TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON=====o0o===== PHAN THỊ THU HƯƠNG BIỆN PHÁP DẠY TRẺ MẪU GIÁO LỚN NÓI ĐÚNG MỘT SỐ LOẠI CÂU GHÉP CHÍNH PHỤ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY TRẺ K
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
=====o0o=====
PHAN THỊ THU HƯƠNG
BIỆN PHÁP DẠY TRẺ MẪU GIÁO LỚN NÓI ĐÚNG MỘT SỐ LOẠI CÂU GHÉP CHÍNH
PHỤ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY TRẺ KỂ LẠI
CHUYỆN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em
Người hướng dẫn khoa học
TS Hoàng Thị Thanh Huyền
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo trường Đại học Sư phạm HàNội 2, các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non, khoa Ngữ Văn - tổNgôn ngữ đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiệncho em hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo Hoàng Thị ThanhHuyền - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong quá trìnhhọc tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin gửi lời cám ơn chân thành tới các cô giáo và các em học sinhtrường mầm non Cổ Loa - Đông Anh - Hà Nội đã tận tình giúp đỡ em trongthời gian em thực tập ở trường Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏinhững thiếu sót và hạn chế Kính mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy
cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, tháng 04 năm 2017
Sinh viên
Phan Thị Thu Hương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài “Biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn nói đúng một
số loại câu ghép chính phụ thông qua hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện” là kết
quả mà em đã nghiên cứu qua đợt kiến tập và thực tập hằng năm Trong quátrình nghiên cứu em có sử dụng tài liệu của một số nhà nghiên cứu, một sốtác giả khác Tuy nhiên đó chỉ là cơ sở để em rút ra những vấn đề cần tìmhiểu ở đề tài của mình Đây là kết quả của riêng cá nhân em, hoàn toànkhông trùng với kết quả của các tác giả khác
Em xin chịu trách nhiệm về cam đoan này
Hà Nội, tháng 04 năm 2017
Sinh viên
Phan Thị Thu Hương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của khóa luận 4
6 Cấu trúc khóa luận 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ……… 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.2 Cơ sở lí luận 7
1.2.1 Lí thuyết về câu ghép 7
1.2.2 Cơ sở của phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em 9
1.3 Cơ sở thực tiễn 15
1.3.1 Nội dung chương trình 15
1.3.2 Thực trạng của hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện 17
CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP DẠY TRẺ MẪU GIÁO LỚN NÓI ĐÚNG MỘT SỐ LOẠI CÂU GHÉP CHÍNH PHỤ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY TRẺ KỂ LẠI CHUYỆN 20
2.1 Nguyên nhân dẫn đến việc trẻ nói chưa đúng cấu trúc ngữ pháp trong Tiếng Việt 20
2.1.1 Nguyên nhân chủ quan 20
2.1.2 Nguyên nhân khách quan 22
2.2 Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn nói đúng một số loại câu ghép chính phụ thông qua hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện
23 2.2.1 Biện pháp xây dựng mẫu câu và sử dụng lời nói mẫu 24
Trang 52.2.2 Biện pháp cho trẻ tập nói 26
2.2.3 Biện pháp đàm thoại 28
2.2.4 Biện pháp soạn thảo lại văn bản 30
2.2.5 Biện pháp sử dụng hệ thống câu hỏi 32
2.2.6 Biện pháp cho trẻ thực hành luyện tập kể lại chuyện 33
2.2.7 Biện pháp sử dụng trò chơi đóng vai nhân vật trong chuyện 36
2.2.8 Biện pháp sửa lỗi sai cho trẻ 38
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 41
3.1 Mục đích thực nghiệm 41
3.2 Đối tượng thực nghiệm 41
3.3 Nội dung thực nghiệm 41
3.4 Tiến hành thực nghiệm 42
3.4.1 Xác định yêu cầu cần đạt 42
3.4.2 Chuẩn bị thực nghiệm 42
3.4.3 Tiến hành thực nghiệm 43
3.5 Đánh giá 47
3.6 Kết quả thực nghiệm 48
3.6.1 Đánh giá lần 1 48
3.6.2 Đánh giá lần 2 49
3.6.3 Đánh giá lần 3 49
KẾT LUẬN CHUNG VÀ KHUYẾN NGHỊ 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Ngôn ngữ được hình thành từ rất sớm Trẻ em không có ý thức về ngônngữ nhưng bằng cách bắt chước có tính chất bản năng, trẻ sẽ học được cáchnói chung của những người xung quanh mình Từ đó, trẻ sẽ nhận thức đượcthế giới xung quanh, hiểu được yêu cầu, ý muốn của người khác và thể hiệnđược nhu cầu của bản thân Trẻ sẽ học và tích trữ cho mình bắt đầu bằngnhững từ, những câu đơn giản nhất Sau đó, dần dần trẻ sẽ tích lũy và nóiđược những câu nói có cấu trúc phức tạp, phong phú hơn.
Việc nói đúng ngữ pháp có vai trò quan trọng đối với trẻ Đó là nhữngbước đầu cơ bản để tạo cho trẻ có khả năng diễn đạt một cách rõ ràng, mạchlạc, không bị cộc lốc; giúp trẻ nhận thức được đúng cấu trúc ngữ pháp củaTiếng Việt, phát triển khả năng tư duy, tăng tính thẩm mĩ trong lời ăn tiếngnói của trẻ Để có được điều đó trẻ phải được học thông qua các hoạt động vàqua sự trao đổi, hướng dẫn của người lớn Vì vậy người lớn cần có tráchnhiệm dạy trẻ nói đúng ngữ pháp theo các mô hình câu chuẩn để từ đó trẻ dầndần nắm được cấu tạo các loại câu của tiếng mẹ đẻ của mình
Kể lại chuyện là hình thức kể lại một cách sáng tạo câu chuyện theo mẫutrẻ đã được nghe, nhận biết được sự tác động lên cảm xúc, giúp trẻ ghi nhớ và
Trang 7kể lại những điều đã được nghe Trẻ sẽ biết vận dụng ngôn ngữ của mình, biết
sử dụng những từ, câu để kể lại chuyện một cách sáng tạo, phù hợp Câu ghépchính phụ là một trong những loại câu mà trẻ thường hay sử dụng khi kể lạichuyện Vì thế, việc dạy trẻ nói đúng một số loại câu ghép chính phụ thôngqua hoạt động kể lại chuyện sẽ đem lại hiệu quả cao hơn cho trẻ
Hiện nay, các trường mẫu giáo đã quan tâm tới việc phát triển ngôn ngữcho trẻ nhưng vẫn chưa chú trọng tới việc rèn luyện khả năng diễn đạt của trẻ
Vì vậy, chúng tôi mong muốn góp thêm tiếng nói vào việc rèn luyện khả năngdiễn đạt cho trẻ, giúp trẻ ngay từ nhỏ có được lời nói rõ ràng, chính xác, mangtính thẩm mĩ hơn
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Biện pháp dạy
trẻ mẫu giáo lớn nói đúng một số loại câu ghép chính phụ thông qua hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
2.1 Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi đối với trẻ 5 - 6 tuổi tạitrường mầm non Cổ Loa (xã Cổ Loa - huyện Đông Anh - thành phố Hà Nội)
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của vấn đề được xác định là biện pháp giúp trẻmẫu giáo lớn nói đúng một số loại câu ghép chính phụ thông qua hoạt độngdạy trẻ kể lại chuyện
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu tiến hành với mục đích giúp trẻ mẫu giáo lớn nóiđúng một số loại câu ghép chính phụ thông qua hoạt động dạy trẻ kể lạichuyện nhằm giúp trẻ diễn đạt một cách đầy đủ, rõ ràng, mạch lạc, kích thích
tư duy, óc sáng tạo của trẻ Từ đó, giúp trẻ phát triển toàn diện và tạo tiền đềcho trẻ khi trẻ bước vào học ở trường phổ thông
