Còn với ông Đ.B.Enconhin cho rằng,nhu cầu và sự ham hiểu biết về thế giới xung quanh chính là nguồn gốc, động lựcgiúp trẻ tích cực hoạt động trong trò chơi.Một số nghiên cứu về trò chơi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
=============
VŨ THỊ LỤA
XÂY DỰNG HỆ THỐNG TRÒ CHƠI PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 4 - 5
TUỔI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ
Người hướng dẫn khoa học:
TS Lê Thị Lan Anh
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và các thầy cô giáo trong tổ bộ mônphương pháp phát triển ngôn ngữ đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường
và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo - TS Lê Thị Lan Anh
- người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế.Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn để đề tàiđược hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Vũ Thị Lụa
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu vàkết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài chưa được công bố trong bất
cứ một công trình khoa học nào khác
Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Vũ Thị Lụa
MỤC LỤC
Trang 4Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG TRÒ CHƠI
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI 51.1 Cơ sở lí luận về xây dựng trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi
5
1.1.1 Các khái niệm 51.1.2 Phân loại trò chơi 101.1.3 Ý nghĩa của trò chơi học tập đối với sự phát triển vốn từ của trẻ 4 - 5
Trang 51.1.9 Phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi 21
1.2 Thực trạng việc sử dụng trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non
261.2.1 Khái quát khảo sát thực trạng 26
1.2.2 Phân tích kết quả khảo sát thực trạng 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……….31Chương 2 HỆ THỐNG TRÒ CHƠI PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ
Trang 64 - 5 TUỔI 322.1 Nguyên tắc khi xây dựng trò chơi cho
3.4.2 Ý kiến của giáo viên 70
3.5 Giáo án thể
nghiệm 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94
Trang 7KẾT LUẬN 95TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người tương lai của đất nước.
Theo chương trình giáo dục Mầm non ở Việt Nam, phát triển cho trẻ là pháttriển ở tất cả các mặt: nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, tình cảm - xã hội và thẩm mỹ.Trong đó phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất.Trong công tác giáo dục Mầm non cho đất nước, chúng ta thấy ngôn ngữ đã gópphần đào tạo các cháu trở thành những con người phát triển toàn diện Mặt khác,ngôn ngữ là một hiện tượng lịch sử xã hội, ngôn ngữ lời nói có vai trò to lớn trongđời sống tâm lí con người, nó là phương tiện quan trọng để trẻ lĩnh hội nền văn hóadân tộc, để giao lưu với những người xung quanh, để tư duy, để tiếp thu khoa học,
để bồi dưỡng tâm lí Vì vậy, việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là cần thiết
và vô cùng quan trọng Và một trong những nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻđược chúng ta chú trọng, đó là phát triển vốn từ
Từ vựng là một yếu tố vô cùng quan trọng trong sự phát triển của trẻ, đặc biệt
là kĩ năng nói Việc có một vốn từ vựng phong phú sẽ giúp ích cho trẻ rất nhiều Vìtrẻ luôn tự nắm bắt những gì mà trẻ nghe được từ mọi người xung quanh trong môitrường sống trực tiếp của trẻ Khi trẻ có một vốn từ vựng phong phú thì trẻ sẽ nóitốt hơn và có khuynh hướng học tốt hơn những trẻ cùng lứa có vốn từ hạn hẹp Vàvới vốn từ đã có, trẻ có thể tự bày tỏ cảm xúc, cảm nghĩ của bản thân với mọi ngườixung quanh một cách hiệu quả Từ đó nâng cao khả năng giao tiếp của trẻ
Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non, vì trẻ lứa tuổi này học màchơi, chơi mà học Hoạt động vui chơi có ảnh hưởng lớn đến các mặt phát triển củatrẻ Trò chơi là một phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ và được giáo viên sửdụng nhiều trong quá trình dạy học Khi tham gia vào trò chơi, trẻ sẽ được lĩnh hội
Trang 9ở cả hai mặt vui chơi và nhận thức Chơi đối với trẻ không chỉ đơn thuần là giải trí,thư giãn, mà nó còn liên quan đến việc phát triển ngôn ngữ và trí tuệ; trẻ sẽ vừađược chơi vừa được lĩnh hội kiến thức có trong trò chơi mà không cảm thấy bị gò
bó, căng thẳng Trẻ được phát triển ngôn ngữ, được sử dụng vốn từ ngữ đã biết củamình để thể hiện cảm xúc, thái độ của mình một cách tự nhiên nhất trong quá trìnhchơi Vì vậy, việc phát triển vốn từ thông qua trò chơi là hết sức quan trọng và cầnđược chú trọng ở trường mầm non
Hiện nay, ở các trường mầm non, việc sử dụng trò chơi trong dạy học rất phổbiến Tuy nhiên thường thì các trò chơi sẽ được sử dụng cho các hoạt động học nhưhoạt động làm quen với môi trường xung quanh, hoạt động làm quen với các biểutượng toán, hoạt động tạo hình,… Còn ở hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ cònrất hạn chế Và trò chơi kích thích sự phát triển vốn từ của trẻ cũng vậy, nó còn khá
ít, thường thì công việc phát triển vốn từ chỉ được thực hiện khi cô trao đổi với trẻhoặc thông qua các cuộc đối thoại giữa trẻ với người lớn Trong khi đối với trẻ ở lứatuổi mẫu giáo, công việc phát triển vốn từ là một việc hết sức quan trọng và đángđược quan tâm ở trường mầm non
Trẻ thơ như một tờ giấy trắng, những gì ta viết lên đó có ảnh hưởng rất lớnđến cuộc sống của trẻ Bản thân là một sinh viên sư phạm ngành Giáo dục Mầmnon, là một cô giáo mầm non tương lai tôi luôn trăn trở về những gì mình sẽ viết lênnhững tờ giấy trắng tinh khôi ấy, làm thế nào để trẻ có thể phát triển tốt nhất Vàđiều mà tôi quan tâm đầu tiên là sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “Xây dựng
hệ thống trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi”.
