1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển chủ đề tết và mùa xuân cho trẻ 5 6 tuổi theo hướng tích hợp (2017)

95 268 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đó sẽ giúp cho giáo viên dễdàng đưa ra các biện pháp, các cách tổ chức hoạt động phù hợp với nhu cầu,khả năng của trẻ và điều kiện thực tế ở trường, dễ dàng bổ sung những điểmcòn yếu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

=== ===

VÕ THỊ VÂN

PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ “TẾT VÀ MÙA XUÂN”

CHO TRẺ 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG TÍCH HỢP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Môi trường xung quanh

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THỊ HƯƠNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cácthầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, và Quý thầy (cô) giáotrong Khoa Giáo dục Mầm non, đã hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt kiến thứccho em trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện khóaluận này

Đặc biệt, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - TS Nguyễn ThịHương đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá trìnhnghiên cứu và thực hiện đề tài

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy (cô) giáo, bạn bè và tất cảmọi người đã cùng cộng tác và giúp em hoàn thành khóa luận

Trong quá trình nghiên cứu, do thời gian có hạn và bước đầu làm quenvới phương pháp nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi những thiếu xót

em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý thầy (cô) để đề tài đượchoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 03 tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Võ Thị Vân

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong khoá luận này là củariêng tôi Đề tài của tôi chưa được công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác

Hà Nội, ngày 03 tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Võ Thị Vân

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 9

1 Lí do chọn đề tài 9

2 Mục đích nghiên cứu 11

3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 11

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

5 Phạm vi nghiên cứu 11

6 Giả thuyết khoa học 11

7 Phương pháp nghiên cứu 12

8 Câu trúc đề tài 13

NỘI DUNG 14

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ “TẾT VÀ MÙA XUÂN” CHO TRẺ 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG TÍCH HỢP 14

1.1 Khái niệm 14

1.1.1 Chương trình giáo dục 14

1.1.2.Khái niệm phát triển 16

1.1.3 Phát triển chương trình Giáo dục 16

1.1.4 Phát triển chủ đề 17

1.1.5 Sự phát triển chương trình Giáo dục mầm non 18

1.2 Các cách tiếp cận phát triển chủ đề 23

1.2.1 Tiếp cận nội dung 23

1.2.2 Tiếp cận mục tiêu 24

1.2.3 Tiếp cận hệ thống 24

1.2.4 Định hướng phát triển chủ đề 25

1.3 Một số vấn đề về tích hợp 25

1.3.1 Khái niệm 25

Trang 5

1.3.2 Dạy học tích hợp 27

1.3.3 Đặc trưng của dạy học theo hướng tích hợp 28

1.3.4 Vai trò của dạy học tích hợp trong dạy học mầm non 29

1.4 Đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn 30

1.4.1 Đặc điểm sinh lí 30

1.4.2 Đặc điểm tâm lí 31

1.4.3 Đặc điểm nhận thức 33

1.5 Dạy học chủ đề Tết và mùa xuân cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp ở mầm non 34

1.5.1 Nội dung, đặc điểm chủ đề “Tết và mùa xuân” 34

1.5.2 Phương pháp và hình thức dạy học tích hợp chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi 35

Kết luận chương 1 37

Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ “TẾT VÀ MÙA XUÂN” CHO TRẺ 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG TÍCH HỢP 38

2.1 Khảo sát việc tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong chủ đề “ Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp 38

2.1.1 Mục đích khảo sát thực trạng 38

2.1.2 Đối tượng khảo sát thực trạng 38

2.1.3 Nội dung khảo sát thực trạng 38

2.1.4 Phương pháp khảo sát thực trạng 39

2.1.5 Kết quả khảo sát thực trạng việc tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp 41

2.1.5.1 Thực trạng việc hướng dẫn tổ chức các hoạt động giáo dục trong chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi 41

Trang 6

2.1.5.2.Thực trạng việc phát triển chủ đề Tết và mùa xuân cho trẻ 5-6 tuổi ở

trường mầm non 43

2.2 Thực trạng việc phát triển chủ đề Tết và mùa xuân cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp 46

Kết luận chương 2 48

Chương 3: ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ “TẾT VÀ MÙA XUÂN” CHO TRẺ 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG TÍCH HỢP 49

3.1 Nguyên tắc đề xuất quy trình phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp 49

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính phát triển về nội dung và cách thức tiến hành chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp 49

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích, phù hợp với bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi 50

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp của nội dung trọng tâm và nội dung tích hợp trong chủ đề “Tết và mùa xuân” của trẻ 5-6 tuổi 51

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn khi phát triển chủ đề “ Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi 51

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hấp dẫn để trẻ phát huy tính tích cực, tự do, tự nguyện tham gia vào các hoạt động được phát triển trong chủ đề 52

3.2 Quy trình phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp 53

3.3 Ví dụ minh họa: 55

Kết luận chương 3 60

KẾT LUẬN 61

1 Lí luận 61

2 Thực tiễn 61

3 Đóng góp 62

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64PHỤ LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

GV: Giáo viên

NXB: Nhà xuất bản

Trang 9

1 Lí do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trang 10

Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa, là độnglực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết cácquốc gia khác trên thế giới, các chính phủ đều coi giáo dục là quốc sách hàngđầu Việt Nam cũng là một trong những quốc gia rất coi trọng sự phát triểncủa nền giáo dục, đã và đang củng cố xây dựng nền giáo dục thực sự vữngmạnh và có chất lượng Vì vậy mà trong suốt những năm qua Đảng và nhànước đã luôn quan tâm và tập trung đầu tư rất nhiều cho nền giáo dục ViệtNam.

