1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khuynh hướng dân tộc tư sản trong phong trào yêu nước cách mạng việt nam (1919 1930) (2017)

103 212 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hiểu rõ hơn về chủ nghĩa dân tộc yêu nước của giai cấp tư sản Việt Nam 1919 – 1930 và đánh giá một cách khách quan sự lãnh đạocũng như lập trường giai cấp trong phong trào cách mạng V

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA LỊCH SỬ

NGUYỄN ĐÌNH LONG

KHUYNH HƯỚNG DÂN TỘC TƯ SẢN TRONG PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1919-1930)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành:

Giảng viên hướng dẫn:

TS Trần Thị Thu Hà

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

Hà-và hoàn thành khóa luận này.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Xuân Hòa, tháng 4 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Đình Long

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài: Khuynh hướng dân tộc tư sản trong phong trào cách mạng ViệtNam (1919-1930) được thực hiện trực tiếp dưới sự hỗ trợ của TS Trần ThịThu Hà

Tôi xin cam đoan rằng:

- Khóa luận là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi

- Các tư liệu được trích dẫn trong khóa luận là trung thực

- Kết quả này không trùng với kết quả của bất kì tác giả nào đã đượccông bố

Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Xuân Hòa, tháng 4 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Đình Long

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của đề tài 4

6 Bố cục của đề tài 5

Chương 1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH KHUYNH HƯỚNG DÂN TỘC TƯ SẢN TRONG PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1919-1930) 6

1.1 Điều kiện quốc tế 6

1.2 Tiền đề trong nước 7

1.2.1 Tiền đề về kinh tế 7

1.2.2 Tiền đề về xã hội 15

1.2.3 Tiền đề về văn hoá, tư tưởng 21

Tiểu kết chương: 24

Chương 2 BIỂU HIỆN KHUYNH HƯỚNG DÂN TỘC TƯ SẢN TRONG PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1919-1930) 25

2.1 Chủ nghĩa dân tộc tư sản theo khuynh hướng ôn hòa (1919-1930) 25

2.1.1 Sự chuyển biến tư tưởng của Phan Bội Châu từ bạo động cách mạng sang đấu tranh ôn hòa 26

2.1.2 Phong trào cổ động chủ nghĩa dân chủ của Phan Châu Trinh 32

2.1.3 Chủ nghĩa yêu nước ôn hòa ở một số nhân vật, tổ chức tiêu biểu 35 2.2 chủ nghĩa dân tộc tư sản theo khuynh hướng cải lương (1919-1925) 40

2.2.1 Quan điểm của nhóm Nam Phong- Phạm Quỳnh 41

2.2.2 Nhóm Lập hiến 45

Trang 5

2.3 Chủ nghĩa dân tộc tư sản cách mạng (1925-1930) 48

2.3.1 Các phong trào yêu nước dân chủ công khai của giai cấp tư sản (1925-1926) 48

2.3.2 Phong trào cách mạng quốc gia gắn liền với sự ra đời của Việt Nam Quốc Dân Đảng (1927-1930) 50

2.4 Một số nhận xét 55

2.4.1 Đặc điểm 56

2.4.2 Vị trí của khuynh hướng dân tộc tư sản trong phong trào cách mạng Việt Nam 57

Tiểu kết chương 2 58

KẾT LUẬN 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 6

1 Lí do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trang 7

Độc lập dân tộc và phát triển đất nước theo khuynh hướng “dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” luôn là lí tưởng, là khátvọng của con người Việt Nam Chính vì lẽ ấy mà hàng loạt các thế hệ cha anh,thanh niên Việt Nam đã anh dũng xả thân chiến đấu quên mình vượt qua mọikhó khăn, gian nan, thử thách để cứu nước, cứu nhà, bảo vệ chủ quyền độclập dân tộc

Cuối thế kỷ XIX thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, Việt Nam từmột nước phong kiến độc lập thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Hàngloạt các phong trào cứu nước, giải phóng dân tộc đã nổ ra để chống lại sự ápbức của giai cấp phong kiến và thực dân nhưng đều thất bại Thời đại mới quyđịnh những nhiệm vụ mới và vấn đề đặt ra là phải có một giai cấp tiên tiếnđảm nhận sứ mệnh lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ này Mặt kháctrải qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã làm cho kinh tế,văn hóa tư tưởng, xã hội Việt Nam biến đổi sâu sắc, nhiều thành phần kinh tế,nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội mới ra đời với nhiều hệ tư tưởng khác nhau

Đầu thế kỷ XX, giai cấp tư sản Việt Nam đã hình thành, tuy nhiên dotác động của điều kiện kinh tế, xã hội nên sau chiến tranh thế giới thứ nhất, cơ

sở kinh tế của giai cấp tư sản Việt Nam còn nhỏ yếu, do đó thái độ chính trịcủa họ rất bạc nhược Từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, giai cấp tư sảnViệt Nam chỉ có 2 con đường lựa chọn: hoặc là thoả hiệp, hợp tác với chủnghĩa đế quốc để duy trì địa vị phụ thuộc của mình, hoặc là đi theo phong tràođấu tranh đông đảo của quần chúng Vì vậy, giai cấp tư sản Việt Nam đã hìnhthành hai bộ phận Tầng lớp tư sản mại bản thì đi theo con đường hợp tác làmtay sai cho chủ nghĩa đế quốc, vì vận mệnh của chúng gắn liền với vận mệnhcủa chủ nghĩa đế quốc, trong khi đó tư sản dân tộc dần đi theo con đường thứ

2, con đường theo số đông của quần chúng

Trang 8

Mặt khác, các sự kiện và luồng tư tưởng dân chủ tư sản từ Pháp, TrungQuốc, Nhật Bản đã xuất hiện ở Việt Nam Đến giai đoạn 1919-1930 của thế

kỷ XX, ở Việt Nam tồn tại nhiều khuynh hướng phát triển trong phong tràođấu tranh yêu nước, đó là khuynh hướng tư sản theo ôn hoà, theo bạo động,cũng có khuynh hướng theo cải lương với nhiều đảng phái nối tiếp nhau rađời, tồn tại và lãnh đạo phong trào đấu tranh của nhân dân ta Mỗi đảngphái,mỗi tổ chức đều có những ưu điểm và hạn chế riêng, có những đảng phái,

tổ chức đứng trên lợi ích của dân tộc, có những đảng phái đặt lợi ích của dântộc lên hàng đầu Để hiểu rõ hơn về chủ nghĩa dân tộc yêu nước của giai cấp

tư sản Việt Nam (1919 – 1930) và đánh giá một cách khách quan sự lãnh đạocũng như lập trường giai cấp trong phong trào cách mạng Việt Nam, chúngtôi chọn đề tài “Khuynh hướng dân tộc tư sản trong phong trào yêu nước cáchmạng Việt Nam (1919-1930)” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Chủ nghĩa dân tộc yêu nước của giai cấp tư sản Việt Nam vẫn đang làmột đề tài thu hút với những nhà nghiên cứu Vấn đề nghiên cứu về Chủnghĩa dân tộc yêu nước của giai cấp tư sản Việt Nam (1919-1930) được đềcập đến trong các công trình nghiên cứu như:

Nguyễn Công Bình, (1959), Tìm hiểu tư sản Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, NXB Văn, sử, địa, Hà Nội Đây là cuốn sách tác giả đi sâu vào tái hiện

lại quá trình phát triển của giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuôc cũng nhưthái độ chính trị của giai cấp tư sản Việt Nam đối với phong trào cách mạngViệt Nam