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình hình thành vàphát triển của loài người nói chung và của trẻ em nói riêng Do đó, trên thế giới đã
có rất nhiều tác giả nghiên cứu về ngôn ngữ và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Tuynhiên, mỗi tác giả đều nghiên cứu chuyên sâu ở một lĩnh vực khác nhau Nhưng cóthể nói rằng khi nghiên cứu về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo, các tác giả
Trang 10đều nghiên cứu đến đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ, hình thức phát triển ngôn ngữ và các phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Có nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ thôngqua trò chơi
Việc sử dụng trò chơi trong dạy học không phải là vấn đề mới được đặt ra màngay từ đầu thế kỉ XX, nhà tâm lí học Thụy Sỹ J Paget đã rất quan tâm đến phươngpháp này “thông qua hoạt động vui chơi để tiến hành hoạt động học tập”
Trong cuốn Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học sư phạm 2007,
Nguyễn Ánh Tuyết đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của trò chơi với sự phát triển củatrẻ mầm non, mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề
Đồng tác giả Trần Hòa Bình và Bùi Lương Việt, trong cuốn Trò chơi dân gian trẻ em, NXB Giáo dục 2007 cho rằng văn hóa truyền thống của bất kì dân tộc nào
cũng có một bộ phận hợp thành đó là những trò chơi dân gian Và theo tác giả, tròchơi dân gian đặc biệt gần gũi với trẻ em, trong cuốn sách này, tác giả đã sưu tầmđược gần 80 trò chơi dân gian trẻ em và có hướng dẫn cách thức tổ chức trò chơi
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, qua cuốn Giáo dục mầm non - những vấn đề lí luận và thực tiễn, đã đưa ra nhận định của mình về hoạt động vui chơi, trò chơi và
trò chơi dân gian; những đặc điểm, vai trò của trò chơi dân gian đối với sự pháttriển của trẻ
Như vậy, các nhà nghiên cứu đã rất quan tâm tới trẻ em và dày công nghiêncứu những ảnh hưởng của trò chơi đối với trẻ Tuy nhiên, xét về cơ bản chưa cócông trình nào đi sâu nghiên cứu về hệ thống trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ Vì
vậy, chúng tôi có thể khẳng định đề tài “ Xây dựng hệ thống trò chơi phát triển
vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi” là một đề tài mới mẻ và có khả năng khơi nguồn cho
chiều hướng nghiên cứu mới
3 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng được hệ thống trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi
- Phạm vi: Trong khuôn khổ khóa luận, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc nghiêncứu trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi
Trang 115 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
- Đề xuất hệ thống trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi
- Thể nghiệm sư phạm
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong khóa luận chúng tôi sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp thống kê toán học
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của khóa luận gồm 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn về xây dựng trò chơi phát triển vốn từcho trẻ 4 - 5 tuổi
- Chương 2 Hệ thống trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi
- Chương 3 Thể nghiệm sư phạm
Trang 12Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG TRÒ CHƠI
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI 1.1 Cơ sở lí luận về xây dựng trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi
1.1.1 Các khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ
Ngôn ngữ chỉ sinh ra và phát triển trong xã hội loài người, có ngôn ngữ và khảnăng sử dụng ngôn ngữ là đặc trưng quan trọng để phân biệt con người và động vật
Nó là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của các thành viên trong xã hội loàingười, nhờ có ngôn ngữ con người có thể trao đổi cho nhau những hiểu biết vàtruyền tải kinh nghiệm Trong giao tiếp, người nói và người nghe hiểu được nhau làbởi vì giữa họ có một cái chung Cái chung đó bao gồm các từ, âm thanh, các môhình tạo câu, các thành phần của câu, các quy tắc hoạt động, sử dụng… Cái chung
đó chính là ngôn ngữ
Ngôn ngữ mang tính xã hội, ngôn ngữ không chỉ tồn tại cho riêng một cánhân, một người nào đó mà cho cả cộng đồng Ngôn ngữ chính là phương tiện giaotiếp và là công cụ tư duy của con người Dưới góc độ xã hội học, ngôn ngữ còn làmột hiện tượng xã hội đặc biệt bởi nó không phụ thuộc vào kiến trúc thượng tầngnào cho nên khi cơ sở hạ tầng nào đó bị phá vỡ kéo theo sự sụp đổ của kiến trúcthượng tầng tương ứng nhưng ngôn ngữ vẫn là nó Mặt khác, ngôn ngữ không mangtính giai cấp, nó ứng xử bình đẳng với mọi người trong xã hội Ngôn ngữ giúp conngười giao tiếp trong mọi hoạt động, giúp con người biểu lộ cảm xúc, bày tỏnguyện vọng của mình với người khác Các nhà tâm lí học cũng cho rằng ngôn ngữ
là một quá trình tâm lí, “Ngôn ngữ là con người sử dụng thực tiễn tiếng nói để giaotiếp với người khác”, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp giữa các thànhviên trong cùng một thế hệ, cùng sống một thời kì, mà còn là phương tiện giao tiếpgiữa các thế hệ, là phương tiện để con người truyền đi những thông điệp cho các thế
hệ tương lai Do đó, chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với
xã hội của loài người
Dưới góc độ của các nhà sinh lí học, ngôn ngữ là tín hiệu của hệ thống tín hiệu
Trang 13thứ hai, hệ thống các đường liên hệ tạm thời, là cơ sở cho tư duy trừu tượng (Theothuyết phản xạ của Paplốp) Còn đối với các nhà ngôn ngữ học, ngôn ngữ là một hệthống bao gồm các bộ phận: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp.
V.Lênin cũng đã viết: “Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng.Giao tiếp là một đặc trưng quan trọng của con người Ngôn ngữ là phương tiện giaotiếp quan trọng nhất” Ngôn ngữ còn giúp con người tích lũy kiên thức, phát triển tưduy, giúp con người giao tiếp được với mọi người xung quanh, là phương tiện giúpcon người điều chỉnh, lĩnh hội những giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực Nhờ cóngôn ngữ mà con người mới có thể hiểu nhau hơn và cùng chung sống, hòa nhậpvới nhau như một gia đình
Như vậy, ngôn ngữ là một hệ thống dấu hiệu đặc biệt, được dùng làm phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và là phương tiện tư duy của con người.
1.1.1.2 Khái niệm trò chơi
Vui chơi là một hoạt động lí thú nhưng cũng rất phức tạp Các nhà khoa học
đã có quan niệm khác nhau về trò chơi của trẻ em lứa tuổi mầm non
Trong từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1992, chữ “trò” được hiểu là một hìnhthức mua vui bày ra trước mặt mọi người Chữ “chơi” là một từ chung để chỉ cáchoạt động lúc nhàn rỗi, ngoài giờ làm việc nhằm mục đích giải trí là chính Từ đó,trò chơi được hiểu là những hoạt động làm thỏa mãn những nhu cầu của con người,trước hết là vui chơi, giải trí
Nhà tâm lí học Thụy Sĩ G.Piaget coi trò chơi là một trong những hoạt động trítuệ của trẻ, tạo ra sự thích nghi của trẻ với môi trường Theo ông, sự thích nghi thựcchất là sự thiết lập mối cân bằng giữa cơ thể với môi trường Sự cân bằng này diễn
ra trong quá trình đồng hóa và điều ứng Còn với bác sĩ người Áo S.Freud đã chorằng trò chơi là sự giải tỏa những dồn nén, đem lại cho con người những hứng khởi,
bù đắp những thiếu hụt, khiếm khuyết
Các nhà tâm lí học, giáo dục học Macxit coi trò chơi như là một hoạt động đặctrưng của xã hội loài người, phản ánh cuộc sống lao động, sinh hoạt của con người.Trò chơi của trẻ em không có nguồn gốc sinh học mà có nguồn gốc xã hội, được
Trang 14truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua con đường giáo dục TheoG.V.Plêkhanov, trò chơi là cầu nối các thế hệ với nhau, là phương tiện chuyển tảithành tựu văn hóa từ đời này sang đời khác Còn với ông Đ.B.Enconhin cho rằng,nhu cầu và sự ham hiểu biết về thế giới xung quanh chính là nguồn gốc, động lựcgiúp trẻ tích cực hoạt động trong trò chơi.
Một số nghiên cứu về trò chơi của các nhà tâm lí học, giáo dục học phươngTây như Vallon, N.Khrixtencer… cũng chỉ ra rằng, trò chơi của trẻ là sự phản ánhcuộc sống, là hoạt động của chúng được quy định bởi những điều kiện xã hội Trẻnhắc lại những ấn tượng đã được trải nghiệm vào trò chơi một cách có chọn lọc.Theo họ, trò chơi không phải là bất biến, nó phản ánh hiện thực xã hội luôn vậnđộng và phát triển
Theo thuyết Sức dư thừa, Ph.Siller và được G Spencer phát triển : “Trò chơi
là sự bắt chước các hoạt động thực của bản thân và người lớn”[6, 212]
Theo thuyết Trò chơi trị liệu Arian Sumo Seipt trình bày trong cuốn “Niềm
hạnh phúc của con bạn”: Trò chơi là phương tiện để làm bình thường hóa các quan
hệ của đứa trẻ với thực tế xung quanh, xua tan đi những nỗi bực tức, bướng bỉnh.Trò chơi có thể giúp đứa trẻ loại bỏ khỏi nhân cách một loạt những điểm yếu nhưtính nhõng nhẽo, ích kỉ [6, 216]
Như vậy, trò chơi trẻ em là một hoạt động tâm lí, có cấu trúc và cách thức hành động đặc thù, trong đó trẻ phản ánh tích cực, sáng tạo các sự vật, hiện tượng trong môi trường xung quanh thông qua việc vận dụng tri thức, kinh nghiệm đã lĩnh hội được một cách độc đáo, tự nguyện và tự do Qua đó, đem lại sự phát triển những nét tâm lí cơ bản và nhân cách toàn diện.
