1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành vi chê trong một số tác phẩm văn học hiện thực phê phán tiêu biểu giai đoạn 1930 1945 (2017)

100 62 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm thông tin; nhóm bàn, tranh luận, cãi; nhóm khen, chê; các luận vănnày đã đặt động từ nói năng trong hội thoại và xây dựng được cấu trúc ngữnghĩa của một số động từ nó

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

**************

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

HÀNH VI CHÊ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC HIỆN THỰC

PHÊ PHÁN TIÊU BIỂU GIAI ĐOẠN 1930 - 1945

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

**************

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

HÀNH VI CHÊ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC HIỆN THỰC

PHÊ PHÁN TIÊU BIỂU GIAI ĐOẠN 1930 - 1945

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học

TS KHUẤT THỊ LAN

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến TS Khuất ThịLan, người thầy đã hết lòng hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khóaluận này

Em xin gửi lời biết ơn tới toàn thể các thầy cô trong tổ Ngôn ngữ,khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã ủng hộ và tận tình chỉbảo, tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Bảnthân em đã hết sức cố gắng nhưng việc thực hiện khóa luận tốt nghiệpkhông thể tránh khỏi một số thiếu sót Vì vậy, em kính mong nhận được sựgóp ý chỉ bảo của các thầy, cô và các bạn sinh viên quan tâm

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Huyền

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và đượcsự hướng dẫn khoa học của TS Khuất Thị Lan Các nội dung nghiên cứu,kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố trong công trìnhnghiên cứu trước đây Ngoài ra, trong khóa luận còn sử dụng một số nhậnxét, đánh giá của các công trình nghiên cứu khác đều có trích dẫn và chúthích nguồn gốc

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do lựa chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của đề tài 4

7 Bố cục của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 6

1.1 Một số vấn đề về hành vi ngôn ngữ 6

1.1.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ 6

1.1.2 Phân loại hành vi ngôn ngữ 8

1.1.3 Hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp 12

1.1.3.1 Khái niệm “hành vi ở lời” 12

1.1.3.2 Điều kiện sử dụng hành vi ở lời 12

1.1.3.3 Hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp 15

1.2 Hành vi ngôn ngữ chê 18

1.2.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ chê 18

1.2.2 Hành vi chê trực tiếp và hành vi chê gián tiếp 19

1.2.3 Các nhân tố giao tiếp ảnh hưởng đến hành vi ngôn ngữ chê 21

1.3 Hành vi chê trong văn hoá giao tiếp của người Việt 24

1.3.1 Các quan niệm về văn hoá 24

1.3.1.1 Trên thế giới 24

1.3.1.2 Ở Việt Nam 25

1.3.2 Quan niệm của người Việt về hành vi chê 26

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT HÀNH VI CHÊ TRONG MỘT SỐ 28

TÁC PHẨM VĂN HỌC HIỆN THỰC PHÊ PHÁN TIÊU BIỂU 28

GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 28

2.1 Khảo sát hành vi chê được sử dụng trong một số tác phẩm văn học hiện thực phê phán tiêu biểu giai đoạn 1930 - 1945 28

2.1.1 Kết quả khảo sát 28

Trang 6

2.1.2 Nhận xét kết quả khảo sát 29

2.2 Hành vi chê trực tiếp và các biểu thức sử dụng 30

2.3 Hành vi chê gián tiếp và các biểu thức sử dụng 45

2.4 Ảnh hưởng của văn hóa giao tiếp đến việc sử dụng hành vi chê 52

2.4.1 Ảnh hưởng của văn hóa đến chủ đề chê 52

2.4.2 Ảnh hưởng của văn hóa đến cách thức chê 54

KẾT LUẬN 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

X : Chủ ngữ của nội dung mệnh đề chê trong biểu thức

ngữ vi chê nguyên cấp

V : Vị ngữ trong nội dung mệnh đề chê của biểu thức ngữ

vi chê nguyên cấp

Trang 8

1 Lí do lựa chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trang 9

Trong đời sống hàng ngày, khen - chê là hai mặt của một vấn đề Tuynhiên, người nghe vẫn thích nghe phát ngôn khen hơn là chê Vì thế màhành vi chê ít được ưa chuộng sử dụng

Về mặt lí thuyết, hành vi chê là hành vi được sử dụng với hiệu lựckhông tích cực Song, trên thực tế, hành vi chê lại được sử dụng với nhiềuhiệu lực ở lời khác nhau Hành vi chê có thể làm cho mối quan hệ liên cánhân giữa người tham gia giao tiếp trở nên xa cách Ngược lại, nếu hành vichê được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ và chừng mực cũng có thể làm chomối quan hệ giữa những người giao tiếp thêm gần gũi, thân thiết

Hành vi chê là hành vi ngôn ngữ mang tính đánh giá Người ta có thểnhận ra quan điểm sống, đôi khi nhận ra cả trình độ văn hóa, ứng xử củangười thực hiện hành vi chê Qua hành vi chê, cho thấy những phát hiệntinh tế cũng như sự “khéo nói” của một người nào đó

Trong văn học, cùng với những hành vi ngôn ngữ khác, hành vi chê làhành vi ngôn ngữ góp phần làm nên một tác phẩm văn học hoàn chỉnh.Trong một số tác phẩm văn học tiêu biểu giai đoạn 1930 - 1945, không thểphủ nhận hành vi chê đã góp phần tạo nên bức tranh đa sắc màu trong vănhọc giai đoạn này

Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn khóa luận với tiêu

đề: “Hành vi chê trong một số tác phẩm văn học hiện thực phê phán tiêu

biểu giai đoạn 1930 - 1945”.