Nguyễn Quang Ngọc (1998), „„Cơ cấu xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam ‟‟, NXB chính trị quốc gia Hà Nội Đây là cuốn sách đề

cập đến cơ cấu xã hội Việt Nam qua từng thời kì lịch sử, từ đó rút ra nhữngđặc trưng và xu thế phát triển của cơ cấu xã hội Việt Nam trong quá trình pháttriển

Trang 9

Trần Bá Đệ (2001), Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam, NXB ĐHQG

Hà Nội Đây là cuốn sách đề cập đến một số nội dung cơ bản và chuyên sâucủa lịch sử Việt Nam thời Trung đại, Cận- Hiện đại

Giáo sư Trần Văn Giàu với tác phẩm “Sự phát triển tư tưởng ở Việt Nam”, 3 tập, in trong “Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh”, NXB

Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003 Tác phẩm viết về hệ tư tưởng của giai cấp tưsản, sự biểu hiện và các bước chuyển của nó Trong đó tập 2 là nguồn tài liệuchủ đạo đề cập đến hệ ý thức tư sản và hệ ý thức của nó trong những nhiệm

vụ của lịch sử cũng như sự phát triển tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỉ XIX đếncách mạng tháng Tám năm 1945

Ngoài ra còn một số công trình khác có liên quan như:

Trần Thị Hạnh (2012), Quá trình chuyển biến tư tưởng của nho sĩ Việt Nam trong 30 năm đầu thế kỉ XX, NXB Hà Nội Nguyễn Văn Khánh (2005), Việt Nam Quốc Dân Đảng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, NXB KHXH

và nhân văn Hà Nội Đinh Xuân Lâm, Đại cương lịch sử Việt Nam tập II, NXB Giáo Dục Nguyễn Công Bình, Hoạt động kinh doanh của giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc, Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa 11/1955.

Như vậy, cùng với việc tìm hiểu đề tài sẽ góp phần làm rõ được vị trícũng như những đóng góp của giai cấp tư sản trong lịch sử dân tộc (1919-1930), đồng thời làm rõ được mặt hạn chế của tư sản ở một nước thuộc địanửa phong kiến trước đó là phong kiến lâu đời Từ đó có những đánh giákhách quan tình hình đất nước ta giai đoạn 1919-1930 và góp phần bổ sungkiến thức, tài liệu về xã hội, chính trị, văn hóa-tư tưởng thời kì này

Như vậy, cùng với những nội dung khoa học và những vấn đề đặt ra đểnghiên cứu, trên cơ sở kế thừa các thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học

đi trước, khóa luận sẽ tập trung làm rõ “Khuynh hướng dân tộc tư sản trongphong trào cách mạng Việt Nam” giai đoạn 1919-1930

Trang 10

3 Mục đích và nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm làm sáng rõ bước đi của phongtrào yêu nước theo khuynh hướng ôn hòa, cải lương, bạo động để từ đó thấyđược tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc trong giai đoạn 1919-1930

Nhiêm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung làm rõ những nhiệm vụ sau:

Tiền đề xuất hiện khuynh hướng dân tộc tư sản trong phong trào yêunước cách mạng Việt Nam (1919-1930)

Chủ nghĩa yêu nước ôn hòa, cải lương, bạo động của giai cấp tư sảnViệt Nam đầu những năm 20 của thế kỉ XX

Đặc điểm và vai trò phong trào yêu nước theo khuynh hướng ôn hòa,cải lương, bạo động của giai cấp tư sản Việt Nam (1919-1930)

Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Khuynh hướng dân tộc tư sản trong phong trào yêunước cách mạng Việt Nam

Về thời gian: 1919-1930

4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài, khóa luận sử dụng các phương pháp như: Phươngpháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp thống kê, phương pháp hệthống tư liệu, tổng hợp đánh giá… Trong đó, phương pháp chính của đề tài làphương pháp logic và lịch sử nhằm đảm bảo tính khoa học của quá trình phântích, lí giải các sự kiện

5 Đóng góp của đề tài

Về mặt khoa học: Đề tài tìm hiểu một cách có hệ thống về khuynhhướng dân tộc tư sản (1919-1930) Từ đó cho thấy một bức tranh khái quát vềtình hình xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất và thấy được cơ

sở, tiền đề hình thành, đặc điểm, hình thức của các khuynh hướng đấu tranh

Trang 11

yêu nước trong giai đoạn này

Về mặt thực tiễn: Góp phần bổ sung nguồn tư liệu cho quá trình giảngdạy, học tập và nghiên cứu lịch sử của học sinh-sinh viên

Trang 12

Chương 1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH KHUYNH HƯỚNG DÂN TỘC TƯ SẢN TRONG PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1919-

1930) 1.1 Điều kiện quốc tế

Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, trong khi nền kinh tế, xã hội nước tađang có những biến chuyển sâu sắc thì tại nhiều nước ở phương Đông cũngdiễn ra nhiều phong trào dân tộc và cải cách dân chủ theo hướng tư sản Điểnhình là phong trào duy tân ở Nhật, cuộc vận động cải cách ở Trung Quốc, cảicách Rama tại Xiêm, phong trào Lương tri xã ở Inđônêxia, tổ chức Đồngminh hội ở Xingapo, Hội liên hiệp Phật giáo ở Myanma, phong trào Thổ Nhĩ

Kỳ trẻ ở Thổ Nhĩ Kỳ [4; tr.205]

Trong bối cảnh đó, tại Việt Nam phong trào Cần Vương kháng Phápthất bại, những người Việt Nam đang lo tìm con đường cứu nước mới thìchiến tranh Nga- Nhật nổ ra Nhật thắng Nga, từ đây đã tác động đến các nhàyêu nước Việt Nam cũng như nhiều nhà yêu nước khác trong khu vực châu Á

Họ coi Nhật Bản như người anh cả da vàng, một tấm gương để học tập và noitheo

Cùng với đó là sự ảnh hưởng của các tân văn tân thư từ Trung Quốcnhư của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, tạp chí cách mạng Tôn Dật Tiên đã

lần lượt truyền bá vào nước ta “Thông qua các Tân văn Tân thư nói trên, tư tưởng dân chủ phương Tây của Vonte, Rútxô, Môngtetxkiơ, được giới thiệu với các sĩ phu Việt Nam và giúp họ khắc phục nhanh chóng lòng luyến tiếc chế độ phong kiến, cung cấp cho họ nhiều kiến thức mới về tư tưởng chính trị

và truyền cho họ ngọn lửa nhiệt tình cách mạng” [4;tr.203].

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất cùng với bước chân xâm lược của các

đế quốc phương Tây vào phương Đông thì nền văn minh phương Tây cũng đãtràn vào các quốc gia phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng Từ đây

Trang 13

Bên cạnh đó Cách mạng tháng Mười Nga- cuộc cách mạng vô sản đầutiên trên thế giới dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ V.I.Lênin và đảng BonsevichNga đã dành thắng lợi hoàn toàn vào ngày 7/11/1917 Kết quả trực tiếp củacách mạng là sự thành lập nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới-Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết [3, tr20] Chủ nghĩa xã hội ngàycàng được mở rộng và đang dần trở thành hiện thực và mong ước của hàngtriệu người bị áp bức trên thế giới trong đó có Việt Nam Hệ tư tưởng của giaicấp công nhân ngày càng ảnh hưởng rộng khắp trên phạm vi thế giới, phongtrào đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc đang phát triển nhanh chóng.

