1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học tác phẩm của nam cao và kim lân trong nhà trường THPT theo hướng tiếp cận văn hóa

157 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐỖ THỊ PHƯỚC DẠY HỌC TÁC PHẨM CỦA NAM CAO VÀ KIM LÂN TRONG NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN HÓA LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐỖ THỊ PHƯỚC

DẠY HỌC TÁC PHẨM CỦA NAM CAO VÀ KIM LÂN TRONG NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

THEO HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐỖ THỊ PHƯỚC

DẠY HỌC TÁC PHẨM CỦA NAM CAO VÀ KIM LÂN TRONG NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

THEO HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN HÓA

Chuyên Ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Mã số: 8.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Hải Anh

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này do tôi thực hiện Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hải Phòng, ngày 25 tháng 04 năm 2019

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Phước

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc nhất đến PGS.TS Lê Hải Anh người đã luôn luôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn này

Xin cảm ơn những góp ý quý báu của các nhà khoa học, sự tạo điều

kiện, giúp đỡ của quý thầy cô trong Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc

gia Hà Nội nơi tôi học tập và nghiên cứu; Ban giám hiệu, tổ chuyên môn

trường Phạm Ngũ Lão - Hải Phòng nơi tôi đang công tác và tổ chức thực

nghiệm, sự hợp tác của các cộng sự đã giúp tôi hiện thực hóa những ý tưởng trong luận văn này

Cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, giúp đỡ, động viên để tôi hoàn thành luận văn này

Hải Phòng, ngày 25 tháng 04 năm 2019

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Phước

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Lớp dạy thực nghiệm và đối chứng 110Bảng 3.2: Kết quả thực nghiệm qua bài kiểm tra 113Bảng 3.3: Thống kê kết quả lớp thực nghiệm và đối chứng 113

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Khảo sát về thái độ của HS đối với tác phẩm Nam Cao, Kim Lân 62Biểu đồ 1.2: Các câu hỏi việc cảm thụ về hình tượng thiên nhiên cảnh vật Bắc

Bộ khi tiếp cận tác phẩm Nam Cao, Kim Lân 63Biểu đồ 1.3: Câu hỏi về vẻ đẹp con người Bắc Bộ qua những tác phẩm của Nam Cao, Kim Lân 64Biểu đồ 1.4: Các câu hỏi việc cảm thụ về ngôn ngữ nghệ thuật khi tiếp cận tác phẩm Nam Cao, Kim Lân 64Biểu đồ 1.5: Điều kiện cơ sở vật chất để phục vụ cho dạy học tác phẩm văn học theo định hướng tiếp cận văn hóa 65Tiểu kết chương 1 68Biểu đồ 3.1: Kết quả thực nghiệm và kết quả đối chứng giữa 2 lớp 11A1 và 11A2 114Biểu đồ 3.2: Kết quả thực nghiệm và kết quả đối chứng của 12A2 và 12A6 114

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Cấu trúc luận văn 7

CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8

1.1 Cơ sở lí luận 8

1.1.1 Khái niệm văn hóa và dạy học văn chương theo hướng tiếp cận văn hóa 8

1.1.2 Nam Cao và Kim Lân – nhà văn của vùng miền Bắc Bộ 25

1.2 Cơ sở thực tiễn 55

1.2.1 Thực trạng dạy học tác phẩm Nam Cao và Kim Lân trong chương trình Ngữ văn phổ thông hiện nay 56

CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC TÁC PHẨM NAM CAO VÀ KIM LÂN TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT THEO HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN HÓA 69

2.1 Định hướng dạy học tác phẩm Nam Cao, Kim Lân theo hướng tiếp cận văn hóa 69

2.1.1 Chú trọng khai thác bối cảnh thời đại, bối cảnh xã hội để làm làm rõ tính làng trong văn hóa Bắc Bộ 69

2.1.2 Tập trung vào phân tích hình tượng nhân vật trong mối quan hệ với gia đình, xã hội để làm rõ những đặc điểm tính cách của con người Bắc Bộ 73

2.1.3 Vận dụng tổng hợp các nguồn tư liệu, kiến thức liên ngành để khám phá phong tục tập quán vùng miền Bắc Bộ 76

2.1.4 Tập trung khai thác ngôn ngữ mang sắc thái nông thôn Bắc Bộ 79

Trang 9

2.2 Quy trình tổ chức dạy học tác phẩm Nam Cao, Kim Lân theo hướng tiếp

cận văn hóa Bắc Bộ 81

2.2.1 Trước giờ học 81

2.2.2 Trong giờ học 83

2.2.3 Sau giờ học 94

2.3 Tổ chức hoạt động ngoại khóa 96

2.3.1 Dạy học dự án tác phẩm Nam Cao, Kim Lân theo hướng tiếp cận văn hóa Bắc Bộ 96

2.3.2 Dạy học theo hình thức sinh hoạt chuyên đề tác phẩm của Nam Cao và Kim Lân theo hướng tiếp cận văn hóa Bắc Bộ 100

2.3.3 Tổ chức tham quan thực tế 104

2.3.4 Tổ chức cho HS xem phim tái hiện không gian văn hóa Bắc 107

Tiểu kết chương 2 109

CHƯƠNG 3THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 110

3.1 Mục đích thực nghiệm 110

3.2 Yêu cầu thực nghiệm 110

3.3 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 110

3.4 Thời gian thực nghiệm 111

3.5 Cách thức tiến hành thực nghiệm 111

3.6 Thiết kế giáo án thực nghiệm: Chí Phèo (Nam Cao); Vợ nhặt (Kim Lân) theo hướng tiếp cận văn hóa Bắc Bộ 112

3.7 Kết quả thực nghiệm 112

3.7.1 Nhận xét quan sát 112

3.7.2 Đánh giá lí tính 113

3.7.3 Phân tích kết quả thực nghiệm 114

Tiểu kết chương 3 116

KẾT LUẬN 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội toàn cầu hóa cho phép chúng ta có thể tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới Để trở thành một công dân toàn cầu, mỗi người không chỉ mở cửa đón nhận những dòng chảy văn hóa hiện đại của các quốc gia mà còn giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc mà dấu ấn văn hóa đậm nét nhất là ở các tác phẩm văn học

Văn học thông qua các văn bản ngôn từ và những hình tượng nghệ thuật sinh động trong các tác phẩm văn học đã đưa đến cho người đọc một nguồn văn hóa vô cùng lớn lao của dân tộc Dạy học văn theo tiếp cận văn hóa sẽ giúp học sinh khám phá những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam; đời sống tinh thần phong phú với những giá trị luôn được đề cao như: nhân hậu và lối sống nhân ái, vị tha Thế giới văn học nghệ thuật cũng là một không gian văn hóa mang những nét đặc trưng gắn với từng thời đại lịch sử

mà theo dòng chảy thời gian học sinh ngày nay khó có điều kiện tiếp cận

Tác phẩm văn học nghệ thuật luôn là con đẻ của một bối cảnh văn hóa, mang hơi thở, phản ánh không khí và in đậm đặc điểm văn hóa của từng vùng miền cũng như văn hóa chung của dân tộc Nhà văn lớn là nhà văn luôn tổng hợp được các giá trị phổ quát và bản địa trong tác phẩm của mình Để hiểu sâu và đánh giá đúng giá trị của một tác phẩm văn học không đơn thuần là nắm được tiểu sử, phong cách sáng tác của tác giả mà còn phải nắm vững bối cảnh văn hóa đã nuôi dưỡng, ảnh hưởng tới hiện tượng - tác phẩm đó; xem xét những đặc điểm văn hóa riêng và chung đã được phản ánh trong tác phẩm

ấy như thế nào Đó là một nguyên tắc bắt buộc khi tìm hiểu, nghiên cứu một tác gia, tác phẩm văn học

Đây cũng là dạy học theo hướng tích hợp liên môn giữa văn học với văn hóa; giữa văn học với lịch sử, địa lý, từ đó hình thành cho học sinh những

Trang 11

giá trị sống theo quan niệm của vùng văn hóa đặc trưng một cách tự nhiên và nhuần nhị nhất

Thực tế dạy học truyện ngắn của Nam Cao và Kim Lân hiện nay khai thác chưa triệt để đặc điểm văn hóa Bắc Bộ Trong khi đó văn hóa Bắc Bộ trước Cách mạng tháng Tám có khoảng cách rất lớn đối với văn hóa hiện đại thời kỳ hội nhập Đồng thời giáo viên cũng chưa có giải pháp thích hợp trong việc tiếp cận những tác phẩm này theo tiếp cận văn hóa một cách hiệu quả

Để góp phần khắc phục những hạn chế trên, nhằm đa dạng hóa cách tiếp cận trong dạy học tác phẩm văn chương, bên cạnh các hướng tiếp cận khác, chúng tôi đề xuất hướng tiếp cận văn hóa trong dạy học tác phẩm văn chương Hướng tiếp cận này sẽ đưa người học trở về môi trường văn hóa mà tác phẩm được sinh ra Điều này sẽ giúp người học có môi trường tốt nhất để đón nhận tác phẩm, khắc phục những thiếu hụt về văn hóa, khoảng cách văn hóa giữa các thời đại

Xuất phát từ các lí do trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài: Dạy học tác phẩm của Nam Cao và Kim Lân trong nhà trường THPT theo hướng tiếp cận văn hóa, với kì vọng sẽ góp thêm được một hướng dạy học tác phẩm Nam