Trang 83.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng nên hệ thống cơ sở lí luận và tìm hiểu về thực trạng của vấn
đề nghiên cứu
- Đưa ra một số nguyên nhân trẻ chưa nói đúng ngữ pháp
- Tiến hành xây dựng một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn nói đúngmột số loại câu ghép chính phụ thông qua hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu quảcủa các biện pháp
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Tiến hành thu thập và xử lí các thông tin qua các tài liệu, các cơ sở líthuyết, thành tựu lí thuyết đã đạt được, các kết quả nghiên cứu liên quan đếnvấn đề nghiên cứu Từ đó, tiến hành phân tích, phân loại và tổng hợp lại đểxây dựng nên một hệ thống lí thuyết cho vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp quan sát
Quan sát khoa học là nghiên cứu đối tượng có hệ thống để thu thập thôngtin về đối tượng Đây là hoạt động được tổ chức đặc biệt, có mục đích, có kếhoạch, có phương tiện để nghiên cứu các đối tượng được lựa chọn điển hình
Ở đây, chúng tôi tiến hành quan sát, theo dõi một cách có chủ đích nhữnghành vi, thái độ, lời nói của trẻ Từ đó phát hiện ra nguyên nhân và đề ra một
số biện pháp phù hợp để dạy trẻ nói đúng một số loại câu ghép chính phụthông qua hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện
- Phương pháp thực nghiệm
Tiến hành thăm dò và thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi, hiệu quả củacác biện pháp đưa ra thông qua thành tích mà trẻ đạt được
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Tìm hiểu thực trạng của việc diễn đạt câu của trẻ và việc dạy trẻ nóiđúng cấu trúc câu nói chung và câu ghép chính phụ nói riêng
Trang 95 Đóng góp của khóa luận
6 Cấu trúc khóa luận
Nội dung khóa luận được tiến hành triển khai theo cấu trúc gồm 3 phần:
- Phần 1: Mở đầu
- Phần 2: Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn nói đúng một số loại câughép chính phụ thông qua hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
- Phần 3: Kết luận chung và khuyến nghị
Trang 10NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với con người, nó là đặc trưng chỉ
có ở con người Ngôn ngữ được sử dụng như một phương tiện của tư duy, haycòn được hiểu ngôn ngữ là “cái vỏ” của tư duy, là phương thức biểu đạt muốncho người khác hiểu được những suy nghĩ, nhu cầu, mong muốn của bản thânthông qua lời nói Phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong những năm đầu đời làmột việc làm hết sức quan trọng để hình thành và phát triển cho trẻ khả năngngôn ngữ Chính vì vậy mà đã có rất nhiều tác giả đề cập đến vai trò vàphương pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Nội dung phương phápphát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non nói chung, cho trẻ mẫu giáo nói riêng đãđược một số nhà nghiên cứu đề cập đến trong những công trình của họ Cóthể tổng thuật nội dung phương pháp nghiên cứu về vấn đề này trong một sốnguồn tài liệu sau đây:
Trước hết, trong chương trình giáo dục mầm non, bộ Giáo dục và Đàotạo đã đề ra mục tiêu của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ:
- Trẻ có khả năng lắng nghe, hiểu lời nói trong giao tiếp hằng ngày
- Có khả năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau (lời nói, nét mặt, cửchỉ, điệu bộ…)
- Diễn đạt rõ ràng và giao tiếp có văn hóa trong cuộc sống hằng ngày
- Có khả năng nghe và kể lại sự việc, kể lại chuyện
- Có khả năng cảm nhận vần điệu, nhịp điệu bài thơ, ca dao, đồng daophù hợp với độ tuổi
- Có một số kĩ năng ban đầu về việc đọc và viết
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã viết giáo trình “Phương pháp phát triển
Trang 11ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” gồm 12 chương sách đề cập khái quát đến nhữngvấn đề có liên quan đến nội dung phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻmẫu giáo Trong đó, tác giả đã dành chương III, với dung lượng là 46 trang đểtrình bày về phương pháp phát triển lời nói mạch lạc và chương IV với dunglượng 30 trang nói về phương pháp dạy trẻ đặt câu.
Giáo trình “Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non” của tác giả Đinh HồngThái đã được viết theo cấu trúc gồm 4 phần:
- Phần thứ nhất: Những vấn đề chung
- Phần thứ hai: Dạy trẻ nhận biết - tập nói ba năm đầu
- Phần thứ ba: Phát triển ngôn ngữ tuổi mẫu giáo
- Phần thứ tư: Chuẩn bị khả năng tiền đọc - viết tuổi mầm non
Trong phần thứ ba, tác giả Đinh Hồng Thái đã dành chương III với dunglượng 7 trang nói về việc dạy trẻ các mẫu câu tiếng Việt, và chương IV vớidung lượng 33 trang trình bày về phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫugiáo
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác như:
“Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em” của tác giả Đinh Hồng Thái,
“Các biện pháp phát trỉển lời nói mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi” của tác giảNguyễn Thị Kim Oanh và những cuốn sách về phương pháp phát triển ngônngữ trẻ em tuổi mầm non của Phan Thiều, Lương Kim Nga, Cao Đức Tiến,Đinh Thị Hồng Nhung…
Các đề tài khóa luận, luận văn tốt nghiệp của sinh viên, học viên cao họccủa các trường đại học sư phạm, viện nghiên cứu cũng đề cập đến vấn đề pháttriển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Tiêu biểu là khóa luận tốt nghiệp đại họctrường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 của tác giả Nguyễn Thị Dương (2013),cũng đã đề cập đến vấn đề dạy trẻ nói đúng ngữ pháp trong khoá luận: “Cácphương pháp, biện pháp dạy trẻ nói đúng ngữ pháp” Trong khoá luận này, tácgiả Nguyễn Thị Dương kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả về phương
Trang 12pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non để trình bày nội dung dạy trẻ 3 - 4tuổi và trẻ 5 - 6 tuổi nói đúng ngữ pháp Ngoài ra, trong khoá luận, tác giả còntrình bày các loại lỗi câu và cách sửa lỗi.
Thông qua việc tổng thuật nội dung nghiên cứu trong các tài liệu từ cácnguồn kể trên, có thể thấy việc tìm hiểu về vấn đề phát triển ngôn ngữ và dạytrẻ nói đúng ngữ pháp, dạy trẻ đặt câu không phải là vấn đề mới mẻ vì đã cónhiều người quan tâm đề cập và tiến hành nghiên cứu Tuy nhiên, trong các
tài liệu đó chưa có một công trình chuyên biệt nào tìm hiểu về “Biện pháp dạy
trẻ mẫu giáo lớn nói đúng một số loại câu ghép chính phụ thông qua hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện”.
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Lí thuyết về câu ghép
1.2.1.1 Quan niệm về câu ghép
Khái niệm: Câu ghép là câu có từ 2 cụm C - V trở lên và chúng khôngbao chứa nhau Mỗi cụm C - V của câu ghép có dạng là một câu đơn và đượcgọi chung là một vế câu ghép
là quan hệ chính phụ hay quan hệ bình đẳng
Câu ghép trước hết được chia thành hai loại lớn: loại có từ liên kết (từ
Trang 13chỉ quan hệ) gồm có kết từ và phụ từ với tác dụng liên kết, và loại không có từliên kết (câu ghép chuỗi).