1.1.1.3 Khái niệm trò chơi học tập
Mỗi dạng trò chơi ở mẫu giáo có sắc thái nhất định và có tác dụng nhất địnhđối với sự hình thành và phát triển tâm lí - nhân cách Sự phân biệt ý nghĩa, tácdụng của mỗi loại trò chơi đối với sự phát triển tâm lí - nhân cách của trẻ chỉ mangtính tương đối Nhìn chung, mọi trò chơi đều hướng đến sự phát triển của trẻ Tuynhiên, mỗi trò chơi có một thế mạnh riêng Theo Nguyễn Ánh Tuyết: “Trò chơi là
Trang 15phương tiện để trẻ học làm người” Đúng vậy, mọi trò chơi ở trẻ mẫu giáo đều diễn
ra sự học Song mỗi trò chơi giúp trẻ học một kiểu
Trò chơi học tập thực chất là một trò chơi có định hướng đối với sự phát triểntrí tuệ của trẻ mẫu giáo.Theo E.I.Chikhieva “Trò chơi đó được gọi là trò chơi họctập hay trò chơi dạy học là vì trò chơi đó gắn liền với một mục đích dạy học nhấtđịnh và đòi hỏi cần phải có tài liệu dạy học phù hợp kèm theo” CònP.G.Xamarucova cho rằng, loại trò chơi được xem là trò chơi học tập “đó là nhữngtrò chơi có nhiệm vụ chủ yếu là giáo dục và phát triển trí tuệ cho trẻ em”
Từ những điều trên, các nhà nghiên cứu về trò chơi, đặc biệt là về sự phân loại
về trò chơi của trẻ em mẫu giáo cho phép chúng tôi khẳng định, trò chơi học tập thuộc nhóm trò chơi có luật, thường do người lớn nghĩ ra cho trẻ chơi và dùng nó vào mục đích giáo dục và dạy học, hướng tới việc phát triển hoạt động trí tuệ cho trẻ.
1.1.1.4 Khái niệm trò chơi dân gian
Trò chơi dân gian là một lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa quantâm Họ nghiên cứu trò chơi dân gian dưới nhiều góc độ khác nhau: xã hội, sinh học,văn hóa, nhưng lại chưa thống nhất để đưa ra cho trò chơi dân gian một định nghĩachung mà chỉ thống nhất về nguồn gốc xuất xứ và đặc điểm của trò chơi dân gian
Hai tác giả Trần Hòa Bình và Bùi Lương Việt trình bày trong cuốn Trò chơi dân gian trẻ em: “Nền văn hóa truyền thống của dân tộc nào cũng có một bộ phận hợp thành, đó là những trò chơi dân gian Những trò chơi này không chỉ xuất hiện trong những lễ hội đặc trưng mà còn diễn ra thường xuyên trong đời sống sinh hoạt của từng cộng đồng” Giống như nhiều dân tộc khác trên thế giới, dân tộc Việt Nam
cũng có những những trò chơi dân gian của mình Nó xuất hiện cùng với lao động
và sau lao động, vì nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí được nảy sinh từ trong laođộng Đồng thời những trò chơi dân gian này đã thể hiện rõ nét ước muốn của cảcộng đồng dân cư đối với kết quả lao động
Ngược dòng thời gian và tìm về với lịch sử, chúng tôi thấy: mọi cuộc vui hóatrang, nhảy múa của người xưa đều là những trò chơi mô phỏng hoạt động sản xuất,những hành vi ứng xử của con người với thiên nhiên và xã hội trong đời sống sinh
Trang 16hoạt hằng ngày Nếu như lao động nhằm mục đích duy trì cuộc sống thì trò chơi bổsung cho lao động để tạo nên lòng tin, ước vọng của con người vào cuộc sống vàkết quả lao động của họ Ý nghĩa này của trò chơi nói chung và của trò chơi dângian nói riêng vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay.
Vậy theo chúng tôi, trò chơi dân gian là những trò chơi có nguồn gốc từ trong lao động sản xuất, từ nhu cầu vui chơi giải trí và từ những ước vọng của con người Qua đó, trò chơi dân gian mô phỏng lại những hoạt động sản xuất, hành vi ứng xử của con người trong đời sống sinh hoạt hằng ngày Nó phản ánh những mối quan
hệ giữa con người với thiên nhiên, với xã hội và giữa những con người với nhau 1.1.1.5 Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề
Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo Trẻ rất hứng thú khi đượctham gia vào trò chơi Và điển hình là trò chơi đóng vai theo chủ đề
Khi tham gia vào trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ được thỏa mãn nguyệnvọng là sống và hoạt động như người lớn Trò chơi này mô phỏng lại hoạt động laođộng của người lớn và những mối quan hệ qua lại giữa họ trong xã hội Chẳng hạntrò chơi “bệnh viện” mô phỏng mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân Trong tròchơi, lần đầu tiên những mối quan hệ giữa người với người được thể hiện một cáchkhách quan trước đứa trẻ Qua trò chơi, trẻ hiểu mỗi người trong xã hội đều cónghĩa vụ và quyền lợi của mình
Bách khoa toàn thư mở cũng định nghĩa: “Trò chơi phân vai (Role playinggame - RPG) là một nhóm lớn các trò chơi, trong đó người chơi hóa thân thành cácnhân vật trong một hoàn cảnh hư cấu” Người chơi diễn xuất bằng lời hay văn bản,hoặc bằng cách ra quyết định theo một cấu trúc đã được định sẵn để phát triển nhânvật hay một tình tiết các hành động của người chơi có thể hoặc không tuân theo một
hệ thống các quy định và hướng dẫn
Theo diễn đàn hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em: “Trò chơi phân vai là mộthoạt động tự nhiên dành cho những đứa trẻ thích thú với môi trường xung quanhgần gũi của chúng, con người trong cuộc sống và đối tượng mà đứa trẻ tiếp xúchàng ngày”
Như vậy, trò chơi đóng vai theo chủ đề là mô hình quan hệ xã hội của người
Trang 17lớn và là phương tiện định hướng cho trẻ vào mối quan hệ đó Hay nói cách khác, trò chơi đóng vai theo chủ đề là trẻ ướm thử vào vị trí của người nào đó và bắt chước hành động của người đó.
