13 Chương 2 CÁC TẬP TỤC TRONG NGHI LỄ VÒNG ĐỜI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT Ở HUYỆN TAM NÔNG .... 71 3.2.1 Các tập tục trong nghi lễ vòng đời phản ánh đời sống văn hóa- tâm linh của cộng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
PGS TS NGUYỄN DUY BÍNH
HÀ NỘI – 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp “Những phong tục nghi lễ vòng đời của người
việt ở huyện tam nông, tỉnh Phú Thọ (truyền thống và biến đổi)” được hoàn
thành dưới sự hướng dẫn của Thầy giáo PGS TS Nguyễn Duy Bính Tôi xincam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu vàkết quả trong luận án là trung thực Các trích dẫn trong công trình đầy đủ vàchính xác Nếu có gì sai phạm tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày , tháng , năm
Sinh viên
Hoàng Thị Mộng Như
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Những phong tục nghi lễ
vòng đời của người Việt ở huyện tam Nông, tỉnh Phú Thọ (truyền thống và biến đổi), ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình
của PGS TS Nguyễn Duy Bính Nhân dịp này tôi xin bày tỏ sự kính trọng vàbiết ơn sâu sắc của mình tới thầy
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Lịch Sử, thư viện Quốcgia Việt Nam; các anh chị làm việc tại thư viện huyện Tam Nông, thư việntỉnh Phú Thọ, Uỷ ban Nhân Dân huyện Tam Nông đã giúp đỡ tôi hoàn thiệnkhóa luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến bạn Nguyễn Thị Dung, bạn HoàngThúy Vân đã đồng hành, giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu
Hà Nội, ngày , tháng , năm
Sinh viên
Hoàng Thị Mộng Như
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
4 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 6
7 Bố cục của đề tài 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI VIỆT Ở HUYỆN TAM NÔNG 7
1 1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 7
1.1.1 Vị trí và lãnh thổ 7
1.1.2 Địa hình 7
1.1.3 Khí hậu 9
1.1.4 Sông ngòi 9
1.2 Đặc điểm dân số và sự phân bố dân cư 10
1.3 Đặc điểm kinh tế 10
1.4 Đặc điểm văn hóa- xã hội 13
Chương 2 CÁC TẬP TỤC TRONG NGHI LỄ VÒNG ĐỜI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT Ở HUYỆN TAM NÔNG 17
2.1 Khái niệm “nghi lễ vòng đời” và các khái niệm liên quan 17
2.2 Những nghi lễ truyền thống trong vòng đời của người Việt ở huyện Tam Nông 20
2.2.1 Nghi lễ sinh đẻ 20
2.2.3 Nghi lễ Hôn nhân 28
Trang 52.2.4 Nghi lễ mừng thọ 36 2.2.5 Nghi lễ tang ma 38
Chương 3 XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI VÀ MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ CÁC NGHI LỄ VÒNG ĐỜI CỦA NGƯỜI VIỆT Ở HUYỆN TAM NÔNG 65 3.1 Xu hướng biến đổi của các tập tục trong nghi lễ vòng đời của người Việt ở huyện Tam Nông 65
3.1.1 Tập tục trong nghi lễ vòng đời của người Việt không phải bất biến mà
có nhiều biến đổi để phù hợp với cuộc sống hiện đại 65 3.1.2 Giao thoa, tiếp biến với các giá trị văn hóa mới là xu hướng biến đổi trong thời gian tiếp theo 67 3.1.3 Nguyên nhân của sự biến đổi 68
3.2 Một vài nhận xét 71
3.2.1 Các tập tục trong nghi lễ vòng đời phản ánh đời sống văn hóa- tâm linh của cộng đồng người Việt ở Huyện Tam Nông vô cùng phong phú và
đa dạng 71 3.2.2 Các tập tục trong nghi lễ vòng đời của người Việt ở huyện Tam Nông bao gồm nhiều điều cấm kị, kiêng kị 72 3.2.3 Nghi lễ vòng đời của người Việt ở huyện Tam Nông vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực 74
