1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp điệp ngữ trong thơ lưu quang vũ (2017)

93 212 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông quaviệc nghiên cứu các biện pháp tu từ thể hiện qua vỏ âm thanh và cấu trúc ngữpháp, chúng ta có thể thấy rõ sự linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ, thấy rõ sự đa dạng trong cách

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

***

PHÙNG THỊ QUỲNH

BIỆN PHÁP ĐIỆP NGỮ TRONG

THƠ LƯU QUANG VŨ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

***

PHÙNG THỊ QUỲNH

BIỆN PHÁP ĐIỆP NGỮ TRONG

THƠ LƯU QUANG VŨ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học

ThS GVC LÊ KIM NHUNG

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ tận tình và chu đáo của cô giáo hướng dẫn - Thạc sĩ Lê Kim Nhung cùngvới sự góp ý của thầy cô trong tổ Ngôn ngữ, cùng toàn thể các thầy cô trongkhoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Khóa luận được hoànthành ngày 10 tháng 4 năm 2017

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ Văn, đặc biệt là

cô giáo Lê Kim Nhung đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận

này

Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2017

Người thực hiện

Phùng Thị Quỳnh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Lê KimNhung Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thântôi Những kết quả thu được là hoàn toàn chân thực và chưa có trong một đề

án nghiên cứu nào

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2017

Người thực hiện

Phùng Thị Quỳnh

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Đối tượng nghiên cứu 7

7 Phương pháp nghiên cứu 8

8 Bố cục khóa luận 8

PHẦN NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 9

1.1 Biện pháp điệp ngữ 9

1.1.1 Định nghĩa 9

1.1.2 Các kiểu điệp ngữ trong tiếng Việt 9

1.2 Thơ 13

1.2.1 Khái niệm 13

1.2.2 Đặc trưng của ngôn ngữ thơ 13

1.3 Vài nét về tác giả Lưu Quang Vũ 18

1.3.1 Cuộc đời sự nghiệp 18

1.3.2 Phong cách nghệ thuật 20

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT, THỐNG KÊ 22

2.1 Bảng khảo sát thống kê 22

2.2 Nhận xét sơ bộ về việc sử dụng phép điệp ngữ trong thơ Lưu Quang Vũ

22 2.3 Phân loại phép điệp ngữ trong thơ Lưu Quang Vũ 24

CHƯƠNG 3: HIỆU QUẢ TU TỪ CỦA BIỆN PHÁP ĐIỆP NGỮ TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ 32

3.1 Điệp ngữ có tác dụng nhấn mạnh đối tượng con người được phản ánh

32 3.2 Điệp ngữ với tác dụng thể hiện thời gian và không gian nghệ thuật 36

3.2.1 Điệp ngữ với tác dụng thể hiện thời gian 36

Trang 6

3.2.2 Điệp ngữ với tác dụng thể hiện không gian 39

3.3 Điệp ngữ với việc thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ riêng về cuộc đời, về tình yêu của thi nhân 42

3.4 Điệp ngữ với việc thể hiện phong cách tác giả 48

3.4.1 Cái tôi trữ tình đắm đuối 48

3.4.2 Ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, giàu tính tạo hình và biểu cảm 52

PHẦN KẾT LUẬN 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

1 Lý do chọn đề tài

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Khẳng định tầm quan trọng của những cách dùng ngôn ngữ nghệ

thuật độc đáo, sáng tạo, Đinh Trọng Lạc trong “99 phương tiện và biện pháp

tu từ tiếng Việt” đã viết: “Cái làm nên sự kì diệu của ngôn ngữ chính là các phương tiện, biện pháp tu từ” Trong quá trình nghiên cứu về ngữ âm và ngữ

pháp, biện pháp tu từ là một vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm Thông quaviệc nghiên cứu các biện pháp tu từ thể hiện qua vỏ âm thanh và cấu trúc ngữpháp, chúng ta có thể thấy rõ sự linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ, thấy

rõ sự đa dạng trong cách diễn đạt, cảm nhận rõ vẻ đẹp của tiếng Việt Từ đó,người sử dụng ngôn ngữ có thể vận dụng vào việc phân tích và tạo lập vănbản, tiếp nhận văn bản văn học một cách có hệ thống toàn vẹn và hoàn chỉnhhơn ở nhiều góc độ khác nhau Việc tìm hiểu hiệu quả tu từ của biện phápđiệp ngữ trong thơ Lưu Quang Vũ là việc làm có nhiều ý nghĩa giúp bồidưỡng thêm năng lực cảm thụ thi ca và giúp sinh viên chúng ta khám phá sự

kì diệu của ngôn ngữ thơ

1.2 Với tư cách là một kịch gia, Lưu Quang Vũ đã khẳng định được vị

trí và sự ảnh hưởng mạnh mẽ của mình trên “địa hạt sân khấu” hiện đại Việt Nam Anh để lại hơn 50 vở kịch và được đánh giá là “nhà viết kịch lớn nhất

thế kỉ này của Việt Nam” (thế kỉ XX - Phan Ngọc), là “Moliere ở Việt Nam”.

Song ít ai biết rằng thơ mới chính là tâm hồn, là miền sâu thẳm, là đời sốngcủa Lưu Quang Vũ Thơ anh thể hiện khát vọng muốn bày tỏ tâm hồn mìnhvới thế giới xung quanh, được trao gửi và được dâng hiến Vũ Quần Phương

một nhà thơ cùng thời với Lưu Quang Vũ cũng nói: “Có cảm giác anh viết

kịch để sống với mọi người và làm thơ để sống với riêng mình… Tôi thấy thơ mới là nơi anh kí thác nhiều nhất và tôi tin nhiều bài thơ của anh sẽ thắng được thời gian” Với hành trình sáng tác hơn 20 năm, khoảng thời gian chưa

Trang 8

dài nhưng Lưu Quang Vũ thực sự đã là một thi sĩ tài năng, một cá tính thơđộc đáo trong dòng thơ Việt Nam hiện đại nửa cuối thế kỷ XX Như vậy, thơcũng là mảng sáng tác rất thành công, tạo nên phong cách thơ Lưu Quang Vũ.

Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tế trên, chúng tôi nghiên cứu

đề tài: “Biện pháp điệp ngữ trong thơ Lưu Quang Vũ”.