1.1.2 Phân loại trò chơi
Trò chơi cho trẻ em là một lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.Nhưng hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất nào về việc phân loại các trò chơi
Lấy thời gian làm tiêu chí phân loại thì có thể chia thành 2 loại:
Thứ nhất là trò chơi dân gian cổ truyền như đánh truyền, ô ăn quan, lộn cầu vồng…
Thứ hai là trò chơi hiện đại như đá bóng, ném bóng, cờ vua…
Theo quan điểm của Liên Xô (cũ), trò chơi của trẻ mẫu giáo được phân loại thành hai nhóm chính:
Nhóm 1: Nhóm trò chơi sáng tạo bao gồm:
- Trò chơi đóng vai theo chủ đề
- Trò chơi với các vật liệu tự nhiên
- Trò chơi với tranh ảnh
- Trò chơi dùng lời
Thứ hai, trò chơi vận động
Thứ ba, trò chơi sáng tạo
Trong khuôn khổ khóa luận nghiên cứu về những trò chơi phát triển vốn từcho trẻ, chúng tôi phân loại trò chơi thành những loại sau:
- Trò chơi học tập
Trang 18- Trò chơi đóng vai theo chủ đề
- Trò chơi dân gian
1.1.3 Ý nghĩa của trò chơi học tập đối với sự phát triển vốn từ của trẻ 4 - 5 tuổi
Ngay từ thời xa xưa, trò chơi học tập của trẻ mẫu giáo đã xuất hiện Mỗi mộtdân tộc đều nghĩ ra cho con em của mình những trò chơi và đồ chơi lí thú, hấp dẫnnhằm thông qua chúng để giáo dục và dạy trẻ học tập, như dạy tiếng mẹ đẻ, dạy trẻhọc đếm, làm tính, cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh… Những côngtrình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới đều thống nhất cho rằng, tròchơi học tập có một ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục và phát triển nhâncách nói chung và trí tuệ của trẻ mẫu giáo nói riêng
Việc dạy học cho trẻ mẫu giáo bằng các trò chơi học tập đã tạo cho chúng khảnăng giải quyết nhiệm vụ nhận thức dưới hình thức chơi nhẹ nhàng, không bị ápđặt, nâng cao hứng thú của trẻ, phát triển khả năng tập trung chú ý, tạo điều kiệnthuận lợi cho những hành động có định hướng phù hợp với lời chỉ dẫn của giáo viên
và đảm bảo cho việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng một cách tốt hơn Những nhiệm vụchơi và hành động chơi đòi hỏi trẻ tích cực huy động các tri thức, kỹ năng, kỹ xảocủa mình để đạt được kết quả mà trò chơi đã đặt ra
Trò chơi học tập có ý nghĩa rất quan trọng, nó là phương tiện để phát triển trítuệ, giáo dục một số phẩm chất đạo đức cho trẻ Trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, tròchơi học tập chính là một phương tiện phát triển ngôn ngữ, sự tập trung chú ý củatrẻ mẫu giáo Trong quá trình chơi, trẻ phải sử dụng các giác quan và ngôn ngữ (nóito) của mình để thực hiện các thao tác chơi, nhiệm vụ chơi Do đó, ngôn ngữ của trẻtrở nên mạch lạc và phát triển, trẻ 4 - 5 tuổi sẽ biết chú ý đến nhiệm vụ và luật chơihơn Tuy nhiên, chúng vẫn thích thú đến quá trình chơi nhiều hơn là kết quả chơi.Chính quá trình chơi đó đã giúp trẻ tích cực nhận thức được nội dung chơi và giúptrẻ sử dụng vốn từ để giải quyết vấn đề một cách phong phú hơn Các trò chơi họctập bằng lời nói kết hợp với hành động chơi đa dạng khi tham gia chơi càng làmtăng phần hấp dẫn với trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi Khi chơi loại trò chơi này, trẻ họccách dựa vào những biểu tượng đã có và dùng lời nói giải quyết nhiệm vụ nhận thức
Trang 19trong những hoàn cảnh mới Trên cơ sở những dấu hiệu chung dần dần trẻ hiểuđược ý nghĩa tổng quát của từ và chúng có thể độc lập thực hiện nhiệm vụ trí tuệ,như miêu tả đồ vật, phân biệt dấu hiệu đặc trưng của đồ vật, đoán đồ vật qua sựmiêu tả, tìm sự giống và khác nhau giữa các vật… Việc sử dụng trò chơi học tập vớiviệc phát triển vốn từ giúp trẻ hứng thú với việc học từ mới, ôn lại các từ cũ và khắcsâu hơn; bên cạnh đó, trẻ còn được chơi, quên đi nhiệm vụ chính là học, giúp trẻtránh buồn chán và mệt mỏi, ngoài ra chính những trò chơi học tập đó sẽ giáo dụctrẻ những kĩ năng sống.
1.1.4 Vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với sự phát triển ngôn ngữ
Trong suốt lứa tuổi mấu giáo, ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh Vốn từ được
mở rộng (từ 300 - 400 từ ở lứa tuổi ấu nhi lên đến 3000 - 4000 từ ở lứa tuổi mẫugiáo) Cấu trúc ngữ pháp được hoàn thiện dần, trẻ phát âm chính xác hơn
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo diễn ra trong mối quan hệ phức tạphóa hoạt động của trẻ, trong trò chơi đóng vai theo chủ đề - khi trẻ giao tiếp vớinhững người xung quanh và các bạn cùng chơi
Trẻ chơi cùng các bạn trong nhóm Để đảm nhận tốt vai chơi và để các bạnhiểu được mục đích vai chơi, trẻ phải nắm vững ý nghĩa của từ vựng thông dụng,phát âm gần đúng cách phát âm của người lớn Đặc biệt, trẻ phải biết cách dùng ngữđiệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và nắm được hệ thống ngữ pháp phức tạp (quyluật ngôn ngữ, nói năng mạch lạc, thoải mái)
Ví dụ: khi trẻ đóng vai là cô giáo, trẻ biết mình là cô giáo nên nói năng phảidịu dàng, rõ ràng học sinh mới dễ hiểu
Tuy nhiên thông qua các vai chơi, trẻ chủ yếu nắm vững phong cách ngôn ngữsinh hoạt và chỉ ở một mức độ nào đó là phong cách nghệ thuật Cho nên đứa trẻphải học thêm nhiều ở nhà trường, ở sách vở, để nắm vững sâu sắc hơn tiếng mẹ
đẻ của mình
1.1.5 Trò chơi dân gian với sự phát triển vốn từ của trẻ
Phát triển vốn từ là một quá trình lâu dài của việc lĩnh hội vốn từ mà conngười đã tích lũy trong lịch sử và cuộc sống Tham gia vào trò chơi dân gian, trẻ em
có điều kiện tiếp xúc với thế giới ngôn ngữ vô tận với những nội dung đa dạng,
Trang 20phong phú: thiên nhiên, xã hội, văn hóa.
