DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮTARF Diễn đàn khu vực ASEAN APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình DươngASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á BP Công ty dầu khí của Anh CD Ngân hàng Ph
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Người hướng dẫn khoa học:
ThS NGUYỄN VĂN VINH
HÀ NỘI – 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Vinh, người thầy
đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận này
Xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong và ngoài Khoa Lịch Sử, Đạihọc sư phạm Hà Nội 2 đã chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình làm khóa luận
và đặc biệt đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn em trong suốt bốn năm học đạihọc tại trường
Cuối cùng xin trân thành cảm ơn gia đình, tất cả người thân, bạn bè đã
ở bên chia sẻ, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiệnkhóa luận này
Xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 13 tháng 4 năm 2017
Sinh viên Đinh Thị Ánh
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ARF Diễn đàn khu vực ASEAN
APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình DươngASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BP Công ty dầu khí của Anh
CD Ngân hàng Phát triển Trung Quốc
CIA Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ
CNOOC Tổng Công ty dầu khí hải dương Trung Quốc
EEZ Vùng đặc quyền kinh tế
EU Liên minh châu Âu
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
HĐBA LHQ Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc
IMF Tổ chức tiền tệ quốc tế
IEA Cơ quan Năng lượng Quốc tế
NDRC Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung QuốcOECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
OLADE Tổ chức Năng lượng Mỹ La-tinh
OPEC Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa
OFDI Gia trị đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
SCO Tổ chức Hợp tác Thượng Hải
SINOPEC Tập đoàn hóa dầu Trung Quốc
UAE Các tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất
WB Ngân hàng Thế giới
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 7
6 Bố cục và nội dung chính 7
CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH NĂNG LƯỢNG THẾ GIỚI VÀ TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1993-2012 8
1.1 Tình hình năng lượng thế giới 8
1.1.1 Khái niệm an ninh năng lượng 8
1.1.2 Tình hình năng lượng thế giới từ năm 1993 đến 2012 11
1.1.3 Sự biến động của an ninh năng lượng thế giới từ 1993- 2012 14
1.2 Tình hình năng lượng Trung Quốc từ năm 1993 – 2012 18
1.2.1 Nhu cầu năng lượng Trung Quốc 18
Bảng 2.1: Dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc giai đoạn 2005-2020 (tỉ lệ %) 19
1.2.2 Mục tiêu phát triển của Trung Quốc 20
1.2.3 Chiến lược an ninh năng lượng của Trung Quốc 25
1.2.4 Chính sách “ đi ra ngoài”- tìm kiếm năng lượng của Trung Quốc 29
Chương 2.NGOẠI GIAO NĂNG LƯỢNG TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1993- 2012 VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TỪ CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO NĂNG LƯỢNG CỦA TRUNG QUỐC 34
2.1 Ngoại giao năng lượng của trung quốc từ năm 1993-2012 34
2.1.1 Đối với các nước Trung Á 34
2.1.2 Đối với các nước Trung Đông 45
Trang 52.1.3 Đối với các nước Châu Phi 53
Bảng 3.2 Tỉ lệ nhập khẩu dầu của Mỹ và Trung Quốc từ Châu Phi 60
( tỉ lệ % về số lượng) 60
2.1.4 Đối với các nước Mỹ La Tinh 62
2.1.5 Hoạt động ngoại giao năng lượng của Trung Quốc với các nước láng giềng 67
2.2 Kinh nghiệm cho Việt Nam từ chính sách ngoại giao năng lượng của Trung Quốc 76
KẾT LUẬN 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Trung Quốc đã trở thành một nước nhập khẩu dầu lửa vào năm 1993 vàđến năm 2003 đã vượt Nhật Bản trở thành nước nhập khẩu dầu lớn thứ hai thếgiới, sau Mỹ Do khai thác và sử dụng quá nhiều năng lượng để phát triểnkinh tế, nên nguồn năng lượng ở Trung Quốc đang dần cạn kiệt Để bù đắp sựthiếu hụt nguồn năng lượng trong nước, Trung Quốc đã và đang ráo riết tìmkiếm nguồn năng lượng bên ngoài đảm bảo cho sự trỗi dậy của mình Để đảmbảo nguồn cung cấp năng lượng ổn định từ bên ngoài cho nền kinh tế đangphát triển nhanh, mạnh và liên tục, Trung Quốc đã bắt đầu tiến hành ngoạigiao năng lượng.
Thông qua các hoạt động ngoại giao để có được nguồn cung ứng dầulửa, khí đốt là hoạt động thường thấy của chính quyền Trung Quốc trong thờigian gần đây Đây là bước chuyển biến lớn về chiến lược của Trung Quốcnhằm đảm bảo nguồn cung cấp năng lượng ổn định từ bên ngoài, cùng với đó
là xác lập và tăng cường vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế Để đảmbảo nguồn cung năng lượng, đặc biệt là dầu khí, Trung Quốc đã đề ra một loạt
Trang 7biện pháp để tìm kiếm nguồn dầu mỏ và khí đốt tự nhiên từ nước ngoài cungứng cho thị trường trong nước Trước hết, Trung Quốc hướng tới các nướcláng giềng như Nga và các nước khu vực Trung Á, Đông Nam Á và xa hơnnữa là các nước khu vực Trung Đông, châu Phi và Mỹ La-tinh.
Quá trình thực hiện chính sách ngoại giao năng lượng của Trung Quốccũng tác động tích cực đến quan hệ quốc tế những năm gần đây Việc TrungQuốc đẩy mạnh hoạt động tìm kiếm năng lượng thông qua các hợp đồng kíkết với các quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn đã làm cho hoạt động kinh tế -thương mại ngày càng trở nên sôi động, thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa và đadạng hóa của nền kinh tế thế giới
Để phần nào thấy được chiến lược an ninh năng lượng của Trung Quốc,tác giả chọn “Ngoại giao năng lượng của Trung Quốc từ năm 1993 đến năm2012” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp Mục tiêu nghiên cứu đề tài này nhằmtìm hiểu nhu cầu năng lượng và nguồn cung cấp năng lượng của Trung Quốchiện nay, chiến lược ngoại giao năng lượng của Trung Quốc, đồng thời thấyđược chiến lược ngoại giao năng lượng của Trung Quốc tác động đến tìnhhình an ninh khu vực và những ảnh hưởng trực tiếp đối với Việt Nam như thếnào
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về chính sách “ngoại giao năng lượng” của Trung Quốc làmột đề tài ít nhiều đã được đề cập trong các công trình nghiên cứu tại ViệtNam, Trung Quốc và đang thu hút được giới học giả và các nhà nghiên cứutrên thế giới
*Công trình nghiên cứu trong nước
Cuốn sách “Chiến lược an ninh năng lượng của Trung Quốc: tác động
và ảnh hưởng” của TS Đỗ Minh Cao do Viện Nghiên cứu Trung Quốc vàNhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành quý II/2014 được coi là ấn phẩm
Trang 8mới nhất đề cập đến ba vấn đề lớn trong chiến lược an ninh năng lượng củaTrung Quốc trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI Một là, sự phát triển trong tưtưởng chiến lược an ninh năng lượng của Trung Quốc Đó là những chủtrương quan trọng nhất trong chiến lược an ninh năng lượng của Trung Quốc,tập trung vào những thay đổi mới trong chiến lược này hướng tới tương laicủa Trung Quốc Hai là, phân tích những biện pháp và hoạt động cụ thể củaTrung Quốc nhằm thực hiện chiến lược an ninh năng lượng Trung Quốc khaithác các nguồn năng lượng truyền thống trong nước; triển khai khai thácnhững nguồn năng lượng mới, tái tạo, sạch (nhấn mạnh đến chính sách tiếtkiệm năng lượng và việc thực hiện, tối ưu hóa các nguồn năng lượng…) Ba
là, một số tác động chính và những ảnh hưởng của việc thực hiện chiến lược
an ninh năng lượng của Trung Quốc tới tình hình năng lượng quốc tế và ViệtNam
Cuốn sách “ Ngoại giao Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hai mươi nămđầu thế kỷ XXI” của TS Lê Văn Mỹ, nhà xuất bản Khoa học Xã hội Việt Nam
đã đề cập đến ngoại giao của Trung Quốc trong 10 năm đầu thế kỷ XXI và dựbáo cho 10 năm tiếp theo trên các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực ngoại giaonăng lượng của Trung Quốc Tác giả đã nhấn mạnh đến cơn khát năng lượngcủa Trung Quốc để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và những kết quả đạtđược sau chuyến công du của các nhà lãnh đạo Trung Quốc đến các nước giàutài nguyên năng lượng
Luận văn thạc sĩ “Vấn đề an ninh năng lượng ở Trung Quốc trong giaiđoạn hiện nay” của tác giả Hà Thu Thảo, Học viện quan hệ quốc tế Tác giảtrình bày tổng quan về tình hình năng lượng của Trung Quốc, phân tíchnguyên nhân của sự mất an ninh năng lượng của quốc gia này Nhìn chungluận văn đã đóng góp những luận điểm khoa học có giá trị khi phân tích ảnh
Trang 9hưởng của chính sách an ninh năng lượng của Trung Quốc trên quy mô toàncầu.
