1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Làng cổ đường lâm (sơn tây, hà nội) trong thời kì 1986 2016 (2017)

137 168 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 6,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trải qua nhiều biến động của lịch sử, xã hội, sự gia tăng dân số, quátrình phát triển kinh tế, văn hóa- xã hội, môi trường và vấn đề đô thị hóa đã vàđang làm cho những giá trị cổ xưa của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA LỊCH SỬ

======

NGUYỄN THỊ THU TRANG

LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM (SƠN TÂY, HÀ NỘI)

TRONG THỜI KÌ 1986 - 2016

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS BÙI NGỌC THẠCH

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trongtrường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, nơi đã đào tạo em trong suốt 4 năm học Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo Bùi NgọcThạch- Người đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo, giúp đỡ em để em hoàn thành khóa luận này

Qua đây, em cũng gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Thư viện trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội 2, Thư viện quốc gia Hà Nội, Ban quản lí di tích lịch sử

xã Đường Lâm, cùng với những người dân ở Đường Lâm đã giúp em rấtnhiều trong quá trình thu thập thông tin tư liệu để làm khóa luận

Em xin cảm ơn sự quan tâm của gia đình, bạn bè giúp đỡ em hoànthành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn.

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Thu Trang

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em, dưới sựhướng dẫn của thầy giáo, Tiến sĩ Bùi Ngọc Thạch

Em xin cam đoan những kết quả nghiên cứu của khóa luận chưa từngđược công bố ở bất kỳ một công trình nghiên cứu nào, đó là những kết quảđúng, nếu sai em hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Thu Trang

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Hội Đồng Nhân Dân H.Đ.N.D

Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc U.B.M.T.T.Q

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I : ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM TRƯỚC NĂM 1986 7

1.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư 7

1.1.1.Điều kiện tự nhiên 7

1.1.2.Dân cư 15

1.2 Điều kiện kinh tế 17

1.2.1 Nông nghiệp 17

1.2.2 Thủ công nghiệp 19

1.3 Điều kiện văn hóa, xã hội 20

1.3.1 Văn hóa 20

1.3.2 Xã hội 22

CHƯƠNG II : HOẠT ĐỘNG CỦA LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM TRONG THỜI KÌ 1986-2016 25

2.1.Hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội 25

2.1.1.Về kinh tế 25

2.1.2.Về văn hóa 31

2.1.3.Về xã hội 37

2.2.Hoạt động bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa của làng cổ Đường Lâm 2.2.1.Bảo tồn các kiến trúc xây dựng của làng cổ 40

2.2.2 Tu sửa, tôn tạo những công trình xuống cấp 45

2.3.Khắc phục những khó khăn về mặt xã hội ở làng cổ Đường Lâm 48

2.3.1.Vấn đề tăng dân số 48

2.3.2.Vấn đề sinh hoạt của người dân 50

2.3.3.Vấn đề văn hóa du lịch 52

Trang 6

CHƯƠNG III : ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM

TRONG THỜI KÌ 1986-2016 56

3.1.Đặc điểm của làng cổ Đường Lâm trong thời kì 1986-2016 56

3.1.1 Đây là nơi lưu giữ được làng cổ xây dựng toàn bằng đá ong 56

3.1.2 Các công trình xây dựng kiến trúc của làng cổ Đường Lâm vẫn được bảo tồn 59

3.1.3 Các đồ dùng, vật dụng phục vụ sản xuất và đời sống vẫn được duy trì 64

3.2.Vai trò của làng cổ Đường Lâm trong thời kì 1986-2016 65

3.2.1 Bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử - văn hóa của dân tộc 65

3.2.2.Hình thành một trung tâm du lịch có giá trị phát triển kinh tế- văn hóa 69

3.2.3.Góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới 71

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC

Trang 7

hề thay đổi đã tạo nên những bản sắc riêng của miền quê này Trải qua baothăng trầm, Đường Lâm vẫn lưu giữ hình ảnh của một ngôi làng cổ Việt Namvới cổng làng, hình ảnh những căn nhà 3 gian 2 chái , cây đa, giếng nước, aosen, sân đình… của làng quê đất Việt thuở xưa Tìm về làng cổ Đường Lâmcũng là con đường tìm về với nguồn gốc văn hóa và truyền thống của ViệtNam là dịp để chúng ta chiêm ngưỡng kiến trúc độc đáo của những ngôi nhà

cổ, hoài niệm về một ngôi làng Việt Nam còn nguyên dáng dấp thuở ban sơvới những con hẻm nhỏ quanh co

Trải qua nhiều biến động của lịch sử, xã hội, sự gia tăng dân số, quátrình phát triển kinh tế, văn hóa- xã hội, môi trường và vấn đề đô thị hóa đã vàđang làm cho những giá trị cổ xưa của một làng quê cổ ở Việt Nam bị maimột, điều đó có nghĩa những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc đã bị xóa

bỏ để đi theo một nền văn hóa hiện đại và giá trị văn hóa của Đường Lâm trởthành đối tượng bị đe dọa

Việc nghiên cứu Làng cổ Đường Lâm trong thời kì đổi mới có ý nghĩa

vô cùng to lớn

Về lí luận, nó làm sáng tỏ đường lối của Đảng về duy trì và bảo vệnhững giá trị văn hóa của dân tộc, giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng pháttriển kinh tế thị trường với việc bảo tồn văn hóa dân tộc trong thời kì đổi mới

Trang 8

Về thực tiễn việc nghiên cứu vấn đề trên là phản ánh thực trạng nhữnghoạt động thực tế của làng cổ Đường Lâm hiện nay, với những thuận lợi vàkhó khăn trong việc bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc.

Làng cổ Đường Lâm đã thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm nghiêncứu Tuy nhiên do mục đích nghiên cứu khác nhau cho nên mỗi tác giả, mỗicông trình đều có cách tiếp cận và có những nhận xét đánh giá nghiên cứukhác nhau Tuy vậy cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu cụthể có hệ thống về làng cổ Đường Lâm trong thời kì đổi mới (1986-2016) Đó

chính là lí do em quyết định lựa chọn ―Làng cổ Đường Lâm (Sơn Tây, Hà

Nội) trong thời kì 1986-2016” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ trước đến nay có nhiều công trình nghiên cứu về làng cổ ĐườngLâm với những góc độ khác nhau:

-Trong các tác phẩm cổ sử như Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Đại Nam

nhất Thống Chí, Thiên nam ngữ lục, Việt điện u linh… cũng đề cập đến

Đường Lâm nhưng không đi sâu nghiên cứu về mọi mặt kinh tế, văn hóa, xãhội

-Trước năm 1990 đã có một số công trình nghiên cứu về làng cổ

Đường Lâm Công trình đầu tiên phải kể đến là “Mông Phụ một làng ở đồng

bằng sông Hồng” do Nhà xuất bản Văn hoá thông tin ấn hành năm 2003.

Công trình này là kết quả của chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học vềcác biến đổi của làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ do một nhóm tác giả của Trungtâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học của Pháp, CNRS và Viện Dân tộc họcthuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia Việt Nam thực hiện

-Trong các cuốn sách lịch sử cũ như lịch sử văn hóa Việt Nam, cơ sở

Văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm (1997), Trần Quốc Vượng chủ biên

(1997), Chu Xuân Diên (1999), gần hơn nữa là Lịch sử văn hóa Việt Nam của

Trang 9

Huỳnh Công Bá (2008), cũng đã để cập đến văn hóa Việt Nam nói chung và

văn hóa ở từng vùng miền nói riêng, trong đó có Đường Lâm

-Tiếp đó là các cuộc hội thảo hợp tác triển khai dự án bảo tồn và pháthuy giá trị di tích ở Đường Lâm của trường Đại học Nữ Chiêu Hoà (NhậtBản) với Cục Di sản văn hoá và Sở Văn hoá thông tin tỉnh Hà Tây Kết quả

có được một tập kỷ yếu với chủ đề bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tíchlịch sử - văn hoá Đường Lâm do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm2005

-Trên các báo và tạp chí cũng có nhiều bài viết về làng Việt cổ Đường

Lâm: Báo Văn nghệ trẻ, số 21 (ra ngày 21/5/2006) Làng cổ từ góc nhìn văn

hoá của tác giả Đặng Bằng; Tạp chí Di sản kiến trúc có bài: Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá làng cổ Đường Lâm của tác giả Đặng Văn Tu; Báo Lao

động xã hội số 38 ra ngày 23/3/2006 có bài: Bảo tồn Đường Lâm - chuyện

không chỉ một sớm một chiều của tác giả Vũ Xuân Khoa.

