1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Diễn ngôn về tính dục trong tập truyện bóng đè của đỗ hoàng diệu (2017)

105 112 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Diễn ngôn đã trở thành một trong những điểmtựa cho khuynh hướng nghiên cứu văn học và văn hóa, nó là khái niệm trungtâm của các khuynh hướng nghiên cứu đương đại như chủ nghĩa hậu hiện đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN -

TẠ THỊ THÙY DUNG

DIỄN NGÔN VỀ TÍNH DỤC

TRONG TẬP TRUYỆN BÓNG ĐÈ

CỦA ĐỖ HOÀNG DIỆU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Người hướng dẫn khoa học Ths NGUYỄN THỊ VÂN ANH

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2

Với tất cả sự kính trọng và biết ơn chân thành, sâu sắc, em xin gửi lời

cảm ơn đến Ths Nguyễn Thị Vân Anh đã tận tình hướng dẫn em hoàn

thành khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo trường Đại học Sưphạm Hà Nội 2, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các Thầy Cô trong KhoaNgữ văn đã hết lòng quan tâm, dìu dắt và giúp đỡ em trong suốt quá trình họctập tại trường và nghiên cứu khoa học

Em xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn tạođiều kiện động viên, khích lệ giúp em hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu khóaluận tốt nghiệp của mình

Hà Nội, ngày 27 tháng 04 năm 2017

Sinh viên

Tạ Thị Thùy Dung

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Diễn ngôn về tính dục trong

tập truyện Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi

dưới sự hướng dẫn của Ths Nguyễn Thị Vân Anh Các kết quả nghiên cứutrong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ côngtrình nào

Hà Nội, ngày 27 tháng 04 năm 2017

Sinh viên

Tạ Thị Thùy Dung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của khóa luận 6

7 Bố cục của khóa luận 6

PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DIỄN NGÔN 7

1.1 Khái niệm diễn ngôn 7

1.1.1 Một số quan niệm về diễn ngôn 7

1.1.2 Khái niệm diễn ngôn văn học 11

1.2 Trật tự diễn ngôn 13

1.3 Vấn đề tính dục trong sáng tác và nghiên cứu văn học 16

CHƯƠNG 2 VAI GIAO TIẾP NỮ VỚI VẤN ĐỀ TÍNH DỤC 23

2.1 Chủ thể phát ngôn nữ với vị thế chủ động 23

2.1.1 Chủ động đề cập đến vấn đề tình dục 24

2.1.2 Chủ động trong hành vi tình dục 28

2.2 Diễn ngôn tính dục gắn với ý thức nữ quyền 30

2.2.1 Sự phản kháng đối với nền văn hóa phụ quyền 30

2.2.2 Khẳng định khát vọng và quyền sống của người phụ nữ 35

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG THỨC KIẾN TẠO DIỄN NGÔN TÍNH DỤC 44

3.1.Ngôn ngữ nghệ thuật 44

3.1.1 Sử dụng nhiều tính từ biểu thị xúc cảm tính dục 44

Trang 5

3.1.2 Tăng cường sử dụng các động từ chỉ hoạt động tính giao 47

3.1.3 Hình ảnh đậm màu sắc dục tính 48

3.2 Giọng điệu 50

3.2.1 Giọng bạo liệt, nhiệt hứng 51

3.2.2 Giọng điệu tâm tình giàu chất nữ tính 54

3.3 Không gian nghệ thuật 55

3.3.1 Không gian huyền ảo, ma mị 56

3.3.2 Không gian phong phú, đa dạng 58

KẾT LUẬN 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

ra đời của lí thuyết về diễn ngôn đã tạo ra một hướng tiếp cận mới mẻ vàcũng gây không ít tranh cãi Diễn ngôn đã trở thành một trong những điểmtựa cho khuynh hướng nghiên cứu văn học và văn hóa, nó là khái niệm trungtâm của các khuynh hướng nghiên cứu đương đại như chủ nghĩa hậu hiện đại,chủ nghĩa thuộc địa - hậu thuộc địa, lí luận nữ quyền.

Một số nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan niệm của mình về diễnngôn như Chiupa hay Foucault Tư tưởng về diễn ngôn của các nhà khoa họchiện đang trở thành nền tảng cho nhiều trường phái lý thuyết hiện đại và gợi

mở một con đường đầy triển vọng cho các nhà nghiên cứu văn học

Vấn đề giới cũng là một vấn đề phức tạp Nghiên cứu về giới không chỉ

có ý nghĩa văn học mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc, đặc biệt là trong giaiđoạn hiện nay – giai đoạn đánh dấu nhiều sự chuyển biến của văn học ViệtNam Trong khuynh hướng đổi mới nói chung của văn học, có một xu thế vậnđộng hình thành ngày càng rõ nét ở văn thơ nữ Ở văn xuôi, một loạt các tácphẩm ra đời cất lên tiếng nói nữ quyền mạnh mẽ, quyết liệt Nhiều cây bút đãdần phá vỡ hệ thẩm mỹ truyền thống, buộc người đọc phải tiếp nhận với tưduy và thái độ khác, tiêu biểu như Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương, VõThị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Đỗ Hoàng Diệu…

Đỗ Hoàng Diệu là một trong những tác giả nữ đầy bản lĩnh và táo bạotrong việc xử lý những vấn đề của đời sống hiện đại, đặc biệt là vấn đề vềgiới Tác phẩm của chị là những diễn ngôn về giới, thẳng thắn đề cập đếnnhững

Trang 7

vấn đề nhạy cảm, đến những nhục cảm, ham muốn của người phụ nữ cũngnhư khát vọng về cuộc sống, tình yêu, tình dục Từ đó gợi lên khát vọng giảiphóng con người, đề cao nữ quyền và khẳng định giá trị sống của chính mình.

Tập truyện ngắn Bóng đè của chị khi mới ra đời đã thu hút sự quan tâm

của độc giả và giới phê bình, kích thích cảm hứng tranh luận trên văn đàn Đã

có không ít các cuộc trao đổi trên các diễn đàn bàn về tập truyện Bóng đè của

Đỗ Hoàng Diệu Song, sự quan tâm ấy mới chỉ dừng lại ở phạm vi những bàiviết, những bài phỏng vấn, những bài tiểu luận trên các báo và tạp chí chứchưa có một công tình nghiên cứu nào đề cập riêng tới vấn đề diễn ngôn tình

dục trong tập truyện ngắn Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu.

Tất cả sự khó khăn và hấp dẫn này của đối tượng thôi thúc người viết

lựa chọn khóa luận với đề tài: “Diễn ngôn về tính dục trong tập truyện Bóng

đè của Đỗ Hoàng Diệu”.

2 Lịch sử vấn đề

Tập truyện Bóng đè là một tập truyện tiêu biểu của Đỗ Hoàng Diệu,

bao gồm 8 truyện ngắn, ra đời năm 2005 Tập truyện đã dành được rất nhiều

sự quan tâm từ dư luận cũng như các phóng viên, các nhà nghiên cứu

Bàn về tác phẩm, có nhiều ý kiến trái chiều, gây nhiều tranh cãi Nhàphê bình văn học Phạm Xuân Nguyên cho rằng: “Những phản ứng nhiều

chiều cho thấy Bóng đè quả thực là một hiện tượng văn học thách thức cảm

nhận và đánh giá của giới trong nghề, và của giới độc giả rộng rãi Vì tưtưởng của tác phẩm, vì cách viết của tác giả Truyện ngắn Đỗ Hoàng Diệugần như chủ yếu viết về phụ nữ và dục tính, nhưng quan trọng hơn, phụ nữ vàdục tính trong quan hệ với xã hội và lịch sử Ở đây, có phần nào màusắc nữ quyền Tuy nhiên, chị dùng người nữ và chuyện dục tính như một bộ

mã để gửi đi một thông điệp của mình cho cuộc sống này” Trái với PhạmXuân Nguyên, dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng cho rằng Đỗ Hoàng Diệu

“không có

Trang 8

văn”, Bóng đè chỉ đơn thuần viết về tình dục trong nghĩa thấp kém của từ đó

và viết “một cách sống sượng… nhân vật không có một cuộc sống tinh thần

và tình yêu thương con người”

Tập truyện Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu còn thu hút sự quan tâm của

nhiều nhà nghiên cứu khác, với các bài nghiên cứu, chẳng hạn như:

Tác giả Dương Phương Vinh với bài viết Đỗ Hoàng Diệu và “Bóng

đè” trong ngày giông bão, đăng trên Báo Tiền Phong ngày 29/9/2005 Bài

viết kể về buổi phỏng vấn với Đỗ Hoàng Diệu về tác phầm Bóng đè, từ đó nói

lên quan điểm cá nhân của người viết cũng như khẳng định giá trị của tập

truyện và truyện ngắn Bóng đè.