Luận văn cao học “Vấn đề an ninh năng lượng trong quan hệ quốc tếhiện nay” của tác giả Nguyễn Hải Anh, Học viện quan hệ quốc tế Tác giả đãphân tích chiến lược an ninh năng lượng của các nước lớn, trong đó có TrungQuốc
Tác giả Vũ Lê Thái Hoàng với bài viết “Chiến lược dầu mỏ của TrungQuốc và cuộc chạy đua dầu mỏ khí đốt giữa Trung Quốc và Nhật Bản đầu thế
kỉ XXI” đăng trên tạp chí nghiên cứu quốc tế ( số 59- 2004), các bài báo đềcập đến chiến lược an ninh năng lượng, chiến lược an ninh dầu mỏ của TrungQuốc trong việc sử dụng và đảm bảo các nguồn cung cấp, đồng thời tác giảcũng đưa ra những nhận định trong việc hoạch định chính sách an ninh nănglượng và cạnh tranh tìm nguồn cung cấp dầu mỏ giữa hai nền kinh tế lớn nhấtchâu Á là Trung Quốc và Nhật Bản
Bên cạnh đó, những bài viết trên trang mạng nghiên cứu Biển Đôngđánh giá về ngoại giao năng lượng của Trung Quốc Bài “Ngoại giao nănglượng của Trung Quốc đối với khu vực Trung Á những năm đầu thế kỉ XXI”
đã đánh dấu rất sâu sát nhu cầu, biện pháp triển khai hoạt động ngoại giaonăng lượng của Trung Quốc và khu vực Trung Á
*Công trình nghiên cứu nước ngoài
Bắt đầu từ phiên họp Quốc hội vào tháng 3 năm 2000, Trung Quốc đãđưa ra chính sách “Tây tiến” nhằm thúc đẩy phát triển các tỉnh miền Tây bằngcách khai thác năng lượng ở khu vực này, sau đó chuyển tới các vùng đô thịkhác của Trung Quốc Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XVI củaĐảng Cộng sản Trung Quốc đã thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ 11 về pháttriển kinh tế xã hội, đề xuất xây dựng xã hội theo mô hình tiết kiệm nănglượng và bảo vệ môi trường Đến nay, Chính phủ Trung Quốc đã xác định
Trang 10quy hoạch phát triển năng lượng trung và dài hạn ưu tiên tiết kiệm nănglượng, kết cấu đa nguyên, bảo vệ môi trường, khai thác cả thị trường trong vàngoài nước.
Tháng 12 năm 2007, lần đầu tiên Chính phủ nước Cộng hòa nhân dânTrungHoa cho công bố “Sách trắng về tình hình và chính sách năng lượng”-(中中中中中中中中中中-中中书-China’s Energy Conditions and Policies)
bao gồm chương trong đó nhấn mạnh Trung Quốc cố gắng dựa vào nguồnnăng lượng trongnước, hợp lý hóa cơ cấu năng lượng để đảm bảo cho sự pháttriển bền vững củakinh tế-xã hội Tài liệu này nói rõ lập trường của chính phủTrung Quốc về chínhsách đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đồng thờinêu rõ nhu cầu năng lượngtrong thời gian tới
Năm 2005, Hội nghị an ninh quốc gia lần 3 được tổ chức tại Bắc Kinh,cáchọc giả thuộc tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng đã
có những bài viết khác nhau về vấn đề an ninh quốc gia Tập kỉ yếu với nhan
đề “An ninhquốc gia của các quốc gia đang phát triển”(中中书书书书书书书书) đã cung cấpnhiều bài viết liên quan đến vấn đề an
ninh phi truyền thống trên thế giới Vấn đề an ninh năng lượng của Mỹ vàTrung Quốc được các học giả xem là nhân tố hàng đầuchi phối nền chính trịthế giới
Năm 2006, được xem là mốc chuyển biến trong “ngoại giao nănglượng” của Trung Quốc, từ đơn phương tiến hành ngoại giao Trung Quốcchuyển sang giaiđoạn hợp tác đa phương Viện nghiên cứu quan hệ quốc tếhiện đại Trung Quốc đã đánh giá lại tình hình an ninh năng lượng trên thếgiới Tác phẩm “Đánh giá tình hình an ninh và chiến lược quốc tế”(中书书书书书书书书书书 - Strategic and security review) đã phân tích khá
kỹ sự điều chỉnh chiến lược năng lượng của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, liênminh châu Âu Những thay đổi trong chiến lược nănglượng của các khu vực
Trang 11quan trọng trên thế giới như Đông Bắc Á, Đông Nam Á,Trung Đông, Trung
Á, Phi Châu, Mỹ Latinh…làm cho các nước lớn như Mỹ, TrungQuốc, NhậtBản, Ấn Độ phải điều chỉnh lại chiến lược năng lượng của từng quốcgia
Đề cập trực tiếp đến đề tài phải kể đến tác phẩm “Nghiên cứu an ninhnăng lượng của Trung Quốc – Phân tích pháp luật và chính sách”(中中中中中中书书书书-中中中中中中中) của tác giả Hoàng Tiến Đứng từ góc độ pháp luật
và chính sách, tác giả đã phân tích khá kỹ chính sách an ninh năng lượng củaTrung Quốc ở các lĩnh vực như chủ quyền lãnh hải, hợp tác đa phương…Phần cuối tác giả đã nhấn mạnh Trung Quốc cần hoàn thiện hành lang pháp lý
về năng lượng dựa trên thực tế an ninh năng lượng thế giới từng giai đoạn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ những chính sách ngoại giao năng lượng củaTrung Quốc từ năm 1993 đến năm 2012 để thấy được:
- Tình hình năng lượng và nhu cầu tiêu thụ năng lượng của TrungQuốc từ năm 1993- 2012
- Quá trình triển khai chính sách ngoại giao năng lượng của TrungQuốc ở từng khu vực cụ thể- chủ yếu là ở Trung Á, Trung Đông, Châu Phi và
Mĩ -La-Tinh và một số khu vực khác
- Những tác động của của chính sách ngoại giao năng lượng của TrungQuốc đến an ninh khu vực và Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách ngoại giao năng lượng của TrungQuốc từ năm 1993- 2012
- Phạm vi nghiên cứu:
Trang 12+ Về thời gian: Đề tài chủ yếu tập trung đưa ra hướng những chínhsách hoạt động để đảm bảo an ninh năng lượng của Trung Quốc từ năm 1993đến 2012.