Cao và Kim Lân mới mẻ và có hiệu quả hơn trong bối cảnh hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đối với tác giả Kim Lân, người viết tìm thấy không ít công trình nghiên

cứu như: Văn xuôi Kim Lân in trong Tạp chí Văn học (số 6) năm 1986 của Lại Nguyên Ân; Ngòi bút Kim Lân và sự cày xới trên cánh đồng quê của Kim Hoa (1994) in trong Báo Nhân dân chủ nhật; Nhà văn trong nhà trường –

Kim Lân của Hoài Việt (1999) in bởi Nxb Giáo dục, Hà Nội; luận văn Thạc

sĩ, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn; Văn hóa làng trong truyện ngắn Kim Lân của Vũ Thị Đỗ Quyên năm 2006; Kim Lân – nhà văn của những phận người bé mọn của Phong Lê in trong Tạp chí Sông Hương, số 223, năm

Trang 12

2007; luận văn Thạc sĩ, Đại học sư phạm Hà Nội 2; Phong cách nghệ thuật truyện ngắn Kim Lân của Nguyễn Thị Ngọc Quyên năm 2010; luận văn Thạc

sĩ, Đại học Sư phạm Thái Nguyên của Khổng Thị Minh Hạnh năm 2012 là

Cái nhìn thời gian, không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Kim Lân,…

Khi sưu tầm những chuyên luận, nghiên cứu về truyện ngắn Vợ nhặt

người viết tìm thấy một số công trình nghiên cứu sau: Xây dựng tình huống có vấn đề để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân, ĐHSP Hà Nội – 2006 của Trần Thị Quỳnh Hoa; Dạy học truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân cho học sinh trung học phổ thông từ cái nhìn văn hoá của Nguyễn Thị Thu Thảo, ĐHSP Hà Nội, năm 2006; luận văn Thạc sĩ Giáo dục học Vận dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy học truyện ngắn Vợ nhặt ở trường Trung học Phổ thông của Lê Ngọc Hiền năm 2010; Luận văn thạc sĩ, Đại học Giáo dục Dạy học tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân ở trường Trung học Phổ thông theo đặc trưng thể loại của Kiều Thị

Hà năm 2014; bài viết Tìm hiểu chân dung nhân vật trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân qua hệ thống từ láy của Thạc sĩ Trần Thu Hà viết tại Quảng

Ngãi tháng 12 năm 2014

Đối với tác giả Nam Cao, có rất nhiều công trình nghiên cứu theo các hướng tiếp cận khác nhau như: thi pháp truyện ngắn, chủ nghĩa hiện thực và nhân đạo, phong cách tác giả, tiếp cận tác phẩm Nam Cao dưới góc độ mỹ

Từ những năm 1952, tác phẩm của Nam Cao đã trở thành đối tượng

của khoa văn học với bài Nam Cao của Nguyễn Đình Thi in trong Mấy vấn

đề văn học - (Nxb Văn nghệ - HN 1956) Và từ đó đến nay đã có hàng trăm công trình nghiên cứu về Nam Cao như: Tô Hoài với các bài viết Chúng ta mất Nam Cao (1954), Người và tác phẩm Nam Cao (1956) hay Những kỉ niệm Nam Cao (1991) Tác giả Hà Minh Đức ngoài Tuyển tập Nam Cao, còn

có nhiều chuyên luận về nghệ thuật sáng tạo tâm lý của Nam Cao trong đó có

Trang 13

Khảo luận văn chương, có hai bài viết xuất sắc, vừa mang tầm khái quát cao,

vừa cung cấp cho người đọc những kiến thức bổ ích liên quan đến đề tài, đó là

: Dòng văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 và Nam Cao

Bên cạnh đó còn có các bài viết như: Nam Cao - con người và xã hội cũ (1964) của Lê Đình Kị, hay Nguyễn Văn Trung có bài Con người bị từ chối quyền làm người trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao (1965), Phong Lê với cuốn sách Nam Cao – Người kết thúc vẻ vang trào lưu văn học hiện thực (2003), cuốn Nam Cao – sự nghiệp và chân dung (2015) tổng hợp các công

trình nghiên cứu trong suốt hơn nửa thế kỉ về Nam Cao góp phần khẳng định

tài năng nghệ thuật của nhà văn Hay tác giả Lê Hải Anh trong cuốn Ngôn ngữ nghệ thuật Nam Cao đã tiếp tục có những khảo sát và đánh giá toàn diện

về đóng góp của Nam Cao trong công cuộc hiện đại hóa văn học nước nhà

Đối với quan điểm tiếp cận tác phẩm văn học theo tiếp cận văn hóa đạt được những thành tựu nhất định khi đã có ý thức xem xét mối quan hệ giữa

văn hóa và văn học Tác giả Lê Nguyên Cẩn trong cuốn Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa đã tiếp tục cho người đọc thấy những minh chứng cụ thể,

toàn diện của văn học từ góc nhìn văn hóa Từ việc xác định các truyền thống văn hóa, tác giả chủ trương đi phân tích các mã văn học trong các tác phẩm văn học Nhiều nhà nghiên cứu như Đào Duy Anh, Trần Đình Hượu, Đặng Thai Mai, Trần Đình Sử, Đỗ Lai Thúy, Trần Nho Thìn, Trần Ngọc Vương đều thống nhất ở quan điểm tác phẩm nghệ thuật như một cấu trúc văn hóa và đặt văn học trong mối quan hệ tương quan so sánh với văn hóa Những công trình nghiên cứu này đã cung cấp cho chúng tôi những cơ sở lí luận để tiếp cận các tác phẩm văn học trong nhà trường dưới góc độ văn hóa

Nhiều luận án TS Khoa học giáo dục đã khai thác khía cạnh văn hóa như một hướng tiếp cận dạy học hiện đại như: luận án TS của Hoàng Thị Huế

với Thơ Mới từ góc độ văn hóa - văn học (2006), Ngô Minh Hiền với Văn

Trang 14

xuôi Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường từ góc nhìn văn hóa (2012), Nguyễn Thị Xuân Quỳnh với luận văn Văn xuôi Thạch Lam dưới góc nhìn văn hóa, Nguyễn Thị Mai Anh với luận văn Định hướng dạy học thơ Haiku ở lớp 10 THPT theo tiếp cận văn hóa (2007)

Có thể thấy việc đặt tác phẩm văn học trong môi trường văn hóa, trong

sự đối sánh với văn hóa có thể áp dụng cho tất cả các giai đoạn, khuynh hưởng, tác giả, thể loại văn học Thông qua các hoạt động như đọc sáng tạo từ góc độ văn hóa, sử dụng các câu hỏi nêu vấn đề mang tính văn hóa, phân tích những nét văn hóa được tác giả sử dụng trong tác phẩm, phối hợp các phương pháp gợi tìm, trao đổi, thảo luận sẽ giúp người học trải nghiệm không gian văn hóa, có những phát hiện và lí giải tác phẩm ở tầng sâu văn hóa – môi trường sản sinh ra tác phẩm

Đây là những công trình khoa học nghiên cứu một cách công phu và hệ thống nêu bật được những giá trị tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Kim Lân và Nam Cao Đồng thời cũng có một số bài đã đưa ra hướng dạy học tác phẩm này Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào

đi sâu vào nghiên cứu việc dạy học tác phẩm này theo hướng tiếp cận văn hóa một cách tổng thể Vì vậy, người viết đã đi đến quyết định lựa chọn đề tài:

Dạy học tác phẩm của Nam Cao, Kim Lân trong trường THPT theo hướng

tiếp cận văn hóa

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu: Đưa ra định hướng và phương pháp dạy học

truyện ngắn Nam Cao và Kim Lân theo định hướng tiếp cận văn hóa nhằm hình

thành và phát triển năng lực cốt lõi ( Năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học)

cho học sinh ( HS )THPT

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: dạy học truyện ngắn Nam Cao và Kim Lân :

+ Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài

Trang 15

+ Làm rõ vai trò quan trọng của dạy học theo hướng tiếp cận văn hóa trong truyện ngắn Nam Cao và Kim Lân cho học sinh THPT trong giờ học Ngữ văn

+ Đề xuất các khía cạnh văn hóa Bắc Bộ có thể khai thác khi dạy học tác phẩm của Nam Cao và Kim Lân

+ Hình thành quy trình, phương pháp và cách thức tổ chức dạy học truyện ngắn Nam Cao và Kim Lân

+ Xây dựng thiết kế giáo án, hệ thống phiếu học tập, xây dựng các tình huống hoạt động và dạy thực nghiệm theo để kiểm chứng, đánh giá, khẳng định tính khả thi của những biện pháp đề xuất

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Bồi dưỡng phát triển nhân cách cho học

sinh lớp 11 và 12 bậc THPT thông qua việc dạy học truyện ngắn của nhà văn Nam Cao và Kim Lân

4.2 Phạm vi nghiên cứu: dạy học truyện ngắn Nam Cao và Kim Lân

trong chương trình 11 và 12 ban cơ bản

5 Phương pháp nghiên cứu

Để phù hợp với mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau đây:

- Phương pháp tổng hợp lí luận và thực tiễn: Phương pháp này được sửdụng để tổng hợp cơ sở lí luận từ các công trình nghiên cứu về năng lực tưởng tượng trong dạy học Ngữ văn, tổng hợp các đề tài nghiên cứu thực tiễn dạy học Ngữ văn, trên cơ sở đó hình thành phương pháp dạy dạy học truyện ngắn Nam Cao và Kim Lân phù hợp với đối tượng học sinh THPT