2.1 Nghiên cứu điệp ngữ trong các giáo trình.

2.1.1 Nghiên cứu điệp ngữ từ góc nhìn của các nhà Phong cách học tiếng Việt

Điệp ngữ được các nhà Phong cách học tiếng Việt chú ý đến từ rất

sớm Trong “Giáo trình Việt ngữ”, tập III (Tu từ học), Đinh Trọng Lạc (1964) đã phát hiện: “Trong giao tiếp không phải do cẩu thả mà chính do một

dụng ý, tác giả muốn nhấn mạnh vào những từ cần thiết, để cho tư tưởng, tình cảm hiểu hiện trở lên mạnh mẽ, gây ấn tượng sâu sắc với người đọc Trong trường hợp này, chúng ta có điệp ngữ” [5, 237 – 238]

Tác giả Đinh Trọng Lạc, trong giáo trình đã trình bày ông phân chiathành 5 kiểu điệp ngữ cơ bản:

- Lặp lại ở đầu câu văn

- Lặp lại ở cuối câu văn

- Lặp lại ở giữa câu văn

- Lặp vòng tròn

- Lặp cách quãng

Trang 9

Tác giả đã xếp điệp từ ngữ vào loại biện pháp tu từ cú pháp Ông khẳng

định: những cách điệp ngữ là “những cách trùng lặp tiêu biểu nhất trong

phạm vi cú pháp” [5, 238]

Nhóm tác giả Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú và Nguyễn Thái

Hòa, 1982, đã cho rằng: “Điệp từ ngữ là một phương thức ngữ nghĩa, ở đây

người ta lặp lại có ý thức hai hay nhiều từ ngữ như nhau, những câu và đoạn văn như nhau, cả các kiểu câu hay cách phô diễn như nhau” [3, 168]

Ngoài việc nêu định nghĩa về biện pháp tu từ điệp ngữ, tập thể tác giảtrong cuốn sách “Phong cách học tiếng Việt” đã phân loại điệp ngữ thànhnhững kiểu chủ yếu sau:

- Điệp nối tiếp

- Điệp cách quãng

- Điệp vòng tròn

- Điệp kiểu câu và điệp phô diễn

Đến năm 1983, tác giả cù Đình Tú, trong cuốn “Phong cách học và

đặc điểm tu từ tiếng Việt” tiếp tục đề cập đến vấn đề điệp ngữ trong văn bản.

Cù Đình Tú chia điệp ngữ thành các kiểu:

- Điệp nối tiếp

- Điệp cách quãng

- Điệp kiểu câu

Như vậy giữa Cù Đình Tú với các tác giả cuốn “Phong cách học tiếng

Việt”, (1982), có quan niệm khác nhau về kiểu điệp nối tiếp và điệp vòng

tròn Ngoài hai kiểu điệp đã nêu trên, các kiểu: điệp cách quãng, điệp kiểu

câu, giữa ông nhà nhóm tác giả cuốn giáo trình “Phong cách học tiếng Việt”,

(1982) khá thống nhất

Nhận ra những đóng góp và những hạn chế trong cách trình bày về điệpngữ của các tác giả trong hai cuốn giáo trình vừa nêu trên Đinh Trọng Lạc

Trang 10

(1997) đã đưa ra một định nghĩa về biện pháp tu từ này như sau: “Điệp ngữ là

biện pháp lặp lại một hay nhiều lần những từ, ngữ… nhằm mục đích mở rộng nghĩa, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người đọc, người nghe” [6, 280]

Do xác định điệp ngữ là sự lặp lại có mục đích tu từ các từ ngữ chonên, khác với tác giả hai cuốn giáo trình (1982), (1983) tác giả không coi kiểuđiệp ngữ là kiểu điệp câu, đoạn câu có tính phô diễn

2.1.2 Nghiên cứu điệp ngữ dưới góc nhìn của một số nhà Ngữ pháp học

văn

bản

Các nhà Ngữ pháp học văn bản đề cập đến phép lặp từ ngữ khi nghiêncứu về liên kết văn bản Đi theo hướng này, Trần Ngọc Thêm (1985) trong

“Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” cho rằng: “Dấu hiệu cho phép phân

biệt văn bản với phi văn bản chính là sự liên kết hình thức và nội dung của các câu trong văn bản”.

Theo tác giả, điểm mới trong việc nghiên cứu văn bản là việc tìm hiểucác phương thức liên kết câu trong văn bản Ông đã chia các phương thức liênkết thành ba nhóm:

- Các phương thức liên kết chung, dùng được cho cả ba loại câu: tựnghĩa, hợp nghĩa, ngữ trực thuộc

- Các phương thức liên kết hợp nghĩa, dùng cho loại câu hợp nghĩa vàngữ trực thuộc

- Các phương thức liên kết trực thuộc, chỉ dùng được cho loại nghĩa trựthuộc

Ở nhóm các phương thức liên kết chung, Trần Ngọc Thêm cho rằng:

“có năm phương thức liên kết là tài sản chung mà cả ba loại phát ngôn đều

có thể sử dụng được Đó là: phép lặp (lặp từ vựng, lặp ngữ pháp, lặp ngữ âm), phép đối, phép thế đồng nghĩa và phép tuyến tính”.

Trang 11

Tác giả đã đưa ra các tiêu chí để phân loại phép điệp từ vựng như sau:

- Căn cứ vào cách thức lặp của chủ tố và lặp tố, có thể chia lặp từ vựngthành “lặp từ và lặp cụm từ”, đồng thời có thể chia lặp cụm từ thành “Lặphoàn toàn và lặp bộ phận”

- Căn cứ vào bản chất từ loại của chủ tố và lặp tố, có thể chia thành

“lặp cùng từ loại và lặp chuyển từ loại”

- Căn cứ vào chức năng làm thành phát ngôn của chủ tố và lặp tố, cóthể chia thành “lặp cùng chức năng hoặc lặp chuyển chức năng”

Cùng hướng nghiên cứu các phép liên kết câu trong văn bản, DiệpQuang Ban (2005) trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” đã đưa ra năm phép liênkết cơ bản:

Diệp Quang Ban cho rằng: “Lựa chọn những từ ngữ có quan hệ như thế

nào đó với những từ ngữ đã có trước, và trên cơ sở đó làm cho câu chứa từ ngữ có trước với câu chứa từ ngữ mới được chọn này liên kết với nhau”.

[1,386]

Trong đó, phép từ ngữ là “Việc sử dụng trong câu những từ ngữ đã

được dùng ở câu trước theo kiểu nhắc lại y nguyên như vốn có, trên cơ sở đó liên kết những câu chứa đựng chúng với nhau” [1,386]

Trong cuốn giáo trình này, Diệp Quang Ban đã xác định mối quan hệgiữa từ ngữ được lặp (vốn có trước) với những từ ngữ dùng để lặp (vốn cósau) với những từ ngữ dùng để lặp (xuất hiện sau) theo hai hướng:

Trang 12

- Đồng nhất trong quy chiếu.

