---NGUYỄN THU HIỀN LỰA CHỌN MỘT SỐ TRÕ CHƠI BÓNG ĐÁ NHẰM PHÁT TRIỂN SỨC NHANH CHO CÁC BÉ TRAI 5 - 6 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON XUÂN HÕA – PHÖC YÊN - VĨNH PHÖC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành
Trang 1-NGUYỄN THU HIỀN
LỰA CHỌN MỘT SỐ TRÕ CHƠI BÓNG ĐÁ NHẰM PHÁT TRIỂN SỨC NHANH CHO CÁC
BÉ TRAI (5 - 6 TUỔI) TRƯỜNG MẦM NON XUÂN HÕA – PHÖC YÊN - VĨNH PHÖC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành học: Giáo dục Mầm non
Cán bộ hướng dẫn
TS LÊ TRƯỜNG SƠN CHẤN HẢI
HÀ NỘI, 2017
Trang 2Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Thầy giáo – TS Lê Trường SơnChấn Hải, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, từkhâu chọn lựa đề tài đến hoàn chỉnh nội dung chi tiết Những góp ý vô cùngquý báu của thầy đã giúp tôi có những hiểu biết sâu sắc hơn về đề tài khóaluận của tôi.
Trang 3Tên tôi là: Nguyễn Thu Hiền
Sinh viên lớp K39A GDMN Trường ĐHSP Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan đề tài này là của riêng tôi, kết quả nghiên cứu của đềtài không trùng với bất cứ đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này tại TrườngMầm Non Xuân Hòa – Vĩnh Phúc Toàn bộ những vấn đề được đưa ra bànluận, nghiên cứu là những vấn đề mang tính thời sự, cấp thiết và đúng thực tếcủa trường Mầm Non Xuân Hòa
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thu Hiền
Trang 4Giáo viên mầm nonGiáo viên
Giáo dục và đào tạoNhà xuất bản
Số thứ tựTrò chơi vận động
TN
TDTT
VĐV
Thực nghiệmThể dục thể thaoVận động viên
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở xác định hướng nghiên cứu của đề tài 4
1.1.1 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC cho trẻ mầm non 4
1.1.2 Cơ sở khoa học của lý luận GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non 5
1.2 GDMN trong hệ thống giáo dục quốc dân 9
1.2.1 Vị trí, vai trò của GDMN 9
1.2.2 Mục tiêu của GDMN 10
1.3 GDTC ở trường mầm non 12
1.3.1 Vị trí và vai trò của môn GDTC đối với việc phát triển thể chất cho trẻ mầm non 12
1.3.2 Nhiệm vụ GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non 13
1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn 16
1.4.1 Đặc điểm tâm lý 16
1.4.2 Đặc điểm sinh lý 17
1.5 Vị trí, vai trò của trò chơi bóng đá trong quá trình phát triển thể chất cho trẻ mầm non 18
1.6 Cơ sở giáo dục sức nhanh 19
1.6.1 Khái niệm và các hình thức biểu hiện của sức nhanh 19
1.6.2 Phương pháp giáo dục sức nhanh phản ứng vận động 20
Chương 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 21
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
Trang 62.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm 22
2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 22
2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 22
2.2.6 Phương pháp toán học thống kê 23
2.3 Tổ chức nghiên cứu 23
2.3.1 Thời gian nghiên cứu 23
2.3.2 Đối tượng nghiên cứu 24
2.3.3 Địa điểm nghiên cứu 24
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đánh giá thực trạng tổ chức GDTC và việc sử dụng trò chơi bóng đá nhằm phát triển sức nhanh cho bé trai (5 - 6 tuổi) trường mầm non Xuân Hòa – Phúc yên – Vĩnh Phúc 25
3.1.1 Thực trạng công tác GDTC trường Mầm non Xuân Hòa 25
3.1.2 Thực trạng năng lực đội ngũ giáo viên trường mầm non Xuân Hòa 26
3.1.3 Thực trạng năng lực giảng dạy môn Thể dục của giáo viên ở trường mầm non Xuân Hòa 27
3.1.4 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động GDTC cho trẻ trường mầm non Xuân Hòa 29
3.1.5 Thực trạng việc sử dụng TCVĐ nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trường Mầm non Xuân Hòa
30 3.2 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các trò chơi bóng đá nhằm phát triển sức nhanh cho các bé trai (5 - 6 tuổi) trường mầm non Xuân Hòa – Phúc Yên – Vĩnh Phúc 33
3.2.1 Lựa chọn một số trò chơi bóng đá nhằm phát triển sức nhanh cho bé trai tuổi mẫu giáo lớn trường mầm non Xuân Hòa 33
Trang 73.2.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các trò chơi đã chọn nhằm phát triểnsức nhanh cho bé trai (5 - 6 tuổi) trường mầm non Xuân Hòa 38KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8(n=39) 26
Bảng 3.2: Nhận thức của giáo viên trong trường mầm non Xuân Hòa về môn học Thể dục trong quá trình dạy học môn thể dục ở bậc Mầm non (n=39) 27
Bảng 3.3: Tự đánh giá về năng lực dạy học môn học Thể dục của các giáo viên trường mầm non Xuân Hòa (n=39) 28
Bảng 3.4: Thực trạng về cơ sở vật chất và không gian trường mầm non Xuân Hòa (n=39) 30
Bảng 3.5: Kết quả phỏng vấn giáo viên về lựa chọn một số trò chơi bóng đá nhằm phát triển sức nhanh cho các bé trai (5-6 tuổi) trường mầm non Xuân Hòa (n=20) 33
Bảng 3.6: Bảng phỏng vấn mức độ ưu tiên test kiểm tra đánh giá sức nhanh cho các bé trai (5-6 tuổi) trường mầm non Xuân Hòa (n=20) 37
Bảng 3.7: Tiến trình giảng dạy trò chơi bóng đá nhằm phát triển sức nhanh cho các bé trai (5-6 tuổi) trường mầm non Xuân Hòa 40
Bảng 3.8: Kết quả kiểm tra trước TN của 2 nhóm ĐC và TN (nA=nB=15) 39
Bảng 3.9: Kết quả kiểm tra sau TN của 2 nhóm ĐC và TN (nA=nB=15) 41
Biểu đồ 1: Thành tích chạy 8m của 2 nhóm ĐC trước và sau TN 42
Biểu đồ 2: Thành tích chạy cắm cờ của 2 nhóm ĐC trước và sau TN 43
Biểu đồ 3: Thành tích chạy zích zắc của 2 nhóm ĐC trước và sau TN 43
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Một quốc gia có nền giáo dục phát triển là một quốc gia có nền kinh tếphát triển hùng mạnh Vì vậy, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển,đảm bảo xây dựng một thế hệ kế tiếp có đầy đủ những phẩm chất về tri thức,năng lực, trình độ để phục vụ cho đất nước Tại Đại hội Đảng toàn quốc khóa
IX đã xác định: “GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục là mộttrong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người” [3] Vì vậyhiện nay giáo dục đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội đặcbiệt là GDMN
Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai, trẻ em là nguồn hạnh phúc củamỗi gia đình, là tương lai của đất nước, là khâu đầu tiên trong hệ thống giáodục quốc dân, là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con ngườimới xã hội chủ nghĩa Việt Nam Vì một tương lai tươi sáng, trẻ em sẽ trởthành chủ nhân hữu ích của tương lai thì ngay từ tuổi thơ ấu trẻ phải đượchưởng nền giáo dục phù hợp, hiện đại và toàn diện về mọi mặt: đức, trí, thể,