-Năm 2008 Thành phố Sơn Tây, tỉnh Hà Tây Bộ Văn hóa- Thông tin

Trường Đại học nữa SHOWA xuất bản cuốn sách làng Cổ Đường Lâm

(Ancinent village DUONG LAM) do sở thông tin và truyền thông cấp in xong

và nộp lưu chiểu tháng 7 năm 2008

-Năm 2008 tác giả Nguyễn Thị Phương Anh thuộc trường Đại họcquốc gia Hà Nội có bài viết luận văn thạc sĩ với đề tài Quan hệ tương tác giữađiêu kiện tự nhiên với đời sống văn hoácủa cư dân làng việt cô Đường Lâm,thị xã sơn tây, Hà Nội

-Trong các cuốn thông sử như Lịch sử Việt Nam cổ trung đại (Huỳnh Công Bá- tiến sỹ sử học(2000), nxb Thuận Hóa), Đại cương Lịch sử Việt Nam

toàn tập (Trương Hữu Quýnh- Đinh Xuân Lâm- Lê Mậu Hãn(2010),Nxb

Giáo dục), Lịch sử cổ đại Việt Nam (Đào Duy Anh (2011), Nxb văn hóa

Trang 10

thông tin) cũng nói đến vùng đất Đường Lâm, giới thiệu về một vùng đất cổtrong mục văn hóa của công trình cũng không giải thích gì thêm.

-Ngày 22/4/2011 tác giả Nguyễn Thị Hà là sinh viên Khoa KTNN Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã có bài viết khóa luận tốt nghiệp với đề tàiBảo tồn Làng cổ Đường Lâm- Sơn Tây –Hà Nội gắn với phát triển du lịchsinh thái

Sinh-Trong các tác phẩm này tác giả đã giới thiệu cơ sở hình thành, hoạtđộng của Làng cổ Đường Lâm như một nét hội tụ tinh hoa văn hóa của làng

cổ Bắc Bộ, phản ánh nền văn minh lúa nước rất sống động tồn tại đến bâygiờ, phản ánh được cuộc sống con người và văn hóa nơi đây Tuy vậy hạn chếcủa những tác phẩm này là chưa trình bày một cách cụ thể hoạt động củaLàng cổ Đường Lâm trong thời kì đổi mới 1986-2016, nhất là trong quá trìnhhội nhập kinh tế, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa Tuy nhiên đó cũng

là những gợi ý quý báu để người viết triển khai đề tài này, mặt khác đây cũng

là đề tài chưa được nghiên cứu sâu nên nó vẫn đang là vấn đề còn để ngỏ

Chính vì vậy việc đầu tư nghiên cứu Làng cổ Đường Lâm trong thời kì1986-2016 là rất cần thiết

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu

-Nêu rõ cơ sở hình thành, hoạt động của Làng Cổ Đường Lâm trướcnăm 1986

Trang 11

-Trình bày những hoạt động của làng cổ Đường Lâm trong thời kì1986-2016 cũng như những thành tựu và hạn chế của nó trong thời kì 1986-2016.

-Rút ra những đặc điểm và vai trò của làng cổ Đường Lâm trong thời

kì 1986-2016

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Làng cổ Đường Lâm trong thời kì 1986-2016

4.2.Phạm vi nghiên cứu

-Về phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu phạm vi toàn bộ Làng cổĐường Lâm bao gồm 9 thôn hợp lại: Mông Phụ, Đông Sàng, Đoài Giáp, CamThịnh, Cam Lâm, Phụ Khang, Hà Tân, Hưng Thịnh và Văn Miếu thuộc thị xãSơn Tây, thành phố Hà Nội Trong đó chủ yếu là 5 thôn Mông Phụ, ĐôngSàng, Đoài Giáp, Cam Thịnh Cam Lâm

-Về phạm vi thời gian: Từ năm 1986-2016

5 Nguồn tài liệu, phương pháp nghiên cứu

5.1.Nguồn tài liệu

-Nguồn tài liệu thông sử: Đại Việt sử kí toàn thư, Đại Nam nhất thốngchí, Đại Việt nhất thống chí, Đại cương lịch sử Việt Nam…

-Các nguồn lịch sử địa phương: Lịch sử tỉnh Hà Tây, lịch sử thị xã SơnTây, lịch sử Thành Phố Hà Nội

-Các tài liệu nghiên cứu chuyên sâu như : luận án luận văn của tác giảNguyễn Thị Phương Anh, Nguyễn Quốc Hùng, Đào Bích Thủy, khóa luận tốtnghiệp

-Các bài báo tạp chí, các diễn đàn, trên đài phát thanh truyền thôngtruyền hình

-Nguồn tư liệu điền giã, thực tế địa phương

Trang 12

-Nguồn tài liệu Internet

5.2.Phương pháp nghiên cứu

-Dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng HồChí Minh về lịch sử để nghiên cứu đề tài

-Kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic, trong đó phươngpháp lịch sử là chủ yếu

-Phương pháp tổng hợp, đối chiếu, so sánh

-Phương pháp điền giã

6 Đóng góp của khóa luận

-Dựng lại bức tranh lịch sử tương đối đầy đủ cụ thể về Làng cổ ĐườngLâm trong thời kì đổi mới 1986-2016

-Nêu rõ những hoạt động của làng cổ Đường Lâm trong thời kì đổi mới

về thành tựu cũng như hạn chế

-Rút ra những đặc điểm và vai trò của Làng cổ trong thời kì đổi mới1986-2016

7 Bố cục của khóa luận

Bố cục của khóa luận gồm 3 chương:

-Chương 1: Điều kiện hình thành và phát triển Làng cổ Đường Lâm trước năm 1986

-Chương 2: Hoạt động của Làng cổ Đường Lâm trong thời kì 1986-2016 -Chương 3: Đặc điểm và vai trò của Làng cổ Đường Lâm trong thời kì 1986-2016

Trang 13

Chương 1ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG CỔ ĐƯỜNG

LÂM TRƯỚC NĂM 1986 1.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư

1.1.1.Điều kiện tự nhiên

Xã Đường Lâm, xưa thuộc đất Kẻ Mía, thuộc vùng bán sơn địa, nằm ởphía Đông Bắc, thị xã Sơn Tây Đường Lâm có 9 làng là Mông Phụ, CamLâm, Cam Thịnh, Đoài Giáp, Đông Sàng, Hà Tân, Hưng Thịnh, Phụ Khang

và Văn Miếu Phía Bắc giáp sông Hồng( bên kia sông là tỉnh Vĩnh Phúc), phíaĐông giáp phường Phú Thịnh , phía Tây giáp xã Cam Thượng (huyện Ba Vì),phía Nam giáp xã Thanh Mỹ và Xuân Sơn Trọng tâm làng cổ ở Đường Lâmđược xác định là làng Mông Phụ, một làng có dân số lớn, ở vào vị trí trungtâm giữa các làng Đông Sàng, Đoài Giáp và Cam Thịnh Nơi đây còn lưu giữđược nguyên vẹn cấu trúc và nếp sinh hoạt của một làng Việt cổ thuộc vùngtrung du Bắc Bộ với hình ảnh những căn nhà 3 gian 2 chái , cây đa, giếngnước, ao sen, sân đình và những ngôi nhà cổ có niên đại hàng trăm năm tuổi

Trong tâm thức của nhiều người, nói đến Đường Lâm người ta thườngliên tưởng địa danh ―Kẻ Mía‖, ―Một ấp hai vua‖ Địa danh này xuất hiện khásớm trong các thư tịch cổ như: Việt điện u linh, Thiên nam ngữ lục, Lịch triều