+ Về không gian: Trong chính sách ngoại giao năng lượng của TrungQuốc
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cơ sở lý luận và phương pháp luận chủ yếu của khóa luận là dựa trênchủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó, khóa luận còn
sử dụng các phương pháp khác bổ trợ như:Phương pháp phân tích; Phươngpháp tổng hợp; Phương pháp so sánh và đối chiếu; Phương pháp lịch sử -logic; Phương pháp hệ thống – cấu trúc…
6.Bố cục và nội dung chính
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận còn gồm có 3 chương:
Chương 1.Tình hình năng lượng thế giới và Trung Quốc từ năm 1993 2012
-Chương 2.Ngoại giao năng lượng Trung Quốc từ năm 1993 - 2012 vàkinh nghiệm cho Việt Nam từ chính sách ngoại giao năng lượng của TrungQuốc
Trang 13TÌNH HÌNH NĂNG LƯỢNG THẾ GIỚI VÀ TRUNG QUỐC
TỪ NĂM 1993-2012 1.1 Tình hình năng lượng thế giới
1.1.1 Khái niệm an ninh năng lượng
Năng lượng là vật chất cơ bản cần thiết cho mọi hoạt động của conngười và phát triển kinh tế của một quốc gia Năng lượng chiếm một tỉ lệquan trọng trong sản xuất công nghiệp, các dây chuyền sản xuất bằng máymóc đều phải dựa trên nguồn cung cấp năng lượng để vận hành Ngoài ra,năng lượng còn có quan hệ mật thiết với hiện hại hóa nông nghiệp, cơ khí hóanông nghiệp, điện khí hóa nông thôn Các loại hình giao thông hiện nay cơbản đều sử dụng năng lượng dưới nhiều hình thức khác nhau: xe lửa, máybay, xe hơi, tàu thuyền Đối với các quốc gia phát triển và đang phát triểnnăng lượng trở thành nhu cầu chiến lược, thậm chí được so sánh như mộtnhân tố quan trọng đảm bảo an ninh quốc gia
An ninh năng lượng là một lĩnh vực quan trọng gắn với vấn đề an ninh
và an ninh quốc gia Nó trực tiếp ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và khả năng
duy trì sự phát triển và ổn định xã hội Thuật ngữ an ninh năng lượng xuất
hiện trong hệ thống từ ngữ hiện đại từ thập niên 50 của thế kỉ XX Nội hàmcủa an ninh năng lượng thay đổi theo đà phát triển của kinh tế xã hội, nhữngthay đổi giữa con người và thiên nhiên mà có những điều chỉnh nhất định.Thời gian đầu, an ninh năng lượng chỉ được hiểu một cách đơn giản là cónguồn cung cấp năng lượng ổn định, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển kinh
tế một quốc gia Ý nghĩa trên cho thấy tính ổn định của nguồn cung cấp trởthành mục tiêu cơ bản của an ninh năng lượng quốc gia Trước đó, nguồnnăng lượng chủ yếu cung cấp cho các ngành công nghiệp là than đá, do trữlượng than đá dồi dào và phân bố nhiều nơi, nền công nghiệp của các nước
Trang 14Âu Mĩ thời gian này tiêu hao năng lượng không nhiều nên nhu cầu nănglượng vẫn còn được đảm bảo.
An ninh năng lượng là một khái niệm rộng và mở Nó bắt đầu được đềcập đến từ thập kỉ 70 của thế kỉ trước, đặc biệt là giai đoạn xảy ra cuộc khủnghoảng dầu lửa năm 1973-1974 Thời kì này, an ninh năng lượng được hiểutheo nghĩa hẹp, đồng nghĩa với “an ninh dầu lửa”, tức là đảm bảo khả năng tựcung tự cấp dầu ở mức cao nhất, đồng thời giảm mức nhập khẩu dầu và kiểmsoát được những nguy cơ đi kèm việc nhập khẩu Ngày nay, những thay đổitrong thị trường dầu và các năng lượng khác cùng sự xuất hiện nhiều nguy cơnhư: tai nạn, chủ nghĩa khủng bố, đầu tư kém vào cơ sở hạ tầng và thị trườnghạn chế đã khiến khái niệm này không còn phù hợp Tuy nhiên, khái niệm
an ninh năng lượng không đơn thuần là các nguồn cung cấp năng lượng ( chủyếu là dầu lửa) được đảm bảo như các thập kỉ trước đây, mà còn hiểu mộtcách toàn diện, bao quát hơn là phải đảm bảo công tác bảo vệ môi trường, giá
cả hợp lý và khả năng ứng phó với các tình huống khẩn cấp phát sinh từ cácnhân tố kinh tế, chính trị bên trong và bên ngoài quốc gia
Từ thập niên 50 của thế kỉ XX trở đi, khả năng cung ứng và nhu cầunăng lượng của thế giới có nhiều thay đổi lớn theo đà phát triển của nền côngnghiệp thế giới và cuộc sống nhân loại Kết cấu các nguồn năng lượng trên
thế giới đã có những chuyển biến rõ rệt, than đá chiếm tỉ lệ 60% nguồn năng
lượng ở thập niên 50 đã giảm xuống 24% vào năm 2000; dầu mỏ và khí thiên
nhiên lại tăng từ 37,4% lên 61% [4, tr.20] Dầu mỏ dần thay thế than đá để
thành nguồn năng lượng chủ yếu của nhân loại Sau cuộc khủng hoảng dầu
mỏ do chiến tranh năm 1973, nguy cơ thiếu hụt dầu mỏ trở thành vấn đề quantrọng đối với các quốc gia phát triển Năm 1974, Cơ quan năng lượng quốc tế(IEA) được thành lập, đề xuất khái niệm an ninh năng lượng với trọng tâm là
ổn định nguồn cung ứng và giá cả dầu mỏ
Trang 15Tuy là một lĩnh vực mới, nhưng nội hàm an ninh năng lượng cũng thayđổi theo đà phát triển của kinh tế xã hội, những thay đổi của con người vàthiên nhiên có những điều chỉnh nhất định Thời gian đầu, an ninh năng lượngchỉ được hiểu một cách đơn giản là có nguồn cung cấp năng lượng ổn định,đảm bảo sự tồn tại và phát triển kinh tế một quốc gia Ý nghĩa này cho thấy,tính ổn định của nguồn cung cấp trở thành mục tiêu cơ bản của an ninh nănglượng quốc gia.
