẫn với ai, nếu như trong đời sống có thể nhận ra ai đó qua lời nói thìtrong văn học có thể nhận ra nhà văn qua giọng điệu

Mỗi giai đoạn, mỗi thời đại văn học lại có giọng điệu khác nhau.Giọng điệu chịu sự tác động chi phối bởi các chủ thể sáng tạo Tuy nhiên,chính chủ thế sáng tạo cũng bị chi phối ngược trở lại tùy vào bối cảnh thờiđại Mặt khác, đặc điểm của thể loại văn học cũng có ảnh hưởng, chi phối đếngiọng điệu Từ đây, có thể khẳng định rằng: giọng điệu là một trong nhữngyếu tố quan trọng làm nên đặc điểm của hình tượng tác giả trong tác phẩm

1.3 Hình tượng tác giả nữ và một số biểu hiện đặc thù

Thuật ngữ “hình tượng tác giả nữ” được sử dụng trong khóa luận phầnnào để chỉ những chủ thể sáng tác là người nữ Hình tượng tác giả nữ mangnhững đặc trưng phái tính mà chỉ người nữ mới có qua cái nhìn, giọng điệu,…Điều này làm nên sự độc đáo của văn chương

1.3.1 Khái niệm hình tượng tác giả nữ

Khái niệm “hình tượng tác giả nữ” cho đến nay vẫn chưa xác lập mộtcách hiểu thống nhất Tuy nhiên, mỗi tác phẩm ra đời đều ít nhiều mang dấu

ấn riêng của chính chủ thể sáng tạo, đặc biệt là dấu ấn về giới Vì vậy: “Hìnhtượng tác giả nữ là một bộ phận của hình tượng tác giả nói chung, hình tượngtác giả nữ là một kiểu hình tượng văn học đặc thù, thể hiện được ý thức về vịthế của chủ thể sáng tạo đối với thế giới nghệ thuật” [23;50]

1.3.2 Đặc tính của hình tượng tác giả nữ

1.3.2.1 Dấu ấn giới tính

Dấu ấn giới tính trong sáng tạo cũng được rất nhiều nhà nghiên cứuquan tâm, đặc biệt là giới nữ So với các nhà văn nam, nữ văn sĩ bao giờ cũngmang những nét đặc trưng cả về mặt sinh học lẫn các biểu hiện về tâm lý, xãhội và văn hóa:

Trang 20

Về mặt sinh học, người phụ nữ khi sinh ra đã mang hình thể bẩm sinhphù hợp với thiên chức làm mẹ, duy trì thế hệ nối tiếp cho xã hội Bộ ngựcngười phụ nữ được thiết dựng để nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và tạo mối giao cảmgia đình Các cấu tố gen và hóc-môn cũng gắn liền với cấu trúc cơ thể họcngười phụ nữ tạo nên giới tính nữ chuyên biệt Vì vậy, phụ nữ ý thức về diệnmạo bản thân từ đó, đề cao vẻ đẹp hình thể Từ ý thức sâu sắc này, cácnhà thơ nữ đã không ngần ngại phô diễn vẻ đẹp của mình và phái mình trongvăn chương

Do đặc trưng về giới mà phụ nữ “nhanh già” hơn nam giới, vì vậy phụ

nữ đặc biệt nhạy cảm với thời gian với họ thời gian làm phai nhạt đi nét xuân,

sợ những đôi chân chim in hằn lên khóe mắt, sợ mái tóc điểm trắng trên máitóc, sợ làn da sạm đi… Những điều đó chỉ có tâm hồn phụ nữ ý thức sâu sắc

vẻ đẹp cơ thể mới cảm nhận được thay đổi nhỏ như vậy Điều đó khó có thểthấy được trong các sáng tác của nam giới

Do tố chất bẩm sinh “bé gái ít nói lắp, giọng nhẹ nhàng, trong trẻo”[25;450] đây là yếu tố tác động đến giọng điệu, cách nói của giới nữ cũngmang nét riêng khác với nam giới Khi là một người mẹ thì nhẹ nhàng, điềmđạm qua những lời ru con ngọt ngào, thủ thỉ Khi là người vợ thì ân cần, sâusắc, khi là một người tình thì thỏ thẻ, dịu dàng, khi là một người con thì nũngnịu để được nuông chiều Điều này dẫn đến trong văn chương “Giọng đặctrưng của nữ giới thường là giọng trữ tình đằm thắm hay các cung bậc của lời

ru con cũng đã đi vào thơ như một biểu hiện của tâm hồn đằm thắm trữ tìnhcủa giới nữ” [23;53]