Sau khi chỉ ra hàng loạt những khó khăn, yếu kém cũng như thế mạnhcủa nền giáo dục Việt Nam, Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục, đào tạo chỉ rõ mục tiêu cụ thể đối với từng cấp học

Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết,thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻbước vào lớp một Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi và nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo

Ở trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ 5- 6 tuổi, đây là giai đoạn mà sự pháttriển của các chức năng dần đi vào hoàn thiện, trẻ được khám phá làm quentiếp xúc nhiều với thế giới xung quanh qua gia đình và nhà trường, qua nhữnghiểu biết mà trẻ được tự mình trải nghiệm Đây cũng là giai đoạn quan trọngtạo tiền đề cho trẻ bước vào lớp một Vì vậy, ngay trong chính bản thân trẻcũng luôn có nhu cầu học tập được đổi mới và nâng cao Trẻ thích được khámphá, mở rộng theo nhiều hướng đi khác nhau

Bởi vậy, việc phát triển chương trình cũng là một khâu rất quan trọngtrong quá trình đổi mới, phát triển dựa trên cơ sở của chương trình đã có để cóthể tạo ra một chương trình mới tốt hơn phù hợp với nhận thức và sở thích

Trang 11

của trẻ đã có Việc phát triển chủ đề theo hướng tích hợp nói riêng cho trẻ 5-6tuổi là cần thiết và tất yếu Nó không chỉ dừng lại ở một khía cạnh hay ở mộtlĩnh vực của trẻ mà còn có sự kết hợp, đan xen của các lĩnh vực phát triển tácđộng đồng bộ đến các mặt phát triển của trẻ Qua đó sẽ giúp cho giáo viên dễdàng đưa ra các biện pháp, các cách tổ chức hoạt động phù hợp với nhu cầu,khả năng của trẻ và điều kiện thực tế ở trường, dễ dàng bổ sung những điểmcòn yếu và bồi dưỡng các mặt phát triển của trẻ, không quá gò bó với bất kìmột nội dung chương trình nào.

Trong chương trình giáo dục cho trẻ 5-6 tuổi không thể không nhắc đếnchủ đề “Tết và mùa xuân” _ một chủ đề gần gũi và hấp dẫn đối với trẻ, cungcấp cho trẻ những kiến thức bổ ích về thế giới xung quanh Thông qua chủ đềnày, trẻ có cơ hội trải nghiệm thực tế nhiều hơn và có thể tự mình khám phánhững sự vật, sự việc diễn ra xung quanh trẻ

Tuy nhiên, qua quá trình khảo sát tại các trường mầm non khi cho trẻkhám phá chủ đề “Tết và mùa xuân”, đa số giáo viên còn dựa nhiều vào bộsách Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non Các hoạt độngtrong chủ đề Tết và mùa xuân còn hạn chế, ít đổi mới, rất ít giáo viên sáng tạotrong việc hướng dẫn và giảng dạy mà thường dập khuôn theo cách soạn cũ,ngại đổi mới các hoạt động khiến cho các hoạt động trở nên nhàm chán,không có được sự hứng thú của trẻ…

Là một giáo viên mầm non trong tương lai, là người sẽ trực tiếp chămsóc và giáo dục trẻ, tôi rất quan tâm đến việc phát triển chương trình Giáo dụccho trẻ mầm non, đặc biệt là phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6tuổi nhằm có những biện pháp giúp giáo viên có thể tổ chức các hoạt độngcho trẻ học tập và vui chơi có hiệu quả

Với những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Phát triển chủ đề Tết và mùa xuân cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp”

Trang 12

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất quy trình phát triển chủ đề “Tết

và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp

3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Việc phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi theo hướngtích hợp

3.2 Khách thể nghiên cứu

Qúa trình giáo dục mầm non

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho

trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp

- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của việc phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân”

cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp

- Đề xuất quy trình phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi

- Trường mầm non Xuân Hoà

- Trường mầm non Hoa Hồng

- Trường mầm non Hùng Vương

6 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được quy trình phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ

Trang 13

5-6 tuổi theo hướng tích hợp được triển khai một cách đồng bộ và rộng rãi sẽgiúp đỡ hỗ trợ các giáo viên mầm non trong việc xây dựng và tổ chức các hoạtđộng dễ dàng và hiệu quả hơn Bên cạnh đó vận dụng linh hoạt, sáng tạo đề tàigóp phần tăng hứng thú cho trẻ khi đến lớp, hiệu quả của quá trình giáo dục sẽnâng cao.

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu tài liệu về chương trình giáo dục mầm non, về phát triểnchương trình giáo dục/ Phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổitheo hướng tích hợp

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Quan sát cách tổ chức hoạt động và một số giáo án của GV mầm non chotrẻ 5-6 tuổi theo chủ đề

Khảo sát thực trạng phát triển chủ đề Tết và mùa xuân cho trẻ 5-6 tuổi củacác giáo viên mầm non trong 3 trường mầm non trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu

Trong quá trình khảo sát tại các trường mầm non, người nghiêncứu đã gửi các phiếu hỏi cho GV Sau khi thu lại các phiếu, tôi tiếnhành thống kê các câu trả lời của GV và tính toán, xử lí số liệu vàobảng

- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

Thông qua các phiếu hỏi, các phiếu điều tra và các tài liệu liên quan đếnphát triển chương trình, tôi đã tiến hành phân tích để đánh giá thực trạngdạy học và phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi theo hướngtích hợp Qua đó rút ra những mặt tích cực và các mặt hạn chế để từ đó có cáinhìn tổng quát về thực trạng thiết kế và phát triển chủ đề “tết và mùa xuân”cho trẻ 5-

6 tuổi tại các trường mầm non và xác định hướng phát triển cho chủ

đề

Trang 14

- Phương pháp đánh giá

Trong quá trình nghiên cứu, người nghiên cứu đã tìm hiểu về nội dungchủ đề theo chương trình hiện hành , giáo án tổ chức các hoạt động trongchủ đề và quá trình tổ chức các hoạt động thông qua các tiết dạy để từ đóxem xét chủ đề “Tết và mùa xuân” có mang lại kết quả không? Trẻ cóhứng thú không?… để từ đó xác định vấn đề cần giải quyết khi phát triểnchủ đề này