Từ thập niên 80 của thế kỉ XX trở đi, sự nóng dần lên của trái đất và sựthay đổi của khí hậu toàn cầu làm cho con người nhận thức được vấn đề quantrọng của môi trường đối với nhân loại Các quốc gia phát triển dần thay đổicách nhìn về an toàn năng lượng Trong chiến lược phát triển năng lượng, cácquốc gia đều tăng cường khái niệm sử dụng năng lượng an toàn; cho nên, sửdụng an toàn năng lượng trở thành vấn đề quan trọng tác động đến môi trườngsinh thái của con người Có thể nói, đến thời kì này, nội hàm an ninh nănglượng đã thay đổi, an ninh năng lượng được xem là vấn đề tồn tại song songvới duy trì sự phát triển ổn định và bền vững An ninh năng lượng đối với mộtquốc gia khu vực hiện nay phải gắn liền với duy trì phát triển kinh tế, tiến bộ
xã hội và đảm bảo trạng thái môi trường
Khi nói đến an ninh năng lượng thì mọi người thường nghĩ đến anninhdầu lửa Thực tế cho thấy, từ sau thập niên 50 của thế kỉ XX, dầu lửachiếm61% các nguồn năng lượng mà con người sử dụng Do đó, đối với các quốcgia trên thế giới, đảm bảo an ninh dầu lửa là một bộ phận quan trọng của đảmbảo an ninh năng lượng, khái niệm an ninh năng lượng đã trải qua nhiều tranhluận và cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên thuật ngữ này hiện nay được thốngnhất đó là sự đảm bảo đầy đủ năng lượng dưới nhiều dạng khác nhau, sạch và
rẻ Có thể nói trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay, an ninh và an ninh nănglượng cũng đang nổi lên như vấn đề toàn cầu hết sức bức thiết
Trang 16An ninh năng lượng hiện đang trở thành một vấn đề toàn cầu còn doviệc thực hiện nó mang tính chất xuyên quốc gia, đòi hỏi sự tham gia hợp táccủa tất cả các quốc gia trên thế giới Không một quốc gia nào trên thế giới dùgiàu mạnh đến mấy có khả năng tự mình đảm bảo được an ninh năng lượng,
mà đều cần có sự hợp tác giữa các quốc gia, đặc biệt là trong bối cảnh mà sựphụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng Thực tế đã chứng minhngay cả những nước thường xuyên xuất khẩu năng lượng cũng có lúc lại phảinhập khẩu năng lượng và sự phụ thuộc về năng lượng giữa các khu vực đangdẫn đến tình trạng an ninh năng lượng ở một quốc gia bị đe dọa lập tức sẽ ảnhhưởng ngay đến vấn đề năng lượng ở các quốc gia khác Ngày nay, nguy cơ
đe dọa đến an ninh năng lượng xuất hiện ngày một nhiều khiến cho vấn đềnày ngày càng trở nên bức thiết và đòi hỏi sự hợp tác giải quyết của toàn thếgiới vì một nền an ninh năng lượng
1.1.2 Tình hình năng lượng thế giới từ năm 1993 đến 2012
Trước nhu cầu tiêu hao năng lượng của thế giới ngày càng tăng, conngười đã khai thác quá mức các nguồn năng lượng truyền thống như dầu lửa,khí thiên nhiên, than đá Sự cạn kiệt của các nguồn năng lượng là điều khôngtránh tránh khỏi trong tương lai, nhưng trước mắt năng lượng đang khôngngừng tác động đến cuộc sống con người dưới nhiều góc độ khác nhau, trong
đó có lĩnh vực kinh tế
Năm 1956, các nhà khoa học dự đoán với tốc độ tiêu hao dầu lửa lớnthì đến cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI thế giới sẽ chính thức bước vào giaiđoạn “khát dầu mỏ”, dự đoán này đã được thực tế chứng minh.Năm 2004,theo căn cứ thống kê của tạp chí dầu khí Hoa Kỳ, trữ lượng thăm dò khai thácdầu mỏ thế giới là 1733,99 tỉ tấn, trong đó trữ lượng của Canada chiếm245,06 tỉ tấn, đứng thứ 2 trên thế giới Ngoài ra, theo thống kê của Công tydầu khí Anh Quốc(BP), trữ lượng khí thiên nhiên thăm dò của thế giới tăng từ
Trang 17926.800 tỉ tấn (năm 1983) tăng lên 1.750.780 tỉ tấn (năm 2003), tăng gần gấpđôi trong vòng 20 năm Năm 2000, Cục điều tra địa chất Hoa Kỳ đã công bốđánh giá mới nhất về sản lượng khí thiên nhiên cho thấy nguồn năng lượngnày hiện chiếm 12% năng lượng toàn cầu.
Về dầu mỏ, trình độ khai thác các giếng dầu chỉ đạt tỉ lệ 60-80%, cácgiếng dầu khai thác lần thứ nhất chiếm khoảng 15%, các giếng dầu khai tháclần thứ hai chiếm khoảng 30%, còn khoảng 70-85% giếng dầu chưa được khaithác Các nhà hoạch định chính sách dầu mỏ cũng chỉ ra trong vòng 5-10 nămnữa các giếng dầu (DOFF) sẽ cung cấp trữ lượng 1250 tỉ thùng dầu cho thếgiới Theo báo cáo của IEA, năm 2002, mỗi ngày thế giới tiêu thụ hết 78 triệuthùng dầu Đến 2015 con sốđó sẽ là 103 triệu thùng/ngày và 2025 sẽ là 119triệu thùng/ngày Nếu lấy trữ lượng toàn thế giới chia cho nhu cầu các thờiđiểm trên thì dầu lửa chỉ đáp ứng nhu cầu của nhân loại đến năm 2050 [9, tr40]
Năm 2003, sản lượng dầu mỗi ngày của các nước thành viên OPECtăng 1,88 triệu thùng, với tổng sản lượng mỗi năm đạt 14,67 tỉ tấn, tăng 6,6%
so với năm 2002 và tăng 12,6% so với năm 1993, chiếm 39,7% tổng sảnlượng dầu toàn thế giới Trong đó, Arab Saudi cung cấp sản lượng dầu mỗingày 9,817 triệu thùng Các quốc gia khác trong tổ chức OPEC cũng có khảnăng cung cấp từ 500 nghìn đến 1 triệu thùng dầu ngày Do đó, những biếnđộng giá cả của tình hình dầu mỏ thế giới đều chịu ảnh hưởng từ sản lượngcác nước trong khối OPEC
Các nước không nằm trong tổ chức OPEC tăng trưởng có hạn, năm
2003 các nước không nằm trong tổ chức OPEC có sản lượng dầu mỏ mỗingày đạt 830 nghìn thùng dầu Giữ vai trò quan trọng trong các nước này làLiên bang Nga với tốc độ khai thác tăng 11% mỗi năm và chiếm tỉ lệ 11,4%sản lượng dầu thế giới Ngoài ra, sản lượng dầu của các quốc gia nằm trong tổ
Trang 18chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đang có xu hướng giảm dần Cácnước có sản lượng dầu mỏ giảm nhiều nhất là Anh với 220 nghìn thùng mỗingày, tiếp đến là Mỹ 170 nghìn thùng mỗi ngày Duy nhất chỉ có Mexico vàCanada là hai quốc gia duy nhất có sản lượng dầu tăng trưởng với sản lượng
100 nghìn thùng ngày Theo thống kê mới nhất của IEA, tỉ lệ sản xuất dầu củatất cả các khu vực trên thế giới đều có sự thay đổi theo từng năm, điều nàychứng tỏ nhu cầu dầu lửa của thế giới cũng thay đổi theo thời gian.[9,tr41]
Bảng 1.2: Nhu cầu tiêu thụ năng lượng của thế giới theo nhóm quốc gia
giai đoạn 2003-2030 (Đơn vị: Quadrillion Btu)
Tỉ lệ thay đổi trung bình hàng năm
Trang 19Theo dự báo của IEA, lượng khí đốt trên toàn thế giới chỉ còn khả năngcung cấp cho nhu cầu nhân loại thêm 60 năm nữa.Theo báo cáo năm 2009,EIA đã dự báo nhu cầu khí đốt thiên nhiên năm 2010 sẽ tăng gấp đôi so vớinhu cầu năm 2006 Các nước có trữ lượng khí thiên nhiên lớn như Nga, Mỹ,Nigeria đang cắt dần các khoản xuất khẩu để đảm bảo an ninh quốc gia Mộtphần lớn khí đốt thiên nhiên được dùng để sản xuất điện do hiệu quả sử dụngcủa nó cao hơn các loại nguyên liệu khác và không làm tăng hiệu ứng nhàkính.