Về mặt xã hội, là phụ nữ họ phải buộc mình vào nhiều mối quan hệ:quan hệ trong gia đình (vợ - chồng, bố mẹ chồng – nàng dâu, họ hàng nội –ngoại) mối quan hệ với làng xóm, láng giềng… Điều đó buộc người phụ nữphải khéo léo, mềm mỏng để chu toàn mọi việc Ngày nay, phụ nữ có nhiều

Trang 21

Dấu ấn nữ tính còn được biểu hiện trong cách xưng hô của vai giao tiếptrong tác phẩm Nhân vật trữ tình trong sáng tác còn dựa vào vị thế củachủ thể để đưa ra cách xưng hô phù hợp Những đại từ nhân xưng thườngđược sử dụng là “chị”, “mẹ”, “con”…

Có thể thấy trong thơ trữ tình nữ, rất ít khi nhà văn nữ hóa thân vàovai khác giới Khác với các nhà văn nữ, nhà văn nam thường sử dụng nhân vậttrữ tình nhập vai người nữ để đồng cảm, sẻ chia những tình cảm, tư tưởngvới giới nữ Hình tượng tác giả nữ thường chọn vai giao tiếp cùng giới để qua

đó bộc bạch những nỗi lòng, có đôi khi là tâm trạng của chính nhà thơ gửigắm vào nhân vật, có khi là đồng cảm, xót thương cho chính giới mình Chính

Trang 22

vì lẽ đó mà người nữ khi đọc thơ do chính các tác giả nữ sáng tác sẽ cảm thấynhư tác phẩm viết về số phận của chính mình.

Trang 23

Các vai giao tiếp trong thơ nữ có sự đan xen, hòa quyện với phẩm chấtcủa con người gia đình, con người xã hội, hình tượng tác giả nhập vai vàongười mẹ, người vợ, người con, người tình,…

Dựa trên dấu ấn giới tính và vai giao tiếp nghệ thuật của hình tượng tácgiả nữ có thể nói rằng: “Hình tượng tác giả trong thơ nữ là một kiểu loạithuộc hình tượng tác giả của thơ trữ tình nói chung” [23;57] Vì thế nó hội tụđầy đủ những đặc trưng của loại hình thể loại của hình tượng tác giả nóichung và những đặc điểm về giới Đây là nét riêng cho thấy ở hình tượng tácgiả nữ

Trang 24

Chương 2 VAI GIAO TIẾP CỦA HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ NỮ

TRONG THƠ VI THÙY LINH

2.1 Hình tượng tác giả nữ trong vai giao tiếp “ta” – nhân danh giới nữ

Hình tượng tác giả nữ trong vai giao tiếp “ta”- nhân danh giới nữ làbiến thể độc đáo của hình tượng tác giả trong thơ Vi Thùy Linh Tiếp cận thơ

Vi Thùy Linh, ta thấy ý thức giới thể hiện rõ ở phương thức “kể chuyện” từngôi thứ nhất, nhân vật tôi kể chuyện mình, chuyện giới mình,… qua cái nhìncủa phụ nữ Họ tự đứng lên, nói lên tiếng nói của chính giới mình:

“Em giải phóng chính em trong thế giới tâm hồn

Hỡi người phụ nữ, hãy yêu và sống đến cùng như mình muốn

Đừng mặc cảm đừng che giấu! Nín đi! Bắt đầu cuộc sống không cầnchịu đựng chờ chiếu cố”

(Yêu cùng George Sand)