Trang 14

hiến chương loại chí Hồ sơ di tích này viết về làng cổ ở Đường Lâm Làng

cổ ở Đường Lâm là tên gọi chính thức của di tích

Tên Đường Lâm được nhắc đến sớm nhất là trong sách Việt điện u linh,

trong đó có chép rằng: Ông cha Phùng Hưng đời đời làm tù trưởng ở châuĐường Lâm Có thể châu Đường Lâm thuở ấy rộng hơn xã Đường Lâm bâygiờ rất nhiều [27]

Còn căn cứ theo Thiên Nam ngữ lục - cuốn sử ca dân gian viết bằngchữ Nôm ở thế kỷ XVII, ít nhất địa danh Đường Lâm đã xuất hiện từ thế kỷVII - VIII, gắn liền với chiến công lẫy lừng cùa hai vị anh hùng dân tộcPhùng Hưng, Ngô Quyền [14]

-―Đường Lâm sinh có anh hùngBấy chừ một đạo quân Phùng nổi lên‖

-―Quyền cùng Đường Lâm còn dòngCha làm châu mục lĩnh trong Nam thành‖

(Thiên Nam Ngũ Lục)Theo Phan Huy Chú trong sách ―Lịch triều hiến chương loại chí‖ thìchâu Đường Lâm kéo dài đến tận địa phận huyện Hoài An (tức vùng Mỹ Đức

- chùa Hương bây giờ) của xứ Đoài - Sơn Tây [8, tr.9]

Còn sách Đại Việt sử ký toàn thư, là chính sử đời Lê, thì có đoạn ghi:Tân Mùi 791, đời Đường, niên hiệu Trinh Nguyên thứ 7, mùa xuân, An Nam

đô hộ phủ là Cao Chính Bình làm việc quan bắt dân đóng góp nặng Mùa hạtháng tư, người quê Đường Lâm, thuộc Giao Châu là Phùng Hưng nổi binhvây phủ Chính Bình vì lo sợ mà chết [13] Một bia đá còn lưu giữ được ởthôn Cam Lâm, có niên hiệu Quang Thái thứ 3 (1390) đời Trần Thuận Tông,cũng ghi: ―Nguyên bản xã, địa cư lâm mãng, cổ hiệu Đường Lâm‖ Nghĩa là:Nguyên xã này, đất đai toàn rừng rậm, xưa gọi là Đường Lâm [9, tr.62]

Trang 15

Sách Đại Việt địa dư toàn biên, Nguyễn Văn Siêu cũng viết: ― BốCái Đại Vương là Phùng Hưng Tiền Ngô Vương Quyền đều là người ĐườngLâm Nay xã Cam Lâm, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ (xã Cam Lâm trước

là xã Cam Tuyền) có 2 đền thờ Bố Cái Đại Vương và Tiền Ngô Vương Còn

có một bia khắc rằng: Bản xã đất ở rừng rậm, đời xưa gọi là Đường Lâm, đờiđời có anh hào Đời nhà Đường có Phùng Vương tên húy Hưng, đời Ngũ Đại

có Ngô Vương tên húy Quyền Hai vương cùng một làng, từ xưa không có

Uy đức còn mãi, miếu mạo như cũ Niên hiệu đề là Quang Thái năm thứ 3(Trần Thuận Tông-1390) mùa xuân tháng 2, ngày 18 làm bia này ‖[5, tr.402-403.] Như vậy, Đường Lâm chắc chắn là một cái tên cổ đã có từ rất lâu đời

Và cũng trong ―Đại Việt sử ký toàn thư‖, phần ghi chép về năm 1117, cóđoạn nhắc đến ―người giáp Cam Giá‖ Khu vực làng cổ Đường Lâm ngày nayvốn thuộc tổng Cam Giá Thịnh trước kia, nay gồm bốn làng Cam Thịnh,Mông Phụ, Đông Sàng, Đoài Giáp, được gọi chung là Kẻ Mía Từ Cam Giátrong tên gọi tổng Cam Giá Thịnh có nghĩa là Mía, xuất phát từ việc khu vựcnày đã từng phát triển nghề trồng mía Cũng từ đó mà có tên làng Mía, ChùaMía

Nhưng nguyên do của tên gọi Kẻ Mía là từ đâu? Huyền tích dân gian

xứ Đoài còn kể rằng: ―Vào thời Hùng Vương thứ 16, nhà vua sinh được mộtnàng công chúa xinh đẹp tuyệt trần, gọi tên là Mị Ê Nàng không thích sốngtrong cảnh cung cấm gò bó Hằng ngày, nàng thường cùng một số cung nữ đitới các vùng bãi đất ven sông Cái (sông Hồng), hoặc cùng mọi người vuntrồng ngô khoai, hoặc hái hoa bắt bướm vui chơi…Vào một buổi trời hè nắnggắt, Mị Ê chơi bắt gặp một bụi cây trông như những cây sậy, nàng bẻ một cây

ra thì thấy thân cây có nước, lấy tay quyệt nếm thử thì thấy có vị ngọt và thơmmát Nàng reo lên thích thú, rồi bảo mọi người trồng thử trên bãi sông Chẳngbao lâu, loài cây mọc thành từng bụi xanh tốt um tùm Nhân dân bảo nhau

Trang 16

chặt về, ép lấy nước, rồi nấu thành mật để ăn Ngày tết đến, nàng Mị Ê saichặt những cây to ngon cùng một ít nước mật đem về dâng vua cha VuaHùng ăn nếm rất thích thú, bèn lấy ngay tên nàng công chúa yêu quý là Mị Ê

để đặt tên cho giống cây quý này Từ đó khắp cả một vùng bãi ven sông Thao,đặc biệt là từ Ba gò Đông Viên đến làng Phú Nhi, cây Mị Ê được trồng xanhtốt như rừng Cái tên cây Mị Ê lâu dần cũng bị mọi người đọc chệch đi thành

ra cây Mi…Ê, rồi cây Mía Đến mùa thu hái mía, quang cảnh thật tấp nập,nhân dân vừa nô nức chặt mía vừa dựng những lò kéo mật - dùng trâu kéomáy ép mía bằng gỗ để nấu mật, ngày đêm khói tỏa nghi ngút ngay bên bãisông Và tất cả các vùng rộng lớn có trồng mía đầu tiên đó, được gọi chung là

kẻ Mía‖[8, tr.11] Như vậy, cái tên Đường Lâm đã cổ, nhưng cái tên kẻ Mía

rõ ràng còn cổ hơn nhiều

Đến thời Lê, vùng Kẻ Mía được tách ra làm hai, đặt tổng Cam GiáThượng thuộc huyện Tiên Phong (nay là xã Cam Thượng) và tổng Cam GiáThịnh, huyện Phúc Lộc (sau gọi là Phúc Thọ), tức là địa bàn xã Đường Lâmngày nay

Sau Cách mạng tháng Tám, tổng Cam Giá Thịnh có tên mới là xãPhùng Hưng Mãi đến ngày 21 tháng 11 năm 1964 xã Phùng Hưng mới đổitên thành Đường Lâm trực thuộc huyện Tùng Thiện tỉnh Sơn Tây cho đếnnăm 1968 Cũng trong năm này tỉnh Sơn Tây sáp nhập tỉnh Hà Đông thànhtỉnh Hà Tây Đầu thế kỷ 19, Đường Lâm là nơi đặt lỵ sở của trấn Sơn Tây

Theo "Thư tịch cổ" (Đại Nam nhất thống chí, lịch triều hiến chươngloại chí) Sơn Tây xuất hiện cách đây hơn 500 năm Năm 1469 (thời Lê ThánhTông), Trấn sở Sơn Tây đóng tại xã La Phẩm, huyện Tiên Phong, Phủ QuảngOai (nay thuộc xã Tản Hồng, Ba Vì, Hà Nội), thời kỳ đó gọi là Sơn Tây ThừaTuyên Đến thời Lê Cảnh Hưng (1740-1786), Trấn sở được dời về xã MôngPhụ, huyện Phú Lộc, Phủ Quảng Oai (nay thuộc xã Đường Lâm, Sơn Tây),

