1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển vốn từ cho trẻ ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh (2017)

75 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay từ những bước đầu,nếu trẻ được làm quen và phát triển vốn từ sẽ tạo điều kiện thuận lợi chochúng mở rộng kho tàng ngôn ngữ, từ đó có thể phát triển một cách toàn diện.Đồng thời thôn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

=== ===

HOÀNG THỊ KIỀU TRANG

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ Ở ĐỘ TUỔI MẪU GIÁO NHỠ THÔNG QUA DẠY TRẺ KỂ LẠI TRUYỆN THEO TRANH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp Phát triển ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học

TS KHUẤT THỊ LAN

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô TS.Khuất Thị Lan, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu đề tàikhóa luận tốt nghiệp

Tôi chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Giáo dục mầm non,Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4năm học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ lànền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu đểtôi bước vào đời, vào nghề một cách vững chắc và tự tin

Tôi chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, toàn thể đội ngũ giáoviên đang công tác tại khu Bầu – Trường mầm non Kim Chung (Kim Chung –Đông Anh – Hà Nội) đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiệnquá trình thu thập số liệu cũng như thực tập tại trường

Cuối cùng tôi xin kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và gặt háinhiều thành công trong sự nghiệp cao quý

Tôi xin chân thành ảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm

Sinh viên thực hiện

Hoàng Thị Kiều Trang

Trang 3

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ, KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu vấn đề 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Cấu trúc của đề tài 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6

1.1.Cơ sở lý luận 6

1.1.1 Cơ sở tâm lý 6

1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học 8

1.1.3 Vai trò của việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh với sự phát triển vốn từ của trẻ 13

1.2 Cơ sở thực tiễn 18

1.2.1 Điều tra, khảo sát những vấn đề chung 18

1.2.2 Đối tượng khảo sát 18

1.2.3 Thời gian khảo sát 18

1.2.4 Phương pháp khảo sát 19

1.2.5 Phân tích kết quả điều tra, khảo sát 19

1.2.6 Nhận xét từ điều tra, khảo sát 22

Tiểu kết 29

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ THÔNG QUA DẠY TRẺ KỂ LẠI TRUYỆN THEO TRANH 30

2.1 Dạy trẻ kể lại truyện theo tranh vẽ mô phỏng nội dung câu chuyện 30

2.2 Dạy trẻ kể lại truyện thông qua tranh đồ chơi 35

Trang 5

2.3 Dạy trẻ kể lại truyện thông qua tranh trình chiếu Powerpoint 37

2.4 Dạy trẻ kể lại truyện theo tranh thông qua trò chơi 39

Tiểu kết 42

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 43

3.1 Mục đích và đối tượng thực nghiệm 43

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 43

3.1.2 Đối tượng thực nghiệm 43

3.2 Thời gian và địa bàn thực nghiệm 43

3.2.1 Thời gian thực nghiệm 43

3.2.2 Địa bàn thực nghiệm 43

3.3 Điều kiện và phương pháp thực nghiệm 43

3.3.1 Điều kiện thực nghiệm 43

3.3.2 Phương pháp thực nghiệm 44

3.4 Nội dung và kết quả thực nghiệm 44

3.4.1 Nội dung thực nghiệm 44

3.4.2 Kết quả thực nghiệm 45

PHẦN KẾT LUẬN 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC

Trang 6

1 Lí do chọn đề tài

PHẦN MỞ ĐẦU

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,

có vai trò quan trọng trong việc đặt nền móng xây những viên gạch đầu tiêncho sự hình thành và phát triển nhân cách con người

Giáo dục mầm non là nền tảng của sự phát triển thể chất, trí tuệ, tình cảm,thẩm mĩ của trẻ Phát triển giáo dục mầm non là nhiệm vụ chung của các cấpcác ngành và toàn thể xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý củaNhà nước

Việc có một vốn từ phong phú sẽ giúp ích cho trẻ rất nhiều, vì trẻ luôn tựnắm bắt những gì mà trẻ nghe được từ xung quanh trong môi trường sống trựctiếp của trẻ Các nhà nghiên cứu đã gợi ý rằng từ vựng là một yếu tố cực kìquan trọng trong sự phát triển của trẻ đặc biệt là ở kĩ năng nói

Khi trẻ có một vốn từ vựng phong phú thì trẻ sẽ nói tốt hơn và có khuynhhướng học tốt hơn so với những trẻ cùng lứa tuổi có vốn từ hạn hẹp Và vớivốn từ phong phú luôn có sẵn trong đầu, trẻ sẽ có thể tự bày tỏ cảm xúc, cảmnghĩ của bản thân với nhiều người một cách có hiệu quả, qua đó nâng cao khảnăng giao tiếp xã hội của trẻ

Vốn từ là nền móng để phát triển ngôn ngữ, mà ngôn ngữ đóng vai tròquan trọng trong sự phát triển về trí tuệ trẻ Việc dạy trẻ làm tăng số lượng từtrong các trường nghĩa để có điều kiện lựa chọn là việc hết sức cần thiết Nếuvốn từ ít thì khả năng lựa chọn sẽ bị hạn hẹp và hiệu quả dùng từ sẽ giảm, sốlượng từ đó cũng chưa đủ để trẻ thể hiện được cảm xúc được chính xác nhữngnội dung phức tạp, tinh tế mà cuộc sống đòi hỏi Chính vì vậy mà cần có kếhoạch để vừa làm tăng chất lượng sử dụng từ vừa mở rộng vốn từ cho trẻ

Từ 3-6 tuổi, trong những điều kiện thuận lợi, trẻ bước đầu nắm được hệthống ngữ âm, ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ và trên cơ sở này giúp trẻ phát triển

Trang 7

nhanh chóng vốn từ, cấu trúc ngữ pháp Trong đó độ tuổi 4-5 là chặng giữatuổi mẫu giáo Nó đã vượt qua thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi ấu nhi lên để tiếntới một chặng đường phát triển tương đối ổn định Ngay từ những bước đầu,nếu trẻ được làm quen và phát triển vốn từ sẽ tạo điều kiện thuận lợi chochúng mở rộng kho tàng ngôn ngữ, từ đó có thể phát triển một cách toàn diện.Đồng thời thông qua việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh, giúp trẻ thể hiệnnăng lực tư duy, óc tưởng tượng sáng tạo, biết yêu quý cái đẹp, hướng tới cáiđẹp Khi trẻ kể chuyện, ngôn ngữ của trẻ phát triển, trẻ phát âm rõ ràng mạchlạc, vốn từ phong phú; trẻ biết trình bày ý kiến, suy nghĩ khi kể về một sự vậthay sự kiện nào đó… bằng chính ngôn ngữ của trẻ.Trên đây là những lí do

chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Phát triển vốn từ cho trẻ ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh”.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đầu thế kỷ XVII, nhà giáo dục nổi tiếng người Tiệp Khắc J.A.Kômenski(1592-1670) đã gây dựng nhà trường, coi trọng trường học Ông đã đưa ranguyên tắc dạy học, lí luận dạy học và phương pháp dạy học của quá trìnhnhận thức Ông cho rằng kiến thức càng dựa vào cảm giác thì nó càng xácthực Nghiên cứu sự vật không chỉ dựa vào cái mà người ta quan sát, chứngminh, mà phải căn cứ vào những cái chính mắt mình nhìn thấy, chính tai mìnhnghe, chính mũi mình ngửi, chính lưỡi mình nếm, chính tay mình sờ,… Ýnghĩa cơ bản và hợp lí của nguyên tắc này được coi là ở chỗ độc lập với việc

nó truyền thụ bằng lời (mà người ta vẫn gọi là học chay) một cách giáo điều.Nguyên tắc giúp học sinh bằng kinh nghiệm của bản thân nhìn thấy được trithức cụ thể, làm nền tảng cho tư duy Vì vậy nguyên tắc này được coi lànguyên tắc vàng trong lí luận dạy học Nguyên tắc này cho rằng ở giai đoạnthấp, trẻ mầm non tư duy cụ thể Tính cụ thể ấy buộc giáo viên phải minh họa