Bài viết Sáng tác “Bóng đè”, phê bình “nói mớ” của tác giả Nguyễn

Hòa, in trên báo Văn Nghệ Trẻ ngày 22/11/2005 Trong bài viết, anh khẳngđịnh: “… Trả lời phỏng vấn trên Tạp chí Đẹp, Đỗ Hoàng Diệu khẳng định sexchỉ là cái vỏ, chỉ là phương tiện giúp chị chuyển tải một thông điệp khác.Nhưng một khi cái đọng lại lúc đọc xong tác phẩm chỉ là sự ngổn ngang củanhững sự cương cứng thúc lên… thì thông điệp mà tác giả ngỡ đã đem đếncho người đọc chỉ còn là một ngộ nhận, một ngụy biện…” Anh cho rằng, việcquá lạm dụng yếu tố tình dục trong sáng tác của Đỗ Hoàng Diệu sẽ khiến tácphẩm mất đi sự tinh tế, làm tác phẩm thêm phần đơn điệu, đẩy nguy cơ “đóng

băng” các nỗ lực tìm kiếm của Đỗ Hoàng Diệu trong giai đoạn “tiền Bóng

đè” Anh còn khẳng định thêm: “Không nên bắt tác giả phải “leo” lên những

thang bậc mà bản thân tác giả chưa có khả năng leo tới”

Bài viết Người đàn bà bị bóng đè có bàn tay thanh tao của Nguyễn

Mậu Hùng Kiệt đăng trên trang Thơ trẻ ngày 20/8/2006 Bài viết hầu nhưkhẳng định tài năng cũng như những đóng góp của Đỗ Hoàng Diệu khi sáng

tác Bóng đè Nguyễn Mậu Hùng Kiệt viết: “Chị đã dám dấn thân “lặn ngụp”

Trang 9

trong vực thẳm đầy rẩy nóng của chính mình và phát ra tiếng kêu khát khaohạnh phúc”.

Hoàng Tố Mai với bài viết Sức mạnh ám gợi và tưởng tượng trong

“Bóng đè” đăng trên trang h t t p : / / g i a i t r i v n e x p r e ss n e t/ n gày 14/9/2010 Bài

viêt khẳng định giá trị của tác phẩm Bóng đè và so sánh nó với các sáng tác

của các tác giả cùng thời như Y Ban, Lý Lan…

Đỗ Ngọc Thạch với bài viết Ba cây bút nữ đại náo văn đàn đầu thế kỉ

XXI, đăng trên trang ht t p : // n e w v i e ta r t c o m/ n gày 20/10/2010 Bài viết khẳngđịnh tài năng của ba cây bút nữ Y Ban, Đỗ Hoàng Diệu và Nguyễn Ngọc Tưkhi viết về phụ nữ, viết về những nhục cảm, bản năng của người phụ nữ

Tác giả Ngô Thị Thu Thủy với bài viết Một cách tiếp nhận tác phẩm

“Bóng đè” của Đỗ Hoàng Diệu, đăng trên blog cá nhân ngày 23/4/2011 Bài

viết đưa ra những quan điểm, những ý kiến trái chiều của nhiều nhà phê bìnhkhi tiếp nhận tác phẩm Từ đó nêu lên quan điểm của người viết về nhữngyếu tố tình dục mà Đỗ Hoàng Diệu sử dụng, những quan niệm về văn hóacũng như khẳng định sự sáng tạo của nhà văn trong công cuộc cách tân nghệthuật

Bài viết Ám ảnh Trung Hoa trong Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu do Việt

Minh tổng hợp và bình luận, đăng trên trang blog cá nhân ngày 27/2/2012

Mở đầu bài viết, tác giả khẳng định: “Ấn tượng đầu tiên là quái dị và ghê rợn.Sau đó là sexy” Bài viết khẳng định tài năng cũng như những thế mạnhcủa Đỗ Hoàng Diệu khi khai thác đời sống ở lĩnh vực tình dục cũng như vănhóa

Tiểu luận Vấn đề tiếp nhận tác phẩm “Bóng đè” của nhóm Kiệt, Tuấn

Anh, My Đăng trên trang h t t p :/ / h t h p hu o ng b l o g s p ot c o m / n gày 9/9/2013 Bài

viết đưa ra những ý kiến trái chiều trong việc tiếp nhận tác phẩm Bóng đè và

đưa ra quan điểm riêng của mình về tác phẩm Bài viết Đỗ Hoàng Diệu viết vềtình dục để chuyển tải quan niệm của mình về đời sống cũng như tư tưởng…

Trang 10

Nhìn chung, những bài viết về sáng tác của Đỗ Hoàng Diệu chủ yếumới chỉ được in trên các báo và tạp chí, trên các trang diễn đàn và báo mạng,chưa thực sự phong phú về số lượng và chưa sâu về mức độ khảo sát Đa sốcác tác giả chỉ đi sâu vào tìm hiểu một số tác phẩm tiêu biểu, nhận diện tácgiả mà chưa đi sâu nghiên cứu bình diện diễn ngôn tính dục trong các truyện

ngắn của tập truyện Bóng đè Hầu hết các nghiên cứu chỉ đi sâu nghiên cứu

bình diện về nhân vật và cốt truyện mà chưa đi sâu nghiên cứu về mặt diễnngôn về tình dục giới nữ một cách đầy đủ và đúng đắn Nhưng chính đây thực

sự là một đề tài hấp dẫn, có giá trị cho khóa luận này của chúng tôi

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Diễn ngôn tính dục trong tập truyện ngắn Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ khóa luận, chúng tôi tiến hành khảo sát những tác

phẩm tiêu biểu của Đỗ Hoàng Diệu ở tập truyện ngắn Bóng đè.

4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

Trước hết, người viết tiến hành tìm hiểu những vấn đề chung về diễnngôn cũng như các quan niệm về diễn ngôn, trong đó tập trung vào tìm hiểu

về phương diện vấn đề diễn ngôn tính dục trong các sáng tác văn học Tiếp

đó, chúng tôi ứng dụng những lý tuyết về diễn ngôn về tính dục để soi chiếu,

khảo sát trên tập truyện ngắn Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu, chỉ ra nét đặc sắc

trong diễn ngôn về tính dục của tập truyện Từ đó khẳng định những đóng gópmới mẻ và táo bạo của Đỗ Hoàng Diệu cho văn xuôi Việt Nam đương đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Để tiếp cận và nghiên cứu đề tài, khóa luận sử dụng các phương phápchủ yếu sau:

Trang 11

- Phương pháp lịch sử: vấn đề diễn ngôn về tính dục như là một vấn đề

xã hội có tính lịch sử được đặt ra ở Việt Nam từ thế kỷ XX

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: qua so sánh đối tượng với nhữngtác giả, tác phẩm của văn học trung đại và văn học cách mạng 1945-1975.Khẳng định vai trò cách tân của Đỗ Hoàng Diệu trong diễn ngôn về tínhdục cũng như diễn ngôn về giới

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Từ sự phân tích cụ thể tácphẩm, người viết tổng hợp khái quát để có những kết luận, nhận định, tránh

áp đặt chủ quan không bám sát vào văn bản tác phẩm

6 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận đặt vấn đề diễn ngôn về tính dục trong tập truyện ngắn Bóng

đè của Đỗ Hoàng Diệu, từ hệ thống cho đến quan niệm của các nhà triết học

về diễn ngôn trong việc phân tích một hiện tượng văn học cụ thể Đây là côngtrình nghiên cứu đầu tiên trong vấn đề diễn ngôn tính dục trong tập truyện

ngắn Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu.