Trang 17

năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), Trấn sở dời về thôn Thuần Nghệ - HuyệnMinh Nghĩa (nay là nội thành Sơn Tây) Năm 1831, Trấn Sơn Tây đổi thànhtỉnh Sơn Tây và trấn lỵ trở thành tỉnh lỵ Năm 1942, Thực dân Pháp đổi tỉnh

lỵ thành Thị xã Sơn Tây [40]

Thị xã Sơn Tây là thủ phủ của tỉnh Sơn Tây (bao gồm 06 huyện: QuốcOai, Quảng Oai, Tùng Thiện, Phúc Thọ, Thạch Thất, Bất Bạt) với diện tích

150 mẫu bắc bộ và số dân là 6.116 người

Tháng 6/1965, thực hiện Quyết định của Chính phủ, thị xã Sơn Tâycùng với các huyện của tỉnh Sơn Tây sát nhập với tỉnh Hà Đông thành tỉnh HàTây

Năm 1979, thực hiện Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng, thị xã SơnTây cùng một số huyện của tỉnh Hà Sơn Bình chuyển về thành phố Hà Nội

Tháng 10 năm 1991, thị xã Sơn Tây được tách và chuyển về trực thuộc tỉnh Hà Tây

Ngày 13/4/2006, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã có Quyết định số655/QĐ-BXD công nhận Thị xã Sơn Tây là đô thị loại III

Đặc biệt, ngày 02/8/2007, Chính phủ đã có Nghị định số 130/NĐ-CP

về việc thành lập Thành phố Sơn Tây trực thuộc tỉnh Hà Tây [40]

Ngày 01/8/2008, thực hiện Nghị quyết số 15/2008/QH12 của Quốc hội nướcCộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Thành phố Sơn Tây trở về với Thủ đô

Hà Nội Từ đó, thành phố Sơn Tây có 9 phường: Lê Lợi, Ngô Quyền, PhúThịnh, Quang Trung, Sơn Lộc, Trung Hưng, Trung Sơn Trầm, Viên Sơn,Xuân Khanh và 6 xã: Cổ Đông, Đường Lâm, Kim Sơn, Sơn Đông, Thanh Mỹ,Xuân Sơn

Ngày 8 tháng 5 năm 2009, Chính phủ ra nghị quyết chuyển thành phốSơn Tây thành thị xã Sơn Tây trực thuộc Hà Nội

Trang 18

- Địa hình

Nằm trên vùng văn hóa cổ Sơn Tây- Xứ Đoài, Đường Lâm kẹp giữasông Hồng và các ngọn đồi đá ong thấp kéo dài của chân núi Ba Vì về phíaBắc, xen giữa những cánh đồng, những dải đất trũng Theo quan niệm xưa,Đường Lâm là đất đắc địa, nằm ở thế tọa sơn vọng thủy: ―Lưng dựa vào núiTản, mặt ngoảnh ra sông Hồng‖ [23, tr.149] Đây là vùng đất cổ, một ấp haivua và cũng là ―Tứ giác nước‖, được bao bọc bởi sông Đà, sông Tích - Mộtchi lưu nối với sông Đà, sông Đáy

Địa bàn xã Đường Lâm có địa hình đồi gò nối tiếp nhau như bát úp với

ba mặt nước sông bao bọc, có nham thạch cứng như đá ong, đá vôi cung cấpvật liệu xây dựng với trữ lượng lớn Phía Tây Nam làng là núi Tản Viên (BaVì) sừng sững, thần núi được coi là Thành hoàng bảo vệ làng Là vùng đấtnằm trên bậc phù sa cổ không bằng phẳng, có đặc điểm gồm những dải đấtuốn cong uyển chuyển hợp thành từ các mỏm đồi gò liên tiếp từ chân núi Ba

Vì soải ra, với độ cao trung bình so với mặt biển 18m, trung tâm là đồi Cấm

có độ cao 48m

Thuở khai sinh lập địa nơi này vốn là rừng rậm lau rách, cỏ dại mọc

um tùm, nhiều thú rừng ẩn nấp, đồng thời cũng là địa bàn sinh sống củangười Việt cổ Nhiều thế hệ nối tiếp nhau khai phá, cải tạo thiên nhiên đã đểlại cho nhân dân Đường Lâm thừa hưởng một di sản quí giá, đó là những cánhđồng, những đồi gò và cả những rộc sâu có thể canh tác lúa, màu, rau đậu vàcây công nghiệp… ―Đường Lâm xưa kia thuộc đất Phong Châu cổ kính, kinh

đô của các Hùng Vương thời dựng nước, một địa bàn đã có cư dân từ rất lâuđời và cũng là một trung tâm cư dân quan trọng‖ [24, tr.17]

- Giao thông vận tải

Đường Lâm ở vào vị trí rất thuận lợi cả về giao thông đường bộ vàđường thủy Đường bộ có đường quốc lộ 32 cách thủ đô Hà Nội gần 50km, do

Trang 19

đó việc giao thông liên lạc với các trung tâm lớn của địa phương và cả nướckhá thuận tiện ―Đường Lâm còn nằm cạnh dòng sông Cái- sông Hồng: Nhấtcận thị, nhị cận giang Đường Lâm vừa gần sông lớn, vừa gần đô thị lớn‖[22,tr.12] Ngoài ra Đường Lâm còn có dòng sông Con phát nguyên từ phía núi

Ba Vì đổ vào sông Bôi, nhập vào sông Đáy ở Gián Khẩu, Ninh Bình SôngCon chảy từ Tây sang Đông quanh co uốn khúc men theo các rẻo đất trũngchia Đường Lâm thành hai nửa Nửa phía Bắc rộng hơn gồm các thôn HàTân, Hưng Thịnh, Đông Sàng, Cam Thịnh, Mông Phụ, Đoài Giáp, Văn Miếu;nửa phía Nam gồm thôn Cam Lâm và Phụ Khang Sông Con còn gọi là sôngTích, theo truyền thuyết là dấu tích của cuộc chiến ―năm năm báo oán, đời đờiđánh ghen‖ giữa Thủy Tinh và Sơn Tinh xung quanh nàng công chúa củaHùng Vương thứ 18 Sông Con trước đây là đường giao thông thủy quantrọng, thuyền buồm từ Nam Định, Thái Bình, Hà Nam thường chở hàng hóa

từ miền xuôi lên cập bến mua bán, đổi chác lâm thổ sản của miền ngược.Ngày nay sông Con chỉ còn tác dụng tưới tiêu nước phục vụ cho sản xuấtnông nghiệp, tô điểm cho cảnh quan Đường Lâm thêm hữu tình

Đặc biệt, ngày nay Đường Lâm còn có thuận lợi khi cầu Trung Hà vừamới được khánh thành (năm 2003), đường cao tốc Láng Hoà Lạc tiếp tục mởrộn g nâng cấp, đường tránh thị xã (đường Hồ Chí Minh) đã khởi công năm2003

- Đất đai

Đường Lâm-Sơn Tây, là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung duBắc Bộ, phía Tây và phía Nam giáp với Thượng du và Trung du nên có đồinúi Đất Sơn Tây không tốt như các vùng khác mà đất ở đây có nhiều đá ong

Đó cũng là điểm làm nên nét đặc trưng sinh thái xứ Đoài

Trong 9 thôn ở xã Đường Lâm thì Hà Tân và Hưng Thịnh là hai thônnằm ở ven bờ sông Hồng được ngăn cách bởi một con đê với các thôn―bán

Trang 20

sơn địa‖ của Đường Lâm Và ngày nay khi nói tới làng Cổ Đường Lâm người

ta thường nghĩ đến các thôn ―trong đê‖, các thôn bán sơn địa của Đường Lâm:Mông Phụ, Cam Thịnh, Đoài Giáp, Đông Sàng Những thôn này là nhữngthôn gốc còn bảo lưu được những nét văn hóa cổ truyền của làng xã đồngbằng Bắc Bộ đặc biệt của xứ Đoài ―đất đá ong khô‖

- Khí hậu

Nói về điều kiện tự nhiên không thể bỏ qua khí hậu thời tiết, nhân tốthường xuyên chi phối môi trường tự nhiên, quần thể động thực vật và cuộcsống con người