Trang 8

những khả năng gọi là trừu tượng bằng những sự vật có thật trong cuộc sống, bằng những tranh ảnh, mô hình,…

Bằng cách mô tả rõ ràng chi tiết để gợi lại cho học sinh nhớ lại những cái đãhọc hoặc tưởng tượng những cái chưa nhìn thấy

Nhà sư phạm J.J.Rutxo (1712-1778) cũng kịch liệt phê phán nhà trườngđương thời lạm dụng lời nói Ông đã lớn tiếng: “Đồ vật, đồ vật – hãy đưa ra

đồ vật Tôi không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng, chúng ta lạm dụng quá mứclời nói – Bằng cách giảng giải ba hoa, chúng ta chỉ tạo nên con người ba hoa”Trên cơ sở kế thừa công trình nghiên cứu của các bậc cha ông đi trước,ngày nay phương pháp dạy học trực quan cũng được rất nhiều nhà nghiên cứugiáo dục quan tâm và đi sâu nghiên cứu các khía cạnh khác nhau Đặc biệt đã

có nhiều tài liệu có giá trị được công bố Về mặt lí luận có tác giả Phan TrọngNgọ, Dương Diệu Hoa, Lê Tràng Định trong cuốn: “Vấn đề trực quan dạyhọc” Ngoài ra còn có rất nhiều tác giả khác quan tâm đến vấn đề này: Giáodục học mầm non (Đào Thanh Âm - Nhà xuất bản Đại học Sư phạm); Phươngpháp trực quan trong việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé (Nguyễn ThịHoa)

Biện pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học cũng là vấn đề đã đượcnhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu, nhưng chưa có công trình nào đi sâuvào vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh.Trong quá trình tìm hiểu về biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo nhỡthông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh, chúng tôi đã đọc và tiếp xúc vớicác công trình sau:

Các phương pháp cơ bản cho trẻ mẫu giáo tiếp xúc với tác phẩm văn học (Hà Nguyễn Kim Giang – Nhà xuất bản Đại học quốc gia)

Giáo trình Văn học dân gian (Phạm Thu Yến chủ biên – Nhà xuất bản Đạihọc Sư phạm Hà Nội)

Trang 9

Trong hai cuốn: “Cho trẻ làm quen với với tác phẩm văn học – Một sốvấn đề lí luận và thực tiễn” (PGS.TS Hà Nguyễn Kim Giang) và giáotrình “Tiếng Việt – Văn học và phương pháp phát triển cho trẻ dưới 6tuổi” (Lê Thị Kỳ - Nguyễn Thế Dũng – Lê Kim Oanh) đều đưa ra một hệthống các phương pháp cơ bản để cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học ởtrường mầm non, trong đó có nhắc đến phương pháp sử dụng phương tiệntrực quan.

3 Mục đích nghiên cứu vấn đề

Nhằm mở rộng, phát triển vốn từ cho trẻ MGN phát triển ngôn ngữmạch lạc

Dạy trẻ sử dụng các từ mô tả hoặc bắt đầu sử dụng các đại từ Dạy trẻ

có thể biết ghép các danh từ, động từ, tính từ thành câu tương đối hoàn chỉnhthông qua kể chuyện cổ tích có tranh minh họa

Phát triển tư duy, sáng tạo của trẻ, đồng thời giáo dục tình cảm, thẩm mỹ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn có liên quan đến phát triểnvốn từ cho trẻ độ tuổi mẫu giáo nhỡ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

- Xây dựng, thiết kế một số biện pháp dạy trẻ kể lại truyện theo tranhnhằm phát triển vốn từ cho trẻ MGN

- Thực nghiệm, kiểm tra tính khả thi của một số biện pháp dạy trẻ kể lạitruyện theo tranh

- Xử lý kết quả nghiên cứu và rút ra nhận định

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Thiết kế, xác định hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ MGN thông quadạy trẻ kể lại truyện theo tranh ở trường mầm non

Trang 10

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Nhóm trẻ ở độ tuổi MGN tại trường mầm non Kim Chung (Khu Bầu –Kim Chung – Đông Anh – Hà Nội), cụ thể là 3 lớp MGN B1, MGN B2,MGN B3

Các câu chuyện trong chương trình giáo dục mầm non ở độ tuổi MGN

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Để điều tra thực trạng của việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh, cũngnhư mức độ hiệu quả của các biện pháp được đề xuất trong việc phát triển vốn

từ cho trẻ MGN thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

6.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Để tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát, từ đó rút ra nhận xét và có kếhoạch xây dựng biện pháp mới phù hợp để phát triển vốn từ cho trẻ MGNthông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

6.3 Phương pháp quan sát và thủ pháp phỏng vấn, trao đổi với giáo viên, học sinh, phụ huynh

Để tìm hiểu thực trạng khả năng tiếp thu của trẻ, trình độ nhận thức củagiáo viên và thực trạng việc giáo viên dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ độ tuổi mẫu giáo nhỡ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 11

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1.Cơ sở lý luận

1.1.1 Cơ sở tâm lý

Sự phát triển tâm lý và hoàn thiện nhân cách là một quảng đường dàitrẻ sẽ trải qua trong suốt quá trình phát triển của mình Vào giai đoạn 4-5 tuổitrẻ có sự hình thành tâm lý rõ ràng, có những bước phát triển vượt bậc so vớilúc 3-4 tuổi Giai đoạn trẻ 3-4 tuổi có sự hình thành tâm lý, các tính riêng củatừng bé, sang đến 4-5 tuổi cá tính ấy đã trở lên khá ổn định, dần trở thànhtính riêng của một con người hoàn thiện Vì thế việc địn h hướng tâm sinh lýtheo chiều hướng tích cực, đúng đắn trong giai đoạn này là cực kì quan trọng

Ở tuổi MGN thì hoạt động vui chơi đã mang đầy đủ ý nghĩa của nó, tức

là nó đạt tới dạng chính thức và biểu hiện đầy đủ đặc điểm của hoạt động vuichơi, nhiều hơn cả là trò chơi đóng vai theo chủ đề Có thể nói rằng hoạt độngvui chơi ở lứa tuổi MGN phát triển tới mức hoàn thiện, được thể hiện ở nhữngđặc điểm sau:

Thứ nhất: trong hoạt động vui chơi, trẻ MGN thể hiện tính tự lực, tự do

và chủ động rất rõ, ít lệ thuộc vào người lớn và hoàn toàn tùy thuộc vào ýthích của mình Tính tự lực của trẻ biểu hiện trong việc lựa chọn chủ đề vànội dung chơi, trong việc lựa chọn các bạn cùng chơi và trong việc tự do thamgia vào trò chơi nào mà mình thích và tự do rút ra khỏi những trò chơi màmình đã chán

Thứ hai: trong hoạt động vui chơi, trẻ MGN đã biết thiết lập nhữngquan hệ phong phú và rộng rãi với các bạn cùng chơi Một “xã hội trẻ em”được hình thành Ở tuổi MGN việc chơi trong nhóm bạn bè là một nhu cầubức bách Nếu người lớn không thấy được nhu cầu đó của trẻ để tạo điều kiệncho chúng chơi với nhau thì đó là một sai lầm lớn trong giáo dục, vì ở lứa tuổiMẫu giáo – đặc biệt là MGN – nhu cầu giao tiếp với bạn bè đang ở thời kỳ