Tiếp theo là sự phân thành kiểu nhỏ trong loại thứ nhất Cụ thể là ở loại thứ nhất sẽ phân biệt câu ghép chứa kết từ bình đẳng (câu ghép đẳng lập), câughép chứa kết từ chính phụ (câu ghép chính phụ), câu ghép chứa phụ từ liênkết (câu ghép qua lại)
1.2.1.2 Các kiểu câu ghép chính phụ trong Tiếng Việt
Trong Tiếng Việt có một số loại câu ghép chính phụ với các quan hệ từchính phụ như:
- Câu ghép có quan hệ nhân quả: Vế chỉ nguyên nhân mở đầu với cácquan hệ từ như: bởi (vì), tại (vì), do, nhờ Vế chỉ kết quả mở đầu bằng cácquan hệ từ như: nên, cho nên, mà Vế chỉ nguyên nhân có thể đứng trước hoặcđứng sau vế chỉ kết quả hoặc xen vào giữa kết cấu chủ - vị của vế chỉ kết quả
Ví dụ:
+ Vì trời mưa nên chúng em đến muộn
+ Chúng em đến muộn vì trời mưa
+ Chúng em, vì trời mưa, nên đến muộn
- Câu ghép có quan hệ mục đích, sự kiện: Vế chỉ mục đích mở đầu bằngcác quan hệ từ như: để, để cho Vế chỉ mục đích có thể đứng trước hoặc đứngsau vế chỉ sự kiện hoặc xen vào giữa kết cấu chủ - vị của vế chỉ sự kiện
Ví dụ:
+ Để cho cơ thể khỏe mạnh thì em sẽ chăm chỉ tập thể dục
+ Em sẽ chăm chỉ tập thể dục để cho cơ thể khỏe mạnh
+ Tập thể dục để cho cơ thể khỏe mạnh thì em sẽ chăm chỉ
- Câu ghép có quan hệ điều kiện - kết quả: Vế chỉ điều kiện mở đầu bằngcác quan hệ từ như: nếu, hễ Vế chỉ kết quả có thể mở đầu bằng: thì, là Vế chỉđiều kiện có thể đứng trước hoặc đứng sau vế chỉ kết quả hoặc xen vào giữa
Trang 14kết cấu chủ - vị của vế chỉ kết quả.
Ví dụ:
+ Nếu con ngoan thì mẹ sẽ cho con đi siêu thị
+ Mẹ sẽ cho con đi siêu thị nếu con ngoan
+ Đi siêu thị, nếu con ngoan thì mẹ sẽ cho
- Câu ghép có quan hệ nhượng bộ - tăng tiến: Vế chỉ sự nhượng bộ mởđầu bằng các quan hệ từ như: tuy (rằng), dù (rằng), mặc dầu Vế chỉ sự tăngtiến có thể mở đầu bằng: nhưng Vế chỉ nhượng bộ có thể đứng trước hoặcđứng sau vế chỉ tăng tiến hoặc xen vào giữa kết cấu chủ - vị của vế chỉ tăngtiến
Ví dụ:
+ Tuy nhà nghèo nhưng cậu bé rất tốt bụng
+ Cậu bé rất tốt bụng tuy nhà nghèo
+ Cậu bé tuy nhà nghèo nhưng rất tốt bụng
Để cho trẻ nói được đúng một số loại câu ghép chính phụ này cần hướngdẫn cho trẻ hiểu được nghĩa của từng vế câu, của các cặp quan hệ từ Sau đócho trẻ tập đổi vị trí của các quan hệ từ và các vế câu với nhau giúp cho câunói của trẻ trở nên phong phú, đa dạng hơn
1.2.2 Cơ sở của phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em
1.2.2.1 Cơ sở tâm lí
Ở lứa tuổi mẫu giáo lớn, trẻ đã có khả năng chú ý có chủ định từ 37 - 51phút, đối tượng chú ý hấp dẫn, nhiều thay đổi, kích thích được sự tò mò, hamhiểu biết của trẻ Trẻ có thể phân phối được chú ý vào 2, 3 đối tượng cùngmột lúc, tuy nhiên thời gian phân phối chú ý chưa bền vững, dễ dao động.Các hiện tượng tâm lý như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng về cơ bản là sựnối tiếp sự phát triển ở lứa tuổi từ 4 - 5 tuổi nhưng chất lượng mới hơn Thểhiện ở: mức độ phong phú của các kiểu loại, mức độ chủ định các quá trìnhtâm lý rõ ràng hơn, có ý thức hơn, tính mục đích hình thành và phát triển ở
Trang 15mức độ cao hơn, độ nhạy cảm của các giác quan được tinh nhạy hơn, khảnăng kiềm chế các phản ứng tâm lý được phát triển Quá trình tâm lý pháttriển mạnh mẽ và đặc trưng nhất đó là tư duy: trẻ đã biết phân tích tổng hợpkhông chỉ dừng lại ở đồ vật, hình ảnh mà ngay cả từ ngữ, tư duy của trẻ dầndần mất đi tính duy kỷ, tiến dần đến khách quan, hiện thực hơn, dần dần trẻphân biệt được thực và hư, ý thức rõ về những ý nghĩ, tình cảm của mình,trách nhiệm đối với hành vi Ở trẻ 5 - 6 tuổi phát triển cả 3 loại tư duy, tưduy hành động trực quan vẫn chiếm ưu thế Tuy nhiên do nhiệm vụ hoạtđộng mà cả loại tư duy hình ảnh trực quan, tư duy trừu tượng được phát triển
ở trẻ Loại tư duy này giúp trẻ đến gần với hiện thực khách quan Ở lứa tuổinày, tinh thần trách nhiệm và ý thức về bản ngã của trẻ cũng dần dần đượchình thành
Vốn từ và cơ cấu ngữ pháp của trẻ phát triển Trẻ có nhu cầu nhận sựgiải thích và cũng thích giải thích cho các bạn.Việc sử dụng ngôn ngữ tronggiao tiếp, các tính chất của ngôn ngữ, câu nói đầy đủ, rõ ràng ở trẻ phụ thuộcphần lớn vào việc hướng dẫn và sự gương mẫu về lời nói của người lớn
1.2.2.2 Cơ sở sinh lí
- Hệ thần kinh đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và pháttriển ngôn ngữ ở trẻ Từ lúc chào đời cho 5 - 6 tuổi hệ thần kinh của trẻ đãtương đối phát triển Não bộ là cơ sở vật chất không thể thiếu đối với quátrình nhận thức, tư duy của con người Nó là cơ quan quan trọng trong quátrình hình thành và phát triển ngôn ngữ ở trẻ
+ Về não bộ:
Trọng lượng của não bộ theo tuổi của Gundobin (đơn vị tính: gam)
Trang 16Tuổi Nam Nữ So với trọng
vỏ bọc miêlin Nói chung, đến gần 2 tuổi thì quá trình miêlin hóa đã tương đốihoàn thiện sự miêlin hóa có ý nghĩa lớn vì nó góp phần làm cho hưng phấnđược truyền một cách riêng biệt theo các sợi thần kinh Vì thế, hưng phấnđược truyền đến vỏ não một cách chính xác, định khu hơn Từ đó, hoạt độngcủa trẻ hoàn thiện hơn
Trong thời kì sơ sinh, vỏ não và thể vân chưa phát triển Lúc đầu chủ yếucác trung tâm dưới vỏ, sau đó vỏ não mới được hình thành và phát triển
Hệ thống mao mạch trong não của trẻ (đặc biệt là trẻ sơ sinh) phát triểnmạnh, các đám rối huyết quản chưa phát triển
Trong não của trẻ em có nhiều nước, nhiều chất đạm, ít chất mỡ Khi trẻđược 2 tuổi thì thành phần hóa học của não giống như người lớn
Sự phát triển của các đường dẫn truyền diễn ra mạnh mẽ theo sự tăng lêncủa tuổi và được tiếp tục cho đến khi trẻ 14 - 15 tuổi
Trang 17+ Về tiểu não:
Tiểu não tuy phát triển muộn nhưng có tốc độ phát triển nhanh Trẻ sơsinh tiểu não chưa phát triển: các rãnh chưa sâu, khối lượng còn nhỏ Khi trẻđược khoảng từ 1 - 2 tuổi, tiểu não có khối lượng và kích thước gần giống vớinão của người lớn