Công trình nghiên cứu này có thể đóng góp chung vào việc nghiên cứu

về diễn ngôn tính dục trong các sáng tác của Đỗ Hoàng Dệu cũng như của cácnhà văn đường đại sau này

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, Nội dung củakhóa luận được triển khai theo 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về diễn ngôn

Chương 2: Vai giao tiếp nữ và vấn đề tính dục

Chương 3: Phương thức kiến tạo diễn ngôn về tính dục

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DIỄN NGÔN

1.1 Khái niệm diễn ngôn

1.1.1 Một số quan niệm về diễn ngôn

Thuật ngữ diễn ngôn là một thuật ngữ phức tạp bậc nhất, bởi nó có mộtlịch sử lâu dài, lại được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau Chính vìthế, khó có thể có một định nghĩa duy nhất về thuật ngữ này Trong lịch sửnghiên cứu diễn ngôn, có thể nói, có rất nhiều quan niệm và cách tiếp cận vềkhái niệm diễn ngôn

Trong ngữ học do các nhà ngữ học đề xuất, những luận điểm của F de

Saussure trong Ngôn ngữ học đại cương đã đặt nền móng cho khuynh hướng

nghiên cứu cấu trúc văn bản: Ngôn ngữ học đai cương ra đời đánh dấu mộtbước ngoặt trong nghiên cứu ngôn ngữ: chuyển từ nghiên cứu sự biến đổi củangôn ngữ qua các thế hệ sang nghiên cứu bản chất của ngôn ngữ Saussurephân biệt lời nói và ngôn ngữ Ngôn ngữ là một hệ thống có tính trừu tượngkhái quát, còn lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ trong những hoàn cảnh cụ thểbởi các cá nhân cụ thể Ngôn ngữ thuộc về cộng đồng, trong khi lời nói thuộc

về cá nhân Vào những năm 1960, ngôn ngữ học của Saussure đã phát triểntới giai đoạn cực thịnh, lúc này, người ta bắt đầu nghiên cứu văn bản Tronggiai đoạn này, khái niệm diễn ngôn và văn bản gần như chưa có sự phân biệt

rõ ràng Diễn ngôn có thể được coi như là một đơn vị cấu trúc văn bản vàchưa có sự phân định rạch ròi giữa diễn ngôn và văn bản Saussure cho rằngngôn ngữ đối lập với lời nói và chỉ nghiên cứu ngôn ngữ vì cho rằng lời nói làphù du, chỉ nghiên cứu phương diện cấu trúc của ngôn ngữ Ông quy ngônngữ vào mối quan hệ chính giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, hướng tớitính chất trừu tượng và khách quan của ngôn ngữ

Trang 13

Trong khi đó, khuynh hướng lí luận văn học, mà người đề xướng là M.Bakhtin cho rằng: Ngôn ngữ là những gì đang sử dụng trong cuộc sống chứkhông phải những từ trong từ điển Ngôn ngữ là một dòng chảy không ngừngnghỉ, nó đang sinh thành năng động và đầy mâu thuẫn, ông nghiên cứuphương diện sinh thành của lời nói Diễn ngôn là khái niệm trung tâm củaBakhtin trong quan điểm về ngôn ngữ Ông cho rằng diễn ngôn là ngôn ngữtrong chỉnh thể sống động cụ thể của nó, là ngôn ngữ trong sử dụng, trong bốicảnh xã hội, diễn ngôn của những giọng xã hội mâu thuẫn, đa tầng, ngôn ngữđược sử dụng để thể hiện thế giới quan của người nói, ngôn từ - tư tưởng hệcủa người nói, diễn ngôn như một “đơn vị thực tế của giao tiếp lời nói” Mỗiphát ngôn đều mang tính cá thể Những phát ngôn như thế chúng ta gọi là thểloại diễn ngôn Bakhtin quan niệm rằng không có ngôn ngữ nào không gắnliền một quan điểm, một ngữ cảnh, một đối tượng nhất định và nó chịu áp lựcmang tính lịch đại Chính quan niệm này của Bakhtin và các nhà nghiên cứuNga đã đặt nền móng để xây dựng khái niệm diễn ngôn thành một phạm trùcủa thi pháp học và tu từ học hiện đại.

Cũng bàn về diễn ngôn và xây dựng lên khái niệm diễn ngôn, trongkhuynh hướng xã hội học, lịch sử tư tưởng, Foucault, triết gia lớn của Phápnhìn thấy sự không thống nhất giữa từ và vật, sự chiến thắng và thống trị của

từ trong đời sống con người Ông cho rằng thực tại được cấu thành từ cácdiễn ngôn Foucault khẳng định: “Thay vì giảm dần các nét nghĩa đã khá

mơ hồ của từ diễn ngôn, tôi tin rằng thực tế tôi đã bổ sung thêm ý nghĩa củanó: lúc thì coi nó như một khu vực chung của tất cả các lời nhận định, lúc thìcoi nó như một nhóm các lời nhận định được cá thể hóa, và đôi khi lại xem

nó như thực tiễn được quy ước tạo nên vô số các nhận định”[23, 𝑡��.90] Như vậy, theo ông, có ba cách định nghĩa diễn ngôn Thứ nhất, diễnngôn bao gồm “tất cả các nhận định nói chung” Sara Mills giải thích thêm,tức là: “tất cả các

Trang 14

phát ngôn hoặc văn bản mang nghĩa và có một hiệu lực nào đó trong thế giớithực, đều được coi là diễn ngôn”[25, 𝑡�� 6] Thư hai, Foucault hìnhdung diễn ngôn như là “một nhóm các nhận định được cá thể hóa” Đây làđịnh nghĩa thường được Foucault sử dụng để nhận dạng các diễn ngôn cụ thể.Diễn ngôn trong cách sử dụng này là một nhóm những nhận định được tổchức theo một cách thức nào đó và có một mạch lạc và một hiệu lực chung.Theo đó, người ta có thể nói đến chẳng hạn như: diễn ngôn nữ quyền, diễnngôn y học, diễn ngôn thuộc địa, diễn ngôn nam tính, diễn ngôn nữ tính,diễn ngôn phân tâm học… Diễn ngôn trong cách hiểu này vì thế dược dùngchủ yếu Thứ ba, diễn ngôn là một thực tế được quy ước tạo nên vô số cácnhận định, là các quy tắc và cấu trúc tạo ra những phát ngôn và văn bản cụthể, hay nói cách khác, nó là một mạng lưới các thực tiễn được định hình bởinhững cơ chế nội tại của diễn ngôn Chính vì thế, nghiên cứu diễn ngôn chính

là nghiên cứu các cấu trúc và các quy luật của diễn ngôn này

Foucault cho rằng: “Chúng ta chỉ có thể tiếp cận với các diễn ngôn xácđịnh những hình dung của chúng ta về cái thực” Điều đó có nghĩa là chúng takhông thể tiếp cận trực tiếp với cái thực mà giữa chúng ta với cái thực luôn

có một bức tường ngăn cách, đó là các diễn ngôn Ví dụ như một trận lũ lụt,suốt thời kì cổ trung đại người ta gán cho nguyên nhân là sự nổi giận của thầnlinh Nhưng khi khoa học phát triển, thì sự kiện này được giải thích đó làhiện tượng tự nhiên Như vậy, ngay cả những văn bản ghi chép lịch sử cũngchỉ là những diễn ngôn về sự thực chứ không phải sự thực đúng như vốn cócủa nó Hay như trong văn học trung đại, người ta tuyên bố ghi chép lại sựthật lịch sử nhưng lại tràn ngập yếu tố hư cấu, kì ảo Như vậy, đã có sự chiphối đến các diễn ngôn chứ không phải sự thực nó vốn có

Mặc dù ba định nghĩa của Foucault được liệt kê khá độc lập nhưngtrong thực tế nghiên cứu các định nghĩa này luôn được sử dụng xen kẽ nhau,

Trang 15

và định nghĩa này có thể bao trùm lên định nghĩa khác tùy theo hướng triểnkhai của người nghiên cứu.

