Từ sau 1986, đặc biệt là từ năm 2005 với sự xuất hiện đầu tiên của cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm một nữ bác sĩ- liệt sĩ đã được công bố trong xã hội và tạo ra một “cơn sốt” về Nhật kí chiế
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
===***===
PHÙNG THỊ THU PHƯƠNG
CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG
TRONG THỂ LOẠI NHẬT KÝ VĂN HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Người hướng dẫn khoa học: ThS Hoàng Thị Duyên
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, các thầy cô trong khoa Ngữ văn đã giúp đỡ tôi trong quá trình họctập tại trường và tạo điều kiện cho tôi thực hiện tốt khoá luận tốt nghiệp
Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS Hoàng Thị Duyên
người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong quá trình nghiên cứu hoànthành khoá luận này
Tuy nhiên, do thời gian có hạn với trình độ và kiến thức còn hạn chế nênkhông tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi mong nhận được sự góp ý củathầy cô và các bạn để khoá luận của tôi được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Phùng Thị Thu Phương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi đã trình bày trong khóa luận tốtnghiệp này là kết quả quá trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướngdẫn của các thầy cô giáo Khoá luận này chưa từng được công bố trong cácnghiên cứu khác hay trên bất cứ phương tiện truyền thông bất cứ nào Nếunhững lời cam đoan trên là sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Phùng Thị Thu Phương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khoá luận 6
7 Cấu trúc khoá luận 6
NỘI DUNG 7
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THỂ LOẠI NHẬT KÍ VĂN HỌC 7
1.1 Quan niệm và quá trình phát triển 7
1.1.1 Quan niệm về nhật kí 7
1.1.2 Quá trình phát triển của thể loại nhật kí 8
1.2 Phân loại nhật kí 10
1.2.1 Nhật kí ngoài văn học 11
1.2.2 Nhật kí văn học 11
1.3 Đặc trưng của thể loại nhật kí văn học 12
1.3.1 Tính chân thực, đáng tin cậy 12
1.3.2 Tính chất biên niên của thể loại nhật kí 14
1.3.3 Nhật kí là thể loại mang tính cá nhân riêng tư 15
Chương 2 CÁI CHUNG TRONG THỂ LOẠI NHẬT KÍ VĂN HỌC 18
2.1 Ý thức hệ xã hội chi phối 18
2.1.1 Lý tưởng sống 23
2.1.2 Quan niệm đạo đức 27
2.2 Ý thức chính trị chi phối 33
2.2.1 Nhận thức 36
Trang 52.2.2 Hành động và lời nói 38
Chương 3 CÁI RIÊNG TRONG THỂ LOẠI NHẬT KÍ VĂN HỌC 44
3.1 Bí mật cá nhân riêng tư 44
3.1.1 Những tình cảm cá nhân riêng tư của người viết 45
3.1.2 Ngôn ngữ quy ước, ẩn dụ 48
3.2 Quan điểm cá nhân của người viết 52
3.3 Dấu ấn cá nhân 57
KẾT LUẬN 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6là “lính mới” Những năm gần đây, hàng loạt các cuốn nhật kí chiến tranhđược xuất bản, tưởng chừng như xuất bản chỉ để làm tư liệu nhưng bùng nổ
và tạo nên “cơn sốt” là hai cuốn nhật kí của Đặng Thuỳ Trâm và của NguyễnVăn Thạc đã tạo nên hiệu ứng xã hội mạnh mẽ, gây sự chú ý của công chúng,đặc biệt là thế hệ trẻ Từ những cuốn nhật kí chiến tranh, người đọc đã khámphá được nhiều điều còn tiềm ẩn, đã vén lên được nhiều bức màn bí mật vềcuộc chiến tranh của nhân loại nói chung, cuộc chiến tranh chống ngoại xâmcủa dân tộc Việt Nam nói riêng Không chỉ vậy các cuốn nhật kí đã đưa
“những hình mẫu lý tưởng trong đời thường” [24] đến gần với thế hệ trẻ Đócũng có thể coi là câu trả lời cho câu hỏi “vì sao trong "thời buổi thực dụng"này mà “nhật kí chiến tranh” vẫn có sức thu hút lớn đến như vậy?” [23] Giátrị của nhật kí tưởng chừng như chỉ mang tính chất riêng tư đối với mỗi cánhân người viết, song đặt vào những hoàn cảnh cụ thể, nhiều cuốn nhật kíbỗng trở thành những kỷ vật vô giá không chỉ đối với đời sống tình cảm củacon người mà là những hiện vật vô giá trong nhiều lĩnh vực khác nữa Nhữngtrang nhật kí viết vội trên đường đã biến thành những trang sử, trang vănngoài ý muốn Ðó là những chứng tích bất tử về lòng yêu nước của nhân dân
Trang 7Với những đặc điểm riêng biệt của thể loại, nhật kí chiến tranh không chỉgóp phần làm phong phú diện mạo văn chương Việt Nam mà còn cung cấpnguồn tư liệu xác thực nhất về chiến tranh, về những năm tháng đấu tranhgian khổ của quân và dân khắp mọi miền đất nước Do được nhìn, được cảmnhận và ghi chép lại bằng con mắt của cá nhân nên những gì hiện lên qua nhật
kí là vô cùng chân thật, đôi khi nhuốm màu sắc chủ quan đầy tâm trạng Tácgiả của những cuốn nhật kí là những người đã trực tiếp chiến đấu hoặc có mặttại chiến trường, luôn phải đối mặt giữa ranh giới của sự sống và cái chết nênnhững dòng ghi chép của họ cho chúng ta cảm nhận rõ nét nhất về sự ác liệtcủa chiến tranh; đồng thời cũng phản ánh đời sống tinh thần của một thế hệthanh niên Việt Nam thời đó, có tác động nhất định đến xã hội hiện nay Việctìm hiểu về nhật kí chiến tranh vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thựctiễn
Từ khi Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm trở về nước sau hơn một phần ba thế kỷ
gây được tiếng vang vô cùng lớn thì thể loại nhật kí mới thực sự được các nhàphê bình, nghiên cứu chú ý và quan tâm tới Nhưng việc nghiên cứu mới chỉ ởcác khía cạnh về ngôn ngữ, kết cấu, còn đặc điểm chung và đặc điểm riêngtrong thể loại nhật kí vẫn chưa được khai thác và nghiên cứu vì vậy khoá luận
đã chọn nghiên cứu về đề tài Cái chung và cái riêng trong thể loại nhật kí văn học mong được góp phần vào việc tìm hiểu một cách chuyên sâu hơn đặc
điểm của thể loại nhật kí và vị trí của thể loại này trong tiến trình phát triểncủa nền văn học dân tộc
2 Lịch sử vấn đề
Với đặc trưng thể loại “Nhật kí” là những ghi chép mang tính chấtriêng tư vì thế có thể nói trước những năm 1986, sự xuất hiện của chúngkhông nhiều, trong đó có những cuốn đã được in thành sách hoàn chỉnh hoặctrích in trên sách, báo, kịp thời đến với độc giả ngay sau khi tác giả mới hoàn
Trang 8thành, như: Nhật kí Ở rừng của Nam Cao, nhật kí của Bùi Hiển, nhật kí Một tháng đi theo anh em pháo binh của Hoài Thanh, nhật kí của Thôi Hữu
nhưng chúng chưa thu hút được sự chú ý quan tâm của độc giả và giới nghiêncứu Vì thế sự góp mặt của nhật kí chiến tranh trên diễn đàn văn học được cho
là của “hiếm” vì chưa có một công trình nghiên cứu nào về khái niệm, địnhnghĩa, đặc trưng của Nhật kí chiến tranh
Từ sau 1986, đặc biệt là từ năm 2005 với sự xuất hiện đầu tiên của cuốn
Nhật ký Đặng Thùy Trâm một nữ bác sĩ- liệt sĩ đã được công bố trong xã hội
và tạo ra một “cơn sốt” về Nhật kí chiến tranh, tiếp theo đó là Mãi mãi tuổi hai mươi của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc; Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng với trọn
bộ 3 tập, Nhật kí của Dương Thị Xuân Quý… đã thực sự gây ấn tượng mạnh