- Phương pháp khảo sát, thống kê: Phương pháp này được sử dụng để thống kê các phiếu tham khảo ý kiến của giáo viên (GV) và học sinh (HS) về thực tế dạy học truyện dạy học truyện ngắn Nam Cao và Kim Lân; thống kê

Trang 16

kết quả thực nghiệm sư phạm, phân loại và đánh giá những kết quả thu được nhằm kiểm nghiệm biện pháp đã được vận dụng trong quá trình dạy học truyện ngắn Nam Cao và Kim Lân

- Phương pháp thực nghiệm: Chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm trong một số giờ dạy học truyện ngắn Nam Cao và Kim Lân ở trường THPT bằng cách xây dựng nội dung thực nghiệm, trình tự tiến hành thực nghiệm, đối tượng thực nghiệm, soạn giảng,… Qua kết quả thực nghiệm, chúng tôi muốn kiểm định lại tính khả thi của đề tài, hiệu quả đạt được và phạm vi ứng dụng của đề tài trong dạy học Văn nói chung, dạy học truyện ngắn Nam Cao

và Kim Lân nói riêng

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo nội dung luận văn gồm

có 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2 Biện pháp tổ chức dạy học tác phẩm Nam Cao và Kim Lân trong nhà trường THPT theo hướng tiếp cận văn hóa

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 17

1.1.1.1 Khái niệm văn hóa

Thuật ngữ “văn hóa” bắt nguồn từ châu Âu: “culture” (Pháp, Anh),

“Kultur” (Đức), gốc của các từ này lại bắt nguồn từ chữ La tinh “Cultus”, có nghĩa nguyên là trồng trọt và nông nghiệp Từ này cũng được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa gốc mang tính vật chất cụ thể là trồng trọt cây cối, nghĩa bóng mang tính trừu tượng, về mặt tinh thần đó là sự tự giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn con người Như vậy, “văn hóa” gắn liền với việc giáo dục, đào tạo một con người hay một tập thể người để cho họ có được phẩm chất tốt đẹp, cần thiết cho cộng đồng

Văn hóa không phải là một cái gì vốn có tự thân mà là quá trình tiếp nhận giáo dục và lao động sáng tạo của con người “Văn hóa là của con người, do con người và cho con người nên văn hóa gắn với cách nghĩ, cách nói, cách làm của con người mang tính xã hội mà bản chất của con người này

là con người sáng tạo, đối lập với con người tự nhiên chỉ biết thừa hưởng một cách sinh vật mọi thứ từ tự nhiên Chỉ khi con người tự nhiên chuyển sang con người xã hội thì lúc đó mới xuất hiện văn hóa” Nói như Khổng Tử - nhà hiền triết Trung Hoa cổ đại thì văn hóa là cái hậu thiên chứ không phải cái tiên thiên

Theo các tài liệu nghiên cứu về văn hóa, trên thế giới hiện nay có đến gần 500 định nghĩa về văn hóa Ở phương Đông, Khổng Tử trong sách Chu Dịch và Lưu Hán đời Tây Hướng đều từng quan niệm văn hóa là biến cải, biến đổi, bồi đắp theo chiều hướng của cái đẹp

Trang 18

Ở phương Tây, định nghĩa đầu tiên của nhà nhân loại học người Anh:

“Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng tập quán khác mà con người có được với tư cách thành viên của xã hội”

Theo giáo sư Trần Quốc Vượng, nhiều học giả Mỹ cho rằng “Văn hóa

là tấm gương nhiều mặt phản chiếu đời sống, nếp sống của một cộng đồng, dân tộc”

E.B.T, Taylor, một đại biểu của nhân học và văn hóa học phương Tây

đã từng xác định: “Văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó, là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục cùng những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội”

Cách hiểu về văn hóa của phương của phương Đông hay phương Tây tuy có sự khác nhau nhưng đều phản phản ánh tính giá trị, thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người, làm cho con người và xã hội ngày càng tiến bộ hơn, ngày càng rời xa trạng thái nguyên sơ, khẳng định tính người

UNESCO, tổ chức văn hóa lớn của thế giới cũng đã đưa ra định nghĩa

của mình về văn hóa cả trong nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp.Theo tổ chức này,

“trong nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội”

Trên cơ sở phân tích các định nghĩa văn hóa, PGS TS Trần Ngọc Thêm đã đưa ra một định nghĩa văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”

Trang 19

Rõ ràng khái niệm văn hóa đã được nghiên cứu tiếp nhận theo nhiều góc nhìn, nhiều cách hiểu khác nhau Có thể nhận ra nội hàm khái niệm văn hóa bao gồm những nội dung sau: Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, phục vụ con người trong quá trình ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội, nhờ con người mà lưu trữ, truyền tải từ thế hệ này sang thế hệ khác; nó phải mang thuộc tính giá trị và đọng lại thành cách ứng xử; văn hóa là hoạt động mang tính biểu tượng, biểu tượng chính là “hạt nhân” của văn hóa, là hình thái biểu hiện của văn hóa; những hành động, những thành tựu và giá trị phải kết tinh thành bản sắc để qua đó giúp ta phân biệt được dân tộc và nhân loại; văn hóa là hệ thống gồm nhiều thành tố, trong

đó có văn học

1.1.1.2 Các thuộc tính và thành tố cơ bản của văn hóa

Tính hệ thống với các nội dung của văn hóa

Đây là một thuộc tính quan trọng của văn hóa Nói đến hệ thống bao giờ người ta cũng nghĩ đến một tổ hợp hữu cơ bao gồm nhiều thành tố có quan hệ khăng khít với nhau, tương tác và chi phối lẫn nhau

Ba nội dung cơ bản của văn hóa là: Văn hóa nhận thức; Văn hóa ứng xử; Văn hóa tổ chức Chúng kết hợp với nhau như một thể thống nhất hữu cơ

Ba nội dung của văn hóa cũng là ba mặt hoạt động cơ bản trong các thiết chế

xã hội của loài người Trong các nội dung này, văn hóa nhận thức đóng vai trò chi phối chế ước tất cả, chẳng những thế, văn hóa còn tạo nên sự gắn kết cộng đồng, điều chỉnh cách thức tổ chức xã hội, cách thức ứng xử thích hợp nhất với môi trường tự nhiên và xã hội

Tính giá trị với các chức năng điều chỉnh xã hội

Các giá trị của văn hóa theo mục đích có thể chia thành hai loại: giá trị vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất của con người, giá trị tinh thần nhằm

Trang 20

thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người Dù là vật chất hay tinh thần cũng

là con người qua lao động mà sản sinh ra

Theo nghĩa này, văn hóa được xem như một dạng hoạt động của con người và chỉ có ở con người, tuy nhiên cần phải hiểu rằng không phải bất cứ hoạt động sáng tạo nào cũng làm nên giá trị văn hóa Hoạt động lao động sáng tạo nào mang lại lợi ích cho con người mới được coi là hoạt động có giá trị văn hóa, còn hoạt động lao động sáng tạo nhưng không mang lại lợi ích cho con người thì không được coi là giá trị văn hóa (ví dụ chế tạo vũ khí hạt nhân, các vũ khí tối tân…là những hoạt động sáng tạo nhưng khó có thể coi là hoạt động có giá trị văn hóa)

Tính giá trị của văn hóa cũng mang tính tương đối, bởi theo thời gian

có thể phân chia thành: giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời Theo quan điểm

đó cùng với lợi ích sử dụng: những cái mặt này được coi là giá trị, mặt khác lại không được coi là giá trị

Căn cứ vào thang giá trị mà xã hội thường xuyên xem xét điều chỉnh để không ngừng hoàn thiện mình Như thế văn hóa đã thực hiện một chức năng quan trọng là điều chỉnh xã hội Từ việc điều chỉnh xã hội, văn hóa có chức năng bộ phận là định hướng các chuẩn mực, điều chỉnh các hành vi ứng xử của xã hội cũng như của con người Làm được điều này, văn hóa đã thực sự trở thành động lực cho sự phát triển xã hội, vì vậy Uỷ ban văn hóa Thế giới UNESCO đã khẳng định: “Văn hóa giữ vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết của sự phát triển xã hội”

Tính lịch sử và chức năng giáo dục

Đây là thuộc tính hàng đầu và mang tính chất bao trùm của văn hóa Một nền văn hóa bao giờ cũng được hình thành trong một quá trình tích lũy qua nhiều thế hệ và thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân bố, phân loại các giá trị và sáng tạo ra các giá trị mới Cái đó tạo nên truyền thống văn hóa

Trang 21

Truyền thống văn hóa là những giá trị văn hóa tương đối ổn định thể hiện những khuôn mẫu xã hội, được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, kết tinh ở phép lệ làng, các tín điều luân lí, các chuẩn mực giá trị, phong tục tập quán, lễ nghi luật pháp…