Đường Lâm thuộc vùng núi Ba Vì nên có sự phân hoá theo hướng cácsườn núi Nhiệt độ trung bình năm khoảng 250C, cao nhất khoảng 270C vàthấp nhất khoảng 200C; lượng mưa trung bình năm 1800 - 2000 mm nhưngphân bố không đều Lượng mưa trong mùa khô chỉ bằng 12 - 13% lượng mưatrong mùa mưa; lượng bốc hơi trong mùa khô rất cao

Nói chung, khí hậu thời tiết ở Đường Lâm tương đối ôn hoà, có 4 mùa:Xuân, Hạ, Thu, Đông rõ rệt Tính chất khí hậu ổn định của 4 mùa giúp choviệc sản xuất và sinh hoạt có nhiều thuận lợi Cư dân Đường Lâm có thể hiểuđược quy luật tự nhiên đó để áp dụng vào sản xuất, tránh được khí hậu hàkhắc và những thiên tai bất biến làm ảnh hưởng đến mùa màng

- Sông ngòi

Về mạng lưới sông ngòi, ―làng cổ Đường Lâm nằm giữa sông Cả(Sông Hồng) và sông Con (sông Tích), là vùng trung du ở bên rìa ngoài củavùng châu thổ Bắc Bộ, mà 36 đồi gò, 18 rộc sâu‖ [21, tr.3], cùng với khúcsông Tích uốn lượn là những vết tích còn lưu lại đến ngày nay

Hệ thống sông Hồng và sông Tích chảy qua địa bàn xã Đường Lâmtrên tổng diện tích đất tự nhiên là 800,25 ha Có một phần diện tích ngoài đêcủa hai thôn Hà Tân và Hưng Thịnh thường xuyên chịu ảnh hưởng của thuỷ

Trang 21

chế sông Hồng Những sông này đều mang đặc tính sông miền trung du, dovậy chế độ thuỷ văn rất phức tạp, phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ mùa mưacủa vùng lưu vực các nhánh sông và chế độ thuỷ văn của sông Đáy (đặc biệtkhi có nhiệm vụ phân lũ) Chính vì vậy mà mực nước của các nhánh sôngnhỏ này lên xuống rất thất thường, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nôngnghiệp.

1.1.2.Dân cư

Đường Lâm là vùng đất có lịch sử từ thời dựng nước Tại thôn MôngPhụ, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy dấu tích những di vật đá đẽo thuộc giaiđoạn văn hoá Sơn Vi, cách nay khoảng 2 vạn năm Tiếp đó là các di tíchthuộc giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên - sơ kỳ thời đại đồ đồng, cách naykhoảng 4000 năm cũng được tm thấy ở Mả Đống, ven dọc lưu vực sông Đáy

và sông Tích Tại địa điểm gò Mả Đống còn phát hiện được nhiều dụng cụlao động đồ đá và đồ gốm được làm cả bằng bàn xoay và cả bằng tay Hoavăn trang trí được chia thành 8 loại khác nhau là văn thừng, văn chải, vănkhuông nhạc, văn khắc vạch, văn đai đắp nổi, văn trổ lỗ, văn lỗ thủng, văn vỏ

na Chứng cứ khảo cổ học cho thấy người Mả Đống sinh sống chính bằngnghề nông Những công cụ tm thấy ở đây chủ yếu được dùng trong nôngnghiệp Sự phát triển của đồ gốm cũng chứng minh sự có mặt của biểutượng sinh thực khí, phổ biến trong các tn ngưỡng tôn giáo của người nôngnghiệp nguyên thuỷ Chủ nhân của di chỉ Mả Đống có quan hệ với chủ nhâncủa văn hoá Phùng Nguyên, Đồng Đậu Chắc chắn họ là cư dân Văn Lang vàvăn hoá Mả Đống là bộ phận hợp thành văn hoá vật chất thời Hùng Vương

Như vậy, ―về mặt thời gian, cư dân Việt cổ đã tồn tại ở đây suốt từ vănhoá Sơn Vi, qua bốn giai đoạn văn hoá kế tếp Phùng Nguyên, Đồng Đậu, GòMun, Đông Sơn‖ [7, tr.40] Đây là vùng đất hợp lưu giữa sông Đà và sông

Trang 22

Hồng về phía Bắc đã tạo nên cảnh quan thích hợp cho người Việt cổ sinhsống.

Trang 23

Tuy gọi là làng cổ nhưng thực ra ―Đường Lâm từ xưa gồm 9 làngthuộc tổng Cam Giá Thịnh huyện Phúc Thọ trấn Sơn Tây‖ [26, tr.42], trong

đó 5 làng Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Thịnh, Đoài Giáp và Cam Lâm liền kềnhau Các làng này gắn kết với nhau thành một thể thống nhất với phong tục,tập quán, và tín ngưỡng hàng ngàn năm nay không hề thay đổi

So với các xã trong vùng, Đường Lâm là một xã lớn với diện tch tựnhiên là 800,25 ha, trong đó có 415 ha đất canh tác, 385,25 ha đất thổ cư,dân số 9337 nhân khẩu với 1.937 hộ gia đình theo thống kê năm 2006 Trungtâm làng Cổ Đường Lâm được xác định là thôn Mông Phụ, một thôn códân số lớn, ở vào vị trí trung tâm của làng Dân cư chủ yếu sống bằng nghềsản xuất nông nghiệp, nơi có nghề trồng lúa nước rất phát triển

Dòng họ thực chất là sự mở rộng của hình thức gia đình Đó là mộttập hợp những gia đình có chung quan hệ huyết tộc Nó tạo ra niềm cộngcảm dựa trên huyết tộc của các thành viên trong dòng họ Dân cư ởĐường Lâm có nguồn gốc từ người Miền trung (Nghệ An hoặc Thanh Hóa)

di cư đến sinh sống Họ Phan là một trong những dòng họ lớn nhất và cónhiều người đỗ đạt cao nhất

Họ Nguyễn ở Đường Lâm cũng được coi là một trong hai họ lớn Còn

có một tích chuyện về 3 dòng họ Lê, Kiều, Nguyễn ở Đường Lâm: Từ khivùng đất Đường Lâm còn hoang vắng, dân cư thưa thớt, có ba người đàn ông

từ nơi đâu không rõ, hàng ngày đến bắt cá, chài lưới dọc ven sông Hồng thuộcđịa phận thôn Đông Sàng xã Đường Lâm ngày nay Một hôm đi đánh cá, cả

ba ông lần lượt kéo lưới của mình lên thì trong lưới chẳng có con cá nào màduy nhất chỉ kéo được một cái sọ đầu lâu Ông thứ nhất kéo vó lên thấy

sọ đầu lâu rồi ném trả xuống sông, đến ông thứ hai kéo vó lên thì cũng chỉkéo được sọ đầu lâu rồi lại thả xuống, đến ông thứ ba kéo vó lên thì cũng chỉ

Trang 24

kéo được sọ đầu lâu mà thôi Sau đó cả ba ông cho đây là sự trùng hợp vềmột

Trang 25

điềm lạ, họ liền bảo nhau vớt lên chôn ở chỗ đất ven bờ sông Hồng Nhưng cómột điều rất lạ là chỉ sau có một đêm ngôi mộ to ra rất nhiều, người ta còngọi đó là mối đùn hay còn gọi là ―thiên táng‖ Vì vậy, cứ sáng sớm trướckhi ra sông kéo cá, cả ba ông thường qua đây thắp hương cúng bái Từ đó, cả

ba ông cứ hễ kéo cá ở đoạn sông khác thì chẳng được con cá nào, chỉ kéotrên đoạn sông này thì mới được cá Từ đó, ba ông họ Lê, Kiều, Nguyễn bảonhau lên bờ để cư trú, khi đi họ mang theo cả vợ con đến vùng đất này đểlàm ăn, sinh

sống

Đến nay các thế hệ của 3 dòng họ Lê, Kiều, Nguyễn sinh sống ởĐường Lâm được khoảng 8 - 9 đời và cũng được coi là những dòng họ lớn hiện

nay ở Đường Lâm Dân cư chủ yếu là dân tộc kinh, trình độ văn hóa còn thấp

Về tôn giáo một số ít hộ gia đình còn theo đạo Thiên Chúa Chủ yếu làdân cư ở làng Mông Phụ có xây dựng một nhà thờ