Trên đây là những sự kiện lịch sử chính trị rất lớn có ảnh hưởng trựctiếp đến sự chuyển tiếp tư tưởng của các nhà tư tưởng ở Việt Nam thời kì nàynói chung cũng như với sự hình thành tư tưởng của giai cấp tư sản nói riêng

1.2 Tiền đề trong nước

1.2.1 Tiền đề về kinh tế

1.2.1.1 Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914)

Mục đích của thực dân Pháp khi xâm lược Việt Nam là muốn biến ViệtNam thành thị trường tiêu thụ hàng hóa và nơi cung cấp nguyên liệu và tàichính cho chính quốc Vì vậy, sau khi đàn áp phong trào kháng chiến củanhân dân ta, thực dân Pháp bắt đầu triển khai một chương trình khai thác

Trang 14

thuộc địa qui mô lớn trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cuộc khai thác nàyđược chính thức triển khai từ đầu thế kỉ XX và kéo dài đến trước chiến tranhthế giới thứ nhất, nó gắn liền với tên tuổi của toàn quyền Đông DươngP.Đume Sau khi đến Việt Nam vào cuối năm 1896, ông đã đề ra và thực thinhiều chính sách nhằm khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trìnhđầu tư phát triển kinh tế của tư bản Pháp ở Việt Nam Nhờ đó, tốc độ vốn đầu

tư vào Việt Nam được mở rộng nhanh chóng Theo ước tính của các học giảPháp thì trong khoảng thời gian từ 1896 đến 1914, riêng nhà nước Pháp đãđầu tư vào Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam trên 500 triệu Phơrăng vàng

Số vốn đó tập trung vào các ngành kĩ nghệ rồi đến giao thông vận tải vàthương nghiệp Khối lượng vốn đầu tư trong nông nghiệp- một ngành kinh tếlớn nhất của Việt Nam và Đông Dương chỉ chiếm 8% tổng số vốn đầu tư [11;tr.107]

Vừa được cử sang làm toàn quyền Đông Dương ngày 13-2-1897, đếnngày 22 tháng 3 năm 1897, P.Đume đã gửi cho Bộ Hải Quân thuộc địa Phápmột chương trình hành động gồm 7 điểm, tập trung vào các vấn đề như: hoànthiện cơ cấu tổ chức hành chính trên lãnh thổ và cho từng xứ ở Đông Dương,sửa đổi chế độ tài chính, thuế khóa, xây dựng các thiết bị khai thác, tạo điềukiện chắc chắn cho tư bản Pháp đầu tư vào Đông Dương, ổn định tình hìnhchính trị và quân sự đồng thời khuếch trương ảnh hưởng của Pháp ra vùngViễn Đông, nhất là đối với các nước lân cận…[4; tr.189]

Pháp cử P.Đume sang làm toàn quyền Đông Dương là mở một giaiđoạn mới của chủ nghĩa thực dân ở xứ này, giai đoạn mà hai đặc điểm nổi bậtlà: thứ nhất hoàn thành sự xây dựng cơ cấu mọi mặt của bộ máy cai trị toànĐông Dương – cơ cấu này về căn bản sẽ tồn tại mãi đến trước Cách mạngtháng 8 năm 1945; thứ nhì, mở đầu một cuộc khai thác qui mô những tàinguyên của Việt Nam, của Đông Dương – cuộc khai thác này sẽ bị gián đoạn

Trang 15

bởi chiến tranh thế giới thứ nhất, nhưng sẽ được mở rộng sau đó Cả hai đềudẫn đến một tình hình phân hóa giai cấp xã hội và chính trị mới ở Việt Nam,chính đó là cơ sở nội tại của giai đoạn mới trong sự phát triển tư tưởng và đấutranh tư tưởng Không phải là đợi đến khi nào “bình định” xong thì thực dânmới bắt đầu khai thác Hễ xâm chiếm được một bước thì Pháp lo khai thácmột bước: đó là một cách của nó “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” [5;tr.14,15]

Trong chương trình hai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914), thựcdân Pháp đã đẩy mạnh đầu tư vào Đông Dương (từ năm 1896 đến 1914 đầu tư

514 triệu Phơrăng, vàng dưới hình thức tiền vốn nhà nước) Ngoài việc vơ vétthóc gạo để xuất khẩu, bọn thực dân còn tăng cường việc cướp đoạt ruộng đấtlập đồn điền Ngày 28-9-1897, toàn quyền Đông Dương ra nghị định mở rộngdiện áp dụng quyền sở hữu ruộng đất cá nhân ra toàn nước Pháp bảo hộ, cóđất do được ban, tặng hoặc mua lại của những người có ruộng…sẽ thuộc toànquyền sở hữu cá nhân của họ Điều khoản pháp lí này đã mở đường cho tưbản thực dân Pháp chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân Việt Nam Tính từ năm

1915, địa chủ người Pháp đã chiếm tới 470.000 ha đất ở Bắc Kì và Trung Kì.Quyền sở hữu tối cao về ruộng đất từ tay nhà vua Việt Nam nay đã chuyểnsang tay Nhà nước bảo hộ Pháp

Khi nền nông nghiệp mang các yếu tố kinh tế tư bản chủ nghĩa xuấthiện thì tất yếu sẽ dẫn tới sự xuất hiện các cơ sở công nghiệp chế biến, sản

xuất hàng hóa và thương mại “Theo tính toán của chính quyền Pháp, đến năm 1906 ở Việt Nam đã có 200 nhà máy, xí nghiệp và công ty, riêng ở Bắc

Kì đã xây dựng được 85 cơ sở” [2; tr.131] Các nhà máy xay xát, xay bột, nấu

rượu nối tiếp nhau mọc lên Trong vòng 4 năm, các hãng buôn của Pháp đãxuất cảng 1.022.000 tấn gạo Từ 1899 đến 1908, số gạo xuất khẩu là8.210.000 tấn, tức 82 vạn tấn/năm, chiếm tỉ lệ 60-70% các mặt hàng xuất

Trang 16

khẩu Để có đủ lượng gạo xuất cảng, thương nhân Pháp được chính quyềnthực dân giúp đỡ đã sử dụng mọi hình thức ép nông dân phải bán rẻ chochúng số lúa gạo ít ỏi của mình Nông dân do đó bị kiệt sức, không còn khảnăng để cải tiến kĩ thuật canh tác.

Tình hình trên đã dẫn đến hậu quả là: nông nghiệp Việt Nam vẫn ởnguyên tình trạng độc canh, năng suất rất thấp, lại phải đáp ứng cho nhu cầuxuất khẩu cao, cho nên đời sống nhân dân, nhất là nông dân vô cùng cựckhổ.Thời gian này, ở Việt Nam cũng đã xuất hiện một nền công nghiệp mới

Đó là hệ thống các hầm mỏ, công trường xí nghiệp của tư bản Pháp, Hoa Kiều

và Việt Nam “Phần nhiều các xí nghiệp (nhà máy, công ty thương mại, ngân hàng) quan trọng nhất ở Đông Dương cũng đều được dựng nên trong thời kì này Phần nhiều các hầm mỏ được khai mở cũng là trong thời này hay trước

đó một ít lâu Hướng chung của chính sách kinh tế thực dân là bóc lột nhân công rẻ mạt, vét nguyên liệu rẻ, bán giá cao những hàng hóa công nghiệp bên chính quốc, đảm bảo cho vốn Pháp đưa sang thu được lợi nhuận cao nhất.”

nổ thì Bến Thủy đã trở thành một thị trấn công thương nghiệp khá nhộn nhịp.Tuy nhiên nền công nghiệp Việt Nam lúc đó cơ bản là nằm trong tay nhànước thực dân Hướng phát triển của nó đã được vạch sẵn là: “chỉ giới hạn

Trang 17

trong phạm vi sao cho nền công nghiệp đó không làm tổn hại đến công nghiệpchính quốc Nền công nghiệp chính quốc phải được công nghiệp thuộc địa bổsung chứ không bị nền công nghiệp này phá hoại Nói cách khác, công nghiệpthuộc địa được đẻ ra là làm những cái mà công nghiệp Pháp không thể làmđược, để cung cấp những sản phẩm đến những nơi mà sản phẩm công nghiệpPháp không đến được” [4; tr.191-193]