2 Lịch sử vấn đề

Luận văn thạc sĩ của các tác giả Nguyễn Thị Ngận, Lê Thị Thu Hoa,Đinh Thị Hà (1996), đã nghiên cứu về cấu trúc ngữ nghĩa của một số nhómđộng từ nói năng biểu thị các hành vi ngôn ngữ trong tiếng Việt như:

Trang 10

Nhóm thông tin; nhóm bàn, tranh luận, cãi; nhóm khen, chê; các luận vănnày đã đặt động từ nói năng trong hội thoại và xây dựng được cấu trúc ngữnghĩa của một số động từ nói năng cụ thể, đồng thời có đề cập đến vấn đềbiểu thức ngữ vi, những cách xác định vai trò của biểu thức ngữ vi trongbiểu đạt và nhận diện một hành vi ngôn ngữ

Năm 1999, luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Quang đã đặt hành vikhen và tiếp nhận lời khen trong sự khảo sát và so sánh để tìm ra sự khácbiệt trong việc sử dụng hành vi này giữa người Việt và người Mỹ Tác giảchủ yếu đi sâu nghiên cứu cách sử dụng, không mô tả cụ thể cấu trúc củanhững biểu thức ngữ vi Khen và chê là hai mặt của một vấn đề Vì vậychúng tôi cho rằng hành vi chê cũng có thể được tiếp cận từ góc độ nghiêncứu này

Năm 2000, các luận văn của Vũ Tố Nga, Lê Thị Thu Hoa, Hà Thị HảiYến đã đặt các hành vi ngôn ngữ cam kết, chê, cảm thán trong tương tácthoại để nghiên cứu

Năm 2001, các luận văn của Trịnh Thanh Trà, Nguyễn Thị Vân Anh,Chử Thị Bích, Phạm Hùng Linh đã nghiên cứu một số hành vi ngôn ngữ(điều khiển, thỉnh cầu, cho, tặng, kể) và các cặp thoại có chứa hành vi ngônngữ đó trong tổ chức của một sự kiện lời nói trong những tình huống giaotiếp cụ thể để tìm hiểu Từ những kết quả nghiên cứu này mở ra một hướngnghiên cứu các hành vi ngôn ngữ trong đó có hành vi chê

Tác giả Nguyễn Thị Hoài Linh (năm 2003) và Nguyễn Thu Hạnh(năm 2005) cũng đã đặt hành vi ngôn ngữ “mách” và “trách” trong sựtương tác hội thoại để xem xét Nguyễn Thu Hạnh đã bước đầu đề cập đếnvấn đề lịch sự trong việc sử dụng hành vi trách Từ đây, chúng tôi nhậnthấy có thể vận dụng hướng nghiên cứu này vào nghiên cứu hành vi chê

Trang 11

Năm 2006, luận án tiến sĩ Sự kiện lời nói chê trong tiếng Việt (cấu

trúc và ngữ nghĩa) của Nguyễn Thị Hoàng Yến đã tìm hiểu về sự kiện lời

nói chê trong tiếng Việt chủ yếu ở góc độ cấu trúc và ngữ nghĩa, tức tìmhiểu các thành phần cấu tạo nên sự kiện lời nói chê và ngữ nghĩa của cácthành tố đó

Hành vi chê được người Việt sử dụng với nhiều mục đích khác nhau

và sự kiện lời nói chê trong tiếng Việt có thể được xem xét ở nhiều góc độkhác nhau Tiếp thu kết quả nghiên cứu của các tác giả trên, chúng tôi tiếnhành nghiên cứu đề tài của mình Hi vọng kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sởgiúp người sử dụng và tiếp nhận hành vi chê có thể hiểu và lí giải được vấnđề trong quá trình giao tiếp

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề chủ yếu được tìm hiểu trong khóa luận là: Hành vi chê trongmột số tác phẩm văn học hiện thực phê phán tiêu biểu giai đoạn 1930 -

1945 và ảnh hưởng của văn hóa giao tiếp đến việc sử dụng hành vi chê

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Các hành vi giao tiếp trong ngôn ngữ vô cùng phong phú và đa dạng.Khóa luận của chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu một hành vi ngôn ngữ cụthể (hành vi chê) trong phạm vi một số tác phẩm văn học hiện thực phêphán tiêu biểu giai đoạn 1930 – 1945 của các tác giả: Nguyễn Công Hoan,Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích

Cung cấp những lý thuyết cơ bản về giao tiếp nói chung và lý thuyếtvề hành vi ngôn ngữ nói riêng

Trang 12

Giúp cho người học thấy được đặc trưng của hành vi ngôn ngữ chêtrong hoạt động giao tiếp nói chung và tác phẩm văn học nói riêng; thấyđược đặc trưng văn hóa và tư duy của người Việt khi sử dụng hành vi ngôn ngữ chê

Nâng cao năng lực tư duy và năng lực phân tích tác phẩm văn học,tích lũy ngữ liệu để có thể dạy tốt môn Ngữ văn ở trường Trung học phổthông

4.2 Nhiệm vụ

Tổng thuật tình hình nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê, khảo sát: Chúng tôi sử dụng trong việc thống

kê, khảo sát các hành vi chê trong một số tác phẩm văn học hiện thực phêphán tiêu biểu giai đoạn 1930 - 1945

Phương pháp phân tích: Chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích

để xem xét, nghiên cứu các hành vi chê được sử dụng phân tích các ngữliệu làm rõ hơn các khái niệm

Phương pháp hệ thống hóa: Trên cơ sở đã phân tích những ngữ liệu,chúng tôi xem xét các vấn đề thuộc hành vi chê

6 Đóng góp của đề tài

6.1 Về lí luận

Trang 14

Cung cấp thêm những lí thuyết về hành vi ngôn ngữ nói chung vàhành vi chê nói riêng.

6.2 Về thực tiễn

Mô tả chi tiết và khái quát được những đặc điểm của hành vi chêtrong tiếng Việt nói chung và một số tác phẩm văn học hiện thực phê phántiêu biểu giai đoạn 1930 - 1945

Thấy được nét riêng của hành vi chê trong sử dụng của các nhà vănhiện thực phê phán tiêu biểu giai đoạn 1930 - 1945

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo, luận văngồm hai chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Khảo sát hành vi chê trong một số tác phẩm văn học hiệnthực phê phán tiêu biểu giai đoạn 1930 - 1945

Trang 15

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Một số vấn đề về hành vi ngôn ngữ

1.1.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ

Đặt nền móng cho việc nghiên cứu lí thuyết hành vi ngôn ngữ là nhà

triết học người Anh J.L.Austin với công trình How to do things with

word.(Hành động như thế nào bằng lời nói)

Người đã phát triển lí thuyết này là nhà triết học J.Searle với công

trình nổi tiếng Speech Acts (Hành động lời nói)

Trên cơ sở lí luận của Austin và Searle trong các công trình nghiêncứu trên, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam đã đưa ra các khái

niệm về “hành vi ngôn ngữ”.