1.2 Điều kiện kinh tế

1.2.1 Nông nghiệp

Đường Lâm là một làng thuần nông truyền thống với 95% dân số hoạtđộng trong lĩnh vực nông nghiệp ―Tổ chức không gian tổng thể ở đây vẫncòn đậm nét phương thức sống tự cung tự cấp, kết hợp với sản xuất nhỏ củangười nông dân Việt Nam từ hàng nghìn năm nay- mặc dù đã có nhữngthay đổi nhưng chưa hẳn đã lột xác‖[1, tr.110]

Địa hình Đường Lâm tương đối phức tạp, phần lớn là đất đồi gò đáong, gồ ghề không bằng phẳng Đứng ở trên cao nhìn xuống, Đường Lâmgiống như hình cái bát úp Trừ hai thôn Hà Tân và Hưng Thịnh thì hầu hếtdân cư sống tập trung trên các đồi gò cao thấp Tổng diện tích đất đai canhtác của toàn xã là 414,48 ha phân bố trên các sườn đồi gò (36 đồi gò), chân

Trang 26

vàn thấp và các rộc sâu (18 rộc sâu) Vì vậy, để canh tác lúa nước, người dânĐường Lâm phải nghĩ ra phương pháp chia cắt ruộng đất thành nhữngruộng

Trang 27

nhỏ bậc thang để tiện cho việc be bờ giữ nước từng khoảnh ruộng Ruộngđất ở Đường Lâm khá manh mún Mặc dù vậy nghề trồng lúa nước rất pháttriển Đứng kế tiếp sau cây lúa nước ra thì các cây hoa màu như ngô, khoai,sắn là cây lương thực giữ vị trí quan trọng để phục vụ bữa ăn hàng ngày chongười

dân

Cây ngô có mặt ở hầu khắp đồng đất Đường Lâm Vì thế, không phảingẫu nhiên ngô đã đi vào đời sống đi vào câu ca dao và trở thành món

ăn quen thuộc của người nông dân xứ Đoài

―Đường Lâm đất đá ong khô

Ăn cơm thì ít, ăn ngô thì nhiều‖

(Ca dao)Bên cạnh cây ngô, cây khoai cũng được trồng khá nhiều Nhiều nhấtphải kể đến khoai lang - loại cây đóng vai trò làm cây lương thực phụ thay thếcho cơm

Ngoài ra, người dân Đường Lâm còn trồng một số loại khoai khác nhưkhoai tây, khoai sọ vừa dùng làm lương thực, vừa làm thực phẩm Sắn cũng làmột trong những cây trồng đặc trưng của vùng đất trung du đồi gòĐường Lâm Cây sắn là loại thân cứng, dễ thích ứng với vùng đất sỏi đá khôhạn, thường cho năng suất cao, được trồng cả ở trong vườn nhà, trên đồi gòhay ở xung quanh nhà làm hàng rào

Một thời gian khá dài trong lịch sử Đường Lâm, Mía được coi là câytrồng đặc trưng và phổ biến trên vùng đất này Cây Mía đã đi vào truyềnthuyết dân gian của Đường Lâm Cho đến ngày nay, truyền thuyết về cây Míavẫn còn in đậm trong ký ức của người dân Cây Mía đã trở thành một biểutượng thờ cúng tín ngưỡng của người dân Đường Lâm Lúc đầu Mía được tìmthấy trong tự nhiên như một loại cây hoang dại, sau đó được người dân

Trang 28

Đường Lâm thuần dưỡng, nhân giống trên đồng đất đồi gò đá ong và đấtbãi

Trang 29

ven sông Cây mía đã mang lại nhiều giá trị không chỉ về kinh tế mà còn cả vềvăn hoá Thời gian một vụ Mía từ lúc trồng đến thu hoạch rất dài từ tháng11,

12 năm trước đến tháng 9, 10 năm sau Do đặc trưng của thổ nhưỡng vàkhí hậu, mía Đường Lâm cho ra những sản phẩm đường, mật, kẹo, nha .ngọt hơn, thơm hơn, chất lượng đường cao hơn những cây mía đựơc trồng

ở vùng

đất khác

-― Kẻ Mía kéo mật hộn đường‖

-― Làng Mía Đường Lâm kẹo ngọt bánh đa‖

-―Đi lên phố Mía nhà tôi

Đi vào chơi chợ, quê tôi có chùa‖

(Ca dao)Mía ở Đường Lâm có hai loại chủ yếu là: mía trắng và mía tm Mía

tm có đốt ngắn, thân mềm, một loại quà khoái khẩu nhất là đối với trẻ

em Còn mía trắng đốt dài, rất ngọt, năng suất cao gấp rưỡi hoặc gấp đôicây mía đỏ nhưng cứng hơn Loại mía này chủ yếu dùng để ép mật, làmđường phèn

1.2.1 Thủ công nghiệp

Đường Lâm xưa là vùng đất trồng mía nên mật mía và đường phènđược dùng rất phổ biến trong việc chế biến các loại quà bánh, nhất làbánh gai, bánh mật, chè đỗ Cũng vì thế cho nên nghề kẹo bột, chè lam, kẹolạc, kẹo vừng và các sản phẩm làm từ mật mía khá phát triển

Nghệ thuật tạo tác các ngành nghề thủ công truyền thống ở ĐườngLâm ngay từ xa xưa đã rất phong phú, nhiều nghề đã nổi danh trong vùngnhư: Nghề đan lát, nghề mộc, nghề làm tương, chả giò, kẹo bột, chè lam,bánh bỏng, dệt vải, nấu mật hộn đường, đánh đá ong, về ẩm thực còn có

Trang 30

cơm chay của chùa Mía.v.v Các câu ca dao cổ còn mô tả các món ănsản vật địa phương như:

Trang 31

- Nhất trong là nước giếng hèNhất ngon là bát nước chè Cam Lâm

- Mông Phụ dệt vải trồng mầuCam Thịnh đan rổ, đan gầu, đan nong…

(Ca dao)Với địa hình là đồi gò nên nghề đào gạch đá ong ở Đường Lâm đượccoi là một nghề phổ biến và có vai trò quan trọng trong sản xuất vật liệu xâydựng Ở các thôn Mông Phụ, Phụ Khang có khá nhiều diện tích đồi đá ong lộthiên, dễ khai thác Bà con trong làng đánh thành từng viên mang về xâydựng nhà cửa, tường bao, cầu cống, đình chùa, đền miếu, ngôi mộ, giếngnước, đường đi, cống thoát nước trường tồn cùng với thời gian mà chỉ ởĐường Lâm có được Gạch đá ong ở Đường Lâm là nguồn nguyên liệu xâydựng thay thế cho các loại nguyên liệu gạch nung, gạch mộc Thậm chí,nhiều thợ đánh đá ong Đường Lâm còn đánh đá ong thành từng khối to chở

đi các nơi khác bán, tăng thêm nguồn thu nhập Nhiều người trong làng lấynghề khai thác đá ong làm nghề mưu sinh chính Nguyên liệu xây dựng đáong đã trở nên thông dụng, do dễ khai thác, khi thay thế cho các chủng loạigạch trong xây dựng thì tỏ rõ ưu thế xây dựng nhanh, giá thành hạ, khi ởtrong lòng đất thường mềm, nhưng sau khi được lấy lên mặt đất, càng để dãidầu nắng mưa, càng rắn chắc, có độ bền cao phù hợp với khả năng tiêu thụ

và thị hiếu của bà con nông dân

1.3 Điều kiện văn hóa, xã hội

1.3.1 Văn hóa

Nơi đây còn lưu giữ những nét văn hóa cổ mang trong mình tất cảnhững nét đặc trưng, điển hình, tiêu biểu, của làng quê nông nghiệp,nông thôn Việt Nam khu vực đồng bằng Bắc Bộ, Làng cổ Đường Lâm vẫn