Nhu cầu về than đá của các quốc gia phát triển trên thế giới trongnhững năm gần đây cũng tăng cao Ngoại trừ khu vực Tây Âu đang có xuhướng chuyển sang sử dụng khí đốt thiên nhiên để sản xuất điện, các quốc giacòn lại đều có nhu cầu cao về than đá để phục vụ cho nền công nghiệp củanước mình Hai quốc gia có nhu cầu than đá nhiều nhất là Trung Quốc và Ấn
Độ với 72% nhu cầu gia tăng than đá thế giới và 87% nhu cầu than đá của cácquốc gia đang phát triển Theo thống kêcủa IEA, trữ lượng than đá trên toànthế giới khoảng trên dưới 1000 tỉ tấn đủ khả năng cung cấp cho nhu cầu conngười trong vòng 200 năm nữa.[9, tr 31]
Than đá là nguyên liệu chủ yếu của công nghiệp điện lực và sản xuấtgang thép Trước mắt, trên phạm vi toàn cầu công nghiệp điện lực và sản xuấtgang thép vẫn giữ vai trò chủ yếu trong các ngành công nghiệp nặng Ở hầukhắp các khu vực, than đá được dùng chủ yếu để sản xuất điện, chiếm tỉ trọng37% nguyên liệu tạo ra điện, trước nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng cao,
áp lực về sản lượng than đá trong những năm tới sẽ là rất lớn đối với ngànhcông nghiệp khai khoáng của thế giới
1.1.3 Sự biến động của an ninh năng lượng thế giới từ 1993- 2012
Nhu cầu năng lượng toàn cầu gia tăng từng ngày nhưng không đồngđều giữa các quốc gia và ngành công nghiệp Nhu cầu năng lượng lớn nhất
Trang 20thuộc về các quốc gia đang phát triển, chiếm khoảng 2/3 nhu cầu năng lượngthế giới Trong nhóm này Trung Quốc đứng đầu về nhu cầu dầu lửa Đến năm
2010 Trung Quốc phải nhập 5 triệu thùng dầu mỗi ngày, nguồn cung cấp dầu
mỏ trong nước khan hiếm, cung không đủ cầu, cơn “khát dầu” làm cho TrungQuốc đẩy mạnh quá trình tìm kiếm nguồn cung cấp dầu mỏ ổn định và bềnvững Mỹ và Trung Quốc đang cố tìm cách gây ảnh hưởng tại châu Phi, nơi
có trữ lượng dầu mỏ đứng thứ 2 trên thế giới chỉ sau khu vực Trung Đông,Trung Á và Châu Mỹ Châu Phi trở thành “miếng mồi ngon” giữa Mỹ và TrungQuốc khi sản lượng dầu mỏ tại đây hứa hẹn là khá dồi dào so với các khu vựctruyền thống, mặt khác hàm lượng sulfur trong dầu thô ở Châu Phi tươngđối thấp nên rất có giá trị khi xuất khẩu Sự “chạy đua” tìm kiếm nguồn nănglượng giữa Mỹ và Trung Quốc làm cho tình hình chính trị trên thế giới thêmphức tạp và dẫn đến những diễn biến của an ninh năng lượng trongnhững năm gần đây
Đến 2030, nhu cầu dầu lửa của Trung Quốc sẽ là 10 triệu thùng ngày,đứng thứ 2 thế giới sau Mỹ Giao thông vận tải và công nghiệp nặng vẫn lànhững ngành có nhu cầu cao nhất về dầu lửa Thời điểm hiện tại chưa
có nguồn nguyên liệu nào thay thế được dầu lửa trong lĩnh vực giao thôngvận tải, lĩnh vực chiếm 60% nhu cầu dầu lửa trong giai đoạn 2002-2025.Năng lượng, nhất là dầu mỏ, đang là tác nhân quan trọng nhất chẳng nhữngđối với sự phát triển của kinh tế thế giới, mà cả với sự thay đổi to lớn vềchính trị [18, tr 31]
Sự phân bố không đồng đều và nhu cầu sử dụng dầu lửa gia tăng từngngày đã dẫn đến hệ lụy là giá dầu liên tục tăng cao và mất ổn định trong thờigian gần đây.Nhu cầu dầu lửa trong sản xuất, sinh hoạt hàng ngày cũngnhư dự trữ chiến lược của các quốc gia ngày càng tăng cao Trong khi đó,
Trang 21các nước sản xuất dầu mỏ gần như đạt mức sản xuất trần Mỏ dầu đangkhai thác
Trang 22lớn nhất trên thế giới hiện nay là Ghawar của Arab Saudi với công suất 5 triệuthùng/ngày sẽ không duy trì lâu Các mỏ dầu quan trọng ở khu vực TrungĐông, biển Bắc Âu cũng đang giảm dần sản lượng khai thác do trữ lượngngày càng thấp Riêng các mỏ dầu tại Irắc trữ lượng lớn nhưng tình hìnhkhông ổn định, tình hình tại Iran cũng không mấy sáng sủa khi chính phủnước này đang đối đầu với phương Tây và đang ở trong tình trạng bị cấmvận.
Trong năm 2005, giá dầu thế giới liên tục tăng mạnh từ mức 62,47USD/thùng (9-8- 2005) lên 67 USD/thùng (12-8-2005) Năm 2006, khi BắcTriều Tiên thử tên lửa tầm xa thành công giá dầu cũng tăng vọt nhanh chónglên đến 75,78USD/thùng Trước khi kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, giádầu có lúc đạt đỉnh điểm 147USD/thùng vào tháng 7 năm 2008 Giá dầu tăngcao là do sự mất cân bằng giữa cung cầu Theo báo cáo của IEA vào năm
2009, nhu cầu năng lượng của thế giới sẽ tăng từ 85 triệu thùng/ngàynăm
2006 lên 106,6 triệu thùng/ngày vào năm 2030 và giá dầu sẽ giữ mứctrên
100USD thùng từ 2013 đến hết thời kỳ nêu trên[21, tr
21]
Các nhà nghiên cứu cũng đánh giá, sự phát triển “quá nóng” của nềnkinh tế Trung Quốc những năm đầu thế kỉ XXI cũng là nhân tố trực tiếp tácđộng đến giá dầu thế giới Nền kinh tế Trung Quốc cần nguồn cung cấp dầulửa lớn để vận hành nền kinh tế mà có lúc được xem là “công xưởngthế giới” Do đó, nhân tố quan trọng nhất giúp khống chế giá dầu trongtương lai gần có thể là khả năng của các nhà lãnh đạo Trung Quốc trong việcgiảm bớt tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước họ
Để bảo đảm cho an ninh năng lượng, các nước trên thế giới đẩy mạnhxây dựng các kho dự trữ dầu chiến lược Trung Quốc và Ấn Độ tuyên bố sẽ
Trang 23xây dựng kho dự trữ chiến lược bằng nguồn ngoại tệ dồi dào của mình.Năm
2008 Ấn Độ đã công bố kế hoạch xây dựng kho dự trữ chiến lược quốc gia cósức 36 triệu thùng, tương lai sẽ tăng mức dự trữ lên đến 108 triệu thùng.Cùng
Trang 24thời gian nêu trên, Trung Quốc tuyên bố xây dựng 4 cơ sở dự trữ chiến lược
ở khu vực duyên hải là Trấn Hải, Đại Sơn, Đại Liên, Hoàng Đảo Trong tươnglai một khu dự trữ lớn nhất dự kiến sẽ được xây dựng tại tỉnh Triết Giang vớitrữ lượng 5,2 triệu mét khối dầu Mục tiêu của Trung Quốc là đáp ứngnhu cầu dầu lửa quốc gia trong 30 ngày khoảng (300 triệu thùng trong năm2010) Như vậy, khả năng dự trữ của Trung Quốc và Ấn Độ vẫn ít hơn Mỹ là
118 ngày, ít hơn Nhật Bản 169 ngày
Bên cạnh đó, an ninh các tuyến vận chuyển dầu lửa cũng ảnhhưởng đến an ninh năng lượng thế giới Đầu tiên là nguy cơ bị khủng bốcủa các tuyến đường vận chuyển dầu lửa.Tuyến vận chuyển qua khu vực eobiển Malacca ở Đông Nam Á được xem là huyết mạch của an ninh nănglượng khu vực Đông Á Con đường nhập khẩu dầu lửa của Trung Quốc vàNhật Bản chủ yếu đi theo hai tuyến chính: thứnhất, từ Trung Đông - eoHormuz - eo biển Malacca - eo biển Đài Loan – Trung Quốc - Nhật Bản; thứhai, từ Đông Nam Á - eo biển Malacca - eo biển Đài Loan - Trung Quốc -Nhật Bản Trong những năm gần đây, eo biển Malacca được xem là khá
“nóng” với sự hoạt động của các nhóm hải tặc, nếu như eo biển này bị phongtỏa trong thời gian ngắn do những sự kiện bất ngờ, kinh tế Trung Quốc vàNhật Bản sẽ bị ảnh hưởng đầu tiên bởi gần 90% lượng dầu nhập khẩu của hainước này đi qua hai tuyến đường nêu trên Nhiều năm nay, các nước lớnnhư Nhật Bản, Ấn Độ…luôn ngấm ngầm đấu tranh nhằm kiểm soát eo biểnMalacca Đối với Trung Quốc, thực lực hải quân còn chưa đủ mạnh mà huyếtmạch nhập khẩu dầu mỏ trên biển trong giai đoạn hiện nay từ một ý nghĩanào đó mà nói nằm trong tay các nước đang kiểm soát
Những nhân tố vừa nêu trên đều ảnh hưởng ít nhiều đến những biếnđộng của an ninh năng lượng trong những năm gần đây Những nhân tố
Trang 25này, dù trực tiếp hay gián tiếp đều tác động đến kinh tế - chính trị thế giới,trong
Trang 26các báo cáo của IEA hàng năm, tổ chức này đều cảnh báo thế giới vẫn đối mặtvới nguy cơ khủng hoảng dầu lửa tiềm ẩn Những biến động và nguy cơ từ anninh năng lượng, buộc các quốc gia phải có chính sách điều chỉnh cơ cấu sửdụng năng lượng hợp lý, đồng thời tăng cường hợp tác đầu tư trên lĩnh vựcnăng lượng nhằm đảm bảo nguồn cung cấp năng lượng ổn định và bền vữngtrong hiện tại cũng như tương lai.