Theo V.I Chiupa “diễn ngôn (discours – lời nói) là phát ngôn, hànhđộng lời nói tạo sinh văn bản gồm người nghe bình đẳng với người nói vàđược xem là “sự kiện giao tiếp tương tác văn hóa xã hội” (Van Dijk) giữa chủthể, khách thể và người tiếp nhận.” Chữ “diễn ngôn” có nguồn gốc từ tiếng

La Tinh, nghĩa là “chạy tới chạy lui khắp tứ phía”(trong các công trình củaThomas Aquinas, nó có nét nghĩa: đàm luận, nghị luận) [22]

Cấu trúc giao tiếp của diễn ngôn bao gồm: người nói, người nghe vàđối tượng được nói đến hoàn toàn không đồng nhất với cấu trúc kí hiệu họccủa nhân tố đại diện cho nó – văn bản Bởi “việc tạo ra diễn ngôn hoạt độngnhư sự lựa chọn các khả năng khai phá cho mình con đường vượt qua mộtmạng lưới giới định”[20, 𝑡�� 106], nên diễn ngôn không phải hệ thống

kí hiệu, mà là hệ thống các thẩm quyền giao tiếp diễn ngôn Cách hiểu diễn

ngôn như một “đơn vị thực tế của giao tiếp lời nói” (M.Bakhtin) theo kiểu

“siêu ngôn ngữ học” như vậy là cách hiểu của tu từ học và thi pháp học hiện

đại, nó vượt ra ngoài giới hạn giải thích của ngôn ngữ học xem diễn ngôn

là “cấu trúc thông tin” văn bản (O.G Revzina) Tác phẩm văn học có thểxem là một đơn vị phát ngôn duy nhất, tức là một diễn ngôn

Thực tiễn, dễn ngôn tựu chung là hoạt động phiên dịch những ý nghĩanào đấy từ một ngôn ngữ hi hữu của “lời nói bên trong” (L.S Zinkin) giớihạn đối với các ý nghĩa ấy sang các ngôn ngữ phổ biến với những hàm nghĩa

và quy phạm nhất định Những dạng thức quan trọng nhất của hoạt động diễnngôn là: trần thuật, trình bày, trình diễn, tuyên cáo Các dạng diễn ngôn ấy

hình thành nên các hình thức kết cấu của lối viết nghệ thuật: trần thuật, đối

thoại, bình luận.

Trang 16

Như vậy, nói tóm lại, diễn ngôn là hình thức biểu hiện ngôn ngữ củamột quần thể người trong một điều kiện xã hội, lịch sử nhất định, nó mangbản chất xã hội sâu sắc và phản ánh thế giới khách quan Diễn ngôn chịu sựchi phối của hình thái ý thức xã hội, trạng thái tri thức và cơ chế quyền lựctrong xã hội.

1.1.2 Khái niệm diễn ngôn văn học

Theo Foucault, văn học được xem như là một diễn ngôn Văn học phảnánh đời sống, tuy nhiên cái đời sống mà văn học phản ánh bị chi phối bởi cácdiễn ngôn, mà diễn ngôn lại được hình thành từ những tương quan về quyềnlực, tri thức của một giai đoạn, một thời kì lịch sử cụ thể Hay nói cách khác,

để hình thành diễn ngôn văn học người ta cần phải quan tâm đến câu hỏi:trong những tương quan quyền lực/tri thức nào mà những sự vật nào đó đượcxuất hện và miêu tả trong diễn ngôn văn học, yếu tố quyền lực, tri thức chiphối, quyết định đến những đề tài nào được và không được nói tới trong vănhọc Hay những miêu tả và nghiên cứu văn học sử phải thiết lập được mốiquan hệ giữa văn học và khung tri thức của một thời đại Chính sự biến đổicủa khung tri thức này là nguyên nhân sâu xa cho sự biến đổi của văn học.Ngay khi nhìn nhận tác phẩm văn học như một diễn ngôn ta sẽ thấy diễn ngônvăn học là không gian giao cắt và tương tác cực kì phức tạp giữa các diễnngôn của một thời đại cụ thể Điều này tạo nên tính đa nghĩa cho tác phẩmvăn học

Theo giáo sư Trần Đình Sử, diễn ngôn như một phạm trù của tu từ học

và thi pháp học Trong văn học, diễn ngôn là chỉ chiến lược phát ngôn nghệ

thuật, thể hiện trong các nguyên tắc cấu tứ, xây dựng nhân vật, sử dụng ngônngữ để vượt thoát khỏi các hạn chế nhằm phát ra được tiếng nói mới thể hiện

tư tưởng mới trong chỉnh thế sáng tác Khái niệm diễn ngôn vận dụng vàonghiên cứu văn học cho phép ta hiểu mới, hiểu lại các khái niệm đã quen, mà

Trang 17

chưa hiểu sâu, như khái niệm phong cách, phong cách thời đại, phong cách cánhân… mà Chiupa đã nói về các hình thái diễn ngôn văn học.

Có thể nhận diện được đặc điểm của diễn ngôn này bằng cách chỉ raquan hệ của nó với các diễn ngôn khác Terry Eagleton, nhà phê bình văn họcAnh đưa ra một ví dụ rất thú vị: Nếu chúng ta đọc chăm chú bảng giờ tàukhông phải để tìm ra một lần nối tuyến mà để kích thích ở ta những suy nghĩchung về tốc độ và sự phức tạp của dời sống hiện đại thì có nghĩa là chúng tađang đọc bảng giờ tàu như là văn học Như vậy, theo Terry Eagleton, văn học

là bất cứ loại viết nào, vì lí do này hay lí do khác mà nó được thừa nhận Từgợi ý trên của Terry Eagleton, chúng ta có thể định nghĩa diễn ngôn văn học

là gì, gồm những gì… liên quan đến cách quy ước, đến các tiêu chí, cách nhìnnhận, định giá của mỗi nhóm người đối với những văn bản viết

Diễn ngôn văn học có điểm tương đồng với các diễn ngôn khác ở chỗtạo ra hiện thực, tạo nên một cách nhìn về thế giới, sáng tạo một thế giới đờisống Diễn ngôn văn học tạo lập tri thức, biểu hiện năng lực cảm thụ cái đẹp,cách lí giải, cắt nghĩa thế giới của chủ thể phát ngôn Chủ thể phát ngôn trongvăn học không tồn tại trước phát ngôn, nó được sinh ra trong sự phát ngôn

của chính nó Ví dụ như trong bài thơ Bánh trôi nước, Hồ Xuân Hương

không chỉ nhằm mục đích miêu tả về bánh trôi nước và cách làm bánh, màqua hình ảnh bánh trôi nước, tác giả muốn miêu tả hình ảnh người phụ nữtrong xã hội phong kiến đồng thời cất lên tiếng nó bênh vực họ

Diễn ngôn văn học tạo ra nghĩa về một hiện tượng, một sự việc nó thamgia định nghĩa về bất cứ điều gì theo quy ước riêng của nó, thậm chí nó còn

có thể phá hủy những ảo tưởng và sự ngụy biện tri thức nào đó đang ngựtrong cõi nhân sinh Diễn ngôn văn học có một quyền lực nhất định trong sự

“thông tin”, nó mang chở tư tưởng hệ và “sự lãnh đạo” của những cách nhìn,cách giải thích thế giới đang thống trị xã hội, văn hóa; nó luôn tìm cách tạo ra

Trang 18

ý nghĩa mới về sự vật, đem lại cho con người cách nhìn mới về thế giới và vũtrụ, do đó cũng có thể nói nó đã nỗ lực góp công sức của mình trong việc tạo

ra những tri thức chung Chẳng hạn như Tắt đèn của Ngô Tất Tố, ông đã sáng

tạo ra những nhân vật, những hình tượng hết sức độc đáo để từ đó khái quátnên số phận chung của người nông dân trước Cách mạng Tháng Tám, dựnglại được một thời kì đầy khó khăn, gian khổ của nông dân Việt Nam, và nó cócách biểu hiện mới mẻ