KẾT LUẬN 77
Trang 6Nghi lễ gắn với tín ngưỡng dân gian chính là một phần trong đời sống tâmlinh của con người Cùng với thời gian, những nghi lễ ấy được duy trì, pháttriển và hoàn thiện, được bổ sung những nghi lễ mới cho phù hợp với hoàncảnh của xã hội mà con người sinh sống Trong cộng đồng 54 dân tộc ViệtNam, mỗi dân tộc có một nghi lễ vòng đời khác nhau và đó chính là đặc trưngvăn hóa tộc người
Nghiên cứu về những nghi lễ vòng đời của người Việt ở huyện Tam Nông
để hiểu sâu sắc hơn về những phong tục tập quán trong nền văn hóa bản địa
mà tổ tiên họ đã xây dựng nên
Bên cạnh đó, để có được những hiểu biết về lịch sử văn hóa của một tộcngười, trước hết cần tìm hiểu chiều sâu đời sống tâm linh, tư tưởng của họ.Nghiên cứu những tập tục trong nghi lễ vòng đời là một hướng tiếp cận trựctiếp vào cốt lõi của đời sống tâm linh, niềm tin, tín ngưỡng Tín ngưỡng đượcthể hiện qua các tập tục, nghi lễ, trong đó nghi lễ vòng đời là một mắt xíchquan trọng Thông qua những nghi lễ của các giai đoạn chuyển tiếp trongcuộc đời một con người, có thể tìm hiểu thế giới quan, nhân sinh quan, phongtục tập quán, tâm hồn, tình cảm của tộc người cần nghiên cứu, mà ở đây chúngtôi đề cập đến là người Việt ở huyện Tam Nông
Nghi lễ vòng đời người là môi trường khá bền vững trong việc bảo lưuvốn văn hóa truyền thống Bởi chính trong những tập tục của các nghi lễ ấy
Trang 7chứa đựng mọi yếu tố của bản sắc văn hóa: từ không gian (chiều rộng) đếnthời gian
Trang 8(chiều dài), từ văn hóa cá nhân đến văn hóa cộng đồng Đặc biệt, nó chứađựng đời sống tâm linh, tâm hồn tình cảm của con người Những tập tục đượcthực hiện trong nghi lễ vòng đời như sợi dây vô hình xâu chuỗi, vừa gắn kết,vừa trói buộc các cá nhân với cộng đồng, giữa thế giới những người đangsống với những người đã khuất Chính vì vậy, nghi lễ vòng đời người là môitrường tốt nhất để bảo tồn bản sắc văn hóa của mỗi tộc người, đồng thời cũng
là mảng nghiên cứu quan trọng để hiểu văn hóa của một dân tộc [1, tr.13-14].Kết quả nghiên cứu đề tài của khóa luận có thể là cơ sở khách quan chocác nhà hoạch định chính sách, nhà quản lí văn hóa có được những thông tinhữu ích trong việc hoạch định chính sách để bảo tồn những giá trị văn hóa, mà
ở đây là văn hóa của người Việt ở huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ Đồng thờicũng là một trong những cơ sở để Đảng, Chính phủ có được các chính sáchphù hợp trong công tác xây dựng, đoàn kết cộng đồng người Việt với các dântộc khác trên địa bàn huyện Tam Nông nói riêng và trên địa bàn tỉnh Phú Thọnói chung
Xuất thân là một người học tập và nghiên cứu lịch sử, với niềm đam mêvăn hóa dân tộc, đặc biệt là các giá trị văn hóa tinh thần Mặt khác, là mộtngười con của quê hương Tam Nông (Phú Thọ), luôn muốn hiểu rõ hơn cácphong tục, tập quán nơi mình sinh ra và hy vọng giới thiệu những nét văn hóatiêu biểu của miền đất tổ đến với mọi người Chính vì những lý do đó mà tôichọn đề tài:
“Những phong tục nghi lễ vòng đời của người việt ở huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ (truyền thống và biến đổi)” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp
Trang 91990, đã đề cập về phong tục trong gia tộc, thôn xóm (hương đảng) vàcác