mĩ Vì vậy, chăm sóc – giáo dục trẻ em đặc biệt là GDTC ngay từ những nămtháng đầu tiên của cuộc sống là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa
vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻtrở thành những con người tương lai của đất nước
Ở lứa tuổi này cơ thể trẻ đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ vàhoàn thiện dần, vì cơ thể trẻ còn non yếu dễ bị phát triển lệch lạc và mất cânđối và trẻ chỉ có thể phát triển tốt nếu như được chăm sóc một cách hợp lý
Một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà khoa học giáodục là tìm kiếm phương pháp giáo dục trẻ để đạt hiệu quả cao, giúp trẻ pháttriển toàn diện cả nhân cách, thể chất và tinh thần Trong đó phương pháp
Trang 10“Học mà chơi, chơi mà học” được áp dụng rộng rãi, thông qua các trò chơiđơn giản, hấp dẫn và lí thú mang đến cho trẻ những cảm nhận mới về thế giớixung quanh, kích thích tính tò mò khám phá, làm phát triển năng lực quan sát,năng lực tư duy, khả năng vận động, tính chủ động, tự tin trong giao tiếp vớimọi người xung quanh.
Để thực hiện GDTC có hiệu quả cần có các phương tiện, trong đó tròchơi vận động là một phương tiện tạo được hưng phấn, giúp trẻ giải quyết đượcnhiệm vụ vận động một cách hiệu quả nhất Trò chơi vận động được coi làphương tiện dạy học tích cực, gây hứng thú và thu hút được sự ham thích,tham gia nhiệt tình của trẻ
Ở trường mầm non có rất nhiều các trò chơi vận động, trong đó trò chơibóng đá là môn thể thao rất hấp dẫn được nhiều trẻ ham thích và say mê Vấn
đề đặt ra là để các cháu chơi với bóng một cách tự nhiên theo bản năng, theo
sự bắt chước của người khác hay có sự hướng dẫn, định hướng của người lớn,trong đó các cô giáo là trung tâm Dựa vào lòng ham thích chơi với bóng củacác cháu, qua thực tiễn chúng tôi nhận thấy cần thiết phải tổ chức hướng dẫncho các cháu chơi và tập với bóng như thế nào nhằm phát triển các năng lựcvận động cơ bản, tự nhiên của con người như: đi, đứng, chạy, nhảy, bò, trườn,vượt chướng ngại vật… Các bài tập và trò chơi với bóng nhằm phát triểnkhông những thể chất cho các cháu về mặt sinh học và chức năng mà còn giáodục các phẩm chất tâm lý lành mạnh nâng cao năng lực vận động và một số
kỹ năng đơn giản, biết điều khiển quả bóng bằng tay, bằng chân theo ý muốn.Những phẩm chất trên là rất cần thiết và là cơ sở để sau này định hướng chocác cháu ham thích, chơi bóng đá
* Lịch sử nghiên cứu
Bàn về vấn đề trò chơi bóng đá cho trẻ mẫu giáo (5 - 6 tuổi) có rấtnhiều tác giả đề cập đến như:
Trang 111 Đánh giá hiệu quả sử dụng trò chơi bóng đá trong phát triển sức bềncho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên [9]
2 Lựa chọn một số trò chơi vận động nhằm phát triển sức nhanh chotrẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Vĩnh Sơn – Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc [14]
Như vậy có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề trò chơi bóng đá cho
trẻ em lứa tuổi mầm non nhưng chưa có ai nghiên cứu đề tài “Lựa chọn một
số trò chơi bóng đá nhằm phát triển sức nhanh cho các bé trai (5 - 6 tuổi) trường mầm non Xuân Hòa – Phúc Yên – Vĩnh Phúc”.
Xuất phát từ thực trạng, tầm quan trọng của GDTC nói chung và vai tròcủa trò chơi bóng đá nhằm phát triển sức nhanh cho bé trai nói riêng, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn một số trò chơi bóng
đá nhằm phát triển sức nhanh cho các bé trai, tuổi mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) trường mầm non Xuân Hòa – Vĩnh Phúc”.
* Mục đích nghiên cứu.
Lựa chọn và áp dụng một số trò chơi bóng đá phù hợp với lứa tuổinhằm phát triển sức nhanh cho các bé trai (5 - 6 tuổi) trường mầm non XuânHòa Giúp trẻ phát triển toàn diện về mặt thể chất
* Giả thuyết khoa học.
Thực tế cho thấy việc phát triển các tố chất sức nhanh cho trẻ thông quacác TCVĐ chưa tốt Với đề tài tiến hành nghiên cứu, việc áp dụng trò chơibóng đá sẽ đem lại hiệu quả cao trong phát triển sức nhanh cho trẻ Nếu tròchơi bóng đá được tổ chức một cách hợp lí thì không chỉ phát triển cho các bétrai (5 - 6 tuổi) trường mầm non Xuân Hòa mà còn cho tất cả trẻ ở các trườngkhác
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở xác định hướng nghiên cứu của đề tài
1.1.1 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC cho trẻ mầm non
“GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục là một trongnhững động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người” Đây là trách nhiệmcủa toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục là lựclượng nòng cốt, có vai trò quan trọng [3]
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) đã chỉ rõ: “… Cầnđẩy mạnh phong trào Thể dục, thể thao có tính quần chúng rộng lớn trong cảnước, trước hết là ở cơ sở, nhằm thiết thực phục vụ sản xuất, công tác và họctập, phục vụ quốc phòng, góp phần xây dựng con người mới và nếp sống mới”
Ngày 11 tháng 01 năm 1979, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 14 –NQ/TW về cải cách giáo dục, trong đó nhấn mạnh: …Chăm lo xây dựng thóiquen giữ gìn vệ sinh và rèn luyện thân thể của học sinh, đẩy mạnh các hoạtđộng Thể dục, thể thao, nâng cao chất lượng luyện tập quân sự, chuẩn bị tốtcho học sinh về ý thức và năng lực sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc [4]
Luật thể dục, thể thao 2006 được ủy ban Thường vụ quốc hội thông qua
năm 2006 quy định: “Nhà nước coi trọng thể dục thể thao trong trường học
nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên, nhi đồng GDTC là nội dung giáo dục bắt buộc đối với học sinh, sinh viên được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến đại học Thể dục thể thao trường học bao gồm việc tiến hành chương trình GDTC bắt buộc và
tổ chức thể dục thể thao ngoại khóa cho người học Nhà nước khuyến khích
Trang 13đào tạo và tạo điều kiện cho học sinh tập luyện thể dục thể thao phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và điều kiện từng nơi GDTC là bộ phận quan trọng để thực hiện nguyên tắc giáo dục toàn diện góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [10].
