TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA SINH - KTNN---***--- DƯƠNG THỊ KIỀU OANH BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, GIẢI PHẪU LOÀI KHÔI TÍA ARDISIA SILESTRIS PITARD TẠI VƯỜN THỰC NGHIỆM
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN -*** -
DƯƠNG THỊ KIỀU OANH
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI,
GIẢI PHẪU LOÀI KHÔI TÍA (ARDISIA SILESTRIS
PITARD) TẠI VƯỜN THỰC NGHIỆM KHOA SINH
-KTNN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
HÀ NỘI, 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN -*** -
DƯƠNG THỊ KIỀU OANH
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI,
GIẢI PHẪU LOÀI KHÔI TÍA (ARDISIA SILESTRIS
PITARD) TẠI VƯỜN THỰC NGHIỆM KHOA SINH KTNN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Người hướng dẫn khoa học:
TS ĐỖ THỊ LAN HƯƠNG
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Đỗ Thị Lan Hương đã
tận tình hướng dẫn em để hoàn thành khoá luận này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ Thực vật – Vi sinh,khoa Sinh - KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Viện sinh thái và tàinguyên sinh vật đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình làm đề tài vàhoàn thành khóa luận này
Vì lần đầu tiên bước vào làm nghiên cứu nên không tránh khỏi nhữngthiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn sinhviên để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Xuân Hòa, ngày 15 tháng 4 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Dương Thị Kiều Oanh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Đỗ Thị
Lan Hương.
Tôi xin cam đoan:
- Đây là kết quả của tôi nghiên cứu
- Kết quả này không trùng với kết quả nghiên cứu của bất kì tác giảnào đã được công bố
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Xuân Hòa, ngày 15 tháng 4 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Dương Thị Kiều Oanh
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục ảnh
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 1
3 Ý nghĩa của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình sử dụng cây thuốc trên thế giới 3
1.2 Tình hình sử dụng thuốc ở Việt Nam 5
1.3 Nghiên cứu hình thái và giải phẫu thực vật trên thế giới 7
1.4 Nghiên cứu hình thái và giải phẫu thực vật ở Việt Nam 8
1.5 Những nghiên cứu loài Khôi tía (Ardisia silvestris Pit.) 10
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 Đối tượng nghiên cứu 12
2 2 Phạm vi nghiên cứu 12
2 3 Thời gian nghiên cứu 12
2 4 Nội dung nghiên cứu 12
2.5 Phương pháp nghiên cứu 12
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 14
3.1 Đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của loài Khôi tía (Ardisia silvestris Pitard) 14
3.1.1 Đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của rễ 14
3.1.1.1.Đặc điểm hình thái của rễ 14
Trang 63.1.1.2 Cấu tạo giải phẫu rễ 15
3.1.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của thân 18
3.1.2.1 Đặc điểm hình thái của thân 18
3.1.2.2 Cấu tạo giải phẫu của thân 18
3.1.3 Đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của lá 21
3.1.3.1 Đặc điểm hình thái của lá 21
3.1.3.2 Cấu tạo giải phẫu của lá 22
3.1.4 Đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của hoa 24
3.1.4.1 Đặc điểm hình thái của hoa 24
3.1.4.2 Cấu tạo giải phẫu của hoa 25
3.1.5 Đặc điểm hình thái của quả 27