Một truyền thống văn hóa mất đi phải chờ mấy thế hệ mới xây dựng lại được, bởi vậy truyền thống văn hóa tồn tại được là nhờ giáo dục và giáo dục một cách thường xuyên liên tục và bằng nhiều biện pháp khác nhau (văn hóa không chỉ giáo dục con người bằng những giá trị truyền thống đã có mà còn bằng những giá trị đang hình thành và sẽ hình thành) Phải giáo dục con người

về văn hóa cả con đường hữu thức lẫn vô thức, từ khi mới chào đời đến khi trưởng thành, giáo dục trực tiếp lẫn gián tiếp, giáo dục một cách đồng bộ cả nhà trường- gia đình- xã hội Vấn đề giáo dục con người bằng bằng truyền thống văn hóa là vô cũng quan trọng bởi nó có ảnh hưởng đến giống nòi, dân tộc và đảm bảo tính kế tục của lịch sử

Tính nhân bản và chức năng giao tiếp

Văn hóa là hoạt động sáng tạo của con người Văn hóa là cái tự nhiên

đã được biến đổi dưới sự tác động của con người Nó là phần giao giữa tự nhiên với con người Con người tác động vào tự nhiên, sáng tạo văn hóa chính là nhằm phục vụ lợi ích của con người Một nền văn hóa có sắc thái riêng in đậm dấu ấn dân tộc,nhưng tất cả có một đặc điểm chung là vì con người và cuộc sống của con người Nhờ đặc điểm chung đó mà văn hóa thực hiện được chức năng giao tiếp rộng rãi giữa con người với con người, giữa dân tộc này với dân tộc kia dù ngôn ngữ văn tự khác nhau, nhờ văn hóa, loài người vẫn có thể hiểu nhau, thông cảm với nhau…

1.1.1.3 Dạy học văn chương theo hướng tiếp cận văn hóa

Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học

Trang 22

Trong các công trình nghiên cứu, các học giả ở Việt Nam có đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa Tác giả Đào Duy Anh trong “Việt Nam văn hóa sử cương”, Nguyễn Xuân Kính trong “Lịch sử văn hóa Việt Nam” đều hệ thống văn hóa gồm ba bộ phận chính bao gồm “kinh tế sinh hoạt, xã hội chính trị sinh hoạt và tri thức sinh hoạt” Nguyễn Xuân Kính quan niệm hệ thống của văn hóa bao gồm “văn hóa vật chất, văn hóa xã hội

và văn hóa tinh thần” Công trình “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm có hệ thống phức tạp hơn, gồm văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức đời sống xã hội, văn hóa tổ chức đời sống cá nhân, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội” Mỗi hệ thống đều

có những nét riêng nhưng đồng thời cũng có điểm gặp gỡ Tuy nhiên văn học trước hết là một dạng văn bản ngôn từ còn các lĩnh vực kinh tế, môi trường, chính trị khúc xạ tinh vi vào văn bản tác phẩm và ở địa hạt của mình, chúng

ta cần đến văn hóa để hiểu tác phẩm văn học chứ không làm công việc nghiên cứu văn hóa như các nhà khảo cổ học, dân tộc học, nghệ thuật học, sử học Chúng ta chỉ có thể lựa chọn một số yếu tố của các hệ thống đó

Có một quan niệm khác thu hẹp khái niệm văn hóa vào biểu tượng Tác giả Lê Nguyên Cẩn viết: “Để tạo ra góc nhìn văn hóa, chúng tôi tiếp cận tác phẩm từ hệ thống các biểu tượng văn hóa” Giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học thực chất tập trung vào những kí hiệu và biểu tượng văn hóa để phân tích nội hàm của chúng, từ đó mở rộng phân tích lí giải những nội hàm văn hóa của chúng Đọc hiểu tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa không đơn giản chỉ dừng lại ở việc giải nghĩa các biểu tượng mà còn phải phân tích đời sống của các biểu tượng trong xã hội, sự vận động của biểu tượng trong tiến trình lịch sử Đến lượt mình, biểu tượng không tồn tại độc lập mà thể hiện quan niệm về nghĩa về giá trị của mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi tầng lớp

Trang 23

Văn hoá gắn liền với tất cả các hoạt động nhằm phát triển và hoàn thiện con người, phát triển và hoàn thiện xã hội Trong cuộc sống của mình, con người luôn luôn tạo ra các giá trị Đó là đạo lý làm người, là những chuẩn mực, là phong tục tập quán, tín ngưỡng… Nhờ đó, con người có sự gắn kết chặt chẽ với nhau trong một cộng đồng, trong một dân tộc, trong một làng quê, trong một dòng họ, một gia đình Như vậy văn hoá trước hết là các hoạt động nhằm phát huy nhu cầu năng lực tinh thần cơ bản của con người, tạo ra các chuẩn mực, các giá trị, nâng cao khả năng hiểu biết và sáng tạo của con người Nhà văn đắm mình trong không khí thời đại, nắm vững tinh thần thời đại cùng với môi trường, vốn sống, vốn văn hoá… hình thành tư tưởng thẩm

mĩ trong sáng tác văn chương Vì vậy phương pháp văn hoá học đối với văn học Trung đại Việt Nam tập trung vào các bước như sau:

- Đối với văn học trung đại cần phục nguyên tái hiện không gian văn hoá cũng như những nhân tố thời đại tác động

- Tìm ra mối liên hệ giữa tác phẩm với văn hoá thời đại

- Xác định cơ sở văn hoá xã hội đã hình thành nên tác phẩm (đề tài, chủ

đề, hình thức nghệ thuật, cách cảm nhận, mọi yếu tố cấu thành tác phẩm )

Chúng ta vẫn quen với quan niệm thời đại nào văn học ấy, ý nói đến sự quy định của các nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội đối với văn học Khi xã hội, nhất là hệ thống chính trị thay đổi, tất nhiên mọi măt của đời sống tinh thần trong đó có văn hóa sẽ thay đổi theo Nhưng không có sự thay đổi đồng bộ diễn ra trong các phương diện đó Văn hóa có sức sống lâu bền hơn chính trị nên thường tiếp tục tồn tại ngay cả khi chế độ chính trị đã thay đổi và giai cấp thống trị tuyên bố bài trừ, tẩy chay văn hóa cũ Một ví dụ về Nho giáo ở Việt Nam vẫn hiện diện trong cách nghĩ, cách hành động của phần lớn người Việt hiện đại như nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu từng nói: “Nho giáo rất thích hợp với cuộc sống hẹp: gia đình, họ hàng, làng xã, rất thích hợp với nông

Trang 24

thôn, nền sản xuất theo hộ tiểu nông” Vì vậy các yếu tố văn hóa của Nho giáo vẫn còn, ngấm ngầm và hiển hiện trong quan niệm về con người của văn học hiện đại

Có nhiều ví dụ khác về ảnh hưởng của văn hóa trung đại trong văn học Việt Nam thế kỷ XX Mặc dù thi pháp văn học hiện đại ảnh hưởng của văn học Phương Tây đã thay đổi diện mạo văn học Trên thực tế, quá trình đẩy lùi, xóa bỏ thi pháp văn học trung đại là một quá trình lâu dài

Văn hóa có sức sống lâu bền hơn chính trị, khi một sự kiện chính trị diễn ra, một chế độ mới ra đời thì không nhất thiết tất cả các yếu tố văn hóa

cũ lập tức tiêu vong Đặc điểm này của văn hóa đòi hỏi chúng ta khi nghiên cứu về những bước chuyển biến của văn học, đặc biệt là quá trình “hiện đại hóa” văn học, phải chú ý không những đến phương diện thay đổi, biến đổi mà

cả phương diện bảo lưu, duy trì của văn hóa truyền thống như một dòng chảy trong lịch sử văn học dân tộc

Cùng với các bộ phận khác của văn hóa như: giáo dục, văn học nghệ thuật, tư tưởng, tín ngưỡng, phong tục tập quán, ngôn ngữ…văn học là một

bộ phận quan trọng của văn hóa, không tách rời và luôn chịu sự chi phối, quy định của văn hóa với ý nghĩa hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ phận “Văn học không thể và không có quyền qua mặt hệ thống văn hóa để tiếp xúc thẳng hoặc tác động trực tiếp đến đời sống xã hội, mà phải gián tiếp qua hệ thống văn hóa và chỉ được quan hệ với hệ thống xã hội thông qua văn

hóa” Trong bài viết Văn học và văn hóa truyền thống, nhà nghiên cứu Huỳnh

Như Phương đã khẳng định: “Văn hoá tác động đến văn học không chỉ ở đề tài mà còn ở toàn bộ bầu khí quyển tinh thần bao bọc hoạt động sáng tạo của nhà văn và hoạt động tiếp nhận của bạn đọc Bản thân nhà văn với thế giới nghệ thuật của mình được xem là một sản phẩm văn hoá Người đọc, với chân trời chờ đợi hướng về tác phẩm, cũng được rèn luyện về thị hiếu thẩm mỹ

Trang 25

trong một môi trường văn hoá nhất định Chính không gian văn hoá này đã chi phối cách xử lý đề tài, thể hiện chủ đề, xây dựng nhân vật, sử dụng thủ pháp nghệ thuật… trong quá trình sáng tác; đồng thời cũng chi phối cách phổ biến, đánh giá, thưởng thức… trong quá trình tiếp nhận Một nền văn hoá cởi

mở, bao dung mới tạo điều kiện thuận lợi cho văn học phát triển Vì vậy, có thể nói văn học là thước đo, là “nhiệt kế” vừa lượng định, vừa kiểm nghiệm chất lượng và trình độ văn hoá của một xã hội trong một thời điểm lịch sử nhất định”