Trong thời gian này, thực dân Pháp chú ý nhiều đến ngành khai mỏ,nhất là các mỏ than…Tính đến năm 1912, các công ty than của Pháp ở ViệtNam đã khai thác được 427,523 tấn Ngoài than, Pháp còn khai thác một số

mỏ kim loại khác như kẽm ở Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn; tungsten

ở Cao Bằng, vàng ở Bồng Miêu

Các nhà máy, xí nghiệp của Pháp được lập ở Việt Nam trong thời kìnày chủ yếu là kinh doanh các mặt hàng phục vụ đời sống và chế biến Chođến chiến tranh thế giới thứ nhất, ở Việt Nam vẫn chưa có một nhà máy chếtạo công cụ nào Luyện kim là ngành then chốt của công nghiệp cũng không

hề có Phần lớn hàng tiêu dùng phải nhập từ Pháp Nhưng hàng nhập thường

là rất đắt và hiếm nên chỉ phục vụ cho người thành thị, chủ yếu là người Pháp,các viên chức người Việt trong chính quyền thực dân và thị dân Những ngườinày chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong dân số và đều là những người phi sản xuất.Còn những người lao động trực tiếp như công nhân, nhất là nông dân thì rất

xa lạ với cái văn minh gọi là điện, nước máy…Đồ dùng để sản xuất của họhầu hết là hàng thủ công Nền công nghiệp gọi là mới đó rõ ràng là khôngphục vụ gì cho việc phát triển lực lượng sản xuất của xã hội

Do đó có thể nói rằng, nền kinh tế Việt Nam đầu thế kỉ XX về cơ bảnvẫn mang nặng tính chất tự cấp tự túc Các ngành thủ công do đó còn rất cầnthiết Nhưng hàng hóa nhập từ Pháp ngày càng nhiều cùng với chính sách độcquyền kinh tế của nhà nước thực dân đã làm cho nhiều ngành thủ công dângian gặp nhiều khó khăn Hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân dân lao động hết

Trang 18

sức khan hiếm.

Trong tình hình đó, một lớp người bản xứ gồm một số thợ thủ công khágiỏi, nhà buôn, thầu khoán, quan lại đã đứng ra kinh doanh hàng công nghiệp.Một số xí nghiệp người bản xứ hình thành và đạt tới qui mô khá lớn, tuynhiên nếu so với bộ phận công nghiệp do người Pháp nắm giữ thì nó chỉchiếm một tỉ lệ nhỏ, cả về vốn cũng như về số lượng

Mặc dầu vậy, cho đến cuối chiến tranh thế giới thứ nhất, ở Việt Namcũng đã xuất hiện thành phần kinh tế tư sản dân tộc thể hiện sự biến đổi quantrọng của xã hội Việt Nam thời kì đó [4; tr.193-194]

Một trong những trọng tâm của chương trình khai thác thuộc địa củaPháp là mở mang giao thông, xây dựng đường sắt, đường bộ, đường thủy, cầucống, bến cảng, nhà ga…phục vụ cho các mục tiêu kinh tế và quân sự Pháp

mở rộng và nâng cấp quốc lộ 1, khởi công xây dựng tuyến đường sắt xuyênViệt Tính đến năm 1913, đã xây dựng được xong hơn 1000km đường sắt,ngót 100km đường xe điện và xe lửa, 4203 km đường bộ được rải đá Một sốcầu lớn được được bắc như cầu Long Biên (Hà Nội), cầu Tràng Tiền (Huế),cầu Bình Lợi (Sài Gòn), trong đó lớn nhất là cầu Long Biên dài 1700 mét…Một số cửa biển được tu sửa như cảng Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng, CamRanh, Nha Trang, Quy Nhơn, Bến Thủy…[4; tr.195]

Pháp độc chiếm thị trường Đông Dương, nắm nguồn thuế, độc quyền

thương mại, thuế quan, xuất nhập khẩu “Mọi thứ thuế đều tăng nhanh, nhiều thứ thuế mới được đặt ra trực tiếp và gián tiếp để nuôi sống một số quan lại rất đông đúc, và nhất là để nuôi sống quan lại Pháp lương rất cao, cũng để góp tiền của nhằm hoàn chỉnh cơ sở kĩ thuật cho cuộc khai thác qui mô Từ

1897 đến 1907, thuế đinh và thuế điền ở Bắc Kì tăng gấp hai Năm 1897 thuế muối mỗi tạ 0$50, đến 1907 lên 2$25, khi Đu-me mãn nhiệm kì về Pháp thì thuế thuốc phiện thu được gấp đôi so với khi hắn mới sang Năm 1904, toàn

Trang 19

quyền Bô giao độc quyền nấu và bán rượu cho hãng Fông-ten thì riêng cái năm 1904 ấy, hãng Fông-ten lãi 2,3 triệu với một số vốn chỉ là 3,5 triệu Ba cái độc quyền tai ác (muối, thuốc phiện, rượu) đem lại 2/3 ngân sách Đông Dương: bóc lột đi đôi với đầu độc” [5; tr.16].

Như vậy, chúng ta có thể thấy được quá trình thực dân Pháp xâm lược,cai trị và bóc lột thuộc địa qua các chương trình khai thác thuộc địa đã làmthay đổi sâu sắc các mặt của đời sống kinh tế

Thứ nhất là việc đầu tư cơ sở hạ tầng, từng bước đầu tư mở mang côngthương nghiệp, ngành khai thác mỏ được thực dân Pháp tập trung đầu tư vìnhanh chóng thu được lợi nhuận

Thứ hai là chính sách cướp đoạt ruộng đất Mặc dù nông nghiệp chưaphải là lĩnh vực được quan tâm nhất lúc này nhưng tư bản Pháp, hiểu rõ được

vị trí của vấn đề này trong tương lai Với đủ mọi mánh khóe tàn ác, chúng đãcướp đoạt 470.000 ha năm 1913 so với 10.000 ha năm 1890

Thứ ba là chính sách thuế khóa gồm thuế trực thu (thuế đinh, thuế điền)

và thuế gián thu (thuế rượu, thuốc phiện)

Trong bước đầu thiết lập một chế độ thuộc địa và khai thác kinh tế,thực dân Pháp cũng chú trọng cuộc xâm lăng về văn hóa, trong đó tập trungvào ba mặt chủ yếu sau:

Một là nhập cơ sở vật chất kĩ thuật ấn loát, tạo điều kiện để văn minhphương tây chế ngự dần, loại bỏ dần chữ hán và nho học

Hai là, đào tạo lớp trí thức mới tây học, tầng lớp “thượng lưu trí thức”

Ba là cổ vũ cho những tư tưởng thân Pháp, vong bản, chống đối, ngăncản những tư tưởng tiến bộ kể cả tư tưởng dân chủ tư sản Pháp

Tất cả những vấn đề trên đã làm thay đổi, tác động mạnh mẽ đến xã hộiViệt Nam, làm cho xã hội đó bị lay động đến tận nền tảng của nó Từ mộtnước phong kiến tuy lạc hậu nhưng là một nước độc lập, thống nhất, từ đây

Trang 20

Việt Nam biến thành một nước bị đô hộ, chia cắt, với một xã hội thuộc địanửa phong kiến, có đổi mới nhưng không thực sự tiến bộ và cởi mở, ngược lạingày càng bị lệ thuộc vào đế quốc Pháp.