Đặc biệt, với trẻ lứa tuổi mầm non thì vốn từ còn rất hạn hẹp, nên khi đượctham gia vào những trò chơi dân gian là cơ hội lớn để trẻ được mở rộng vốn từ, hiểubiết của mình
Thật vậy, đến với thế giới tự nhiên trong trò chơi dân gian trẻ được làm quenvới một hệ thống vốn từ khá đầy đủ, không chỉ là những loài vật gần gũi như contrâu, con nghé, con chó, con mèo… hay như những ngọn cỏ, cành cây ở góc vườn
mà còn là những hiện tượng tự nhiên là mưa, là gió… Tất cả hiện lên trong trò chơidân gian của trẻ thơ thật sinh động, hấp dẫn, trẻ không cần phải làm quen qua tranhảnh, sách báo mà trong khi chơi, với óc sáng tạo, trí tượng tượng phong phú và sựlặp lại có chu kì của trò chơi dân gian đã giúp các em rèn luyện và tích lũy cho mìnhmột vốn từ nhất định về chủ đề thiên nhiên
Đến với bất kì một trò chơi nào đó, trẻ cũng phải sử dụng vốn từ đã có củamình để quy ước với nhau về nội dung, cách chơi và các đồ dùng sử dụng trong tròchơi Đó cũng là lúc trẻ sử dụng vốn ngôn ngữ để phát huy khả năng ứng xử, giaotiếp với bạn chơi
Xã hội trong trò chơi dân gian trước hết là những mối quan hệ trong gia đìnhrồi đến mối quan hệ rộng hơn ngoài xã hội; xã hội còn được khắc họa qua các vốn
từ về quê hương, đất nước, về những nét sinh hoạt chung của người dân: lao động,hội họp, lễ tết… Bởi trước hết, trò chơi dân gian luôn là nét văn hóa không thể thiếutrong những ngày tết và trong các lễ hội
Thông qua trò chơi dân gian, trẻ tích lũy được cho bản thân một vốn từ về xãhội thật bổ ích Đặc biệt, vốn từ về xã hội hiện lên sâu sắc và rõ nét khi các em thamgia trò chơi dân gian mang tính mô phỏng: trẻ được hóa thân thành bác nông dân đicày cấy; hay trẻ được trở thành một ông thầy thuốc, một bà mẹ bảo vệ đàn con khi
chơi trò Rồng rắn lên mây Ở xứ sở của trò chơi mô phỏng, các em được trải
nghiệm với cảm xúc thật, với những mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên và
xã hội Đồng thời, khi hòa mình vào xứ sở này, trẻ có cơ hội được mở rộng nhậnthức về xã hội Cái xã hội thu nhỏ đó là điều kiện để trẻ làm quen với những cuộc
Trang 21giao tiếp và mở rộng vốn từ của mình, đưa vốn từ ngữ đó và những tình huống cụ
thể trong cuộc sống: như khi chơi trò Rồng rắn lên mây, trẻ đứng đầu hàng đóng
làm mẹ đưa đàn con đi hỏi thăm thầy thuốc, mặc cả và chống lại thầy thuốc để bảo
vệ đàn con… Ở đây vừa thể hiện sự quan tâm, tình yêu với mọi người trong giađình, vừa là một cuộc giao tiếp giữa bệnh nhân và thầy thuốc - mối quan hệ thườnggặp trong xã hội
Từ đó, chúng tôi thấy rằng trò chơi dân gian là một hình thức giáo dục có tácđộng mạnh mẽ đến sự lĩnh hội và phát triển vốn từ của trẻ mầm non Trò chơi dângian tạo điều kiện cho các em có cơ hội được mở rộng nhận thức về thế giới xungquanh Khi các em tiếp thu được tri thức mới thì vốn từ cũng được tăng lên rõ rệt.Hay nói cách khác, trò chơi dân gian tạo điều kiện cho việc lĩnh hội và phát triểnvốn từ của trẻ mầm non
1.1.6 Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ
1.1.6.1 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển trí tuệ
Ngôn ngữ có vai trò rất lớn đối với việc phát triển trí tuệ cho trẻ
Ngôn ngữ là phương tiện nhận thức thế giới xung quanh, là cơ sở của mọi sựsuy nghĩ, là công cụ của tư duy
Trẻ có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh Thông qua ngôn ngữ, lời nói củangười lớn, trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng và hiểu những đặc điểm, tínhchất, cấu tạo, công dụng… của chúng và trẻ học được từ tương ứng (từ và hình ảnhtrực quan đi vào nhận thức của trẻ cùng một lúc) Ngôn ngữ giúp trẻ mở rộng hiểubiết về thế giới xung quanh Từ ngữ giúp cho việc củng cố những biểu tượng đãđược hình thành
Sự phát triển của ngôn ngữ giúp cho hoạt động trí tuệ, các thao tác tư duy ngàycàng được hoàn thiện, kích thích trẻ tích cực, sáng tạo hoạt động trí tuệ
Có nhiều phương tiện để nhận thức thế giới xung quanh nhưng ngôn ngữ làphương tiện nhận thức hữu hiệu Thông qua ngôn ngữ trẻ nhận thức thế giới xungquanh chính xác, rõ ràng và sâu hơn Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực, sáng tạo tronghoạt động trí tuệ Do đó, việc phát triển trí tuệ không thể tách rời với việc phát triển
Trang 22ngôn ngữ.
1.1.6.2 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển đạo đức
Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc hình thành và điều chỉnh những hành vicủa trẻ
Thông qua ngôn ngữ trẻ biết những gì nên, không nên…, qua đó rèn luyệnnhững phẩm chất đạo đức tốt ở trẻ, dần dần hình thành ở trẻ những khái niệmban đầu về đạo đức (ngoan - hư, tốt - xấu…)
Ngôn ngữ có tác dụng to lớn trong việc hình thành những phẩm chất đạo đứctốt đẹp ở trẻ Ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào việc trang bị cho trẻ nhữnghiểu biết về những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, rèn luyện cho trẻ những tìnhcảm và hành vi đạo đức phù hợp với xã hội mà trẻ đang sống
1.1.6.3 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển thẩm mĩ
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác động có mục đích, có hệthống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu đúng đắn cái đẹptrong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật, giáo dục cho trẻ lòng yêucái đẹp và năng lực tạo ra cái đẹp
Thông qua ngôn ngữ, trẻ nhận thức được cái đẹp ở thế giới xung quanh.Qua đó làm cho tâm hồn trẻ càng thêm bay bổng, trí tưởng tượng càng phongphú; đồng thời, trẻ càng yêu quý cái đẹp, trân trọng cái đẹp và có ý thức sáng tạo
1.1.6.4 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển thể lực
Để phát triển thể lực cho trẻ cần kết hợp nhiều phương pháp khác nhau.Trong đó, ngôn ngữ đóng một vai trò vô cùng quan trọng
Trong các hoạt động góp phần phát triển thể lực như các trò chơi vậnđộng, các giờ thể dục, trong chế độ ăn… giáo viên đều cần dùng đến ngôn ngữ đểhướng dẫn trẻ thực hiện tốt những yêu cầu cần đạt
Trang 23Hoạt động nói năng liên quan đến cơ quan hô hấp, thính giác, bộ máy phát
Trang 24âm… Quá trình phát âm là quá trình rèn luyện bộ máy cấu âm, rèn luyện phổi, khí quản và các bộ phận khác của cơ thể.
Để có một thể lực tốt cần có một chế độ vệ sinh hợp lí Ngôn ngữ cũng thamgia vào quá trình chăm sóc, vệ sinh trẻ để trẻ phát triển thể lực
1.1.7 Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 4 - 5 tuổi
1.1.7.1 Đặc điểm sinh lí của trẻ 4 - 5 tuổi
Ở trẻ mẫu giáo nhỡ, sự phát triển của cơ thể diễn ra chậm hơn so với giaiđoạn trước Về số lượng: chiều cao trung bình hàng năm tăng được từ 5 - 8cm, cânnặng tăng khoảng 1 - 1,5kg Đồng thời trẻ có sự thay đổi rõ rệt về chất lượng thểchất:
Hệ tiêu hóa ngày càng hoàn thiện, quá trình hình thành men tiêu hóa được tăng
cường, sự hấp thu thức ăn ngày càng tốt hơn
Hệ thần kinh ngày càng phát triển, khả năng hoạt động của các tế bàothần kinh tăng lên, quá trình cảm ứng ở vỏ não phát triển, trẻ có thể tiến hànhhoạt động trong thời gian lâu hơn
Hệ xương hoàn thiện dần, các mô cơ ngày càng phát triển, cơ quan điềukhiển vận động được tăng cường… Do vậy, trẻ có thể tiến hành hoạt động đòi hỏi
sự khéo léo của tay, chân, thân
Cơ quan phát âm của trẻ đang dần được hoàn thiện: thanh quản gồm các sụnphổi, sụn nhẵn và sụn thanh nhiệt Bên trong thanh quản có lót một lớp niêm mạc,trên bề mặt lớp niêm mạc ở mỗi bên có hai nếp gấp, đó là các dây thanh âm,giữa hai bên thanh âm có một cái rãnh lõm xuống gọi là buồng thanh quản Dâythanh âm ở dưới gọi là dây nói, dây thanh âm giả ở trên đó là dây chủ yếu để thở.Trẻ 4 - 5 tuổi dây thanh quản ngắn nên trẻ có giọng nói cao hơn giọng nói củangười lớn Các khoang cộng hưởng phần trên của thanh quản, họng, khoangmiệng, mũi khá hoàn thiện, thể hiện ở các liên kết giữa các âm sắc trẻ thể hiện.Dựa trên những đặc điểm đã nêu trên, ta có thể thấy được mức độ phát triểncủa trẻ 4 - 5 tuổi rất mạnh mẽ nhưng còn nhiều chỗ chưa hoàn thiện Do đó, cần
Trang 25lựa chọn những hình thức và biện pháp cho phù hợp để giáo dục trẻ đạt hiệu quảtốt nhất.