Diễn ngôn văn học tạo ra tri thức và quyền lực, và chính quyền lực trithức chi phối tới nội dung phản ánh trong các diễn ngôn văn học Sự hiểu biết

và những quyền lực của một thể chế xã hội quy định nên cái được biểu hiệntrong văn học, cái gì được phép viết và cái gì không được nói tới trong cáchdiễn ngôn văn học Ví dụ như văn học trung đại, người ta thường nói tới chílàm trai, lòng trung quân ái quốc hay đạo Nho gia, văn học cách mạng 1945-

1975 thường phản ánh tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc, những thứ vănchương dung tục, nói về những dục vọng bình thường của con người bị coi làvăn chương không chính thống, mang đậm tính chất tiểu tư sản Như vậy, ýthức hệ cũng như quyền lực đã chi phối, kìm hãm những phát ngôn Nhà văn

tự do phát ngôn nhưng thực chất vẫn bị gò bó, nằm trong những giới hạn quyđịnh nào đó Cũng như diễn ngôn nói chung, diễn ngôn văn học cũng chịu sựchi phối của ba yếu tố đó là hình thái ý thức xã hội, trạng thái tri thức và các

cơ chế quyền lực trong xã hội

1.2 Trật tự diễn ngôn

Trong bài Trật tự của diễn ngôn, Foucault khẳng định: “trong mọi xã

hội sự sản xuất diễn ngôn cùng lúc bị kiểm soát, tuyển chọn, tổ chức và phânphối lại bởi một số những phương thức/quy trình mà vai trò của nó là để nétránh những sức mạnh và sự nguy hiểm của diễn ngôn, để tránh né những khókhăn do nó gây ra”[24, 𝑡�� 52] Mục đích của chúng là kiềm chếsức mạnh

Trang 19

của quyền lực, sự vô thường, “tính vật chất nguy hiểm” của diễn ngôn Nóicách khác, nó dẫn tới sự tồn tại của một số nguyên tắc, cơ chế kiểm soát,Foucault nói đến hai hệ thống loại trừ: loại trừ từ bên ngoài và loại trừ bêntrong.

Hệ thống loại trừ bên ngoài bao gồm ba nguyên lí

Thứ nhất: nguyên lí cấm đoán (prohibition) với vai trò trung tâm của

những cấm kị (taboos) Áp lực của những cấm kị giúp ngăn chặn những diễnngôn về vấn đề này được xuất hiện hoặc truyền bá Trong một số trường hợpnhất định, khi buộc đề cập đến những cấm kị, cần phải “hóa trang”, nhữngcách “đi vòng” thích hợp Như trong văn học trung đại, nhà văn, nhà thơ chịuảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, viết về ý thức, đạo đức Nho gia, những vấn

đề như tình dục hay tình yêu không được khuyến khích Hay nếu viết về nó,nhà thơ Hồ Xuân Hương phải mượn tới những hình tượng nghệ thuật đểngười đọc liên tưởng chứ không trực tiếp nói thẳng về nó

Thứ hai: nguyên lí về sự đối lập giữa điên và lí tính Theo Foucault,

bệnh điên được thiết lập ở vào thời điểm lí tính, khu biệt với phi lí lý tính Từthời trung đại xa xưa, người điên là kẻ có diễn ngôn không thể lưu chuyểnqua diễn ngôn của người khác, tình huống của người điên hiện đại cũngchẳng khác là bao: lời của người điên được đem ra phân tích, được chú ý tựanhư nó không còn xa lạ nữa, nhưng nó cũng chẳng trở nên gần gũi hơn,không được giải mã với sự hỗ trợ của tri thức khổng lồ Sự hình thành củamột diễn ngôn nào đó bao giờ cũng bao hàm trong nó sự loại trừ một hoặcmột số diễn ngôn khác, biến những diễn ngôn này trở thành những tồn tại bấtthường, không tự nhiên, thiếu hợp thức

Thứ ba: nguyên lí sự đối lập giữa chân lí và sai lầm Sự đối lập này

được xem là con đường tiếp nhận cơ sở tuyệt đối với chân lí với tư cách làchuẩn mực phân chia Foucault cho rằng, mỗi thời đại có sở nguyện chân lí

Trang 20

riêng Nó được thể chế hỗ trợ và buộc chủ thể nhận thức phải chấp nhậnmột quan điểm, một cái nhìn và chức năng nào đó Ví dụ như thời đại củachủ nghĩa thực chứng từng quy định người ta phải nghiên cứu cái gì, thếnào, nhằm mục đích gì Hay nói cách khác, ở đây có sự tham dự của cácthiết chế xã hội – nhân tố đem lại quyền lực cho diễn ngôn Không thể xemchân lí như là sự kiện tự nó Trái lại, diễn ngôn về chân lí luôn bị chi phốibởi một loạt các thiết chế.

Các thể thức của bên trong của trật tự diễn ngôn, bản chất của nó làkiểm soát diễn ngôn bằng chính các diễn ngôn, chúng hoạt động với tưcách là những nguyên tắc phân loại, chỉnh đốn, phân bố Chức năng củachúng là kiềm chế tính sự kiện và tính ngẫu nhiên của diễn ngôn Hệ thốngloại trừ này cũng bao gồm ba nguyên lí

Thứ nhất: nguyên lí bình luận (commentary) Trong xã hội bao giờ

cũng có diễn ngôn gốc và diễn ngôn thứ sinh, mà diễn ngôn thứ sinh chẳngqua chỉ là sự sáng tạo dựa trên các diễn ngôn gốc mà thôi Một mặt, trật

tự này cho phép kiến tạo vô số diễn ngôn mới, mặt khác, nó ngăn chặn tínhngẫu nhiên bằng cách cân nhắc: các diễn giải chỉ cho phép nói một điều khác

so với văn bản gốc với điều kiện là văn bản gốc là cái đương nhiên Chúng tachỉ nói trên cơ sở những gì đã được nói từ trước

Thứ hai: nguyên lí tác giả (the Author): tác giả được hiểu là nguyên tắc

gộp các diễn ngôn thành nhóm, là trung tâm liên kết của chúng Nguyên lítác giả kiểm soát diễn ngôn thông qua bản sắc của cái cá thể và cái tôi

Thứ ba: bộ môn khoa học (Discipline) Theo phương thức tổ chức,

nguyên tắc này đối lập với hai nguyên tắc trên, vì nó là hệ thống vô danh

Để nhập vào một bộ môn khoa học nào đó, phát ngôn cần phải: nhắm tớimột loại đối tượng nào đó, Sử dụng các phương tiện khái niệm, kĩ thuật

Trang 21

nào đó, và phải phù hợi với một nhãn quan lí thuyết nào đó Như vậy, các

bộ môn khoa

Trang 22

học cũng là một nguyên lí để kiểm soát diễn ngôn; chúng đặt ra những giới hạn về cái có thể được nói tới trong một bộ môn khoa học nào đó.