Trang 10phong tục trong xã hội Đây là bộ biên khảo tương đối đầy đủ về các phongtục tập quán cũ của nước Việt Là một nhà nho uyên bác mang tư tưởng tântiến, tác giả không chỉ mô tả từng tập tục, mà còn về gốc tích, nguyên thủy cáitục ấy, nhìn nhận, đánh giá để xem nó hay, dở ra sao, từ đó xét điều gì quá tệ
sẽ bỏ bớt đi Còn tục gì hay của ta thì cứ giữ lấy
Cuốn Hỏi đáp về làng văn hóa, gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa,
tổ chức lễ hội truyền thống (1998) của nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà
Nội Cuốn sách được trình bày dưới dạng hỏi và đáp, giải đáp tất cả những vấn
đề cơ bản liên quan đến việc xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, nếpsống văn hóa và tổ chức lễ hội truyền thống Cuốn sách có vai trò tuyêntruyền, giúp mọi người hiểu được bản chất, cách thức thực hiện những vấn đề
đã nêu sao cho phù hợp với chủ trương, đường lối chính sách của Đảng
Các tập tục, nghi lễ trong sinh con, tục cưới hỏi, ma chay của một sốdân tộc (dân tộc Dao, Tày, Thái, Gialai, Ba na, ) trong đó bao gồm cả người
Việt được đề cập đến trong tác phẩm Lễ tục vòng đời của tác giả Phạm Minh
Thảo xuất bản năm 2000
Tác giả Nguyễn Quang Khải với tác phẩm Tập tục và kiêng kị, xuất
bản năm 2001 đã tập hợp những điều kiêng kị tiêu biểu theo phong tục dângian Việt Nam bao gồm: các tập tục kiêng kị trong hôn nhân gia đình truyềnthống, trong đời sống và kiêng kị tuổi qua 12 con giáp
Tác giả Trương Thìn với Nghi lễ vòng đời người xuất bản năm 2010 đã
phác họa một bức tranh tương đối đầy đủ về những nghi lễ vòng đời củangười Việt
Trong Những điều cần biết về nghi lễ hôn nhân người Việt, xuất bản
Trang 11Cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Tam Nông (1947- 2012) xuất bản năm
2012 đã nêu bật được chặng đường lịch sử kháng chiến chống Pháp, đế quốc
Mĩ xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và hơn
25 năm chặng đường thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng vàlãnh đạo Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ huyện Tam Nông, quân vàdân Tam Nông đã lập được nhiều thành tích vẻ vang, ghi những mốc son chóisáng vào trang sử truyền thống của huyện Cuốn sách cũng đề cập đến nhữngchính sách, chỉ đạo của Đảng bộ huyện đối với sự phát triển văn hóa- xã hộicủa huyện
Bùi Thị Hưng (2014), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử chuyên đề: Đảng bộ
huyện Tam Nông (tỉnh Phú Thọ) lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa từ năm 1999 đến năm 2013 Luận văn đã đề cập đến tình hình kinh tế, văn hóa,
xã hội của huyện từ 1999, đồng thời nêu lên những chính sách chỉ đạo củaĐảng bộ huyện đối với đời sống văn hóa của huyện
Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình trên, khóa luận
đi sâu tìm hiểu về nghi lễ vòng đời của người Việt ở huyện Tam Nông, từ đóđưa ra những nhận xét cá nhân
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Dưới góc độ sử học đối tượng nghiên cứu của đề
tài là các tập tục trong hệ thống nghi lễ vòng đời người của người Việt ở huyệnTam Nông xuyên suốt chiều dài lịch sử Qua đó, hiểu được đời sống tâm linhcủa cộng đồng người Việt ở huyện Tam Nông, đồng thời thấy được nhữngthay đổi theo hướng tích cực, ngày càng văn minh của các nghi lễ vòng đờingười của họ
Trang 12Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống các nghi lễ vòng đờicủa người Việt từ xưa đến nay, qua đó khái quát lên sự biến đổi theo thời giancủa các nghi lễ này.