+ Về hành tủy, não giữa:
Khi trẻ được 5 - 6 tuổi, hành tủy và não giữa có vị trí giống như ở ngườilớn về mặt chức năng
- Ở người, hệ thống tín hiệu thứ nhất (như ánh sáng, nhiệt độ, màu sắc…) và hệ thống tín hiệu thứ hai (đó là lời nói, chữ viết) có liên hệ chặt chẽvới nhau, trong đó hệ thống tín hiệu thứ hai chiếm ưu thế Sự hình thành hệ thống tín hiệu thứ hai cũng trải qua các độ tuổi khác nhau:
Vào khoảng 6 tháng sau của năm đầu, ở trẻ đã xuất hiện những phản xạ
có điều kiện với kích thích ngôn ngữ nhưng những kích thích này thường tácđộng phối hợp với những kích thích khác như hoàn cảnh xung quanh, tư thếthân mình, nét mặt, nụ cười… Do đó, bản thân kích thích chỉ có thể gọi làkích thích ngôn ngữ có điều kiện vì trẻ không phân biệt được từ ngữ vớinhững nghĩa tư duy của từ ngữ, mà chỉ phân biệt được cao độ và âm sắc củatiếng nói và giọng nói Khi trẻ được 7 - 8 tháng bắt đầu xuất hiện ngôn ngữtrực tiếp
Vào lúc 1 - 2 tuổi, trẻ có thể giao tiếp với những người xung quanh bằngngôn ngữ nhờ sự giúp đỡ của người lớn Dần dần vốn từ của trẻ được tăng lênmột cách nhanh chóng Đến 3 tuổi, vốn từ của trẻ khá phong phú, có thể đạttới 1000 từ và sự phát âm các từ của trẻ tương đối chính xác Trẻ 4 tuổi, ngônngữ của chúng phát triển phong phú vì có thêm các từ mới Do đó, số lượngcác khái niệm được chúng lĩnh hội cũng tăng lên, trẻ nói đúng ngữ pháp hơn.Trẻ từ 5 - 7 tuổi có vốn từ khá nhiều và chúng có thể dùng ngôn ngữ để đáp
Trang 18lại ngôn ngữ Như vậy, lúc này ở trẻ đã xuất hiện mối liên hệ “ngôn ngữ ngôn ngữ”.
-Ở giai đoạn mẫu giáo lớn, hệ thần kinh của trẻ đã tương đối phát triển,
hệ thần kinh trung ương và ngoại biên đã biến hóa, chức năng phân tích, tổnghợp cả vỏ não đã hoàn thiện, số lượng các phản xạ có điều kiện ngày càngnhiều, tốc độ hình thành phản xạ có điều kiện nhanh Do đó, trẻ có thể nóiđược những câu dài, có biểu hiện ham học, có ấn tượng sâu sắc đối với nhữngngười xung quanh Đây là những điều kiện cần thiết để cho trẻ có thể nhậnbiết, tiếp thu được những kiến thức xung quanh, học hỏi được hệ thống ngônngữ, cách nói, cách diễn đạt của những người xung quanh hoặc theo nhữngcâu chuyện văn học dành cho trẻ
1.2.2.3 Cơ sở ngôn ngữ
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non diễn ra với tốc độ nhanh Giai đoạn từ 0 - 5 tháng tuổi còn gọi là giai đoạn tiền ngôn ngữ của trẻ Khoảng 3tháng tuổi, trẻ đã biết “hóng chuyện”, trẻ đã phát ra những chuỗi âm liên tụckhông rõ ràng Đến giai đoạn 6 - 12 tháng tuổi trẻ phát âm bập bẹ, bi bô như
“bà bà, bố bố, măm măm…” Từ 12 - 18 tháng tuổi vốn từ của trẻ đã pháttriển lên đến 20 - 30 từ Từ 19 - 21 tháng, số lượng từ tăng nhanh Đến 21 tháng, trẻ đạt tới 220 từ Giai đoạn 21 - 24 tháng, tốc độ chậm lại, chỉ đạt 234
từ vào tháng 24, sau đó lại tăng tốc: 30 tháng đạt 434 từ, 36 tháng đạt 486 từ.Đến năm thứ 3, trẻ đã sử dụng được trên 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ, tính từ và các loại từ khác rất ít Danh từ chỉ đồ chơi, đồ dùng quen thuộc, các
con vật gần gũi như: mèo, chó, gà… Động từ chỉ hoạt động gần gũi như: ăn,
ngủ, đi… Trẻ 4 tuổi có thể nắm được xấp xỉ 700 từ Ưu thế vẫn thuộc về danh
từ và động từ Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ Từ 5 - 6tuổi vốn từ của trẻ tăng bình quân đến 1.033 từ; tính từ và các loại từ khác đãchiếm một tỉ lệ cao hơn
Trang 19Khả năng sử dụng câu của trẻ cũng có những tiến bộ đáng kể Nếu nhưđầu năm trẻ chỉ nói được câu có 2 từ, ví dụ “bà bế” thì đến 3- 4 tuổi, trẻ đã nóiđược câu đầy đủ hơn, ví dụ như “ bà ơi bế con với, con ăn cơm rồi ạ…” Trẻhay đặt các câu hỏi “tại sao?, đây là cái gì?, cái này dùng để làm gì?, ” 5 - 6tuổi, trẻ có thể nói được những câu dài hơn, số lượng câu đơn, câu ghép tronglời nói của trẻ cũng tăng lên đáng kể Trẻ có thể diễn đạt được những điều màtrẻ mong muốn, cấu trúc câu cũng trở nên chính xác và hoàn thiện hơn Trẻhứng thú với việc tham gia vào các hoạt động nghe và kể chuyện.
1.2.2.4 Cơ sở giáo dục
Nhiệm vụ của giáo dục mầm non là giáo dục thể chất, trí tuệ, đạo đức,thẩm mỹ và lao động Các nhiệm vụ này được thực hiện khi tiến hành việc tổchức các hoạt động giáo dục trong trường mầm non Đề cập ở đây là nhiệm
vụ giáo dục trí tuệ cho trẻ thông qua hoạt động học Sự phát triển trí tuệ củatrẻ có hiệu quả nhất diễn ra dưới tác động của dạy học và giáo dục Nó có ýnghĩa to lớn đối với toàn bộ hoạt động và sự phát triển sau này của trẻ Giáoviên cần thường xuyên tăng cường vốn tri thức cho trẻ, sắp xếp, giải thích và
hệ thống hóa các tri thức đó để giúp trẻ phát triển quá trình nhận thức
Cùng với sự phát triển nhận thức là quá trình phát triển ngôn ngữ ở trẻ.Việc nắm được ngôn ngữ tạo ra khả năng nắm tri thức một cách gián tiếp(thông qua kể chuyện, giải thích của giáo viên…) mà không phải chỉ bằng conđường tri giác trực tiếp các sự vật và hiện tượng Nhiệm vụ của trường mẫugiáo là phát triển ngôn ngữ cho trẻ; làm phong phú vốn từ, hình thành hệthống ngữ pháp, biết đặt câu, diễn đạt câu, phát triển ngôn ngữ mạch lạc, đúngđắn
Việc tiếp thu tri thức cũng như phát triển ngôn ngữ chủ yếu qua hoạtđộng học Thông qua các hoạt động học, giáo viên tổ chức, điều khiển, đề ramục đích, yêu cầu của giờ học, lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học, ápdụng các nguyên tắc khi dạy học để kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của
Trang 20trẻ Từ đó giúp trẻ dễ tiếp thu hệ thống tri thức, phát triển nhận thức, nănglực trí tuệ và rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng Đồng thời giúp trẻphát triển được khả năng diễn đạt ngôn ngữ một cách rõ ràng, mạch lạc.Đáp ứng được những điều trên sẽ góp phần đào tạo trẻ trở thành một conngười phát triển toàn diện, vừa có tài, vừa có đức.