Các nguyên lí trên thường được xem là nguồn dự trữ sản xuất diễn

ngôn, nhưng đồng thời chúng cũng là những nguyên tắc áp đặt, hạn chế

Trật tự diễn ngôn bao gồm hai hệ thống loại trừ là loại trừ từ bênngoài và loại trừ bên trong Chính điều này đã kiểm soát quá trình hìnhthành và kiến tạo diễn ngôn

1.3 Vấn đề tính dục trong sáng tác và nghiên cứu văn học

Khi các trường phái phê bình hay chủ nghĩa cấu trúc xuất hiện, người

ta cho rằng có thể giải quyết những vấn đề của văn học chỉ thuần túy dựatrên yếu tố nội tại của văn bản mà không cần đến bất cứ một sự tham chiếunào khác từ những nhân tố bên ngoài Tuy nhiên, trong sự phát triển mạnh

mẽ của xã hội học văn học đã cho thấy sự cần thiết phải đặt văn học trongmột bối cảnh rộng lớn hơn của những vấn đề văn hóa xã hội

Đặt vấn đề nghiên cứu tính dục trong văn học, như thế, nảy sinh từ sựvận động và biến đổi nói trên của thực tiễn nghiên cứu và lí luận văn học

Từ góc nhìn này thì tính dục không chỉ là một đề tài phản ánh trong tácphẩm, mà còn là một hệ quy chiếu để giải mã tác phẩm văn học Là nơi đanbện của cái sịnh vật và cái xã hội với những tương tác cực kì phức tạp, tínhdục, vì thế là điểm nhìn gợi dẫn những suy tư về tồn tại người trong nhiềuchiều kích vốn không dễ nắm bắt của nó

Trước hết, ta phải hiểu tính dục là gì Theo từ điển Wikipedia, “tínhdục ở loài người là năng lực giới tính, thể chất, tâm lý và sinh dục, bao gồmmọi khía cạnh dặc trưng của nam giới và nữ giới Tính dục là một kháiniệm có nội hàm rộng, vừa phản ánh mối quan hệ giới tính, vừa chứa đựngnhững yếu tố hữu hình và ẩn giấu của cá nhân.” Khái niệm tính dục bao

Trang 23

hàm nhận thức và cảm xúc về cơ thể mình và cơ thể người khác; tính chấttâm lý bên trong

Trang 24

và hành vi ứng cử bên ngoài; cảm xúc, suy nghĩ và nhu cầu gần gũi về tìnhcảm với một ai khác; cảm giác hấp dẫn tình dục với người khác; cách tiếp xúctình dục: từ động chạm cơ thể đến giao hợp.

Hoạt động tính giao là thuộc tính của mọi sinh thể sống Là một trongnhững nhu cầu bình thường của con người Ở cuộc sống hiện đại, nhiềungười vẫn chưa có thiện cảm khi nhắc đến hai chữ “tình dục” bởi theo họ,

đó là điều cấm kị, là chuyện riêng tư Lại có quan niệm những ham muốn,những ý nghĩ về tình dục là tội lỗi Chúng ta vẫn chưa thoát khỏi lối nghĩkhắt khe theo quan niệm đạo đức phong kiến, chưa thực sự giải phóngmình ra khỏi những khuôn phép, những quan niệm Nho giáo

Tuy nhiên, từ xa xưa, trong văn học, vấn đề tình dục đã ít nhiều được

đề cập

đến

Trong văn học dân gian, nhất là trong ca dao, dân ca, tác giả dân gian

đã miêu tả hình ảnh sinh thực khí, hoạt động tính giao hay những khát khaothầm kín của con người:

hay:

“Con gái mười bảy mười ba Đêmnằm với mẹ khóc la đòi chồng Mẹgiận mẹ phát ngang hông:

“Đồ con chết chủ đòi chồng thâu

đêm”

“Lấy chồng từ thuở mười lăm Chồngchê tôi nhỏ không nằm cùng tôi Đếnchừng mười chín đôi mươiTôi ngủ dưới đất chồng lôi lên giườngMột rằng thương, hai rằng

thương

Có bốncẳnggiườnggãy mộtcòn ba”

Trang 25

(Ca dao)

(Ca dao)

Trang 26

Ca dao xưa dường như đã coi chuyện tình dục, hoạt động tính giao làmột đề tài để khai thác, là mảnh đất phì nhiêu để tạo nên nguồn sốngmãnh liệt cho ca dao Nó mang giá ý nghĩa, giá trị sâu sắc Ca dao miêu tả vềsinh thực khí và hoạt động tình dục của người lao động để họ tự cười cợt,đùa vui cho khuây khỏa những tháng ngày vất vả của mình Qua đó ẩnchứa khát vọng về tình yêu, hạnh phúc, khát vọng thể hiện vẻ đẹpvề hoạtđộng duy trì sự sinh tồn của con người, nhưng đôi khi bị dư luận hà khắc,cấm đoán Nói về những đề tài này trong văn học dân gian, chúng ta cònthấy rõ sự mỉa mai, châm biếm, phản kháng mạnh mẽ ở nhiều cấp độ, nhiềucung bậc, đa phương diện dành cho xã hội đương thời Như vậy, việc đưanhững yếu tố về sex hay tình dục, tính giao vào ca dao dân ca đã phầnnào nói lên tiếng nói phản kháng, châm biếm với xã hội đầy rẫy những bấtcông, vô lí.

Thứ hai, trong văn học viết, vấn đề tình dục được đưa vào văn họcviết ít hay nhiều đều do ảnh hưởng của từng thời kì, từng giai đoạn

Với văn học trung đại, nền văn học hình thành và phát triển suốt chiềudài cùng chế độ phong kiến Việt Nam Chính vì vậy, nó chịu sự ảnh hưởng củanhiều yếu tố, tác động đến nội dung, tư tưởng, đề tài, chức năng đến hìnhthức viết Văn học trung đại chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, vì thế,vấn đề tình dục ít được đề cập đến, nó chỉ rải rác xuất hiện ở truyện, thơtruyền miệng dân gian Thỉnh thoảng, có một số ít tác giả văn học trung đạiđưa những yếu tố nhạy cảm ấy vào truyện, thơ, phú nhưng không nhiều

Nhà văn Nguyễn Dữ trong Truyền kì mạn lục cũng ít nhiều miêu tả đến cảnh

hoan ái, hoạt động tính giao của người với ma, ma với ma… Hay trong thơ

Hồ Xuân Hương, ta thấy xuất hiện dày đặc những yếu tố nhục dục, hoạt độngtính giao được miêu tả cụ thể hơn, chi tiết hơn, mặc dù nó cũng ẩn ý quacách miêu tả Như miêu tả cảnh “đánh đu”, nhưng lại không khác gì cảnh

“phòng the”:

Trang 27

“Bốn cột khen ai khéo khéo trồngNgười thì lên đánh kẻ ngồi trông

Trang 28

Trai đu gối hạc khom khom cật Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới Haihàng chân ngọc duỗi song song Chơi xuân có biết xuân chăng táCọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.”

(Đánh đu – Hồ Xuân Hương)

Tóm lại, với quan niệm thẩm mỹ khắt khe của những “hiền nhân quân

tử” theo học cửa Khổng sân Trình nên văn học Việt Nam trung đại không chú

trọng đến yếu tố tả thực Vì thế, nó càng hiếm hoi cảnh ái ân, nếu có cũngđược dùng bằng các điển tích, cách chơi chữ, dùng từ đa nghĩa,… Tất cảnhằm mục đích để “tránh” đi những chuyện cần tránh

Với văn học từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 Văn học thời kì đó đãbước vào thời kì hiện đại hóa, thoát khỏi hệ thống thi pháp của văn họctrung đại Về quan niệm thẩm mỹ, nhà văn xem cái đẹp mang những nétchân thật đời thường, không còn nhiều bóng dáng của nghệ thuật ước lệ cósẵn như trước đây Văn học xem con người là trung tâm của cái đẹp với tất

cả vẻ đẹp trần thế vố có, con người trong văn học thời kì này là con người cánhân, có ý thức về cái tôi, bản ngã sâu sắc Trong những cách thức thể hiệncái tôi ấy có phương diện miêu tả hình thể và những hành động ân ái,những cảnh hãm hiếp được thể hiện bằng những ngôn ngữ đời thường tảthực

Trong văn học lãng mạn, các truyện ngắn và tiểu thuyết của Tự lực văn

đoàn yếu tố tình dục ít nhiều được đề cập đến Như trong truyện ngắn Tháng ngày qua, Nhất Linh miêu tả tính dục một cách loáng thoáng với chi

tiết nhân vật Giao trọ học nhà bạn đã dám hò he tòm tem để ý bà boss củabạn… “bốn mắt gặp nhau,… cặp môi nàng mấp máy, dưới tấm áo mỏng,

Trang 29

ngực nàng phập phồng, hay con mắt nhìn chàng có vẻ lẳng lơ, nồng nàn nhưđắm tình”… Tuy

Trang 30

nhiên các nhà văn, nhà thơ lãng mạn ít ai đi sâu vào chi tiết làm tình, hay tảthân thể nam nữ, yếu tố nhục dục trong văn học lãng mạn chỉ nhưu là yếu tốchấm phá trong tác phẩm, phần nào cởi trói sự gò bó của văn học thời kìtrước đó.