- Không đồng nhất trong quy chiếu

* Như vậy: Tất cả những công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ

kể trên xét về phương diện lý luận đều là những thành tựu có giá trị trongcông tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu tiếng Việt nói chung Song, nhữngcông trình nghiên cứu ấy còn nằm trên bình diện rộng Nó chưa đi vào tìmhiểu hết ý nghĩa và tác dụng của hiện tượng lặp và phép điệp ngữ ở từng tácgiả và tác phẩm cụ thể

2.2 Việc nghiên cứu về phép điệp ngữ của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Gần đây, nghiên cứu phép điệp trong các văn bản nghệ thuật thu hútnhiều sinh viên khi làm khóa luận tốt nghiệp Có thể kể ra đây những đề tàikhóa luận và tác giả đã thực hiện đề tài đó:

-“Hiệu quả tu từ của phép điệp ngữ trong thơ Việt Nam hiện đại”,

Nguyễn Tố Tâm, sinh viên K24, Khoa Ngữ Văn_ 2002

-“Hiệu quả tu từ của phép điệp ngữ trong thơ Nguyễn Bính”, Trần Thị

Thanh Bình, sinh viên K28, Khoa Ngữ Văn_ 2006

-“Hiệu quả của phép lặp cú pháp trong một số văn bản chính luận”,

Đinh Thị Hồng Duyên, sinh viên K31, Khoa Ngữ Văn_ 2007

-“Hiệu quả tu từ của phép điệp ngữ trong thơ lục bát hiện đại Đồng

Đức Bốn”, Trần Thị Minh Yến, sinh viên K31, Khoa Ngữ Văn_ 2009.

-“Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú”,

Nguyễn Thị Hiền, sinh viên K32, Khoa Ngữ Văn

- “Tìm hiểu hiệu quả tu từ của phép điệp trong các văn bản thơ thuộc

chương trình Tiếng Việt ở Tiểu hoc”, Lê Thị Thúy Ngân, sinh viên K34,

Khoa Giáo dục Tiểu học

Nhìn chung, việc nghiên cứu về phép điệp ngữ trong thơ thu hút nhiềubạn sinh viên khoa Ngữ Văn và khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư

Trang 13

phạm Hà Nội 2 Chúng ta thấy đây không phải là vấn đề hoàn toàn mới vì đã

có nhiều người quan tâm nghiên cứu Nhưng “Biện pháp điệp ngữ trong thơ

Lưu Quang Vũ” chắc chắn là một đề tài không cũ vì nó không trùng lặp với

bất kì đề tài nào

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này tác giả khóa luận hướng đến một số mục đích:

- Góp phần khẳng định và củng cố một vấn đề lí thuyết thuộc lĩnh vựcPhong cách học

- Góp phần sáng tỏ vào phong cách thơ Lưu Quang Vũ và chỉ ra nhữngđóng góp của tác giả đối với nền thơ ca Việt Nam hiện đại, thấy được hiệuquả của biện pháp tu từ điệp ngữ trong thơ Lưu Quang Vũ

- Góp phần phục vụ cho việc học tập và giảng dạy Ngữ văn trong nhà trường

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tập hợp những vấn đề lý thuyết về phép tu từ điệp ngữ của các nhàngôn ngữ học để ta hiểu lịch sử vấn đề và xây dựng cơ sở lý luận cho việc tìmhiểu hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Lưu Quang Vũ

- Khảo sát, thống kê, phân loại, nhận xét các kiểu điệp từ ngữ trong thơLưu Quang Vũ

- Vận dụng những phương pháp phân tích phong cách học để phân tíchhiệu quả tu từ của phép điệp ngữ trong thơ Lưu Quang Vũ, đồng thời rút ranhững kết luận cần thiết

5 Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu biện pháp điệp ngữ trong thơ LưuQuang Vũ

6 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận tập trung khảo sát, thống kê việc sử dụng phép điệp ngữ

trong 129 bài thơ của Lưu Quang Vũ được in trong tập thơ “Gió và tình yêu

thổi trên đất nước tôi”, Nxb Hội nhà văn, Hà Nôi, năm 2010.

Trang 14

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê phân loại

1.2 Thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ

1.3 Vài nét về tác giả Lưu Quang Vũ

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT, THỐNG KÊ

2.1 Bảng kết quả khảo sát thống kê

2.2 Nhận xét sơ bộ về kết quả khảo sát thống kê

2.3 Miêu tả phép điệp ngữ trong thơ Lưu Quang Vũ

CHƯƠNG 3: HIỆU QUẢ TU TỪ CỦA PHÉP ĐIỆP NGỮ TRONG THƠLƯU QUANG VŨ

3.1 Điệp ngữ với tác dụng nhấn mạnh đối tượng con người được phản ánh.3.2 Điệp ngữ với tác dụng thể hiện thời gian, không gian nghệ thuật

3.3 Điệp ngữ với việc thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ riêng về cuộc đời,

về tình yêu

3.4 Điệp ngữ với việc thể hiện phong cách tác giả

Kết luận

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Biện pháp điệp ngữ

1.1.1 Định nghĩa

Tác giả Đinh Trọng Lạc trong: “99 phương tiện và biện pháp tu từ TiếngViệt”, NXB Giáo dục, Hà Nội 1997, đã định nghĩa về biện pháp điệp ngữ:

“Điệp ngữ (còn gọi là lặp) là lặp lại những ý thức có từ ngữ nhằm mục

đích nhấn mạnh ý, mở rộng nghĩa, gây ấn tượng mạnh hoặc mở ra những xúc cảm trong lòng người đọc người nghe” [6, 93]

Từ định nghĩa trên, chúng tôi chú ý những đặc điểm cơ bản sau củaphép điệp từ ngữ:

- Đây là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa (còn gọi là một phép tu từ ngữnghĩa)

- Điệp từ ngữ được cá nhân có ý thức sử dụng lặp lại các phương tiệnngôn ngữ (ngữ âm, từ ngữ hoặc câu) nhằm một múc đích tu từ - nghĩa lànhằm diễn đạt sâu sắc, sinh động và độc đáo một nội dung tư tưởng, tình cảmnhất định, trong hoàn cảnh giao tiếp nhất định; nhấn mạnh nội dung thôngbáo, tạo nghĩa mới bất ngờ, tạo ra tính nhạc cho lời thơ, lời văn, đem lại giá trịthẩm mĩ cho người đọc người nghe

1.1.2 Các kiểu điệp ngữ trong tiếng Việt.

Kế thừa có bổ sung quan điểm phân loại và việc phân chia phép điệp từngữ của Đinh Trọng Lạc (1997) chúng tôi chú ý đến những kiểu điệp sau:

1.1.2.1 Điệp ngữ nối tiếp

Điệp ngữ nối tiếp là dạng điệp, là cách cá nhân có ý thức sử dụngnhững từ ngữ được lặp lại trực tiếp đứng bên nhau, nhằm tạo cho người đọcnhững ấn tượng mới mẻ

Ví dụ:

Trang 16

“Con chim chiền chiện

Bay vút, vút cao

Lòng đầy yêu mến Khúc hát ngọt ngào”

(Con chim chiền chiện, Huy Cận)

1.1.2.2 Điệp ngữ cách quãng.