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Nội dung chương trình
Ở lứa tuổi 5 - 6 tuổi, trẻ thích được tham gia vào hoạt động nghe và
kể chuyện Từ những câu chuyện trẻ đã được nghe, trẻ sẽ ghi nhớ được vàvận dụng vốn từ ngữ của mình để kể lại câu chuyện đó theo trí nhớ, sự sángtạo của trẻ Để cho trẻ có thể dễ dàng tiếp thu và kể lại câu chuyện mộtcách trọn vẹn hơn thì cần chú ý một số điểm sau:
- Các tác phẩm dùng để kể lại:
Để việc dạy trẻ kể lại các câu chuyện một cách có kết quả, điều đầu tiên
là phải biết chọn lọc những câu chuyện để kể cho trẻ nghe Các câu chuyệndùng để kể cho trẻ nghe không nên quá dài, cần lưu ý tới đặc điểm vềkhả năng ghi nhớ và tập trung của trẻ Những câu chuyện phải phù hợp vớitrẻ về nội dung, phát triển ở trẻ những đặc tính cần thiết của nhân cách.Chủ đề của câu chuyện cần phải rõ ràng, các sự kiện trong chuyệndiễn ra theo một trình tự nhất định Từ ngữ cần phải gần gũi, dễ hiểu,chính xác Kết cấu ngữ pháp không phức tạp, hành văn phải sáng sủa, giàuhình ảnh Sau khi nghe, trẻ có thể kể lại và thể hiện được thái độ của mìnhđối với các sự kiện trong chuyện
Khi kể lại, trẻ có thể bỏ sót một vài khía cạnh, một vài tình tiết nhưngkhông làm mất tính lôgic của sự phát triển các sự kiện trong chuyện Có thểthay các từ của các tác giả bằng các từ nghĩa tương tự nhưng phải thể hiện
rõ nghĩa của câu Ở trẻ mẫu giáo lớn có thể cho trẻ thay đổi cả câu nhưngcần đảm bảo nội dung tình tiết trong câu chuyện
Trang 21Một số câu chuyện để kể cho trẻ mẫu giáo lớn nghe như: “Quả bầutiên”, “Bài học đầu năm”, “Cái đuôi của Sóc Nâu”, “Cây rau của Thỏ Út”, “Baanh em”, “Tích chu”, “ Chiếc áo mùa xuân”, “Chó Sói và Cừu non”, “Vì saoThỏ cụt đuôi”, “Bê mẹ và Bê con”, “Giọt nước t xíu”, “Sự tích mùa Xuân”,
- Yêu cầu đối với việc trẻ kể lại:
Đối với việc trẻ kể lại chuyện có những yêu cầu cơ bản sau:
+ Trẻ cần hiểu đầy đủ nội dung câu chuyện
+ Trẻ kể lại đầy đủ nội dung câu chuyện, có thể bỏ sót một vài khíacạnh, tình tiết nhưng không làm mất tính lôgic của các sự kiện trong chuyện.+ Các chi tiết phải được kể theo một trình tự nhất định
+ Sử dụng các từ của tác giả hoặc thay các từ ngữ của tác giả bằng các
từ tương tự nhưng phải đạt
+ Trẻ có thể thay đổi câu nhưng phải đảm bảo tính mạch lạc, không sailệch nội dung chuyện
+ Trẻ kể với nhịp điệu liên tục, không ngắt quãng quá lâu
+ Trong lúc kể chuyện, trẻ phải thể hiện sự lịch thiệp, tự tin, bìnhtĩnh, nói rõ ràng, hướng về phía các bạn
Những yêu cầu trên có liên quan chặt chẽ với nhau, không thể bỏqua một yêu cầu nào Như vậy, bằng vốn từ của mình, trẻ sẽ kể lại câuchuyện một cách chính xác, hấp dẫn, sáng tạo hơn
- Cơ cấu giờ học kể lại chuyện:
Chuyện dùng để trẻ nghe và kể lại cần phải dễ hiểu đối với trẻ
Hiểu được nội dung câu chuyện sẽ giúp trẻ nhớ lâu Nếu nội dung tácphẩm tương đối phức tạp so với sự nhận thức của trẻ thì có thể đọc cho trẻnghe trước rồi 2 - 3 tiết sau mới yêu cầu kể lại Nếu là tác phẩm không phứctạp, trẻ dễ tiếp thu thì trên một tiết học có thể đọc cho trẻ nghe, sau đóphân tích và cho trẻ kể lại
Trang 22Đầu tiên, câu chuyện được đọc một cách tự nhiên để trẻ tiếp nhận mộtcách tự do Sau đó, để trẻ kể lại nhất thiết phải có đàm thoại về câu chuyện.Trong khi đàm thoại, giáo viên cần nắm được tình hình trẻ hiểu câu chuyệnđến mức độ nào, giải thích nội dung nếu thấy cần thiết; nhắc trẻ nhớ trình
tự các sự kiện; khuyến khích để cho trẻ nói được nhiều; tạo điều kiện để trẻbiết kể lại một cách diễn cảm Trong lúc đàm thoại có thể sử dụng một sốphương pháp như đặt câu hỏi, giải thích, chỉ dẫn cách nói diễn cảm, sửa lỗicho trẻ,… có thể cho trẻ đồng thanh nhắc lại cách diễn đạt ý của tác giả đểtrong khi kể lại trẻ bắt chước sử dụng Giáo viên cần hướng dẫn trẻ diễnđạt ý một cách mạch lạc, diễn cảm; khuyến khích, động viên trẻ để trẻmạnh dạn, tự tin hơn khi đứng trước lớp kể lại chuyện
Trong 6 tháng cuối năm học, khi trẻ đã làm quen với môi trường lớphọc, khi đã có nhiều tài liệu để kể chuyện, giáo viên có thể tiến hành giờ họctập nghe và kể lại những câu chuyện quen thuộc
1.3.2 Thực trạng của hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện
Theo chương trình giáo dục mầm non hiện nay thì các trường mầm nonchủ yếu dạy trẻ theo chương trình mầm non mới Đổi mới cả về hình thức
và nội dung cho nên khi tổ chức các hoạt động dạy cần “ lấy trẻ làm trungtâm” và giáo viên là người tạo cơ hội hướng dẫn gợi mở, tạo hứng thúcho trẻ Trường mầm non Cổ Loa - xã Cổ Loa - huyện Đông Anh - thành phố
Hà Nội cũng là một trường áp dụng phương thức dạy học theo chương trìnhđổi mới như vậy Qua quá trình thực tập trong thời gian 12 tuần ở trường,chúng tôi nhận thấy có một số điểm thuận lợi và khó khăn trong việc dạytrẻ kể lại chuyện như sau:
1.3.2.1 Thuận lợi
Nhà trường có tổng số 70 cán bộ, giáo viên, công nhân viên Trong đó có
50 giáo viên đều có trình độ chuyên môn trung cấp, cao đẳng, đại học sư
Trang 23phạm Giáo viên đều có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, luôn cố gắngkhông ngừng rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, sự sáng tạotrong giảng dạy, rèn luyện phẩm chất đạo đức và lối sống Giáo viên đều rấtyêu nghề, yêu trẻ, nhiệt huyết với công việc Đối với hoạt động dạy trẻ kể lạichuyện, giáo viên đã có phương pháp, sự sáng tạo trong giảng dạy Cô giáo kểchuyện diễn cảm, lưu loát, rõ ràng, mạch lạc.