8 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính củakhóa luận bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lí luận của việc phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân”

cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc phát triển chủ đề “Tết và mùa

xuân” cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp

Chương 3: Đề xuất quy trình phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho

trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ “TẾT VÀ MÙA

XUÂN” CHO TRẺ 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG TÍCH HỢP

1.1 Khái niệm

1.1.1 Chương trình giáo dục

Thuật ngữ Curriculum trong tiếng Anh đã được nhiều dịch giả, nhà khoahọc, nhà giáo dục học chuyển sang tiếng Việt là chương trình giáo dục,chương trình dạy học, chương trình học,…hay đơn thuần chỉ là chương trình.Khi nhắc đến khái niệm chương trình giáo dục đã có rất nhiều quan điểmkhác nhau Theo thời gian và các cách tiếp cận khác nhau mà khái niệm đượchiểu ngày một mở rộng và phù hợp Khái niệm được nhấn mạnh và mở rộnghơn với những giá trị mà người học có thể đạt được “Chương trình học củanhà trường là nội dung dạy học và các hoạt động chính thức và không chínhthức; quá trình triển khai nội dung hoạt động, thông qua đó người học thunhận được kiến thức và sự hiểu biết, phát triển kĩ năng, thái độ, tình cảm vàcác giá trị đạo đức dưới sự tổ chức của nhà trường.”(Ronal C Doll,1996).Hoặc khi đứng dưới góc độ là người quản lí, người thiết kế các hoạt động thìcác các quan điểm lại hướng đến mục tiêu, nội dung và cách tổ chức NhưTimWentling (1993) cho rằng: “Chương trình là bản thiết kế tổng thể cho mộthoạt động đào tạo Hoạt động đó có thể chỉ là một khóa học trong thời gianvài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm Bản thiết kế tổng thể đó cho ta biếtnội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể kì vọng ở người học sau khi kếtthúc khóa học, nó phác họa quy trình thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho

ta biết các phương thức đào tạo và cách thức kiểm tra _ đánh giá kết quả họctập, và toàn bộ các vấn đề của bản thiết kế này được sắp xếp theo một thờigian biểu chặt chẽ.”

Trang 16

Theo Nguyễn Hữu Chí, Viện KHGD 2002: chương trình giáo dục là sự trìnhbày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong mộtthời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người họccần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập,các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập, cách đánh giá kếtquả học tập,… nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra (Nguyễn Hữu Chí,Viện KHGD 2002).

Có rất nhiều quan điểm nói về chương trình giáo dục Ở mỗi góc độ ta lạitìm được những cách hiểu khác nhau về chương trình giáo dục Nhưng điềuchúng ta quan tâm không phải là tìm xem định nghĩa nào là đúng nhất mà ởmỗi quan điểm là cách nhìn nhận đánh giá về chương trình giáo dục của cáctác giả

Theo T.S Trần Hữu Hoan: “Chương trình giáo dục là bản thiết kế tổngthể được trình bày một cách có hệ thống cho một hoạt động giáo dục, đàotạo của một khóa học trong một khoảng thời gian xác định, và thể hiện ở 4yếu tố sau: 1) Mục tiêu đào tạo thể hiện rõ kết quả đào tạo; 2) Nội dung cầnđào tạo và thời lượng của chương trình, môn học; 3) Quy trình và các phươngpháp triển khai thực hiện nội dung đào tạo đã được quy định trong chươngtrình để đạt được mục tiêu đào tạo; 4) Phương thức kiểm tra đánh giá kếtquả đào tạo, ngoài ra còn cần có hướng dẫn thực hiện chương trình.”[14;tr8]

Là một người đang tìm hiểu và nghiên cứu về chương trình giáo dục, tôinhận thấy rằng ở mỗi một quan điểm lại đề cập đến những góc độ khácnhau Tôi đồng ý với quan điểm của T.S Trần Hữu Hoan Quan điểm nàykhá rõ ràng và chặt chẽ Tuy nhiên để hiểu cách ngắn gọn hơn tôi xin đưa

ra quan

Trang 17

điểm: “Chương trình giáo dục là việc tổ chức một cách trình tự các hoạt

động học tập, với mục đích, nội dung, phương thức, xác định, định hướng kết quả học tập nhằm đạt đến mục tiêu của giáo dục nhà trường.”

Trang 18

1.1.2.Khái niệm phát triển.

Phát triển là một khái niệm rộng bao hàm mọi mặt của đời sốngđược nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu Ở mỗi lĩnh vực nghiên cứu và mỗi góc

độ nghiên cứu khác khau người ta có những quan niệm khác nhau về sựphát triển

Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là

sự tăng giảm thuần tuý về lượng, không hề có sự thay đổi về chất của sựvật; đồng thời, nó cũng xem sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục, khôngtrải qua những bước quanh co, phức tạp

Đối lập với quan điểm siêu hình, trong phép biện chứng khái niệm pháttriển dùng để chỉ quá trình vận động theo khuynh hướng đi từ thấp đến cao

từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Như vậy, khái niệm phát triểnkhông đồng nhất với khái niệm vận động nói chung: đó không phải là sựbiến đổi tang lên hay giảm đi đơn thuần về lượng hay sự biến đổi tuần hoànlặp đi lặp lại ở chất cũ mà là sự biến đổi về chất theo hướng hoàn thiện của

sự vật

Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quanvốn có của sự vật; là quá trình thống nhất giữ phủ định những nhân tố tiêucực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mớicủa sự vật

Theo quan điểm của cá nhân tôi cho rằng: “Phát triển là sự tăng lên lớnthêm cả về số lượng và chất lượng của sự vật hiện tượng” Phát triển làquá trình diễn ra liên tục, xảy ra với tất cả các sự vật hiện tượng từ hữuhình đến vô hình Chủ đề giáo dục cũng không nằm ngoài sự tác động củaquá trình ấy theo thời gian , số lượng, chủ đề giáo dục, số lượng các chủ

đề nhánh trong mỗi chủ đề hay cách thức tổ chức các hoạt động trong suốtchủ đề trong chương trình giáo dục mầm non sẽ thay đổi

Trang 19

1.1.3 Phát triển chương trình Giáo dục

Theo tác giả Hách Đức Vĩnh trong phương pháp luận phát triển chương

Trang 20

trình NXB khoa học giáo dục Kinh Bắc, thuật ngữ phát triển chương trình_Curriculum development chỉ hoạt động lựa chọn, tổ chức, điều chỉnh nhằmlàm cho học sinh thu được kinh nghiệm mang tính giáo dục, thúc đẩy sự pháttriển thể chất và tinh thần của học sinh và khiến cho các kinh nghiệm đóđược quy phạm hoá [6]