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Khi chúng ta nói năng là chúng ta

hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) SP1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) SP2 trong ngữ cảnh C” [1; tr.88]

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp gọi hành vi ngôn ngữ là hành động ngôn

từ Ông cho rằng: “Hành động ngôn từ chính là ý định về mặt chức năng

của một phát ngôn” [5; tr.337-338]

Trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, hành vi ngôn ngữ được các nhà nghiên cứu định nghĩa là: “Một đoạn lời nói có tính mục đích

nhất định được thực hiện trong những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu - ngữ điệu và hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm - âm học mà người nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó” [9; tr.107]

Trang 16

Như vậy ta thấy rằng, xung quanh khái niệm “hành vi ngôn ngữ”, có

không ít khái niệm được đưa ra Khóa luận này, chúng tôi thống nhất chọn

khái niệm sau làm cơ sở nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ:“Hành vi ngôn

ngữ là những phát ngôn mà khi người ta nói chúng ra thì đồng thời người

ta thực hiện ngay cái việc được biểu thị trong phát ngôn”.[1; tr.88]

J.Austin (1962) đã phân biệt phát ngôn khảo nghiệm và phát ngônngữ vi Từ đó, ông phát hiện ra bản chất của hành vi ngôn ngữ là hành vinói năng Ông cho rằng khi chúng ta nói năng tức là chúng ta hành động,chúng ta thực hiện một hành vi đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ TheoAustin, khi người ta sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp thì đồng thời thực hiện

3 hành vi: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời

Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ (như ngữ

âm, từ, ), các nguyên tắc của ngôn ngữ (như các kiểu kết hợp từ thành câu,v.v) để tạo ra các phát ngôn có ý nghĩa trong ngôn ngữ Chẳng hạn, khi ta

nói: “Hôm qua, tôi đi học” thì ta sử dụng các từ: “Hôm qua”, “tôi”, “đi”,

“học” và các quy tắc đặt câu của tiếng Việt như: Chủ ngữ đặt ngay trước vịngữ, trạng ngữ chỉ thời gian đặt ngay trước nòng cốt câu

Hành vi mượn lời là hành vi sử dụng (có thể coi là “mượn”) phương

tiện ngôn ngữ để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối với người nghe,

người nhận, có khi ở chính người nói.

Ví dụ, nghe thông báo trên đài phát thanh:“Ngày mai, 25 tháng 7 ở

Hà Nội sẽ có mưa lớn, gió mạnh, sức gió cấp 4, cấp 5 tức 40 đến 50 km một giờ”.

Một số người sẽ rất lo lắng, tỏ ra bực mình nếu họ là những người ở

xa cơ quan công tác, một số người khác trái lại sẽ thờ ơ, một số khác nữacó thể lại vui mừng vì trời sẽ đỡ nóng bức v.v… Nghe phát ngôn sai khiến:

“Đóng cửa lại!”, SP2 có thể đứng dậy đi ra cửa và đẩy cánh cửa cho kín

Trang 17

lại, anh ta cũng có thể bực tức, càu nhàu, tỏ vẻ khó chịu Hành động vật líđóng cửa, sự bực tức đều thuộc hành vi mượn lời Chức năng hành độngcủa giao tiếp được thực hiện nhờ các hiệu quả mượn lời của phát ngôn Cónhững hiệu quả mượn lời là đích của một hành vi ở lời (như đóng cửa làhiệu quả mượn lời của hành vi điều khiển) nhưng có những hiệu quả khôngthuộc đích của hành vi ở lời điều khiển) nhưng có những hiệu quả khôngthuộc đích của hành vi ở lời (như vùng vằng, gắt gỏng, khó chịu khi nghelệnh) Những hiệu quả mượn lời, rất phân tán, không thể tính toán được [1;tr.88-89]

Hành vi ở lời là hành vi người phát ngôn thực hiện ngay trong phát

ngôn của mình và tạo ra những hiệu quả thuộc ngôn ngữ (phản ứng ngônngữ tưng ứng với chúng ở người nhận) Trong đó, hành vi ở lời là mộttrong những phát hiện quan trọng của ngôn ngữ học nghiên cứu theo chứcnăng giao tiếp

Chẳng hạn khi chúng ta hỏi ai về một vấn đề nào đó thì người đượchỏi có nhiệm vụ trả lời chúng ta, có thể trả lời là không biết nhưng nếukhông trả lời thì sẽ bị xem là thiếu lịch sự

1.1.2 Phân loại hành vi ngôn ngữ

Austin đã phân loại các hành vi ngôn ngữ thành 5 nhóm phạm trùlớn [1; tr.120-121]

Phán xử (verdities, verditifs): Đây là những hành vi đưa ra những lời

phán xét (verdicts) về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứngcớ hiển nhiên hoặc dựa vào lí lẽ vững chắc như: Xử trắng án, xem là, tínhtoán, miêu tả, phân tích, đánh giá, phân loại, cho là, nêu đặc điểm v.v…

Hành xử (exercities, exercitifs): Đây là những hành vi đưa ra những

quyết định thuận lợi hay chống lại một chuỗi hành động nào đó: ra lệnh,chỉ huy, biện hộ cho, khẩn cầu, đặt hàng, giới thiệu, van xin, khuyến cáo và

Trang 18

các hành vi ngôn ngữ như bổ nhiệm, đặt tên, tuyên bố khai mạc, bế mạc,cảnh cáo, tuyên ngôn.

Cam kết (commissies, commissifs): Những hành vi này ràng buộc

người nói vào một chuỗi những hành động nhất định: Hứa hẹn, bày tỏ lòngmong muốn, giao ước, bảo đảm, thề nguyền, thông qua các quy ước, thamgia một phe nhóm

Trình bày (expositives, expositifs): Những hành vi này được dùng để

trình bày các quan niệm, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ nhưkhẳng định, phủ định, chối, trả lời, phản bác, nhượng bộ, dẫn thí dụ,chuyển dạng lời, báo cáo các ý kiến v.v…

Ứng xử (behabitives, comportementaux): Đây là những hành vi phản

ứng với cách xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan, chúngcũng là cách biểu hiện thái độ đối với hành vi hay số phận của người khác:xin lỗi, cám ơn, khen ngợi, chào mừng, phê phán, chia buồn, ban phước,nguyền rủa, nâng cốc, chống lại, thách thức, nghi ngờ v.v…

Chính Austin sau này cũng nhận thấy sự phân loại của mình chưahoàn thiện Searle là người tiếp thu và khắc phục những hạn chế trong líthuyết phân laoij hành vi ngôn ngữ của Austin Searle đã đưa ra quan niệmphân loại của mình dựa trên 12 tiêu chí.[1; tr.123-124]

Đích ở lời (the point of the illocutin): Ví dụ một thỉnh cầu hướng tới

việc đưa SP2 đến việc thực hiện cái gì đó; một miêu tả phải hướng tới sựcung cấp một sự biểu diễn (representation) sự vật như nó vốn có; một hứahẹn nhằm ràng buộc người nói SP1 vào việc thực hiện cái gì đó

Hướng khớp ghép lời với hiện thực (direction of lit): Ví dụ trần thuật

(statement) có hướng khớp ghép lời – hiện thực vì giá trị đúng sai mà nó

nêu ra xác định trên cơ sở lời (phát ngôn) miêu tả có phù hợp hay không

với sự vật được nói tới; thỉnh cầu có hướng khớp ghép hiện thực – lời bởi

Trang 19

vì thế giới hiện thực phải thay đổi để thực hiện điều mà người nói SP1thỉnh cầu.