Vi Thùy Linh tha thiết mong muốn phụ nữ hãy tận hưởng cuộc sốngcủa mình, tận hưởng mọi khoảnh khắc ta có được trên cõi đời này Hãy đểtiếng cười tràn ngập mỗi ngày và đừng cố kìm nén những cảm xúc, hãy thểhiện chúng bằng cách “em giải phóng chính em trong thế giới tâm hồn” Phụ

nữ phải học cách yêu chính mình, dành thời gian chăm chút cho bản thân,bởi phụ nữ khi biết cách yêu mình mới biết cách yêu người xung quanh,biết lo cho mình mới là người biết làm cho gia đình mình hạnh phúc Phụ nữhãy tập rũ bỏ những lo toan, bộn bề, biết nâng niu cảm xúc của bản thân thìmới có đủ năng lượng và tình cảm dành yêu thương cho gia đình vàngười thân yêu quanh mình “hãy yêu và sống đến cùng như mình muốn”, tinvào cảm xúc của chính bản thân mình, và nâng niu mỗi cảm nhận của đời

Trang 25

sống này và đừng quan tâm quá nhiều đến cảm nhận của người khác.Không sống dựa dẫm và

Trang 26

trông chờ vào người khác “bắt đầu cuộc sống không cần chịu đựng chờ chiếu cố” Để bản thân để trở thành người phụ nữ tự lập, vui vẻ.

Vi Thuỳ Linh muốn thay đổi suy nghĩ của giới mình bằng những câuthơ dữ dội, cái dữ dội khác xa với hình ảnh quen thuộc của người con gái ViệtNam vốn dịu dàng, e ấp Phụ nữ hãy khẳng định, trực tiếp bày tỏ tìnhyêu, trực tiếp nhìn nhận, trực tiếp đối diện với cuộc sống, hướng tới khátkhao về tự do bình đẳng trong cuộc sống, hòa hợp khoáng đạt trong tìnhyêu:

“Khi yêu nhau chúng mình đã thoát khỏi thế giới hỗn mang này,

kiến tạo một thế giới khác, chỉ có anh và em, chỉ có anh và em

Một thế giới hòa hợp và hứng khởi, bởi sự khám phá không ngừngBắt đầu từ khi mình biết vượt qua những bức tường rêu kiên cố

Đó là ý nghĩa của ngày mai được đón đợi”

mơ, khám phá, phiêu lưu, trái tim không ngừng cảm nhận những vẻ đẹp từcuộc sống mang lại Nhất là trong tình yêu phụ nữ càng cần mạnh bạo hơn,dám yêu dám đánh đổi, biết làm chủ trái tim mình Thơ Vi Thùy Linh đã xâydựng nên khu vườn địa đàng mà nơi đó có cả người nữ và người nam cùngngự trị, cùng vun đắp nên tình yêu ấy:

“Hãy vĩnh biệt cuộc đời tĩnh mịch đơn điệu

Chịu đựng nô lệ giới tính bằng bị động

Hãy yêu nhau đừng chần chừ nữa

Trang 27

Đừng giam đời trong hèn yếu, sợ đàm tiếu tiếng lên án từ

Trang 28

những kẻ vô hồn bạc

nhược

Trang 29

người luôn mong ước nó, nỗi bất hạnh - con người luôn tránh xa Càng mongước, mỗi người càng tha thiết bảo vệ, giữ gìn nó Bên cạnh những phút giâyhạnh phúc là sự trăn trở, lo sợ hạnh phúc sẽ tuột khỏi tầm tay mình Vì vậyLinh muốn phụ nữ hay thôi những trăn trở đời thường, thôi nghĩ suynhững

điều chưa xảy ra hãy mạnh mẽ nắm bắt cơ hội trong tình yêu tới hãydũng cảm nói: “vĩnh biệt cuộc đời tĩnh mịch đơn điệu” và “Hãy yêu nhauđừng chần chừ nữa” Yêu nhau hãy cứ bên nhau đến khi nào không thể vàquan trọng hơn cô gái ấy đã luôn hết mình với tình yêu này, để khi nghĩlại sẽ không bao giờ cảm thấy tiếc nuối

Ngoài tình yêu thơ Vi Thùy Linh còn viết rất nhiều về tình dục Đọcthơ chị, ta bắt gặp ở đó bản năng phụ nữ của người làm thơ bùng nổqua những câu chữ ào ạt, say sưa giãi bày, không tiết chế cảm xúc, muốn nóithật lớn, thật to những đam mê, khao khát của mình, yêu hết mình vàsẵn sàng chết khi không được yêu:

“Khỏa thân trong chănThèm chồng Thèm có chồng ở bên

Chỉ cần anh gối lên đùiMình ôm lấy Anh ôm mìnhBiết sự bình yên của mặt đất”