Ban giám hiệu nhà trường cùng toàn thể giáo viên đã ý thức được tầmquan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng như dạy trẻ nóiđúng ngữ pháp
Về cơ sở vật chất nhà trường đã trang bị đầy đủ trang thiết bị cho lớphọc để phục vụ cho việc giảng dạy như: máy tính, loa đài, mạng internet, các
bộ tranh minh họa chuyện, trang phục đóng vai nhân vật trong chuyện,…
Đa số trẻ có hứng thú tham gia một cách chú ý, sôi nổi, tích cực vào hoạt
cùng thời gian học, và phương pháp dạy trẻ kể lại chuyện nhưng có những sựkhác biệt về nhận thức của trẻ Có những trẻ còn chưa tiếp nhận hếtđược những kiến thức, vấn đề mà giáo viên giảng dạy
Một số trẻ còn chưa chú ý nên chưa nắm bắt được nội dung của câuchuyện, bài học, những vấn đề giáo viên đưa ra và dạy trẻ Chính vì vậy khi
kể lại chuyện trẻ chưa kể được lưu loát, đúng theo thứ tự nội dung, diễnđạt còn lủng củng
Trang 24Hoặc có những trẻ đã nắm bắt được nội dung câu chuyện nhưng còn gặpkhó khăn trong cách diễn đạt nên câu văn của trẻ chưa trôi chảy, diễn đạt hay mắc lỗi.
Trang 25Một số giáo viên còn hay sử dụng tiếng địa phương, phát âm từ vựngsai nên khi diễn đạt câu cũng hay bị mắc lỗi Trong các hoạt động giảng dạynói chung và hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện nói riêng, giáo viên còn chưachú ý tới việc tích hợp lồng ghép các hoạt động với nhau và chưa chú ýđến việc luyện cho trẻ nói đúng cấu trúc ngữ pháp trong câu.
Tiểu kết chương 1
Căn cứ vào những cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề, chúng ta thấyđược tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng như việc dạytrẻ nói đúng ngữ pháp trong Tiếng Việt Qua thực tiễn, chúng ta thấy đượcnhững thuận lợi và những khó khăn vẫn còn tồn tại khi tiến hành các hoạtđộng dạy trẻ kể lại chuyện Nhìn chung các trường mầm non hiện nay đãtiến hành đổi mới chương trình về cả nội dung và hình thức Các hoạt độnghọc cũng được tiến hành đổi mới sáng tạo hơn Trường mầm non Cổ Loacũng là một trường tiêu biểu cho việc đổi mới đó Nhà trường cũng chú ý vàtạo điều kiện để có thể phát triển ngôn ngữ và khả năng diễn đạt cho trẻ.Nhưng thực tế do nhiều yếu tố tác động nên việc nói đúng cấu trúc câu nóichung và câu ghép chính phụ nói riêng của trẻ vẫn còn gặp nhiều khókhăn Từ đó nhận thấy được tình trạng trẻ nói những câu què, câu cụt,câu chưa trọn nghĩa chiếm một số lượng không nhỏ và rất khó cho việc thểhiện tác phẩm văn học bởi vì trẻ một phần nghèo nàn về vốn từ, không hiểu
ý nghĩa của câu, không biết phải diễn đạt câu sao cho rõ ràng, mạch lạc.Chính vì vậy cần phải có những biện pháp thích hợp áp dụng lồng ghéptrong hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện để dạy trẻ nói đúng một số loại câughép chính phụ, giúp cho khả năng diễn đạt của trẻ tốt hơn, câu văn củatrẻ trở nên gãy gọn, chính xác, lời ăn tiếng nói của trẻ mang tính thẩm mĩcao hơn
Trang 26CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP DẠY TRẺ MẪU GIÁO LỚN NÓI ĐÚNG MỘT SỐ LOẠI CÂU GHÉP CHÍNH PHỤ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY TRẺ KỂ LẠI CHUYỆN
2.1 Nguyên nhân dẫn đến việc trẻ nói chưa đúng cấu trúc ngữ pháp
trong Tiếng Việt
2.1.1 Nguyên nhân chủ quan
Việc trẻ nói chưa đúng cấu trúc ngữ pháp trong Tiếng Việt có thể domột số nguyên nhân chủ quan như sau:
- Trẻ mắc một số vấn đề về sinh lý:
+ Trẻ mắc các bệnh lý về hệ thần kinh, não bộ bị tổn thương gây nênhội chứng hạn chế năng lực biểu đạt ngôn ngữ, không có khả năng nóihoặc viết mặc dù có khả năng hiểu được ngôn ngữ Những khiếm khuyết về
hệ thống thần kinh chiếm tới 50% nguyên nhân gây nên những hạn chế
về ngôn ngữ ở trẻ
+ Trẻ bị khiếm thính: Khiếm thính là nguyên nhân phổ biến làm cho trẻchậm phát triển ngôn ngữ Trẻ sẽ gặp nhiều vấn đề khó khăn khi không nghethấy hoặc không nghe rõ nội dung giao tiếp một cách liền mạch, rõ ràng Vấn
đề khiếm thính tỷ lệ thuận với vấn đề chậm phát triển kĩ năng ngôn ngữ.Khiếm thính có thể ảnh hưởng rõ nét tới mức độ phát triển ngôn ngữ
+ Cơ quan phát âm của trẻ bị khiếm khuyết hoặc mắc các dị tật gây khókhăn cho trẻ trong khi phát âm, nói câu hoàn chỉnh
- Trẻ chậm phát triển trí tuệ dẫn đến sự nhận thức của trẻ gặp nhiềukhó khăn hơn Trẻ có thể học hành chậm hơn, hay quên hơn và thường khókhăn trong việc quy ước hành vi của mình Đồng thời khả năng ứng dụng haykhái quát hóa khi gặp vấn đề mới mẻ cũng kém hơn Những trẻ có khiếmkhuyết về trí lực thông thường vẫn bi bô, bập bẹ suốt năm đầu đời và có thểnói được
Trang 27những từ đầu tiên giống như trẻ thông thường Tuy nhiên, trẻ thườngkhông làm được những điều sau: ghép các từ với nhau, nói một câu hoànchỉnh, vốn từ vựng không phong phú, không phát triển về mặt ngữ phápcâu Những trẻ này thường có xu hướng nhắc lại hoặc nói theo một thứ tựnhất định, ít sự sáng tạo.Tuy nhiên, quá trình phát triển về mặt từ vựng vàngữ pháp thường diễn ra theo một trình tự không có quá nhiều sự khác biệtđối với trẻ phát triển bình thường.