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các tập tục trong nghi lễ sinh
đẻ, thôi nôi và sinh nhật, mừng thọ, tang ma Trong đó, nghiên cứu những nghithức, kiêng kị của người Việt được tiến hành trong các giai đoạn nhất định củacuộc đời con người từ khi trong bụng mẹ, chào đời, đầy tháng, đầy năm,trưởng thành, hôn lễ, mừng thọ, tang ma
4 Phương pháp nghiên cứu.
Để hoàn thành đề tài, tác giả có sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:Phương pháp luận gồm: phương pháp biện chứng, phương pháp logic vàphương pháp lịch sử
Sử dụng phương pháp biện chứng, tác giả đặt đối tượng nghiên cứu là hệthống các tập tục trong nghi lễ vòng đời của người Việt ở huyện Tam Nôngvới các dân tộc khác trong huyện và với các vùng khác ở Việt Nam
Sử dụng phương pháp lịch sử, tác giả đặt đối tượng nghiên cứu trongkhông gian (địa bàn huyện Tam Nông), thời gian (từ xưa đến nay)
Sử dụng phương pháp lôgic, giúp tác giả hiểu được quy luật nội tại của đốitượng nghiên cứu; thấy được quy luật phát triển khách quan của đối tượng.Thứ hai, tác giả sử dụng phương pháp cụ thể gồm: Sưu tầm các tư liệuliên quan như tư liệu thành văn, tư liệu hiện vật, tư liệu khảo cổ, tư liệu vănhóa dân gian; đính chính tư liệu; phỏng vấn; điền giã (tham dự các đám cưới,đám hỏi, đám tang, )
5 Nguồn tư liệu.
Đề tài nghiên cứu về các nghi lễ vòng đời – thuộc phạm trù tín ngưỡng,văn hóa, đời sống tâm linh nên tư liệu có được chủ yếu là các bức ảnh về hôn
lễ, đầy tháng, tang ma được chụp lại trong quá trình nghiên cứu của tác giả
Trang 13Các tư liệu truyền miệng rất phong phú, đa dạng, chính xác và khách quan.Các nguồn tư liệu khác: tạp chí, các công trình nghiên cứu liên quan đến
vấn đề, tài liệu internet…
6 Đóng góp của đề tài.
Thông qua kết quả nghiên cứu của đề tài, giúp tác giả có cái nhìn sâu sắchơn về nền văn hóa bản địa Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những đặc điểm, vaitrò và nêu lên xu hướng biến đổi của các tập tục trong hệ thống nghi lễ vòngđời của cộng đồng người Việt tại huyện Tam Nông
Khóa luận là nguồn tư liệu hữu ích cho những ai quan tâm nghiên cứu nền
được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về người Việt ở huyện Tam Nông.
Chương 2: Các tập tục trong nghi lễ vòng đời truyền thống của người Việt ở huyện Tam Nông.
Chương 3: Đặc điểm và xu hướng biến đổi của các nghi lễ vòng đời của
người Việt ở huyện Tam Nông.
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI VIỆT Ở HUYỆN TAM NÔNG
1 1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Diện tích tự nhiên 15.596 ha, dân số trên 82.000 người Toàn huyện có
20 đơn vị hành chính trực thuộc huyện, bao gồm 19 xã và 01 thị trấn, với 172khu dân cư (trong đó 17 xã, thị trấn miền núi; 03 xã, 13 khu thuộc vùng khókhăn trong chương trình 135 của Chính phủ); toàn huyện có 20 dân tộc (Kinh,Tày, Thái, Mường, Hoa, Nùng, H.Mông, Dao, Sán Chung, Co Ho, Thổ, Tà
Ôi, La Chí, Lô Lô), trong đó dân tộc Kinh 74.958 người, các dân tộc khác 511người (theo số liệu thống kê năm 2009) Đảng bộ huyện có 42 cơ sở đảng với5.624 đảng viên (tính đến tháng 12/2012) [11]
Huyện Tam Nông là cửa ngõ phía Tây của Hà Nội, nối liền với các tỉnhphía tây bắc của Tổ quốc [11]
1.1.2 Địa hình
Nhìn tổng thể địa hình của huyện Tam Nông phần lớn là đồi núi thấp,xen kẽ có các dộc ruộng, đột xuất có các núi cao như núi Chi, đèo Khế phíatây nam và một số đầm nước Dựa vào điều kiện địa lý có thể chia đất đai củahuyện thành các vùng như sau:
Trang 15Vùng đất thấp nằm dọc theo sông Hồng gồm những cánh đồng có chiềungang hẹp, tạo thành một vệt dài theo bờ sông từ xã Hồng Đà đến các xãThượng Nông, Hương Nộn, Cổ Tiết, Tam Cường, Thanh Uyên, Hiền Quan,Vực Trường, Hương Nha, Tứ Mỹ và dọc theo sông Bứa gồm các xã Hùng Đô,Quang Húc, Tề Lễ Các cánh đồng trên hầu hết là do phù sa sông Hồng, sôngBứa được bồi tụ qua nhiều năm trước khi có đê chắn, tạo thành lớp đất tươngđối màu mỡ, thuận lợi cho cây lúa, hoa màu và cây lương thực.