(Chân dung)

Trang 30

Với Linh “Khỏa thân” để trở về sự bình yên, sự nguyên thủy nhất của người phụ nữ Và “Biết sự bình y n của mặt đất” tình yêu sẽ làm lắng lại tất

cả mọi bạo động của mặt đất này Người nữ trong thơ Vi Thùy Linh dồi dàocảm hứng lãng mạn Khát vọng đó chính là khát vọng của tình yêu và tự do.Yêu hết mình Đốt cháy mình giải phóng

Nhìn từ một góc độ nào đó, những yếu tố tình dục trong thơ Vi ThuỳLinh như một sự khẳng định nhu cầu bản năng của con người là điều màtrước đây ít nữ thi sĩ nào “dám” nói ra Bởi lẽ với phụ nữ điều đó cần giữkín, và điều chỉ đàn ông được nói Nhưng “tình dục” là nhu cầu tự nhiên

mà con người (không riêng đàn ông) phải có, đó là điều hết sức bình thường

Vi Thùy Linh đã từng ước ao: “Tôi ước ao chứng kiến một nụ hôn đẹp giữamột trời không gian rộng lớn Tại sao khi hôn nhau người ta cứ phải lén lút.Tôi rất hãnh diện khi đi bên người yêu và được âu yếm bằng những cử chỉvăn hóa chứ không phải cố gắng kìm nén để tìm một bụi dậm nào đó” [19]

Vì là phụ nữ nên mong mỏi đó phải giấu kín, vì là phụ nữ nên điều đó khôngđược nói ra Chính vì vậy mà thơ chị không ít lần xuất hiện những câu thơnhư:

“Em công khai tình yêuNhư hôn anh bất cứ nơi nào em muốn”

(Pari đang y u)

Shakespeare từng nói: “Người ta không yêu kẻ chẳng thể hiện tình yêu”với Linh yêu là nói là thể hiện bằng chính lời nói bằng chính hành động Hãybày tỏ tình yêu bằng cách thể hiện hay chứng tỏ tình yêu ấy Có nghĩa là ta

để cho hành động của ta nói lên lời yêu “hôn anh bất cứ nơi nào em muốn”hôn là một hành động đẹp, cử chỉ thân mật của hai người yêu nhau Cớ saolại phải giấu nhẹm khi hôn người yêu của mình Hành động dám công khai tìnhyêu cho cả thế giới còn cho thấy rằng người phụ nữ ấy cảm thấy tự hào vì

Trang 31

đang có một người đàn ông xứng đáng để yêu, xứng đáng để thể hiện tình yêuấy

Trang 32

“Anh ơi! Hãy ghì chặt em

Hôn đi! Môi Anh ủ lửa

Trang 33

Vi Thùy Linh thường sử dụng những động từ mạnh: “xiết chặt”; “răng

“va” vào nhau”; “cởi mình”; “Ghì chặt em”… để bộc bạch những khao khátbản năng Với Linh tình dục là một phần của tình yêu Với người phụ nữ,thông qua cách người yêu của mình người phụ nữ cảm nhận được bộ mặt củamối quan hệ đó Tình yêu không riêng người phụ nữ hay đàn ông đều là khátkhao gắn với hành động, dữ dội gắn với tận hưởng, chiếm đoạt Điều này chothấy rằng nhục cảm là một phần câu chuyện tình yêu khát khao nhục cảm làbiểu hiện của người đàn bà đã “chín đủ” Khát khao nhục cảm không phải làđiều đáng xấu hổ

Hình tượng tác giả nữ vai “ta” – nhân danh giới nữ trong thơ của ViThùy Linh đã thể hiện rất rõ ý thức về sức mạnh nội lực trong suy nghĩ và độclập hành động của chính giới mình Linh không ngần ngại phô bày khao khátmãnh liệt – tự do được sống và được yêu Thơ chị cũng như con người chị, làmột cái tôi mạnh mẽ muốn truyền những ngọn lửa nhiệt huyết chonhưng

người nữ như chị, với Linh phụ nữ cần đủ quyết liệt nhưng cũng rất đỗi chínchắn bằng những chiêm nghiệm suy tư về thời gian, về lẽ sống, về cuộc đời