mẽ và thu hút sự quan tâm của toàn xã hội, khiến các nhà nghiên cứu phải cócái nhìn sâu rộng nghiêm túc về thể loại văn học đặc biệt này Hàng loạtnhững bài viết; giới thiệu; phê bình…xuất hiện dày đặc trên các phương tiệntruyền thông, điển hình nhất là có đến hàng chục bài báo về đề tài này với
những nội dung vô cùng phong phú: Đọc nhật kí chiến tranh: Một tác phẩm văn học kì lạ [22], Có thêm một nhật kí chiến tranh chân thật… Những bài nói về hiệu ứng xã hội của các cuốn nhật kí: Đọc nhật kí chiến tranh để lấy tinh thần cho một cuộc chiến mới [1], Qua Mãi mãi tuổi hai mươi và Nhật ký Đặng Thùy Trâm nghĩ về văn hóa đọc [4] Qua những bài viết đã khẳng định
những ảnh hưởng mạnh mẽ và tác động tích cực của nó vào mọi giai tầngtrong xã hội, khiến chúng ta có một cái nhìn chân thực hơn về cuộc chiến vĩđại mà thế hệ cha anh đã đi qua; những khó khăn gian khổ và sự hy sinh vô tư
vì lý tưởng tuổi trẻ Hơn nữa, nhờ đó mà văn hóa đọc được hưởng ứng sâurộng, thu hút hấp dẫn hàng triệu độc giả đón đọc và dõi theo cuộc hành trìnhcùng với số phận kì lạ của những cuốn nhật kí đến được với bạn đọc ngàyhôm nay
Trang 9Nhật kí đã và đang được tìm hiểu, nghiên cứu từ nhiều góc độ khácnhau Lúc này khái niệm nhật kí với tư cách như là một thể loại văn học mớiđược đề cập đến trong các sách lí luận song dung lượng nội dung nói về nhật
kí chưa nhiều và sâu Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của tập thể tác giả Lê
Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi, cuốn Từ điển văn học của tập thể
tác giả Đỗ Đức Hiểu - Nguyễn Huệ Chi - Phùng Văn Tửu - Trần Hữu, giáo
trình Lí luận văn học phần Tác phẩm và thể loại văn học do tác giả Trần Đình
Sử chủ biên đều mới chỉ đưa ra khái niệm, định nghĩa, phân loại và những đặcđiểm sơ lược nhất về nhật kí Các công trình nghiên cứu về nhật kí sau nàycũng mới chỉ dừng lại ở: hiệu ứng xã hội của nhật kí, khẳng định nhật kí nhưmột thể loại văn học, bước đầu tìm hiểu về nhật kí chiến tranh
Nhìn chung qua khảo sát và tìm hiểu, chúng tôi thấy các công trình, bàiviết nghiên cứu về nhật kí còn sơ sài, mới chỉ thừa nhận nhật kí là một thể loạivăn học thuộc loại hình ký, có những đặc trưng cơ bản là ghi chép sự kiện, cảmxúc, suy nghĩ theo ngày, ghi chép sự việc vừa mới xảy ra hoặc đang xảy ra,những điều ghi chép trong nhật kí có độ chân thực, tin cậy cao Các vấn đề nói
về nhật kí mới chỉ ở bước đầu, mang tính khái quát chung Chưa có mộtcông trình nghiên cứu nào đi vào nghiên cứu các đặc điểm, cái chung và cáiriêng giữa các cuốn nhật kí một cách kĩ càng, cụ thể và sâu rộng Hiện naynhật kí đang là thể loại thu hút được sự quan tâm của bạn đọc cũng như cácnhà nghiên cứu, phê bình văn học Cho nên việc nghiên cứu sâu hơn nữa vềcái chung và cái riêng của nhật kí là một việc làm cần thiết, chứa đựng kỳvọng về một hướng đi mới trong việc nghiên cứu về thể loại nhật kí chiếntranh cùng giá trị văn học, hiệu ứng xã hội, ý nghĩa tinh thần cũng như đónggóp về thể loại của dòng sách này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận hướng tới mục đích tìm ra các đặc điểm chung và đặc điểmriêng và những giá trị của thể loại nhật kí đặc biệt là nhật kí trong giai đoạn
1945 - 1975 để từ đó khẳng định nhật kí đích thực là một thể loại văn học
Trang 103.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm ra các quan niệm về nhật kí, quá trình hình thành và phát triển củathể loại nhật kí trong lịch sử văn học Việt Nam
- Nghiên cứu các đặc điểm chung của thể loại nhật kí trong văn học giaiđoạn 1945 - 1975 và nghiên cứu những đặc điểm riêng của thể loại nhật kítrong văn học giai đoạn 1945 - 1975 để nhằm tìm ra những đánh giá và giá trịxác đáng nhất cho thể loại nhật kí
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về dòng sách nhật kí chiến tranh có các cuốn nhật kí ra đời trong khángchiến chống Pháp và chống Mỹ Tuy nhiên, số lượng nhật kí trong thời kỳkháng chiến chống Pháp không nhiều, nên khoá luận chủ yếu tập trung vàomột số nhật kí chiến tranh thời chống Mỹ
Vì thời gian có hạn nên khoá luận lựa chọn nhật kí của 5 chiến sĩ - liệt sĩ
mà theo chúng tôi đã hội tụ được những yếu tố được coi là tiêu biểu trongtương quan với các tác phẩm cùng đề tài:
+) Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm (của Đặng Thuỳ Trâm)
+) Mãi mãi tuổi hai mươi (Của Nguyễn Văn Thạc)
+) Nhật ký chiến trường (Của Dương Thị Xuân Quý)
+) Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Thi)
+) Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng (Của Nguyễn Huy Tưởng)
Các tác phẩm cho chúng ta cái nhìn toàn diện về thể loại trong đời sốngvăn học Việt Nam và ý nghĩa của dòng sách nhật kí chiến tranh nói chung
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp khảo sát- thống kê
Phương pháp so sánh - đối chiếu
Phương pháp hệ thống
Trang 116 Đóng góp của khoá luận
Nhật kí là một thể loại văn học khá gần gũi và có vai trò quan trọngtrong cuộc sống con người Tuy nhiên cho đến nay nhật kí vẫn chưa được
nhìn nhận sâu rộng và đánh giá toàn diện Với đề tài Cái chung và cái riêng trong thể loại nhật kí văn học chúng tôi mong muốn sẽ mang lại cái nhìn toàn
diện hơn về đặc điểm của thể loại nhật kí và các giá trị to lớn mà nhật kí đãđóng góp cho nền văn học Việt Nam
7 Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung gồm
3 chương sau:
Chương 1: Khái quát về thể loại nhật kí văn học
Chương 2: Cái chung trong thể loại nhật kí văn học
Chương 3: Cái riêng trong thể loại nhật kí văn học
Trang 12NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THỂ LOẠI NHẬT KÍ VĂN HỌC
1.1 Quan niệm và quá trình phát triển
1.1.1 Quan niệm về nhật kí
Nhật kí là thể loại không còn xa lạ trong đời sống văn học.Những nămgần đây nhiều cuốn nhật kí liên tiếp được công bố đã nhận được sự đón nhậnnồng nhiệt và hào hứng từ phía độc giả Hiện nay, việc xác định vai trò, đặcđiểm của nhật kí như một thể tài văn học vẫn có nhiều ý kiến khác nhau, chưa
thể hiện được sự thống nhất Theo Từ điển văn học (bộ mới): “Nhật kí đích
thực là một thể tài ngoài văn học” Giáo sư Trần Đình Sử lại đánh giá khá cao
về nhật kí với tư cách là một tiểu loại của thể loại hình ký: “Nhật kí là thể loại
ký mang tính chất riêng tư, đời thường nhiều nhất” [17, tr.379] Từ điển thuậtngữ văn học cũng coi nhật kí là “một thể loại thuộc loại hình ký” hay “là hìnhthức tự sự ở ngôi thứ nhất được thực hiện dưới dạng những ghi chép hàngngày theo thứ tự ngày tháng về những sự kiện của đời sống mà tác giả haynhân vật chính là người trực tiếp tham gia hay chứng kiến” [5, tr 237] Giáo
trình Lý luận văn học, tập 2: Tác phẩm và thể loại văn học do Trần Đình Sử