Trang 261.1.7.2 Đặc điểm tâm lí của trẻ 4 - 5 tuổi
a) Hình thành “Xã hội trẻ em”
Trẻ mẫu giáo nhỡ đã hoàn thiện hoạt động vui chơi và hình thành “xã hội trẻem” Có thể nói rằng, hoạt động vui chơi ở lứa tuổi mẫu giáo nhỡ đang phát triểntới mức hoàn thiện, điều đó được thể hiện ở những đặc điểm sau:
Trong hoạt động vui chơi trẻ mẫu giáo nhỡ thể hiện rõ tính tự lực, tự do vàchủ động Trong quá trình vui chơi trẻ bộc lộ toàn bộ tâm trí của mình, nhận thức,tình cảm, ý chí, nói năng đều tỏ ra tích cực và chủ động, ít lệ thuộc và người lớn vàhoàn toàn tùy thuộc vào ý thích của mình Tính tự lực, tự do của trẻ được thể hiệntrong việc lựa chọn chủ đề và nội dung chơi; trong việc lựa chọn bạn chơi; trongviệc tự do tham gia vào trò chơi mà mình thích và tự rút ra khỏi nhóm chơi màmình đã chán
Trong hoạt động vui chơi, trẻ mẫu giáo nhỡ đã thiết lập những quan hệrộng rãi và phong phú với các bạn cùng chơi Một “xã hội trẻ em” được hình thành.Hoạt động vui chơi, mà đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề là loại hoạtđộng cùng đầu tiên của trẻ Không có sự phối hợp với nhau giữa các thành viên thìkhông tạo thành trò chơi Trẻ mẫu giáo nhỡ, việc chơi của trẻ đã tương đối thànhthạo và chơi với nhau trong nhóm bạn bè đã trở thành một nhu cầu bức thiết, vì
đã chơi là phải có vai nọ vai kia mới thú vị
Ví dụ: Với chủ đề “bán hàng” thì trẻ phải đặt ra những nhân vật: người bán hàng, người mua hàng, thậm chí có cả người lái xe chở người mua hàng đến…
Như vậy, các quan hệ trong trò chơi của trẻ mẫu giáo nhỡ đã được mởrộng, trẻ còn biết liên kết các trò chơi theo các chủ đề khác nhau làm cho các mốiquan hệ trở nên phong phú hơn Trẻ đã bắt đầu biết lắng nghe ý kiến của bạn vàphục tùng ý kiến của đại đa số ngay cả khi có mâu thuẫn với những ấn tượng vàkinh nghiệm riêng của mình
Nhóm trẻ cùng chơi là một trong những cơ sở xã hội đầu tiên của trẻ em Do
đó, người lớn cần tổ chức tốt hoạt động của nhóm trẻ lớp mẫu giáo cũng như ở
Trang 27gia đình, khu tập thể, xóm dân cư, để tạo ra môi trường lành mạnh có tính chấtgiáo dục đối với trẻ.
Trang 28b) Tư duy trực quan hình tượng
Trẻ mẫu giáo nhỡ đang phát triển tư duy trực quan hình tượng Đầu tuổimẫu giáo, trẻ đã biết tư duy bằng những hình ảnh trong đầu, do những biểu tượngcòn nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bình diện bên ngoài vào bình diệnbên trong nên trẻ chỉ giải được một số bài toán hết sức đơn giản theo kiểu tư duytrực quan hình tượng Cùng với sự hoàn thiện hoạt động vui chơi và sự pháttriển các hoạt động khác (vẽ, nặn, xé, dán…) thì vốn biểu tượng của trẻ mẫu giáonhỡ được giàu thêm nhiều, chức năng kí hiệu phát triển mạnh, lòng ham hiểu biết
và hứng thú nhận thức tăng lên rõ rệt
Tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh, đó là điều kiện thuận lợi nhất
để giúp trẻ cảm thụ tốt những hình tượng nghệ thuật được xây dựng nên trongcác tác phẩm văn học nghệ thuật do các văn nghệ sĩ xây dựng nên bằng nhữnghình tượng đẹp Đồng thời cần giúp trẻ tạo ra những tiền đề cần thiết để làmnảy sinh những yếu tố ban đầu của kiểu tư duy trừu tượng
c) Sự phát triển đời sống tình cảm
Trong lứa tuổi ấu nhi cũng như lứa tuổi mẫu giáo thì tình cảm thống trị tất cảcác mặt trong hoạt động tâm lí của đứa trẻ, đặc biệt ở lứa tuổi mẫu giáo nhỡ thìđời sống tình cảm của trẻ có một bước chuyển mạnh mẽ, vừa phong phú, vừa sâusắc hơn lứa tuổi trước đó Ở tuổi mẫu giáo nhỡ, quan hệ của trẻ với mọi ngườixung quanh được mở rộng ra một cách đáng kể, do đó tình cảm của trẻ cũng đượcphát triển về nhiều phía đối với những người trong xã hội Có thể coi đây là nguồnxúc cảm mạnh mẽ nhất và quan trọng nhất trong đời sống tinh thần của trẻ mẫugiáo nhỡ
Trẻ mẫu giáo nhỡ rất thèm khát sự trìu mến, thương yêu, đồng thời rất lo sợtrước thái độ thờ ơ, lạnh nhạt của mọi người xung quanh đối với mình Nó thực sựvui mừng khi được bố mẹ, cô giáo hay bạn bè yêu thương, khen ngợi và cũng thực
sự đau buồn khi bị người khác ghét bỏ
Ví dụ: Một trẻ không chịu ăn cơm khi bị các bạn không cho chơi cùng nhóm nữa, hay một trẻ khóc òa lên khi thấy mẹ đón không được hồ hởi như thường ngày.
Trang 29Tuổi mẫu giáo nhỡ đã có sự phát triển động cơ hành vi và hình thành hệthống thứ bậc các động cơ Các động cơ đã xuất hiện trước đây như muốn tựkhẳng định
Trang 30muốn được sống và làm việc như người lớn, muốn nhận thức các sự vật và hiệntượng xung quanh… đều được phát triển mạnh mẽ Đặc biệt những động cơđạo đức thể hiện thái độ của trẻ đối với những người khác có ý nghĩa hết sức quantrọng trong sự phát triển các động cơ hành vi Những động cơ này gắn liền với việclĩnh hội có ý thức những chuẩn mực về những quy tắc đạo đức hành vi trong xãhội.