Điệp ngữ cách quãng là điệp ngữ trong đó những từ được lặp lại đứngcách xa nhau hay giữa chúng có những từ ngữ đan được đan xen với những từkhác nhằm mục đích tu từ

Ví dụ 1:

Ví dụ 2:

1.1.2.3 Điệp đầu

“Bé học giỏi, bé nết na

Bé là cô Tấm, bé là con ngoan”

(Cô Tấm của mẹ, Lê Hồng Thiện)

“Chỉ mong người sống có tình

Cho sông hết lũ, cho mình vẫn ta Cho sao thành dải ngân hà

Thương yêu chỉ biết thật thà thế thôi”

(Xéo gai anh chẳng sợ đau, Đồng Đức Bốn)

Điệp đầu là dạng điệp trong đó từ được lặp lại đứng ở đầu câu

Ví dụ:

“Em lo gì trời gió

Em sợ gì trời mưa

Em buồn gì mùa hạ

Em tiếc gì mùa thu”

(Thoi tơ, Nguyễn Bính)

Trang 17

1.1.2.4 Điêp đầu - cuối

Điệp đầu - cuối là kiểu điệp trong đó các từ đứng ở đầu và cuối câu thơ,đoạn thơ hoặc bài thơ được lặp lại

Ví dụ 1:

Ví dụ 2:

1.1.2.5 Điệp cuối - đầu

“Đảo không phải là thuyền

Sao neo hoài giữa biển

… Tôi là đảo ngoài khơi

Em là thuyền của đảo”

(Đảo, Ngô Văn Phú)

“Em đừng khóc nữa em ơi Dẫu sao thì sự đã rồi nghe em!”

(Lỡ bước sang ngang, Nguyễn Bính)

Điệp cuối - đầu là phép điêp trong đó các từ được lặp lại nằm ở cuốicâu trước và đầu câu sau

Ví dụ:

“Đường thì dài, hố xẻ chưa sâu

Chưa sâu thì cuốc cho sâu

Ớ anh, ớ chị nhanh tay

Nhanh tay ta cuốc, chôn thây quân thù.”

(Phá đường, Tố Hữu)

1.1.2.6 Điệp theo kiểu diễn đạt

Điệp theo kiểu diễn đạt là kiểu điệp nhằm diễn tả một dụng ý nào đócủa tác giả

Trang 18

Ví dụ:

“Thân em như thể xuyến vàng

Thân anh như manh chiếu rách bạn hàng bỏ quên Thân em như hột gạo lắc trên sàng

Thân anh như hột lúa lép giữa đàng gà bươi”

(Ca dao)

1.1.2.7 Điệp vòng tròn

Điệp vòng tròn là một dạng điệp ngữ, trong đó chữ cuối của câu trướcđược lặp lại thành chữ ở đầu câu sau, và cứ thế làm cho câu văn doạn thơ bàithơ có giá trị tu từ

Ví dụ 1:

Ví dụ 2:

“Chim ri là dì sáo sậu

Sáo sậu là cậu sáo đen Sáo đen là em tu hú

Tu hú là chú bồ các

Bồ các là bác chim ri.”

(Đồng dao)

“Thu về gọi gió heo may

Heo may lá đã vàng cây ngô đồng Ngô đồng thả lá theo sông

Sông ơi, có thấp thỏm mong thu về.”

(Biến tấu ca dao, Đỗ Bạch Mai)

1.1.2.8 Điệp hỗn hợp

Điệp hỗn hợp là dạng điệp trong đó sử dụng nhiều loại nhiều cách điệpkhác nhau trong cùng một đoạn văn bản

Ví dụ:

Trang 19

“Ta thường nhặt nắng trong mưa

Nhặt sương trong đám cỏ thưa mé đồi

Ta thường ngóng gió trông trời

T

r ôn g mây tr ô n g núi, tr ô n g người phương xa

Nhớ thương là của người ta

Mà ta tóc bạc vẫn ra ngóng mình”

(Nhặt nắng trong mưa, Ngô Văn Phú)

1.1.3 Giá trị tu từ của phép điệp ngữ

Nhờ có phép điệp ngữ, câu văn, câu thơ tăng thêm tính nhạc, nhấn mạnh

ý nghĩa tình cảm, cảm xúc Đồng thời cũng gây ra một phản ứng trực tiếpmang sắc thái biểu cảm ở phía người nghe hoặc người đọc khi người viết hoặcngười nói nói ra

Như vậy, cơ sở lý luận của biện pháp tu từ là một trong những tiền đề lý

luận quan trọng giúp chúng tôi tìm hiểu “Điệp ngữ trong thơ Lưu Quang Vũ”.

1.2.2 Đặc trưng của ngôn ngữ thơ

1.2.2.1 Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ giàu nhạc tính.

Nhạc tính của ngôn ngữ thơ được tạo ra bởi những âm thanh luyến láy,những từ ngữ trùng điệp, sự phối hợp uyển chuyển giữa các thanh bằng trắc,cách ngắt nhịp linh hoat… Bằng những điều đó mà người nghệ sĩ tạo dựng

Trang 20

lên được những câu thơ, những hình tượng thơ giàu sức truyền cảm lớn, tạonên những cung bậc tình cảm tinh tế nơi người đọc.

Theo các nhà nghiên cứu, nhạc tính trong thơ được thể hiện ra ở ba mặt

cơ bản Đó là: sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp:

Sự cân đối là sự tương xứng hài hoà giữa các dòng thơ Sự hài hoà đó

(Vội vàng, Xuân Diệu)

Sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ thể hiện ở cách hoà âm, ở sự thay đổi

độ cao giữa hai nhóm thanh điệu

“Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Tất cả những khó khăn gian khổ của người lính Tây Tiến được vơi đibởi câu thơ toàn vần bằng “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ thể hiện ở sự dùng vần, điệp từ, ngữ vàđiệp cú Chúng có tác dụng như một phương tiện kết dính các dòng thơ lại vớinhau thành một đơn vị thống nhất, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho trí nhớ vừatạo nên vẻ đẹp trùng điệp cho ngôn ngữ thơ:

“Lầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống

Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn

Nước non rả rích giọt đàn mưa xuân”.