Qua quá trình nghiên cứu, viện nghiên khoa học Giáo dục Việt Namcũng thông qua định nghĩa : “Phát triển chương trình nhà trường là quátrình cụ thể hóa làm chương trình chung quốc gia phù hợp với thực tiễn củađịa phương trên cơ sở đảm bảo yêu cầu chung của chương trình quốc gia;Lựa chọn xây dựng nội dung và xác định cách thức thực hiện, phản ánh đặctrưng và phù hợp với thực tiễn nhà trường nhằm đáp ứng yêu cầu pháttriển của

người học, thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục”[5]

Tóm lại, phát triển chương trình là những việc làm thực tiễn nhằm thay

đổi kế hoạch giáo dục hướng đến cải thiện chất lượng giáo dục Những việc

làm thực tiễn này được chính GV chủ động và thực hiện dựa trên nhu cầucủa trẻ mẫu giáo lớn, “Lấy trẻ làm trung tâm” và điều kiện thực tế tại cơ

sở, tại địa phương Những chương trình phù hợp, sáng tạo, không gò bó, mới

mẻ, đa dạng và phong phú giúp cho trẻ mầm non không nhàm chán nhưngđược phát triển cách toàn diện hơn cả về kiến thức cũng như các kĩ năng cầnthiết trong cuộc sống

1.1.4 Phát triển chủ đề

Chủ đề (Themel topic) là nội dung hoặc phần kiến thức mà trẻ có thể tìm

hiểu, khám phá theo nhiều cách khác nhau dưới sự tổ chức và hướng dẫn củagiáo viên, diễn ra trong một khoảng thời gian thích hợp, thường là 1- 2 tuần.[13;tr27]

Một chủ đề lớn có thể bao gồm một số chủ đề nhánh Phạm vi kiến thức

Trang 21

và hoạt động của chủ đề được mở ra rất linh hoạt, không bị khép kín (Từ kiến

Trang 22

thức cốt lõi sẽ mở rộng ra cho phép trẻ tìm hiểu và lĩnh hội tùy theo trình độphát triển của độ tuổi và của cá thể trẻ Kiến thức trong một chủ đề thườngmang tính tích hợp, hay nói cách khác, để có được sự hiểu biết đầy đủ về mộtchủ đề nào đó người dạy và người học phải vận dụng tri thức từ các ngànhkhoa học.

Phát triển chủ đề là việc thiết kế, tổ chức các hoạt động giáo dục sao cho

phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của trẻ nhằm nâng cao chất lượng giáodục

1.1.5 Sự phát triển chương trình Giáo dục mầm non

“Chương trình giáo dục mầm non thể hiện mục tiêu giáo dục mầmnon; cụ thể hóa các yêu cầu về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở từng

độ tuổi; quy định việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ emphát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; hướng dẫn cách thức đánhgiá sự phát triển của trẻ em ở tuổi mầm non.”[4; Điều 24]

Trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước và xu thếchung của nền giáo dục trên toàn thế giới, Giáo dục mầm non cũng cótừng bước phát triển và đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung, phương pháp vàhình thức tổ chức

Từ khi hình thành và phát triển, ngành Giáo dục mầm non đã thực hiện

4 loại chương trình:

1) Chương trình cải tiến (1980) Nội dung chương trình được cấu trúctheo 2 phương thức là giáo dục và giáo dưỡng Tuy nhiên chương trìnhđược thực hiện cách cứng nhắc, mang tính áp đặt, và đồ dùng phươngtiện

còn hạn chế…

2) Chương trình cải cách ra đời năm 1986, ra đời sau 6 năm nên chươngtrình cải cách đã khắc phục được những nhược điểm của chương trình

Trang 23

cải tiến Các tiết học trở nên “mềm hóa” hơn và các hoạt động học, lao động,

lễ hội phong phú hơn Tuy nhiên, sự hướng dẫn gợi ý chi tiết đã khiến chocách

Trang 24

tổ chức các hoạt động được áp dụng đồng loạt trong cả nước mà chưa tínhđến

điều kiện thực tiễn của từng địa phương Giáo viên còn thiếu sự chủđộng, sáng tạo, ngại phát triển chương trình Các tiết học còn bị phụ thuộcvào tài liệu hướng dẫn khiến cho trẻ lĩnh hội kiến thức bằng ghi nhớ mà chưa

có sự trải nghiệm, khám phá

3) Chương trình đổi mới hình thức Giáo dục mầm non (1998)

Đây là chương trình được coi là bước đệm cho sự phát triển chương trìnhhiện hành Chương trình đổi mới ra đời với sự tích hợp các chủ điểm và tậptrung phát triển 5 lĩnh vực cho trẻ (Phát triển thể chất, phát triển nhận thức,phát triển ngôn ngữ, phát triển thẩm mĩ, phát triển tình cảm xã hội) Cáchoạt động, kế hoạch chăm sóc trẻ cũng được thực hiện cách khoa học hơn.Chế độ sinh hoạt của trẻ không cứng nhắc, có thể thay đổi theo mùa và từngvùng miền Môi trường giáo dục trong nhà trường và trong lớp học được

mở rộng và đổi mới giúp trẻ hứng thú hơn khi đến trường Tuy nhiên nhậnthức của giáo viên về tích hợp còn chưa rõ nên giáo viên còn ôm đồm quánhiều kiến thức trong tiết học và thậm chí còn không làm nổi bật nội dungtrọng tâm của bài học, khiến trẻ căng thẳng và nhàm chán Một bộ phậngiáo viên còn trì chệ, ngại đổi mới…

4) Chương trình giáo dục mầm non mới

Chương trình giáo dục mầm non mới được Bộ giáo dục ban hành tháng

7 năm 2009

Chương trình có độ mở, cho phép giáo viên chủ động, linh hoạttrong việc lựa chọn nội dung phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ và điềukiện thực tiễn của địa phương

Nội dung được triển khai phù hợp với từng trường, từng vùng miền.Khi thực hiện chương trình này, trẻ có cơ hội tham gia các hoạt động trảinghiệm đa dạng hơn Trẻ hứng thú khám phá, tích cực, chủ động, sáng tạo

Trang 25

Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận những hạn chế của chươngtrình mới này là sự phát triển các chủ đề vẫn chưa khai thác hết tiềm năngcủa trẻ Vì giáo viên chưa chủ động nên một bộ phận không nhỏ giáo viên còndập khuôn kế hoạch từ năm này đến năm khác Giáo viên còn phụ thuộc vàochương trình kế hoạch của nhà trường mà chưa thực hiện “Lấy trẻ làmtrung tâm”, chưa mạnh dạn phát triển chương trình theo nhu cầu của trẻ.