Trang 12

phát cảm, tức là đang phát triển mạnh Từ đó, những “xã hội trẻ em” thực sựđược hình thành (A.P.Uxôva) Cái xã hội này bao gồm toàn thể trẻ em nhưngcấu trúc của nó không hề đơn giản Trong cái “xã hội trẻ em” ấy mỗi đứa đều

có một vị trí nhất định Vị trí đó được thể hiện ở chỗ bạn bè trong nhóm đốivới nó như thế nào “Xã hội trẻ em” dần dần cũng hình thành những dư luậnchung Dư luận chung thường bắt nguồn từ những nhận xét của người lớn đốivới trẻ em, cũng có thể do trẻ em nhận xét lẫn nhau Dư luận chung ảnhhưởng khá lớn đối với sự lĩnh hội chuẩn mực đạo đức của trẻ trong nhóm vàqua đó mà ảnh hưởng đến nhân cách của từng đứa trẻ Nhóm trẻ cùng chơi làmột trong những cơ sở xã hội đầu tiên của trẻ, do đó người lớn cần tổ chức tốthoạt động của nhóm trẻ ở lớp mẫu giáo cũng như ở gia đình, khu tập thể, xómdân cư, để tạo ra một môi trường lành mạnh có tác dụng giáo dục tích cực đốivới trẻ

Về tư duy, ở trẻ 4-5 tuổi các loại tư duy đều phát triển nhưng mức độ khác nhau Tư duy trực quan hành động vẫn tiếp tục phát triển, nhưng chấtlượng khác với trẻ 3-4 tuổi ở chỗ trẻ bắt đầu biết suy nghĩ xem xét nhiệm vụhoạt động, phương pháp và phương tiện giải quyết nhiệm vụ tư duy Tư duytrực quan hình tượng phát triển mạnh mẽ và chiếm ưu thế Nhờ có sự pháttriển ngôn ngữ, trẻ ở lứa tuổi này đã xuất hiện loại tư duy trìu tượng Một sốđặc điểm trong tư duy ở trẻ 4-5 tuổi:

Mức độ khái quát ngẫu nhiên giảm dần từ 4-5 tuổi trong hoạt động tưduy của trẻ

Mức độ tích cực huy động vốn kinh nghiệm (liên tưởng) của trẻ tănglên từ 4-5 tuổi

Sự khái quát các dấu hiệu chung giảm dần từ 4-5 tuổi, nhường chỗ cho các chi tiết đặc thù của các sự vật hiện tượng

Trang 13

Độ phong phú của các hình ảnh tưởng tượng cao nhờ có sự nhận thứcđược màu sắc trong thiên nhiên và qua các tiết nghệ thuật tạo hình.

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu quan trọngnhất của giáo dục mầm non Ngôn ngữ là công cụ để trẻ giao tiếp, học tập vàvui chơi Ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển của tâm lý trẻ em Bêncạnh đó ngôn ngữ còn là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện baogồm sự phát triển về đạo đức, tư duy đạo đức và các chuẩn mực văn hóa Đốivới trẻ mầm non nói chung và trẻ MGN nói riêng, trẻ rất nhạy cảm với nghệthuật ngôn từ Âm điệu hình tượng của các bài hát ru, đồng dao, ca dao, dân

ca sớm đi vào tuổi thơ Những câu chuyện cổ tích, thần thoại đặc biệt hấp dẫntrẻ Chính vì vậy cho trẻ tiếp xúc với văn học và đặc biệt là hoạt động dạy trẻ

kể lại truyện là con đường phát triển ngôn ngữ cũng như phát triển vốn từ chotrẻ tốt nhất, hiệu quả nhất

Thông qua việc dạy trẻ kể lại truyện giúp trẻ phát triển năng lực tư duy,

óc tưởng tượng sáng tạo, biết yêu quý cái đẹp, hướng tới cái đẹp Khi trẻ kểchuyện, ngôn ngữ của trẻ phát triển, trẻ phát âm rõ ràng, mạch lạc, vốn từphong phú Trẻ biết trình bày ý kiến, suy nghĩ, kể về một sự vật hay sự việcnào đó… bằng chính ngôn ngữ của trẻ Chính vì vậy,việc dạy trẻ kể lại truyện

là một vấn đề hết sức quan trọng đối với trẻ ở độ tuổi 4-5

1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học

1.1.2.1 Khái niệm về vốn từ, phát triển vốn từ

Theo như Wikipedia.org: “Từ vựng hay vốn từ, kho từ vựng của một

người là tập hợp các từ trong một ngôn ngữ mà người đó quen thuộc (biết tới)” Một vốn từ vựng phong phú trợ giúp cho việc biểu đạt và giao tiếp.Vốn

từ cũng chính là khối từ ngữ cụ thể, hoàn chỉnh (có đủ hình thức, chữ và nộidung ngữ pháp) mà mỗi cá nhân tích lũy được trong kí ức của mình Vốn từnhiều hay ít, đơn giản hay đa dạng tùy thuộc vào kinh nghiệm sống, ở trình độ

Trang 14

học vấn, ở sự giao tiếp giao lưu văn hóa ngôn ngữ của từng người Mỗi mộtngôn ngữ phát triển một số lượng từ hết sức lớn và phong phú Có thể lên tớihàng chục vạn, hàng triệu từ.

Trịnh Thị Hà Bắc: “Phát triển vốn từ cho trẻ là việc tổ chức có kế

hoạch, có khoa học nhằm cung cấp, làm giàu vốn từ, nâng cao khả năng hiểu nghĩa của từ, củng cố và tích cực hóa vốn từ cho trẻ, giúp trẻ biết vận dụng phù hợp vốn từ đó trong hoạt động giao tiếp” [13, tr.7] Hay hay hiểu ngắn

gọn: “Phát triển vốn từ cho trẻ là giúp trẻ nắm được nhiều từ, hiểu ý nghĩa

của từ và biết sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp” [13, tr.27].

1.1.2.2 Vai trò của vốn từ đối với sự phát triển của trẻ

a Vốn từ là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ vềthế giới xung quanh

Vốn từ giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi trường xungquanh Thông qua các từ ngữ và các câu nói của người lớn, trẻ làm quen vớicác sự vật hiện tượng có trong môi trường xung quanh, hiểu được những đặcđiểm, tính chất, công cụ của các sự vật cùng các từ tương ứng với nó Từ vàhình ảnh trực quan của các sự vật cùng đi vào nhận thức của trẻ

Nhờ có ngôn ngữ với một vốn từ tương đối, trẻ nhận biết ngày càngnhiều các sự vật hiện tượng mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày,giúp trẻ hình thành, phát triển phong phú các biểu tượng và thế giới xungquanh

Vốn từ là phương tiện giúp trẻ hình thành và phát triển tư duy Vốn từcủa trẻ được phát triển dần theo lứa tuổi trẻ Điều đó sẽ giúp trẻ không chỉ tìmhiểu những hiện tượng, sự vật gần gũi xung quanh, mà còn có thể tìm hiểu cảnhững sự vật không xuất hiện trực tiếp trước mặt trẻ, những sự việc xảy ratrong quá khứ và tương lai Trẻ hiểu được những lời giải thích, gợi ý củangười lớn, biết so sánh khái quát và dần hiểu được bản chất của sự vật, hiện

Trang 15

tượng, hình thành những khái niệm sơ đẳng Sự hiểu biết của trẻ về thế giớixung quanh ngày càng rộng lớn hơn Nhận thức của trẻ được rõ ràng, chínhxác và trí tuệ của trẻ không ngừng phát triển.