Đối với những trẻ gặp những khó khăn như trên cần có những biệnpháp can thiệp kịp thời, đúng cách để trẻ có thể phát triển khả năng ngônngữ một cách hiệu quả nhất
Ngoài ra còn một số nguyên nhân chủ quan như:
- Trẻ không tập trung, chú ý: Trong cuộc sống hằng ngày hoặc trong cáctiết học trên lớp, trẻ không tập trung, bị phân tâm vào các vấn đề, sựkiện khác quanh trẻ Từ đó dẫn đến việc trẻ không hiểu, không tiếp thuđược những từ vựng, dạng cấu trúc ngữ pháp mới Do vậy, trẻ gặp khó khăntrong việc diễn đạt câu gây khó khăn trong việc trình bày một tác phẩm haymột ý kiến nào đó của trẻ
- Trẻ rụt rè: Do những nguyên nhân như ít được giao tiếp, chậmthích nghi, mặc cảm, được quá nuông chiều, do áp đặt, so sánh… khiếncho trẻ khoác lên mình tính rụt rè, nhút nhát Điều này làm cho trẻ cảmthấy tự ti, không dám nói ra những điều mình muốn nói, không tự tin khiđứng trước đám đông Chính vì vậy, khi phải đưa ra ý kiến của mình hoặctrình bày một vấn đề, một tác phẩm văn học trước mọi người, trẻ thườnghay tỏ ra ngại ngùng, lúng túng; lời nói của trẻ bị ấp úng, ngắt quãng,cộc lốc, hay mắc nhiều lỗi sai
- Do thói quen trẻ hay dùng liên ngữ: Do thói quen nên khi nói, kểchuyện trẻ thường hay sử dụng các liên ngữ thay cho các từ cần dùng
Trang 28câu nói đó Để liên kết các vế câu, các câu với nhau trẻ thường hay sử dụngcác liên ngữ như: Thế là, xong là, thế thì, thế rồi, sau đó…Việc sử dụng liênngữ theo thói quen làm cho câu văn, đoạn văn của trẻ trở nên lủng củng,mắc lỗi diễn đạt.
2.1.2 Nguyên nhân khách quan
Yếu tố môi trường xung quanh có tầm ảnh hưởng lớn tới sự phát triểnnhân cách, nhận thức của trẻ Việc trẻ nói chưa đúng cấu trúc ngữ pháptrong Tiếng Việt có thể do một số nguyên nhân khách quan như sau:
- Trẻ bị ảnh hưởng từ những người xung quanh: Vì trẻ học nói chủ yếubằng cách bắt chước những người xung quanh Khi được giao tiếp với nhữngngười nói đúng, đầy đủ thành phần câu trẻ cũng sẽ học nói đúng nhưvậy Nhưng khi giao tiếp với những người nói thiếu thành phần câu, câunói cộc lốc, trống không thì trẻ cũng sẽ học theo cách nói của người đó vàkhả năng bắt chước những điều không tốt thường nhanh hơn Điều này gâyảnh hưởng rất nhiều đối với trẻ nếu như trẻ sinh sống ở môi trường đótrong thời gian dài Do vậy trẻ thường hay mắc lỗi về cấu trúc câu khi nói
- Trẻ không có sự quan tâm của người lớn:
+ Gia đình là một môi trường vô cùng quan trọng có tầm ảnh hưởng lớnđến trẻ Tuy nhiên, do cuộc sống cơm áo gạo tiền mà nhiều bậc phụ huynhchỉ chăm lo tới việc kiếm tiền trang trải cho cuộc sống của gia đình màkhông có thời gian hoặc không chú ý tới những nhu cầu, những điều đáng lẽ
ra trẻ phải được quan tâm, dạy dỗ Chính vì thế trẻ tự do giao tiếp, nói năng
mà không có ai sửa dạy khi trẻ bị mắc lỗi về từ vựng, ngữ pháp
+ Nhiều bậc phụ huynh phó mặc cho giáo viên trên lớp dạy dỗ conmình Nhưng khi đến lớp, trẻ lại không được bao quát hết, không đượcgiáo viên chú ý sửa lỗi nên vẫn mắc các lỗi diễn đạt khi nói
+ Hoặc nhiều cha mẹ cũng quan tâm tới sự phát triển những kĩ năng
Trang 29mềm ở trẻ như cho trẻ đi học các môn năng khiếu: vẽ, đàn, hát, ngoạingữ,
Trang 30múa… nhưng lại không chú ý tới kĩ năng ngôn ngữ ở trẻ Do vậy, trẻ phát triển tốt những kĩ năng khác còn kĩ năng ngôn ngữ của trẻ lại bị hạn chế hơn.
- Trẻ ít được giao tiếp:
+ Trẻ được nuôi dưỡng trong gia đình có nhiều người có khả năng giaotiếp quá tốt, nói quá nhiều mà trẻ không cần nói nhiều cũng đạt đượcđiều mình muốn thể hiện Hoặc trẻ sinh sống trong gia đình mà tất cả mọingười đều là những người nói ít, giao tiếp không tốt làm cho trẻ ngạigiao tiếp, không muốn nói chuyện
+ Khi đến lớp, trẻ ít có cơ hội giao tiếp với bạn bè, giáo viên
Những nguyên nhân trên là những yếu tố tác động đến trẻ khiến chotrẻ gặp nhiều khó khăn hoặc ít có cơ hội để giao tiếp Khi giao tiếp, trẻ khôngđược người lớn chú ý hướng dẫn, sửa sai cho trẻ Do đó, trẻ hay mắc các lỗikhi diễn đạt câu để bày tỏ ý kiến, trình bày một vấn đề hoặc một tác phẩmvăn học Điều này làm cho việc nói đúng ngữ pháp nói chung và nói đúng câughép chính phụ nói riêng của trẻ gặp nhiều khó khăn
Thời gian trẻ sinh hoạt, học tập ở trên lớp cũng chiếm phần tươngđương với thời gian ở nhà Vì thế, ngoài việc chú ý dạy dỗ của các bậc phụhuynh thì giáo viên cũng là người đóng vai trò quan trọng trong việc hướngdẫn, dạy trẻ học nói đúng cấu trúc ngữ pháp thông qua các hoạt động ở trênlớp Và dưới đây là một số biện pháp giáo viên có thể áp dụng khi dạy trẻmẫu giáo lớn nói đúng một số loại câu ghép chính phụ thông qua hoạt độngdạy trẻ kể lại chuyện
2.2 Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn nói đúng một số loại câu ghép chính phụ thông qua hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện
Ở trong trường mầm non hiện nay không có những giờ học riêng biệt đểdạy trẻ nói đúng ngữ pháp Chính vì vậy, giáo viên cần phải kết hợp việc dạy ngữ pháp với dạy lời nói mạch lạc trong các giờ kể chuyện Đối với trẻ mẫu
Trang 31giáo lớn, trong khi kể lại chuyện, trẻ thường hay sử dụng những loại câu khácnhau làm cho câu chuyện thêm sinh động, sáng tạo hơn Câu ghép chínhphụ cũng là loại câu trẻ thường hay sử dụng Tuy nhiên, trẻ vẫn có thể mắclỗi sai về cách diễn đạt Dưới đây là một số biện pháp giúp trẻ nói đúng một
số loại câu ghép chính phụ thông qua hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện
2.2.1 Biện pháp xây dựng mẫu câu và sử dụng lời nói mẫu
Trẻ học lời nói chủ yếu bằng cách bắt chước Vì vậy cần có một mẫu câuchuẩn để trẻ có thể học bắt chước theo Trẻ sẽ ghi nhớ những mẫu câu vàdựa vào đó để có thể nói được câu chính xác, hoàn thiện Giáo viên cần xâydựng những mẫu câu cụ thể cho trẻ Được đề cập đến ở đây sẽ là nhữngmẫu câu ghép chính phụ
Mẫu câu ghép chính phụ được xây dựng theo các mô hình sau:
- Câu ghép có quan hệ nhân quả: Quan hệ từ nhân quả đứng xen giữakết cấu chủ - vị của hai vế chỉ nguyên nhân (C1 - V1) và vế chỉ kết quả (C2 - V2):
+ (Vì hoặc tại (vì) hoặc bởi (vì) ) C1 - V1 (nên hoặc cho nên) C2 - V2
Ví dụ: Tại vì bạn Thanh Tùng trêu con nên con khóc
+ C2 - V2 (Vì hoặc tại (vì) hoặc bởi (vì)) C1 - V1 Ví
dụ: Con khóc vì bạn Thanh Tùng trêu con
+ (Do hoặc nhờ) C1 - V1 (mà hoặc nên) C2 - V2
Ví dụ: Nhờ Bác Gấu giúp đỡ mà Sóc Nâu thoát nạn
+ (Để hoặc để cho) C1 - V1 (thì) C2 - V2
Trang 32Ví dụ: Để Sơn Ca kịp giờ thi thì chúng ta phải đem xe đến đón bạn ấy.+ C2 - V2 (để hoặc để cho) C1 - V1.