Vi Thùy Linh muốn khẳng định vị thế của người phụ nữ trong tình yêu, hônnhân hòa chung tiếng nói nam giới

Trang 34

2.2 Hình tượng tác giả nữ trong vai người mẹ

Thiên chức làm mẹ của người phụ nữ trở thành nguồn cảm hứngkhông bao giờ vơi cạn trong văn chương Thiên tính nữ biểu hiện rõ nhất ởthiên chức làm mẹ của người phụ nữ Đối với người mẹ, đứa con là món quà

vô giá mà tạo hóa đã ban tặng

Đọc thơ Vi Thùy Linh, ta thấy ý thức phái tính như một tư cách hiệndiện của người phụ nữ hiện đại và bản năng làm mẹ Dù rằng, khi viết nhữngvần thơ kia Linh mới mười tám, đôi mươi Linh từng bộc bạch chị khao khátđược làm mẹ từ rất sớm Có lẽ vì vậy mà hình tượng tác giả nữ trong thơ chịthường thể hiện khao khát được làm mẹ rất mãnh liệt:

“Con ơi… con ơi!

Không biết bao lần, mẹ đặt tay lên bụng, gọi con

Mẹ khao khát mang con, mặt trời đang phôi thai trong mẹ

Mẹ muốn có thật nhiều mặt trời…

Con ơi! Con ơi!

Con đang bay ở đâu Con đang bay ở đâu

Hãy theo tình yêu của Cha đậu vào lòng mẹ

Khi con vẫn đang bay (Ở tận nơi nào mẹ không biết được)

Mẹ cứ áp tay sốt ruột được nghe con phập phồng thành hình, giãy đạptrong mẹ

Sẽ đến lúc, nhìn con, mẹ lại thấy hình ảnh chồng của mẹ…”

( hững mặt trời đang phôi thai)

Hôn nhân là kết quả của hành trình yêu, thật kỳ diệu là từ hai người xa

lạ đến từ hai nơi khác biệt, kết hôn với nhau, song hành bên nhau suốt cuộcđời, nhưng cũng chỉ như hai bờ của một con sông dài, con sông ấy cần lắmmột nhịp cầu bắc ngang Mà con chính là nhịp cầu bắc ngang là gửi gắm niềmtin, tình yêu nơi cha mẹ Niềm háo hức, mong mỏi được nhìn ngắm sinh linh

Trang 35

bé nhỏ “Không biết bao lần, mẹ đặt tay lên bụng, gọi con” Rồi một ngày khicon chào đời rồi lớn lên, mẹ sẽ thấy ở con “hình ảnh chồng của mẹ” Đó là cáiđích của một tình yêu trọn vẹn

Người mẹ nào chẳng yêu con hơn bản thân mình, chẳng mong cho connhững điều tốt lành nhất Với con cái, cha mẹ luôn là chỗ dựa, là vòng taychở che, yêu thương, bao bọc suốt cuộc đời Tình yêu thương của mẹ là tìnhyêu thương không điều kiện Mẹ sẵn sàng hy sinh của cải, tính mạng củamình cho con bởi mẹ biết con là thứ tài sản lớn nhất, là niềm hạnh phúcnhất của đời mẹ Mẹ chắp cánh cho những ước mơ của con bay cao, là bờbến bình yên dù thành công hay thất bại con đều khao khát quay về Tìnhmẫu tử thiêng liêng chính là cội nguồn của mọi tình cảm Thiên chức làm

mẹ mà tạo hóa ban cho người phụ nữ chính là giá trị cao quí và thiêng liêngnhất trong đời sống nhân loại:

“Con

Ước mơ vĩ đại, dẫu cho ngày tuyệt diệt

Giữa ước mơ hỗn độn và giả tạo đầy rẫy vây quanh

Cánh tay mệt lả của mẹ vẫn là đôi cánh bền vững

Hãy bay cao từ khi đôi bàn chân bé nhỏ của con bấm vào ngực mẹ”

(Đôi cánh của mẹ)

Những đứa con không chỉ là kết tinh của tình mẫu tử mà còn là

sự thăng hoa của những trải nghiệm cuộc sống Trong tâm thức của ngườiphụ nữ khao khát được làm mẹ, người mẹ ấy cũng có những kỳ vọng ở cáccon của mình “Con, Ước mơ vĩ đại, dẫu cho ngày tuyệt diệt”, nhưng thay vì