Văn học là yếu tố thể hiện đầy đủ nhất diện mạo của văn hóa Bởi vì bản thân văn học bao hàm nhiều yếu tố của các bộ môn nghệ thuật vì thế nó phác họa được bức tranh đời sống vật chất và tinh thần, các mối quan hệ giữa con người trong cộng đồng, con người với thiên nhiên, và với cộng đồng xã hội khác Chính những biểu hiện văn hóa đó phân biệt cộng đồng dân tộc này với cộng đồng dân tộc khác

Yếu tố văn hóa không chỉ thể hiện ở nội dung mà còn nằm ở hình thức nghệ thuật thông qua các biểu hiện về ngôn ngữ, nghệ thuật, thẩm mĩ, loại hình, thể loại, tu từ Văn học mỗi địa phương mỗi vùng văn hóa khác nhau lại có hệ thống thể loại văn học, hệ thống thi pháp, hệ thống biểu tượng đặc trưng Đọc bất cứ tác phẩm văn học nào ta đều có thể nhận thấy giá trị văn hóa của nó thể hiện ở những phương diện đó

Văn học là đỉnh của văn hóa, có khả năng bảo tồn các giá trị văn hóa André Malraux, một trong những văn hào thấm nhuần tư tưởng phương

Đông, từng nói: “Văn hóa là những gì còn lại, khi tất cả đã mất đi” Văn học

có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo tồn, lưu giữ được các giá trị của văn hóa, tránh việc mất mát, sai lệch theo thời gian: “Văn học là cái nôi của mọi nền tảng văn hóa, nó góp phần truyền đạt, lưu giữ và nâng cao các giá trị văn hóa của dân tộc Các phong tục văn hóa, truyền thống văn hóa khi được

Trang 26

đưa vào văn học nó trở nên đẹp hơn, quan trọng hơn và tăng thêm phần giá trị Văn học góp phần làm cho văn hóa dễ dàng được tiếp nhận và ngày càng phát triển rộng rãi hơn” [149]

Văn học có khả năng nhận thức phản ánh, sáng tạo, chuyển tải và giữ gìn văn hóa Nếu văn hóa là cái nôi sinh ra văn học thì văn học thì văn học lại

là thứ trang sức quý giá mài giũa và làm đẹp văn hóa Có những truyền thống văn hóa bình dị hoặc người ta không biết đến, hoặc biết rồi vẫn dễ dàng quên

đi, nếu không có bất kì một biện pháp nào lưu giữ sẽ rất dễ bị mai một, thậm chí biến mất nhưng khi truyền thống đó xuất hiện trong tác phẩm văn học, đặc biệt qua lăng kính tuyệt mỹ của nhà văn, nó không những không mất đi mà còn rất sống, khắc sâu, in đậm trong trái tim, khối óc con người mãi mãi

Văn học sinh ra đã gánh sứ mệnh cao cả là truyền đạt văn hóa của một đất nước, một dân tộc, toàn bộ những gì đức kết được của cha ông từ ngàn xưa để lại để mỗi người phải có ý thức để tự bảo vệ nó, lưu giữ nó và truyền lại cho đời sau, từ đời này sang đời khác Đến bây giờ chúng ta thấy không có một sự truyền đạt văn hóa nào tốt hơn và bền vững bằng sự lưu truyền trên lĩnh vực văn học Qua văn học, các vấn đề văn hóa đều trở nên đẹp hơn, quan trọng hơn, có giá trị hơn, dễ tiếp nhận và ngày càng phát triển rộng rãi hơn Bởi vì, những người sáng tác như “những con chim yến khổ hạnh, đã lấy dãi

và cả máu của mình để biến những hạt cát của đại dương tầm thường, phàm tục thành lõi sáng của một hạt ngọc trặn, ánh ngời mà dâng tặng cho đời và cũng là đánh dấu sự hiện diện của chính mình trong cuộc đời”

Như vậy, ta thấy văn học và văn hóa luôn đồng hành cùng nhau, cùng gắn bó và cùng nhau phát triển

Văn hóa là nền tảng của văn học, tiền đề cho văn học phát triển, nguồn dinh dưỡng nuôi sống văn học chính là văn hóa Nhưng không phải vì thế mà văn học hoàn toàn thụ động chịu sự chi phối, quy định của văn hóa Trong tư

Trang 27

tưởng của các nhà văn, cả ý thức và vô thức, dòng nham thạch của tâm thức văn hóa vẫn âm ỉ tác động, chi phối sự sáng tạo của họ Tuy vậy, họ vẫn hết sức tích cực, chủ động trong việc lựa các giá trị văn hóa Các giá trị văn hóa được đề cập đến trong văn học bao giờ cũng là những giá trị tiêu biểu và đặc sắc nhất Văn học lựa chọn những giá trị đó để đề cao văn hóa của dân tộc và

tô đẹp thêm truyền thống của đất nước Muốn có thành tựu rực rỡ, có ý nghĩa

và được độc giả đánh giá cao, không có con đường nào khác là văn học phải tích cực và chủ động trong việc lựa chọn các giá trị văn hóa Một tác phẩm văn học hay được đề cao và lưu truyền lại cho các thế hệ sau phải là một tác phẩm trong đó tác giả không những thành công về mặt nội dung mà đòi hỏi nghệ thuật vận dụng các giá trị văn hóa trong tác phẩm đó như thế nào Vì thế

mà việc giảng dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông hiện nay nếu chỉ tập trung khai thác về mặt văn học thì chưa đủ, mà còn phải tập trung vào khai thác cả về mặt văn hóa của tác phẩm Nếu như văn học hoàn toàn thụ động chịu sự chi phối, quy định của văn hóa thì nó không còn là một tác phẩm văn học nữa mà nó trở thành một bài viết thuần túy minh họa cho văn hóa Văn học là văn học, chúng ta không thể biến tất cả văn học thành văn hóa và ngược lại Vì vậy mà việc lựa chọn các giá trị văn hóa để đưa vào văn học là một việc rất khó, đòi hỏi phải dùng sự hiểu biết về văn hóa để làm cơ sở trong

Trang 28

đại và dân tộc mình, địa phương mình Con người vốn là sản phẩm của văn hóa dân tộc đã tích lũy qua nhiều thế kỷ; phải nắm vững được quan điểm sống, quan điểm đạo đức, thẩm mỹ của dân tộc đã hình thành trong quá khứ

và đem những yếu tố bản sắc đó góp cùng văn học nhân loại Hiện đại hóa không có nghĩa là biến nền văn học Việt Nam thành một bản sao của văn học phương Tây Đó là yêu cầu mang tính sống còn đối với văn học và dạy học văn học theo hướng tiếp cận văn hóa

Nếu như văn học trung đại không có sự phân biệt rạch ròi văn hóa các vùng miền thì với văn học dân gian và văn học hiện đại các yếu tố văn hóa vùng miền được thể hiện một cách rõ nét Sự phát triển của văn hóa địa phương gắn liền với quá trình khai khẩn và mở rộng lãnh thổ của dân tộc Điều đó bắt nguồn từ sự khác biệt về vị trí địa lí, địa hình, khí hậu nên có những cách tổ chức xã hội, lao động sản xuất, sinh hoạt văn hóa khác nhau Các yếu tố văn hóa khác nhau từ văn hóa ẩm thực, cách ăn mặc, cách di chuyển đến các yếu tố về tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán Điều này

đã hình thành nên nét văn hóa vùng miền hết sức độc đáo Chính nét độc đáo này ít nhiều có ảnh hưởng đến văn chương nhất là văn chương hiện đại Cho nên khi xây dựng hình tượng nhân vật, các nhà văn đều tạo được nét đẹp rất riêng mang đậm tính cách của người nơi đó, như văn hóa Tây Bắc nhiều hủ tục ràng buộc khát vọng tự do con người trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, đó là văn hóa làng quê Bắc Bộ với những người nông dân thuần hậu chất phác trong trang văn của Nam Cao, Kim Lân Đó còn là sự gắn kết buôn làng qua các thế hệ đoàn kết dưới sự lãnh đạo của người anh hùng Tây

Nguyên trong Rừng xà nu, hay là câu chuyện dòng sông gia đình đổ ra biển

lớn dân tộc với những người con miền Nam kiên cường bất khuất biết ý thức lòng căm thù giặc và cầm súng chiến đấu từ khi còn rất nhỏ Và chính các đặc điểm văn hóa khác biệt này mà ngôn ngữ nghệ thuật từ lời ăn tiếng nói, cách

Trang 29

nghĩ cách làm của những người dân nơi đây đều mang bản sắc riêng Họ bên cạnh nét văn hóa riêng của vùng miền vẫn mang màu sắc văn hóa chung của dân tộc Đó là tấm lòng yêu thương con người và quê hương đất nước, ý chí vượt khó, chăm chỉ lao động

Xã hội hiện đại nhiều HS xa rời vốn văn hóa dân tộc, còn thiếu hiểu biết hoặc chưa có cơ hội quan sát trải nghiệm những yếu tố văn hóa trong đời sống Vì thế HS thường gặp khó khăn khi tiếp cận các tác phẩm văn học nếu không đặt trong bối cảnh văn hóa khác biệt để hiểu sâu sắc hơn về con người trong các mối quan hệ với tự nhiên, các yếu tố vật thể, phi vật thể, con người

cá nhân, gia đình và xã hội Thậm chí nhiều HS đọc hiểu các tác phẩm văn học xưa với con mắt và quan điểm của người hiện đại ngày nay nên dễ sa vào phiến diện, phán đoán theo kiểu xã hội học dung tục Ở thời đại nào thì tư tưởng, quan điểm trong văn hóa con người lại khác nhau và nó chi phối nhiều đến các hình tượng của tác phẩm văn học Dạy học văn chương theo hướng tiếp cận văn hóa sẽ rút ngắn khoảng cách văn hóa với độc giả trẻ, trả lại tác phẩm cho môi trường đích thực của nó đồng thời còn mở rộng sự hiểu biết về các vùng miền văn hóa khác nhau