chủ biên thì định nghĩa như sau: “Nhật kí là thể loại ký ghi chép sự việc, suynghĩ, cảm xúc hàng ngày của chính người viết, là những tư liệu có giá trị vềtiểu sử và thời đại của người viết” [18, tr 261] Như vậy, có thể nói rằng, nhật
kí chính là những ghi chép của cá nhân về những sự kiện, những cảm xúc, suynghĩ trước những sự kiện xảy ra trong ngày hay trong thời điểm mới xảy ra.Mặc dù, hiện nay, nhật kí đã có được một chỗ đứng nhất định trong đời sốngvăn học với tư cách là một thể loại văn học nhưng so với các thể loại văn họckhác, nhật kí vẫn chưa tìm được sự nhất quán trong quan niệm, quan điểm củacác nhà nghiên cứu, các độc giả về đặc trưng, đặc điểm của thể loại này
Trang 131.1.2 Quá trình phát triển của thể loại nhật kí
So với nhiều thể loại văn học khác, thể loại kí xuất hiện muộn hơn Ởnhiều nước trên thế giới, thể loại nhật kí đã phổ biến từ rất lâu và thực sự nhật
kí đã được coi là một thể loại văn học Trong bài Về lối văn nhật kí đăng trên
báo Phụ Nữ tân văn, số 150, ra ngày 23/6/1932, Phan Khôi cho biết là ởTrung Hoa, từ mấy trăm năm nay, việc viết nhật kí đã khá phổ biến; riêng ởNhật, nhật kí xuất hiện sớm hơn nữa: “Vào thời trung cổ của họ, từ một ngànnăm nay, mà cũng đã có nhiều bản nhật kí truyền đạt đến bây giờ” [15] PhanKhôi ước mong là người Việt Nam hãy tập thói quen ghi chép nhật kí Ôngcòn khẳng định: “Nhật kí, không nói quá có lẽ nó là cái thước để đo trình độvăn minh của một dân tộc” [15] Ở Nhật, nhật kí được gọi là Nikki Bungaku,thể loại này xuất hiện rất sớm trong giai đoạn đầu đời sống văn học trung đại.Hiện nay, cuốn nhật kí cổ nhất còn được lưu giữ là cuốn Tosa Diary (Nhật kíTosa) của Kino Tsurayuki được viết vào khoảng năm 935; nhiều cuốn nhật kí
nổi tiếng từ thời trung cổ được dịch ra tiếng Anh: Sara Shina Nikki (Khi tôi băng qua chiếc cầu của những giấc mơ) - viết vào khoảng thế kỷ XI, cuốn Nhật kí thơ Nhật Bản, Nhật kí của người phụ nữ Nhật cao quý,… Nhật kí ở
Nhật Bản ngày xưa được chia thành hai loại Loại đầu, viết bằng chữ Hán,toàn là nhật kí công vụ, chuyên ghi chép những sự kiện xảy ra hàng ngàytrong cung đình, chỉ có ý nghĩa sử liệu Loại thứ hai, viết bằng chữ Nhật, chútrọng vào tâm tình và đời sống riêng tư, rất có ý nghĩa văn học Ở đây, nộidung và giá trị của các cuốn nhật kí rõ ràng là có quan hệ mật thiết đến vấn đềvăn tự
Thế kỷ XVIII thể loại này mới xuất hiện ở Châu Âu và phát triển cựcthịnh vào thế kỷ XIX Ở Việt Nam, thể ký cũng ra đời muộn, có thể lấy điểm
mốc cho sự xuất hiện của thể loại này là thời Lý - Trần với Vũ trung tuỳ bút
và Thượng kinh ký sự Tuy xuất hiện muộn nhưng nhật kí đã bước đầu manh
Trang 14nha trong nền văn học dân tộc giai đoạn từ đầu thế kỷ XVIII đến trước năm
1930 Qua nhiều giai đoạn lịch sử, ký đã có những biến thể cho phù hợp với
xu thế phát triển của văn học Nhật kí chính là một dạng biến thể của ký hiệnđại bên cạnh hồi ký, tuỳ bút, tản văn, phóng sự…
Trong giai đoạn 1930 đến trước năm 1945 nhật kí đã bắt đầu xuất hiệnnhưng chưa nổi bật Cũng đã có nhà văn viết nhật kí nhưng giai đoạn này nhật
kí chưa nhận được sự quan tâm của độc giả
Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) nhật kí bắt đầu pháttriển và ghi lại dấu ấn của mình trong tiến trình phát triển của nền văn họcViệt Nam Lúc này chiến tranh chính là mảnh đất phì nhiêu, màu mỡ làm nảysinh nên một đội ngũ các nhà văn viết nhật kí để từ đó tạo nên thành tựu tolớn của thể loại này Các tác phẩm nhật kí tiêu biểu của các nhà văn chuyên
nghiệp trong giai đoạn này như cuốn Nhật kí Ở rừng (1948) của Nam Cao, Một tháng đi theo pháo binh (1948) của Hoài Thanh, nhật kí của Nguyễn Huy
Tưởng… Bên cạnh nhật kí của những nhà văn chuyên nghiệp là nhật kí củanhững người viết không chuyên như những trang nhật kí của Phan Phú -chính trị viên đại đội một đơn vị chủ lực được lưu lại trong cuốn sổ tay của
Tô Hoài hay những trang nhật kí của Lê Nguyên - Đại đội trưởng Đại đội
156, Sư đoàn 308 được gìn giữ cẩn thận trong ba lô của Trần Đăng…
Giai đoạn 1955 - 1975 là giai đoạn nhật kí tiếp tục phát triển và vươn tớiđỉnh cao nhất với nhiều cuốn nhật kí để lại giá trị to lớn cả về mặt tư liệu vàmặt nghệ thuật
Nhật kí được viết trong giai đoạn này cũng có nhiều điểm tương đồng sovới nhật kí được viết trong giai đoạn trước: cũng có nhật kí do nhà văn viết và
có những cuốn nhật kí không phải của nhà văn Đội ngũ nhà văn chuyênnghiệp trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ thuộc thế hệ nhà văn - chiến sĩ
Họ không chỉ cầm bút sáng tác mà còn cầm súng trực tiếp chiến đấu với quân
Trang 15thù như: Nguyễn Thi - Nguyễn Ngọc Tấn, Chu Cẩm Phong, Dương Thị XuânQuý, Nguyễn Minh Châu… Người viết nhật kí không chuyên trong giai đoạnnày xuất hiện nhiều hơn trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp.Bởi lực lượng chủ đạo trong cuộc kháng chiến chống Mỹ không chỉ có quầnchúng nhân dân lao động mà có cả một lực lượng trí thức đông đảo: Học sinh,sinh viên, bác sĩ, giáo viên, hoạ sĩ, nhạc sĩ … Nên nhật kí của họ rất gần vớinhật kí của các cây bút chuyên nghiệp, có điều vẫn có phần “hồn nhiên” hơn,cảm xúc cá nhân đậm nét hơn so với nhật kí của các nhà văn chuyên nghiệp
tiêu biểu như: Nhật ký Đặng Thùy Trâm của Đặng Thùy Trâm, Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc, nhật kí của Hoàng Thượng Lân, nhật kí của
Vũ Xuân, nhật kí Đường về của Phạm Thiết Kế, nhật kí của Nguyễn Văn
Giá…
Sau năm 1975, đặc biệt là từ những năm gần đây nhật kí ngày càng trởnên phổ biến và gần gũi với con người hơn nữa Không chỉ là nơi để ghi lạinhững cảm xúc những gì xảy ra xung quanh mình mà nhật kí còn được đưavào áp dụng trong việc học của học sinh trong các trường học như: nhật kíhọc văn, nhật kí đến trường thực tập…, bên cạnh đó với thời đại bùng nổcông nghệ thông tin, ngày nay phần nhiều con người chuyển sang một dạngkhác của nhật kí đó là nhật kí điện tử như blog cá nhân… Có thể khẳng địnhnhật kí ngày càng đến gần với con người hơn nữa Nhật kí đã phát huy mộtcách tích cực sức mạnh đặc trưng của thể loại trong việc đáp ứng nhu cầutrong đời sống tinh thần của con người cũng như tạo ra những nét mới về mặtthể loại cho nền văn học Việt Nam
1.2 Phân loại nhật kí
Về phân loại, tuỳ vào tính chất, mục đích mà người ta phân loại theonhững thể khác nhau của nhật kí, rõ ràng nhất là sự phân chia nhật kí văn học
và nhật kí ngoài văn học
Trang 16Nhật kí ngoài văn học không nhằm công bố rộng rãi, chỉ viết dành cho
cá nhân mình; đơn thuần chỉ ghi chép lại những sự việc xảy ra với cá nhânmình chứ không quan tâm đến những vấn đề, những sự kiện có ý nghĩa xã hộirộng lớn, ý nghĩa nhân bản… Vì thế, nhật kí ngoài văn học thường không thuhút được sự quan tâm của đông đảo người tiếp nhận cũng như giới nghiên cứu
văn học, không có tầm ảnh hưởng lớn.