3.2 Giá trị tài nguyên của loài Khôi tía 27
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 29
1 Kết luận 29
2 Đề nghị 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 D.T.K Oanh Dương Thị Kiều Oanh
2 Đ.T.L Hương Đỗ Thị Lan Hương
Trang 8DANH MỤC ẢNH
Ảnh 1: Rễ loài khôi (Nguồn Đàm Thị Thắm) 15
Ảnh 2: Một phần lát cắt ngang rễ loài Khôi (Nguồn D.T.K Oanh) 16
Ảnh 3: Cắt ngang cấu tạo rễ sơ cấp loài Khôi (Nguồn D.T.K Oanh) 16
Ảnh 4: Một phần cấu tạo rễ thứ cấp loài Khôi (Nguồn D.T.K Oanh) 18
Ảnh 5: Cắt ngang rễ thứ cấp loài Khôi (Nguồn D.T.K Oanh) 18
Ảnh 6: Dạng sống thân loài Khôi tía (Nguồn: D.T.K Oanh) 19
Ảnh 7: Một phần lát cắt ngang thân sơ cấp loài Khôi (Nguồn D.T.K Oanh) 20 Ảnh 8: Cắt ngang thân sơ cấp loài Khôi (Nguồn D.T.K Oanh) 20
Ảnh 9: Cắt ngang thân thứ cấp loài Khôi (Nguồn D.T.K Oanh) 22
Ảnh 10: Một phần thân thứ cấp loài Khôi (Nguồn D.T.K Oanh) 22
Ảnh 11: Mặt trên và mặt dưới của lá loài Khôi (Nguồn Đ.T.L Hương) 23
Ảnh 12: Cấu tạo cuống lá loài Khôi (Nguồn D.T.K Oanh) 24
Ảnh 13: Một phần cấu tạo cuống lá loài Khôi (Nguồn D.T.K Oanh) 24
Ảnh 14: Lát cắt ngang gân chính lá loài Khôi (Nguồn D.T.K Oanh) 24
Ảnh 15: Một phần phiến lá loài Khôi (Nguồn D.T.K Oanh) 24
Ảnh 16: Biểu bì thùy phiến lá (Nguồn Đỗ Thị Lan Hương) 25
Ảnh 17: Nụ và hoa loài Khôi tía (Nguồn D.T.K Oanh) 26
Ảnh 18: Kích thước một bông hoa (Nguồn D.T.K Oanh) 26
Ảnh 19: Đài hoa (Nguồn D.T.K Oanh) 26
Ảnh 20: Tràng hoa (Nguồn D.T.K Oanh) 27
Ảnh 21: Nhị hoa (Nguồn D.T.K Oanh) 27
Ảnh 22: Bầu và vòi nhụy (Nguồn D.T.K Oanh) 27
Ảnh 23: Quả cây Khôi (Nguồn internet) 28
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam là quốc gia có lượng cây thuốc rất phong phú và đa dạng, sốlượng cây thuốc được các nhà khoa học phát hiện và nghiên cứu ngày càngnhiều, làm phong phú nguồn dược liệu của nền y học cổ truyền dân tộc.Nước ta với 54 dân tộc anh em sống trên mọi miền của Tổ quốc, ở mỗi nơingười dân đều có cách sử dụng cây thuốc khác nhau, tiềm ẩn nhiều câythuốc quý mà chúng ta chưa biết đến Phần lớn các cây thuốc đã đượcnghiên cứu thỏa đáng đáp ứng nhu cầu nguồn dược liệu phục vụ khám chữabệnh cho người dân
Loài Khôi tía (Ardisia silvestris Pitard) tên gọi khác Khôi nhung hay
Cơm nguội rừng, thuộc họ Đơn nem (Myrsinaceae), bộ Anh thảo (Primulales)
là một trong những loài được dùng làm thuốc trong dân gian từ lâu Thànhphần hóa học chính của lá Khôi là tanin có công dụng trung hòa, làm giảm độacid của dạ dày, giảm đau, đặc biệt có tác dụng làm se vết loét, kích thíchlên da non và làm lành vết thương nên được dùng để trị viêm loét dạ dày tátràng [4]
Hiện nay, nhu cầu sử dụng để chữa bệnh về dạ dày ngày càng cao màloài Khôi tía thường mọc trên các vùng núi cao khó gặp, do vậy, để giúp cácnhà nghiên cứu dễ dàng nhận biết được loài cây này, chúng tôi chọn đề tài:
“Bước đầu nghiên cứu đặc điểm hình thái, giải phẫu loài Khôi tía (Ardisia
silvestris Pitard) trồng tại vườn thực nghiệm khoa Sinh – KTNN trường Đại học Hà Nội 2”.
2 Mục tiêu của đề tài
- Mô tả đặc điểm hình thái của loài Khôi tía
- Mô tả cấu tạo giải phẫu cơ quan sinh dưỡng (rễ, thân, lá) và cơ quan
Trang 10- Giá trị tài nguyên của loài Khôi tía.
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Bổ sung kiến thức về hình thái, cấu tạo giải phẫu và giá trị tài nguyên
của loài Khôi tía (Ardisia silvestris Pit.).