Tuổi mẫu giáo nhỡ là chặng giữa của tuổi mẫu giáo Nó đã vượt qua thời kìchuyển tiếp từ ấu nhi lên để tiến tới một chặng đường phát triển tương đối ổnđịnh Có thể coi đây là một thời kì phát triển rực rỡ của những nét tâm lí đặc trưngcho tuổi mẫu giáo mà bao trùm lên tất cả tính hình tượng, tính dễ xúc cảm và tínhđồng cảm trong hoạt động tâm lí Điều này khiến cho nhân cách của trẻ ở giaiđoạn đầu tiên của quá trình hình thành mang tính độc đáo, rõ nét nhất
Những thuộc tính tâm lí cũng như những phẩm chất nhân cách đang pháttriển ở độ tuổi này là điều kiện hết sức quan trọng để tạo ra một sự chuyển tiếpmạnh mẽ ở độ tuổi sau (mẫu giáo lớn) tiến dần vào thời kì chuẩn bị cho trẻ tớitrường phổ thông Do đó, giáo dục cần tập trung hết mức để giúp trẻ phát triểnnhững đặc điểm này
1.1.8 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 4 - 5 tuổi
1.1.8.1 Đặc điểm phát âm của trẻ 4 - 5 tuổi
Khả năng phát âm của trẻ tỉ lệ thuận theo lứa tuổi, trẻ càng lớn phát âm càngchính xác và rõ ràng hơn Tuy nhiên, trẻ ở đầu độ tuổi từ 4 - 5 tuổi có cách phát
âm chưa thật sự ổn định, ta vẫn có thể bắt gặp những hiện tượng nói lắp, nóingọng, thay thế những âm khó bằng những âm dễ như: rùa - dùa,… và giọng củatrẻ còn kéo dài, chưa gọn Nhưng khi bước sang cuối độ tuổi, trẻ phát âm cónhiều tiến bộ và phát âm đúng hầu hết các hình thức âm thanh của ngôn ngữ tiếng
mẹ đẻ và phát âm đúng cả sáu thanh điệu
1.1.8.2 Đặc điểm vốn từ của trẻ 4 - 5 tuổi
Vốn từ của trẻ tăng nhanh theo lứa tuổi, trẻ 4 tuổi có thể sử dụng 1200 từ.Vốn từ của trẻ không chỉ tăng nhanh về số lượng mà cả về chất lượng Trẻ đã
Trang 31hiểu ý nghĩa của nhiều từ loại khác nhau, không chỉ hiểu những từ có tính cụ thểnhư: chó, mèo, lợn, gà… mà trẻ còn hiểu cả những từ có tính khái quát, trừutượng như: gia
Trang 32súc, gia cầm, hiền, dữ… Tuy nhiên, vốn từ của trẻ 4 - 5 tuổi vẫn là danh từ và động
từ chiếm ưu thế, còn tính từ và các loại từ khác còn ít sử dụng Bên cạnh đó, trẻ
ở lứa tuổi này còn biết sử dụng các từ mang tính biểu cảm có hình ảnh, âm thanh,màu sắc Với số lượng và chất lượng vốn từ của trẻ tăng nhanh như vậy, ta có thểthấy rằng môi trường sống, môi trường ngôn ngữ xung quanh trẻ rất phong phú và
đa dạng Trình độ văn hóa, nghề nghiệp, sự hướng dẫn chỉ bảo trực tiếp của ngườilớn sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển vốn từ của trẻ
1.1.8.3 Đặc điểm ngữ pháp của trẻ 4 - 5 tuổi
Trẻ ở độ tuổi 4 - 5 tuổi đã có thể sử dụng câu có đầy đủ thành phần và cấutrúc ngữ pháp Câu nói của trẻ trở nên rõ ràng và có sự liên kết chặt chẽ giữacác từ trong câu hơn Trẻ 4 tuổi nói câu ghép chưa nhiều, khoảng 10% trong tổng
số câu nói, trong đó trẻ thường hay sử dụng câu ghép đẳng lập với các quan hệđẳng lập như: và, hay, còn… và trong câu ghép chính phụ, trẻ sử dụng câu ghép cóquan hệ nhân quả, câu ghép có quan hệ mục đích - sự kiện Trẻ ở lứa tuổi này còn
sử dụng được các loại câu tường thuật, câu nghi vấn và câu cầu khiến Còn ởnhững loại câu khác ít khi xuất hiện hoặc không bao giờ xuất hiện ở trẻ Tuynhiên, trẻ 4 - 5 tuổi vẫn còn có những hạn chế trong việc sắp xếp lời nói, diễn đạtđôi khi còn dài dòng và lủng củng, nhất là trong quá trình tự nói
1.1.8.4 Đặc điểm ngôn ngữ mạch lạc của trẻ 4 - 5 tuổi
Đối với trẻ 4 - 5 tuổi, sự phát triển lời nói mạch lạc chịu ảnh hưởng lớn củaviệc tích cực hóa vốn từ (khối lượng lúc này đã đạt đến khoảng 700 từ) lời nói củatrẻ được mở rộng hơn, có trật tự hơn, mặc dù cấu trúc còn chưa hoàn thiện Trẻ 4 -
5 tuổi bắt đầu được học đọc những câu chuyện nhỏ theo tranh, theo đồ chơi, theo
mô hình Nhưng phần lớn câu chuyện của trẻ chỉ đơn thuần là mô phỏng lại mẫucủa người lớn
Trong độ tuổi này diễn ra sự phát triển mạnh mẽ lời nói văn cảnh có nghĩa lànói chỉ tự mình hiểu được Tư duy của trẻ phát triển hơn, trẻ có thể nhận biếtđược những dấu hiệu, đặc điểm, đặc trưng, có thể đưa ra những phân tích đầy
Trang 33đủ về sự vật, hiện tượng Bằng ngôn ngữ, trẻ có thể diễn đạt rõ ràng, mạch lạc ýnghĩ, sự hiểu
Trang 34biết của mình Phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ thực hiện trong việc dạy trẻ kểchuyện bắt đầu từ hình thức đơn giản là kể các tác phẩm văn học ngắn đếnhình thức cao hơn là kể chuyện sáng tạo Trẻ biết xây dựng câu chuyện tươngđối liên tục, rõ ràng, phong phú theo đề tài cho sẵn hoặc kể chuyện theo tranh, đồchơi, mô hình Nhưng trẻ vẫn cần có mẫu câu của giáo viên.