Trạng thái tâm lí được thể hiện (expressed psychological states): Ví

dụ một lời (phát ngôn) trần thuật tỏ ra là SP1 tin vào (p); hứa hẹn thể hiện ýđịnh của SP1 thực hiện cái gì đó; thỉnh cầu thể hiện mong muốn của SP1rằng SP2 thực hiện cái gì đó

Sức mạnh mà đích được trình bày ra (the strength with which the illocutionary point is presented).

Ví dụ:“Tôi nhấn mạnh rằng…”, mạnh hơn là: “Tôi xin gợi ý

rằng…”.

Tính quan yếu (relevance) của mối quan hệ liên cá nhân giữa SP1 và

SP2 Một số hành vi như sai bảo nhậy cảm với mối quan hệ liên cá nhângiữa SP1 và SP2, còn hành vi như trần thuật thì không

Nội dung mệnh đề (propositional content)

Ví dụ: SP2 thực hiện A (tức làm một hành động nào đó) là đặc trưngcủa nội dung mệnh đề của sai bảo, còn SP1 thực hiện A là của hứa hẹn

Hứa hẹn chỉ có thể thực hiện bằng lời, tức thực hiện như một hành vi

ở lời trong khi đó phân loại có thể được thực hiện bằng phương thức kháckhông phải bằng lời

Đặt tên thánh và rút phép thông công đòi hỏi phải có thể chế xã hội

mới có hiệu lực nhưng trần thuật thì không đòi hỏi như vậy

Trang 20

Không phải tất cả các động từ gọi tên hành vi ở lời đều là động từ ngữ vi.

Ví dụ: “Khoe” và “doạ” không phải động từ ngữ vi

Phong cách thực hiện (style of performing) hành vi ở lời, thí dụ công

bố và thổ lộ khác nhau ở phong cách thực hiện

Trong đó Searle sử dụng 4 tiêu chí cơ bản nhất (tiêu chí đích ở lời;tiêu chí hướng khớp ghép; tiêu chí trạng thái tâm lí và tiêu chí nội dungmệnh đề) để phân lập được năm loại hành động ở lời Đó là các hành vi:

Tái hiện: Hành vi này trước đó được Searle gọi tên là xác tín Đích ở

lời là miêu tả lại một sự tình đang được nói đến Hướng khớp ghép là lời –hiện thực, trạng thái tâm lí là niềm tin vào điều mình xác tín, nội dungmệnh đề là một mệnh đề Câu mệnh đề này có thể đánh giá theo tiêu chuẩnđúng - sai lôgic

Điều khiển: Đích ở lời là đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện

một hành động tương lai; hướng khớp ghép là hiện thực - lời, trạng tháitâm lí là sự mong muốn của người nói; nội dung mệnh đề là hành độngtương lai của người nghe Hành động điều khiển gồm các động từ: ra lệnh,yêu cầu, hỏi, cho phép, dặn dò, mời mọc

Cam kết(hứa hẹn, tặng, biếu): Đích ở lời là trách nhiệm phải thực

hiện hành động tương lai mà SP1 bị ràng buộc; hướng khớp – ghép hiệnthực – lời; trạng thái tâm lí là ý định của SP1 và nội dung mệnh đề là hànhđộng tương lai của SP1

Biểu cảm: Đích ở lời là bày tỏ trạng thái tâm lí phù hợp với hành

động ở lời (vui thích / khó chịu, mong muốn / rẫy bỏ ) Trạng thái tâm líthay đổi tùy theo từng loại hành vi; nội dung mệnh đề là một hành độnghay một tính chất nào đó của SP1 hay của SP2

Trang 21

Tuyên bố (tuyên bố, buộc tội): Đích ở lời là nhằm làm cho có tác

dụng nội dung của hành vi hướng khớp ghép vừa là lời – hiện thực, vừa làhiện thực – lời; nội dung mệnh đề là một mệnh đề [1; tr.126]

1.1.3 Hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp

1.1.3.1 Khái niệm “hành vi ở lời”

“Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận”.

[1; tr.89]

Ví dụ về hành vi ở lời: hỏi, yêu cầu, ra lệnh, mời, hứa hẹn, khuyênbảo Khi chúng ta hỏi ai về một cái gì đó thì người được hỏi có nhiệm vụphải trả lời chúng ta, cho dù trả lời không biết Không trả lời, không đáp lạicâu hỏi, người nghe bị xem là không lịch sự

1.1.3.2 Điều kiện sử dụng hành vi ở lời

Bất cứ một hành vi nào khi thực hiện cũng phải có những điều kiệnnhất định Các hành vi ở lời là loại hành vi xã hội cho nên các điều kiện để

nó có thể thực hiện được lại càng chặt chẽ, đa dạng hơn “Điều kiện sử

dụng các hành vi ở lời là những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó”.

[1; tr.111]

Austin là người đầu tiên đề cập tới các điều kiện sử dụng các hành vi

ở lời Ông xem các điều kiện sử dụng hành vi ở lời là những điều kiện

“may mắn” (felicity conditions) nếu chúng được bảo đảm thì hành vi mới

“thành công”, đạt hiệu quả Nếu chúng không được đảm bảo thì hành vi sẽthất bại Những điều kiện may mắn của Austin như sau:

A-(i): Phải có thủ tục có tính chất quy ước và thủ tục này phải cóhiệu quả cũng có tính quy ước

Trang 22

(ii): Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều quy địnhtrong thủ tục.

B- Thủ tục phải được thực hiện (i) một cách đúng đắn và (ii) đầy đủ C- Thông thường thì (i) những người thực hiện hành vi ở lời phải cóý nghĩ, tình cảm và ý định đúng như đã được đề ra trong thủ tục và (ii) khihành động diễn ra thì ý nghĩ, tình cảm, ý định đúng như nó đã có [1;tr.112]

Sau này, trên cơ sở những điều kiện may mắn của Austin, Searle đãđiều chỉnh, bổ sung và gọi chúng là điều kiện sử dụng hay điều kiện thỏamãn các hành vi ở lời Các điều kiện đó như sau:

Điều kiện nội dung mệnh đề chỉ ra bản chất, nội dung của hành vi.

Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản (đối với các hành vi khảo nghiệm xác tín, miêu tả), hay một hàm mệnh đề (đối với các câu hỏi

khép kín, tức những câu hỏi chỉ có hai khả năng trả lời “có” hay “không”;

“phải”, “không phải” v.v Gọi là hàm mệnh đề vì phát ngôn ngữ vi tươngứng với hành vi hỏi đưa ra hai khả năng (tương tự như hai biến, hai nghiệmtrong một hàm toán học), người trả lời chọn lấy một mà trả lời Nội dung

mệnh đề có thể là một hành động của người nói (như hứa hẹn) hay một

hành động của người nghe (lệnh, yêu cầu).

Đối với hành vi chê, nội dung mệnh đề của biểu thức ngữ vi chê lànhững đặc điểm của người / vật / việc đã xảy ra hoặc đang tồn tại trước khithực hiện hành vi chê

Điều kiện chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về

năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói

và người nghe

Ví dụ: Khi ra lệnh, người nói phải tin rằng người nhận lệnh có khảnăng thực hiện hành động quy định trong lệnh, đồng thời biết rằng giữa

Trang 23

người nói và người nhận có vị thế xã hội có lợi ích cho người nói Sự hứahẹn đòi hỏi người hứa hẹn có ý muốn thực hiện lời hứa và người nghe cũngthực sự mong muốn lời hứa được thực hiện Khảo nghiệm, xác tín, khôngnhững đòi hỏi người nói một cái gì đó đúng mà còn đòi hỏi anh ta phải cónhững bằng chứng.

Ở hành vi chê, điều kiện chuẩn bị là: SP1 nhận thấy một vấn đề nàođó (theo quan điểm của SP1) của một người nào đó là không đúng, khôngtốt, không phù hợp hoặc chưa thỏa đáng SP1 cảm thấy không hài lòng vàmuốn nói cho SP2 biết về vấn đề đó Nếu SP1 không nói ra, có thể SP2cũng không nhận ra điều đó

Điều kiện chân thành chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của

người phát ngôn Chẳng hạn: Cam kết đòi hỏi phải có ý định và khả năngthực hiện, chê đòi hỏi phải có sự không hài lòng về điều gì đó đã xảy ra

Đối với hành vi chê, điều kiện chân thành chỉ ra trạng thái tâm lí củangười đưa ra hành vi chê SP1 mong muốn qua lời nói của mình, SP2 cũngnhận ra và đồng tình với hành vi đáng giá của mình về vấn đề mà SP1 cho

là xấu, là không đúng, không tốt, không phù hợp hoặc chưa thỏa đáng

Nếu SP1 không có mong muốn trên thì SP1 đã vi phạm vào điềukiện chân thành và đó không còn hành vi chê chân chính nữa Chẳng hạnnhững trường hợp giả vờ chê để thử dò tìm quan điểm, ý kiến của SP2

Cuối cùng là điều kiện căn bản, đây là điều kiện liên quan đến trách

nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi hành vi ở lời đượcđó được phát ra Trách nhiệm có thể rơi vào hành động sẽ được thực hiện(lệnh, hứa hẹn) hoặc đối với tính chân thực của nội dung (một lời xác tínbuộc người nói phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của điều nói ra)

Trang 24

Khi thực hiện một hành vi chê, người nói (SP1) phải chịu tráchnhi mệm về tính xác thực của nội dung mệmnh đề chê, phải chịu trách nhi mệmvề quan điểm của miǹn h khi bày tỏ những ý kiến đánh giá đó.

Theo Searle, mỗi hành vi ở lời đòi hỏi phải thỏa mãn những điềnukiện (còn gọi là những quy tắc) trên để cho việc thực hi nệm hành vi đạt hiệuquả đúng với đích của nó Mỗi điềnu kiện là một điềnu kiện cần, còn toàn bộhệm điềnu kiện là điềnu ki nệm đủ Trong 4 điều kiện trên, mỗi điều ki nệm lạiđược biểu hiện khác nhau tùy theo từng phạm trù, từng loại và từng hành

vi ở lời cụ thể

1.1.3.3 Han ̀n h vi ở lời trực tiếp và haǹnh vi ở lời gián tiếp

Trong giao tiếp ngôn ngữ, người giao tiếp có hai lựa chọn: Một là,sử dụng hành vi ngôn ngữ theo lối trực tiếp (đúng với đích mà hành vi đóhướng tới); hai là, sử duṇ g hành vi ngôn ngữ theo lối gián tiếp (khôngđúng với đích mà hành vi đó hướng tới)

a Hànnh vi ở lời trực tiếp

George Yule quan niệm: “Chừng nàno có mối liên h ệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng, thì ta có một hànnh đôn ̣ g nói trực tiếp”.

[10; tr.110]

Tác giả Nguyễn Thi nệm Giáp nhận định: “Hànnh động ngôn từ trực

tiếp là hànnh động ngôn từ được thực hiện ở những phát ngôn có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng” [5; tr.390]

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, “những hànnh vi được thực hiện đúng với

đích ở lời, đúng với những điều kiện sử dụng của chúng được gọi là những hành vi ngôn ngữ (hànnh vi ở lời) trực tiếp hay chân thực” Nhưng trong

thực tế giao tiếp, không phải bao giờ các hành vi ngôn ngữ cũng đượcdùng đúng với đích ở lời và đúng với các điều kiện sử dụng của chúng Khiđó, xuất hiện những hành vi ngôn ngữ gián tiếp

Trang 25

b Hànnh vi ở lời gián tiếp

Những hành vi được thực hiện đúng với đích ở lời, đúng với nhữngđiềnu kiện sử dụng của chúng được gọi là những hành vi ngôn ngữ (hành vi

ở lời) trực tiếp hay chân thực Nhưng trong thực tế giao tiếp, khôngphải bao giờ các hành vi ngôn ngữ cũng được dùng đúng với đích ở lời vàđúng với các điềnu kiện sử dụng của chúng Khi đó, xuất hi nệm nhữnghành vi ngôn ngữ gián tiếp

Hành vi ở lời gián tiếp đã được Austin đề cập đến, về sau đượcSearle và nhiều nhà ngôn ngữ trên thế giới đặc bi tệm quan tâm nghiên cứu