Sau khoảng 20 năm (1897-1914), trong thời kì “được khai hóa” củangười Pháp, Việt Nam thực sự đã trở thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa

và bổ sung cho công nghiệp chính quốc Bộ phận kinh tế thực dân đã khônggiúp cho sự phát triển của kinh tế nước ta, mà còn kìm hãm nó một cáchnghiêm trọng Nền kinh tế tư sản dân tộc non trẻ phụ thuộc nhiều vào nềnkinh tế nước Pháp nên không có sự đột phá mạnh mẽ nào để giải phóng lựclượng sản xuất Kinh tế nông nghiệp tuy có được lôi cuốn vào nền kinh tếhàng hóa, nhưng không có tích lũy nên vẫn ở trong tình trạng lạc hậu Trongkhi đó đời sống giáo dục phản động của chính quyền thực dân ngày càngđược tăng cường

1.2.1.2 Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929)

Pháp thắng trận 1914-1918 nhưng bị tổn thất rất nặng nề về người vàcủa; bồi thường của Đức, đòi thì nhiều, được thì ít Sau chiến tranh, Pháp và

cả thế giới tư bản bị cuốn ngay vào một cuộc khủng hoảng kinh tế dữ dội,không phải vì thừa mà vì thiếu và lạm phát Đồng phơ-răng bị phá giá nguyhiểm Để hàn gắn vết thương chiến tranh, các đế quốc đều tăng cường bóc lộtthuộc địa; Đông Dương là thuộc địa loại lớn nhất và giàu nhất của Pháp chonên cũng là mục tiêu số một của sự bóc lột thực dân sau chiến tranh

Đặc điểm chính của chính sách thuộc địa lúc này là:

Về mục tiêu, cuộc khai thác thuộc địa lần này vẫn theo đuổi một ý đồnham hiểm là bòn rút thuộc địa để làm giàu cho chính quốc nhưng không cho

thuộc địa có cơ hội cạnh tranh với chính quốc “Tăng gấp hai gấp ba hoặc hơn nữa các thứ thuế trực thu hay gián thu Các độc quyền rượu, phiện, muối nổi tiếng tàn ác, vừa đem lại nhiều tiền cho ngân khố thực dân, nhiều lãi cho các công ty tư bản, vừa làm được cái việc đầu độc nhân dân thuộc địa về thể

Trang 21

chất lẫn tinh thần” [5; tr.166].

Về cường độ, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai diễn ra với mộtcường độ mạnh Chỉ tính riêng trong 6 năm (1924-1929), tổng số vốn đầu tưcủa tư bản Pháp vào Đông Dương đã tăng gấp 6 lần so với 20 năm

trước chiến tranh “Đầu tư sang Đông Dương, chủ yếu là sang Việt Nam, một số vốn lớn trước nay chưa từng thấy, lập nhiều ngân hàng mới, tăng cường các ngân hàng cũ, cho vay lấy lãi cao, bỏ tiền vào việc mở rộng các

xí nghiệp công thương sẵn có, đặc biệt là mở nhiều đồn điền cao su rộng lớn

ở miền đất đỏ Nam Kì và Cao Miên Sự xuất hiện đồn điền cao su ở Miền Nam sau chiến tranh tựa như sự xuất hiện các hầm mỏ, đặc biệt là mỏ than, ở Bắc trước chiến tranh, là một hiện tượng kinh tế đáng chú ý, đi đôi với việc chiếm đoạt hàng triệu mẫu đất rừng đồng cỏ và đi đôi với việc thi hành một chế độ mộ phu cực kì man rợ Bọn thực dân lại gây ra một phong trào khai khẩn ruộng ở đồng bằng sông Cửu Long, thực chất là một cuộc cướp đất của nông dân [5; tr.166].

Về các lĩnh vực đầu tư, có sự thay đổi rất lớn Nếu như trong cuộc khaithác thuộc địa lần thứ nhất, khai khoáng chiếm vị trí hàng đầu, thì trongcuộc khai thác thuộc địa lần này nông nghiệp chiếm vị trí hàng đầu

Như vậy trải qua hai cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp làm chonước Việt Nam không thể phát triển lên tư bản một cách bình thường được,nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hâu và phụ thuộc nặng nềvào nền kinh tế Pháp Bên cạnh phương thức sản xuất phong kiến chỉxuất hiện phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, cái cũ, cái mới đan xennhau nhưng nói chung bị kìm hãm nặng nề, phát triển chậm chạp, què quặt,yếu ớt

1.2.2 Tiền đề về xã hội

Hậu quả của chính sách thống trị của thực dân Pháp không chỉ làmphân hóa các giai cấp vốn có trong xã hội Việt Nam như giai cấp địa chủ

Trang 22

phong kiến, giai cấp nông dân mà còn làm xuất hiện thêm những giai cấp mớinhư giai cấp tư sản, tểu tư sản và giai cấp công nhân Các giai cấp này có địa

vị kinh tế khác nhau và do đó địa vị chính trị cũng khác nhau trước vấn đềdân tộc Vấn đề này phản ánh điều kiện và mối quan hệ mới trong việc hìnhthành lực lượng của phong trào giải phóng dân tộc trong những năm đầucủa thế kỉ XX

Giai cấp địa chủ phong kiến: Đây là giai cấp rường cột của chế độ

phong kiến đã tồn tại hàng ngàn năm trong lịch sử dân tộc và có những cônglao to lớn trong việc dựng nước và giữ nước Nhưng từ thế kỉ XVI, nhất là từthế kỉ XVIII khi giai cấp phong kiến Việt Nam khủng hoảng và suy vong, giai cấpđịa chủ trở thành giai cấp phản động Khi thực dân Pháp xâm lược và đếnmột mức nhất định nội bộ giai cấp này đã xuất hiện sự phân tầng rõ rệt.Một bộ phân đại địa chủ (vua, quan lại lớn, đại địa chủ ở thôn quê) làm taysai cho chủ nghĩa thực dân, cấu kết với đế quốc bán rẻ quyền lợi của dân tộc,bóc lột nhân dân (nông dân), quyền lợi kinh tế chính trị gắn liền với đế quốcthực dân Vì vậy, đây là đối tượng mà cách mạng cần thiết đánh đổ Bộphận địa chủ vừa và nhỏ do không được thực dân Pháp cho hưởng nhiềuquyền lợi do vậy có mâu thuẫn nhất định Trong họ vẫn có tnh thần dântộc chống thực dân Họ có tnh thần yêu nước trong điều kiện lịch sử nhấtđịnh, nếu được hướng dẫn lãnh đạo họ sẽ là bạn đồng minh có điều kiện củacách mạng

Giai cấp nông dân: là thành phần chiếm tuyệt đại đa số (khoảng 90%)

trong xã hội Việt Nam, phải chịu hai tầng áp bức bóc lột của thực dân vàphong kiến, họ bị bần cùng hóa, bị tước đoạt ruộng đất, bị mất nhà cửa,lâm vào cảnh đói rét, buộc phải tha phương cầu thực, đi làm phu mỏ, phu

đồn điền “Tư bản Tây và nhà thờ đã choán gần hết ruộng, còn giữ được miếng nào thì chính phủ lại đánh thuế thiệt nặng, mỗi năm mỗi tăng Như

Trang 23

mỗi mẫu ruộng tốt mỗi năm tất cả hoa lợi được chừng 25 đồng, tây nó đã lấy mấy 2 đồng 5

Trang 24

hào thuế.”; “nếu tính cả tiền thuế trâu bò, mua phân tro, mướn làm, tiền ăn uống, thì mỗi mẫu mỗi năm đã hết 30 đồng Nghĩa là dân cày đã lỗ mất 5 đồng, mà chính phủ lại kẹp lấy cho được 2 đồng rưỡi” [12; tr.309].