Trong văn học hiện thực, nhiều tác giả phản ánh hiện thực với cáinhìn sắc lạnh, đã đưa yếu tố nhục dục tràn ngập trang văn của mình

Như Vũ Trọng Phụng trong tác phẩm Số đỏ Ông đã miêu tả, vạch trần xã

hội “chó đểu” đầy rẫy những bất công và thối nát, ngoài sự dâm đãng củaPhó Đoan, còn có những cảnh Xuân tóc đỏ rình Phó Đoan tắm, những cảnhlàm tình của Hoàng Hôn, hay cô Tuyết lẳng lơ cùng “chiếc áo hở nửa vú”…

Hay như Huyền trong Làm đĩ còn được nhà văn “chăm chút” hơn Mới 8 tuổi

đã tò mò đủ thứ, chẳng hạn như làm thế nào để đẻ con, đẻ con bằng cáchnào? Lên 9 tuổi đã để ý đến “những chuyện thô tục mà người ta vẫn nóixung quanh”, đã cùng thằng Ngôn chơi trò vợ chồng dại dột để nhận “trongngười một cảm giác là lạ” Lên 13 tuổi, Huyền đã phải chiến đấu mỗi ngàymột gắt gao với tình dục” và “sự phát triển âm thầm và đầy đủ của những

cơ quan tỉ mỉ trong bộ phận sinh thực làm cho xác thịt của em rạo rựclên”… Như vậy, đưa tình dục vào văn học giai đoạn này như chỉ để phần nàophản ánh bản chất xấu xa, kệch cỡm của một xã hội đầy rẫy những bất côngngang trái

Trong văn học 1945 – 1975 Đó là nền văn học chủ yếu mang khuynhhướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Nhà văn phải nhìn cuộc đời, nhìn conngười bằng con mắt có tầm bao quát lịch sử, dân tộc và thời đại Chính vìvậy, yếu tố tình dục, khát vọng cá nhân cá thể ít được đề cập đến Thỉnhthoảng, ta bắt gặp cách nói bóng gió về chuyện “thầm kín” qua lời nhân vật

Út Tịch (Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi) với chồng: “Còn gà trống, còn gà

Trang 31

mái, chắc chắn còn gà con…” Ở các thể loại khác, đặc biệt là thơ ca, yếu tốsinh thực khí, tính dục gần như vắng bóng hoàn toàn.

Trang 32

Khi văn học Việt Nam đương đại bước vào thời kỳ đổi mới, yếu tố sextrong văn học bắt đầu được quan tâm và đề cập ngày càng nhiều Rấtnhiều các cây bút nữ táo bạo trong việc viết về nó, miêu tả nó và có sự bứt

phá rất lớn Đỗ Hoàng Diệu với tập truyện ngắn Bóng đè đã tạo nên dấu ấn

vô cùng mạnh mẽ, đã có một sự tiếp cận hiện đại và quyết liệt hơn ở trong ýthức của người viết về đề tài này Chuyện xảy ra với một cô dâu mỗi khi vềnhà chồng, và nó xảy ra mỗi đêm mỗi lần cô về trên tấm phản trước bànthờ tổ tiên nhà chồng… Cô không có cách nào để né tránh, thậm chí còn cócảm giác thích thú với cảm giác đó, vì bản thân cô là một người ham muốnmạnh mẽ… Các truyện ngắn trong tập truyện cũng tràn ngập yếu tố nhụcdục Sự trình bày tính dục trong truyện ngắn Đỗ Hoàng Diệu làm cơ sởcho những ngụ ngôn phê phán xã hội, nói lên ý thức nữ quyền cũng nhưkhát vọng được vùng thoát khỏi những dây trói trong quan niệm xưa cũ.Nhiều ý kiến cho rằng tác phẩm quá sa đà vào việc miêu tả chuyện khỏathân trần trụi xác thịt mà chưa nâng tầm được thành triết lý khái quát

Nguyễn ngọc Tư trong Cánh đồng bất tận thì tinh tế hơn, ở đó

sex được thể hiện một cách nhẹ nhàng, và nó chỉ là một chút như để làmgia vị cho toàn bộ cách nhìn mới mẻ của Nguyễn Ngọc Tư trong toàn tácphẩm, nó không u ám và thể hiện toàn bộ tính sex trong xuyên suốt câu

Trang 33

Núi vú lại cương lên sự sốngNhững cặp chân khóa chặt nhau khước từ chân

Hình ảnh nhục thể, hoạt động tính giao của con người được đưavào văn học như một lời khẳng định về quyền của con người, khẳng địnhvai nữ và như vùng dậy khỏi những lễ giáo cổ xưa

Đỗ Hoàng Diệu từng khẳng định: “Thực ra sex chỉ là cái vỏ bọc, khôngphải mục tiêu, nó chỉ là phương tiện để tôi chuyển tải một thôngđiệp khác”[8] Như vậy yếu tố tình dục trong bất kì một sáng tác văn học nàocũng chỉ có ý nghĩa như một phương tiện để nhà văn, nhà thơ chuyển tảimột ý nghĩ, một tư tưởng, phản ánh một cái khác chứ không chỉ đơn thuần

là nói không về nó Đó có thể là sự vùng dậy của một tư tưởng mới, có thể

là sự tự khẳng định lại vai trò nữ giới, vực lên quyền lực giới nữ trong vănhọc cũng như xã hội

Như vậy, tính dục trong văn học có vai trò hết sức quan trọng Nó là

cơ sở, là một trong những phương tiện để nhà thơ, nhà văn chuyển tảithông điệp của mình vào trong tác phẩm Việc nghiên cứu về diễn ngôn tínhdục trong sáng tác văn học chính là nghiên cứu các phương thức kiến tạodiễn ngôn trong sáng tác văn học nói chung, từ đó lý giải cách tiếp cận thếgiới cũng như con người của tác giả

Trang 34

CHƯƠNG 2: VAI GIAO TIẾP NỮ VỚI VẤN ĐỀ TÍNH DỤC

2.1 Chủ thể phát ngôn nữ với vị thế chủ động

Trong Trật tự diễn ngôn (The Order of Discourse) (1970), Foucault

khẳng định: “trong mọi xã hội sự sản xuất diễn ngôn cùng lúc bị kiểm soát,tuyển chọn, tổ chức và phân phối lại bởi một số những phương thức/quytrình mà vai trò của nó là để né tránh những sức mạnh và sự nguy hiểm củadiễn ngôn, để dành quyền điều khiển/ kiểm soát với những sự kiện ngẫunhiên của diễn ngôn, để tránh né những khó khăn do nó gây ra”[24, 𝑡��.52] Có nghĩa là diễn ngôn được sản xuất ra đều chịu sự chi phối, kiểm soátcủa nhiều yếu tố, bao gồm hình thái ý thức xã hội, trạng thái tri thức và cơchế quyền lực xã hội, cái gì được nói, cái gì không được nói có ảnh hưởngđến mục đích của diễn ngôn Một văn bản tác phẩm dù lớn hay nhỏ nócũng đều được xem là một diễn ngôn, phản ánh các hiện tượng hiện thựcvào ý thức bằng các hình tượng nghệ thuật, mọi vấn đề được nói tới trongvăn học đều phản ánh đời sống trong đó có vấn đề tình dục