Thuật ngữ hành vi ở lời gián tiếp là do Searle đặt ra Theo Searle, “một

han ̀n h vi ở lời được thực hiện gián tiếp thông qua một hànnh vi ở lời khác sẽ được gọi là một hànnh vi gián tiếp”.[5; tr.60]

Hành vi ngôn ngữ gián tiếp được Searle nêu ra năm 1969 và đượcphát triển trong công triǹn h nói về các hành vi ngôn ngữ gián tiếp năm

1975 Định nghĩa hành vi ngôn ngữ gián tiếp được Đỗ Hữu Châu nêu cụ

thể hơn trong như sau: “Một han ̀n h vi được sử dụng gián tiếp là một hànnh vi trong

đó người thực hiện một han ̀n h vi ở lời nàny nhưng lại nhằm lànm cho người nghe dựa vàno những hiểu biết ngôn ngữ và ngoàni ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hànnh vi khác” [1; tr.146]

Ví dụ: Hành vi chê được thực hiện gián tiếp qua hành vi hỏi: “Sao

anh lấy đắt thế?”

[Ngựa người và người ngựa; tr.162]

Hành vi gián tiếp lệm thuộc rất nhiều vào ngữ cảnh, vào quan hệm ngữnghĩa giữa các thành phần của nội dung mệmnh đề trong biểu thức ngữ

vi trực tiếp với ngữ cảnh, vào ý nghĩa của biểu thức ngữ vi gián tiếp.Ngoài ra, trong thực tế nó còn bị quy định bởi lí thuyết lập luận, các

Trang 26

phương châm hội thoại, phép lịch sự, các quy tắc liên kết hội thoại Vìvậy, để nhận biết

Trang 27

hành vi ngôn ngữ gián tiếp, nhất thiết phải vận dụng đến những yếu tốtrên, hơn nữa những yếu tố phi lời như: Thái độ, cử chỉ, ngữ điệmu, cườngđộ và âm lượng của lời nói cũng là những dấu hi uệm giúp nhận biết hành vingôn ngữ gián tiếp.

Sử duṇ g các hành vi ngôn ngữ theo lối gián tiếp là biện pháp rất cóhiệu lực để truyền báo các ý nghĩa hàm ẩn Trong thực tế sử dụng, vìnhiềnu lí do, người nói có thể sử dụng hành vi ngôn ngữ này nhưng lạinhằm đạt đến hi uệm lực ở lời của một hành vi khác Có rất nhiềnu kiểu hành

vi được dùng theo lối gián tiếp khác nhau tùy theo hoàn cảnh giao tiếp màđến nay chưa thể tổng kết thành quy tắc sử duṇ g Đối với hành vi chê, dotiń h chất đe dọa thể diện của nó đối với người bị chê là rất lớn cho nên

vi c ệm sử duṇg hành vi ngôn ngữ gián tiếp để giảm thiểu ít nhiều sự đe dọathể diện là khá phổ biến Bởi vậy, nghiên cứu hành vi chê không chỉ xemxét cách dùng trực tiếp mà cần quan tâm cả đến cách thể hiện gián tiếpcủa nó trong hội

thoại

Theo George Yule: “Chừng nàno có một mối liên h ệ gián tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng, thì ta có một hànnh động nói gián tiếp” [10; tr.110]

Tác giả Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Một hànnh vi ngôn ngữ được

gọi là gián tiếp khi dạng thức ngôn ngữ của hành vi tại lời không phản ánh trực tiếp mục đích của điều muốn nói”.[3; tr.229]

Hành vi gián tiếp lệm thuộc rất nhiềnu vào ngữ cảnh, vào quan h ệm ngữnghĩa giữa các thành phần của nội dung mệmnh đề trong biểu thức ngữ

vi trực tiếp với ngữ cảnh, vào ý nghĩa của biểu thức ngữ vi gián tiếp.Ngoài ra, trong thực tế nó còn bị quy định bởi lí thuyết lập luận, cácphương châm hội thoại, phép lịch sự, các quy tắc liên kết hội thoại Vì

Trang 28

vậy, để nhận biết hành vi ngôn ngữ gián tiếp, nhất thiết phải vận dụng đếnnhững yếu tố trên,

Trang 29

hơn nữa những yếu tố phi lời như: thái độ, cử chỉ, ngữ điệu, cường độ

và âm lượng của lời nói cũng là những dấu hi uệm giúp nhận biết hành vingôn ngữ gián tiếp

Xung quanh vấn đề về hành vi ở lời gián tiếp có rất nhiềnu quan điểmkhác nhau Tuy nhiên, trong công trìnnh này, chúng tôi thống nhất theo

quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu, đó là: “Hànnh vi ở lời gián tiếp là han ̀n h

vi ngôn ngữ sử dụng bề mặt của han ̀n h viở lời nàny nhưng lại nhằm hi u ệ quả của một hànnh vi ở lời khác” [1; tr.145]

1.2 Hành vi ngôn ngữ chê

1.2.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ chê

Trong Từ điển tiếng Vi t ệ (Hoàng Phê chủ biên), chê là “tỏ ý không thích, không vừa ý vì cho là kém, là xấu”.

Ví dụ: Chê chiếc áo may không đẹp [6; tr.143]

Hànnh vi ngôn ngữ chê là hành vi ngôn ngữ có kết cấu lõi là biểu thức

ngữ vi chê Khác với những hành vi ngôn ngữ khác, hành vi chê thườngkhông được sử dụng đôṇ g từ ngữ vi chê Bởi, chê có ý nghĩa đánh giá tiêucực (đánh giá xấu)

Theo cách phân loại các đôṇ g từ hành vi tại lời của Austin thì hành

vi chê thuộc nhóm “Ứng xử”: N1 + V + N2 + P Trong đó: N1 là ngườiphát ngôn; N2 là người tiếp nhận; V là đôṇ g từ ở thời quá khứ; P là nộidung mệmnh đề

Ví dụ những trường hợp như: cảm ơn, chúc mừng, phê biǹn h là thuộcnhóm “Ứng xử”

Theo Searle thì hành vi chê là hành vi đánh giá trong phạm trù biểucảm, diễn đạt thái độ của người nói đối với một số hoàn cảnh, tìnnh thếcụ thể được nêu ra trong n i ộ dung mệmnh đề P