Tình cảnh hết sức khốn khổ bần cùng của giai cấp nông dân Việt Nam

đã làm tăng thêm lòng căm thù chống đế quốc Pháp và phong kiến taysai, làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành độclập dân tộc, giành lại ruộng đất và quyền sống tự do, hạnh phúc của ngườidân

Nông dân có lòng yêu nước nồng nàn, kiên cường đấu tranh chống đếquốc và phong kiến, chống áp bức bóc lột bất công Trong cách mạng dân tộcdân chủ nhân dân, nông dân có một vị trí, vai trò quan trọng: là lực lượngcách mạng đông đảo to lớn, là bạn đồng minh tin cậy nhất của giai cấp côngnhân, cùng với giai cấp công nhân là động lực chính của cách mạng Việt Nam.Giai cấp nông dân là giai cấp cũ , không có hệ tư tưởng độc lập do vậy dùthiết tha với độc lập và quyền lợi giai cấp nhưng không thể lãnh đạo cáchmạng được Chỉ đi theo giai cấp công nhân và chịu sự lãnh đạo của giai cấpcông nhân giai cấp nông dân mới phát huy được đầy đủ, nguyện vọng thiếttha của họ mới được thực hiện

Giai cấp tư sản Việt Nam:

Theo Trần Thanh Hương: “Tư sản được dịch ra từ chữ bourgeoisie, là lớp người đại diện cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, một giai cấp

cơ bản của xã hội tư bản chủ nghĩa, chiếm hữu tư liệu sản xuất, làm chủ nhà máy, xí nghiệp…và tến hành bóc lột sức lao động thặng dư của công nhân” Tầng lớp tư sản chỉ có thể ra đời khi “Quan hệ giữa người với người

đã do quan hệ tiền tệ chi phối và thuế nộp bằng hiện vật đã biến thành nộp thuế bằng tiền” Vào cuối thời phong kiến, ở Việt Nam, quan hệ sản

Trang 26

nảy sinh lớp người tư sản đầu tiên Cơ sở xã hội ra đời của tư sản, ngoài thợthủ công, tiểu thương, còn là một bộ phận sĩ phu, địa chủ, quan lại…Họ đã bị

tư sản hóa do tác động của chính sách thực dân, khai thác thuộc địa vàchịu ảnh hưởng của tư tưởng tư sản từ bên ngoài Như vậy, tư sản Việt Namhình thành về cơ bản không phải do sự phát triển của sức sản xuất xã hội,trong sự vận động tự thân của lịch sử dân tộc, mà do những ảnh hưởng củaphương tây, đã tác động đến sự phát triển mang tnh đặc thù của lịch sử ViệtNam và trong hoàn cảnh đó tư sản Việt Nam ra đời [7; tr.7]

Giai cấp tư sản Việt Nam hình thành và phát triển trong quá trình khaithác thuộc địa của thực dân Pháp Lúc đầu chính quyền Đông Dương chỉ cónhững chính sách khuyến khích các nhà tư bản Pháp và nước ngoài đầu tưvào Việt Nam để ổn định tình hình kinh tế thuộc địa và cung cấp sản phẩmcho nhu cầu của nước Pháp trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) Nhưng do tác động của chiến tranh, tư bản Pháp không thể độc quyền

và lũng loạn thị trường Việt Nam như trước nữa Nhân lúc tư bản Pháp đanggặp khó khăn, ngần ngại trong việc bỏ vốn đầu tư ở Đông Dương, chínhquyền thuộc địa lại đang nới rộng thể lệ kinh doanh, tư sản Bắc Kì và Trung Kìtranh thủ vươn lên làm giàu như Nguyễn Hữu Thu, Bạch Thái Bưởi, NguyễnSơn Hà…Tuy có muộn hơn chút ít, các nhà tư sản ở Nam Kì đã đầu tư vào lĩnhvực xay xát gạo, nấu rượu, khai thác đá, thương mại… Một số nhà tư sản nhưTrương Văn Bền, Trần Văn Trương, Ngô Hắc Mẫn, Trương Hoàn Phát,…cũng nhanh chóng tham gia các tập đoàn kinh doanh cao su Nhưng do đếquốc Pháp ra sức kìm hãm cho nên phải đến sau chiến tranh thế giới thứnhất (1914-1918), tư sản Việt Nam mới hình thành một giai cấp rõ rệt với hai

bộ phận có quyền lợi và có ý nghĩa khác nhau: tư sản mại bản và tư sản dântộc

Trang 27

“Tư sản mại bản là kẻ môi giới địa phương giữa tư bản lũng đoạn ngoạiquốc và thị trường tiêu thụ, thị trường têu thụ ở thuộc địa Phong kiến địachủ

Trang 28

và tư sản mại bản là tay sai của tư sản mại bản quốc, là bọn đại lí trực tiếp bịmua chuộc của chủ nghĩa đế quốc thế giới nô dịch hóa thuộc địa và nửathuộc địa tùy theo sự phát triển của công nghiệp dân tộc ở thuộc địa, giaicấp tư sản dân tộc dần dần trưởng thành” [1; tr.106].

Tư sản mại bản Việt Nam thu mua nguyên liệu và sản phẩm trongnước cho đế quốc, góp vốn cùng với đế quốc kinh doanh công thươngnghiệp, hoặc bao thầu những công trình xây dựng của bọn thực dân Sốđông tư sản mại bản đồng thời là địa chủ Quyền lợi gắn liền với đế quốcphong kiến, tư sản mại bản là tầng lớp phản động, là đối tượng của cáchmạng

Tư sản dân tộc Việt Nam có xuất thân từ tiểu địa chủ,viên chức, tríthức cấp cao, quan lại, còn phần lớn từ địa chủ mà ra Số đông không thoáthỏi con

đường tư sản kiêm địa

chủ

Sinh sau đẻ muộn, nằm trong các ngành kinh tế phụ thuộc bị đế quốcchèn ép, lại ra đời giữa lúc chủ nghĩa tư bản đã đi vào thời kì khủng hoảngtrầm trọng nên cơ sở kinh tế yếu ớt, nhỏ bé, họ có mâu thuẫn về quyềnlợi kinh tế, chính trị với đế quốc, phong kiến Đồng thời tư sản dân tộc ViệtNam về bản chất cũng là tầng lớp vừa trực tiếp bóc lột công nông để làmgiàu, vừa muốn dựa trực tiếp bóc lột công nông để đấu tranh đòi chínhquyền thực dân mở rộng quyền kinh doanh phát triển công thươngnghiệp Tình hình trên phản ánh tính 2 mặt của họ: một mặt cách mạngchống đế quốc và chống phong kiến, tán thành dân tộc, dân chủ; một mặt cảilương là chủ yếu, họ xin xỏ, trông chờ vào sự ban ơn huệ và rất dễ thỏa hiệpvới bọn thực dân Giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam có thể tham gia cáchmạng nhưng không thể lãnh đạo cách mạng [3; tr.27,28]

Trang 30

thủ công nghiệp và một ít trong giao thông vận tải, ngân hàng và khai mỏ.Sau chiến tranh gặp nhiều điều kiện thuận lợi nên hoạt động kinh doanh của

họ ngày càng trở nên sôi nổi đa dạng hơn Họ kinh doanh hầu hết trong cáclĩnh vực kinh tế từ xay xát, nhuộm dệt, in ấn, vận tải đến sản xuất nướcmắm,

đường, xà phòng…Một số đã có trong tay một sản nghiệp lớn như mỏ,đồn

điền, công ti vận tải song biển, các công ti thương mại…Tư sản Việt Nam từmột tầng lớp trở thành một giai cấp thực sự sau chiến tranh thế giới thứnhất Do điều kiện kinh doanh, giai cấp tư sản Việt Nam có sự phân hóa thành