* Cơ sở khoa học của phát triển chương trình

Cơ sở triết học

Cơ sở triết học được cho là kiến thức trọng tâm cho việc thiết kế xâydựng chương trình giáo dục hay phát triển chủ đề vì cơ sở triết học phản ánhý

tưởng, trường phái riêng của các nhà thiết kế chương trình giáo dục, vàảnh

hưởng trực tiếp đến mục đích, mục tiêu cụ thể và nội dung cũng nhưcách thức tổ chức các hoạt động của chương trình giáo dục Nghiên cứu cơ sở

lý luận triết học không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn mục đích chung của nhàtrường và chương trình giáo dục hay chủ đề mà trường đang triển khai, mà nócòn giúp chúng ta nhận ra được mối quan hệ giữa các cá nhân và thếgiới xung quanh

Trong việc phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi, cơ sở líluận cung cấp cho nhà giáo dục đặc biệt là các nhà thiết kế chương trình giáodục hệ thống các nguyên lí cũng như tư tưởng trong quá trình giáo dục, đồngthời giúp họ xác định rõ giá trị nội dung của chủ đề, trẻ tiếp nhận nộidung này như thế nào? Và phương pháp dạy học ra sao? nhằm triển khai nộidung chủ đề một cách hiệu quả nhất

Cơ sở triết học còn cung cấp cho họ hệ thống các chính sách, nhiệm vụcần thực hiện như xác định mục đích giáo dục, nội dung chương trình giáodục, phương pháp triển khai nội dung chương trình, cũng như quá trình dạy

Trang 26

học Cơ sở triết học còn là cơ sở nền tảng cho chúng ta thực hiện cácnhiệm

Trang 27

vụ cụ thể trong hoạt động của nhà trường, trong việc đưa ra các quyết định

cụ thể, ví dụ như: Sự chuẩn bị của giáo viên, sự chuẩn bị của trẻ, cách thứctiến hành nội dung dạy học v.v… Thomas Hopkins đã khẳng định ý nghĩaquan trọng của cơ sở triết học trong việc xác định và đưa ra những quyếtđịnh trong quá trình xây dựng chương trình/ phát triển chủ đề: “Cơ sở triếthọc đã đi sâu vào từng quyết định quan trọng trong việc xây dựng chươngtrình giáo dục và giảng dạy trong nhà trường và sẽ mãi mãi là cơ sở vữngchắc cho các quyết định được đưa ra trong khi xây dựng chương trình giáodục, v.v… hầu như tất cả các thành tố của chương trình đều dựa trên cơ sởtriết học”

Như vậy, cơ sở triết học cho thấy tầm quan trọng của việc phát triểnchương trình Giáo dục đối với việc cải thiện chất lượng giáo dục, cập nhật vớinhu cầu xã hội Phát triển chương trình giáo dục là điều kiện quan trọng đểnâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của xã hội, củađất nước trong thời buổi công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thích nghi với xuhướng phát triển chung trên toàn thế

giới

Cơ sở tâm lí

Yếu tố tâm lí học có ý nghĩa và vai trò to lớn trong cuộc sống của mỗicon người nói chung đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục Cơ sở tâm lí học là cơ

sở quan trọng cho người thiết kế phát triển chủ đề

Tâm lí học hoạt động - một trường phái tâm lí học hiện đại, xác địnhvai trò to lớn của hoạt động trong việc hình thành và phát triển tâm lí, ýthức, phát triển tư duy, kĩ năng, kĩ xảo…của cá nhân Hoạt động từ chỗ đượchiểu là môi trường biểu hiện tâm lí người đã trở thành nguồn gốc, phươngthức, phương tiện phát triển tâm lí người Căn cứ vào đó, việc phát triển chủ

đề đặc biệt là chủ đề “Tết và mùa xuân” phải đảm bảo cho trẻ đượchoạt động

Trang 28

thường xuyên, có cơ hội thể hiện tính chủ động, năng động, tích cực vàsáng

tạo

Trang 29

Như vậy, phát triển chủ đề cần phải đảm bảo phần thực hành phù hợpvới nhu cầu người học tránh lí thuyết, kiến thức quá nặng đối với trẻ Theoquan điểm của tâm lí học hiện đại, việc tiếp thu, lĩnh hội kiến thức cần phảidựa trên nền của những cái đã có Các hoạt động tổ chức tích hợp đa dạng

và phong phú, tránh tình trạng nhồi nhét khiến trẻ nhàm chán và mệt mỏi.Cùng với đó các hoạt động tổ chức với thời gian phù hợp với sự hứngthú của trẻ Trẻ được rèn luyện kĩ năng, ôn luyện thường xuyên và tổ chứctheo hình thức “Học mà chơi, chơi mà học”

Trong việc phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi, ngườinghiên cứu cần dựa vào đặc điểm tâm lí của trẻ, những thắc mắc theo lứatuổi của trẻ Tuy nhiên cũng tránh lạm dụng việc phát triển để nhồi nhét vàotrẻ những kiến thức cao siêu, dung lượng lớn khiến trẻ căng thẳng và chấtlượng giáo dục không cao

Dựa trên cơ sở tâm lý học hiện đại, việc xây dựng chương trình học theoquan điểm lấy người học làm trung tâm cần phải đảm bảo một số yêu cầusau:

- Đảm bảo khối lượng kiến thức, phù hợp với yêu cầu người học và xãhội, nội dung học phải được sắp xếp theo hệ thống, đảm bảo tính lôgic

- Việc rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo phải dựa trên nguyên tắc thực hành hợp

lý và đảm bảo tính hoạt động của người học

- Phát huy được tính tích cực, chủ động của người học, duy trì đượcđộng lực học tập của người học

Trẻ mầm non luôn có những đặc điểm khác biệt so với các giai đoạntrung học phổ thông Các đặc điểm tâm lí được bắt đầu hình thànhnhưng cũng được phát triển cách nhanh chóng và mạnh mẽ Cơ sở tâm lí học

đã một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của việc phát triển chươngtrình Giáo dục Nó không chỉ phù hợp với nhu cầu của xã hội nữa nhưng đáp

Trang 30

ứng ngay trong chính bản thân trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển tiềmnăng một cách

Trang 31

tối đa và tác động tích cực tới sự phát triển sau này của trẻ.