Vùng đồi núi được chia thành hai khu vực: vùng đồi núi thấp và vùng đồinúi cao Vùng đồi núi thấp nằm ở phía tây bắc huyện có đỉnh tròn mấp mônhư làn sóng nối tiếp nhau thuộc các xã: Cổ Tiết, Văn Lương, Thanh Uyên,Hiền Quan, Hương Nha, Tứ Mỹ, Xuân Quang, Phương Thịnh, Quang Húc.Vùng đồi núi cao nằm ở phía tây nam huyện thuộc địa bàn các xã Dị Nậu,Thọ Văn, Tề Lễ bao gồm nhiều gò núi nhấp nhô, có những điểm đột xuất nhưnúi Chi (cao 216 m), Đèo Khế (117 m) và các quả đồi chạy dọc theo dãy núiCàng Cua từ đầm Dị Nậu qua đường 24 đến Dộc Vừng
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 15.596,92 ha Trong đó: diện tíchđất nông nghiệp là 11.315,24 ha, chiếm 72,55%; đất phi nông nghiệp là3.888,40 ha, chiếm 24,93%; đất chưa sử dụng là 393,28 ha, chiếm 2,52% Dođặc điểm vị trí là nơi tiếp giáp giữa miền núi và đồng bằng nên đất đai củahuyện Tam Nông tương đối phong phú và đa dạng, bao gồm một số loại đấtchính như: Đất vàng đỏ phát triển trên nền đá sa thạch và phiến thạch, đấtxám vàng phát triển trên nền phù sa cổ, đất phù sa không được bồi hàng năm
và đất phù sa được bồi hàng năm của sông Hồng, sông Đà, sông Bứa, đấtthung lũng dốc tụ, đất đồi núi bậc thang và đất lầy thụt
Đất đai của vùng gò đồi huyện Tam Nông vừa là đất gạch cua vừa là đấtcát tro, phủ trên mặt một lớp từ 20 đến 30 cm, xuống dưới là đất gạch cua phasỏi có chỗ đá ong, kém màu mỡ, thích hợp với việc trồng cây công nghiệp dài
Trang 16ngày như sơn, trẩu, cọ, chè, Xét sơ lược về cấu tạo địa chất, Tam Nông nằmtrên vùng đất đá tiền Cambri, phổ biến là các đá biến chất của phức hệ sôngHồng và các đá biến chất tuổi Thái Cổ và đại nguyên sinh, tồn tại ít ra cũngtrên 120 triệu năm, có cấu trúc bên trong rất ổn định, bền vững Trong lòngđất thuộc địa phận Tam Nông có một lượng than bùn tương đối phong phú.Vùng ven sông Hồng có chứa lượng đất sét, cát đen dồi dào làm vật liệu xâydựng tốt [15, tr.36].