1.2.2 Nhật kí văn học
Nhật kí văn học vừa dung chứa đặc điểm cá biệt do thể loại nhật kí quyđịnh, vừa bao hàm các đặc điểm chung của tác phẩm văn học Nhật kí văn họcthường hướng tới các chủ đề nhất định và có sự ưu tiên chú ý đến thế giới nộitâm của tác giả hoặc nhân vật trước những sự kiện lớn có ý nghĩa không chỉvới cá nhân mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội; nhật kí văn học thườngđược viết ra nhằm hướng tới đông đảo công chúng Bên cạnh đó có nhữngcuốn nhật kí riêng tư viết không nhằm làm văn, không hướng tới đông đảocông chúng và không chủ định xây dựng hình tượng văn học song khi nó “thểhiện được một thế giới tâm hồn, khi qua những sự việc và tâm tình của cánhân, tác giả giúp
Trang 17người đọc nhìn thấy những vấn đề xã hội trọng đại” [18, tr.379] thì nó đã
mang trong mình phẩm chất văn học như: Nhật ký Đặng Thùy Trâm của Đặng Thùy Trâm, Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc…
1.3 Đặc trưng của thể loại nhật kí văn học
1.3.1 Tính chân thực, đáng tin cậy
Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực, Ký cũng là thể loại khôngnằm ngoài tấm gương phản ánh này “Tính chính xác tối đa là đặc trưng cơbản của ký” [18, tr.244], sức hấp dẫn, sức thuyết phục của các tác phẩm kýthường gắn chặt với tính chất có thật, xác thực của sự việc được phản ánhtrong tác phẩm Nhật kí là một tiểu loại của ký, nhật kí mang những nét chungnhất của ký, đồng thời lại có điểm riêng biệt
Nhưng trước tiên nhật kí mang đặc trưng chung của thể loại kí và cũng làđặc trưng quan trọng nhất của mình là tính chân thực, đáng tin cậy Giáo sưTrần Đình Sử đã đánh giá: “Nhật kí là thể loại ghi chép những sự việc,suy nghĩ cảm xúc hàng ngày của chính người viết (…) Giá trị quan trọng nhấtcủa nhật kí là tính chân thực do ghi chép sự việc đang diễn ra” [18, tr.261].Như vậy tính xác thực chính là yếu tố làm nên giá trị của nhật kí Mất đi sự xácthực cũng có nghĩa là nhật kí đã hoàn toàn mất đi giá trị thể loại của mình.Với các thể loại nhật kí ngoài văn học thì tính xác thực là yếu tố quantrọng hàng đầu, ví dụ như một cuốn nhật kí công tác hay nhật kí khoa học thìyếu tố chính xác luôn phải được đặt lên hàng đầu; hay với nhật kí riêng tư thì
đó chính là sự bí mật, chỉ giao lưu với bản thân, không hướng tới một đốitượng nào khác nên những gì viết ra luôn chân thực Đối với nhật kí văn học,
để mang tính hiện đại cho những vấn đề có ý nghĩa lớn thì bản thân việc ghichép phải có sự chân thực mới thu hút được sự quan tâm của độc giả cũngnhư xã hội
Và cho dù là nhật kí văn học hay các loại nhật kí ngoài văn học, dù viết
ra có được công bố hay không được công bố thì đều coi trọng tính chân thực,
Trang 18đáng tin cậy của sự kiện được ghi chép lại, vì một cuốn nhật kí trước hếtchính là sự giao lưu của người viết với chính bản thân họ, bao giờ cũng chỉghi lại những gì đã xảy ra, những gì đã nếm trải, đã thể nghiệm qua.
Văn học phản ánh hiện thực một cách chân thực, hiện thực chiến tranhcủa đất nước đã được những bài thơ, những truyện ngắn, tiểu thuyết viết vềchiến tranh … lột tả rất rõ Ta có thể thấy những nguy hiểm và thiếu thốn của
anh lính lái xe trên đường Trường Sơn qua Tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, sự hy sinh của những cô gái thanh niên xung phong qua Khoảng trời - hố bom của Lâm Thị Mỹ Dạ; hay bắt gặp tinh thần đấu tranh quật cường của nhân dân được miêu tả trong Hòn Đất của Anh Đức… trong những truyện
ngắn đầy sức ám ảnh của Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh… Và hơn hết, trongnhững cuốn nhật kí viết về chiến tranh, đặc biệt là những cuốn viết từ chiếntrường ta có thể tìm thấy những chi tiết sống động nhất, chân thực nhất Như
Nhật kí Ở rừng của Nam Cao là sự ghi chép chân thực những ngày tháng gian
khổ mà đầy ý nghĩa trong ngày đầu hoạt động cách mạng của nhà văn, đócũng là những vất vả gian khổ của tất cả văn nghệ sỹ trong ngày đầu “nhậnđường”… Những chặng đường hành quân và quá trình huấn luyện đầy gian
khổ của một anh lính tân binh hiện lên rất sinh động qua Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc Thiếu thốn thường trực về vật chất, bệnh tật quật
ngã, những chuyến công tác nguy hiểm có thể nằm xuống bất cứ lúc nào, vàtrên hết là sự lo lắng để viết được những tác phẩm hay phục vụ cho nền văn
nghệ nước nhà… là những gì ta có thể thấy trong Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong và Nhật ký chiến trường của Dương Thị Xuân Quý Một bệnh xá
dã chiến nằm tại một trong những chiến trường ác liệt nhất, một nữ bác sĩ anhhùng vừa lo chống giặc vừa đảm bảo công tác chuyên môn, những trận chạycàn vất vả với cái chết thường trực ngay bên cạnh tưởng như được tái hiện
sống động nhất trước mắt chúng ta trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm Và chính
Trang 19những lời kể chi tiết về các trận đánh sinh tử trong Tài hoa ra trận hay Đường
về đã cho ta cái nhìn sâu sắc về sự gan dạ của những anh lính đặc công Việt
Nam - những người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, sẵn sàng hy sinh để giànhlấy độc lập tự do cho Tổ quốc Qua các cuốn nhật kí, chúng ta cũng có cái nhìnchân thực nhất, rõ nét nhất về những thôn xóm anh hùng nơi các anh chị đã điqua, về những người dân bình dị mà lại rất vĩ đại họ đều thề quyết tử cho Tổquốc, không tiếc tính mạng, không màng hạnh phúc, danh lợi của bản thân.Thêm nữa, những trang nhật kí này, các tác giả - chiến sỹ ghi lại không phải
để cho người khác đọc, càng không phải để in ra thành sách Họ ghi cho chính
họ, thổ lộ với bản thân những buồn vui, khó khăn, lý tưởng, tích cực và cảnhững lúc bi quan… vậy nên những trang nhật kí có tính chân thực, tin cậy.Qua nhật kí cá nhân, người ta không chỉ đọc được những cảm xúc riêng tư
bí mật của người viết về đời tư cá nhân mình, về cuộc sống đời thường mà cònthấy được những dấu ấn của một sự kiện, một thời kỳ lịch sử, một vùng miềnnào đó trên từng trang nhật kí
1.3.2 Tính chất biên niên của thể loại nhật kí
Nếu như ở hồi ký là sự ghi chép thời gian đã qua, thời gian quá khứ bằngcách hồi cố, hồi tưởng lại thì nhật kí ghi chép bằng thời gian hiện tại Có thểngắt quãng, nhưng chắc chắn phải là thời gian của hiện tại, không thể ở thờiđiểm ghi nhật kí mà ghi hộ cho thời điểm trước hay sau đó được
Theo Giáo sư Trần Đình Sử: “Nhật kí ghi chép sự việc, suy nghĩ, cảmxúc theo ngày tháng, có thể liên tục nhưng cũng có thể ngắt quãng” [17,tr.379] tùy theo cảm hứng và thời gian công việc của người viết Một cuốnnhật kí trong điều kiện bình thường, tác giả có thể ghi chép liên tục theo ngàytháng nếu thấy có nhiều sự kiện, nhiều tâm trạng hoặc hứng thú, nhưng cũng