Quan niệm giáo dục hiện đại và tiến bộ nhấn mạnh rằng, cùng với việcchăm lo nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe của trẻ, người lớn cần phải nhạy cảm vàđón nhận thỏa mãn nhu cầu phát triển của trẻ, làm nảy sinh nhu cầu mới, từngbước hoàn thiện và phát triển nhân cách trẻ Vì vậy, chăm sóc từ những nămđầu tiên của cuộc sống là một việc làm hết sức ý nghĩa và vô cùng quan trọngtrong sự nghiệp chăm lo đào tạo bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành chủ nhân củađất nước
“Việc chăm sóc giáo dục mầm non phải thực hiện, gắn kết chặt chẽgiữa nhà trường, gia đình và xã hội Coi trọng và nâng cao công tác tuyêntruyền, phổ biến kiến thức chăm sóc, giáo dục cho các bậc phụ huynh cha mẹcủa trẻ nhằm thực hiện đa dạng hóa phương thức chăm sóc giáo dục trẻ em”[1]
Con người cần được nâng cao giáo dục đào tạo một cách có hệ thốngngay từ khi bước những bước chập chững đầu tiên trong những điều kiện pháttriển giáo dục có tổ chức một cách đặc biệt, thì khả năng tiềm tàng to lớn củatrẻ sẽ được bộc lộ, do đó hình thành nhân cách cho trẻ sẽ thu được nhữngcông trình to lớn
1.1.2 Cơ sở khoa học của lý luận GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non
1.1.2.1 Cơ sở xã hội
Cơ sở tư tưởng
Các nhà lý luận giáo dục duy tâm cho rằng: GDTC là bản tính hay nhucầu bản năng của con người giống như các sinh vật khác, GDTC mang tínhchất bẩm sinh của con người cũng tương tự như “sự giáo dục” – bắt chước
Trang 14của loài vật như đi, chạy, nhảy,… Với lập luận này, trên thực tế họ đã phủnhận vai trò của lao động và tư duy – một hiện tượng mới về chất đã làm chocon người khác biệt với các loài vật Theo họ, thực tiễn của hình thức giáodục này nhằm thỏa mãn những yêu cầu bản năng nào đó và hầu như không cóliên quan đến yêu cầu xã hội Do đó, họ đã phủ nhận mối quan hệ chặt chẽgiữa xã hội và giáo dục và cả nội dung của giáo dục.
Các nhà lý luận giáo dục duy vật cho rằng: GDTC là một hiện tượng xãhội – là phương tiện phục vụ xã hội, chủ yếu nhằm nâng cao thể chất, đồngthời tác động mạnh mẽ đến sự phát triển tinh thần của con người Họ khẳngđịnh rằng, chỉ khi nào con người tự giác tập luyện các bài tập thể chất, nhằmphát triển cơ thể của bản thân để chuẩn bị cho những hoạt động nhất định thìlúc đó mới có GDTC thật sự
Các tư tưởng tiến bộ về giáo dục toàn diện con người, đó là con ngườiphải được phát triển hài hòa giữa thể chất và tinh thần đã xuất hiện trong khotàng văn hóa chung của xã hội loài người từ nhiều thế kỷ trước đây
Từ nhà triết học cổ đại Hy Lạp Aristôt 384 – 322 trước công nguyên,những người theo chủ nghĩa nhân đạo thời Phục Hưng như Moongtenhơ (1533-322), những người theo Chủ nghĩa xã hội không tưởng như: Saint – Simon(1760 – 1825), Roober Owen (1771 – 1858), đến những nhà bá học và giáodục nổi tiếng của Nga như: K.Đ.Usinxki (1824 – 1870), M.V.Lômônôxôp(1722 –
1765), P.Ph Lexgáp (1873 – 1909) và nhiều người khác nữa, đã phát triển, bảo
vệ tư tưởng của học thuyết và phát triển hào hòa giữa năng lực thể chất và tinhthần của con người
Trên cơ sở nghiên cứu một cách sâu sắc các quy luật khách quan của sựphát triển xã hội C.Mác và Ănghen đã chứng minh sự phụ thuộc của giáo dụcvào điều kiện vật chất, khám phá bản chất xã hội và giai cấp của giáo dục
C.Mác nhấn mạnh rằng: “Giáo dục trong tương lai sẽ kết hợp lao động sản
Trang 15xuất với trí dục và thể dục, đó không những là biện pháp để tăng thêm sức sản xuất của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con người phát triển toàn diện” [1].
GDTC cho trẻ mầm non là cơ sở phát triển toàn diện, rèn luyện cơ thể,hình thành những thói quen vận động cần thiết cho cuộc sống
Như vậy, luận điểm về tính tất yếu của sự phát triển toàn diện về thểchất và tinh thần, luận điểm về sự thống nhất giữa các mặt giáo dục đức, trí,thể, mĩ và lao động trong học thuyết của Mác và sau này người kế tục làV.I.Lênin đã trang bị cho lý luận GDTC phương pháp nhận thức và cho phépnghiên cứu sâu sắc những quy luật sư phạm trong quá trình GDTC cho conngười nói chung, cho trẻ mầm non nói riêng
Cơ sở tâm lý học
Dựa vào lý thuyết hoạt động, các đặc điểm tâm lý lứa tuổi, các trạngthái tâm lý và các thuộc tính tâm lý của trẻ em, các nhà giáo dục thiết kế hệthống phương pháp GDTC phù hợp với trẻ em
Bởi ở mỗi độ tuổi có đặc điểm khác nhau vì vậy đối với từng lứa tuổinên có hệ thống bài tập thể chất phù hợp với đặc điểm tâm lý của từng trẻ.Qua đó trẻ có thể phát triển vận động một cách cân đối, hài hòa góp phần pháttriển toàn diện cơ thể trẻ
Cơ sở giáo dục học
Dựa vào kiến thức về mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục trẻ em, những quanđiểm cơ bản, các nguyên tắc xây dựng chương trình chăm sóc và giáo dục,các phương pháp, hình thức tổ chức chăm sóc giáo dục trẻ, trong đó GDTC làmột bộ phận của phát triển giáo dục toàn diện
Mối quan hệ giữa GDTC với quan hệ xã hội
Các môn khoa học xã hội nghiên cứu những quy luật xã hội của sự pháttriển GDTC, lịch sử và tổ chức GDTC
Trang 16Những môn khoa học thuộc nhóm này bao gồm: Lịch sử, Tâm lý học,Giáo dục học, Lí luận và phương pháp giáo dục của các môn Thể dục, thểthao.