Cơ sở lí luận dạy học hiện đại

Xây dựng và phát triển chương trình đào tạo là một nội dungquan trọng thuộc phạm trù lý luận về nội dung dạy học Dựa trên quan điểmcủa lí luận dạy học hiện đại, việc phát triển chủ đề đảm bảo các yêu cầu sau:

- Đảm bảo chuẩn kiến thức bậc học, chuẩn kiến thức kĩ năng , và chuẩnkiến thức môn học

- Đảm bảo tính cập nhật, hiện đại về nội dung chương trình

- Đảm bảo các nguyên tắc, quy luật của quá trình dạy học

Đây là cơ sở quan trọng giúp cho GV, người thiết kế xây dựng chươngtrình mạnh dạn phát triển chương trình, phát triển chủ đề Sở dĩ vậy vì cơ sở

lí luận dạy học hiện đại đã cho thấy việc phát triển chương trình Giáodục không đi một cách chung chung hay xa vời mà phát triển chương trìnhGiáo dục lấy sự phát triển của trẻ và các điều kiện thực tế làm nền tảngđồng thời áp dụng những phương pháp tiên tiến trên thế giới giúp cho chấtlượng giáo dục mang bản sắc của văn hóa truyền thống, văn hóa dân tộcnhưng luôn cập nhật và mới mẻ

1.2 Các cách tiếp cận phát triển chủ đề

1.2.1 Tiếp cận nội dung

Với quan niệm giáo dục là quá trình truyền thụ nội dung - kiến thức,phát triển chủ đề giáo dục chú trọng hình thành hệ thống nội dung đào tạo

và việc trang bị cho người học hệ thống tri thức, kỹ năng cơ bản Cách tiếpcận này tạo điều kiện hình thành ở người học hệ thống các tri thức khoa họcđầy đủ song dễ gây hiện tượng dạy học thụ động, quá tải, nặng về ghi nhớ ,nhồi nhét nội dung trong một thời gian đào tạo hạn chế, không phù hợp với

sự phát triển nhanh chóng về khoa học và công nghệ hiện nay

Vậy tiếp cận nội dung trong phát triển chương trình của chủ đề nghĩa là

Trang 32

làm cho nội dung dạy học không mất đi những kiến thức căn bản đòi hỏi

ở mỗi giai đoạn, phù hợp với quá trình phát triển của trẻ 5 tuổi nhưng đượcđổi mới về cách thức truyền tải, làm phong phú mới mẻ, hấp dẫn ở các hoạtđộng, trẻ được tự trải nghiệm, tự khám phá nhiều hơn chứ không thụ độngtiếp thu kiến thức Nội dung trong phát triển chương trình của chủ đề đảmbảo quy luật phát triển từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp

1.2.2 Tiếp cận mục tiêu

Phát triển chủ đề giáo dục được thiết kế dựa trên mục tiêu đào tạo chotrẻ mẫu giáo nói chung Chủ đề được xây dựng và phát triển thể hiện mụctiêu, mạng nội dung và hoạt động cũng như đánh giá quá trình hoạt động củatrẻ Ưu điểm cơ bản của cách tiếp cận này là tạo sự tường minh và quy trìnhchặt chẽ, quy chuẩn của cả quá trình đào tạo, dễ kiểm tra, đánh giá nhưngcũng có nhược điểm là tạo ra sự cứng nhắc, khuôn mẫu, đồng nhất trong quátrình đào tạo chưa quan tâm đến tính đa dạng và nhiều khác biệt của cácnhân tố trong quá trình đào tạo như người học, môi trưòng văn hoá-xãhội v.v

Như vậy, tiếp cận mục tiêu trong phát triển chương trình của chủ đề cónghĩa là chủ đề được phát triển đảm bảo các yêu cầu mà trẻ MGL cần đạtđược, các mục tiêu được thể hiện cách cụ thể và rõ ràng nhưng không máymóc dập khuôn mà phải phù hợp với điều kiện thực tế của trẻ, của GV và củađịa phương

1.2.3 Tiếp cận hệ thống

Phát triển chủ đề là một bản thiết kế tổng thể gồm các khâu lựa chọnchủ đề, xác định mục tiêu, nội dung và cách thức tổ chức hoạt động Cáckhâu này tuân theo một hệ thống có sự gắn kết logic chặt chẽ và tác độngqua lại với nhau Tiếp cận hệ thống giúp cho giáo viên xác đinh rõ ràng cáchthức cũng như tiến trình thực hiện các hoạt động

Trang 33

Như vậy, chương trình phát triển của chủ đề cần được thiết kế một cách

Trang 34

khoa học, có hệ thống rõ ràng, mạch lạc, có sự liên kết logic và sự nâng caodần về kiến thức nhằm giúp cho GV dễ dàng nắm bắt được nội dung và triểnkhai thực hiện đạt kết quả cao nhất.