(Tiếng đàn mưa, Bích Khê)

Các điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc ở đây vừa diễn tả được hình ảnhcơn mưa của đất trời vừa tạo nên một ấn tượng vương vấn không dứt tronglòng người

Trang 21

Như vậy, thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩacủa từ ngữ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy Nhạcđiệu trong thơ là một đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ.

1.2.2.2 Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ hàm súc

Nói như nhà thơ Ôgiêlốp: Bài thơ là một lượng thông tin lớn nhất trongmột diện tích ngôn ngữ nhỏ nhất” Có nghĩa là người nghệ sĩ phải biết lựachọn những từ ngữ thật hàm súc, ngắn gọn mạ lại chứa đựng được lượngthông tn mà mình muốn truyền tải thể hiện trên khuôn khổ chật hẹp củatrang giấy

Tính hàm súc được hiểu là khả năng của ngôn ngữ có thể miêu tả mọihiện tượng của cuộc sống một cách cô đọng, ít lời mà nói được nhiều ý, ý tạingôn ngoại Đây chính là cách dùng từ sao cho đắt nhất, có giá trị biểu hiện

cao nhất kiểu như Nguyễn Du đã “giết chết” các nhân vật Mã Giám Sinh, Sở

Khanh, Hồ Tôn Hiến, mỗi tên chỉ bằng một từ: cái vô học của Mã Giám Sinh:

“Ghế trên ngồi tó t sỗ sàng” ; cái gian manh của Sở Khanh: “Rẽ song đã thấy

Sở Khanh l ẻ n vào”; cái tầm thường ti tiện của Hồ Tôn Hiến: “Lạ cho mặt

sắt cũng n g â y vì tình”.

Định lượng số tiếng trong thơ cũng là tiền đề tạo ra sự xuất hiệnvới một mật độ dày đặc các phương tiện nghệ thuật trong thơ so với vănxuôi Nhiều lúc, trong một bài thơ, có thể thấy xuất hiện cùng một lúc cácphương tện tu từ khác nhau, như ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, tượng trưng,điệp từ, điệp ngữ Bài ca dao trữ tnh sau đây là một ví dụ:

“Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai Đèn thương nhơ ai

Trang 22

Mà đèn không tắt

Trang 23

Mắt thương nhớ ai Mắt ngủ không yên Đêm qua em những lo phiền

Lo vì một nỗi không yên một bề”.

Bài ca dao có số lượng từ không nhiều nhưng bằng các biện pháp tu từ

đã thể hiện được tâm trạng khắc khoải nhớ mong của người con gáidường như còn vang mãi, dư âm đến tận bây giờ và cả mai sau, không chỉcủa một người mà của nhiều người

Để đạt được tnh hàm súc cao nhất, có thể biểu hiện được cái vôhạn của cuộc sống trong những cái hữu hạn của các đơn vị ngôn ngữ, thơ caphải tính đến những kiểu tổ chức đặc biệt Dưới áp lực của cấu trúc ngônngữ khác thường này, ngữ nghĩa của từ trong thơ không dừng lại ở nghĩagốc, nghĩa đen, nghĩa trong từ điển mà phong phú, sâu sắc, tnh tế hơn Câu

thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ: “Em đã lấy tình yêu của mình thắp lên ngọn lửa”

thì sự kết hợp bất thường về nghĩa đã mở ra những liên tưởng hết sức thú

vị Trong đời thường, khi nói đến việc “thắp lửa”, người ta một là nghĩđến phương tiện như: cái bật lửa, que diêm hai là nguyên liệu như: dầu

hoả, dầu dừa Ở đây, nhà thơ lại thay nó bằng một “chất liệu” rất trừu

tượng thuộc lĩnh vực tinh thần Và trong quan hệ với cái chất liệu trừu

tượng đó, nghĩa bề mặt của "ngọn lửa" bị mờ đi, mở ra những nghĩa

mới Đó là: chân lý, niềm tn, lý tưởng cuộc đời

1.2.2.3 Ngôn ngữ thơ có tính truyền cảm

Ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương phải biểu hiện được cảm xúccủa tác giả và phải truyền được cảm xúc của tác giả đến người đọc, khơi dậytrong lòng người đọc những cảm xúc thẩm mĩ Tuy nhiên, do đặc trưng củathơ là tếng nói trực tiếp của tnh cảm, trái tim nên ngôn ngữ thơ ca có tácdụng gợi cảm đặc biệt:

Trang 24

Ngôn ngữ thơ không bao giờ là ngôn ngữ chú trọng miêu tả cái kháchquan như ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự Nếu nhà văn dùng ngôn ngữ đểthuyết minh, miêu tả, nhắn nhủ, giải thích thì nhà thơ dùng ngôn ngữ đểtruyền cảm Khi Quang Dũng viết:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”.

Quang Dũng không có ý hỏi ai lên Châu Mộc trong buổi chiều sươngnào đó có nhìn thấy phong cảnh hữu tnh không mà tác giả khơi trong ta nỗinhớ thương mất mát, nuối tiếc ngậm ngùi, những ngày tháng, những kỷ niệm,những ảo ảnh đã tan biến trong đời Quang Dũng gợi trong ta một trạng tháibằng cách hồi sinh những gì đã mất, đồng thời phản ánh tâm trạng của chínhmình

1.2.2.4 Ngôn ngữ thơ có tính nhảy vọt, gián đoạn.

Đặc trưng này nói đến sự khác biệt căn bản giữa văn xuôi và thơ ca ởchỗ: thơ ca không có tính liên tục và tính phân tích như văn xuôi Thơ ca làmạch cảm xúc tuôn trào của người nghệ sĩ cho nên cái mạch nguồn cảmxúc đó đã chi phối mạnh mẽ đến việc đọc vận dụng trí liên tưởng và tưởngtượng, những sự suy ngẫm lý giải của mình để lấp đầy

Tóm lại, thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi của sáng tạovăn học nghệ thuật Vì vậy, ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ mang tính nghệ thuật;ngôn ngữ thơ trước hết mang đầy đủ những thuộc tính của ngôn ngữ vănhọc, đó là: tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình, tínhbiểu cảm Tuy nhiên, ở mỗi loại tác phẩm khác nhau, những đặc điểm ấy lạibiểu hiện dưới những sắc thái và mức độ khác nhau Đồng thời, mỗi loại tácphẩm lại có những đặc trưng ngôn ngữ riêng Do vậy trong quá trình tm hiểu

Trang 25

“Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Lưu Quang Vũ” chúng taphải dựa

Trang 26

vào những hiểu biết về đặc trưng của ngôn ngữ thơ, có như thế chúng tamới có thể cảm nhận được hết ý tứ và tình cảm trong từng câu thơ củanhà thơ Lưu Quang Vũ.