1.2 Tình hình năng lượng Trung Quốc từ năm 1993 – 2012
1.2.1 Nhu cầu năng lượng Trung Quốc
Sau hơn 30 năm cải cách và mở cửa, thành tựu lớn nhất của ngành
năng lượng Trung Quốc là hỗ trợ cơ bản cho sự tăng trưởng với tốc độ caocủa nền kinh tế quốc dân Nhưng sự phát triển của ngành năng lượng ngàycàng khó thỏa mãn nhu cầu tăng trưởng kinh tế quốc dân và cải thiện đờisống người dân Khi đánh giá về nhu cầu năng lượng của Trung Quốc trongthời gian sắp tới, các nhà nghiên cứu đều cho rằng nhu cầu ngày càng tăng và
sẽ tác động lớn đến nhu cầu tiêu thụ năng lượng toàn cầu
Sự phát triển kinh tế chóng mặt của Trung Quốc đang khiến nướcnày đi tìm những nguồn cung cấp dầu nhằm đảm bảo cho sự phát triển.Hiện Trung Quốc nhập khẩu 40% lượng dầu thô và dự kiến, đến năm 2025,lượng dầu thô nhập khẩu sẽ là 80% [26] Chính phủ Trung Quốc đangthực hiện một chính sách thâu tóm các nguồn tài nguyên khiến nhiều nướcphải lo ngại Bắc Kinh đã cử người đi khắp nơi để mua dầu, từ Trung Đôngđến Trung Á, từ châu Phi đến Mỹ-La-tinh và sẵn sàng mua lại những công tykhai thác dầu thua bị lỗ hay thương lượng với những quốc gia giàu tàinguyên nhiên liệu để bảo đảm nguồn cung cấp năng lượng cho sự phát triểncủa nền kinh tế Trung
Quốc
Trang 27Từ năm 1993, Trung Quốc bắt đầu phải nhập khẩu dầu và là nước tiêu thụ dầu lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ, chiếm 40% sự gia tăng nhu cầu dầu
Trang 28thô của thế giới kể từ năm 2000 Mức dự trữ dầu của Trung Quốc khoảng 18nghìn tỷ thùng và dầu nhập khẩu chiếm 1/3 lượng tiêu thụ dầu thô.Trung Quốc đã đưa ra hàng loạt chính sách đối phó với tình trạng thiếu hụtnăng lượng ngày càng gia tăng, trong đó có đẩy mạnh các hoạt động thăm
dò, đa dạng hoá nguồn năng lượng như than đá, khí đốt, năng lượng tái sinh,năng lượng hạt nhân; tăng cường bảo tồn năng lượng và khuyến khích đầu
tư vào công nghệ năng lượng thân thiện với môi trường Năm 1993, lần đầutiên Trung Quốc từ nước xuất khẩu trở thành nước nhập khẩu dầu mỏ
Bảng 2.1: Dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc
giai đoạn 2005-2020 (tỉ lệ %)
Nguồn: Báo cáo năng lượng Trung Quốc (2006), Bắc Kinh, nxb Khao học, trang 74)
Qua bảng 2.1 có thể thấy trong hai thập niên đầu thế kỉ XXI tốc độ pháttriển kinh tế của Trung Quốc luôn đạt mức cao Vấn đề đặt ra cho cácnhà lãnh đạo Trung Quốc trong hiện tại cũng như trong tương lai là đưa ra
Trang 29được chiến lược để phát triển đất nước, trong đó có chiến lược an ninh nănglượng.
Trang 30Năm 2008, Trung Quốc sản xuất 4 triệu thùng/ ngày, nhưng lại tiêu thụ7,8 triệu thùng/ ngày Năm 2009, trữ lượng dầu mỏ được xác định là 16 tỷthùng và khí đốt là 2,2 nghìn tỷ m3 Do đó Trung Quốc đã phải nhập khẩukhoảng 3,9 triệu thùng/ ngày.Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế, trong
25 năm tới, nhu cầu năng lượng của Trung Quốc tăng sẽ chiếm khoảng hơn1/5 nhu cầu trên toàn cầu Theo Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Trung QuốcNghiêm Lục Quang, đến năm 2050, Trung Quốc sẽ sử dụng tới trên 800 triệutấn dầu/năm Do hạn chế về tài nguyên và khả năng sản xuất, sản lượng dầutrong nước Trung Quốc sẽ ổn định ở khoảng 200 triệu tấn/năm và phải phụthuộc vào nhập khẩu tới 75% [28, tr.1]
Như vậy, an ninh năng lượng đã đóng vai trò sống còn đối với sự ổnđịnh và an ninh của Trung Quốc Hiện Trung Quốc đang đẩy mạnh nỗ lực bảo
vệ đường biển, tuyến vận tải vốn đóng vai trò quan trọng trong việc vậnchuyển dầu mỏ, đồng thời vươn ra các khu vực giàu nguồn năng lượng như
Trung Đông, châu Phi, Trung Á, Nga, châu Mỹ La-tinh và Biển Đông.
1.2.2 Mục tiêu phát triển của Trung Quốc
*Về kinh tế - xã hội:
Trong 20 năm đầu thế kỉ XXI, Trung Quốc đặt ra mục tiêu là “Xây dựngtoàn diện xã hội tiểu khang” Mục tiêu này được Đảng Cộng sản Trung Quốcxác định là một giai đoạn phát triển tất yếu của quá trình cải cách, mởcửa, hiện đại hóa, là một nhiệm vụ lịch sử của toàn Đảng, toàn dân TrungQuốc trong thế kỉ đầu của thiên niên kỷ thứ 3 Để đạt được kết quả xây dựngtoàn diện xã hội tiểu khang Trung Quốc cố gắng phấn đấu toàn diện trên bốnlĩnh vực sau đây:
1 Về kinh tế: Trung Quốc cố gắng phấn đấu đến năm 2010 GDP sẽ tăng
gấp đôi so với năm 2000 Đến năm 2020 GDP sẽ tăng gấp đôi năm 2010 Nhưvậy, trong 20 năm đầu thế kỉ XXI GDP của Trung Quốc sẽ tăng gấp bốn lần
Trang 31so với giai đoạn trước năm 2000 Nếu các mục tiêu này đạt được thì thunhập của hơn 1 tỉ dân Trung Quốc sẽ đạt xấp xỉ 3000 đôla/năm Chính phủTrung Quốc tiếp tục cải cách thể chế kinh tế, hoàn thành công nghiệphóa, hoàn thiện cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa Trong đó nhiệm vụxây dựng và hoàn thiện cơ chế thị trường xã hội có các nhiệm vụ cụ thểnhư sau: hoàn thiện chế độ công hữu làm chủ đạo, đa dạng các loại hình sởhữu dựa trên sự phát triển kinh tế căn bản; xây dựng cơ chế nhị nguyênkinh tế ở các thành phố lớn, hình thành cơ chế phát triển kinh tế điều hòagiữa các vùng miền; xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh; hoànthiện cơ chế điều tiết kinh tế vĩ mô; xây dựng chế độ bảo hiểm việc làm
và phân phối thu nhập; xây dựng cơ chế phát triển liên tục nền kinh tế - xãhội
2 Về chính trị: hoàn thiện dân chủ XHCN, pháp chế XHCN toàn diện hơn,
quán triệt nguyên tắc cơ bản quản lý đất nước theo pháp luật, tôn trọng
và đảm bảo quyền lợi về kinh tế chính trị văn hóa của người dân, trật tự xãhội ổn định, nhân dân an cư, lạc nghiệp
3 Về văn hóa: mục tiêu đề ra là phẩm chất tư tưởng, đạo đức, trình
độ khoa học văn hóa, và tình trạng sức khỏe của toàn dân tộc nâng cao mộtcách rõ rệt, hình thành hệ thống giáo dục quốc dân, một cơ chế sáng tạokhoa học kỹ thuật và văn hóa, một hệ thống thể dục thể thao và y tế nhândân tương đối hoàn thiện và hiện đại…
4.Về môi trường sinh thái: tăng cường khả năng phát triển bền vững, cải
thiện môi trường sinh thái, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, thúc đẩy
sự hài hòa giữa con người và giới tự nhiên, đưa toàn xã hội vào con đườngphát triển văn minh; sản xuất phát triển, cuộc sống sung túc, sinh thái tronglành [19, tr 36-37]
Như vậy, trong những năm đầu thế kỉ XXI, Đảng, nhà nước và chính phủ
Trang 32Trung Quốc quyết tâm xây dựng thành công xã hội tiểu khang toàn diện,đây
Trang 33được xem là thời kỳ quá độ cơ bản để Trung Quốc trở thành một nước công nghiệp hóa vào những năm tiếp theo.