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả đạt được làm phong phú thêm dẫn liệu về hình thái, giải phẫu các loài thực vật Có khả năng nhận dạng nhanh loài Khôi tía trong thực tế
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Tình hình sử dụng cây thuốc trên thế giới
Từ thời xa xưa các loại thảo mộc đã được đánh giá cao do chúng có khảnăng làm giảm đau các vết thương và chữa bệnh, ngày nay chúng ta vẫn còndựa vào đặc tính chữa bệnh của các loài thảo mộc để bào chế khoảng 75% cácloại thuốc
Người ta ước lượng hiện nay có khoảng 35.000-70.000 loài trong số250.000-300.000 loài cây cỏ được sử dụng vào mục đích chữa bệnh khắp nơitrên thế giới Trong đó, Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng7.500 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài,Nepal có hơn 700 loài, Srilanca có khoảng 550-700 loài Lê Đình Bích, TrầnVăn Ơn (2007) [5]
Tính chất đa dạng và hoàn hảo của một số cây cỏ kết hợp với các liệupháp chữa trị mang lại kết quả thật đáng ngạc nhiên Khoảng 7.000 loài cây
cỏ từ các loài địa y đến các loài cây cao trót vót, từ thực vật bậc thấp đến thựcvật bậc cao đều được sử dụng với mục đích y học
Trong y học Ayurveda (y học cổ truyền Ấn Độ) có khoảng 2.000 loàicây có tác dụng làm thuốc và trong danh mục dược phẩm của người TrungQuốc có hơn 5.700 loại thuốc cổ truyền, hầu hết đều có nguồn gốc từ cây cỏ.Vào đầu thế kỉ thứ II người Trung Quốc biết sử dụng nước chè đặc để rửa vếtthương và tắm ghẻ [20]
Vào thế kỷ thứ XVI, lý Thời Trân đã thống kê được 12.000 vị thuốctrong tập “Bản thảo cương mục” [5] Nhật Bản với lịch sử y học cổ truyềnhơn 1.400 năm được xem là nước có tỷ lệ sử dụng y học cổ truyền cao nhấtthế giới hiện nay [6]
Thời La Mã các chiến binh đã biết dùng dịch cây Lô hội để rửa vếtthương, vết loét, giúp chóng liền sẹo mà ngày nay khoa học hiện đại đã chứng
Trang 12minh là dịch cất có tác dụng liền sẹo thông qua cơ chế kích thích tổ chức hạt
và tăng nhanh quá trình biểu mô hóa [9, 20]
Ở Nga, Đức, Trung Quốc dùng cây Mã đề sắc nước hoặc giã lá tươi đắptrị vết thương, viêm đường tiết niệu, sỏi thận [20]
Ở Campuchia, Malaysia dùng cây Hương nhu tía để trị đau bụng, sốt rét,nước lá tươi trị long đờm hoặc lá dã nát trị ngoài ra và đau khớp [25]
Cùng với cách thức chữa bệnh bằng y học cổ truyền thì các nhà khoahọc trên thế giới còn đi sâu vào tìm cơ chế, các hợp chất hóa học trong cây
cỏ có tác dụng chữa bệnh, làm cơ sở cho việc sản xuất các dược phẩm mớichữa trị các bệnh với chi phí rẻ và thời gian ngắn nhất Khi quan sát hiện tượngkhông mắc chứng Ascorbus của thổ dân Bắc Âu vào mùa đông, các nhà khoahọc đã phát hiện được nguyên nhân chống được bệnh này là do thổ dân thường
xuyên uống nước nấu bằng lá cây thông (Pinus sylvestris) Họ đã nghiên cứu
và chiết suất thành công một loại axit chống lại chứng Ascorbus (vitamin C)
Hiện nay việc điều tra, nghiên cứu sàng lọc các bài thuốc, cây thuốc cổtruyền để sản xuất cá loại thuốc mới đang được đẩy mạnh ở nhiều nước trênthế giới Như hãng dược phẩm Biotech (Vương quốc Bỉ) mỗi năm điều tra vàsàng lọc khoảng 1.500 - 2.000 loài cây thuốc từ các quốc gia trên thế giới
Trong đời sống chúng ta, việc sử dụng thảo dược ngày càng được coitrọng Tổ chức Y tế thế giới (WHO) dự đoán có khoảng 80% dân số thế giới
sử dụng cây thuốc trong việc chăm sóc sức khỏe ban đầu, ở Buhtan có hơn2.900 loài cây thuốc cổ truyền được sử dụng, khoảng 70 nguyên liệu thảodược khô có thể sử dụng ngay được, hơn 300 sản phẩm thảo dược được sảnxuất tại đây [15], Châu Phi có tới 80% dân số đã sử dụng cây thuốc để chămsóc sức khỏe [17]
Theo số liệu năm 1991, Trung quốc đã sử dụng 700 nghìn tán nguyênliệu thực vật để làm thuốc, 80% trong số đó thu hái từ cây hoang dại [16]
Trang 13Ngay như ở một số nước có nền Y học phát triển như Châu Âu, Bắc Mỹ, cácnước có nền công nghiệp phát triển thì cũng có tới 50% dân số đã sử dụng câythuốc ít nhất một lần để chữa bệnh [17].