Lịch sử Thể dục thể thao nghiên cứu sự phát sinh, quá trình phát triểnThể dục, thể thao
Tâm lý học Thể dục thể thao nghiên cứu những đặc điểm tâm lý, nhữngbiến đổi về tâm lý con người do ảnh hưởng của hoạt động này
Giáo dục học Thể dục thể thao nghiên cứu quá trình giáo dục trong hoạtđộng Thể dục, thể thao và mối liên hệ của hoạt động này với các mặt giáo dụctoàn diện
Lí luận và phương pháp Thể dục thể thao nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ
sở thực tiễn của quá trình GDTC với các lứa tuổi
1.1.2.2 Cơ sở khoa học tự nhiên
Cơ sở khoa học tự nhiên của GDTC là toàn bộ các môn khoa học mànhiệm vụ của nó là nghiên cứu những quá trình phát triển sinh học của conngười Những kiến thức khoa học này được xây dựng trên cơ sở học thuyếtcủa các nhà sinh học vĩ đại như: I.M.Xêtrênnốp (1829 – 1905), I.P.Paplốp(1849 – 1936) và những người kế tục Các học thuyết đó bao gồm: Học thuyết
về sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường; học thuyết về mối liên hệ thầnkinh tạm thời của các phản xạ có điều kiện và sự hình thành định hình độnglực; học thuyết về hoạt động thần kinh cao cấp
Ngoài ra, còn có sơ sở về tổ chức của GDTC Cơ cấu tổ chức của hệthống GDTC dựa trên cơ sở về tổ chức nhà nước, các tổ chức xã hội và tưnhân Các tổ chức này có nhiệm vụ chỉ đạo hướng dẫn mọi người thực hiệnđường lối, quan điểm và nhiệm vụ GDTC Bên cạnh đó còn có hệ thống cáctrường Thể dục thể thao, câu lạc bộ Thể dục thể thao nhà nước và tư nhân, cácđội huấn luyện, đội ngũ các bộ, giáo viên Thể dục thể thao để trực tiếp đào
Trang 17tạo, hướng dẫn giảng dạy Thể dục thể thao từ mầm non đến đại học, …chỉ đạo phong trào Thể dục thể thao quần chúng.
Hình thành những Liên đoàn, Hiệp hội như Liên đoàn bóng đá, Hiệphội võ vật, điền kinh, bóng chuyền,… nhằm thu hút đông đảo nhân dân laođộng tập luyện, phát triển phong trào Thể dục thể thao
1.2 GDMN trong hệ thống giáo dục quốc dân
GDMN là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vị tríquan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người, nhà giáodục học người Nga đã viết: “Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ đãđược hình thành trước tuổi lên năm Những điều dạy trẻ trong thời kì đó,chiếm 90% tiến trình giáo dục trẻ về sau, việc giáo dục đào tạo con người vẫntiếp tục, nhưng lúc đó là bắt đầu nếm quả, cùng những nụ hoa đã được vuntrồng trong năm đầu tiên” [1] Điều đó cho thấy rằng: Việc nuôi dạy “conngười” bắt đầu từ những năm đầu tiên của cuộc sống là hết sức quan trọng và
có ý nghĩa lớn lao về nhân văn xã hội và kinh tế, nhưng lại vô cùng vất vả vàkhó khăn
1.2.1 Vị trí, vai trò của GDMN
GDMN là cốt lõi, là trọng tâm của chiến lược trồng người Phát triểngiáo dục là nền tảng để tạo ra những nguồn nhân lực có chất lượng cao, làđộng lực của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Bởi vậyĐảng ta đã khẳng định “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Trong đó GDMN làmột bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí rất quantrọng trong sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực của đất nước
GDMN là giai đoạn mở đầu đặt nền móng cho sự hình thành và pháttriển nhân cách trẻ em, thời kỳ mầm non còn được gọi là thời kỳ vàng củacuộc đời Sự phát triển của trẻ em trong thời kì này rất đặc biệt, chúng hồn
Trang 18nhiên non nớt, buồn vui, khóc cười theo ý thích Những gì trẻ em được học,được trang bị ở trường mầm non có thể sẽ là dấu ấn theo trẻ suốt cuộc đời.
Và hiện nay GDMN đã trở thành mối quan tâm hàng đầu đối với mọiquốc gia Có đến 160 nước và các tổ chức quốc tế đã cam kết coi GDMN làmột mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người Thụy Điển coi giaiđoạn mầm non là “Thời kì vàng của cuộc đời” và thực hiện chính sách:Trường mầm non là trường tự nguyện do chính quyền địa phương quản lý, trẻ
5 tuổi có thể theo học không mất tiền, 3 tiếng/ngày Ở New Zealand, Chínhphủ hỗ trợ cho các loại trường GDMN dựa trên kết quả hoạt động mà các cơ
sở đó đã đạt được Điều kiện được nhận hỗ trợ là cơ sở GDMN phải đáp ứngđược các Chuẩn do Bộ Giáo dục đưa ra Chính phủ hỗ trợ 50% chi phí hoạtđộng của các cơ sở GDMN không phân biệt cơ sở công lập hay tư thục Phầncòn lại do cha mẹ đóng góp Các gia đình khó khăn về thu nhập hoặc có con ởtuổi mầm non bị khuyết tật có thể làm đơn xin miễn đóng góp Luật hệ thốnggiáo dục quốc gia Indonesia đã công nhận GDMN là giai đoạn tiền đề cho hệthống giáo dục cơ bản Luật giáo dục của Thái Lan nhấn mạnh gia đình vàChính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm đối với GDMN nhằm thực hiện Côngước quốc tế về quyền trẻ em Còn ở Việt Nam việc chăm lo phát triển GDMN
đã trở thành trách nhiệm chung của các cấp chính quyền, của mỗi ngành, mỗigia đình và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.Như vậy, mọi cá nhân và toàn xã hội không thẻ không thừa nhận tầm quantrọng và tích cực của GDMN đối với sự phát triển của đất nước
1.2.2 Mục tiêu của GDMN
Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trítuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị chotrẻ vào học lớp một
1.2.3 Chương trình GDMN
Trang 19Chương trình GDMN thể hiện mục tiêu GDMN; cụ thể hóa các yêu cầunuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từng độ tuổi; quy định việc tổ chứccác hoạt động nhằm tạ điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trítuệ, thẩm mỹ, hướng dẫn cách thức đánh giá sự phát triển của trẻ em ở tuổimầm non.
Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành chương trình GDMN trên cơ sở thẩmđịnh của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình GDMN
1.2.4 Yêu cầu về nội dung, phương pháp GDMN
1.2.4.1 Yêu cầu về nội dung GDMN
- Đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm pháttriển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ,mẫu giáo và cấp tiểu học; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sốnghiện thực
- Phù hợp với sự phát triển tâm lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng,chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh,nhanh nhẹn; cung cấp kĩ năng sống phù hợp với lứa tuổi
1.2.4.2 Yêu cầu về phương pháp GDMN
- Đối với giáo dục nhà trẻ, phương pháp giáo dục phải chú trọng giaotiếp thường xuyên, thể hiện sự yêu thương và tạo sự gắn bó của người lớn vớitrẻ; chú ý đặc điểm cá nhân trẻ để lựa chọn phương pháp giáo dục phù hợp,tạo cho trẻ có cảm giác an toàn về thể chất và tinh thần; tạo điều kiện thuậnlợi cho trẻ được tích cực hoạt động giao lưu cảm xúc, hoạt động với đồ vật vàvui chơi, kích thích sự phát triển của các giác quan và các chức năng tâm –sinh lý; tạo môi trường giáo dục gần gũi
- Đối với giáo dục mẫu giáo phương pháp giáo dục phải tạo điều kiệncho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới
Trang 20nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “chơi mà học, học bằng chơi”.
Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã có chính sách cụ thể nhằmphát triển GDMN như: Đầu tư xây dựng trường lớp, cơ sở vật chất; đổi mớiphương pháp giảng dạy; cải tiến chế độ tiền lương đối với GVMN; “xã hộihóa” GDMN,…
Nhìn chung, ngành GDMN ở các địa phương trong cả nước đã cónhững chuyển biến tích cực: tỷ lệ trẻ em đến lớp tăng; cơ sở trường lớp ngàycàng khang trang; đội ngũ GVMN được bổ sung về số lượng và từng bướcđược nâng cao trình độ nghiệp vụ
Tuy được đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị tương đối đồng bộ,nhưng chất lượng dạy và học ở bậc mầm non tại các địa phương còn nhiều bấtcập Tại các thành phố, bên cạnh trường công lập, xuất hiện nhiều trườngmầm non dân lập, tư thục Còn ở các làng quê, số trường lớp rất thưa vắng,thiếu giáo viên
Chất lượng GDTC cũng không đồng đều, thậm chí nhiều trường mầmnon tư thục có phương pháp chăm sóc trẻ tốt hơn trường công lập Một trongnhững nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do đời sống của GVMN cônglập, nhất là ở nông thôn, miền núi, chưa được quan tâm đúng mức So vớinhững giáo viên ở các bậc học khác, công việc của GVMN khá bận rộn
Trang 21Ngoài việc hướng dẫn, dạy dỗ các em, GVMN còn phải thực hiện các côngviệc chăm sóc, nuôi dưỡng các em.
GDTC không chỉ tác động tích cực đến quá trình phát triển và hoànthiện thể chất mà còn góp phần quan trọng phát triển các phẩm chất đạo đứcnhân cách và những phẩm chất cần thiết trong cuộc sống học tập và lao động
Để nâng cao chất lượng GDTC, cần đầu tư xây dựng cơ sở vật chất vàquan tâm phát triển đội ngũ giáo viên giỏi, tâm huyết với nghề Chính sáchđối với GVMN cần được chỉnh sửa phù hợp hơn nữa, ưu tiên giáo viên mầmnon làm việc tại vùng nông thôn và vùng khó khăn
Ở độ tuổi mầm non cơ thể trẻ phát triển nhanh, nhưng sức đề khángyếu, các cơ quan đang phát triển chưa hoàn thiện Vì vậy, giai đoạn nàyGDTC có nhiệm vụ vô cùng quan trọng: bảo vệ tăng cường sức khỏe nhằmđảm bảo sự phát triển toàn diện ngay từ những tháng năm đầu của cuộc đời
Sự phát triển tinh thần và thể chất của trẻ em luôn theo những quy luật nhấtđịnh, do đó việc lựa chọn và áp dụng những bài tập rèn luyện thể lực cầnđược quan tâm đặc biệt
Qua những đăc điểm trên đây ta có thể thấy rằng hoạt động TDTT làmột hoạt động không thể thiếu được trong sự phát triển vận động cơ bản củatrẻ Tập luyện TDTT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc gìn giữ tăngcường sức khỏe, đồng thời GDTC có tác dụng rèn luyện trẻ một cách toàndiện cả về mặt thể chất và tinh thần
1.3.2 Nhiệm vụ GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non
GDTC cho trẻ mầm non là một trong những bộ phận quan trọng củagiáo dục toàn diện cho trẻ và tạo ra những điều kiện thuận lợi trong quá trìnhgiáo dục trẻ
Để thực hiện mục tiêu GDMN là chuẩn bị tiền đề quan trọng đảm bảonhững điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục thì GDTCtrong trường mầm non cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
Trang 221.3.2.1 Bảo vệ và tăng cường sức khỏe, đảm bảo sự tăng trưởng hài hòa của trẻ
- Rèn luyện cơ thể, nâng cao tính miễn dịch đối với các loại bệnh trẻthường mắc phải, đảm bảo sự tăng trưởng, phát triển đúng lúc và hoàn chỉnhcủa trẻ Giúp trẻ có trạng thái hoạt động cân bằng, có trạng thái tâm lý vuitươi, ngăn ngừa sự mệt mỏi cho hệ thần kinh
- Cần đảm bảo chế độ ăn uống, chế độ sinh hoạt (học tập, ăn ngủ, vậnđộng) hợp lý, phù hợp với từng độ tuổi, từng đối tượng trẻ Bên cạnh đó, phảitích cực phòng bệnh cho trẻ, tiêm cho trẻ đúng đủ loại vắc – xin theo quy địnhcủa bộ y tế Cần làm tốt công tác vệ sinh môi trường, vệ sinh quần áo, thânthể sạch sẽ, đảm bảo sự luân phiên hoạt động nghỉ ngơi hợp lý, đảm bảo trạngthái cân bằng của hệ thần kinh, giúp cơ thể trẻ phát triển tốt