Dạy học văn chương theo hướng tiếp cận văn hóa là một hướng đi mới

và hiệu quả trong việc khai thác tác phẩm văn chương dưới góc độ văn hóa Tích hợp các yếu tố văn hóa giúp HS đọc hiểu văn bản tốt hơn, có chiều sâu hơn tránh được những lí giải suy diễn vô căn cứ Màu sắc văn hóa trong dạy học tác phẩm văn chương vừa gần gũi vừa hấp dẫn sẽ làm giờ học không những đạt hiệu quả cao tránh được sự khô khan, đơn điệu của các giờ học Có thể hiểu tiếp cận văn hóa như một con đường hiệu quả nhất để khám phá tác phẩm văn chương dù tác phẩm đó ở thời đại nào và mang dấu ấn văn hóa của vùng miền nào Tiếp cận văn hóa không đi chệch mục tiêu tiếp cận tác phẩm văn chương dưới góc độ văn học mà là sự hỗ trợ, bổ sung cần thiết để việc

Trang 30

tiếp nhận tác phẩm được trọn vẹn đầy đủ ý nghĩa hơn

Yêu cầu về dạy học văn

Dạy học tác phẩm văn học nhất là tác phẩm văn học hiện đại theo tiếp cận văn hóa là cách tiếp cận mới mẻ Nó bổ sung nền tảng văn hóa còn thiếu hụt ở người học do sự khác biệt về vùng miền về thời gian, nó cũng đặt tác phẩm vào trong bầu không khí văn hóa để đưa ra những lí giải hợp lí trong tiếp cận văn học Từ đó việc dạy và học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông sẽ có chiều sâu hơn

Trước tiên, bản thân mỗi tác phẩm văn học đã là sản phẩm văn hóa của thời đại Nó là sự tổng hòa và chắt lọc những giá trị văn hóa qua con mắt của nhà văn Vì vậy về mặt kiến thức, năng lực đọc hiểu một văn bản văn học đòi hỏi người học phải có một hành trang văn hóa thu nhận được từ môi trường

xã hội của họ Khi tiếp cận tác phẩm dưới góc độ văn hóa sẽ giúp HS khám phá ra được những giá trị đích thực của tác phẩm gắn liền với những giá trị văn hóa của cộng đồng, dân tộc, vốn được nhà văn kí thác, gửi gắm nỗi niềm, cảm xúc cá nhân và tinh thần thời đại của mình vào trong đó Đó là phương pháp tích hợp địa văn hóa một cách tự nhiên nhất và hiệu quả nhất tránh cách dạy nhồi nhét, gượng ép kiến thức bên ngoài vào bên trong một tác phẩm văn học Đó chỉ là sự chắp ghép máy móc chứ không xuất phát từ giá trị bên trong của tác phẩm

Thứ hai, năng lực đọc hiểu và tiếp cận văn bản văn học đòi hỏi người học phải có một hành trang văn hóa nền đủ rộng và sâu sắc thu nhận được từ môi trường xã hội của họ Vì thế về mặt kĩ năng, hướng tiếp cận văn hóa sẽ giúp HS biết cách đọc văn bản theo từng thể loại và biết dựa vào các yếu tố văn hóa trong tác phẩm để khám phá, tiếp nhận Bởi trong quá trình tiếp nhận tác phẩm theo hướng văn hóa, HS biết cách dựa vào những hình tượng nghệ thuật mang yếu tố văn hóa, như thiên nhiên, văn hóa vật chất, văn hóa tinh

Trang 31

thần, vẻ đẹp con người, ngôn từ văn hóa để khám phá và thưởng thức được cái hay, cái đẹp của nhân vật cũng như dụng ý nghệ thuật của người sáng tạo Khi ấy người học sẽ tự biết chiêm nghiệm và nhìn nhận các vấn đề thực tế đời sống của bản thân và các mối quan hệ xung quanh dưới góc độ văn hóa Phải chăng đó cũng là mục tiêu cuối cùng của một người học văn học

Thứ ba, về thái độ, hướng tiếp nhận tác phẩm theo hướng văn hóa sẽ giúp HS biết trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, cộng đồng mà tác giả gửi gắm, kí thác vào tác phẩm Những giá trị văn hóa đó không ở đâu xa lạ mà tồn tại ngay trong con người chúng ta, những giá trị vật chất, tinh thần, các mối quan hệ Từ đó HS sẽ ý thức phải sống sao cho phù hợp với văn hóa địa phương vừa thể hiện được ý thức con người cá nhân sâu sắc nhưng cũng phải hài hòa với môi trường cộng đồng để giữ gìn

và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Trước đây, dạy học tác phẩm văn học trong nhà trường, người ta thường chú ý đến nội dung phản ánh hiện thực xã hội của tác phẩm, hay chỉ quan tâm đến “cấu trúc hình thức văn bản tác phẩm hoặc chỉ thiên về giảng giải từ ngữ” Trong những năm gần đây các nhà nghiên cứu đã quan tâm nhiều hơn đến yếu tố văn hóa khi tiếp cận tác phẩm văn học Tác giả Trần Nho Thìn đã đưa ra cách thức cụ thể như sau: “Đối với văn học (không chỉ là tác phẩm văn học trung đại mà cả những tác phẩm văn học hiện đại) cần phục nguyên tái hiện không gian văn hoá cũng như những nhân tố thời đại tác động Tìm ra mối liên hệ giữa tác phẩm với văn hoá thời đại Xác định cơ sở văn hoá xã hội đã hình thành nên tác phẩm (đề tài, chủ đề, hình thức nghệ thuật, cách cảm nhận, mọi yếu tố cấu thành tác phẩm ) [39]

Như vậy, để khám phá và đọc hiểu được tác phẩm văn học, GV cũng phải xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau để giúp HS thấy hết được cái hay cái đẹp của văn học, trong đó hướng tiếp cận theo văn hóa cũng là một

Trang 32

cách tiếp cận cần phải chú ý khám phá cả chiều sâu nội dung lẫn nghệ thuật tác phẩm:

Ở phương diện nội dung, hướng tiếp cận văn hóa sẽ giúp người học tập trung vào các yếu tố như con người, bối cảnh thiên nhiên, xã hội, lịch sử Đây là những yếu tố mang được những giá trị văn hóa về đời sống vật chất và tinh thần của con người, của cộng đồng, dân tộc

Ví dụ, việc dạy học truyện ngắn “Vợ nhặt”, trước tiên GV cần chú ý cho HS bám vào những yếu tố con người, bối cảnh thiên nhiên, xã hội, lịch sử

để hiểu được vẻ đẹp tác phẩm theo tiếp cận văn hóa Bắc Bộ Dạy tác phẩm này cũng cần xem xét tình huống nhặt được vợ dưới cái nhìn của định kiến của xã hội, đặt nhân vật trong các mối quan hệ với gia đình, quan hệ với xã hội để thấy được vẻ đẹp trong tính cách, tâm hồn của họ đó là có khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc, giàu lòng trắc ẩn và yêu thương Hay dựa vào những phương diện thiên nhiên cảnh vật trong tác phẩm để thấy được bức tranh xã hội Việt Nam trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 với cảm xúc xót thương sâu sắc

Đối với phương diện về nghệ thuật của tác phẩm, hướng tiếp cận văn hóa sẽ giúp người học tập trung chú ý đến các yếu tố, như ngôn ngữ, thể loại, không gian, thời gian, Đây là các yếu tố được biểu hiện qua những dấu ấn riêng của đời sống văn hóa tinh thần của con người, cộng đồng và quê hương đất nước Ví dụ từ cách suy nghĩ, lời ăn tiếng nói của bà cụ Tứ đã thể hiện rõ

vẻ đẹp của một bà cụ của đồng bằng Bắc Bộ yêu thương con cái, lo lắng vun vén cho con, với những triết lí và niềm tin có phần nhà quê nhưng lại chứa đựng sự lạc quan trong tư duy của người xưa Đó là cách sử dụng từ ngữ: từ láy, khẩu ngữ, xưng hô rất gần gũi, phù hợp với cách nói năng, diễn đạt cũng như cách nghĩ, cách cảm của quần chúng lao động miền Bắc

Trang 33

Ngoài hai phương diện văn hóa chính trên, để giúp HS đọc hiểu được tác phẩm văn học, GV cần chú ý đến phương diện văn hóa về phương pháp tổ chức dạy học Cụ thể, GV cần hướng dẫn cho HS được trải nghiệm văn hoá thông qua trường liên tưởng, tưởng tượng, Chính điều này sẽ giúp HS biết cách thâm nhập từng bước vào tác phẩm để tìm ra những giá trị đích thực được ẩn sâu trong tác phẩm Ví dụ, dạy học đoạn trích truyện ngắn “Chí Phèo”, nhằm tạo hứng thú và giúp HS trải nghiệm văn hóa Bắc Bộ, GV có thể

sử dụng những phương tiện kĩ thuật trực quan sinh động như phim, ảnh, tranh, để giúp HS nhớ lại kiến thức đã học về Bắc Bộ cũng như khơi gợi những kiến thức sẵn có về văn hóa Bắc Bộ ở mỗi bản thân các em GV cũng

có thể sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp HS có sự liên tưởng, tưởng tượng, hoặc cho các em trao đổi thảo luận với nhau… Đây là bước quan trọng trong việc tạo đà để giúp các em thâm nhập vào thế giới tác phẩm và được đắm mình trong mạch chảy của ngữ cảnh văn hóa Bắc Bộ trong đoạn trích