Mục tiêu về ngoại giao:
Thứ nhất, tiếp tục cải thiện và phát triển mối quan hệ với các nước phát
triển Trong đó, Trung Quốc xây dựng quan hệ hợp tác mang tính xây dựngvới Mỹ, quan hệ hữu hảo với Nhật, hợp tác toàn diện với châu Âu, cống hiếncho việc duy trì hòa bình thế giới [19, tr 197] Việc tăng cường ngoại giaonước lớn nhằm thể hiện vị trí và vai trò trên trường quốc tế của Trung Quốc.Tăng cường đối thoại với các nước có nền kinh tế phát triển càng tăng cường
mở rộng giao lưu hợp tác của Trung Quốc trong tương lai
Thứ hai, duy trì tăng cường quan hệ láng giềng hữu hảo Trung Quốc chủ
trương quan hệ hữu hảo với các nước làng giềng, trên cơ sở tin tưởng cùng
có lợi, hợp tác bình đẳng, duy trì hòa bình và ổn định của khu vực Chủtrương này được Trung Quốc thực hiện qua cơ chế hợp tác đa phươngnhư trong quan hệ với các nước ASEAN thông qua mô hình ASEAN+1,ASEAN+3 hoặc Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO) Bên cạnh đó, Trung Quốctích cực mở rộng đối ngoại kinh tế để tạo động lực phát triển kinh tế lẫnnhau giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực Cuối cùng, Trung Quốctăng cường đối thoại trên lĩnh vực an ninh với các nước láng giềng.[19, tr198]
Thứ ba, tăng cường đoàn kết và hợp tác với các nước thứ ba Trung
Quốc là thành viên của phong trào không liên kết nên việc tăng cường quan
hệ với các nước thứ ba là thể hiện trách nhiệm nước lớn và thành viên phongtrào Dựa trên nguyên tắc “bình đẳng cùng có lợi, coi trọng hiệu quả, đa dạnghóa, cùng phát triển” để nâng cao hiệu quả hợp tác với các nước Trongnhững năm đầu thế kỉ XXI, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Trung
Trang 34Quốc đã liên tục viếng thăm cấp cao với các nước ở châu Á, Phi và Mỹ Latinh nhằm
Trang 35tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị và tích cực tìm kiếm con đường phát triển có lợi cho cả hai bên.
Thứ tư, tích cực tham gia vào các hoạt động ngoại giao đa phương Tích
cực tham gia vào cơ chế hoạt động ngoại giao đa phương tạo điều kiện choTrung Quốc hội nhập sâu rộng vào hệ thống thế giới Đến nay, Trung Quốc
đã trở thành thành viên của 135 tổ chức quốc tế Trong tư cách là thành viênHội đồng bảo an Liên hiệp quốc Trung Quốc đã cổ võ cho phương thức đaphương để giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu
*Về tư tưởng đối ngoại
Thứ nhất, quan niệm mới về an ninh được Bộ trưởng Ngoại giao Tiền
Kỳ Tham đưa ra lần đầu tiên vào năm 1996 tại Diễn đàn khu vực ASEAN(ARF) Ngày 2 tháng 8 năm 2002, tờ “Nhân dân nhật báo” đã đăng bài vớitiêu đề “Văn kiện về lập trường quan điểm an ninh mới của Trung Quốc” Nộidung cốt lõi của quan niệm này là “tin cậy lẫn nhau cùng có lợi, bình đẳnghợp tác”, chủ trương thông qua đối thoại để tăng cường lòng tin, thôngqua hợp tác để tìm kiếm an ninh, tôn trọng chủ quyền của nhau, giải quyếttranh chấp bằng phương thức hòa bình, phấn đấu cùng phát triển TrungQuốc cực lực phản đối quan điểm xây dựng an ninh bằng hình thức chạy đua
vũ trang Quan niệm này thực chất là an ninh tập thể mang tính hợp tác
Thứ hai, lý luận về sự trỗi dậy của Trung Quốc Lý luận này được giámđốc Diễn đàn cải cách mở cửa Trung Quốc Trịnh Tất Kiên đưa ra tại tổ chứcvào tháng 11 năm 2003, với các nội dung sau: 1 Sự phát triển của TrungQuốc gắn liền với thế giới và Trung Quốc cần có môi trường quốc tế hòa bình
và lấy sự phát triển này để thúc đẩy hòa bình thế giới; 2 Trung Quốc dựavào sức mình là chính để phát triển, trong đó sự nỗ lực của toàn thểnhân dân Trung Quốc là động lực chính, phương thức này dựa vào phương
Trang 36thức hòa bình và cạnh tranh hòa bình trong tiến trình toàn cầu hóa kinh tế;
3 Sự phát
Trang 37triển của Trung Quốc không tạo thành mối đe dọa với thế giới Trung Quốcxem cùng có lợi, cùng thắng lợi, coi thúc đẩy phát triển chung, phù hợp lợiích đất nước là nguyên tắc cơ bản để xử lý quan hệ kinh tế thương mại vớicác nước Lý luận “trỗi dậy” có nhiều ý nghĩa tích cực hơn “phát triển”, nóthể hiện cao độ của chính phủ trong việc nâng cao mức sống của người dânTrung Quốc [19, tr 199].