- Tổ chức cho trẻ vận động, rèn luyện sức khỏe cho trẻ một cách hợp lýnhằm nâng cao sức khỏe, sức đề kháng cho trẻ, giúp cơ thể phát triển mộtcách cân đối hoàn chỉnh, tăng cường khả năng hoạt động, sự định hướngkhông gian và sự thích ứng của trẻ với sự thay đổi của thời tiết xung quanh,tăng cường khả năng miễn dịch cho trẻ
1.3.2.2 Rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản và những tố chất thể lực
- Cùng với việc bảo vệ tính mạng và tăng cường sức khỏe, đảm bảo sựtăng trưởng hài hòa của trẻ thì chúng ta cần hình thành, phát triển và hoànthiện các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản như: đi, chạy, nhảy, leo chèo, ném,trườn… Rèn luyện kĩ năng phối hợp cảm giác với vận động, phối hợp các vậnđộng của các bộ phận cơ thể với nhau như: đầu, thân mình, chân, tay, nănglực định hướng trong vận động như: trái, phải, trước, sau, để vận động của trẻđược nhanh nhạy, chính xác
- Tiếp tục hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo vận động đồng thời rènluyện những phẩm chất vận động cho trẻ, dần hoàn thiện các động tác đểđộng tác trở lên nhanh nhạy, chính xác, linh hoạt, gọn gàng, dẻo dai, không
Trang 23còn những động tác thừa như nghẹo cổ, thè lưỡi, xô người về phía trước hayphía sau khi không cần thiết Trẻ biết thực hiện các bài tập vận độngmột cách hợp lý trong các điều kiện khác nhau và biết kết hợp các bàitập vận động đã học khác.
1.3.2.3 Giáo dục nếp sống, có thói quen và các kỹ năng giữ gìn vệ sinh
- Thói quen thường để chỉ những hành động của cá nhân được diễn ratrong những điều kiện ổn định về thời gian, không gian và quan hệ xã hộinhất định Thói quen có nội dung tâm lý ổn định và thường gắn với các nhucầu cá nhân Khi đã trở thành thói quen, mọi hoạt động tâm lý trở nên ổnđịnh, cân bằng và khó loại bỏ
- Giáo dục cho trẻ nếp sống có giờ giấc, rèn luyện thói quen ăn, ngủ,thức đúng giờ và dễ dàng thích nghi chuyển từ hoạt động này sang hoạtđộng khác Thói quen này giúp đưa trẻ vào nề nếp, thúc đẩy quá trình tiêuhóa, có khả năng làm việc cao hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển thểchất diễn ra bình thường và sức khỏe của trẻ được củng cố
- Rèn luyện các kỹ năng, giữ gìn vệ sinh có ý nghĩa vô cùng to lớn đốivới việc bảo vệ sức khỏe cà tăng cường thể lực Bởi khi trẻ biết vệ sinh thânthể, vệ sinh ăn uống, vệ sinh quần áo vè môi trường xung quanh sẽtăng cường khả năng miễn dịch cho trẻ, giúp ngăn chặn những ảnh hưởngxấu từ môi trường xung quanh đến trẻ Tuy nhiên, khả năng nhận thức cũngnhư vận động của trẻ còn hạn chế nên chúng ta cần hình thành, rèn luyệnnhững thói quen đó một cách tỉ mỉ, kiên trì trong thời gian dài để thói quenđược củng cố ổn định
Trang 241.4 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn
1.4.1 Đặc điểm tâm lý
Sự phát triển ngôn ngữ: Trẻ có khả năng phát âm tương đối chuẩntiếng mẹ đẻ kể cả những âm khó Biết sử dụng ngữ điệu phù hợp với nộidung giao tiếp hay nội dung câu chuyện trẻ kể cho người khác nghe Vốn từcủa trẻ tăng lên nhanh chóng và phong phú Ngôn ngữ mạch lạc phát triểnmạnh: Ở lứa tuổi này trẻ có nhu cầu giải thích cho bạn hiểu về chủ đề chơi,nội dung chơi, phân vai chơi, chọn đồ chơi Đặc biệt, trong các trò chơi cóluật Bên cạnh đó trẻ có nhu cầu giải thích những điều cho người lớn hiểu
Để có được ngô ngữ mạch lạc đòi hỏi trẻ phải đạt đến một tư duy nhất định:
Tư duy trực quan – sơ đồ
Ý thức về cái tôi phát triển mạnh: Trẻ hiểu được mình là như thế nào,
có phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình ra sao, vì sao lạilàm việc này, mình làm việc này tốt hay chưa tốt, đúng hay sai Chính bởi ýthức bản ngã phát triển nên trẻ có thể điều chính hoạt động của bản thân.Trẻ hay đưa ra các lời nhận xét về bản thân mình và người khác Trẻ cũngthể hiện cái tôi của mình bằng việc thích tự mình quyết định Trẻ bắt đầuthích nghe chuyện có một chút kịch tính, phức tạp hơn trẻ 4 - 5 tuổi Tínhtưởng tượng phong phú, có tính hiện thực khiến chúng luôn nhân cách hóa
sự vật xung quanh
- Xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới – tư duy trực quan sơ
đồ và những yếu tố của kiểu tư duy logic Ở lứa tuổi này trẻ có thể hiểu mộtcách dễ dàng và nhanh chóng về cách biểu diễn sơ đồ và sử dụng có kết quảnhững sơ đồ để tìm hiểu sự vật Trẻ thích khám phá, tìm hiểu và khôngngừng đùa nghịch
Từ việc nghiên cứu, tìm tòi dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn,nhận thức được vai trò to lớn của GDTC đối với trẻ mầm non, trong quá trìnhgiảng dạy chúng tôi đã lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi bóng đánhằm phát
Trang 25triển sức nhanh cho các bé trai (5 - 6 tuổi) trường mầm non Xuân Hòa – PhúcYên – Vĩnh Phúc góp phần nâng cao công tác GDTC cho trường mầm nonXuân Hòa Các em rất hào hứng nhiệt tình tham gia, vui chơi, để tinh thầnthoải mái, xua tan mệt mỏi Giúp trẻ thêm yêu trường, yêu lớp, mến bạn hơn,trẻ muốn được đến trường mỗi ngày.