Khi tiếp cận tác phẩm văn học theo định hướng văn hóa, GV phải chú ý đến đối tượng tiếp cận Với những HS sinh ra và lớn lên ở miền Bắc thì điều

đó là dễ dàng nhưng với HS miền Trung hay miền Nam thì đó lại có khoảng cách địa lí nhất định Tương tự với những tác phẩm văn học có khoảng cách thời gian văn hóa như “Vợ nhặt” vì không còn khung cảnh thực tế, GV có thể thay thế bằng cách tái hiện, quan sát tranh ảnh, tham quan bảo tàng, di tích hoặc chính những nhân chứng trong lịch sử kể lại Trong quá trình đọc hiểu văn bản, HS sẽ tự bộc lộ những kiến thức, những hiểu biết về văn hóa cũng như các yếu tố thuộc về văn hóa, tầng lớp, địa vị, môi trường văn hóa của bản thân Nhờ sự hồi ứng văn hóa của bản thân mà HS sẽ dễ dàng nắm bắt được thông điệp văn hóa mà tác phẩm chuyển tải

Tóm lại, các phương diện văn hóa trên sẽ là phương pháp dạy học hiệu quả để giúp người học tiếp nhận, đọc hiểu được tác phẩm văn chương Nhờ

Trang 34

các phương diện văn hóa này mà người học sẽ tiếp cận, khám phá trên nhiều mặt của văn bản tác phẩm cũng như ngay cả bản thân chủ thể tiếp nhận để tìm

ra được giá trị văn hóa đích thực đã làm nên vẻ đẹp của tác phẩm văn học Vì vậy, quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học theo hướng văn hóa là đúng đắn, hợp lí trước yêu cầu và xu hướng dạy học tích hợp hiện nay

1.1.2 Nam Cao và Kim Lân – nhà văn của vùng miền Bắc Bộ

1.1.2.1 Nhà văn Nam Cao

Nam Cao là nhà văn hiện thực lớn, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn, có đóng góp quan trọng đối với quá trình hiện đại hóa truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Nam Cao xuất thân trong gia đình nông dân và

là một tri thức nghèo cuộc sống chật vật khó khăn Nam Cao (1917 – 1951) tên khai sinh là Trần Hữu Tri, sinh trong một gia đình nông dân ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lí Nhân (nay xã Hòa Hậu, huyện

Lí Nhân) tỉnh Hà Nam Học hết bậc Thành chung, Nam Cao vào Sài Gòn kiếm sống và bắt đầu sáng tác Sau hơn ba năm vì đau ốm ông phải trở về quê Sau đó ông dạy học ở một trường tư thục ở ngoại ô Hà Nội Nhưng cuộc đời giáo khổ trường tư cũng không yên: quân Nhật vào Đông Dương, trường đóng cửa, ông phải sống chật vật, lay lắt bằng nghề viết văn và gia sư Đầu năm 1943, ông tham gia nhóm văn hóa cứu quốc ở Hà Nội Bị địch khủng bố gắt gao, ông phải lánh về quê rồi tham gia khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 ở phủ Lí Nhân Năm 1946, với tư cách là phóng viên mặt trận, ông có mặt trong đoàn quân Nam tiến vào đến Nam Trung Bộ Mùa thu năm 1947, ông lên Việt Bắc làm công tác báo chí, tuyên truyền phục vụ kháng chiến; năm 1950, ông tham gia chiến dịch Biên giới Tháng 11 – 1951, trên đường vào công tác ở vùng sau lưng địch liên khu III, ông bị giặc Pháp phục kích và sát hại

Con người Nam Cao nhìn bề ngoài có vẻ vụng về ít nói (ông tự giễu mình là “cái mặt không chơi được”), nhưng đời sống nội tâm lại phong phú,

Trang 35

luôn sôi sục, có khi căng thẳng Bình sinh, Nam Cao thường day dứt, hối hận lấy làm xấu hổ về những việc làm, những ý nghĩ mà ông cho là tầm thường của mình Người trí thức “trung thực vô ngần” (Tô Hoài) ấy luôn đấu tranh với chính mình để thoát khỏi lối sống tầm thường nhỏ nhen, khao khát vươn tới tâm hồn trong sạch Giá trị to lớn nhất của sáng tác Nam Cao, nhất là những tác phẩm viết về người trí thức nghèo, gắn liền với cuộc đấu tranh bản thân trung thực, âm thầm mà quyết liệt trong suốt cuộc đời cầm bút của ông

Nam Cao là người có tấm lòng thật đôn hậu, chan chứa yêu thương Ông gắn bó sâu nặng, giàu ân tình với quê hương và những người nghèo khổ

bị áp bức khinh biệt trong xã hội cũ Ông quan niệm, không có tình thương đồng loại thì không đáng là con người (Đời thừa) Đó là một trong những lý

do dẫn Nam Cao đến với con đường nghệ thuật hiện thực “vị nhân sinh” và tạo nên những tác phẩm thấm đượm tư tưởng nhân đạo sâu sắc Không chỉ thành công trong sáng tác về tri thức, Nam Cao còn là cây bút xuất sắc khi viết về người nông dân Ông để lại một gia tài đồ sộ viết về cuộc sống tối tăm,

số phận bi thảm của người nông dân, tiêu biểu là các tác phẩm: Chí Phèo, Lão Hạc, Dì Hảo, Lang Rận, Một bữa no, Một đám cưới, Mua danh, Trẻ con không được ăn thịt chó,…Chí Phèo xứng đáng là một kiệt tác

Viết về đề tài này, Nam Cao đã dựng lên một bức tranh chân thực vể nông thôn Việt Nam nghèo xơ xác trên con đường phá sản, bần cùng, hết sức thê thảm những năm 1940 – 1945 Ông chú ý tới những con người thấp cổ bé họng, những số phận bi thảm Họ càng hiền lành nhẫn nhục thì càng bị chà đạp tàn nhẫn, phũ phàng Ông đi sâu vào tình cảnh, số phận của những con người bị đọa đầy vào cảnh nghèo đói, cùng đường bị hắt hủi, Viết về đề tài người nông dân bị đẩy vào tình trạng tha hóa lưu manh, Nam Cao đã kết án đanh thép cái xã hội tàn bạo đã hủy hoại nhân tính con người – những con người vốn có bản tính hiền lành

Trang 36

Dù viết về đề tài nào thì sáng tác của Nam Cao luôn chứa đựng nội dung triết học sâu sắc, có khả năng khái quát những quy luật đời sống như vật chất, ý thức, hoàn cảnh và con người, môi trường và tính cách,…Nam Cao luôn trăn trở về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con người, luôn day dứt đến mức đau đớn trước tình trạng xã hội vô nhân đạo đã đọa đày con người trong đói khổ, vùi dập ước mơ, làm chết mòn đời sống tinh thần và lẽ sống cao đẹp của họ

Sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao là cây bút tiêu biểu của văn học giai

đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 -1954) Nhật ký Ở rừng (1948), truyện ngắn Đôi mắt (1948), là những tác phẩm tiêu biểu thời kỳ đầu kháng chiến

1.1.2.2 Nhà văn Kim Lân

Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 1 tháng 8 năm 1920, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh Xuất phát

từ niềm yêu thích nghệ thuật tuồng nên ông đã lấy tên nhân vật tuồng Kim Lân trở thành bút danh của mình từ những năm bốn mươi của thế kỉ trước Kim Lân có một đời sống riêng thua thiệt, ông là con của người vợ thứ ba trong một gia đình bình thường, bị mọi người trong gia đình rẻ rúm Do điều kiện khó khăn, Kim Lân chỉ học hết bậc Tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, thợ sơn mài, khắc tranh bình phong vừa viết văn

Kim Lân đến với văn học xuất phát từ lòng say mê, ham thích Hơn nữa, động lực đến với sáng tạo văn chương nghệ thuật của ông được bắt nguồn từ ý chí vượt lên số phận, “đòi cho mình một thân phận, một nhân phẩm, một chỗ đứng trong cuộc sống bé nhỏ quẩn quanh của quê hương”

Kim Lân bắt đầu sự nghiệp bằng truyện ngắn Đứa con người vợ lẽ đăng trên báo Trung Bắc chủ nhật năm 1942, một tác phẩm mang tính tự truyện Trong

những năm 1941 đến năm 1944, ông viết khá đều tay và đăng chủ yếu trên

báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật Ở giai đoạn sáng tác này, ý