Vốn từ là công cụ giúp trẻ hoạt động vui chơi và nhận thức thế giớixung quanh và là phương tiện để trẻ trao đổi những ý đồ chơi, giao lưu tìnhcảm trong lúc chơi và phát triển khả năng tư duy, trí tưởng tượng của trẻ

Vốn từ không chỉ là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xungquanh mà còn là phương tiện để trẻ biểu hiện nhận thức của mình Nhờ cóvốn từ, trẻ nhận thức được về môi trường xung quanh và tiến hành hoạt độngvới nó, đồng thời trẻ cũng sử dụng ngôn ngữ để kể lại, miêu tả lại sự vật hiệntượng và những hiểu biết của trẻ để trao đổi với mọi người

b Vốn từ là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ

Vốn từ là phương tiện để giao lưu xúc cảm và phát triển tình cảm Vốn

từ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất Đặc biệt, đối với trẻ nhỏ, đó làphương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh, hìnhthành những cảm xúc tích cực

Bằng những câu hát ru, những lời nói nựng, những câu nói âu yếm

đã đem đến cho trẻ những cảm giác bình yên, sự vui mừng hớn hở Nhữngtiếng ầu ơ mẹ nói chuyện với trẻ là sự giao lưu cảm xúc và ngôn ngữ đầu tiên.Những cuộc nói chuyện đặc biệt này sẽ làm cho trẻ vui vẻ và có những tìnhcảm thân thương với những người xung quanh Dần hình thành ở trẻ nhữngcảm xúc tích cực

Khi giao tiếp với người lớn, trẻ tiếp nhận được những sắc thái tình cảmkhác nhau Qua nét mặt, giọng nói, ngữ điệu, ngữ nghĩa chứa đựng trong các

từ, các câu nói, dần dần trẻ cũng biết thể hiện những cảm xúc khác nhau củamình

Trang 16

Trong quá trình giao tiếp, người lớn luôn hướng dẫn, uốn nắn hành vicủa trẻ bằng lời nói, nét mặt, nụ cười khiến trẻ có thể nhận ra hành vi củamình đúng hay sai Bằng con đường đó, đứa trẻ dần dần hình thành đượcnhững thói quen tốt và học được những cách ứng xử đúng đắn.

Đồng thời, thông qua ngôn ngữ, với vốn từ đã có, trẻ nhận thức đượcnhững cái hay, cái đẹp trong cuộc sống xung quanh như: những bông hoa,những hàng cây, con đường, những cảnh đẹp làng quê với những từ ngữ thểhiện nó Trẻ sẽ có nhiều ấn tượng đẹp, tâm hồn trẻ trung và có ý thức gìn giữcái hay, cái đẹp

Thông qua vốn từ trẻ tích lũy được từ văn học (thơ, truyện, ca dao,đồng dao ) trẻ cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong tiếng mẹ đẻ, nhữnghành vi đẹp trong cuộc sống, trẻ biết những gì nên làm và những gì không nênlàm, qua đó rèn luyện những phẩm chất tốt ở trẻ, dần dần hình thành ở trẻnhững khái niệm ban đầu về đạo đức như: ngoan – hư, tốt – xấu, thật thà –không thật thà

c Vốn từ là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thànhthành viên của cộng đồng

Nhờ có những lời chỉ dẫn của người lớn, trẻ dần dần hiểu được quyđịnh chung của cộng đồng mà mọi thành viên trong cộng đồng phải thực hiện.Trước hết là những nề nếp sinh hoạt của gia đình, nhóm trẻ, trường mầm non.Sau đó là một số quy định ngoài xã hội Những gì trẻ có thể được phép làm vànhững gì không được làm

Mặt khác, trẻ cũng có thể dùng vốn từ của mình để bày tỏ những nhucầu, mong muốn của mình với các thành viên trong cộng đồng Điều đó giúptrẻ dễ hòa nhập với mọi người

Nhờ có vốn từ, thông qua các câu chuyện, trẻ dễ dàng tiếp nhận nhữngchuẩn mực đạo đức của xã hội và hòa nhập xã hội tốt hơn

Trang 17

Tóm lại: vốn từ có vai trò rất lớn, là phương tiện quan trọng nhất để trẻlĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để trẻ giao lưu với những người xung quanh, để

tư duy, tiếp thu khoa học và bồi bổ tâm hồn, hình thành, phát triển nhân cáchcủa trẻ

1.1.2.3 Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ 4-5 tuổi

Vốn từ của trẻ tăng nhanh theo lứa tuổi trẻ, trẻ 4 tuổi có thể sử dụng

1200 từ Trẻ 5 tuổi đã có thể sử dụng 2000 từ Vốn từ của trẻ không chỉ tăngnhanh về số lượng mà cả về chất lượng Trẻ đã hiểu ý nghĩa của nhiều từ loạikhác nhau, không chỉ hiểu những từ có tính cụ thể như: chó, mèo, gà… mà trẻcòn hiểu cả những từ có tính khái quát, trừu tượng như: gia súc, gia cầm

Tuy nhiên vốn từ của trẻ MGN vẫn là danh từ và động từ chiếm ưu thế,còn tính từ và các loại khác còn ít sử dụng Bên cạnh đó trẻ ở lứa tuổi này cònbiết sử dụng các từ mang tính biểu cảm có hình ảnh, màu sắc, âm thanh Với

số lượng và chất lượng vốn từ của trẻ tăng nhanh như vậy, ta có thể thấy rằngmôi trường sống, môi trường ngôn ngữ xung quanh trẻ rất phong phú và đadạng Trình độ văn hóa, nghề nghiệp, sự hướng dẫn chỉ bảo trực tiếp củangười lớn sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển vốn từ của trẻ

Phát triển vốn từ cho trẻ là cơ sở của công tác phát triển ngôn ngữ Bởi

vì Từ là đơn vị có nghĩa của lời nói, có thể dùng độc lập, bao gồm đầy đủ cảhai mặt âm thanh và ý nghĩa Trong Từ phản ánh những sự vật, hiện tượngcủa thế giới xung quanh cũng như các đặc điểm của nó Việc phát triển vốn từcho trẻ phải được tiến hành cùng với việc mở rộng và nâng cao nhận thức củatrẻ về thế giới xung quanh Đây là hai mặt có quan hệ hữu cơ và không thểtách rời nhau Trường mầm non có nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ cả về sốlượng và chất lượng Dạy trẻ không chỉ biết nhiều từ, mà còn phải hiểu từ, sửdụng từ đúng, loại ra những từ không đẹp trong lời nói của trẻ, dạy trẻ biếtcách sử dụng một số biện pháp tu từ đơn giản trong giao tiếp hằng ngày

Trang 18

Phát triển vốn từ được hiểu như là một quá trình lâu dài trẻ tích lũy vốn

từ, hiểu nghĩa của từ và hình thành cách sử dụng từ trong các tình huống giaotiếp cụ thể Trẻ chỉ lĩnh hội nghĩa của từ khi nào từ được sử dụng trong câu,trong lời nói Vì vậy công tác phát triển vốn từ cần được tiến hành chặt chẽvới việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc ở trẻ Xem xét quá trình hình thành vàphát triển vốn từ của trẻ, ta có thể thấy được trẻ lĩnh hội nghĩa cụ thể của từ vànội dung khái niệm của từ, nó có liên quan đến quá trình nhận thức của trẻ;đồng thời, trẻ còn lĩnh hội vốn từ như là một yếu tố của lời nói như cách sửdụng từ, dùng từ thay thế, dùng từ có mức độ khác nhau, dùng từ trái nghĩa,đồng nghĩa…, cách sử dụng từ trong câu

Do đó công tác phát triển vốn từ là hoạt động giáo dục có chủ định, có

kế hoạch nhằm giúp trẻ lĩnh hội vốn từ có hiệu quả

1.1.3 Vai trò của việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh với sự phát triển vốn

từ của trẻ

1.1.3.1 Khái niệm dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

Trịnh Thị Hà Bắc: “Kể lại truyện là hình thức kể lại một cách sáng tạo

câu chuyện theo mẫu trẻ đã được nghe, nhận biết được sự tác động lên cảm xúc, giúp trẻ ghi nhớ và kể lại những điều trẻ đã được nghe” [13, tr.13].