1.3 Vài nét về tác giả Lưu Quang Vũ

1.3.1 Cuộc đời sự nghiệp

Lưu Quang Vũ sinh ngày 17/04/1948 tại Phú Thọ Quê gốc của anh ở

Đà Nẵng Cả cuộc đời, Lưu Quang Vũ sống và gắn bó với Hà Nội Anh đãbộc lộ năng khiếu về văn học nghệ thuật từ thưở còn thơ bé Mười ba tuổicậu bé Vũ giành giải thưởng của thành phố cả về văn và họa

Năm 17 tuổi, Lưu Quang Vũ nhập ngũ, được biên chế về binh chủngphòng không không quân Đây là giai đoạn có những đổi thay lớn trong cuộcđời Vũ Vũ làm rất nhiều thơ Chùm thơ đầu của Lưu Quang Vũ được in trên

tạp chí Văn nghệ Quân đội với ba bài thơ: “Gửi tới các anh, Lá bưởi lá chanh,

Đêm hành quân” Lưu Quang Vũ nhanh chóng được biết đến với tư cách là

một nhà thơ trẻ tài năng, xuất hiện trên văn đàn với tập thơ “Hương cây” in cùng với Bằng Việt trong tập “Hương cây - Bếp lửa” năm anh 20 tuổi.

Năm 1970 Lưu Quang Vũ xuất ngũ Anh đã gặp nhiều trắc trở trongcuộc sống nhưng anh vẫn tiếp tục viết truyện và làm thơ

Năm 1973, đánh dấu một sự kiện quan trọng trong cuộc đời của LưuQuang Vũ, anh kết hôn với nhà thơ Xuân Quỳnh Gắn bó cuộc đời với XuânQuỳnh, anh không chỉ gắn bó với một người bạn đời mà còn có mộtngười bạn thơ, cùng nhau vượt qua khó khăn, lận đận và xác định hướng

đi đúng cho cuộc đời mình

Năm 1978, Lưu Quang Vũ làm biên tập ở Tạp chí sân khấu Đến năm

1979, cuốn Diễn viên và sân khấu của Lưu Quang Vũ (in chung với Xuân

Quỳnh và Vương Trí Nhàn) được xuất bản Cũng trong năm này, kịch bản

Trang 27

đầu tay “Sống mãi tuổi 17” của anh ra đời và được nhà hát tuổi trẻ dàn

dựng,

Trang 28

tham gia hội diễn sân khấu toàn quốc và được giải Huy chương vàng Nhữngnăm tiếp theo, anh đã có những bước đi phi thường trong lĩnh vực sân khấu.

Ngày 29/8/1988, Lưu Quang Vũ đột ngột qua đời trong một tai nạn xehơi đáng tiếc cùng vợ và con trai Lưu Quỳnh Thơ

Lưu Quang Vũ ra đi đã để lại một sự nghiệp đồ sộ, bao gồm:

- Thơ:

1 Hương cây - Bếp lửa - tập thơ (in chung), Nxb Văn học 1968.

2 Mây trắng của đời tôi - tập thơ, Nxb Tác phẩm mới 1989.

3 Bầy ong trong đêm sâu - tập thơ, Nxb Tác phẩm mới 1993.

Anh có 12 tập thơ đã được đặt tên, có cả những tập đã hoàn

chỉnh: Cuốn sách xếp nhầm trang, Cỏ tóc tiên… và những tập thơ còn dang

dở Anh có hơn 20 năm sáng tác thơ và anh cũng dành rất nhiều trù liệu chothơ Ngay từ đầu xuất hiện trên văn đàn, anh đã được đánh giá là mộtnhà thơ trẻ có nhiều triển vọng

Thơ là nơi anh kí thác nhiều nhất Với thơ, Lưu Quang Vũ đã có mộtgiọng điệu riêng, đã ổn định một bản sắc thơ nhất quán Lưu Quang Vũ đãsống trong lòng bạn đọc yêu thơ với những câu thơ, bài thơ “không thể thaythế” Có thể nói chàng thi sỹ ấy đã kịp làm hết tất cả những gì có thể để dângtặng cho đời

- Văn xuôi:

1 Mùa hè đang đến - Tập truyện ngắn, Nxb TPHCM 1983

2 Người kép đóng hổ - Tập truyện ngắn - Hà Nội

3 Một vùng mặt trận - Truyện vừa (in chung), Nxb Phụ nữ, 1980

4 Diễn viên và sân khấu - Tập chân dung diễn viên, sân khấu, 1979

- Kịch: 53 vở

Kịch Lưu Quang Vũ là những trăn trở về lẽ sống làm người và thấm

Trang 29

đẫm chất thơ trong đề tài trong tư tưởng, tạo nên thành công và phong cách

Trang 30

của riêng anh Lưu Quang Vũ được đánh giá là “nhà viết kịch lớn nhất thế kỉnày của Việt Nam”.

Ra đi ở tuổi 40, cuộc đời thật ngắn ngủi nhưng anh đã sống hếtmình cho nghệ thuật và đã có những đóng góp to lớn cho đời sống vănhọc nước nhà Lưu Quang Vũ xứng đáng với phần thưởng cao quý nhà nước

trao tặng năm 2000: Giải thưởng Hồ Chí Minh.

1.3.2 Phong cách nghệ thuật

Lưu Quang Vũ là nhà thơ trưởng thành trong hiện thực đời sốngnhững năm chống Mỹ cùng với các gương mặt trẻ khác như: XuânQuỳnh, Bằng Việt, Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, NguyễnKhoa Điềm, Nguyễn Duy, Thanh Thảo… Ngọn lửa chiến tranh cách mạng

đã rèn luyện cho họ một bản lĩnh vững vàng trong cuộc sống và nghệthuật Trong sự thống nhất chung cao độ của cả một thế hệ nhà thơ chống

Mỹ trẻ trung, khỏe khoắn, trong sáng đầy tự tn, thơ Lưu Quang Vũ có mộtgiọng điệu riêng không thể lẫn Lưu Quang Vũ luôn thường trực ý thức về sựsáng tạo, về việc kiếm tm con đường nghệ thuật và cảm xúc trong thơ Dùviết về dân tộc, về đất nước hay về chuyện cuộc đời truân chuyên của chínhmình cũng luôn là những cảm xúc tha thiết, đầy lắng đọng với những dòngthơ “không che dấu sự thật lòng mình” Trải qua bao hạnh phúc lẫn niềmđau, thơ tình của anh đằm sâu tnh cảm của một người đàn ông trưởngthành nhưng rất chân thật, nồng nàn như vốn dĩ tình yêu của muôn đời vẫnvậy