Khoảng 20 năm trở lại đây, ngành thảo dược phát triển chưa từng cótrong lịch sử, các loài cây cỏ đã chiếm thành phần chính trong các loại thuốc
ở các nước đang phát triển và dần lan rộng khắp thế giới, vì con người đangđấu tranh để bảo vệ sức khỏe trên các lĩnh vực ô nhiễm môi trường, giảmthiểu căng thẳng và chữa bệnh bằng các loại thảo dược phối hợp với hệ thốngphòng vệ của cơ thể Hiện nay khoảng 80 triệu người trên thế giới đã sử dụngcác loài thảo dược (như cây Bạch quả , cây Atiso, ) giúp cho duy trì sự khỏemạnh cho tinh thần và thể lực
Để phục vụ cho mục đích chăm sóc sức khỏe của con người, để chốnglại bệnh tật và nhất là các bệnh nan y, thì cần thiết phải có sự kết hợp giữaviệc phòng và chữa bệnh bằng cách dùng thảo dược trong Y học cổ truyền và
Y học hiện đại Dựa trên những kinh nghiệm chữa bệnh bằng thảo dượctruyền thống, mà từ đó các nhà khoa học có thể khám phá ra các loại tân dượcmới có ích cho tương lai
1.2 Tình hình sử dụng thuốc ở Việt Nam
Theo tài liệu của Pháp trước năm 1952, toàn Đông Dương có 1350
loài cây làm thuốc, trong 160 họ thực vật Bộ sách “Những cây thuốc và vị
thuốc Việt Nam” của GS Đỗ Tất Lợi in lần thứ 8 năm 1999, giới thiệu 800
vị thuốc Bộ sách “Cây thuốc Việt Nam” của lương y Lê Trần Đức có ghi
830 loài cây thuốc
Theo kết quả điều tra của Viện Dược Liệu gần đây, được ghi nhận được3.948 loài thực vật và nấm lớn có công dụng làm thuốc; 52 loài tảo biển, 408loài động vật và 75 loại khoáng vật có công dụng làm thuốc ở Việt Nam [17] Trong tổng số 3.948 loài cây thuốc, gần 90% là cây thuốc mọc tự nhiên, tập
Trang 14trung chủ yếu trong các quần xã rừng, chỉ có gần 10% là cây thuốc trồng.Theo số liệu thống kê của ngành Y tế, mỗi năm ở Việt Nam tiêu thụ từ 30 - 50tấn các loại dược liệu khác nhau, để sử dụng trong y học cổ truyền làmnguyên liệu cho công nghiệp Dược và xuất khẩu Trong đó, trên 2/3 khốilượng này được khai thác từ nguồn cây thuốc mọc tự nhiên và trồng trọt trongnước Riêng từ nguồn cây thuốc tự nhiên đã cung cấp tới trên 20.000 tấn mỗinăm Khối lượng dược liệu này trên thực tế mới chỉ bao gồm từ hơn 200 loàiđược khai thác và đưa vào thương mại có tính phổ biến hiện nay Bên cạnh
đó, còn nhiều loài dược liệu khác vẫn được thu hái, sử dụng tại chỗ trongcộng đồng và hiện chưa có những con số thống kê cụ thể [17]
Việt Nam có sự đa dạng về chủng loại cây dược liệu (trong số hơn12.000 loài thực vật thì có gần 4.000 loài cho công dụng làm thuốc), vùngphân bố rộng khắp cả nước, có nhiều loài dược liệu được xếp vào loài quý vàhiếm trên thế giới như: sâm ngọc linh, sâm vũ diệp, tam thất hoang…
Dược liệu thuốc Nam sẽ đưa ngành dược Việt Nam hội nhập quốc tế Thịtrường tiêu thụ dược liệu và các sản phẩm dược liệu là rộng lớn do thói quen
và truyền thống phòng và chữa bệnh bằng y học cổ truyền của nhân dân Hiệnnay không chỉ Việt Nam mà trên thế giới với xu hướng trở về thiên nhiên thìviệc sử dụng các thuốc từ dược liệu của người dân ngày càng tăng hơn so vớiviệc sử dụng thuốc tân dược ít tác hại hơn và phù hợp với quy luật sinh lý của