có thể ngắt quãng nếu đang bận một việc gì đó, hoặc tâm trạng chưa muốn ghichép lại ngay Còn đối với nhật kí chiến tranh, đặc biệt là nhật kí chiến trường
Trang 20thì các tác giả đôi khi không thể theo ý mình mà phải ghi chép ngắt quãng tùy
theo hoàn cảnh Ví dụ trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm: “14.4 [68]” [25, tr.23],
“15.4 [68]” [25, tr.24], “17.4 [68]” [25, tr.26]… Trong nhật kí của Nguyễn VănThạc đôi khi ta cũng bắt gặp sự ngắt quãng này ví dụ như “23.11.1971” [21,tr.64], “26.11.1971” [21, tr.68], “29.11.1971” [21, tr.76], “30.11.1971” [21,
tr.86]… Hay trong Nhật ký của Nguyễn Ngọc Tấn ghi rõ ngày tháng và cuối
mỗi dòng của ngày hôm đó cũng có giờ “9/2”, “10 giờ đêm” [20,tr 66],
“20/2”, “9 giờ rưỡi tối” [20,tr 70], “21/2”, “8 giờ tối” [20,tr 71]…Hay trong
cuốn Nhật ký chiến trường, Dương Thị Xuân Quý ghi chép rất tỉ mỉ, cẩn thận
Có thể nói kết cấu của sự kiện trong nhật kí thường tuân thủ trật tựtuyến tính của thời gian, làm nổi bật logic của hiện thực, tạo nên độ tin cậy,chân thực cho những câu chuyện hay sự việc được kể, đồng thời phản ánhkịp thời những vấn đề thời sự nóng hổi, những vấn đề cấp bách của xã hội.Nhờ tính chất biên niên mà nhật kí được coi là một trong những thể loạivăn học bám sát hiện thực đời sống một cách nhanh nhạy, kịp thời và chínhxác nhất
1.3.3 Nhật kí là thể loại mang tính cá nhân riêng tư
Nhật kí chính là sự thổ lộ của tác giả hay nhân vật lúc cô đơn, muốn tựmình nhìn lại mình, chiêm nghiệm lại những gì đã xảy ra, là những ghi chépthời hiện tại Vì thế, có thể nói, nhật kí chính là thể loại ký mang tính chấtriêng tư, đời thường nhiều nhất “Với tư cách là những ghi chép của cá nhân,
Trang 21trong nhật kí người viết có thể tự do trình bày những suy nghĩ riêng tư và cảmxúc trước sự thật” [2, tr 215] Riêng tư chính là lý do tồn tại của nhật kí, là
Trang 22điểm hấp dẫn của thể loại này, vì nó liên quan đến những tâm tư tình cảm,
bí mật của cá nhân, đặc biệt là những nhân vật được xã hội quan tâm
Giáo sư Trần Đình Sử - chủ biên của cuốn giáo trình Lí luận văn học phần Tác phẩm và thể loại văn học đã khẳng định: “Nhật kí là thể loại mang
tính chất riêng tư, đời thường nhiều nhất Nếu mục đích của bài viết là đểgiao lưu với người khác, thì nhật kí trái lại chỉ để giao lưu với chính mình,mình viết để cho mình, nói với mình Riêng tư chính là lí do tồn tại củanhật kí Tính riêng tư cũng là điều hấp dẫn của nhật kí, vì nó liên quan đến bímật của người khác, nhất là của những nhân vật được xã hội quan tâm” [17,tr.379]
Cô bé Anne Frank ghi nhật kí là vì “mình không có người bạn thật sựnào (…) Mình không thể nói gì với bạn bè ngoài những chuyện bình thường”
[3, tr 23 - 24] Trong Mãi mãi tuổi hai mươi, Nguyễn Văn Thạc đã quan niệm
về việc ghi nhật kí như sau: “Nếu như người viết nhật ký là viết cho mình,cho riêng mình thì đọc cuốn nhật ký đó sẽ chân thực nhất, sẽ bề bộn vàsầm uất nhất Người ta sẽ mạnh dạn ghi cả vào đấy những suy nghĩ tồi tệnhất mà thực sự họ có Nhưng nếu nhật ký mà có thể có người xem nữa thì
nó sẽ khác và khác nhiều - Họ không dám nói thật, nói đúng bản chất sựkiện xảy ra trong ngày, không dám nói hết và đúng những suy nghĩ đã nảy
nở và thai nghén trong lòng họ Mà đó chính là điều tối kỵ khi viết nhật ký
-Nó sẽ dạy cho người viết tự lừa dối ngòi bút của mình, tự lừa dối lương tâmcủa mình” [21, tr 225] Qua những lời tâm sự này của Nguyễn Văn Thạc,chúng ta thấy rằng, Nguyễn Văn Thạc viết nhật kí không nhằm mục đích công
bố, không nhằm mục đích cho người khác đọc Anh chỉ muốn viết choriêng mình và anh luôn coi nhật kí như là một kỉ vật thiêng liêng, một
“người bạn đường nghiêm khắc và tốt bụng” [21, tr 227] Do đó những trangnhật kí của anh là những trang viết hồn nhiên nhất, vô tư nhất, chân thựcnhất
Trang 23Chính bởi tính cá nhân riêng tư này mà nhật kí cá nhân thường là nhữnglời tâm sự, những suy ngẫm “sống để bụng, chết mang theo” của cánhân
Trang 24người viết mà người khác dường như cũng nhận thức rõ ý thức trách nhiệmkhông được xâm phạm đến Tính riêng tư này trở nên không còn khi các cuốnnhật ký vì những lí do đặc biệt khác nhau được công bố rộng rãi.
Nhật kí khác với truyện (truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, tiểuthuyết) ở chỗ trong nhật kí không có một xung đột thống nhất, phần khaitriển của tác phẩm chủ yếu mang tính miêu tả, tường thuật Đề tài và chủ đềcủa nhật kí cũng khác biệt với truyện, nó thường không phản ánh vấn đề
sự hình thành tính cách của cá nhân trong tương quan với hoàn cảnh, mà làcác vấn đề trạng thái dân sự như kinh tế, xã hội, chính trị, và trạng tháitnh thần như phong hóa, đạo đức của chính môi trường xã hội
Tính chất cá nhân của thể loại nhật kí được thể hiện ở phong cáchmỗi người khi viết nhật kí Mỗi cuốn nhật kí thể hiện phong cách riêng mangdấu ấn cá nhân của người viết Sự phong phú của mỗi cuốn nhật kí cũngphụ thuộc vào đời sống nội tâm và cảm xúc cá nhân người viết tạo nên Tínhriêng tư của nhật kí được thể hiện ở việc mỗi ghi chép trong nhật kí lànhững lời tâm sự riêng của cá nhân người viết với chính bản thân mình, bởivậy chỉ có người viết mới biết được nội dung trong cuốn nhật kí viết gì nếu
nó không được công bố
Những nét riêng của nhật kí là tư liệu cá nhân, màu sắc cá nhân, quanđiểm cá nhân nổi lên hàng đầu Sự phong phú của mỗi cuốn nhật kí cũngphụ thuộc vào đời sống nội tâm và cảm xúc cá nhân người viết tạo nên.Qua những cuốn nhật kí, người đọc sẽ khám phá và hiểu được đời sống nộitâm của người viết như thế nào
Trang 25Chương 2 CÁI CHUNG TRONG THỂ LOẠI NHẬT KÍ VĂN HỌC
2.1 Ý thức hệ xã hội chi phối
“Ý thức” là kết quả của sự phản ánh hiện thực khác quan của bộ nãongười Hay nói cách khác, hoạt động phản ánh sự vật, hiện tượng trongthế giới của bộ não người hình thành nên ý thức Là con người (có bộ nãophát triển bình thường) thì ai cũng có ý thức nhưng “ý thức hệ” hay “hệ tưtưởng” chỉ là sản phẩm của những nhà tư tưởng (đặc biệt là các triết gia,chính trị gia) Vậy, khi ta nói đến một “ý thức hệ” nào đó tức là chúng ta nóiđến một chủ nghĩa nhất định Ví dụ: ý thức hệ Nho giáo (Confucianism), ýthức hệ tư sản (Capitalism),
Ý thức xã hội là khái niệm triết học dùng để chỉ các mặt, các bộ phậnkhác nhau của lĩnh vực tinh thần xã hội như quan điểm, tư tưởng, tình cảm,tâm trạng, truyền thống của cộng đồng xã hội; mà những bộ phận này nảysinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn pháttriển nhất định
“Ý thức hệ” hay “hệ tư tưởng” (ideology) là hệ thống những quanđiểm triết học hay chính trị Các sách giáo khoa triết học ở nước ta
đều xem hệ tư tưởng như là một trong hai cấp độ của ý thức xã hội: tâm
lí xã hội và hệ tư tưởng.