Vì vậy, trong khóa luận này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu những tròchơi bóng đá mang tính vận động thể lực và đặc biệt chú ý tới sức nhanh củacác bé trai (5 - 6 tuổi), từ đó đưa ra được một số ứng dụng hiệu quảtrong công tác GDTC trường mầm non Xuân Hòa nói riêng và các trường mầmnon khác nói chung
1.4.2 Đặc điểm sinh lý
Hệ thần kinh: Đây là thời kì phát triển nhanh và rõ nhất trong cuộc
đời Song ở lứa tuổi này, khả năng hưng phấn và ức chế của hệ thần kinhchưa cân bằng, nên nếu để trẻ làm việc gì đơn thuần và kéo dài sẽ dễ bị mệtmỏi Nếu ban ngày chơi nghịch quá nhiều hay gặp phải kích thích mạnh, banđêm dễ sinh mộng mị, la hoảng, khả năng tự kiềm chế, điều tiết cònkém, khi trẻ hưng phấn làm một việc gì đó thì rất tập trung, quên ăn, quênngủ Vì vậy, người lớn không nên để kéo dài thơi gian hưng phấn, nhằmtránh gây mệt mỏi cho trẻ
Hệ vận động: Gồm hệ xương và hệ cơ
Hệ xương: Bộ xương của trẻ còn mềm, dẻo nhiều nước và chất hữu
cơ Trong bộ xương còn có một phần sụn, các khớp xương, bao khớp, dâychằng, gân còn lỏng lẻo Sự liên kết giữa các xương chưa thật vững chắc dovậy dễ bị cong vẹo, khớp Ở trẻ 5 - 6 tuổi xương cột sống có 2 đoạn uốn congvĩnh viễn ở cổ và ở ngực, lồng ngực đã hẹp hơn, đường kính ngang lớn hơnđường kính trước sau, xương sườn chếch theo hướng dốc nghiêng
Trang 26Hệ cơ: Hệ cơ của trẻ phát triển yếu Khi trẻ mới sinh trọng lượng cơ
chiếm 23% trọng lượng cơ thể Sau đó hệ cơ phát triển dần Đến 6 tuổi cơchiếm 27% thể trọng Các sợi cơ còn mảnh, lực cơ còn yếu nên trẻ làm việcchóng mệt mỏi Trong cơ của trẻ nước chiếm nhiều, ít đạm và mỡ Về khảnăng phối hợp các hoạt động: trẻ có sự phối hợp vận động của nhiều nhóm
cơ như ở người lớn
Hệ tuần hoàn: Trọng lượng của tim tăng gấp 5 - 6 lần khi mới sinh Tần
số co bóp của tim là 80 – 110 lần/phút Dung lượng máu được đẩy ra còn nhỏ
Hệ hô hấp: Đường họng, hầu, mũi còn nhỏ, hẹp, thanh quản của
trẻ: Khe âm thanh ngắn, thanh đới ngắn, nên trẻ có giọng nói cao hơn
sơ với người lớn Lên 6 tuổi thể tích hô hấp của phổi là khoảng 215 –220ml Mỗi phút trẻ từ 5 - 6 tuổi hít thở khoảng 20 – 22 lần
Hệ tiêu hóa: Bộ máy tiêu hóa còn yếu, dễ bị bệnh khó tiêu hóa nếu ăn
quá nhiều, dễ bị tiêu chảy khi ăn đồ lạ, thức ăn lâu ngày Thức ăn nóngquá hay lạnh quá cũng có thể khiến trẻ sinh bệnh
1.5 Vị trí, vai trò của trò chơi bóng đá trong quá trình phát triển thể chất cho trẻ mầm non
Bóng đá là một môn thể thao rất hấp dẫn, được nhiều người hamthích và say mê Mọi người thích xem bóng đá, tập bóng đá, chơi bóng đá
và thi đấu bóng đá Để trở thành VĐV bóng đá tài năng, hiện nay người ta đãchú ý hướng dẫn, dạy cho các cháu từ tuổi mẫu giáo, để các cháu có ýthức làm quen với bóng, điều khiển quả bóng theo ý muốn
Những bài tập, trò chơi với bóng gây cho trẻ hứng thú, ham thích, đặcbiệt Trẻ em tuổi mẫu giáo là tuổi ưa thích vận động, được chơi với bóng làcác cháu ham thích nhất Vấn đề đặt ra là để các cháu chơi với bóng mộtcách tự nhiên theo bản năng, theo sự bắt chước người khác hay có sựhướng dẫn, định hướng của người lớn, trong đó các cô giáo là trung tâm.Dựa vào lòng
Trang 27ham thích chơi với bóng của các cháu, cần thiết phải tổ chức hướng dẫn chocác cháu chơi và tập với bóng như thế nào nhằm phát triển các năng lực vậnđộng cơ bản, tự nhiên của con người như: đi, đứng, chạy, nhảy, bò,trườn, vượt chướng ngại vật…
GDTC trong trường học là tổ hợp rất nhiều bài tập Việc đưa nội dungbóng đá vào chương trình giảng dạy có tác dụng rất lớn để giáo dục và nângcao thể lực cho trẻ em Chơi với bóng đá là một hình thức vận động giúp trẻphát triển hoàn thiện, bóng đá còn mang lại rất nhiều hữu ích đối với tâmhồn, thân thể, tâm lý, công việc và đời sống của con người
Ngoài ra, bóng đá còn có tác dụng bồi dưỡng rất nhiều tính cách củacon người như lòng dũng cảm, tính kiên nhẫn, ngoan cường, thắng khôngkiêu bại, không nản Trẻ em mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) là trẻ em ở lớp cuối củatrường mầm non Ở các em đã hình thành thói quen biết vận động các bàitập thể dục và TCVĐ, đã làm quen với bóng và vận dụng các kĩ năng đã họcvào các trò chơi bài tập thi đấu bóng đá nhằm phát triển tố chất thể lực mộtcách toàn diện, hình thành sự ham thích bóng đá cho trẻ em, đáp ứng nhucầu về nâng cao sức khỏe phát triển chiều cao, cân nặng, tố chất thể lực,hình thành củng cố kĩ năng vận động cơ bản ngồi, đi chạy nhảy vữngvàng thoải mái đúng tư thế, điều khiển và định hướng vận động nhanh nhạy
1.6 Cơ sở giáo dục sức nhanh
1.6.1 Khái niệm và các hình thức biểu hiện của sức nhanh
Sức nhanh là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người Nóquy định chủ yếu và trực tiếp đặc tính tốc độ cũng như thời gian phản ứng vậnđộng
Sức nhanh biểu hiện ở ba hình thức cơ bản sau:
1 Phản ứng nhanh
2 Tần số động tác nhanh
3 Thực hiện động tác đơn giản
Trang 281.6.2 Phương pháp giáo dục sức nhanh phản ứng vận động
1.6.2.1 Phương pháp giáo dục sức nhanh phản ứng vận động đơn giản
Tập luyện sức nhanh phản ứng vận động theo phương pháp cảm giácvận động được tiến hành theo 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Người tập thực hiện động tác trong điều kiện phản ứngnhanh nhất đối với tín hiệu Sau mỗi lần thực hiện bài tập, huấn luyện viênthông báo cho người tập về thành tích đạt được
+ Giai đoạn 2: Cũng thực hiện các bài tập như giai đoạn 1 nhưng khi vềđích huấn luyện viên hỏi người tập dự đoán thời gian đạt được, sau đóhuấn luyện viên thông báo cho người tập thời gian đạt được thực tế
+ Giai đoạn 3: Huấn luyện viên yêu cầu người tập thực hiện với tốc độcho trước
1.6.2.2 Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động phức tạp.