Trang 32

còn nguyên vẹn những thuần phong mỹ tục, cuộc sống đậm đà chất nôngnghiệp

Trang 33

nông thôn hay cảnh quan môi trường giao tiếp, điều đó cho thấy Đường Lâmmang không gian của một làng cổ Thuần Việt…Ngoài ra trong những câu cadao, tục ngữ, văn học dân gian Việt Nam có những gì đẹp đẽ nhất,thân thương nhất của nông thôn quê xưa thì làng Cổ Đường Lâm là một bứctranh hội tụ đầy đủ những điều ấy như: lũy tre, cánh đồng, cây đa, giếngnước, sân đình…Trong ca dao tục ngữ đã thấm sâu vào kí ức dân gian tự thuởnào:

-Chẳng đi nhớ cháo Dốc GhềNhớ Cơm Phố Mía nhớ chè Đông Viên-Chợ Mía mới họp đã to

Các thầy Mông Phụ cứ dò xuống chơi-Kẻ Mía kéo mật hộn đườngThợ rèn Quang Húc, Chu Chàng ươm tơ…

(Ca dao, tục ngữ)Nói đến lễ hội, người ta bao giờ cũng liên tưởng tới sự linh thiêng, tnngưỡng và các trò chơi nhuốm màu dân gian Lễ hội dân gian cổ truyền củalàng cổ Đường Lâm trước Cách mạng tháng 8/1945 - nhất là từ thế kỷ XIXtrở về trước không những có một quá trình lịch sử lâu dài mà còn pháttriển mạnh mẽ và giữ vai trò của loại hình sinh hoạt văn hoá cộng đồng quantrọng trong khu vực Hạt nhân của lễ hội làng cổ ở Đường Lâm là nghi thức

lễ tiết nông nghiệp Uống nước nhớ nguồn, thờ cúng tổ tiên là một đặc điểmnổi bật, thể hiện đạo lý, tnh cảm của người Việt Trong mỗi gia đình ngườidân tại làng cổ ở Đường Lâm, vị trí trang trọng nhất trong ngôi nhà là nơi đặtbàn thờ thờ cúng tổ tiên ông bà

Ngoài ra nếu du khách đến Đường Lâm vào những ngày hội đầu xuân

du khách sẽ được tận hưởng những giọng hát chèo, trầu văn, ca trù của các

Trang 34

cô thôn nữ hay xem những trò chơi dân gian như : đấu vật, chọi gà, cờngười,

Trang 35

rước kiệu…Vùng đất này còn nổi tiếng với những món ăn và đặc sản như : gà mía, đậu tương, kẹo lạc.

Với giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể to lớn lại hội tụ và nằm trongmột quần thể với cuộc sống của dân cư, sinh hoạt cộng đồng, sản xuất,dịch vụ thương mại nhỏ…Ngày 19/5/2006 Đường Lâm trở thành làng cổ đầutên ở Việt Nam được nhà nước trao bằng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia

1.3.2 Xã hội

Trong thời kỳ phong kiến và phong kiến nửa thực dân, hệ thống cai trịcủa làng cổ Đường Lâm bao gồm: Chánh tổng, tiên chỉ, tên thứ chỉ, lýtrưởng, phó lý, tuần đinh, khán thư Đây vừa là cơ quan đại diện cho sự quản

lý của chính quyền trung ương tại địa phương, vừa đại diện cho quyền lợi củalàng xã trước chính quyền quân chủ và được chọn lọc qua bầu cử Chánh tổng

là người đứng đầu của làng có trách nhiệm trông coi việc chung của làng và làngười quyết định cuối cùng mọi việc thuộc về làng Dưới chánh tổng là tiênchỉ và tên thứ chỉ thay mặt cho chánh tổng quản lý, đôn đốc các mặt nhưphu, lính, kiểm tra canh phòng trong phạm vi của làng và quản lý cấp thônđồng thời thường xuyên phải đi gặp quan huyện để báo cáo tình hình củalàng và tếp thu những ý kiến chỉ đạo từ quan huyện Cấp lý trưởng ởĐường Lâm thường có hai loại: một loại được dân bầu và một loại dùng tềnbạc để mua chức sắc Loại lý trưởng được dân bầu là người phải có điềukiện kinh tế tương đối khá giả và có chút ít vai vế trong làng xã Người nàođược bầu làm lý trưởng phải có ít nhất 3 mẫu ruộng Nếu không có ruộng thìphải mượn tài sản của gia đình bên vợ hoặc anh em, cha chú Người nào đã lo

đủ ngôi món thì dù trước đó có bạch đinh thì vẫn có thể được làm lý trưởng,

dù là lý trưởng được dân bầu hay mua chức thì đều có quyền hành như nhau

Trang 36

Chức vụ tuần đinh, khán thư của làng chịu trách nhiệm trông coi tuầnphòng, giữ gìn an ninh trật tự cho làng xóm Tất cả những chức sắc thứbậc

Trang 37

đó đã tạo nên bộ máy hành chính của làng Nhà nước phong kiến đã lợi dụng

bộ máy này để quản lý và tổ chức làng - một đơn vị luôn được coi là có tính

tự vệ cao và trở thành một công cụ điều hành của Nhà nước có nhiệm vụ thihành các chính sách của Nhà nước và chịu trách nhiệm đối với Nhà nước vềmọi mặt của làng

Trong quan niệm thứ bậc xã hội ở làng Đường Lâm còn có mõ Mõluôn được coi là kẻ có vị trí thấp hèn, đảm nhiệm các việc vặt trong làng từviệc đưa thông tin, trải chiếu trong đình cho các cụ ngồi đến mang ―nhangẩm‖ khi làng vào đám, thông báo lệnh của quan trên và lí dịch tới dânlàng Vì thế từ già đến trẻ đều có thái độ khinh thường, có thể gọi mõ là,

―thằng mõ‖, ―con mõ‖ Người trong làng Đường Lâm không ai nhận làm mõcủa chính làng mình Do vậy mõ ở làng Đường Lâm luôn là người thiên hạđến, và nếu vì lý do gì không làm mõ nữa thì họ cũng không bao giờ ở lạilàng

Tất cả những người hoạt động trong bộ máy hành chính của làng đềuđược làng trả phụ cấp Ngoài ra để lôi kéo số người này phục vụ đắc lực chochính sách cai trị của mình, Nhà nước phong kiến và bọn thực dân đã ra sứcnâng đỡ cho chúng Được nâng đỡ bọn lý dịch mặc sức hoành hành tronglàng xã Chúng lên mặt ra oai, coi khinh những người nghèo khó và luôn tìmcách bóc lột đến tận cùng xương tuỷ của nhân dân Những người già làngĐường Lâm còn nhớ kể lại: mỗi khi có người dân nào ra đường gặp chánhtổng, tiên chỉ mà chưa kịp chào hỏi ngay, lập tức bị chúng ghép cho tội

―ngạo thượng‖ và bắt giam, buộc phải nộp phạt, khi tụ hội chốn đình chung,

bộ máy hành chính được ngồi riêng ở vị trí trang trọng nhất, theo sự phânchia ngôi thứ để định quyền ăn nói hưởng thụ Chính vì thế địa vị chính trịtrong bộ máy hành chính luôn có mối quan hệ hữu cơ, tỷ lệ thuận với địa vi

Trang 38

kinh tế trong làng mà những người thuộc bộ máy ấy nắm giữ Các lý dịchtrong làng đều là những

Trang 39

người giàu có, có cuộc sống no đủ khác xa với cuộc sống của đại đa số ngườidân.