Trong cuốn Nguyên lý Triết học Mác-Lênin có định nghĩa như sau: “Hệ
tư tưởng là hệ thống những quan điểm, quan niệm phản ánh trực tiếp haygián tếp những đặc điểm kinh tế xã hội của một xã hội, thể hiện địa vị, lợiích và mục đích của những giai cấp xã hội nhất định và nhằm duy trì hoặcbiến đổi chế độ xã hội hiện tồn” [12, tr.329]
V Ivanôp có một định nghĩa tương tự: “Hệ tư tưởng là hệ thốngnhững quan điểm, quan niệm, lý luận thuộc ý thức xã hội, phản ánh tồn
Trang 26tại xã hội, những quan hệ và hiện tượng xã hội, thể hiện lợi ích của mộtgiai
Trang 27cấp này hay giai cấp khác, là kim chỉ nam cho hành động của giai cấp vàđảng đó” [29, tr 109].
Theo Từ Điển Tiếng Việt (1991) của Viện Ngôn Ngữ Hà Nội, Ý thức hệ
được định nghĩa như sau: "Ý thức hệ là hệ thống tư tưởng và quan điểmthường phản ảnh quyền lợi cơ bản khác nhau của các giai cấp, các tầng lớp xãhội." [31]
Về lịch sử, khái niệm “Ý thức hệ” đã trải qua một quá trình diễn biếnđáng kể gồm bốn giai đoạn:
1) Ý thức hệ như là khoa nghiên cứu tinh thần, ý thức
2) Ý thức hệ như là quan niệm thế giới một cách lộn ngược
3) Ý thức hệ như là ý thức giai cấp và ý thức của chính đảng
4) Ý thức hệ như là phương thức tái sản xuất con người xã hội
Theo Giáo sư Trần Đình Sử trong cuốn Trên đường biên của lý luận văn học, để xem xét thực chất ý thức hệ, phải hiểu ý thức hệ như một phạm trù
trung tính, cố gắng thoát ra khỏi tính chất ý thức hệ hóa của nó
Xét về mặt thực thể tinh thần, “ý thức hệ là một hệ thống tri thức,
tín ngưỡng, giá trị, lợi ích, bao gồm dục vọng, tnh cảm, biểu tượng, diễnngôn Hệ thống này mang đời sống tnh thần của con người, thấm nhuần tìnhcảm, tràn đầy ảo tưởng, mang nhiều tính chất huyền thoại, không tưởng.Trong hệ thống này giá trị thực tiễn là mục đích, tri thức là phương tiện, làyếu tố dùng để ngụy trang giá trị và dục vọng, biến chúng thành thiênkinh địa nghĩa, chính đáng, hợp lí, hợp pháp Thực thể tinh thần nàythường xuyên biến động.” [19, tr35]
Xét về mặt chức năng ý thức hệ tỏ ra có một tầm quan trọng rất lớn
trong đời sống Daniel Bel cho rằng ý thức hệ có tác dụng đòn bẩy, sức thúcđẩy, tềm năng định hướng hành động, khiến sự việc hợp pháp hóa, làm xãhội hài hoà, có khả năng tập hợp
Trang 28Xét về loại hình, trong thời đại ngày nay, căn cứ vào thực tế người ta chia ý thức hệ ra làm hai loại lớn Một là ý thức hệ chính đảng, của đảng cầm quyền và hai là ý thức hệ chung, chỉnh thể của đông đảo dân
chúng trong xã hội
Xét theo chức năng, nguồn gốc, tính chất và loại hình của ý thức hệ như
trên thì văn học là một hình thái ý thức xã hội, bởi nó có chức nănghình thành thế giới quan, nhân sinh quan cho con người như một hiện tượng
văn hóa Nhưng đó là một hình thái ý thức đặc biệt Xét về loại hình thì văn
học thuộc loại hình ý thức hệ chỉnh thể, có ý nghĩa như văn hoá nói chung,bởi nó tác động đến tất cả các mặt đời sống, đặc biệt là đời sống cá nhân,
nhân cách, cá tính, tình cảm con người Nhưng xét về chức năng và tính chất của ý thức hệ thì văn học là hình thái ý thức xã hội ít tnh chất ý thức hệ nhất, bởi nó không có tính chất thực tiễn, thực dụng, tính chất quyền lực,
tính chất giản lược, giáo điều, bởi các tnh chất này mâu thuẫn với tính chất
thẩm mĩ Xét về sự hình thành thì văn học, do tnh chất phong phú nhiều
mặt tuy có tư tưởng song hầu như không thể trở thành công cụ tư tưởng củagiai cấp thống trị như các công trình triết học, chính trị học
Althusser đã chỉ ra: “Mọi ý thức đều được tạo nên bởi, và bắt buộc phải
nằm trọn trong hệ tư tưởng Hệ tư tưởng là thứ ta không thể ra khỏi và không
thể thiếu được, chẳng khác gì bầu không khí mà ta hít thở” Việc loại sử ký
nào sẽ tồn tại lại phụ thuộc vào sự thay đổi của các khuynh hướng ý thức
hệ và các giá trị xã hội
Vì vậy việc nhật kí phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn kháng chiếnchống Pháp và giai đoạn kháng chiến chống Mỹ có mối liên hệ mật thiết với ýthức hệ xã hội hay có thể nói nhật kí chịu sự chi phối của ý thức hệ trong giaiđoạn này
Trang 29Xã hội Việt Nam trước khi Pháp xâm lược là một xã hội phong kiếnchuyên chế tập quyền cao độ Nhà Nguyễn khi lên ngôi đã duy trì Nho giáo,
Trang 30xem Nho giáo như là quốc giáo, dùng tư tưởng Nho giáo để thống trị xã hội.Nho giáo dùng luân thường đạo lí để giáo dục xã hội, lấy bổn phận tu thân, tề
gia, trị quốc, bình thiên hạ làm kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử Mục đích của Nho giáo muốn biến con người trở thành những
phần tử đắc lực phụng sự cho nhà nước phong kiến Ðến khi có sự hiện diệncủa thực dân Pháp, tình hình chính trị xã hội đã có nhiều biến đổi nhưng mọivấn đề nêu trên vẫn được tồn tại
Ðến đầu thế kỉ XX, giai cấp phong kiến đã tỏ ra bạc nhược, ươn hèn, cúiđầu làm tay sai cho giặc Hàng ngũ giai cấp thống trị tan rã hoàn toàn Ý thứcphong kiến cũng ngày càng thể hiện tính chất lạc hậu, cổ hủ Với cách nhìncủa các nhà nho tến bộ thời này, nó là sức mạnh cản trở sự phát triển của xãhội Cho nên, các nhà chí sĩ Ðông Kinh Nghĩa Thục đã chủ trương chống lại
tư tưởng phục cổ, sùng bái cổ nhân, giáo điều, có tác hại kìm hãm sự pháttriển của trí tuệ
Mặc dù ý thức hệ phong kiến đã tỏ ra thoái hoá, nhưng trong thực tế, ởgiai đoạn 1900 - 1930, nó vẫn còn cơ sở tồn tại Ở nông thôn, gốc rễ của nóvẫn còn rất sâu Ở thành thị thì nó bắt đầu va chạm với ý thức tư sản vừamới xuất hiện Tuy nhiên, phạm vi còn rất nhỏ hẹp, chỉ giới hạn trong quan
hệ đạo đức gia đình và tình cảm cá nhân
Vào đầu thế kỉ XX, giai cấp tư sản đã ra đời, tư tưởng tư sản cũng xuấthiện Ý thức tư sản còn giới hạn trong phạm vi các thành thị và tỏ ra cònnhiều yếu ớt Ý thức tư sản trong giai đoạn này còn chịu khuất phục ý thứcphong kiến Sự xung đột cũng chỉ xảy ra trong phạm vi cá nhân, gia đình làchủ yếu Vị trí lịch sử của nó không cho phép nó xung đột với ý thức phongkiến trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị Tuy nhiên, vấn đề ảnh hưởng của ýthức hệ tư sản Việt Nam đối với sự phát triển của văn học lại khác: Mặc dùgiai cấp tư sản Việt Nam ở giai đoạn này, bản chất là ốm yếu, phát triển què
Trang 31quặt nhưng đó là sự ốm yếu, què quặt về kinh tế, chính trị, văn hoá Ðối vớicông cuộc hiện đại hoá văn chương Việt Nam, ý thức hệ tư sản đã có một vaitrò xúc tác tích cực.