So với các nhà thơ cùng thế hệ, con đường thơ của Lưu Quang Vũ cónhững ẩn ức riêng, nhưng không vì thế mà anh lạc bước Cốt cách thi sỹ tàihoa ở anh thể hiện rõ trong việc “chưng cất” từ ngữ để tìm kiếm cái tinhdiệu cho thơ mình Thơ Lưu Quang Vũ rất phong phú, linh hoạt, vừamang nét điệu riêng của từng thể loại vừa có những sáng tạo riêng của

Trang 31

nhà thơ, góp phần vào việc thể hiện âm hưởng riêng để có thể bộc lộ cảmxúc tự nhiên mà

Trang 32

phóng khoáng Hơn nữa, trong thơ Lưu Quang Vũ sự vận dụng nhịp điệutrong từng thi phẩm hoàn toàn do sự dẫn dắt của mạch cảm xúc Có thể nóinhịp điệu trong thơ Lưu Quang Vũ là một tham số ngữ âm có vai trò đắc lực

trong việc thể hiện hồn thơ “đắm đuối” - một đặc điểm nổi bật của thơ

anh.Ngôn ngữ giản dị tự nhiên, giàu tính tạo hình và có sức biểu cảm lớn.Ngôn ngữ của một hồn thơ ám ảnh, rất phức điệu nhưng luôn say mê,đắm đuối với cuộc đời

Với Lưu Quang Vũ, thơ cũng là đời Một điều dễ nhận thấy, dường nhưđối với Lưu Quang Vũ, niềm đam mê thơ ca còn lớn hơn cả kịch trường Anhlặng lẽ miệt mài sáng tạo để có được những vần thơ đích thực với nghệthuật, đằm chín cùng thời gian, sống mãi trong lòng bạn đọc Có thể nói,những tập thơ của Lưu Quang Vũ với hôm qua còn phải bàn bạc nhưng vớihôm nay thì có thể được khẳng định và tồn tại Lưu Quang Vũ xứng đáng

là gương mặt thơ đầy cá tính, độc đáo của nền thơ ca hiện đại Việt Nam

Trang 33

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT, THỐNG KÊ

Điệp liên tiếp 13 2,43%

Điệp cuối đầu 06 1,12%

Điệp lại nhan đề 36 6,73%

2.2 Nhận xét sơ bộ về việc sử dụng phép điệp ngữ trong thơ Lưu Quang Vũ

2.2.1 Kết quả thống kê cho thấy, điệp từ ngữ là một biện pháp tu

từ ngữ nghĩa được Lưu Quang Vũ sử dụng trong hầu hết tất cả các bài thơthuộc đối tượng khảo sát Việc chú ý, chú trọng sử dụng phép điệp từ ngữ

đã làm cho thơ Lưu Quang Vũ có sức hấp dẫn với bạn đọc Tuy nhiên cáckiểu điệp được tác giả sử dụng không đồng đều trong các sáng tác của mình.Theo kết quả thống kê, tác giả sử dụng 6 kiểu điệp trong đó được sử dụngnhiều nhất là phép điệp cách quãng với tần suất 232 lần (chiếm 43,36%).Tiếp đến là điệp đầu với tần suất 218 lần (chiếm 40,75%), điệp liên tiếp vàđiệp cuối đầu cũng được tác giả sử dụng nhưng với tần suất ít Điệp liên tiếpđược sử dụng 13 lần (chiếm 2,43%) và thấp nhất là phép điệp cuối đầu vớitần suất 6 phiếu chỉ chiếm 1,12%

2.2.2 Xét về đơn vị từ vựng, Lưu Quang Vũ sử dung rất linh hoạt; có

khi yếu tố điệp đó là một từ, cũng có khi được lặp lại hai hay nhiều từ

Phép điệp là một từ:

Trang 34

VD2:

“Mất những tiếng rung mơ hồ mà biết gọi người đi

Mất niềm tin vào chiếc thuyền buồm trắng Mất đom đóm đầm sâu mất nụ cười phố

vắng Mất bài thơ trao tay nhỏ em cầm.”

(Anh đã mất chi anh đã được gì)

“những sinh viên Sài Gòn

những sĩ quan Đà Lạt những quân đội mang tên dã thú những tểu đoàn không còn sót một ai những mô đất con đồi bằng tính mạng trăm người”.

(Cơn bão)Phép điệp là một ngữ:

“Nguyện cho kẻ ốm mau lành

Nguyện cho tôi thương không phải khóc Nguyện cho lòng tôi đừng sợ hãi

Nguyện cho lòng tôi đừng nguội lạnh tình yêu”

(Cầu nguyện)Hay:

“Phải xa em anh chẳngcòn gì nữa

Chẳng còn gì kể cả nỗi cô đơn”

(Em vắng)

Có khi được điêp biến đổi về trật tự âm tiết, trường hợp này được Lưuquang Vũ lặp lại 4 lần trong tập thơ, tuy nhiên nó cũng đóng vai tròquan trọng trong việc tạo nên sự đa dạng trong thơ của ông:

Trang 35

“Chỉ khổ đau trong đau khổ của người Chỉ sướng vui trong vui sướng của người thôi…”

(Người cùng tôi)Tác giả đã sử dụng 350 phiếu trên tổng số 499 phiếu cho phép điệpmột từ không tnh trường hợp lặp lại ở nhan đề, chiếm 70,1% Ngữ đượcđiệp có thể được giữ nguyên cũng có thể bị biến đổi trật tự từ

2.2.3 Xét về đặc điểm từ loại của từ ngữ được sử dụng theo phương

thức điệp ta có thể thấy, trong các sáng tác của mình, Lưu Quang Vũ đã sửdụng nhiều từ loại khác nhau Trong số đó thực từ chiếm 74,2%, hư từ chiếm25,8%

2.2.4 Trong 129 bài thơ thuộc đối tượng khảo sát có tới 36 bài thơ

điệp lại nhan đề Đó là một dụng ý nghệ thuật của nhà thơ, giúp bạn đọc cóthể tếp cận được tác phẩm một cách hiệu quả nhất Nhan đề có thể đượclặp lại hoàn toàn ở câu đầu tên hoặc câu cuối cùng của bài thơ, cũng cóthể lặp lại ở các câu khác nhau trong bài thơ Dù lặp lại nhan đề dưới dạnghình thức nào thì đó cũng là một dụng ý nghệ thuật chứa chan tình cảm, cảmxúc bị dồn nén của nhà thơ Lưu Quang Vũ trước cảnh vật, trước tình yêu vớicuộc đời, đất nước