Trong suốt một thời gian dài, hệ thống quản lý của làng Đường Lâmtheo hình thức này đã được duy trì Nó có những ảnh hưởng nhất định đếnđời sống của nhân dân, để lại dấu ấn không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà cảtrên lĩnh vực văn hoá tinh thần

Ở Đường Lâm cũng giống như nhiều làng của nông thôn đồng bằngBắc Bộ, những người có cùng quan hệ huyết thống gắn bó mật thiết với nhauthành đơn vị cơ sở là gia đình, đây là đơn vị cấu thành gia tộc (dòng họ)

Tiểu kết chương 1

Trong hệ thống làng Bắc Bộ, Đường Lâm được biết đến là một vùngđất cổ, mang cảnh quan của vùng trung du bán sơn địa với những đồi gò đáong thấp, những ―rộc‖ sâu, những ruộng ven sông với địa hình rất đa dạng,phong phú [11] Đường Lâm là vùng đất của một cộng đồng dân cư gồm 9thôn hợp lại Nơi đây không chỉ là mảnh đất ―địa linh‖ sinh ―nhân kiệt‖

mà còn là một địa chỉ văn hóa có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiêncứu tm hiểu tập quán cư trú sinh hoạt của những cộng đồng cư dân nôngnghiệp

cổ

Làng cổ Đường Lâm mang giá trị đặc trưng của một làng Việt cổ ởvùng châu thổ Sông Hồng ―Nếu coi phố cổ Hà Nội, phố cổ Hội An là bảotàng lối sống đô thị thì làng cổ Đường Lâm là bảo tàng lối sống nông nghiệp‖[1, tr.110] Không gian văn hóa làng cổ Đường Lâm hợp thành những côngtrình sở hữu chung của cộng đồng như đình, chùa, đền miếu, nhà thờ họ, cácngôi nhà cổ hài hòa với cảnh quan thiên nhiên ở vùng đồi gò thấp bán sơnđịa

Trang 40

Chương 2HOẠT ĐỘNG CỦA LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM TRONG THỜI KÌ

1986-2016 2.1.Hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội

2.1.1.Về kinh tế

Với các điều kiện tự nhiên về đất đai, khí hậu, sông ngòi…thì ―Kinh tế

ở Đường Lâm hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp, lấy trồng trọt chănnuôi là chính Nghề thủ công và dịch vụ chiếm tỉ lệ nhỏ trong việc phân cônglao động và nguồn thu‖ [1, tr.110]

Về nông nghiệp thì cũng như hầu hết các vùng thuộc đồng bằng Bắc

Bộ, ở Đường Lâm, cây lúa chiếm vị trí hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp.Mặc dù địa hình, đất đai tự nhiên không cho phép người Đường Lâm có điềukiện thuận lợi để thâm canh, mở rộng diện tích trồng lúa nước như các vùngkhác ở đồng bằng châu thổ sông Hồng, nhưng bằng sự sáng tạo và sức laođộng của mình người nông dân Đường Lâm đã nỗ lực cải tạo đồng ruộng, giảipháp tưới tiêu, phân bón, cải tạo giống lúa, mở rộng diện tích đất đai tối

đa cho cây lúa bằng việc khai thác vùng đất đồi gò thành những thửa ruộngbậc thềm kết hợp với việc tận dụng những rộc sâu, nơi còn giữ được nhiềunước để gieo trồng lúa người nông dân trồng hai vụ lúa trên một năm: vụxuân cấy lúa chiêm khoảng tháng 2 và tháng 3, còn vụ hè cấy lúa mùa khoảngtháng 6, tháng 7 Trong vụ đông, khoai được trồng rất phổ biến ở vùng này

và được coi là đặc sản của vùng Ngoài ra người ta còn trồng lạc, raumuống và các loại rau màu khác

Từ xưa đến nay ở Đường Lâm Ngô vẫn là cây lương thực có vị trí quantrọng thứ 2 sau cây lúa Hiện nay diện tích đất trồng ngô chiếm khoảng 17,3%diện tích đất nông nghiệp và bằng khoảng 24% đất trồng lúa Ngô còn có vaitrò trong việc phát triển chăn nuôi gia đình Thân cây ngô còn cung cấp nguồn

Ngày đăng: 06/01/2020, 08:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Bằng (2005), Làng cổ Đường Lâm-từ góc nhìn di sản văn hóa. Tạp chí di sản văn hóa số 4, tr.110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng cổ Đường Lâm-từ góc nhìn di sản văn hóa
Tác giả: Đặng Bằng
Năm: 2005
3. Phan Huy Chú (2005), Lịch triều hiến chương loại chí (tập 1), Viện khoa học xã hội Việt Nam-Viện Sử học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
4. Phan Đại Doãn (2001), Làng xã Việt Nam, một số vấn đề kinh tế, văn hoá, xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã Việt Nam, một số vấn đề kinh tế, văn hoá,xã hội
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
5. Phương Đình, Nguyễn Văn Siêu ,Đại Việt địa dư toàn biên, tỉnh Sơn Tây, phủ Quảng Oai, tr.402-403 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt địa dư toàn biên
6. Pierre Gourou, Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, Nxb Trẻ, Viện Viễn đông Bắc cổ, tr.319 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ
Nhà XB: Nxb Trẻ
7. Diệp Đình Hoa (1990), Tìm hiểu làng Việt, Nxb KHXH, Hà Nội. tr.40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tìm hiểu làng Việt
Tác giả: Diệp Đình Hoa
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1990
8. Kiều Thu Hoạch (1999), Đường Lâm- Kẻ Mía đất văn vật ngàn năm Hà Tây làng nghề - làng văn. Sở Văn hoá Thông tin Hà Tây, tr.9-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường Lâm- Kẻ Mía đất văn vật ngàn năm HàTây làng nghề - làng văn
Tác giả: Kiều Thu Hoạch
Năm: 1999
9. GS.TS Kiều Thu Hoạch(2006), Kẻ Mía- đôi dòng tản mạn, Di sản văn hóa số 2, Hà Nội, tr. 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kẻ Mía- đôi dòng tản mạn
Tác giả: GS.TS Kiều Thu Hoạch
Năm: 2006
10. Lê Mậu Hãn (chủ biên) (2001), Đại cương lịch sử Việt Nam tập III, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam
Tác giả: Lê Mậu Hãn (chủ biên)
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2001
11. GS.Phan Huy Lê(2005), Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tch Đường Lâm. Nxb KHXH , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tch ĐườngLâm
Tác giả: GS.Phan Huy Lê
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2005
12. Đinh Xuân Lâm (chủ biên) (2010), Đại cương lịch sử Việt Nam tập II, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam
Tác giả: Đinh Xuân Lâm (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
13. Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên (1697), Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, dịch giả Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam (1985-1992), Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt Sử Ký ToànThư
Nhà XB: Nxb KHXH
14. Nguyễn Lương Ngọc và Đinh Gia Khánh(1958), Thiên nam ngữ lục, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên nam ngữ lục
Tác giả: Nguyễn Lương Ngọc và Đinh Gia Khánh
Nhà XB: NxbVăn hóa
Năm: 1958
15. Nguyễn Quang Ngọc...(1994), Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.tr.116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thônViệt Nam trong lịch sử
Tác giả: Nguyễn Quang Ngọc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
16. Nguyễn Danh Phiệt (2005), Từ bảo tồn tôn tạo đến xây dựng khu di tích lịch sử - văn hoá Đường Lâm. Nxb KHXH, tr.16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ bảo tồn tôn tạo đến xây dựng khu di tíchlịch sử - văn hoá Đường Lâm
Tác giả: Nguyễn Danh Phiệt
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2005
17. Trương Hữu Quýnh (chủ biên) (2000), Đại cương lịch sử Việt Nam tập I, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam
Tác giả: Trương Hữu Quýnh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
18. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí (tập 2) bản in mới của Hoàng Văn Lâu (bản in lần thứ nhất), Nxb Lao động trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí
Nhà XB: Nxb Lao động trung tâm văn hoángôn ngữ Đông Tây
19. Nguyễn Khắc Tụng(1978) Nhà cửa các dân tộc ở trung du Bắc Bộ Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà cửa các dân tộc ở trung du Bắc Bộ ViệtNam
Nhà XB: Nxb KHXH
20. Nguyễn Tùng (chủ biên) (2003), Mông Phụ một làng ở đồng bằng sông Hồng. Nxb Văn hoá thông tin, Hà Tây, tr.12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mông Phụ một làng ở đồng bằng sôngHồng
Tác giả: Nguyễn Tùng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2003
21. Ngô Đức Thịnh (1993), “Những giá trị văn hoá của lễ hội cổ truyền và nhu cầu của xã hội hiên đại‖, Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại, Nxb KHXH, Hà Nội, tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những giá trị văn hoá của lễ hội cổ truyền vànhu cầu của xã hội hiên đại"‖, "Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiệnđại
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w