Nhìn chung, đầu thế kỉ XX, trong xã hội Việt Nam đã có những chuyểnbiến mạnh mẽ từ ý thức hệ phong kiến sang ý thức hệ tư sản Ở giai đoạn 30năm đầu của thế kỉ, ý thức hệ tư sản chưa đủ sức làm thay đổi nền văn hoáphong kiến Việt Nam nhưng trong một mức độ nhất định nó đã góp phầntạo ra những nhân tố thúc đẩy cho sự đổi mới hoàn toàn ở giai đoạn sau, giaiđoạn
1930 - 1945
Vào những thập niên 20, 30, ý thức vô sản đã bắt đầu xuất hiện Nó cómặt do hai điều kiện: Ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga và cáchmạng Trung Quốc thông qua sách báo, đặc biệt là vai trò của Nguyễn ÁiQuốc và một số trí thức tiến bộ đương thời; và sự ra đời của giai cấp vô sảnViệt Nam Nhưng ảnh hưởng của ý thức hệ vô sản chủ yếu mới chỉ là trên đờisống tư tưởng chính trị Ðối với văn học, nhất là văn học giai đoạn này, dĩnhiên nó có ảnh hưởng, hơn nữa còn tạo ra những thành tựu đáng kể nhưngchưa có điều kiện để phát triển Đến giai đoạn 1945 - 1975 ý thức hệ vô
sản đã trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và các tầng lớp xã
hội, ý thức hệ Marx xít trở thành ý thức hệ chủ đạo trong xã hội, chi phối vàảnh hưởng đến văn học một cách mạnh mẽ
Và theo quan điểm của Marx: Ý thức hệ thống trị thời đại là ý thức hệcủa giai cấp thống trị Giai cấp nào thống trị xã hội về mặt vật chất cũngthống trị xã hội về mặt tnh thần, nhưng trong khi chi phối xã hội thì đồngthời nó cũng là của xã hội và chịu sự chi phối trở lại của xã hội Ở Việt Nam
từ năm 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đưa giai cấp công nhân lên lãnh
Trang 32đạo cuộc đấu tranh, ý thức hệ vô sản đã thâm nhập và chi phối toàn xãhội, xoá dần ý thức hệ tư sản.
Trang 33Đặc điểm chung của nhật kí trong gian đoạn này là chịu sự chi phối của
ý thức hệ xã hội Nhật kí chịu sự chi phối của ý thức hệ ở chỗ nó thể hiện nộidung ý thức hệ của mình, đó là sự quan tâm đặc biệt đến thế giới tnh cảm,
tư tưởng, cảm xúc, số phận, sự sống, lí tưởng, khát vọng của con người
Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn của Nguyễn Thi, Nhật ký chiến trường của Dương Thị Xuân Quý, Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc, Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm của Đặng Thuỳ Trâm đều
chịu sự chi phối của ý thức hệ vô sản Bởi nó đều thể hiện hệ tư tưởng củagiai cấp vô sản thông qua lí tưởng, khát vọng, nhận thức, hành động, lời nóicủa mỗi cá nhân người viết, nó còn thể hiện thế giới tnh cảm, cảm xúc, củamỗi người viết trong những chặng đường hành quân gian khổ, qua đó thấyđược sự sống của con người trong chiến tranh, trong mưa bom bão đạn ácliệt của cuộc kháng chiến
2.1.1 Lý tưởng sống
Sống phải có mục đích Sống phải có lý tưởng Nói về tầm quan trọngcủa lý tưởng, nhà văn Nga Lép Tôn-xtôi chỉ rõ: “Lí tưởng là ngọn đèn chỉđường Không có lý tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không
có phương hướng thì không có cuộc sống”
Vậy lý tưởng là gì? Trong cuộc sống vẫn thường nghe thấy người ta hỏinhau rằng: Ngôi trường đại học lý tưởng của bạn là gì, nghề nhiệp lý tưởngcủa bạn là gì, người yêu lý tưởng của bạn là người như thế nào? Và câu trảlời có lẽ mỗi người một khác nhưng giữa chúng luôn có một điểm chung: mọithứ lý tưởng đều rất tốt đẹp Lý tưởng hiểu đơn giản là quan niệm sốngtốt đẹp, mục đích sống cao đẹp nhất mà mỗi con người hướng tới trongcuộc sống này Lý tưởng rất quan trọng đối với bất cứ ai, đối với tất cả mọingười Sống mà không có lý tưởng khác nào đã chết Sống không đơn thuần
Trang 34là việc hít vào thở ra, sống sao cho đúng nghĩa, sống sao cho ý nghĩa, sốngsao để
Trang 35mọi người tôn trọng mình, đừng để mình sống như một loại vi khuẩn kí sinh
vật vờ ngoài lề xã hội Nikolai Ostrovsky trong Thép đã tôi thế ấy đã nói rằng:
“Cái quý giá nhất của con người là cuộc sống Đời người ta chỉ sống có mộtlần, phải sống sao cho khỏi xót xa vì những năm tháng sống hoài sống phí”.Nhật kí chiến tranh đã phản ánh chân thực lý tưởng của một thế hệthanh niên thời bấy giờ, luôn hăm hở, quyết tâm với khẩu hiệu: “Thanhniên phải tắm mình trong ánh hào quang rực rỡ của tương lai” Họ chấpnhận hy sinh lợi ích cá nhân, từ bỏ mọi thuận lợi, sung sướng để đi theo tếnggọi của Tổ quốc: Nguyễn Văn Thạc từ chối đi học để vào chiến trường, ĐặngThùy Trâm không ở lại Hà Nội với một tương lai sáng sủa mà kiên quyếtbám trụ mảnh đất bom cày đạn xới để phục vụ tiền tuyến, Dương Thị XuânQuý đã xung phong vào chiến trường khi con chưa được hai tuổi, HoàngThượng Lân sau khi trở về từ chiến trường với những chiến công chói lọi lại
từ chối một công việc ổn định để xung phong đi B lần thứ 2… Họ lànhững người luôn hết mình cho Tổ quốc, sẵn sàng chiến đấu vì lý tưởng.Nguyễn Văn Thạc cũng giống như biết bao sinh viên thời đó, náo nứcđược đóng góp sức lực của mình cho cách mạng, hồ hởi vào chiến trường vớitâm thế của con người yêu nước, mang lý tưởng quên mình vì Tổ quốc: “Xe
ơi lao nhanh hơn, cho ta chóng tới gia đình lớn Nơi ta gửi gắm cả thời thanhxuân của mình…” [21, tr 34] Anh Thạc đã hy sinh những lợi ích cá nhân, anhnói với những đứa em mà cũng là nói với chính lòng mình: “Em ơi, tất cảnhững niềm vui bé nhỏ đó, phải biết hy sinh Nếu em muốn đi xa hơnnữa Đất nước gọi em, và chìa tay đón em vào lòng, với ước mong em là đứacon khỏe mạnh và có ích Em hãy biết bỏ qua những điều không nhỏ mà nắmlấy cái gì lớn nhất mà cánh tay em có thể dâng trọn cho Tổ quốc” [21, tr 145].Khoác lên mình màu xanh áo lính, chiếc mũ có ngôi sao tổ quốc anh vô cùng
Trang 36tự hào hạnh phúc và đầy quyết tâm: “Vui sướng, tự hào, cảm động làmsao