Trẻ biết vận dụng ngôn ngữ của mình để kể lại chuyện một cách sángtạo, phù hợp Kể lại truyện là một dạng của kể chuyện theo trí nhớ, trẻ trìnhbày lại những câu chuyện, những truyện văn học đã được nghe cô giáo kểhoặc đọc bằng ngôn ngữ và sự thấu hiểu của cá nhân

Hà Nguyễn Kim Giang: “Kể lại truyện không chỉ là sự ghi nhớ máy móc

một tác phẩm văn học, mà đó là sự tái tạo mang tính sáng tạo (làm sống lại tác phẩm văn học), là quá trình rèn luyện, củng cố trí nhớ” [2, tr.170].

Ở lứa tuổi mẫu giáo việc hình thành và phát triển hoạt động văn học làmột hình thức quan trọng để phát triển tính tích cực các nhân, tính độc lập,

Trang 19

sáng tạo của trẻ Trẻ thơ, lứa tuổi bắt đầu của sự nhận thức và những tình cảmmãnh liệt, giữa trẻ và những câu chuyện, các nhân vật trong truyện có sự đồngđiệu về tâm hồn, về tính cách, các em thích nghe kể chuyện và thích kể lạitruyện Trẻ đến với những câu chuyện, những nhân vật trong truyện với tất cảnhững tình cảm, những rung động ngọt ngào nhất, say mê nhất, đồng cảmnhất Chính vì thế những câu chuyện có vai trò rất lớn góp phần hình thành vàphát triển nhân cách trẻ Những câu chuyện là một phần của cuộc sống gợi lêncho trẻ những cảm xúc lành mạnh, giúp trẻ nhận biết thế giới xung quanh,những mối quan hệ giữa con người với con người góp phần giáo dục thẩm mỹ

và phát triển ngôn ngữ nghệ thuật cho trẻ Nhờ đó trẻ nảy sinh năng lực tựhoạt động nghệ thuật khi tiếp xúc với những câu chuyện

Hà Nguyễn Kim Giang: “Dạy trẻ kể lại truyện được coi là một phương

pháp hiệu quả để phát triển ngôn ngữ mạch lạc, một hình thức ngôn ngữ bậc cao rất cần có ở mỗi đứa trẻ Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ là cần thiết và quan trọng để đảm bảo cho ngôn ngữ trở thành phương tiện giao tiếp” [2, tr.169].

Dạy trẻ kể lại truyện là một dạng thức tiết học tổ chức cho trẻ tự hoạtđộng văn học nghệ thuật Tổ chức cho trẻ hoạt động trong đó có tự hoạt độngvăn học nghệ thuật sẽ làm giàu nhân cách trẻ Chỉ có để trẻ hoạt động thì mớiphát triển được tính tích cực của cá nhân, giúp trẻ cảm thụ văn học đặc biệt lànhững câu chuyện một cách rõ nét và có cảm xúc

Phạm Thị Hồng Yến: “Khi kể chuyện theo tranh trẻ phải quan sát, nhận

xét các hình ảnh, các mối quan hệ giữa các hình ảnh để hiểu nội dung bức tranh Sau đó, trẻ sẽ xây dựng câu chuyện logic, trình tự theo tranh Vì vậy kể chuyện theo tranh là dạy trẻ kể một câu chuyện có nội dung theo tranh dưới hình thức một ngôn bản hoàn chỉnh” [10, tr.38].

Trang 20

Kể truyện theo tranh là một dạng hoạt động phù hợp với trẻ mẫu giáo,

vì trẻ rất thích xem tranh, nhất là những tranh có nội dung gần gũi với cuộcsống của trẻ Giúp trẻ hứng thú, chủ động tiếp thu các kiến thức màgiáo viên truyền tải Trẻ sẽ tiếp thu một cách gián tiếp thông qua câu chuyệnsáng tạo giữa cô và trẻ chứ không phải là những lời truyền đạt cứng nhắccủa cô Vì vậy trẻ nhớ lâu và nhớ được logic các kiến thức về các sự vật,hiện tượng xung quanh

Từ các khái niệm trên, chúng tôi hiểu khái niệm: “Dạy trẻ kể lại truyện

theo tranh: là hình thức giáo viên sử dụng tranh minh họa nội dung câu chuyện để giúp trẻ nhớ lại tác phẩm đã được làm quen, và dựa vào nội dung tranh để trẻ kể lại tác phẩm một cách sáng tạo, theo ngôn ngữ và cảm nhận của mình”.

Tranh là tài liệu quý giá, là phương tiện để trẻ phát triển lời nói mạchlạc Tranh minh họa cho trẻ phải thể những đặc điểm, chi tiết trọng tâm,bộc lộ nội dung tác phẩm Tranh minh họa để dạy trong tiết học không nênnhiều các tình tiết, hình ảnh Khi thể hiện tác phẩm cần được lựa chọn và xácđịnh một cách tóm tắt, khái quát để trẻ có thể tưởng tượng ra nội dung, tưtưởng tác phẩm Bằng những phương tiện biểu hiện, người họa sĩ làm nổibật lên

điểm sáng thẩm mỹ của tác phẩm, phải chú ý đến mối liên hệ nội tại trongcác bức tranh, duy trì nhịp điệu thể hiện Vì thế, tranh minh họa còn phải là

sự thống nhất giữa các hình ảnh và văn bản tác phẩm

Tranh minh họa cần có tỉ lệ phù hợp Tranh treo tường thường to hơntranh để bàn để cho trẻ quan sát Nên sử dụng tranh trong tiết học có tỉlệ

45cm x 60cm, sử dụng tranh trong một cuốn truyện: 20cm x 27cm hoặc15cm x 21cm

Trang 21

Hình ảnh trong tranh minh họa thường đơn giản, gần gũi, để trẻ dễ dàngnhận biết và dễ hiểu Màu sắc luôn tươi sáng, gợi cảm xúc nhằm hứngthú,

Trang 22

cuốn hút trẻ, nhưng cũng cần có điểm gây chú ý ấn tượng cho thị giác Do đặcđiểm: càng lớn trẻ càng quan tâm đến nội dung bức tranh, nên các bức tranhminh họa cần thể sự phong phú, đa dạng theo mức độ tăng dần Với trẻ 4-5tuổi, nội dung các bức tranh có thể sắp xếp theo mức độ khó tăng dần, nhằmphát triển khả năng tư duy của trẻ.

1.1.3.2 Đặc điểm của việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

Lã Thị Bắc Lý – Lê Thị Ánh Tuyết: “Nguyên tắc chung là trước khi tập cho

trẻ kể lại truyện và đọc thơ, cô phải giúp các em nắm được nội dung chính của tác phẩm; vẻ đẹp ngôn từ và thế giới hình ảnh đầy màu sắc, âm thanh trong tác phẩm; tạo không khí văn chương và chuẩn bị tâm thế cho trẻ

để trẻ có thể cảm thụ tác phẩm được tốt Chỉ có như thế thì trẻ mới có thể đọc, kể tác phẩm được một cách diễn cảm và có sự ghi nhớ những bài thơ, câu chuyện mới thực sự được sâu sắc và bền vững” [4, tr.62].