cơ thể Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khoảng 80% dân số tại các quốcgia đang phát triển, việc chăm sóc sức khoẻ ít nhiều có liên quan đến YHCThoặc thuốc từ dược thảo truyền thống để bảo vệ sức khoẻ Tại Việt Nam, nhucầu dược liệu trong nước khoảng gần 60.000 tấn một năm, trong đó, ViệtNam mới chỉ cung cấp được cho thị trường khoảng 15.600 tấn một năm, phầncòn lại (khoảng 70%) phải nhập khẩu từ Trung Quốc, Đài Loan, Singapore
Trang 151.3 Nghiên cứu hình thái và giải phẫu thực vật trên thế giới
Thực vật có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người cũng như cácsinh vật khác trên trái đất: điều hòa khí hậu, cung cấp khí oxi cho sự sống vàlương thực, thực phẩm, dược liệu, Để tận dụng được những lợi ích mà thựcvật đem lại, con người ngày càng có nhu cầu hiểu biết nhiều hơn về nó
Cách đây hơn 3000 năm, ở Trung Quốc, các sách cổ như “Kinh thi” đã
mô tả hình thái và giai đoạn sống của nhiều loại cây Thế kỉ XI trước Công
nguyên, một pho sách cổ ở Ấn Độ “Suscơruta” đã mô tả hình thái của 760
loại cây thuốc [2].
Théophraste (371-286 trước công nguyên) viết nhiều sách về thực vật
như “Lịch sử thực vật”, “Nghiên cứu về cây cỏ”, … đã đề cập đến hình thái,
cấu tạo cơ thể thực vật cùng cùng nhiều cách sống, cách trồng, công dụng,kiến thức phân biệt cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản
Thế kỷ XVII, Robert Hook phát minh ra kính hiển vi mở đầu cho giai
đoạn mới nghiên cứu về tế bào và cuối cùng đưa đến “Học thuyết tế bào”
(1838) [7].
Giữa thế kỷ XIX, công trình nghiên cứu về thực vật có hạt củaHoffmeister phân biệt được thực vật hạt trần và thực vật hạt kín, xác địnhquy luật chung cho thực vật trong chu trình sống dưới hình thức xen kẽ thế
hệ, góp phần vào việc giải thích sự tiến hóa của giới thực vật
Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhà sinh học người NgaTchitiacov phát hiện ra sự phân chia gián phân của tế bào, tiếp đến làGherasimov phát hiện ra vai trò của nhân tế bào [7]
Năm 1898, Navasin phát hiện ra sự thụ tinh đôi ở thực vật Hạt kín.Vào những năm 70 của thế kỷ XX, các nhà sinh vật học Malpigi
(người Ý) và Grew (người Anh) đã công bố công trình nghiên cứu “Giải
phẫu thực vật” và được xem là bước mở đầu cho khoa học về giải phẫu thực
vật hiện nay
Trang 16Năm 1877, De Barry đã xuất bản cuốn “Giải phẫu so sánh các cơ quan
sinh dưỡng” Trong cuốn sách này, ông đã phân biệt được các mô, túi tiết,
mạch, ống nhựa mủ… [2]
Cuốn “Giải phẫu thực vật” của Katherien Esau đã mô tả giải phẫu cơ
quan dinh dưỡng và sinh sản của một số loài cây thân leo thuộc lớp Hai lámầm như: Mộc hương, Bí ngô, Nho trồng, … và qua đó đã cho thấy cấu tạogiải phẫu liên quan đến chức năng của rễ hấp thụ, rễ dự trữ [5, 6]
Vào nửa sau của thế kỷ XX, việc nghiên cứu hình thái và giải phẫuthực vật được đẩy mạnh và được áp dụng cho các ngành khác như: phân loại,sinh lý, sinh thái học thực vật…
1.4 Nghiên cứu hình thái và giải phẫu thực vật ở Việt Nam