Phản ứng vận động phức tạp trong thể thao thường gặp có 2 loại:
+ Phản ứng với vật thể di chuyển
+ Phản ứng lựa chọn
- Phản ứng với các vật thể di động thường thấy trong các môn bóng vàcác môn đối kháng cá nhân Trong phản ứng đối với các vật di động thì kĩnăng quan sát giữ vai trò cơ bản Vì vậy, cần đặc biệt chú ý kĩ năng này Đểphát triển khả năng quan sát người ta sử dụng các bài tập đối với vật thể diđộng Yêu câu tập luyện là tăng tốc độ vật thể, tăng tính bất ngờ và rútngắn
cự li
- Phản ứng lựa chọn xảy ra khi chọn một trong số những động tác đáplại sự thay đổi hành vi của đối phương hoặc sự biến đổi tình huống Để giáodục phản ứng lựa chọn cần tuân thủ quy tắc từ đơn giản đến phức tạp,
số lượng biến đổi tình huống cũng phải tăng lên dần dần
Trang 29Chương 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Căn cứ vào mực đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đưa ra 2 nhiệm
vụ sau:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng tổ chức GDTC và việc sử dụng một
số trò chơi bóng đá nhằm phát triển sức nhanh cho các bé trai (5-6tuổi) trường mầm non Xuân Hòa – Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Nhiệm vụ 2: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các trò chơi bóng đá nhằmphát triển sức nhanh cho các bé trai (5-6 tuổi) trường mầm non Xuân Hòa– Phúc Yên – Vĩnh Phúc
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, chúng tôi sử dụng các biện pháp sau:
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu được sử dụng chủ yếutrong quá trình nghiên cứu nhằm mục đích thu thập thông tin bằng cáchđọc và phân tích tài liệu tham khảo Trong quá trình nghiên cứu chúngtôi đi tìm hiểu, tập hợp tài liệu như các văn kiện, Nghị quyết của Đảng vàNhà nước, các sách viết chuyên khoa, tuyển tập các tư liệu giảng dạy bộ mônGDTC, các tài liệu lưu trữ Tìm hiểu nghiên cứu các sách viết về trò chơibóng đá, các sách giải phẫu sinh lý Từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau:Sách, báo, internet… chúng tôi thu thập tài liệu có liên quan nhằm mởrộng kiến thức tâm sinh lý, phương pháp GDTC cho trẻ mầm non trong việcthực hiện giảng dạy bộ môn GDTC cho trẻ tại trường mầm non hiện nay
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp phỏng vấn là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi– trả lời, giữa nhà nghiên cứu với các cá nhân, tổ chức khác nhau về các vấn
đề cần quan tâm
Trang 30Đối tượng điều tra là cán bộ quản lý nhà trường, giáo viên.
Nội dung điều tra: cơ sở vật chất của nhà trường, năng lực giảngdạy của giáo viên, cán bộ quản lý nhà trường, sự quan tâm lãnh đạo củanhà trường đối với môn học GDTC và việc tổ chức giảng dạy trong nhàtrường
2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp quan sát sư phạm là quan sát đối tượng nghiên cứu trongquá trình giáo dục, giáo dưỡng Trong thời gian thực hiện đề tài, việc quan sát
sư phạm được sử dụng trong quá trình dự giờ, quan sát quá trình học thểchất và các hoạt động khác giữa giáo viên và trẻ cùng tham gia Qua phươngpháp này có thể đánh giá và phân tích được quá trình giảng dạy, học tập của
cô và trẻ, giúp chúng tôi có cái nhìn khách quan hơn từ đó có thể đưa ra một
số trò chơi bóng đá nhằm phát triển sức nhanh cho các bé trai (5 - 6 tuổi)trường mầm non Xuân Hòa
2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Phương pháp kiểm tra sư phạm dùng để đánh giá sức nhanh của cácnhóm đối tượng nghiên cứu trước thực nghiệm và sua thực nghiệm Đặc biệt,phương pháp này còn kiểm nghiệm tính hiệu quả của các trò chơi vận độngnhằm phát triển sức nhanh cho các bé trai (5-6 tuổi) trường mầm nonXuân Hòa – Phúc Yên – Vĩnh Phúc
2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm dùng để xác định hiệu quả của tròchơi bóng đá về cả mặt lí thuyết cũng như thực hành đối với các bé trai tuổimẫu giáo lớn trường Mầm non Xuân Hòa – Vĩnh Phúc Thực nghiệm đượctiến hành với hai nhóm đối tượng, nhóm đối chứng và thực nghiệm Hainhóm này được chia một cách ngẫu nhiên sau đó được kiểm tra tính đồngđều giữa hai nhóm trước thực nghiệm
Trang 312.2.6 Phương pháp toán học thống kê
Phương pháp toán học thống kê nhằm phân tích, xử lí số liệu thu thậpđược trong quá trình nghiên cứu đề tài, xác định tính hiệu quả cao của cáctrò chơi bóng đá nhằm phát triển sức nhanh cho các bé trai (5 - 6 tuổi)trường mầm non Xuân Hòa Sau khi thu thập số liệu, đã sử dụng phươngpháp thống kê toán học để xử lý và áp dụng công thức sau:
∑
- Công thức tính hệ số trung bình cộng: =
∑ ( ̅ )
2
Trang 32- Công thức tính phương sai: = (n < 30)