Cụ thể, để hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện theo tranh đạt hiệu quả, giáoviên cần thực hiện các nhiêm vụ sau:

Dạy trẻ biết quan sát và nhận xét các hình ảnh, các mối liên hệ giữa cáchình ảnh để hiểu nội dung tranh

Phát triển vốn từ tương ứng để thể hiện nội dung bức tranh, pháttriển vốn từ miêu tả các sự vật, hiện tượng, tích cực hóa vốn từ miêu tả(mở rộng và làm chính xác hóa vốn từ)

Giáo dục trẻ thái độ đúng đắn với nội dung bức tranh, phong cáchthể hiện phù hợp với nội dung tranh (màu sắc, bố cục, ngữ điệu, phong cáchthể hiện)

Giáo dục thẩm mỹ, hình thành năng lực cảm thụ cái đẹp

Phát triển kỹ năng diễn đạt nội dung bức tranh mạch lạc bằng ngôn ngữđộc thoại của trẻ

Trang 23

Khi dạy trẻ kể lại chuyện theo tranh phải giúp trẻ hoàn chỉnh câuchuyện để người nghe có thể hiểu được Trẻ phải xây dựng bố cục một cáchchặt chẽ, logic, đúng trình tự sự kiện Dạy trẻ tìm kiếm từ, tổ hợp từ để thểhiện tính cụ thể của hình ảnh Kể lại truyện theo tranh góp phần phát triển trínhớ, tư duy, rèn luyện tính độc lập, mạnh dạn tự tin cho trẻ Đồng thời

để trẻ mở rộng thêm vốn từ của mình, bởi khi chính mình được kể lại câuchuyện đó, trẻ sẽ có ấn tượng hơn và nhớ chính xác hơn

Việc dạy trẻ kể lại truyện là để trẻ tái hiện lại một cách mạch lạc, diễncảm tác phẩm văn học mà trẻ được nghe Trẻ sử dụng nội dung, hìnhthức ngôn ngữ đã có sẵn của tác giả và của giáo viên Tuy nhiên yêu cầu trẻkhông học thuộc lòng câu chuyện, kể bằng ngôn ngữ của chính mình, truyềnđạt nội dung câu chuyện một cách tự do thoải mái nhưng phải đảm bảo nộidung cốt truyện

Dạy trẻ kể lại truyện phải được tiến hành thường xuyên, có thể cho trẻ

kể lại theo các đoạn, cô kể các đoạn dẫn, cô cho trẻ kể lại các đoạn đối thoại.Khi dạy trẻ kể lại truyện, giáo viên cần có nhận xét, uốn nắn, thể hiện đúngtính cách của các nhân vật

1.1.3.3 Tác dụng của việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh với sự phát triển vốn từ của trẻ

Kể lại truyện theo tranh không chỉ là hình thức học tập mà còn là hoạtđộng giúp hình thành và phát triển các năng lực nhận thức, tình cảm, xúccảm thẩm mỹ cho trẻ Nhiệm vụ học được đưa vào tự nhiên, sinh động, tạo rahứng thú động cơ học tập, củng cố, khắc sâu những biểu tượng đã được hìnhthành, tạo cho trẻ ấn tượng mạnh mẽ về câu chuyện Đồng thời những chitiết, hình ảnh, sự kiện trong tranh thúc đẩy tư duy của trẻ, giúp trẻ xâuchuỗi lại theo một trình tự nhất định của câu chuyện mà trẻ đã được cô

Trang 24

giáo giới thiệu đến; từ đó trẻ có thể kể lại truyện một cách tự nhiên theongôn ngữ của mình.

Trang 25

Nếu chỉ đơn thuần là dạy trẻ kể lại truyện, không có bất kì phương tiện

hỗ trợ nào, đối với trẻ mẫu giáo nói chung cũng như trẻ MGN nói riêng, dễgây sự nhàm chán ở trẻ Trẻ khó hình dung, tưởng tượng ra hết nội dung câuchuyện, không hiểu được ý nghĩa của nó Việc trẻ kể lại truyện mà chỉ dựavào quá trình đàm thoại, giảng giải của cô sẽ khiến vốn từ của chúng chỉ nằmtrong phạm vi cô giáo đã nói đến, trẻ kể lại một cách dập khuôn, không có sựsáng tạo Nhưng đối với việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh, với phương tiện

là những bộ tranh hấp dẫn, sinh động, giúp trẻ ghi nhớ truyện tốt hơn Thôngqua các bức tranh, trẻ cố gắng tìm ra cách thể hiện câu chuyện từ cácbức tranh ấy để người khác hiểu Khi đó trẻ nói bằng ngôn của mình, giàuxúc cảm, tình cảm; vốn từ của trẻ được phát triển tự nhiên, không gò bó

áp đặt, sao chép từ cô giáo

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Điều tra, khảo sát những vấn đề chung

Quá trình điều tra nhằm mục đích tìm hiểu :

- Thực trạng trình độ đào tạo của giáo viên đang trực tiếp dạy trẻ MGN ởkhu Bầu - trường mầm non Kim Chung (Kim Chung – Đông Anh – Hà Nội)

- Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc giúp trẻ MGN phát triểnvốn từ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

- Thực trạng về việc dạy trẻ MGN kể lại truyện theo tranh

- Thực trạng về mức độ phát triển vốn từ của trẻ MGN thông qua dạy trẻ

kể lại truyện theo tranh

1.2.2 Đối tượng khảo sát

- Giáo viên dạy các lớp MGN khu Bầu – Trường mầm non Kim Chung

- Trẻ tại các lớp MGN khu Bầu – Trường mầm non Kim Chung

1.2.3 Thời gian khảo sát

Từ 10/02/2017 đến 20/03/2017

Trang 26

1.2.4 Phương pháp khảo sát

- Sử dụng phiếu điều tra

- Phương pháp quan sát, trò chuyện, trao đổi

- Dự giờ, giảng dạy tiết dạy trẻ kể lại truyện

- Dùng toán thống kê để xử lý dữ liệu

1.2.5 Phân tích kết quả điều tra, khảo sát

1.2.5.1 Thực trạng trình độ đào tạo của giáo viên trực tiếp dạy ở trường Mầm non được điều tra

+ Trình độ đào tạo:

- Giáo viên có trình độ đào tạo ĐHSP Mầm non là: 7

- Giáo viên có trình độ CĐSP Mầm non là: 11

- Giáo viên có trình độ TCSP Mầm non là: 2

- Sơ cấp Mầm non: Không có

- Chưa qua đào tạo: Không có

+ Thâm niên công tác:

Đa số các giáo viên có thâm niên lâu năm đều giảng dạy ở các lớp MGN

và MGL Đây là điều kiện thuận lợi trong việc tiếp thu học hỏi, cập nhậtnhững nội dung, phương pháp giảng dạy theo chương trình giáo dụcMầm non mới hiện nay Đặc biệt trong lĩnh vực phát triển vốn từ cho trẻthông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

Trang 27

1.2.5.2 Thực trạng trình độ nhận thức của giáo viên về việc phát vốn từ cho trẻ MGN qua việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh minh họa

Sau khi tổng hợp ý kiến về việc phát triển vốn từ cho trẻ MGNthông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh ở khu Bầu – trường mầmnon Kim Chung, chúng tôi nhận thấy: Vấn đề đổi mới phương pháp, đãđược giáo viên vận dụng và áp dụng đối với trẻ tương đối thành công Bêncạnh đó còn có sự tích hợp giữa nội dung các môn học, đem lại sựnhận thức đầy đủ cho trẻ Trẻ được trải nghiệm, khám phá trên thực tếcũng như trên lý thuyết bài dạy Kiến thức được gắn kết, xâu chuỗi thànhmột hệ thống mang tính thống nhất trong quá trình nhận thức của trẻ.Trong tất cả các hoạt động đều có thể phát triển vốn từ cho trẻ nhưngbằng biện pháp nào sẽ đem lại kết quả mong muốn thì vẫn chưa có đượctiếng nói chung

Khi hỏi về “Tầm quan trọng của việc phát triển vốn từ cho trẻ quaviệc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh tại trường Mầm non mà giáoviên đang công tác?”, thì 100% giáo viên cho là có Kết quả trên cho thấy,các giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triểnvốn từ cho trẻ Nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần quan tâm, và chú ý đếnviệc sử dụng nó sao cho đạt kết quả tốt nhất, giúp trẻ phát triển ngônngữ một cách toàn diện cũng như góp phần phát triển vốn từ cho trẻ