1.2.4 Định hướng phát triển chủ đề

- Phát triển chủ đề cần xuất phát từ thực tế chăm sóc và giáo dục trẻ.Cần phân tích các đặc điểm tâm sinh lí cũng như khả năng nhận thức củatrẻ về chủ đề Thường xuyên gần gũi, giao tiếp với trẻ đề biết nhu cầu vàmong muốn của trẻ

- Xây dựng nội dung chủ đề dựa trên mục tiêu chung và chuẩn kiến thứcdành cho trẻ mẫu giáo Các nội dung phát triển không chỉ bao hàm mụctiêu mà còn phản ánh cả các khía cạnh nội dung, phương pháp, phương tiện,hình thức tổ chức học tập, kiểm tra đánh giá v.v

- Phát triển các chủ đề mở, tạo điều kiện thường xuyên cập nhật trithức, kỹ năng mới và khuyến khích sự sáng tạo của giáo viên.Thực hiện đánhgiá thường xuyên và kiểm định đánh giá theo các chuyên đề

- Chú trọng yêu cầu phát triển năng lực giảng dạy, giảm bớt các tri thứchàn lâm, tăng cường năng lực hành động và thích ứng nhanh với nhữngđổi mới trong Giáo dục mầm non

1.3 Một số vấn đề về tích hợp

1.3.1 Khái niệm

Tích hợp là xu thế dạy học hiện đại đã và đang được quan tâm, nghiêncứu và áp dụng vào nhiều nhà trường trong nước và trên thế giới Quan điểmdạy học tích hợp là một định hướng trong đổi mới căn bản và toàn diện giáodục, là một bước chuyển từ cách tiếp cận nội dung giáo dục sang tiếpcận năng lực nhằm đào tạo con người có tri thức mới, năng động, sáng tạokhi giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống

Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latin

Trang 35

(integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể” Có nghĩa là sự phối hợp

các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống đểbảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy

Theo ThS Đào Thị Hồng, VNCSP, Trường ĐHSP Hà Nội “Tích hợp(Intergrate) có nghĩa là kết hợp những bộ phận với nhau trong một tổng thể.Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng thích hợp vớinhau”[10] Theo cách hiểu này, tích hợp là việc gắn kết các bộ phận trongmột đối tượng lại với nhau nhưng việc gắn kết các bộ phận đó ở mức nào thìđịnh nghĩa lại chưa chỉ ra được Và liệu giữa các bộ phận của đối tượng khácnhau có thể gắn kết với nhau được hay không?

Trong từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), tích hợp là lắp ráp, nốikết các thành phần của một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệthống toàn bộ [8;tr981] Như vậy, tích hợp không chỉ dừng lại ở việc gắn kếtcác phần trong một tổng thể mà còn tạo nên một chỉnh thể toàn vẹn Tuynhiên, quan điển này còn chung chung, chưa chỉ ra được mối quan hệ của cácthành phần sẽ lắp ráp và kết nối

Theo quan niệm về giáo dục tích hợp, TS Phạm Mai Chi cho rằng:

“Tích hợp không chỉ là đặt cạnh nhau, liên kết với nhau, mà là sự xâm nhập,đan xen các đối tượng hay các bộ phận của một đối tượng vào nhau, tạothành một chỉnh thể” [13;tr13] Trong đó không những các giá trị của từng bộphận được bảo tồn và phát triển, mà đặc biệt là ý nghĩa thực tiễn của toàn bộcái chỉnh thể đó được nhân lên Quan điểm này chỉ ra, tích hợp không chỉ làmột phép cộng đơn thuần là đặt cạnh nhau nhưng là sự “đan xen, xâm nhập”của các đối tượng hay các bộ phận để tạo nên một chỉnh thể toàn vẹn Sựđan xen, kết hợp ấy không làm giảm đi giá trị của các bộ phận mà gópphần làm cho giá trị của toàn bộ chỉnh thể được nhân lên

Như vậy, ta có thể rút ra được, tích hợp là sự kết hợp, liên kết và đan sen

Trang 36

giữa các thành phần, bộ phận để tạo nên một chỉnh thể toàn vẹn thống nhất góp phần làm cho giá trị của tổng thể được nhân lên.

Tích hợp trong chương trình giáo dục mầm non là thiết kế các nội dung

và tổ chức các hoạt động thành một thể thống nhất, có ý nghĩa cho trẻ thamgia để trẻ phối hợp áp dụng và phát triển các kinh nghiệm từ các lĩnh vựckhác nhau, thông qua việc trẻ tham gia tích cực và trực tiếp một cách tựnhiên

1.3.2 Dạy học tích hợp

Như chúng ta đã biết, dạy học Tích hợp không còn là chủ đề mới ở Việt

Trang 37

PGS.TS Đào Thị Oanh - Viện NCSP - Trường Đại học sư phạm Hà Nộinhận định: “Dạy học tích hợp là một quan niệm hình thành ở học sinh nhữngnăng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn Điều đó cũng có nghĩa

là bảo đảm để mỗi học sinh biết cách vận dụng kiến thức học được trong nhàtrường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ, qua đó trở thànhmột

người công dân có trách nhiệm, một người lao động có năng lực Dạy học tíchhợp đòi hỏi việc học tập trong nhà trường phải được gắn với các tìnhhuống của cuộc sống mà sau này học sinh có thể đối mặt” [11] Như vậy, ta

có thể thấy được PGS.TS Đào Thị Oanh đã đưa ra kết luận cho việc dạy họctích hợp nhằm hình thành cho trẻ những năng lực giải quyết các tình huốngdiễn ra trong thực tiễn Điều này cũng đồng nghĩa với việc phát triển toàndiện cho trẻ vì chỉ có phát triển toàn diện ở các lĩnh vực trẻ mới có thể giảiquyết được các tình huống đa dạng trong cuộc sống

“Dạy học tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu,giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc tài liệu, khác nhau trong cùngmột kế hoạch dạy học.”[11]

Dạy học tích hợp thực chất là kết hợp dạy học lí thuyết và thực hànhtrong cùng một không gian và thời gian nhằm giúp trẻ thông minh, vậndụng

Trang 38

một cách sáng tạo kiến thức, kĩ năng mà trẻ được tìm hiểu nhằm giải quyếtcác tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại.