1.1.9 Phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi
1.1.9.1 Từ
Cho đến nay, đã có khoảng 300 định nghĩa về Từ Các nhà khoa học đứng trênnhững phương diện nghiên cứu khác nhau đã đưa ra những quan điểm xem xét Từtrên phương diện ngữ pháp học (phối hợp mặt ngữ âm và mặt ngữ nghĩa) đượcchấp nhận hơn cả
Dưới góc độ ngôn ngữ học, các nhà ngôn ngữ học đã định nghĩa về Từ TiếngViệt như sau:
- Từ là đơn vị nhỏ nhất, là một âm hay một tổ hợp âm có nghĩa của mộtngôn ngữ, có khả năng hoạt động độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựngnên câu
- Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, bao gồm hình thức âm thanh ổn định vàhoàn chỉnh và ý nghĩa Hai phần này liên quan mật thiết và hỗ trợ cho nhau đểbiểu hiện ý nghĩa của con người Từ không chỉ biểu thị các sự vật hiện tượng đơn
lẻ mà biểu thị cả một nhóm sự vật hiện tượng tập hợp lại theo một dấu hiệu nhấtđịnh, do đó từ có tính chất khái quát cao
- Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp - Từ vựng học Tiếng Việt, Hà Nội 1985: Từcủa Tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất, có ý nghĩa dùng để tạo câu nói, nó cóhình thức của một âm tiết, một “chữ” viết “rời”
Qua các định nghĩa trên cho thấy, dù chưa có sự thống nhất nhưng đã cóquan điểm chung về Từ Tiếng Việt ở chỗ: Từ là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa, có kếtcấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độclập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo nên câu
1.1.9.2 Vốn từ
Trang 35Vốn từ của một ngôn ngữ là “tổng số và hệ thống toàn bộ từ và cụm từ cốđịnh của ngôn ngữ đó” Mỗi một ngôn ngữ phát triển có một khối lượng từ phongphú có
Trang 36thể lên tới hàng chục vạn từ Vốn từ vựng của một ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp
từ, nhiều nhóm từ không đồng nhất và có đặc trưng khác nhau Trong vốn từ vựngcủa bất kì ngôn ngữ nào cũng tồn tại những từ mới và những từ cũ, những từ phổbiến chung và những từ địa phương, những từ chuẩn mực và những từ vay mượn,
Dựa vào tần số sử dụng của các từ trong đời sống xã hội, người ta phân chiavốn từ thành hai loại: vốn từ tích cực và vốn từ thụ động Vốn từ tích cực lànhững từ được con người nắm vững, có tần số sử dụng cao trong cuộc sốnghàng ngày Vốn từ thụ động: gồm những từ ít hoặc không được sử dụng Đó lànhững từ không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại (bao cấp, tem phiếu…) hoặcmang nghĩa riêng, chưa được sử dụng rộng rãi
Đối với trẻ mầm non, vốn từ tích cực là những từ trẻ hiểu được và biết vậndụng trong các tình huống giao tiếp Còn vốn từ thụ động là những từ trẻ chưahiểu ý nghĩa hoặc có hiểu nhưng không biết vận dụng trong giao tiếp (khôngnói ra được) Như vậy, nghiên cứu phát triển vốn từ cho trẻ không chỉ là mở rộngvốn từ, làm giàu vốn từ về mặt số lượng mà phải tích cực hóa vốn từ trong giaotiếp
1.1.9.3 Từ loại
Từ loại là kết quả nghiên cứu vốn từ trên bình diện ngữ pháp Đó là nhữnglớp từ có chung ngữ pháp Những đặc trưng của lớp từ đó được sử dụng là tiêuchuẩn tập hợp và phân loại
Trang 37Theo tác giả Lê Biên trong cuốn “Từ loại Tiếng Việt hiện đại”, căn cứ vàochức năng cú pháp của từ, ông đã chia vốn từ Tiếng Việt thành hai loại lớn, đó làthực từ và hư từ.
Trang 38Tóm lại, Từ là đơn vị cơ bản để xây dựng câu, không có từ thì không có ngônngữ Trẻ mẫu giáo được tiếp xúc thường xuyên với ngôn ngữ Tiếng Việt sẽ có cơhội được hình thành khái niệm về từ, hiểu được ý nghĩa của từ và tập sử dụngvốn từ Tiếng Việt trong các tình huống giao tiếp một cách chủ động, tích cực, gópphần vào quá trình củng cố và phát triển tiếng Việt.
1.1.9.4 Phát triển vốn từ
Phát triển vốn từ cho trẻ là cơ sở của công tác phát triển ngôn ngữ Bởi vì từ
là đơn vị có nghĩa của lời nói, có thể dùng độc lập, bao gồm đầy đủ cả hai mặt: âmthanh và ý nghĩa Trong từ phản ánh những sự vật, hiện tượng của thế giới xungquanh cũng như các đặc điểm của nó Việc phát triển vốn từ cho trẻ phải đượctiến hành cùng với việc mở rộng và nâng cao nhận thức của trẻ về thế giới xungquanh Đây là hai mặt có quan hệ hữu cơ và không thể tách rời nhau Trường mầmnon có nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ cả về số lượng và chất lượng Dạy trẻkhông chỉ biết nhiều từ, mà còn phải hiểu từ, sử dụng từ đúng, loại ra những từkhông đẹp trong lời nói của trẻ, dạy trẻ biết cách sử dụng một số biện pháp tu từđơn giản trong giao tiếp hàng ngày
Phát triển vốn từ được hiểu như là một quá trình lâu dài trẻ tích lũy vốn
từ, hiểu nghĩa của từ và hình thành cách sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp
cụ thể Trẻ chỉ lĩnh hội nghĩa của từ khi nào từ được sử dụng trong câu, trong lờinói Vì vậy, công tác phát triển vốn từ cần được tiến hành chặt chẽ với việc pháttriển ngôn ngữ mạch lạc ở trẻ Xem xét quá trình hình thành và phát triển vốn từ ởtrẻ, ta có thể thấy được trẻ lĩnh hội nghĩa cụ thể của từ và nội dung khái niệm của
từ, nó có liên quan đến quá trình nhận thức của trẻ; đồng thời, trẻ còn lĩnh hội vốn
từ như là một yếu tố của lời nói như cách sử dụng từ, dùng từ thay thế, dùng từ cómức độ khác nhau, dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa…, cách sử dụng từ trong câu.Phát triển vốn từ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện củatrẻ Lĩnh hội vốn từ là điều kiện quan trọng để phát triển trí tuệ, để giải quyếtnhiệm vụ tích lũy và chính xác hóa biểu tượng, hình thành khái niệm, phát triển
Trang 39tư duy Vốn từ nghèo nàn ảnh hưởng đến giao tiếp của trẻ Cùng với việc pháttriển vốn từ,
Trang 40chúng ta thực hiện nhiệm giáo dục đạo đức và thẩm mĩ.
Do đó, công tác phát triển vốn từ là hoạt động giáo dục có chủ định, có kếhoạch nhằm giúp trẻ lĩnh hội vốn từ có hiệu quả
1.1.9.5 Nội dung phát triển vốn từ
Hiện nay, ở các trường mầm non đều áp dụng theo chương trình giáo dụcmầm non mới của Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành vào tháng 7 năm 2009 Ởlĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ, chương trình cũng đã đề cập và nêu rõnhững nội dung ngôn ngữ cần phát triển cho trẻ là những gì và như thế nào, đòihỏi trẻ phải nói và hiểu từ để sử dụng từ một cách chính xác Với tác giả NguyễnXuân Khoa, ta cũng thấy được những điểm tương đồng đó Tuy nhiên, ông đã đềcập và phân chia nội dung phát triển vốn từ một cách cụ thể hơn
Nguyễn Xuân Khoa đã phân chia nội dung phát triển vốn từ theo đề tài:những từ ngữ nói về cuộc sống riêng, những từ ngữ nói về cuộc sống xã hội vànhững từ ngữ nói về thế giới tự nhiên
a, Những từ ngữ về cuộc sống riêng
Mở rộng thế giới đồ vật trong tầm nhìn của trẻ: cho trẻ tiếp xúc, gọi tên tất
cả những đồ vật có trong nhà, trong lớp Trẻ cần phải biết vật là từ chất gì, tínhchất của chúng, công dụng của những đồ vật ấy Trẻ cần phân biệt những đặc điểmgiống và khác nhau của vật Yêu cầu trẻ biết so sánh vài đồ vật gần gũi với nhau
để nói lên những được những điểm khác nhau giữa chúng, ví dụ như so sánh quần
và váy, đũa và thìa…
Trẻ phải nhớ được địa chỉ của trường mình học, nhận biết được môi
trường
xung quanh, để không bị mất phương hướng
Cần dạy cho trẻ sử dụng đúng các động từ chỉ hoạt động hàng ngày củatrẻ như: ăn, ngủ, đội (mũ, nón), mặc, cởi (giày, áo), gấp, cài, rửa…
Dạy cho trẻ nói đúng các màu sắc: xanh, đỏ, trắng, đen, vàng, hồng…
b, Những từ ngữ về cuộc sống xã hội
Cho trẻ biết thêm về những ngày lễ lớn của các dân tộc như: Ngày quốc tế