2.3 Phân loại phép điệp ngữ trong thơ Lưu Quang Vũ

Chúng tôi tiến hành khảo sát tập thơ “Gió và tình yêu thổi trên đất nước

tôi” Cuốn sách tập hợp hơn 100 thi phẩm của Lưu Quang Vũ, trong đó có cả

những tác phẩm chưa từng được công bố của ông Tập thơ đã thể hiện mộtcách sâu sắc thế giới tâm hồn phong phú và bản lĩnh sáng tạo nghệ thuật độcđáo của nhà thơ Mặc dù các bài dài ngắn khác nhau nhưng hầu như ở bài thơnào tác giả cũng sử dụng phép điệp ngữ Trong quá trình khảo sát chúng tôithống kê được 535 trường hợp nhà thơ sử dụng phép tu từ điệp ngữ Căn cứvào cơ sở phân loại và bảng kết quả thống kê đã trình bày ở trên, chúng tôiphân ra thành các kiểu điệp sau:

2.3.1 Điệp cách quãng

Trang 36

Chúng tôi thống kê được 232 trường hợp điệp cách quãng (chiếm43,36%) Căn cứ vào cách thức sử dụng từ ngữ, điệp ngữ cách quãng được chia thành 4 tiểu loại như sau:

Trang 37

- Điệp cách quãng 1 từ

Tiểu loại này xuất hiện 161 lần (chiếm 69,4% kiểu điệp)

Ví dụ:

Hay:

“Vẫn tếng làng tiếng nước của riêng ta

Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất”

(Tiếng Việt)

“Về với anh, bông cúc nhỏ hoa vàng Anh thành người có ích cũng nhờ em Anh biết sống vững vàng không sợ hãi Như những nhà vườn, như người dệt vải

Ngày của đời thường thành ngày-ở-bên-em”

những người tốt không được quyền vô dụng

không được quyền ngu dốt”

(Những đám mây ban sớm)

“Nếu em biết những gì tôi đã sống

Những buồn vui tôi đã có trong đời

Nếu em biết bây giờ tôi khác lắm

Buổi cùng em kiếm củi ven đồi”

(Nơi ấy)

- Điệp cách quãng một câu

Trang 38

Kiểu điệp này chiếm tỉ lệ rất ít 0,9% kiểu điệp với 2 phiếu.

“Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi

Gió rừng cao xạc xào lá đổ Gió mù mịt những con đường bụi đỏ Những dòng sông ào ạt cánh buồm căng

Để mát rượi những mái nhà nắng lửa

Để luôn luôn được trở lại với đời

Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi ”

(Gió và tnh yêu thổi trên đất nước tôi)

- Điệp cách quãng có biến đổi

Kiểu điệp này cũng chỉ chiếm 1,72% kiểu điệp với 4 phiếu

“Chỉ khổ đau vì đau khổ của người Chỉ sướng vui trong vui sướng của người thôi ”

Đứng chờ anh.”

(Không đề I)

Trang 39

“Ước chi được hóa thành ngọn gió

Để được ôm trọn vẹn nước non này

Để thổi ấm những đỉnh đèo buốt giá

“Ngủ đi em ơi gian phòng nhỏ như thuyền

Giấc ngủ trôi về như dải sông đen

Ngủ đi em ơi, sân thượng áo phơi

Những tấm chăn hoa những thảm màu sặc sỡ

Ngủ đi em ơi, trên tường mảnh chai

Không ngăn nổi những đám mây xô giạt”

(Thơ ru em ngủ)

“Những cây nến thắp trên mỗi chiếc lá

Những cây nến thắp trong đám cưới cô Diệu Oanh”

(Những ngọn nến)Xuất hiện nhiều kiểu điệp trong một đoạn thơ Kiểu điệp này xuất hiện khá nhiều với 30 lần chiếm 5,61%

Trang 40

Ví dụ:

Hay

“Những dòng thơ thao thức khôn nguôi

Những dòng thơngười viết cho người Trên bãi bể thời gian, tôi viết tiếp

Những dòng thơ như móng tay day dứt

Trên vỏ dưa xanh thắm của mùa hè Cho kẻ xa nhà mái lá chở che

Cho ngưng lại nhịp đồng hồ quên lãng”

(Mây trắng của đời tôi)

“Sau cuộc đời này một cuộc đời mới nữa

Nơi không có lo âu buồn khổ

Con người được nghỉ ngơi ở giữa con người

Anh đưa em đi hết ánh trăng này

Một dòng sông khác một vầng trăng khác Một bài ca rì rầm trên cỏ mát

Một nụ cười mới gặp đã thân yêu”

(Một thành phố khác một bến bờ khác)

2.3.4 Điệp liên tiếp

Trong 535 trường hợp Lưu Quang Vũ sử dụng phép điệp ngữ đã thống

kê, điệp liên tiếp được sử dụng trong 13 trường hợp (chiếm 2,43%)

Ngày đăng: 06/01/2020, 17:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
2. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
5. Đinh Trọng Lạc (1964), Giáo trình Việt ngữ tập III, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ tập III
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1964
6. Đinh Trọng Lạc (1999), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 1999
7. Đinh Trọng Lạc (1997), Phong cách học tếng Việt, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1997
8. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2006), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2006
9. Nguyễn Thị Việt Nga, “Nghĩ thêm về Lưu Quang Vũ qua Gió và tnh yêu thổi trên đất nước tôi”. h t t p: // www . p h on g d i e p .n e t /d e fa ul t .a s p?acton=artiele&ID=16660 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ thêm về Lưu Quang Vũ qua Gió và tnh yêu thổi trên đất nước tôi
10. Lê Hồng Quang, “Thơ Lưu Quang Vũ, tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh”h t t p: // www . p h on g d i e p .n e t /d e fa ul t .a s p ? a c t o n =ar t i e l e&I D = 1 2 40 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Lưu Quang Vũ, tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh”
11. Lưu Khánh Thơ (1997), Lưu Quang Vũ - Thơ và đời, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu Quang Vũ - Thơ và đời
Tác giả: Lưu Khánh Thơ
Nhà XB: Nxb Văn hóa –Thông tin
Năm: 1997
12. Lưu Khánh Thơ (1998), “Lưu Quang Vũ và những vần thơ gửi mẹ”, Tạp chí văn học và tuổi trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lưu Quang Vũ và những vần thơ gửi mẹ
Tác giả: Lưu Khánh Thơ
Năm: 1998
3. Võ Bình, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa, Lê Anh Hiền (1982), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nôi Khác
4. Lê Bá Hiến, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
13. Trần Ngọc Thêm (1985), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Nxb Trung học và Đại học chuyên nghiệp, Hà Nội Khác
14. Cù Đình Tú (1983), Phong cách học tiếng Việt và đặc điểm tu từ tếng Việt, Nxb ĐH&THCN, Hà Nội Khác
15. Lưu Quang Vũ (2010), Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w