Thứ ba, luận thuyết về thế giới hài hòa Nội dung của luận thuyết bao gồm
4 phương diện “dân chủ, hòa hợp, lẽ phải và bao dung”, Trung Quốc phảnđối sự độc đoán và chủ nghĩa đơn phương trong quan hệ quốc tế Một đặcđiểm của luận thuyết “thế giới hài hòa” là chủ trương kinh tế toàn cầu pháttriển đồng đều, có trật tự và thu hẹp khoảng cách Bắc-Nam Luận thuyết cổ
vũ sự đối thoại giữa các nền văn minh và phản đối xung đột văn minh
Trong những năm đầu thế kỉ XXI, trước sự thay đổi của tình hình quốc tế
và trong nước, giới lãnh đạo Trung Quốc đã vạch ra chủ trương, đường lốiđối ngoại của quốc gia với nội dung chủ yếu là kiên trì theo đuổi con đườngngoại giao hòa bình, hợp tác và hữu nghị Nhưng trong thực tiễn ngoại giao
và tư tưởng đối ngoại, Trung Quốc đang cố hòa nhập vào môi trường quốc tếvới tư cách là một nước lớn đang phát triển vượt bậc, tác động không nhỏđến tình hình khu vực và thế giới
Chính sách ngoại giao của Trung Quốc trong những năm gần đây khôngchỉ phục vụ cho công tác đối ngoại giữa Trung Quốc và các nước mà nó cònphục vụ cho công cuộc xây dựng phát triển đất nước, trực tiếp là gópphần đảm bảo an ninh chính trị, an ninh kinh tế cho quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa đang diễn ra từng ngày ở quốc gia này
Trang 381.2.3 Chiến lược an ninh năng lượng của Trung Quốc
Vào đầu thế kỷ XXI, chính quyền Trung Quốc đã thành lập Phòng nănglượng thuộc NDRC là cơ quan chịu trách nhiệm phát triển chiến lược dài hạncho đất nước Sau đó đổi tên là Ủy ban Năng lượng vào tháng 6 năm 2008.Tháng 3 năm 2000, tại phiên họp quốc hội chính phủ Trung Quốc đã đề rachính sách “Tây Tiến”, chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của của cáctỉnh phía Tây bằng cách khai thác nguồn năng lượng ở đây, sau đó chuyển tớicác trung tâm đô thị và công nghiệp của các khu vực khác của đất nước Cácnguồn năng lượng của Trung Quốc được phân bổ ở những khu vực kém pháttriển, trong khi các trung tâm đô thị thịnh vượng và các ngành tiêu thụ nhiềunăng lượng lại tập trung ở khu vực Đông Bắc và Đông Nam Trung Quốc
Trọng tâm của dự án này là đường ống dẫn khí đốt Đông-Tây dài 4.000
km, trị giá 5,2 tỷ USD, nối những vùng có trữ lượng khí đốt ở thềm lục địaTarim của Tân Cương với Thượng Hải Đường ống dẫn này bắt đầu cung cấpkhí đốt vào tháng 1 năm 2005 và có công suất 1,2 tỷ m3/năm Việc sản xuấtdầu mỏ từ Tân Cương sẽ cải thiện an ninh năng lượng của Trung Quốc, giảmnhập khẩu năng lượng từ nước ngoài và giúp chính quyền Trung Quốc kiểmsoát tốt hơn các nguồn cung năng lượng trong nước
Để tăng cường sự lãnh đạo mang tính chiến lược đối với năng lượng, tháng
5 năm 2005, Tiểu ban lãnh đạo năng lượng nhà nước do Thủ tướng Ôn GiaBảo đứng đầu đã được thành lập Đầu tháng 10 năm 2005, Hội nghị Trungương 5 khoá 16 của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thông qua kế hoạch 5năm lần thứ 11 về phát triển kinh tế xã hội quốc dân, đề xuất nhanh chóngxây dựng xã hội theo mô hình tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường,trong đó nêu rõ phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, việc tiêuhao năng lượng trên một đơn vị GDP phải giảm 20% so với thời kỳ kế hoạch
5 năm lần thứ 10
Trang 39Chính phủ Trung Quốc đã xác định quy hoạch phát triển năng lượng trunghạn và dài hạn, tức là dưới sự chỉ đạo của quan điểm phát triển khoa học, đitrên con đường phát triển công nghiệp hoá mới mang màu sắc Trung Quốc,thực hiện chiến lược phát triển năng lượng bền vững, ưu tiên tiết kiệm nănglượng, kết cấu đa nguyên, bảo vệ môi trường, khai thác cả thị trường trong
và ngoài nước, chủ yếu thông qua các biện pháp sau để thực hiện:
Một là, đặt tiết kiệm năng lượng lên vị trí ưu tiên hàng đầu, thực hiện chế
độ tiết kiệm năng lượng một cách toàn diện, nghiêm chỉnh, nâng cao rõrệt hiệu suất sử dụng năng lượng Tháng 5 năm 2005, để thực hiện mục tiêuQuy hoạch các hạng mục tiết kiệm năng lượng trung hạn và dài hạn, NDRC
đã đề xuất 10 công trình trọng điểm lớn về tiết kiệm năng lượng
Hai là, điều chỉnh và tối ưu hoá kết cấu năng lượng, kiên trì chiến lược lấy
than đá làm chủ thể, điện là trung tâm, phát triển toàn diện dầu khí và nănglượng mới Trung Quốc đang tăng cường khai thác tài nguyên than đá,thúc đẩy xây dựng các nhà máy điện và mạng lưới điện, tăng cường thăm dòkhai thác dầu khí, tích cực tìm kiếm nguồn năng lượng mới, nâng cao tỷtrọng của thuỷ điện, điện hạt nhân và điện bằng sức gió
Ba là, dựa vào khoa học kỹ thuật và sáng tạo, tìm kiếm con đường công
nghiệp hoá mới Chính phủ đang nhanh chóng xây dựng hệ thống hỗ trợ kỹthuật cho tài nguyên năng lượng, tập trung vốn và nhân lực nghiên cứu kỹthuật mới để khai thác năng lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng nănglượng, dựa vào khoa học kỹ thuật để tăng cường khả năng tiết kiệm nănglượng Căn cứ vào đặc điểm kết cấu năng lượng nhiều than ít dầu, TrungQuốc đang xây dựng thí điểm một số nhà máy than chuyển hoá thành khí,than chuyển hoá thành dầu ở khu vực Nội Mông, nhập khẩu kỹ thuật tiêntiến của nước ngoài, và xây công trình lớn than hoá lỏng trị giá 12 tỷ USD
Trang 40Bốn là, quy hoạch hợp lý việc phát triển năng lượng, tăng nhanh bước xây
dựng các công trình dự trữ dầu mỏ chiến lược Trung Quốc phân giaiđoạn xây dựng hệ thống dự trữ dầu mỏ chiến lược Năm 2003, 4 cơ sở dựtrữ dầu mỏ chiến lược ở Chấn Hải (Ninh Ba), Đại Sơn (Châu Sơn),Hoàng Đào (Thanh Đảo) và Tân Cảng (Đại Liên) đã bắt đầu khởi công xâydựng, cơ sở Chấn Hải triển khai tương đối nhanh, đến cuối năm 2005 đãhoàn thành công trình giai đoạn 1
Năm là, tăng cường bảo vệ môi trường Phát triển mạnh ngành bảo vệ
môi trường, xây dựng cơ chế đầu tư cho bảo vệ môi trường, đa nguyên hoá,
xã hội hoá, sử dụng biện pháp kinh tế thúc đẩy tiến trình thị trường hoá việc
xử lý ô nhiễm môi trường [1, tr.4]
Chính phủ Trung Quốc đã đề ra chính sách an ninh năng lượng mạnh mẽ
để đảm bảo nguồn cung cấp không bị gián đoạn, không ảnh hưởng tới tốc độphát triển kinh tế, không tạo ra tình trạng bất ổn xã hội Vì vậy, Chính phủTrung Quốc đang có những nỗ lực to lớn khi thực thi chính sách ngoại giaonăng lượng nhằm thu hút nguồn cung cấp dầu khí toàn cầu Chính sách ngoạigiao năng lượng của Trung Quốc được chia thành hai hướng:
Thứ nhất, Trung Quốc ưu tiên đảm bảo nguồn cung cấp của nước ngoài.
Chiến lược ở nước ngoài của Chính phủ Trung Quốc là giành quyền kiểmsoát trực tiếp sản lượng dầu khí ở các nước, nơi Trung Quốc đã đầu tưthăm dò, khai thác Chiến lược này nhằm vận chuyển dầu mỏ trực tiếp vềTrung Quốc, không qua thị trường dầu mỏ quốc tế nhằm giảm bớt rủi ro haohụt và biến động về giá
Thứ hai, Trung Quốc ưu tiên đảm bảo mạng lưới phân phối hợp lý và hiệu
quả thông qua việc phát triển các cảng và đường ống tại các nước TrungQuốc đã đầu tư thăm dò và khai thác Song vào thời điểm hiện tại, kế hoạchnày của