ép chúng trở thành những “người phi thường”, người mẹ chỉ mong nhữngthiên thần của mình trở thành những người tốt, những người biết ước mơ,biết sống nhân hậu với tình yêu và lòng bao dung chan chứa Họ mong muốn

Trang 36

con mình trưởng thành trong vòng tay, rồi ôm con vào lòng rồi mẹ kể connhững giãi

Trang 37

Vì mặt trời thiêu đốt nắng rồi

Tất cả các loài chim đều được sống để dậy thì tiếng

hót hợp xướng cùng con bi bô

Những cánh sao măng tơ vươn vai vào ngày mai

ngọt lịm

Vòng tay cha làm gối cho mẹ và chúng con

Một đời thường đẹp hơn nhưng giấc mơ thiên đường

Không gì chia cắt, đe dọa được chúng ta

Khi những nơi cằn cỗi lụi tàn nảy lên mầm xanh hăm hở

Khi cha mẹ nhìn bằng con - Đồng Tử

Chúng ta được làm người thư thả

Trong tình yêu cật lực của mình”

(Đồng Tử)

Con là hạnh phúc, được mẹ gom nhặt, ấp ủ giờ đã trọn vẹn thành hìnhhài “Vòng tay cha làm gối cho mẹ và chúng con” con là cảm hứng sống, cảmhứng yêu đời và cảm hứng hạnh phúc, là niềm tin vào hôn nhân, vào tìnhyêu và những điều kì diệu của hai tiếng “gia đình” mà mẹ luôn khao khátcùng với

người cha của con, gia đình nhỏ ba người chúng ta

Đối với người mẹ, đứa con là kết tinh của tình yêu ngọt ngào, hạnhphúc và cũng đầy lãng mạn Người mẹ rạo rực, thổn thức ngắm nhìnthiên thần nhỏ và càng tự hào hơn nữa khi được làm trọn vẹn thiên chứccủa một

Trang 38

người phụ nữ:

“Những đứa bé tóc quăn đòi bú dưới quang hợp mặt trời diệp lục

Trang 39

căng cơ thể chúng ta

Bầu vú như mũi tên ánh sáng

Thế rồi bầy con đòi chăn những cánh đồng bạt ngàn của đất,

rực rỡ của trời

Các con lớn lên và chúng ta chỉ muốn cuồng nộ trong yên lặng

Hoa đậu biếc nở lan

Vi Thuỳ Linh đã viết về phái của mình với tâm thế, nội lực của một nhàthơ nữ trẻ; khẳng định thiên tính nữ một cách đầy tự hào, hãnh diện củaphụ nữ hiện đại trong xã hội hiện nay

2.3 Hình tượng tác giả nữ trong vai người yêu

Cõi yêu trong thơ Vi Thùy Linh đã được dựng nên từ khát vọng đượcyêu và được sống xuất phát từ khao khát hạnh phúc đời thường bình dị nhất,một tình yêu vừa thiêng liêng vừa trần thế Người phụ nữ khi yêu, có khi chỉ

là những điều nhỏ nhặt, bình thường như cuộc sống hằng ngày, có khi lại dữdội, nồng nhiệt cháy bỏng:

“Giá như chúng mình mãi mãi bên nhau

Trang 40

Anh chớp mắt đổ một trời ánh sáng

Những ước vọng thành cỏ đời xanh mướt

Đi hết ánh sáng mình hóa đá trong nhau…”

(Tự tình)