Việt Nam được coi là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Ágiàu về đa dạng sinh học Ở Việt Nam do sự khác biệt lớn về khí hậu từ vùnggần Xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đãtạo nên sự đa dạng về thiên nhiên và cũng do đó mà Việt Nam có tính đa dạngsinh học cao Cho đến nay đã thống kê được 10.484 loài thực vật bậc cao cómạch khoảng 800 loài rêu và 600 loài nấm Theo dự đoán của các nhà thựcvật học số loài thực vật bậc cao có mạch ít nhất sẽ lên đến 12.000 loài, trong
đó có khoảng 2.300 loài đã được nhân dân dùng làm nguồn lương thực, thựcphẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, tinh dầu và nhiều nguyênvật liệu khác Chắc chắn rằng hệ thực vật Việt Nam còn nhiều loài mà chúng
ta chưa biệt công dụng của chúng Cũng có thể có rất nhiều loài có tiềm năngnhư một nguồn cung cấp dược liệu hết sức quan trọng [22]
Từ xa xưa, nhân dân ta đã có kiến thức rất phong phú về thực vật, đặcbiệt là sử dụng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh Lê Quý Đôn (thế kỷ XVI) trong
bộ “Vân đài loại ngữ” đã mô tả chi tiết khá nhiều loại cây Tiếp đến là Nguyễn Trữ đã đi sâu hơn về thực vật trong cuốn “Việt Nam thực vật học”.
Trang 17Những năm gần đây, việc nghiên cứu và giảng dạy hình thái giải phẫu
đã được chú ý ở các trường Phổ thông và Đại học Nhiều cuốn sách của cáctác giả trong nước đã được xuất bản để phục vụ cho việc dạy và học, nghiên
cứu Năm 1980, giáo trình “Hình thái giải phẫu thực vật” của Hoàng Thị Sản,
Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Tề Chỉnh được xuất bản [7] Trong đó đã đề cậptới đặc điểm cấu tạo và sự phát triển chung của cơ thể thực vật, đồng thờicũng đưa ra nhiều dẫn liệu về hình thái, giải phẫu thích nghi của loài
Năm 1970, Phan Nguyên Hồng đã mô tả hình thái và cấu tạo giải phẫucủa một số cơ quan của các loài ngập mặn theo hướng thích nghi trong đề tài
“Nghiên cứu đa dạng sinh học và sự thích nghi trong hệ sinh thái rừng ngập
mặn” [2].
Năm 1999, Nguyễn Thị Hồng Liên trong luận văn cao học “Cấu tạo
giải phẫu thích nghi cơ quan sinh sản của cây Trang” đã tìm ra đặc điểm
thích nghi sinh sản của một số loài cây họ Đước trong điều kiện bãi lầy ngậpmặn Cùng năm đó, Lê Xuân Tuấn nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng
và giải phẫu ở loài Bần chua, Trang, Tra làm chiếu, tác giả đã mô tả đặc điểmchung của thân cây Hai lá mầm và chỉ ra một số sai khác [2]
Năm 2002, Phan Thị Bích Hà nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu khả năng
chuyển cây dừa nước từ Miền Nam ra trồng trên một số vùng rừng gập mặn ở Miền Bắc”, tác giả đã chỉ ra được một số đặc điểm cấu trúc thích nghi nghi
với điều kiện chịu hạn, chịu nhiều tác động cơ học nên lá cứng, giòn và cácnghiên cứu về cấu tạo giải phẫu rễ, thân, lá của cây Dừa nước ở các vùng khíhậu khác nhau [2]
Ngoài các nghiên cứu của các tác giả trên, các nghiên cứu về hình tháigiải phẫu thích nghi với chức năng của cơ quan sinh dưỡng bước đầu cũngđược nghiên cứu một cách cụ thể Năm 2004, TS Đỗ Thị Lan Hương đãnghiên cứu đặc điểm hình thái, cấu tạo giải phẫu thích nghi với chức năng của
Trang 18một số cây trong 3 họ Bầu bí, Củ nâu và Khoai lang; tác giả Nguyễn VănQuyền (2008) nghiên cứu đặc điểm hình thái, giải phẫu thích nghi và sinh lýcủa một số loài thuộc họ Cau [2].