Ví dụ: Chúng ta phải đem xe đến đón Sơn Ca để cho bạn ấy kịp giờ thi
Câu ghép có quan hệ điều kiện kết quả: Quan hệ từ chỉ điều kiện kết quả đứng xen giữa kết cấu chủ - vị của hai vế chỉ điều kiện (C1 - V1) và vếchỉ kết quả (C2 -V2):
-+ (Nếu hoặc hễ) C1 - V1 (thì hoặc là) C2 - V2
Ví dụ: Hễ thấy Cừu non xuất hiện là lão Sói liền nhảy bổ ra bắt lấy
+ C2 - V2 (nếu hoặc hễ) C1 - V1
Ví dụ: Chiếc bánh này sẽ ngon hơn nếu em cho thêm một chút đường
- Câu ghép có quan hệ nhượng bộ - tăng tiến: Quan hệ từ chỉ nhượng bộ
- tăng tiến đứng xen giữa kết cấu chủ - vị của hai vế chỉ nhượng bộ (C1 - V1)
và vế chỉ tăng tiến (C2 -V2):
+ (Tuy (rằng) hoặc dù (rằng) hoặc mặc dầu) C1 - V1 (nhưng) C2 - V2 Vídụ: Tuy tôi đã nói nhiều nhưng nó vẫn không nghe
+ C2 - V2 (tuy (rằng) hoặc dù (rằng) hoặc mặc dầu) C1 - V1
Ví dụ: Nó vẫn không thay đổi mặc dầu tôi đã khuyên bảo nhiều lần
Sử dụng lời nói mẫu: Khi đã xây dựng được các mẫu câu ghép chínhphụ, giáo viên cần hướng dẫn cho trẻ học nói theo các mẫu câu ấy bằngcách nói mẫu cho trẻ nghe Khi nghe được những câu nói mẫu, trẻ sẽ bắtchước và nói theo mẫu của cô
Ví dụ: Trong câu chuyện “Ba anh em” (phỏng theo truyện cổ Grim),giáo viên xây dựng các mẫu câu sau đó nói mẫu cho trẻ nghe:
- Nếu ai tài giỏi nhất thì cha sẽ cho ngôi nhà này
- Anh khéo léo lắm nên thường được nhà vua mời vào cung để phục vụ
- Vì ba anh em yêu thương nhau lắm nên họ vẫn chung sống cùng nhautrong một nhà
Trang 33Một số lưu ý khi sử dụng biện pháp xây dựng mẫu câu và sử dụng lờinói mẫu:
- Vì trẻ học nói theo cách bắt chước nên mẫu câu phải đảm bảotính chính xác để trẻ dựa vào khuôn mẫu đó xây dựng nên câu nói đúng cấutrúc ngữ pháp
- Mẫu câu được xây dựng nên phải dễ hiểu; các vế trong câu đảmbảo ngắn gọn, không quá phức tạp nhưng đầy đủ thành phần chủ - vị ngữ
- Các mẫu câu mà giáo viên cho trẻ học phải phù hợp với nội dung củacâu chuyện
- Giáo viên cần lựa chọn những mẫu câu khác nhau tránh sự đơn điệu,nhàm chán
- Trong mỗi giờ học, nhiệm vụ của giáo viên là vừa củng cố những mẫucâu đã có vừa cung cấp những mẫu câu mới tạo sự hứng thú cho trẻ tronggiờ học Từ đó giúp trẻ tích lũy được những mẫu câu khác nhau và giúp choquá trình kể lại truyện của trẻ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn
- Khi sử dụng lời nói mẫu, giáo viên phải đảm bảo những chuẩn mực vềphương diện ngữ pháp: nói chính xác mẫu câu mà cô muốn cho trẻ họcnói, nói đúng chuẩn mực ngữ âm trong câu
- Khi nói mẫu, giáo viên cần nói rõ ràng, không nói quá nhanh tránh việctrẻ không kịp nghe và tiếp thu đầy đủ mẫu câu
2.2.2 Biện pháp cho trẻ tập nói
Sau khi đã có hệ thống mẫu câu ghép chính phụ, giáo viên tiến hànhcho trẻ tập nói Quá trình ghi nhớ được những mẫu câu diễn ra khi trẻ đãđược nghe cô giáo hướng dẫn, nói mẫu và trẻ được trực tiếp thực hành tậpnói Việc trẻ trực tiếp tập nói sẽ giúp trẻ học và nói được các mẫu câu nhanhchóng hơn
Trang 34Cô có thể đưa ra cho trẻ một vài mẫu câu ghép chính phụ phù hợpvới nội dung của câu chuyện sau đó yêu cầu trẻ tập nói theo những mẫu câuđó.
Trang 35Giáo viên có thể tổ chức cho trẻ tập nói theo các hình thức như:
+ Cho trẻ tập nói theo cá nhân: Việc tập nói cá nhân giúp trẻ tựhình dung được mẫu câu và nói câu đó theo trình tự như thế nào là đúng.Sau đó, bản thân trẻ sẽ nói và lắng nghe lời nói của mình Trẻ sẽ tự nhậnthức và ghi nhớ được câu trẻ vừa tập nói
+ Tập nói trong nhóm: Đây là bước đầu giúp trẻ có thể nói trước ngườikhác Khi nói trong nhóm, trẻ sẽ tập được cho mình khả năng nói, diễnđạt cho các bạn trong nhóm nghe Và các thành viên trong nhóm sẽ hỗ trợsửa sai cho nhau, tập cho trẻ sự đoàn kết, giúp đỡ nhau trong khi làm việcnhóm
+ Tập nói trước cả lớp: Khi đứng nói trước lớp trẻ có thể rèn luyện chomình khả năng nói trước đám đông Như vậy, trẻ sẽ bớt rụt rè hơn Và khi tựtin vào bản thân, trẻ sẽ nói được lưu loát, diễn đạt đúng cấu trúc ngữpháp hơn Đây là bước chuẩn bị cần thiết trước khi cho trẻ kể lại toàn bộmột câu chuyện trước cả lớp
Có thể khuyến khích trẻ tập nói những câu theo sự sáng tạo của trẻ Côchỉnh sửa cho trẻ nếu có lỗi sai
Ví dụ: Sau khi kể xong câu chuyện “Cây tre trăm đốt” (phỏng theotruyện cổ tích Việt Nam), cô đưa ra một vài mẫu câu ghép chính phụ cho trẻtập nói trước khi cho trẻ kể lại chuyện:
+ Mặc dù lão nhà giàu nhiều thóc, nhiều tiền nhưng tính tình lão lại rấtkeo kiệt
+ Bởi vì lão rất sợ phải trả tiền công cày cho anh nông dân cho nên lãosuy tính ngày đêm
+ Vì anh nông dân thật thà nên tin ngay vào lời của lão
Trong một câu chuyện, cô có thể đưa ra mẫu những mẫu câu ghépchính phụ khác nhau Cô sử dụng lời nói mẫu để cho trẻ có thể hình dung và
Trang 36nhớ được những mẫu câu cô đưa ra Sau đó, cô cho lần lượt từng trẻ tập nóitheo