1.2.5.3 Thực trạng của việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

Hầu hết, các giáo viên dạy trẻ các câu chuyện có trong chương trìnhthông qua hình thức đọc, kể diễn cảm, giảng giải, trích dẫn nội dung câuchuyện cho trẻ nghe rồi cho trẻ đóng vai theo chủ đề, nội dung, các nhânvật có trong truyện Khi được hỏi về: “Những khó khăn cô (chị) gặp trongviệc phát triển vốn từ cho trẻ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theotranh?”,

Trang 28

75% giáo viên cho rằng: còn gặp phải nhiều vướng mắc trong việc tạo nênnhững bức tranh minh họa phù hợp, gần, sát với nội dung câu

chuyện,

Trang 29

việc làm này tốn nhiều thời gian, công sức Hơn nữa, việc tạo ranhững bức tranh minh họa còn gặp rất nhiều khó khăn vì rất ít cô có năngkhiếu môn mỹ thuật Phát triển vốn từ thông qua dạy trẻ kể lại truyệntheo tranh minh họa là một hình thức không khó, nhưng nó đòi hỏi giáoviên phải tỉ mỉ, cần cù và sáng tạo ra những bức tranh phù hợp với nộidung câu chuyện, màu sắc của các bức tranh phải đẹp, phong phú, thuhút và tạo hứng thú cho trẻ khi học.

Về câu hỏi: “Theo cô (chị) cần đề xuất những biện pháp nào giúptrẻ MGN phát triển vốn từ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh?”thì

80% giáo viên chưa đưa ra được biện pháp mới Các giáo viên cho rằng

sử dụng các phương pháp sau:

- Sử dụng phương pháp đàm thoại

- Sử dụng phương pháp độc thoại

1.2.5.4 Thực trạng về mức độ phát triển vốn từ của trẻ MGN

thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

Từ kết quả điều tra cho thấy, khi cô giáo sử dụng tranh trongtiết học dạy trẻ kể lại truyện đã thu hút được trẻ tham gia hưởng ứnghoạt động cùng cô Với những hình ảnh sinh động, trẻ luôn hào hứng, tò

mò, chăm chú Cách trẻ trả lời các câu hỏi đàm thoại của cô giúp trẻ nhớđược nội dung truyện Tuy nhiên hiệu quả của việc phát triển vốn từ chotrẻ khi dùng tranh trong dạy trẻ kể lại truyện đạt ở mức độ chưa cao.Cách diễn đạt của trẻ còn gặp nhiều khó khăn

Trang 30

BẢNG THỐNG KÊ KHẢ NĂNG VÀ MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CỦA TRẺ MGN QUA HOẠT ĐỘNG DẠY TRẺ KỂ LẠI

TRUYỆN THEO TRANH

(Khu Bầu – Trường mầm non Kim Chung)

1.2.6 Nhận xét từ điều tra, khảo sát

Theo thông tư số 17/2009/TT – BGDĐ ngày 25/7/2009, “Ban hànhchương trình giáo dục mầm non”, kết hợp cùng với Thông tư số 28/2016/TT –BGDĐT ngày 30/12/2016 về “Sửa đổi”, “bổ sung” một số nội dung củachương trình giáo dục mầm non ban hành kèm theo thông tư số 17/2009/TT– BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT; đối với lứatuổi MGN:

Trang 31

- Mục tiêu phát triển ngôn ngữ:

Có khả năng lắng nghe, hiểu lời nói trong giao tiếp

Có khả năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ,…)

Có khả năng diễn đạt rõ ràng và giao tiếp có văn hóa trong cuộc sốnghàng ngày

Có một số kỹ năng ban đầu về đọc và viết

- Nội dung thực hiện chương trình giáo dục phát triển ngôn

ngữ: Nghe

Nghe các từ chỉ người, sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất, hoạt động và các từ biểu cảm, từ khái quát

Nghe lời nói trong giao tiếp hàng ngày

Nghe kể chuyện, đọc thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với lứa

tuổi Nói

Phát âm rõ các tiếng trong Tiếng Việt

Bày tỏ nhu cầu, tình cảm và hiểu biết của bản thân bằng các loại câu khác nhau

Sử dụng đúng từ ngữ và câu trong giao tiếp hằng ngày Trả lời và đặt câu hỏi

Đọc thơ, cao dao, đồng dao và kể chuyện

Lễ phép, chủ động và tự tin trong giao tiếp

Làm quen với việc đọc, viết

Làm quen với cách sử dụng sách, bút

Làm quen với một số kí hiệu thông thường trong cuộc sống hàng ngày.Làm quen với chữ viết, với cách đọc sách

Trang 32

Cụ thể: Độ tuổi MGN (4-5 tuổi)

viếtHiểu được các từ chỉ Phát âm các Làm quen với mộtđặc điểm, tính chất, tiếng có chứa các số kí hiệu thôngcông dụng và các từ âm khó thường trong cuôc

lối ra, nơi nguyhiểm, giao thông:đường cho người đibộ)

Hiểu và làm theo Bày tỏ tình Nhận dạng một số

chữ cáiđược 2, 3 yêu cầu cảm, nhu cầu và

hiểu biết của bảnthân bằng các câuđơn, câu ghép

Nghe, hiểu nội dung Trả lời và đặt

các câu hỏi: ai? cáigì? ở đâu? khi nào?

để làm gì?

Tập tô, tập đồcác nét chữ

câu đơn, câu mở

rộng, câu phức

Nghe các bài hát, Sử dụng các từ biểu

thị sự lễ phép

Xem và nghe đọcbài thơ, ca dao,

đồng dao, tục ngữ,

câu đố,

các loại sách khác nhau

Làm quen với cáchđọc và viết TiếngViệt:

Hướng đọc, viết: từ

24

Trang 33

trái sang phải, từdòng trên xuốngdòng dưới

Hướng viết của cácnét chữ; đọc ngắtnghỉ sau các dấuPhân biệt phần mởđầu, kết thúc củasách

Đọc “truyện” quatranh vẽ

Giữ gìn, bảo

vệ sách

đã

- Kết quả mong đợi:

Nghe hiểu lời nói Sử dụng lời nói Làm quen với việc

đọc, viếttrong cuộc sống

hàng ngàyThực hiện được 2, 3 Nói rõ để người Chọn sách để xemyêu cầu liên tiếp, ví nghe có thể hiểu Mô tả hành động

25

Trang 34

dụ: “Cháu hãy lấy được của các nhân vậthình tròn màu đỏ trong tranh

gắn vào bông hoa

màu vàng”

Hiểu nghĩa từ khái Sử dụng được các từ Cầm sách đúngquát: rau quả, con chỉ sự vật, hoạt chiều và giở từngvật, đồ gỗ,… động, đặc điểm, … tranh để xem tranh

ảnh “Đọc” sáchtheo tranh minh họa(Đọc vẹt)

Lắng nghe và trao Sử dụng được các Nhận ra kí hiệuđổi với người đối loại câu đơn, câu thông thường trongthoại ghép, câu khẳng cuộc sống: nhà vệ

định, câu phủ định sinh, cấm lửa, nơi

Đọc thuộc bài thơ,

ca dao, đồng dao, …

Kể chuyện có mởđầu, kết thúc

Bắt trước giọng nói,điệu bộ của nhân vật trong truyện

26

Trang 35

Sử dụng các từ nhưmời cô, mời bạn,cảm ơn, xin lỗi trong giao tiếp

Điều chỉnh giọng nóiphù hợp với hoàn cảnhkhi được nhắc nhở

Trong thời gian thực tập tại lớp MGN B1 - khu Bầu – trường mầmnon Kim Chung; qua tiếp xúc với trẻ, được tham gia vào các hoạt động họccủa lớp MGN B1 và hai lớp bên cạnh MGN B2 và MGN B3, đặc biệt là giờ dạytrẻ kể lại truyện, cũng như được trao đổi với giáo viên các lớp Nhận thấyrằng, là một giáo viên mầm non, các cô giáo luôn đặt ra câu hỏi “Mình phảilàm gì và dạy như thế nào để các cháu trong lớp đều ham thích với hoạt độnglàm quen với tác phẩm văn học?”, trong đó có đề tài dạy trẻ kể lạitruyện Việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh được các cô cho rằng không khónhưng cũng không phải là dễ để đưa vào tiết học