Năm 2002, Đỗ Thị Lan Hương trong luận án tiến sĩ “Nghiên cứu đặc
điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của một số loại cây dây leo thuộc miền bắc Việt Nam” đã tìm ra đặc điểm thích nghi của một số loài dây leo thảo
sống trong điều kiện khác nhau [2]
1.5 Những nghiên cứu loài Khôi tía (Ardisia silvestris Pit.)
ra còn dùng chữa chứng ăn khó tiêu hay bị đầy bụng Kết quả khảo sát trênmột số tuyến đã phát hiện cây lá Khôi tại khu vực suối Cao Lồ thuộc đảo BaMùn; khu vực đảo Sậu Đông Trong nhiều năm qua, các lái buôn trong vùng
tổ chức thu mua để xuất bán sang Trung Quốc, nên cây lá Khôi tía bị khaithác cạn kiệt [26]
1.5.2 Ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về loài Khôi tía ở Việt Nam hầu hết đềunghiên cứu về đặc điểm hình thái, phân bố, mùa hoa quả và tác dụng làmthuốc mà chưa có ai nghiên cứu về cấu tạo giải phẫu của loài này
Đỗ Tất Lợi (1995) “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” đã mô tảcây, khu phân bố, thu hái và chế biến làm thuốc Ở đây tác giả đưa thêm dẫnliệu về thành phần hóa học chủ yếu trong cây Khôi do Viện Đông y và Bộmôn Dược lý của trường ĐH Y cung cấp là Tanin và glucozit [4]
Trang 19Lê Trần Đức (1997) trong cuốn sách “Cây thuốc Việt Nam” đã mô tả
và nêu các công dụng làm thuốc của cây Khôi Tác giả đã bổ sung thêm bàithuốc: Lá khôi dùng với lá Vối, lá Hòe nấu nước tắm cho trẻ để phòng và trị
lở ngứa (Bách gia trân tàng) [10]
Phạm Hoàng Hộ (1999) trong “Cây cỏ Việt Nam” mô tả đặc điểm nhận
biết cây Khôi tía kèm theo hình vẽ [16]
Trần Thị Kim Liên (2002, 2003) trong “Thực vật trí Việt Nam, họ Đơn
nem” đã mô tả cây, khu phân bố, giá trị sử dụng kèm hình vẽ về các cơ quan
bộ phận trên cây Trong cuốn này, tác giả đã nêu thêm vài công dụng kháccủa loài Khôi [20]
Đặng Thị Minh (2013) “Nghiên cứu kĩ thuật nhân giống cây lá Khôi
bằng phương pháp giâm hom tại xã Tiên Kiều, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang” đã nhân giống cây Khôi thành công bằng phương pháp giâm hom [1].
Lê Thị Thanh Hương và cộng sự (2012) “Thực trạng các loài cây thuốc
quý hiếm tại tỉnh Thái Nguyên” đã đánh giá loài này bị khai thác cạn kiệt, số
lượng cây trong tỉnh chỉ còn một vài cây [11]
Phạm Hồng Ban, Nguyễn Thượng Hải (2013) “Cây thuốc truyền thống
của đồng bào dân tộc Thái ở hai huyện Quỳ Hợp và Quế Phong, miền núi tỉnh Nghệ An” cũng đã đánh giá loài Khôi tía ở khu vực này là sẽ nguy cấp cần
được bảo tồn [17]
Hiện nay, loài Khôi tía được đánh giá là sẽ nguy cấp Mức độ đe dọa:bậc V Tuy phân bố nhiều nơi nhưng số lượng không nhiều do tái sinh hạtkém, lại bị khai thác với số lượng lớn nên mất nguồn hạt để tái sinh Mặt khácnhững nơi có cây con mọc lại bị khai thác phá rừng mạnh nên có thể bị tuyệtchủng vì không còn môi trường sống thích hợp Do vậy, biện pháp bảo vệđược khuyến nghị là chỉ khai thác ở mức độ và giữ lại những cây con chưađến tuổi thu hái Cấm khai thác loài này trong vườn quốc gia Cúc Phương,Tam Đảo Nên tổ chức gây trồng để lấy nguyên liệu làm thuốc [6]
Trang 20Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Cây Khôi tía (Ardisia silvestris Pitard) thuộc chi Trọng đũa (Ardisia)
của phân họ Xay (Myrsinoideae), họ Đơn nem (Primulaceae), bộ Anh thảo(Primulales)
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Vườn thực nghiệm Sinh học của khoa Sinh - KTNN Trường Đại học Sưphạm Hà Nội 2 và các vùng có loài Khôi tía trong tự nhiên ở Việt Nam (thôngqua các chuyến đi thực địa)
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 04/2016 - 05/2017
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Phân tích đặc điểm hình thái loài Khôi tía (Ardisia silvestris) ở Việt
Nam
- Phân tích cấu tạo giải phẫu cơ quan sinh dưỡng (rễ, thân, lá) và cơ quan
sinh sản (hoa, quả) của loài Khôi tía (Ardisia silvestris) ở Việt Nam.