Trang 37

thức trách nhiệm của nhà văn đối với Kim Lân còn mơ hồ nên những tác

phẩm của ông thường viết về bản thân và cái mình thích Tuy nhiên, với tấm lòng của người “vốn là con đẻ của đồng ruộng”, Kim Lân đã hướng ngòi bút vào khung cảnh làng quê với cuộc sống và số phận của người nông dân nghèo khổ, lam lũ, từ đó toát lên giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc Bên cạnh đó,

một số tác phẩm của ông như: Đuổi tà, Ông Cản Ngũ, Đôi chim thành, Con

Mã Mái, Cầu đánh vật…đã tái hiện những sinh hoạt phong phú ở vùng thôn

quê, thể hiện vốn hiểu biết tường tận, sự trân trọng của nhà văn với những giá trị văn hóa truyền thống Sau Cách mạng tháng Tám, Kim Lân ý thức hơn về trách nhiệm của mình đối với cuộc sống và xã hội, ông tiếp tục viết về làng quê Việt Nam, tiếp tục viết về những cảnh đời khốn khó, tội nghiệp, nhưng hơn hết là sự đổi đời của người nông dân nhờ cách mạng Kim Lân đã sáng

tạo ra những tác phầm có giá trị như Làng, Bố con ông gác máy bay trên núi Côi Kê, Vợ nhặt,… với những thay đổi tình cảm, nhận thức, sự đổi đời của

người nông dân trong cải cách ruộng đất và tham gia hoạt động cách mạng Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn và là cây bút viết truyện ngắn vững vàng Trong cả hai giai đoạn sáng tác trước và sau Cách mạng tháng Tám, Kim Lân viết không nhiều nhưng ở giai đoạn nào ông cũng có tác phẩm hay Như lời nhận xét độc đáo, sắc sảo về truyện ngắn Kim Lân của nhà văn Trung Trung Đỉnh: “Những truyện ngắn Kim Lân thì quả là đặc sắc, tinh vi,

ranh mãnh, dồn nén và cả đáo để nữa”

1.1.2.3 Dấu ấn văn hóa Bắc Bộ trong sáng tác của Nam Cao, Kim Lân

- Không gian Bắc Bộ

Đồng bằng Bắc Bộ là vùng đất mang nhiều nét truyền thống của văn hóa Việt Nam Đây được coi là cái nôi của Văn hoá - Lịch sử dân tộc Xét về lãnh thổ vùng này có nhiều ý kiến khác nhau nhưng hầu hết các ý kiến cho rằng vùng đồng bằng Bắc Bộ là khu vực của ba hệ thống sông lớn: sông

Trang 38

Hồng, sông Thái Bình và sông Mã Như vậy thì có thể xác định vùng văn hoá đồng bằng Bắc Bộ bao gồm: Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình; thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng; phần đồng bằng của các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ

An, Hà Tĩnh

Thiên nhiên trong văn hóa Bắc Bộ gắn liền quá trình lao động sản xuất

và chinh phục thiên nhiên Từ ngàn năm xưa, người Việt đã đắp đập be bờ để làm nên những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay Vì vậy cuộc sống của họ xoay quanh cánh đồng, bờ lúa, rặng tre Hoạt động cuộc sống của họ bao gồm các công việc tuần hoàn cấy, hái, cày, bừa Sự khổ đau, niềm hạnh phúc của

họ gắn bó với bát cơm manh áo, nên sự đấu tranh đầu tiên cho người nông dân vẫn là ruộng đất dân cày

Nhắc đến làng quê Bắc Bộ Việt Nam người đọc hiện về những khung cảnh mái nhà tranh, túp lều, vườn chuối, bờ sông trong truyện ngắn “Chí Phèo”; hay ngôi nhà nhỏ có sân vườn với một cái ang nước đựng nước sinh hoạt

Đó còn là không gian của tập thể như bến nước, cái chợ, đầu làng, con đường làng nơi tụ tập của đám đông Ở đây không tránh khỏi những lời dị nghị của dư luận Điều đó thể hiện rõ nét qua lời văn tự sự của Nam Cao và Kim Lân khi đều dùng lời dân làng để bàn tán về những nhân vật trong truyện của mình Mọi yếu tố cơ bản của văn hóa làng xã như: không gian làng xã, con người làng xã, quan hệ làng xã, sự biến động sau lũy tre làng hầu hết đều

có mặt đầy đủ trong không gian ấy và đi vào trang văn của những nhà văn hiện thực Năm 2003 trong phần giới thiệu về tác giả Kim Lân, nhà nhiên cứu Trần Hữu Tá đưa ra nhận xét: “Thế giới nghệ thuật của ông chỉ tập trung ở khung cảnh làng quê cùng với cuộc sống, thân phận người nông dân (…) Những con người của quê hương ông, thân thiết ruột thịt với ông, từ cuộc

Trang 39

sống đói nghèo lam lũ trực tiếp bước vào tác phẩm, tự nó toát lên ý nghĩa hiện thực, mặc dù nhà văn chưa thật tự giác về điều đó.” [47, 758]

Đó còn là không gian riêng tư của tình yêu đôi lứa là những dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng nơi tất cả các thành viên tham dự đều có thể có không gian cho sự gặp gỡ Thanh niên yêu nhau còn thường chọn đêm trăng để hẹn

hò, tâm sự Không gian đêm, xét về bản chất có chức năng của không gian che giấu Nhưng cũng chính không gian riêng tư ấy con người mới tránh được

sự soi mói của cộng đồng, được sống thật với những cảm xúc của mình nhất Không gian đêm trăng nơi bờ sông gần nhà Chí Phèo được Nam Cao miêu tả thật hữu tình với: “Những tàu chuối đen nằm ngửa, ưỡn cong cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước, thỉnh thoảng bị gió lay lạy giãy lên đành đạch như là hứng tình” “Trăng tỏa trên sông và sông gợn biết bao nhiêu gợn vàng” Khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, tuyệt thơ mộng thường được dùng làm bối cảnh cho các mối tình lãng mạn Vậy mà ở đây, Nam Cao đã để

Chí Phèo gặp Thị Nở - người đàn bà “ngẩn ngơ, dở hơi, xấu xí” dưới thiên

nhiên vô tư, trong trẻo đầy thi vị ấy Phải chăng, đây chính là tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn Nam Cao đã dành cho cuộc gặp gỡ của đôi trai gái

“khốn khổ” những trang văn thấm đẫm chất thơ Với Nam Cao, những con người bị cả xã hội loài người xa lánh, hắt hủi vẫn có thể đến được với nhau và cuộc gặp gỡ giữa họ vẫn đầy lãng mạn thi vị như bao lứa đôi khác Những rung cảm của Chí và thị được che giấu trong màn đêm và sự hồi sinh sức sống trong tâm hồn con người như cũng bị che giấu để không ai nhận ra được điều đó

Trong không gian văn hóa Bắc Bộ còn có một không gian dành cho những người bị xã hội xa lánh, hắt hủi, phải sống ở rìa làng Đó có thể là người bị bệnh hủi, những người phụ nữ “không chồng mà chửa” hay những

kẻ đầu trâu mặt ngựa không ai muốn dây vào như Chí Phèo Trong truyện ngắn “Chí Phèo” có thể thấy tác giả đã tạo ra hai không gian mang tính chất

Trang 40

đối lập rõ ràng, chúng vừa đan xen vào nhau vừa tách biệt nhau nhằm thể hiện

ý đồ tư tưởng của nhà văn Đó là không gian làng Vũ Đại và không gian năm sào vườn ở bãi sông của Chí Phèo Không gian làng Vũ Đại chính là một bức

tranh xã hội thu nhỏ, nơi ngự trị của những bè cánh, âm mưu toan tính bóc lột

dân nghèo của bọn cường hào ác bá, nơi xa phủ xa tỉnh, quần ngư tranh thực, nơi người lao động bị bóc lột cùng kiệt đến độ phải bỏ làng mà đi hoặc è cổ nuôi bọn lý hào Nơi ấy nhan nhản những bộ mặt nhan hiểm như Bá Kiến,

Đội Tảo, Tư Đạm,… chúng là những kẻ chuyên đục khoét, ức hiếp dân thành nghề Đó là một vùng nông thôn có cái vắng lặng, hoang vu của một vùng quê

xơ xác vì nghèo đói và những người dân vật lộn từng ngày với cuộc sống, ở

đó những người dân thấp cổ bé họng như Chí Phèo, Thị Nở…muốn thoát ra khỏi đó nhưng đành bất lực bởi không gian cư trú như sợi dây vô hình trói buộc họ, buộc họ phải chấp nhận thực tại của mình Không gian ấy quá nặng

nề đè lên đôi vai nhân vật, các nhân vật muốn thoát khỏi không gian ngột ngạt

ấy để đi tìm đến một nơi nào đó rộng lớn, tự do hơn nhưng đành bất lực Trên nền cuộc sống ao tù, trầm lặng đó dường như chỉ có hình ảnh Chí Phèo bước chênh vênh trên con đường về mà thôi Chính tại không gian của xã hội thu nhỏ đó, Nam Cao đã phản ánh được hiện thực cuộc sống của xã hội Việt Nam giai đoạn 1930-1945

– Phong tục, tập quán Bắc Bộ

Văn hóa Bắc Bộ là cái nôi hình thành dân tộc Việt, vì thế, cũng là nơi sinh ra các nền văn hóa lớn, phát triển nối tiếp lẫn nhau: Văn hóa Đông Sơn, văn hóa Đại Việt và văn hóa Việt Nam Từ trung tâm này, văn hóa Việt lan truyền vào Trung Bộ rồi Nam Bộ Sự lan truyền ấy, một mặt chứng tỏ sức sáng tạo của người dân Việt Trong tư cách ấy, văn hóa châu thổ vùng Bắc Bộ

có những nét đặc trưng của văn hóa Việt, nhưng lại có những nét riêng của vùng này

Ngày đăng: 06/01/2020, 14:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w