Trang 30

Trong hội thoại, SP1 là người thực hi nệm hành vi chê, SP2 là ngườitiếp nhận hoặc chứng kiến hành vi đó của SP1, SP1 có thể thực hiệnhành vi chê trực tiếp hoặc gián tiếp, bằng hành vi chê có lõi là biểu thứcchê nguyên cấp Hành vi chê có thể là kiểu tự chê nếu đối tượng chê làSP1 và chê nếu đối tượng chê không phải là SP1 Hành vi chê có thể xuấthiện ở tham thoại dẫn nhập hoặc hồni đáp, có thể là hành vi chủ hướngtrong tham thoại nhưng cũng có thể là hành vi phụ thuộc để cun̉ g cố tăngcường hiệu lực cho một hành vi khác như: khuyên dạy, từ chôí, phủ định,kết tôị

Theo chúng tôi, “hànnh vi ngôn ngữ chê là hành vi bàny tỏ thái độ

đan ́ h giá tiêu cực, chủ quan của người nói về một vấn đề nàno đó khi nhận thấy vấn đề đó không đúng, không tôt́, không phù hợp hoặc chưa thỏa đan ́ g”.

Trong phạm vi khoá luận này, chúng tôi chỉ đi sâu tìnm hiểu hành vichê trong một số tác phẩm văn học hi nệm thực phê phán tiêu biểu giaiđoạn

1930 - 1945

1.2.2 Hành vi chê trực tiếp và hành vi chê gián tiếp

Cũng như một số hành vi ngôn ngữ khác, chê thường có một

kiểu cấu trúc nhất định Hành vi ngôn ngữ chê thường có lõi là “một biểu

thức ngữ vi chê” và xung quanh lõi ấy là một hoặc một số thành phần mở

rộng có tác dụng đi kèm với biểu thức ngữ vi nhằm cun̉ g cố hiệu lực ở lờicho phát ngôn

Theo cách hiểu của chúng tôi, “hànnh vi ngôn ngữ chê” là hành vi đa

dạng và mang tính chủ quan cao Hành vi chê được SP1 thực hi nệm khi SP1nhận xét, đánh giá về X X có thể là vật, vi c,ệm đặc điểm thuộc SP1 (ngườinói) hoặc SP2 (người tiếp nhận) hoặc của ngôi thứ ba nào đó đã tồnn

Trang 31

tại trước khi xảy ra hành vi chê Theo SP1 nghĩ thì X xấu hoặc chưađạt

Trang 32

chuẩn SP1 tỏ thái độ không hài lòng về X và nói cho SP2 biết ý kiến của miǹn h về X.

Có thể nhận ra các hành vi ngôn ngữ chê nhờ các kiểu kết cấu đặctrưng (cấu trúc các từ ngữ), các từ ngữ đặc thù (mỗi hành vi ngôn ngữthường có những từ ngữ làm dấu hiệu riêng), và các động từ ngữ vi.Chúng được gọi là các dấu hi uệm ngữ dụng đánh dấu lực ở lời

Như vậy, có thể thấy: Biểu thức ngữ vi chê là những công thức nóinăng mà khi nói nó ra là ta nhằm thực hiện một hành động ở lời chê.Căn cứ vào cách thức biểu thị nội dung chê, có thể chia ra thành biểu thứcchê trực tiếp và biểu thức chê gián tiếp

1.2.2.1 Hành vi ngôn ngữ chê trực tiếp

Hành vi ngôn ngữ chê trực tiếp “là hànnh vi ngôn ngữ được sử dụng

đúng với bốn điều ki n ệ sử dụng hànnh vi ngôn ngữ và được thực hi n ệ đúng với đích ở lời chê”.

Ví dụ, trong khi Văn Minh lộ rõ vẻ đắc chí thì bà khách bĩu môiđưń g lặng im, hồni lâu mới nói:“Mặc bộ nàny thì khó coi lắm!” bày tỏ thái

độ lưỡng lữ, nghi ngờ lời quảng cáo của ông chủ ti mệm may

Trang 33

1.2.2.1 Hành vi ngôn ngữ chê gián tiếp

Trang 34

1.2.3 Các nhân tố giao tiếp ảnh hưởng đến hành vi ngôn ngữ chê

Hành vi ngôn ngữ chê cũng như các hành vi ngôn ngữ khác đềnu chịusự chi phối của nhiềnu yếu tố: hoàn cảnh, đối tượng, người tiếp nhận, nộidung và mục đích chê.[7; tr.27]

- Hoànn cảnh diễn ra han ̀n h vi chê

Vì đa số hành vi chê là hành vi nằm trong ý định của người nói nên

đã được chuẩn bị kĩ lưỡng về hoàn cảnh giao tiếp Do đó hành vi chê đượcngười nói – chủ thể chê sắp đặt và điṇ h đoạt trước

Khảo sát một số tác phẩm văn học hiện thực phê phán tiêu biểu giaiđoạn 1930 - 1945, chúng tôi thấy nơi diễn ra hành vi chê phần lớn là tại giađiǹn h SP1 có thể bị chi phối bởi hoàn cảnh chê nếu là người có vị thế thấptrong gia điǹn h và ngoài xã hội, nhưng SP1 sẽ không bị chi phối bởi hoàncảnh chê nếu là người có vị thế cao, điều này thể hi nệm rõ nhất ở phátngôn chê của các nhân vật có quyền thế, địa vị (như nhân vật Bá Kiến

trong tác phẩm Chí Phèo) Nơi diễn ra hành vi chê ở điǹn h làng xuấthiện không nhiềnu nhưng rất đặc sắc bởi ở đây không chỉ có SP1 (ngườichê) và SP2 (người bị chê) mà thường là có rất nhiềnu người cùngchứng kiến, cùng tham gia vào

- Đối tượng tiếp nhận hành vi chê

Trong giao tiếp mang đúng nghĩa lịch sự, người ta thường không chêmột người vai trên giống như một người vai dưới, không chê một người xa

lạ giống như chê một người thân

Với đối tượng chê có quan hệm thân thiết, gần gũi với SP1, SP1 có thểchê trực tiếp hoặc sử duṇ g kiểu chê đùa vui thoải mái mà không cầnrào đón nhiềnu

Trang 35

Ví dụ: Đây là lời bà cô nói với thị Nở khi nghe thị Nở muốn lấy Chí

Phèo:“Đã nhịn được đến bằng nàny tuổi thì nhịn hẳn, ai lại đi lấy thằng Chí

Phèo”

[Chí Phèo; tr.64]

Với đối tượng chê có quan h ệm xa cách, người ta ít khi chê thẳng mà

không rào đón gìn

Ví dụ để khuyên ngăn lão Hạc không nghĩ đến cái chết nữa và chê

cách nghĩ nông cạn của lão Hạc, ông giáo đã nói: “Sao cụ lo xa quá thế?