1.3.3 Đặc trưng của dạy học theo hướng tích hợp

- Dạy học lấy người học làm trung tâm : Đây là phương pháp đáp ứngyêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục, nhất là đối với giáo dục mầm non, cáchoat động chăm sóc, giáo dục trẻ đều hướng đến việc “lấy trẻ làm trungtâm” Trẻ là chủ thể trong các hoạt động Trẻ được chủ động tham gia vàocác hoạt động và tích cực tự mình trải nghiệm Với vốn kinh nghiêm sẵn có,đòi hỏi trẻ phải tham gia vào các tình huống trong thực tiễn Dạy học tíchhợp biểu hiện cách tiếp cận lấy người học là trung tâm, đây là xu hướngchung có nhiều ưu thế so với dạy học truyền thống

- Dạy học tích hợp có thể hiểu là một hình thức dạy học kết hợp giữadạy lý thuyết và dạy thực hành Quá trình dạy học mang tính mục đích rõrệt qua đó ở người học hình thành một năng lực nào đó nhằm đáp ứng đượcmục tiêu của mô đun Trong chủ đề “Tết và mùa xuân” của trẻ 5-6 tuổi,hầu hết các hoạt động trẻ có thể tự trải nghiệm và phát huy tính sáng tạocủa mình Các hoạt động không khô cứng mà luôn cho trẻ “học mà chơi, chơi

mà học”, các tiết học được biến thành các hoạt động cho trẻ tham gia vì chỉ

có thông qua hoạt động trẻ mới tiếp thu kiến thức cách hiệu quả nhất

- Trong dạy học tích hợp, trẻ được đặt vào những tình huống củađời sống thực tế, trẻ phải trực tiếp quan sát, thảo luận và đưa ra ý kiến củamình, so sánh với ý kiến của bạn khác… Trẻ phải tiếp nhận đối tượng qua cácphương tiện nghe, nhìn, trực quan sinh động và phân tích đối tượngnhằm làm bộc lộ và phát hiện ra các mối quan hệ bản chất, tất yếu của sựvật, hiện tượng Từ đó, trẻ vừa nắm được kiến thức vừa cảm thấy thích thú.Như vậy, GV không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn, tổchức các thao tác thực hành

Trang 39

Hoạt động nào cũng cần có kiểm soát, trong dạy học cũng vậy, trẻ cần

có sự kiểm soát, củng cố những nhận thức đúng, uốn nắn những nhận thứcchưa đúng Việc kiểm soát sự thực hiện qua thông tin, tự đánh giá, điềuchỉnh Việc đánh giá và xác định các năng lực phải theo các quan điểm làngười học phải thực hành được các công việc giống như người công nhânthực hiện trong thực tế

1.3.4 Vai trò của dạy học tích hợp trong dạy học mầm non

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết: "Dạy học tích

hợp sẽ mang lại nhiều lợi ích như giúp học sinh áp dụng được nhiều kỹ năng, nền tảng kiến thức tích hợp giúp việc tìm kiếm thông tin nhanh hơn, khuyến khích việc học sâu và rộng, thúc đẩy thái độ học tập tích cực đối với học sinh Thay đổi cách dạy này không gây ra sự xáo trộn về số lượng và cơ cấu giáo viên, không nhất thiết phải đào tạo lại mà chỉ cần bồi dưỡng một số chuyên

đề dạy học tích hợp Không đòi hỏi phải tăng cường quá nhiều về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học".

Quan điểm tích hợp và phương pháp dạy học theo hướng tích hợp đãđược giáo viên tiếp nhận nhưng ở mức độ thấp Phần lớn giáo viên lựa chọnmức độ tích hợp “liên môn” hoặc tích hợp “nội môn” Tuy nhiên mặt tích cựccủa cách dạy theo hướng tích hợp là các bài dạy theo hướng tích hợp sẽ làmcho nhà trường gắn liền với thực tiễn cuộc sống, với sự phát triển củacộng đồng Những nội dung dạy trẻ theo các chủ đề “Gia đình”, “Thực vật”,

“Quê hương đất nước”, “Nước và các hiện tượng tự nhiên”, “Tết vàmùa xuân”…làm cho trẻ có nhu cầu học tập để giải đáp được những thắcmắc, phục vụ cho cuộc sống của mình và cộng đồng Học theo hướng tích hợp

sẽ giúp cho các trẻ quan tâm hơn đến con người và xã hội ở xung quanhmình, việc học gắn liền với cuộc sống đời thường là yếu tố để trẻ học tập

Trang 40

Những thắc mắc nảy sinh từ thực tế làm nảy sinh nhu cầu giải quyết vấn đềcủa trẻ.

Ngày đăng: 06/01/2020, 12:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình giáo dục mầm non, ban hành kèm theo thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục mầm non
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
2. Lê Thu Hương, Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường mầm non theo chủ đề (Trẻ 5- 6 tuổi), 2014, NXB giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trongtrường mầm non theo chủ đề (Trẻ 5- 6 tuổi)
Nhà XB: NXB giáo dục Việt Nam
6. Hách Đức Vĩnh, Phương pháp luận phát triển chương trình, 2001, NXB Khoa học giáo dục Bắc kinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận phát triển chương trình
Nhà XB: NXBKhoa học giáo dục Bắc kinh
9. TS. Nguyễn Thị Hoa, Giáo dục tích hợp ở bậc học mầm non, 2010, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục tích hợp ở bậc học mầm non
Nhà XB: NXBĐại học Sư phạm
10. ThS. Đào Thị Hồng, Sự cần thiết và hấp dẫn của dạy học tích hợp, Viện NCSP- Trường Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cần thiết và hấp dẫn của dạy học tích hợp
11. Bộ giáo dục và Đào tạo, Tài liệu tập huấn dạy học ở trường tiểu học, 2014, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn dạy học ở trường tiểu học
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
12. Nguyễn Ánh Tuyết, Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non,2008, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non
Nhà XB: NXB Đạihọc sư phạm
3. Quyết định của Thủ tướng chính phủ số : 149/2006/QĐ-TTG, phê duyệt đề án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006 - 2015 Khác
4. Luật giáo dục 2005 5 .h t t p: / / g i a od u c p h o tho ng . e d u . v n/ Q u a n _ l y / H o a t_ d on g _p h a t _ t r i e n _ c h uo n g _ t ri n h_ n h a _ t r u on g Khác
7. (Hướng dẫn thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi , Vụ GDMN - TTNCGDMN, BGDĐT,NXB HÀ NỘI,2004) Khác
8. Hoàng Phê, từ điển tiếng Việt, 2004, NXB Đã Nẵng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w