2 bộ phận Trong đó, tư sản mại bản là bộ phận có quyền lợi chính trị, kinh tếgắn chặt với tư bản Pháp còn tư sản dân tộc là bộ phân có lợi ích kinh tếkhông đồng nhất với lợi ích của chính quyền thực dân Tuy nhiên, do hoạtđộng kinh tế bấp bênh, tnh thần dễ dao động, không kiên định lập trường,khi phong trào cách mạng lên cao thì lo sợ, còn đế quốc mạnh thì dễ bề thỏahiệp Vì vậy, trong sách lược chọn bạn đồng minh, tư sản dân tộc là lực lượngcần lôi kéo

Giai cấp tiểu tư sản: được kết hợp lỏng lẻo bởi ba bộ phận (trí thức,

tểu thương, thợ thủ công) Điểm chung của họ là thị dân, sở hữu một ít tưliệu sản xuất (vốn, chất xám)

Bị đế quốc và phong kiến bóc lột, khinh miệt nên đời sống của giai cấptểu tư sản Việt Nam bấp bênh và dễ bị phá sản trở thành những người vôsản, họ có tnh thần dân tộc, nhất là tiểu tư sản trí thức rất nhạy cảm với thờicuộc Trong cuộc đấu tranh vì quyền lợi giai cấp, tiểu tư sản có vai trò quantrọng, lòng yêu nước căm thù đế quốc, thực dân lại chịu sự ảnh hưởng củanhững tư

tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào Vì vậy, đây là lực lượng cách mạng có

Trang 31

không thuần nhất, mỗi bộ phận có cách làm khác nhau, thái độ chính trịthì dao động nên không thể lãnh đạo cách mạng Trong cách mạng dân tộcdân chủ nhân dân thì tiểu tư sản là một lực lượng bạn đồng minh có sáchlược của

Trang 32

giai cấp công nhân.

Giai cấp công nhân: Ra đời sớm, ngay trong cuộc khai thác lần thứ

nhất của đế quốc Pháp trước chiến tranh Số lượng phát triển khá nhanh,năm

1929 đã lên tới 22 vạn so với trước chiến tranh chỉ mới có trên dưới 10 vạn.Công nhân phần lớn tập trung tại các trung tâm kinh tế quan trọng của

đế quốc Pháp là các vùng mỏ, đồn điền cao su và các thành phố công nghiệp(Hà Nội, Sài Gòn, Chợ Lớn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Bến Thủy) Ngoài cácđặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế (đại biểu cho lực lượng sảnxuất tiến bộ, điều kiện lao động và sinh sống tập trung…) giai cấp công nhânViệt Nam có nhưng đặc điểm riêng: bị ba tầng áp bức bóc lột của đế quốc,phong kiến, tư sản người Việt, có quan hệ tự nhiên gắn bó với giai cấp nôngdân, kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc Đặc biệt, giai cấp công nhânViệt Nam vừa lớn lên đã tiếp thu ngay được ảnh hưởng mạnh mẽ của phongtrào cách mạng thế giới sau chiến tranh, nhất là ảnh hưởng của Cách mạngtháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác-Lênin; trên cơ sở đó, đã nhanh chóng trởthành một lực lượng chính trị độc lập, thống nhất trong cả nước, là cơ sởvững chắc cho phong trào dân tộc theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa [8;tr.10,11]

1.2.3 Tiền đề về văn hoá, tư

tưởng

Cùng với cuộc đầu tư khai thác thuộc địa gia tăng sau chiến tranh, đờisống kinh tế-xã hội nước ta có những chuyển biến mạnh mẽ Một nền kinh tếvới cấu trúc đa ngành xuất hiện, một hệ thống đô thị đã hình thành và pháttriển Một nền giáo dục Pháp-Việt, sau nhiều lần cải cách và tm kiếm những

mô hình hợp lí, đã phát huy tác dụng Các cơ sở in ấn, xuất bản đã xuất hiện

ở các thành phố lớn

Trang 33

Mặt khác, do bị chèn ép từ nhiều phía nên vào thời kỳ sau chiến tranhgiai cấp tư sản Việt Nam bắt đầu có ý thức đấu tranh Họ đấu tranh trướchết vì quyền lợi giai cấp mình, song cũng qua đó, làm dấy lên một số phongtrào

Trang 34

dân tộc có tính chất tến bộ Sau cuộc tẩy chay khách chú diễn ra ởnhiều thành phố, thị xã trên khắp ba miền đất nước năm 1919, đến năm

1923 lại tiếp tục diễn ra cuộc đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn,…Một

số báo chí của tư sản dân tộc được xuất bản nhằm hỗ trợ cho cuộc đấu tranh

vì quyền lợi kinh tế như Thực nghiệp dân báo (1920), Khai hóa nhật báo(1921), L‟Echo annamite, La Tribune Indochinoise…[11; tr 138]

Hàng loạt những tờ báo, tạp chí chữ Pháp và quốc ngữ ra đời “Các ấn phẩm văn hóa tiến bộ phần nào phản ánh được nguyện vọng tự do, dân chủ, nhân đạo, yêu nước của nhân dân, được đông đảo thanh niên hưởng ứng, trở thành động lực quan trọng của cao trào đấu tranh đòi tự do dân chủ những năm 20- 30 của thế kỉ XX” [6; tr.28].

Bên cạnh đó, thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa mang tính

thực dân, duy trì các hủ tục lạc hậu và đầu độc nhân dân ta bằng thuốcphiện,

rượu cồn, Thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa nô lệ gây nên tâm lívong bản tự ti phát triển tôn giáo mê tn dị đoan để mê hoặc nhân dân, ngănchặn ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ tến bộ Pháp vào Việt Nam Mặc

dù thực dân Pháp đặt ách nô dịch về văn hóa, giáo dục nhưng với tinh thần

tự tôn độc lập tự chủ thì nhân dân đã có những thay đổi nhất định về sự hiểubiết thế giới xung quanh, về chính trị, xã hội, văn hóa…mặt khác trong độingũ tri thức một số bộ phận đã có ý thức tự tôn dân tộc đã tch cực chủđộng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của phương Tây nói riêng, nhân loạinói chung để truyền bá vào nước ta

Tiếp thu tư tưởng của các nhà canh tân cuối thế kỷ XIX, một số nhà tưtưởng đầu thế kỷ XX, như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh ThúcKháng, Nguyễn An Ninh,… tiếp tục phát triển tư tưởng đó lên trình độ mới,

Trang 35

cao hơn về chất Các ông đã từ bỏ dần hệ tư tưởng phong kiến, mạnh dạn đi

tm hệ tư tưởng mới cho dân tộc

Trang 36

Đứng trước hoàn cảnh kinh tế, xã hội như vậy thì đầu thế kỉ XX nước

ta vẫn chưa sản sinh ra được một giai cấp có đủ sức lãnh đạo thành côngcuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhưng không vì thế mà nó bị đình đốn.Truyền thống dân tộc rất cao đã sản sinh ra một lớp người thay thế nối tiếpnhau Đó là các tầng lớp trí thức- sĩ phu yêu nước tiến bộ đang trên conđường tư sản hóa Họ phần nào nắm bắt được nguyện vọng của quầnchúng nhân dân và

được hướng dẫn bởi những tư tưởng chính trị mới đã đảm nhiệm vai trò củamột giai cấp lãnh đạo, động viên được đông đảo quần chúng nổi dậyđấu tranh và dẫn dắt phong trào cách mạng nước ta theo kịp trào lưucủa cách mạng thế giới Tạo tiền đề cho sự trưởng thành của phong tràocách mạng Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất

Như vậy có thể nói sự chuyển biến về điều kiện lịch sử xã hội Việt Namvào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là một trong những yếu tố quan trọng gópphần hình thành quá trình chuyển hóa tư tưởng của các nhà tư tưởng lúcbấy giờ tiêu biểu là giai cấp tư sản Việt Nam

Trang 37

Tiểu kết chương

Như vậy trong những năm đầu thế kỉ XX, chúng ta có thể thấy nhữngchính sách cai trị của thực dân Pháp đã tước đoạt hết quyền tự do của nhândân ta Bên cạnh đó, những cuộc khai thác thuộc địa mà thực dân Pháp tiếnhành trên đất nước ta đã làm nảy sinh một nền kinh tế “nền kinh tế thực dânnửa thuộc địa nửa phong kiến” Từ đây, đã làm cho nền kinh tế nước ta phụthuộc hoàn toàn vào nền kinh tế nước Pháp Những nhà máy, xí nghiệp, hãngbuôn, hệ thống giao thông, hải cảng hợp thành bộ phận kinh tế tư bản thựcdân Nhìn thì có vẻ tến bộ, nhưng thực chất chỉ có tác dụng phục vụ cho quátrình tiêu thụ hàng công nghiệp của tư bản Pháp, vơ vét các mặt hàng nông,lâm để xuất khẩu và cướp bóc tài nguyên thiên nhiên ở nước ta mang về chínhquốc Quan hệ sản xuất phong kiến trong nông nghiệp được duy trì nguyênvẹn, các ngành thủ công cổ truyền đang còn có tác dụng tch cực bị bóp nghẹt,kinh tế tư bản dân tộc bị kìm hãm không sao phát triển được Kinh tế nước ta

do đó bị kiệt quệ Công nhân, nông dân lâm vào cảnh đói rách, bần cùng Đờisống của các tầng lớp khác như tiểu tư sản, dân nghèo thành thị luôn luôn bị

đe dọa

Sự áp bức về chính trị và sự bóc lột tàn bạo về kinh tế của thựcdân Pháp đã gây nên sự phản ứng mạnh mẽ trong nhân dân ta nhất là côngnhân, nông dân, dân nghèo thành thị Trước tình hình đó thì nhân dân ta chỉ

có một nguyện vọng tha thiết đó là “làm sao để được độc lập, no ấm?” Từđây, góp phần làm bùng nổ các phong trào đấu tranh kháng Pháp phát triển

Bên cạnh đó, xét trên phạm vi thế giới nói chung và Việt Nam nói riêngthì những trào lưu cách mạng dâng cao đã góp phần truyền bá những luồngtư

tưởng phương Tây cũng như các tân văn tân thư từ Trung Quốc, Nhật Bản…vào Việt Nam, đã góp phần cổ vũ các tầng lớp tiến bộ tếp thu-truyền bá vàlãnh đạo nhân dân đấu tranh đưa phong trào cách mạng Việt Nam theo kịp

Trang 38

trào lưu cách mạng thế giới Tạo tiền đề cho sự trưởng thành của cách mạngViệt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất.

Trang 39

Chương 2 BIỂU HIỆN KHUYNH HƯỚNG DÂN TỘC TƯ SẢN TRONG PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1919-1930) “Khuynh hướng dân tộc

yêu nước hay chủ nghĩa dân tộc đề cập đến

một hệ tư tưởng, một tnh cảm, một hình thức văn hóa, hoặc một phongtrào tập trung vào quốc gia hay dân tộc Chủ nghĩa dân tộc đã trở thành mộttrong những động lực chính trị và xã hội quan trọng nhất trong lịch sử Ởmột góc độ khác, chủ nghĩa dân tộc là xu hướng tư tưởng tuyệt đối hóa giátrị dân tộc mình, đặt dân tộc mình ở vị trí cao nhất trong toàn bộ hệ thốnggiá trị, đi đến chỗ khoa trương, bài ngoại, tự phụ, coi dân tộc mình caohơn tất cả và gây thiệt hại cho dân tộc khác Nó đã giữ vai trò ảnh hưởngchính hay nguyên nhân của chiến tranh” [18]

Trong giai đoạn (1919-1930) chủ nghĩa dân tộc của giai cấp tư sản ViệtNam có sự tách biệt thành nhiều khuynh hướng như: Khuynh hướng ôn hoà,khuynh hướng cải lương, khuynh hướng bạo động (khuynh hướng dântộc cách mạng)

2.1 Chủ nghĩa dân tộc tư sản theo khuynh hướng ôn hòa (1919-1930)

Theo Trần Văn Giàu: “Chủ nghĩa yêu nước ôn hòa là một khái niệm còn gây nhiều tranh cãi, nhưng mà phải dùng đến để có thể xác định khuynh

hướng tư tưởng yêu nước của một số khá nhiều nhà chí sĩ chân thành vì dân, vì nước nhằm giành độc lập và dân chủ bằng phương pháp không bạo động, phân biệt nó với xu hướng tư tưởng cải lương bắt tay với thực dân Pháp nhằm chống lại mọi cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc,

cụ thể như phân biệt Phan Bội Châu (sau chiến tranh thế giới thứ nhất), Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng…Với Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu…” [5;

tr.404]

Chủ nghĩa dân tộc tư sản ôn hoà là một khái niệm để chỉ những xu

Trang 40

hướng, tư tưởng yêu nước của các nhà chí sĩ chân thành yêu nước, vì nước vìdân nhằm giành độc lập dân chủ bằng phương pháp bạo động, nó phânbiệt với xu hướng cải lương – bắt tay với Pháp chống lại mọi cuộc vận độngcách mạng giải phóng dân tộc Đại biểu của khuynh hướng này là Phan BộiChâu và Phan Châu Trinh, tư tưởng của nhóm Đông Dương thời báo và tưtưởng của nhóm Nguyễn An Ninh.

2.1.1 Sự chuyển biến tư tưởng của Phan Bội Châu từ bạo động cách mạng sang đấu tranh ôn hòa.

Những tư tưởng dân chủ ôn hoà trước hết biểu hiện trongnhững chuyển biến tư tưởng của Phan Bội Châu trong giai đoạn sau chiếntranh thế giới thứ I, đó là từ chủ trương bạo động Cách mạng chuyển sangchủ trương Pháp – Việt đề huề Chủ trương này viết ra bằng văn bản nhưPháp – Việt đề huề luận (1917) Nội dung của nó là từ bỏ con đường bạođộng, bắt tay với Pháp để tránh hoạ mất nước vào tay Nhật Từ chủ trươngđánh Pháp bằng sắt và máu chuyển sang đề huề (bắt tay nhau) coi nhau nhưanh em, chống lại sự đe doạ xâm lược của Nhật Tại sao trong thời gian nàyPhan Bội Châu lại bày tỏ quan điểm như vậy? Việt Nam đầu thế kỷ XX chưa

có giai cấp tư sản thì tư tưởng dân chủ đã đến Việt Nam Lúc này, đứng rathu nhận và truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản Tây phương không phải lànhững nhà trí thức tư sản tây học mà là những nhà chí sĩ Nho giáo xuất thân

từ cái học cổ truyền, đồng thời tếp nối một phong trào kháng Pháp cótruyền thống, do đó mà tư tưởng truyền bá lúc này tuy thiếu phần sâu sắcnhưng mang nhiều sắc thái và khía cạnh, đặc biệt biểu hiện được tâm hồnViệt Nam Lúc bấy giờ vùng Nam – Ngãi, Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh là nhữngtrung tâm tiếp nhận và cũng là nơi có nhiều nho sỹ tiếp nhận tư tưởng dânchủ tư sản Tư tưởng đó đã mở rộng tầm nhìn cho các sỹ phu văn thân và

Ngày đăng: 06/01/2020, 08:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w