Văn học Việt Nam từ sau 1975, đặc biệt sau 1986 có những biếnchuyển và thay đổi lớn trên nhiều bình diện Sự đổi mới toàn diện về mọimặt trong đời sống chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội đã tác động mạnh

mẽ đến văn học đương thời Trong điều kiện như thế, diễn ngôn về tình dục

nữ giới được tạo ra mang một sắc thái khác so với các giai đoạn trước Ởgiai đoạn này, có lực lượng đông đảo các nhà văn nữ tham gia viết Theo đó,phụ nữ không chỉ là khách thể của sự miêu tả mà còn là chủ thể tự biểuhiện Họ cất lên tiếng nói đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho mình về mọimặt, trong đó có cả quyền được bày tỏ những suy nghĩ, khát vọng, nhu cầu

về sex và tình dục Các nhà văn nữ đương đại vô cùng mạnh bạo trong diễn

Trang 35

ngôn về tình dục, đặc biệt là đời sống tình dục của nữ giới, ngôn ngữ có vẻbạo liệt và mạnh mẽ hơn

Trang 36

trong các trang viết Tiêu biểu là các cây bút như Phạm Thị Hoài, Y Ban, ĐỗHoàng Diệu, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Như… Ở Đỗ Hoàng Diệu, tình dục trởthành phương tiện để nhà văn bộc lộ tư tưởng chống đối và thách thức đốivới những tư tưởng, quy tắc cổ hủ của đạo đức gia phong Trong tập truyện

ngắn Bóng đè, xuất bản năm 2005 của chị, yếu tố sex, tình dục được nhà

văn sử dụng dày đặc Chủ thể phát ngôn nữ với vị thế chủ động Điều ấyđược thể hiện trên hai phương diện: chủ động đề cập đến vấn đề tình dục

và chủ động trong hành vi tình dục

2.1.1 Chủ động đề cập đến vấn đề tình dục

Không phải tới văn học đương đại, vấn đề tình dục mới được đề cập

và phản ánh trong văn học Văn học trung đại, thời kì văn học được cho làcần mang tính quy phạm chặt chẽ, nhưng dần đến thế kỉ XVI, người ta thấymột sự đổi thay, các yếu tố nhục dục được đưa vào văn học, tiêu biểu là cáctác phẩm của Nguyễn Dữ, hay Hồ Xuân Hương Điều đó cho thấy thời đạiảnh hưởng rất mạnh mẽ đến văn học, tính quy phạm của văn học dần bịphá vỡ, qua đó tạo ra bước đột phá lớn trong việc đưa tình dục vào trongvăn học Tuy nhiên, vấn đề tình dục trong văn học thời kì ấy vẫn phải ngụytrang Trong các tác phẩm của Nguyễn Dữ, nhà văn thường miêu tả hoạtđộng tình dục của ma với người, ma với ma chứ ít khi là người theo nghĩa

trực tiếp Chẳng hạn như tác phẩm Cuộc kì ngộ ở trại Tây kể lại mối tình tay

ba của một nho sinh tên là Hà Nhân với hai hồn ma Nhu nương và Hồngnương Ở đây, tác giả miêu tả các hồn ma nữ đắm chìm trong cảnh sắc dục

và giường chiếu cùng Hà Nhân, thậm chí, hành vi tình dục của họ còn có sựthác loạn và vô độ Đêm nào ba người cũng gặp nhau Họ hoan lạc theokiểu tập thể rồi cùng làm thơ tục, ngâm nga về chuyện chăn gối Hay như

trong truyện Cây gạo, tác giả tập trung phơi trần nhiều cuộc trụy hoan của

Trang 37

hồn ma Nhị Khanh với Trình Trung Ngộ Nhị Khanh chủ động lôi kéo TrìnhTrung Ngộ vào thú vui say thể xác.

Trang 38

Có thể nói, nhân vật nữ trong các tác phẩm của Nguyễn Dữ không chỉ coitình dục là một nhu cầu mà nâng nó lên thành “trò chơi” để thỏa mãn.Như vậy qua các tác phẩm này, người đọc có thể tìm cách diễn giải về tìnhdục nữ giới cũng như thấy được rằng người phụ nữ dần có tiếng nói trongđời sống, đặc biệt là đời sống tình dục Cũng đề cập đến vấn đề tình dục vàviết về nó, bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương là một hiện tượng trong vănhọc trung đại Bà viết về người phụ nữ với một thái độ cảm thông, bênhvực Và trong thơ bà, yếu tố nhục dục dày đặc và khiến người đọc phải liêntưởng:

“Một lỗ sâu sâu mấy cũng vừa, Duyên em dính dáng tự ngàn xưa Vành ra ba góc da còn thiếuKhép lại đôi bên thịt vẫnthừa Mát mặt anh hùng khitắt gió, Che đầu quân tử lúc

sa mưaNâng niu ướm hỏi người trong trướngPhì phạch trong lòng đã sướng chưa?”

(Vịnh cái quạt – Hồ Xuân Hương)

Trong bài thơ, tác giả miêu tả cái quạt nhưng lại đầy sức gợi, khiếnngười đọc liên tưởng đến hoạt động tính giao giữa nam và nữ Có thể thấynhiều bài thơ của Hồ Xuân Hương đều mang nhiều sức gợi như vậy

Tuy văn học trung đại đã ít nhiều đề cập đến tình dục cũng như nhữngnhu cầu của người phụ nữ trong tình dục cũng như tình yêu và hammuốn bình thường của con người, nhưng đó chỉ mới phần nào nói qua về

nó Truyện của Nguyễn Dữ tràn ngập yếu tố nhục dục, nhưng mục đíchkhông phải nói về tình dục, mà chỉ là phần nào vạch trần xã hội phong kiến

Trang 39

thối nát, đứng trên lập trường đạo đức của Nho gia để nhìn nhận, đánh giácon người, những vấn đề của con người trên quan điểm đạo đức Hồ XuânHương là một hiện tượng,

Trang 40

một tác giả nữ, dám viết về người phụ nữ, dám viết những vần thơ gai góc,dám nói cả vấn đề nhục dục trong thơ, nhưng đó chỉ là những vần thơ mangsức gợi mãnh liệt chứ chưa dám nói thẳng tới tình dục, chưa viết về nó mộtcách công khai, mượn cách đi vòng, mượn những hình ảnh tượng trưng

để trút vào đó tiếng nói nữ quyền kín đáo

Chỉ khi đến với văn học đương đại, tiếng nói của người phụ nữ mớithực sự khẳng định được mình Những người theo chủ nghĩa nữ quyền Phápkhẳng định: “Phụ nữ nhất thiết tham gia viết, nhất thiết phải viết về chínhmình, nhất thiết viết về phụ nữ” Văn học phải được xem xét trong mốiquan hệ với chủ thể sáng tạo để thấy được vai trò của thế giới khách quan

và sáng tác, tài năng, vốn sống, cá tính của người nghệ sĩ Xuất hiện trên văn

đàn với tập truyện ngắn Bóng đè, Đỗ Hoàng Diệu là cái tên được nhiều

nhà nghiên cứu phê bình chú ý, bởi chị đã thổi một làn gió mới vào vănhọc đương đại Có nhiều ý kiến trái chiều xoay quanh tác phẩm của chị cũngnhư xoay quanh về vị thế phát ngôn của nữ giới về vấn đề tình dục Nhânvật chính trong các tác phẩm của chị hầu hết là người phụ nữ song song

đó là những nhu cầu nhục cảm của họ Một người phụ nữ dám lên tiếng nói

về giới mình và những nhu cầu về mặt trước nay người ta coi là nhạy cảm

Trong hầu hết các truyện ngắn của tập Bóng đè, Đỗ Hoàng Diệu để cho nhân

vật nữ xưng “tôi” tự trải nghiệm và cảm nhận niềm hân hoan và thú vui xácthịt Với lối viết “tự ăn mình”, nhân vật trong văn xuôi nữ chính là sự hóathân của chủ thể nữ giới Ý thức giới thể hiện rõ ở phương thức kể chuyện

từ ngôi thứ nhất, nhân vật tôi/đàn bà/người kể chuyện kể chuyện mình,chuyện giới mình, chuyện thế sự,… qua trường nhìn phụ nữ Về phươngdiện này, các nhà văn nữ thường chọn hình thức tự thuật Điểm nhìn củachuyện/truyện hầu hết đều là điểm nhìn bên trong Nhân vật và người kể

Ngày đăng: 06/01/2020, 17:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w