Trang 37khi trên người ta là bộ quân phục xanh màu lá… Màu xanh bất diệt của sựsống.”, “Trên mũ là ngôi sao… Bây giờ ta đọc trong ngôi sao ấy, ánh lửa cầuvồng của trận công đồn, màu đỏ của lửa, của máu… Ta như thấy trong màu kìdiệu ấy, có cả hồng cầu của trái tim ta… Ai ra đi cũng với lòng say lý tưởng,
và nhè nhẹ bên trong là chút ước mơ” [21, tr 34] Thậm chí, khi đã thật sựlàm anh lính thông tin nhưng chưa chính thức được ra mặt trận, anh cònthấy xấu hổ khi mình chưa cầm súng giết chết tên giặc nào: “Ta biết giấu mặtvào đâu, vào gấu quần hay gấu áo, khi đường Trường Sơn không có dấuchân ta? Khi cả cuộc đời ta chưa có niềm vui mãnh liệt của người chiếnthắng, cắm cờ Tổ quốc trên cả nước thân yêu” [21, tr 53]
Đặng Thùy Trâm cũng đã tâm sự trong những trang nhật kí về lý tưởng
và mục đích chiến đấu của mình: “Con cũng là một trong muôn nghìn người
đó, con sống chiến đấu và nghĩ rằng mình sẽ ngã xuống vì ngày mai của dântộc Ngày mai trong tiếng ca khải hoàn sẽ không có con đâu Con tự hào vì đãdâng trọn đời mình cho Tổ quốc Dĩ nhiên con cũng cay đắng vì không đượcsống tiếp cuộc sống hòa bình hạnh phúc mà mọi người trong đó có con đã đổmáu xương để giành lại Nhưng có gì đâu, hàng triệu người như con đã ngãxuống mà chưa hề được hưởng trọn lấy một ngày hạnh phúc Cho nên có ânhận gì đâu.” [25, tr 167] Hay có khi là lời tự vấn đầy tâm trạng: “Tuổi xuâncủa mình đã qua đi trong lửa khói, chiến tranh đã cướp mất hạnh phúctrong tình yêu và tuổi trẻ Ai lại không tha thiết với mùa xuân, ai lại khôngmuốn cái sáng ngời trong đôi mắt và trên đôi môi căng mọng khi cuộc đờicòn ở tuổi hai mươi? Nhưng… tuổi hai mươi của thời đại này đã phải dẹp lạinhững ước mơ hạnh phúc mà lẽ ra họ phải có… Ước mơ bây giờ là đánhthắng giặc Mỹ, là Độc lập, Tự do của đất nước” [25, tr 206]
Nguyễn Huy Tưởng cũng là một người luôn vì nước, vì dân, lúc nào
Trang 38cũng hết lòng vì nghệ thuật, ông muốn cống hiến cho đời những tác phẩmvĩ
Trang 39đại: “Đã đến lúc làm những tác phẩm lớn Định lại cuộc đời.” hay “Đêm nằmtrằn trọc: lo còn bao nhiêu tác phẩm Mà mình đã già rồi! Những tác phẩm
đồ sộ Dầy như Chiến tranh và hoà bình” [28, tr 119] Ông ôm ấp lí tưởng lớn:
“Ta muốn duyệt lại các tác phẩm cổ điển Muốn duyệt lại đường lối chínhsách cải cách ruộng đất Phủ nhận tác dụng của chỉnh huấn: nguồn gốccủa sai lầm trong cải cách ruộng đất” Lí tưởng ấy thật cao quý, ông muốnmang hết tài năng và sức lực của mình cống hiến, phục vụ cho Đảng chonhân dân, cho cách mạng, muốn nhân dân được hưởng ấm no và hạnh phúc.Những chàng trai, cô gái rời xa những người thân yêu, rời xa giảngđường đi theo tếng gọi của Tổ quốc, vào nơi chiến trường khốc liệt nhất, nơi
mà thiếu thốn đủ mọi thứ thiết yếu nhất như cơm ăn, nước uống và luônluôn phải đối diện với cái chết, với nguy hiểm… nhưng họ không hề bi lụy.Tuy vẫn có những khi dao động, nản chí trước khó khăn, song rất nhanhchóng những chiến sỹ của chúng ta đã lấy lại tnh thần, họ luôn luôn lạc quanvượt qua mọi khó khăn và tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng, sự lãnh đạocủa Đảng Những ngày tháng hành quân gian khổ qua các vùng miền, gặp gỡnhững người dân, người đồng đội đã giúp Nguyễn Văn Thạc trưởng thành lênnhiều, anh đã dần dần hòa mình vào cuộc kháng chiến và an tâm, phấn khởi,mong muốn được ra trận để góp sức mình một cách cụ thể hơn nữa chokháng chiến Anh tự hứa với mình hãy sống như một Đảng viên, hãy đóng góphết sức những gì mình có thể làm cho đất nước, thế là đủ để anh tự hào rồi.Hiện thực trên mảnh đất Đức Phổ cũng đưa Đặng Thùy Trâm trở lại với niềmyêu đời và sự tích cực vốn có: “Hãy nhìn lại đi, bên cạnh Thùy có bao nhiêuđồng chí, bao nhiêu thanh niên đã cống hiến tuổi trẻ của họ cho cách mạng,
họ ngã xuống mà chưa được hưởng hạnh phúc Sao Th lại nghĩ đến riêng tư?Đừng nghĩ đến miền Bắc, hãy nhìn ở đây, ở đây mảnh đất còn nóng bỏng đạnbom, đau thương và lửa khói này” [25, tr 106]
Trang 40Dương Thị Xuân Quý rất nhanh chóng xốc lại tinh thần, đạp bằng mọigian khó, như sức mạnh của sự sống: “Khi sức sống đã dồi dào, có lẽ chả cósức mạnh độc ác nào vùi dập nổi sự vươn lên… Những chồi non mạnh khỏekhông hề biết sợ… Đáng sợ nhất là lòng ta nguội lạnh, chính ta tự hủy nhựasống trong ta Còn nếu ta vẫn nguyên vẹn nhiệt tnh và sức sống thìkhông một thế lực nào, một sự tàn phá nào, một khó khăn nào khiến ta chùnbước, khiến ta gục ngã” [16, tr 139].
Họ là những con người sống với lý tưởng cao quý Họ là những conngười tràn đầy nhiệt huyết với lý tưởng của Đảng cộng sản, với tinh thần yêunước và với tấm lòng cao thượng
2.1.2 Quan niệm đạo đức
Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó giúp conngười tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộngđồng của xã hội
Ý thức đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hộidưới dạng quan niệm về về thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc và
về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xãhội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội
Đặc điểm của ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội một cách gián tiếpdưới dạng quy tắc điều chỉnh (bằng dư luận xã hội) hành vi của con người
Ý thức đạo đức được hình thành rất sớm trong xã hội nguyên thuỷ Đạođức trong xã hội cộng sản nguyên thủy phụ thuộc vào những điều kiện sinhhoạt vật chất, phương thức tm kiếm và phân phối những phúc lợi cầnthiết đến trình độ thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt của con người
Đạo đức trong xã hội chiếm hữu nô lệ là đạo đức của nô lệ và đạođức của chủ nô Tầng lớp người có đặc quyền, đặc lợi cho phép mình được làngười “có đức hạnh, người thượng lưu, quí tộc” còn những người nô lệ là