Ngày đăng: 06/01/2020, 17:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội 2. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000, Nxb Khoahọc Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học", Nxb Đại học quốc gia Hà Nội2. Phạm Quốc Ca (2003), "Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000
Tác giả: Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội 2. Phạm Quốc Ca
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội2. Phạm Quốc Ca (2003)
Năm: 2003
3. Dương Cầm (2009), Thế giới của thơ Vi Thuỳ Linh, www .ev a n . c o m Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới của thơ Vi Thuỳ Linh
Tác giả: Dương Cầm
Năm: 2009
4. Nguyễn Việt Chiến (2006), Thơ Vi Thùy Linh cơn cuồng lưu từ những mê - lộ - chữ, Tạp chí văn học số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Vi Thùy Linh cơn cuồng lưu từ những mê -lộ - chữ
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Năm: 2006
5. Thái Thị Diện (2009), Chủ đề tình y u trong thơ Vi Thuỳ Linh, Khoá luận tốt nghiệp Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ đề tình y u trong thơ Vi Thuỳ Linh
Tác giả: Thái Thị Diện
Năm: 2009
8. Hà Minh Đức (2004), Tuyển tập, tập 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập 3
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
9. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
10. Lưu Thị Hạnh (2010), Hiệu quả của biện pháp so sánh tu từ trong thơ Vi Thùy Linh, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường đại học Sư phạm Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của biện pháp so sánh tu từ trong thơ ViThùy Linh
Tác giả: Lưu Thị Hạnh
Năm: 2010
11. Trần Ngọc Hiếu (2003), Những tìm tòi cách tân hình thức trong thơ Việt Nam thời kỳ đổi mới, Luận văn tốt nghiệp Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tìm tòi cách tân hình thức trong thơViệt Nam thời kỳ đổi mới
Tác giả: Trần Ngọc Hiếu
Năm: 2003
12. Inrasara (2008), Song thoại với cái mới, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Song thoại với cái mới
Tác giả: Inrasara
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2008
13. Thuỵ Khuê (2008), Vi Thuỳ Linh, nhục cảm sáng tạo, www .ev an . c o m . 14. Trần Thiện Khanh, Vi Thuỳ Linh và một kiểu tư duy về lời,www .h o i nh a v a n vi e tn a m .v n Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi Thuỳ Linh, nhục cảm sáng tạo, "www .ev an . c o m .14. Trần Thiện Khanh, "Vi Thuỳ Linh và một kiểu tư duy về lời
Tác giả: Thuỵ Khuê
Năm: 2008
15. Hà Linh, Vi Thùy Linh muốn dành tình y u cho thơ, www . V n e xp r e s s . n et 16.Vi Thùy Linh (1999), Khát, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi Thùy Linh muốn dành tình y u cho thơ, "www . V n e xp r e s s . n et16.Vi Thùy Linh (1999), "Khát
Tác giả: Hà Linh, Vi Thùy Linh muốn dành tình y u cho thơ, www . V n e xp r e s s . n et 16.Vi Thùy Linh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1999
19. Vi Thùy Linh trả lời thư bạn đọc, giaitri.Vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi Thùy Linh trả lời thư bạn đọc
20. Nguyễn Mỹ Linh (2009), Khát vọng nữ quyền trong thơ Vi Thùy Linh, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Hùng Vương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khát vọng nữ quyền trong thơ Vi Thùy Linh
Tác giả: Nguyễn Mỹ Linh
Năm: 2009
21. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (2006), Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
Tác giả: Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
22. M.B.Khrapchenko (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Sơn, Duy Lập – dịch), hững vấn đề lý luận và phương pháp nghi n cứu văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hững vấn đề lý luận và phương pháp nghi n cứu văn học
Nhà XB: NxbĐại học Quốc gia
23. M.B.Khrapchenko (1973), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triểnvăn học
Tác giả: M.B.Khrapchenko
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1973
24. Phạm Xuân Nguyên (2005), gười “tận lực tham ô tuổi trẻ” để sống thơ, Tạp chí Văn học số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: gười “tận lực tham ô tuổi trẻ” để sống thơ
Tác giả: Phạm Xuân Nguyên
Năm: 2005
25. Nguyễn Thị Nga (2010), Hình tượng tác giả nữ trong thời chống Mỹ, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Trường đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng tác giả nữ trong thời chống Mỹ
Tác giả: Nguyễn Thị Nga
Năm: 2010
26. Nhiều tác giả (Vũ Tiến Quỳnh – tuyển chọn) (1998), Anh Thơ, Lâm Thị Vĩ Dạ, Vân Đài, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn ( Lý luận phê bình, bình luận văn học), Nxb văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Anh Thơ, Lâm ThịVĩ Dạ, Vân Đài, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn
Tác giả: Nhiều tác giả (Vũ Tiến Quỳnh – tuyển chọn)
Nhà XB: Nxb văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
27. Nhiều tác giả (Trần Đăng Suyền – chủ biên), Hợp tuyển công trình nghiên cứu, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển công trìnhnghiên cứu
Nhà XB: Nxb Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w