Cụ còn khỏe lắm, chưa chết đâu mà sợ! Cụ cứ để tiền ấy mà ăn, lúc chết hãy hay! Tội gì bây giờ nhịn đói mà để tiền lại!”.

[Lão Hạc; tr.191]

Đối tượng tiếp nhận chê có ảnh hưởng không nhỏ tới vi c ệm tạo lậphành vi chê Vì vậy, cần căn cứ vào mức độ thân cận (trên trục ngang củaquan hệm liên cá nhân) và cả quan h ệm dọc (quan h ệm quyền uy) giữa miǹnh vàngười tiếp nhận chê để lựa chọn cách chê và các từ ngữ tạo biểu thức chêcho phù hợp

- Nội dung, đề tàni của hànnh vi chê

Nội dung, đề tài chê tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của lỗi màđối tượng chê gây ra quyết định lớn đến sự lựa chọn cách thức và từ ngữsử duṇ g trong hành vi chê

Xuất hiện trong một số tác phẩm văn học hiện thực phê phántiêu biểu giai đoạn 1930 - 1945 là các đề tài chê như sau:

Chê về bản chất đạo đức: Hành vi độc ác, hỗn láo, gian giảo, nói dối,không trung thực, hèn nhát, nhẫn tâm, vô ơn bạc nghĩa

Chê về tính cách, quan hệm đối xử: Keo kiệt, bủn xin̉ , tham lam,hoang phí, ích kỉ, hay chê bai

Trang 36

Ví dụ do nghi ngờ Lương ăn cắp hai đồnng bạc, người yêu của Du đã

nói:“Chịu, người thế mà gian tham!”.

[Nhỏ nhen; tr.264]

Chê về hìnnh thức bề ngoài: Xấu, khuôn mặt xấu, bẩn, quần áobẩn, ăn mặc lỗi môt́

Vi dụ, tác giả Nam Cao đã miêu tả về khuôn mặt của thị Nở:“Cái

mặt của thị thực là một sự mỉa mai của hóa công: nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng bề ngang lớn hơn bề dàni, thế mà hai má lại hóp vàno mới thật là tai hại, nếu hai má nó phinh phính thì mặt thị lại còn được hao hao như mặt lợn, là thứ mặt vốn nhiều hơn người ta tưởng, trên cổ người ”.

[Chí Phèo; tr.55]

Chê về học thức: Vô học, vô văn hóa, kém thông minh, thiếu hiểu

Trang 37

Ví dụ, khi thấy đồnng hồ trên tủ thong thả đánh mười một tiếng, dây

cót xổ ra xòe xòe, bà Nghị tưởng đồnng hồ chạy sai, ông Nghị đã lên tiếng

để chê sự thiếu hiểu biết của bà Nghi:̣“Bà quê lắm! Đồng hồ của Tây lànm

ra có bao giờ sai?”.

Chê về “gu” thẩm mĩ: Không hợp thời, chưa âu hóa

[Tắt đèn; tr.73]

Ví dụ, để thuyết phục bà khách, nhà mỹ thuật đã nói:“Thưa

bàn, những nguyên tắc về y phục thay đôỉ Chúng tôi mà chế ra kiểu may nàny cũng là vì theo cái quan ni m ệ y phục của các nhà may lớn ở Tây

Trang 38

cần thiết hơn bởi tiń h đe dọa thể di nệm rất lớn của nó khi thực hiệmn Vì vậy,sử dụng hành vi chê cũng cần lưu ý đến mục đích của hành vi để từ đócó sự lựa chọn các từ ngữ và cách thức chê cho phù hợp.

1.3 Hành vi chê trong văn hoá giao tiếp của người Việt

1.3.1 Các quan niệm về văn hoá

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rôṇ g với rất nhiềnu cách hiểukhác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của conngười Có nhiều khái ni m ệm khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phảnánh một cách nhìnn nhận và đánh giá khác nhau.Năm 1952, hai nhànhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thôń g kêcó tới 164 khái ni m ệm khác nhau về văn hoá trong các công triǹnh nổi tiếngthế giới Khóa luận triǹn h bày những quan ni m ệm văn hóa ở Việt Nam vàtrên thế giới Những quan ni m ệm văn hóa này có ảnh hưởng nhất định đếnviệc sử dụng hành vi chê

1.3.1.1 Trên thế giới

Nhà nhân loại học người Anh là Edward Burnett Tylor (1832 - 1917)

đã đưa ra điṇ h nghĩa văn hóa như sau: Văn hóa hay văn minh hiểu

theo nghĩa rộng trong dân tộc học “là một toàn thể phức hợp gồm tri

thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lí, luật pháp,phong tục, và tất thảy những năng lực, những tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thànnh viên của xã hội”.[8; tr.143]

Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889 - 1968), nhà xã hội học người

Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại học Harvard chorằng với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hayđược cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiềucá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau

Trang 39

Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa:“Văn hóa nên

được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong

xã hội và nó chứa đựng, ngoàni văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, h ệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”.

1.3.1.2 Ở Vi t ệ Nam

Người được coi là người đầu tiên đưa ra quan ni mệm về văn hoá

ở nước ta đó là Đào Duy Anh trong công trìnnh Vi t ệ Nam văn hoá sử cương cho rằng: “Người ta thường cho rằng văn hoá chỉ là những học thuật tư tưởng của loàni người, nhân thể mà xem văn hoá vốn có tính cao thượng đặc biệ t”.[8; tr.29]

Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa

Vi tệm Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất

bản Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1998, “Văn hóa là những giá trị

vật chất, tinh thần do con người san ́ g tạo ra trong lịch sử”.

Trong Từ điển tiếng Vi t ệ của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản

Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạtquan ni mệm về văn hóa:

Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần docon người sáng tạo ra trong quá trìnnh lịch sử

Văn hóa là một h ệm thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần docon người sáng tạo và tích lũy qua quá trìnnh hoạt động thực tiễn,trong sựtương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội

Văn hóa là những hoạt đôṇ g của con người nhằm thỏa mãn nhu cầuđời sống tinh thần (nói tổng quát)

Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát)

Trang 40

Văn hóa là trìnnh độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn

Văn hóa còn là cụm từ để chỉ một nềnn văn hóa của một thời kỳ lịch

Ngày đăng: 06/01/2020, 17:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w