- Tìm hiểu giá trị tài nguyên các loài Khôi tía (Ardisia silvestris) ở Việt
Nam
2.5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp kế thừa: Kế thừa các kết quả về thông tin, số liệu và
những tư liệu, kết quả liên quan đến đề tài mà các công trình nghiên cứu đãbáo cáo tổng kết công khai, công bố, đăng tải trên các phương tiện thông tinchính thức về đặc điểm hình thái của loài Khôi tía
- Nghiên cứu ngoài thực địa: Được thực hiện trong các chuyến đi thực
địa nhằm thu thập các dữ liệu về hình thái, đặc điểm thích nghi của loài Khôitía Để làm tốt công tác điều tra thực địa, chúng tôi tiến hành nghiên cứu theophương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007)
Trang 21Làm tiêu bản giải phẫu tươi bằng dao lam cắt tay để quan sát cấu trúc cơquan cần nghiên cứu.
Làm tiêu bản cố định theo phương pháp của R.M Klein và D.T Klein
• Rửa hết axít axetic bằng nước cất
• Nhuộm màu trong dung dịch cacmin khoảng 30 phút
• Rửa lại trong nước cất
• Nhuộm mẫu trong dung dịch xanh metylen (1- 2 phút)
• Lấy vi mẫu ra, rửa sạch bằng nước cất rồi đưa lên kính quan sát vớinước hoặc dung dịch glyxerin (với nước sẽ quan sát mẫu tươi, còn với dungdịch glyxerin quan sát tươi nhưng có thể để được trong thời gian vài ngày)
Bóc biểu bì lá để quan sát cấu tạo hiển vi: Đun mẫu lá 1- 2 phút trongdung dịch HNO3 loãng cho đến khi lá có màu vàng nhạt và có nhiều bọt khítrên bề mặt lá thì dừng lại Lấy mẫu ra rửa sạch bằng nước cất, tách biểu bìtrên và biểu bì dưới Đặt mẫu lên lam kính rồi dùng bút lông đánh nhẹ để thịt
lá trôi đi rồi quan sát
Trang 22Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của loài Khôi tía (Ardisia
silvestris Pitard)
3.1.1 Đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của rễ
3.1.1.1 Đặc điểm hình thái của rễ
Rễ là cơ quan sinh dưỡng của cây, cùng với thân nó tạo thành một hợptrục thống nhất của cây Rễ có khả năng phân nhánh, do đó với thể tích tươngđối nhỏ nhưng nó có diện tích bề mặt lớn, đảm bảo nhu cầu cung cấp nước vàmuối khoáng cho cây
Ảnh 1: Rễ loài khôi (Nguồn Đàm Thị Thắm)
Loài khôi có rễ cọc đặc trưng cho các cây thuộc lớp Hai lá mầm, gồm
rễ chính và các rễ bên Rễ chính được phát triển từ rễ mầm trong phôi, đâmthẳng xuống đất (hướng trọng lực dương) Rễ chính còn gọi là rễ cấp 1, phânnhánh thành những rễ bên gọi là rễ cấp 2, từ rễ cấp 2 lại phân thành rễ cấp3,… Sự hình thành những rễ bên theo thứ tự hướng ngọn nghĩa là rễ non nhấtphát sinh ở gần đỉnh ngọn, đẩy các rễ già về phía gốc rễ Tất cả những rễ trêntạo nên hệ trụ rễ.[10]