Cái “dễ” là việc sử dụng tranh trong tiết học và để dạy trẻ kể lạitruyện sẽ thu hút được các cháu hứng thú tham gia hoạt động Bởi trẻ luônthích quan sát những hình ảnh trong các bức tranh minh họa; không nhữngvậy các chi tiết trong tranh sẽ gợi nhớ cho trẻ, giúp trẻ nhớ ra được tình tiết,diễn biến nội dung truyện Nhưng cái “khó” mà các cô giáo nhận thấy đó là:đối với những câu chuyện có độ dài ở mức độ vừa và dài thì tranh minhhọa thường nhiều chi tiết; nếu là bộ tranh, thường có nhiều tranh, sẽ khiếntrẻ dễ bị rối

Việc giáo viên thấy được tầm quan trọng của việc sử dụng tranh khidạy trẻ kể lại truyện đối với sự phát triển vốn từ cho trẻ sẽ thúc đẩyngười giáo viên tìm ra biện pháp phù hợp với thực tế để dạy trẻ

Trang 36

Thực tế việc dạy trẻ MGN kể lại truyện theo tranh hiện nay, do chưahiểu thật đầy đủ cơ sở khoa học, do chương trình còn chưa hướng dẫnmột cách cụ thể nên giáo viên thực hiện dạng thức tiết học này còn theochiều

hướng tự do, dẫn đến hiệu quả chưa cao Chưa đáp ứng được yêu cầu và mụcđích giáo dục Vấn đề nắm vững phương pháp, biện pháp thực hiện có cơ sởkhoa học trở nên là một vấn đề quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục

Về giáo viên:

Có những cô giáo có trình độ sư phạm, năng lực chuyên môn vữngvàng và luôn được sự tin tưởng tín nhiệm của các bậc phụ huynh Các cô đãchú ý đến việc soạn giáo án cho tiết dạy; chú ý đến khả năng kể chuyệncho trẻ nghe, phát triển vốn từ cho trẻ; biết cách gây hứng thú cho trẻ; các

cô đã thực hiện tích hợp các môn học khác vào giờ học Nhưng bên cạnh đó

có những giáo viên tuy nắm được phương pháp, song dạy trẻ giọng kể chưachuẩn, chưa thật sự truyền cảm đối với trẻ; chưa sáng tạo, tích hợp, lồngghép truyện vào các hoạt động khác Khi cô sử dụng biện pháp đàm thoại thìnhững câu hỏi mà cô đặt ra có câu đơn giản quá, có câu lại quá sức của trẻ

Về trẻ:

Một số trẻ đã biết thực hiện nhiệm vụ học tập của mình, biết chú

ý nghe cô kể chuyện và nghe bạn trả lời câu hỏi của cô; trẻ đã chú ý và trảlời các câu hỏi; trẻ khá hứng thú trong tiết học, chúng tập trung hơn khi được

cô giáo lồng ghép tranh trong câu chuyện, khiến chúng có thể ghi dần nhớcác tình tiết, nội dung truyện dễ dàng hơn Một phần trong số trẻ chưa chú ývào tiết học, khả năng trả lời còn kém: chưa nói đủ câu, còn e dè, chưa tự tin,câu nói ngược với suy nghĩ, không đúng giọng điệu câu chuyện,…

Trang 37

Tiểu kết

Trong chương này, tôi đề cập đến vấn đề cơ sở và lí luận về việcphát triển vốn từ cho trẻ MGN thông qua dạy trẻ kể lại truyện theotranh Việc giúp trẻ phát triển vốn từ của mình phụ thuộc vào nhiều yếu

tố như yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan Yếu tố khách quan: điềukiện môi cơ sở vật chất nhà trường, trình độ giảng dạy của giáo viên Yếu

tố chủ quan như: nhận thức, tư duy, đặc điểm tâm lý của trẻ Tốc độphát triển của trẻ khác nhau nên việc phát triển vốn từ cho trẻ qua dạytrẻ kể lại truyện theo tranh minh họa không đồng đều

Việc phát triển vốn từ cho trẻ được tiến hành mọi lúc, mọi nơi,được tích hợp trong các giờ học khác nhau, trong các hoạt độngkhác nhau, như hoạt động học, chơi, các hoạt động góc, hoạt động ngoàitrời… giúp trẻ phát triển vốn từ của mình một cách tốt nhất

Kết quả điều tra thực trạng cho chúng ta thấy, việc sử dụng cácbiện pháp nhằm phát triển vốn từ cho trẻ qua dạy trẻ kể lại truyện theotranh, chưa được các giáo viên chú trọng tới

Phân tích kết quả điều tra để xây dựng nên những biện phápphù hợp và tốt nhất để phát triển vốn từ cho trẻ thông qua dạy trẻ kể lạitruyện theo tranh

Ngày đăng: 06/01/2020, 12:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hà Nguyễn Kim Giang, 2002, Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học– Một số vấn đề lí luận và thực tiễn
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
2. Hà Nguyễn Kim Giang, 2009, Phương pháp tổ chức hoạt động làm quen với tác phẩm văn học, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tổ chức hoạt động làmquen với tác phẩm văn học
Nhà XB: NXBGD
3. Hoàng Thị Oanh – Phạm Thị Việt –Nguyễn Kim Đức, 2000, Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi, NXB Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phươngpháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
4. Lã Thị Bắc Lý – Lê Thị Ánh Tuyết, 2009, Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn học, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp cho trẻ mầmnon làm quen với tác phẩm văn học
Nhà XB: NXBGD
5. Lã Thị Bắc Lý, 2014, Văn học trẻ em, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học trẻ em
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
6. Lê Thị Kỳ - Nguyễn Thế Dũng - Lê Kim Thanh, 2007, Tiếng Việt – Văn học và phương pháp phát triển cho trẻ dưới 6 tuổi, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – Vănhọc và phương pháp phát triển cho trẻ dưới 6 tuổi
Nhà XB: NXB Hà Nội
7. Nguyễn Bích Thủy – Nguyễn Thị Anh Thư, 2005, Tâm lí học trẻ em lưa tuổi mầm non, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học trẻ emlưa tuổi mầm non
Nhà XB: NXB Hà Nội
8. Nguyễn Thị Ánh Tuyết – Nguyễn Thị Như Mai – Đinh Thị Kim Thoa, 2005, Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
9. Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Phạm Thị Việt, 2006, Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, NXB Đại hoc quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp chotrẻ làm quen với tác phẩm văn học
Nhà XB: NXB Đại hoc quốc gia
10. Phạm Thị Hồng Yến, 2005, Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi kể chuyện theo tranh - Luận văn Thạc sỹ khoa học gáo dục (Giáo dục mầm non), Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 4-5tuổi kể chuyện theo tranh - Luận văn Thạc sỹ khoa học gáo dục (Giáo dụcmầm non)
11. Phạm Thu Yến (Ch.b), 2005, Văn học dân gian, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian
Nhà XB: NXB Đại học Sưphạm Hà Nội
12. Phan Thiều, 1973, Dạy nói cho trẻ trước tuổi cấp I, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy nói cho trẻ trước tuổi cấp I
Nhà XB: NXBGD
13. Trịnh Thị Hà Bắc, 2001, Lí luận và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em, NXB Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và phương pháp phát triển ngônngữ cho trẻ em
Nhà XB: NXB Đại học Huế

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w