1.1.3 Khí hậu
Tam Nông là huyện nằm giữa khu vực đồng bằng và đồi núi, mang đặcđiểm chung của khí hậu miền trung du Bắc bộ thuộc khu vực có khí hậu nhiệtđới gió mùa Về mùa đông ở nhiều vùng trong huyện thường có sương mù,sương muối vào sáng sớm thường hanh khô, lượng mưa thấp chỉ chiếmkhoảng 15- 20% lượng mưa cả năm Gió đông nam bắt đầu thổi từ tháng 4đến tháng 11 trong năm, tạo ra sự mát mẻ trên nhiều vùng địa bàn, thuận tiệncho việc trồng trọt và canh tác [9, tr.11]
Sông Đà chảy qua địa bàn huyện Tam Nông chỉ là điểm hợp lưu của sông
Đà và sông Hồng nhưng lưu lượng trung bình của sông Đà rất lớn, tới1.760m3/s gấp 2 lần sông Thao, gấp 10 lần sông Lô [18, tr.31- 35]
Trang 17Ngoài hai con sông trên, huyện Tam Nông còn được thiên nhiên ban tặngcon sông Bứa bắt nguồn từ Sơn La Con sông này hầu như nằm hoàn toàntrong tỉnh Phú Thọ, chảy qua các xã như Tề Lễ, Quang Húc, Hùng Đô đến Tứ
Mỹ đổ vào sông Thao Sông Bứa có ít phù sa (khoảng 1,1kg/m3) chủ yếu làcung cấp nước tưới cho trồng trọt và giao thông vận chuyển hàng hóa trênsông
Bên cạnh hệ thống các con sông, huyện Tam Nông còn có rất nhiều ngòilớn nhỏ thuộc phụ lưu các con sông cùng một số hồ, đầm thiên tạo phong phú,nằm rải rác ở một số địa phương trong huyện như đầm Thượng Nông, đầm DịNậu, đầm Phú Cường có diện tích trung bình từ 15 đến 100 ha mặt nước.Với hệ thống sông ngòi và đầm hồ phong phú, có trữ lượng tương đối lớn
là điều kiện thuận lợi cho Tam Nông có nguồn tài nguyên nước dồi dào, phục
vụ đời sống và vận chuyển hàng hóa, nuôi trồng thủy sản nước ngọt và pháttriển sản xuất nông nghiệp
1.2 Đặc điểm dân số và sự phân bố dân cư.
Người Kinh chiếm khoảng 99% dân số, cư trú ở hầu hết các xã, thị trấn.Nhân dân có kinh nghiệm canh tác trên đất đồi, núi, ruộng trũng, đất phù sa,kết hợp sản xuất nông nghiệp với lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc, cây trồngbản địa và cây công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, trồng rau quả vùng nhiệt đới
Tỉ lệ gia tăng tự nhiên có xu hướng giảm, năm 2001 là 0,92% và năm 2007còn 0,89% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân hằng năm là 1% Tình hìnhphân bố dân cư giữa các xã không đều, đông nhất là Hương Nộn, Hiền Quan,thị trấn Hưng Hóa, xã Hồng Đà, thưa cư dân nhất là xã Tề Lễ, Dị Nậu, ThọVăn Mật độ dân số trung bình là 527 người/km2 [20]
1.3 Đặc điểm kinh tế
Từ xa xưa, nhân dân huyện Tam Nông làm nghề trồng lúa nước là chính.Trong quá trình sản xuất đã lựa chọn được một số giống lúa ngon nổi tiếngnhư nếp cái hoa vàng rất dẻo và thơm Lúa sọc còn gọi là lúa kiến đỏ được
Trang 18trồng nhiều ở các xã ven sông Hồng Đặc điểm của cây lúa này là dù gieotrồng sớm hay muộn đến trung tuần tháng 10 dương lịch mới trổ bông, đẻkhỏe, chịu ngập cao rất thích hợp cho vùng đất ven sông, chân ruộng trũng vụmùa hoặc cấy ngay sau vụ gặt chiêm Loại lúa này cho gạo màu hồng, khi nếpchín mùi rất thơm và ngon Ở một số địa phương nhân dân còn cấy một sốloại lúa khác như lúa lại cái (lúa ngoi) cho gạo ngon nhưng năng suất thấp.Lúa mộ gieo trồng vào vụ mùa, lúa chịu hạn tốt chủ yếu được gieo trồng ởnhững vùng đất bãi hoặc ven đồi.
Trong những năm gần đây do nhu cầu phát triển lương thực về số lượngnên một số giống lúa ngon cổ truyền, năng suất thấp không được duy trì.Nhân dân chủ yếu cấy các loại lúa lai (lúa tạp giao), gạo không ngon bằnggiống cũ nhưng năng suất cao
Ngoài lúa, nhân dân trong vùng còn trồng nhiều loại rau màu khác dọctheo ven sông Hồng, sông Bứa và trên các đồi như ngô, khoai lang, sắn, lạc,
đỗ, mía,
Tam Nông có khá nhiều rừng, trong rừng có nhiều lâm thổ sản quý nhưđinh lim, sến, táu, vàng tâm, sồi, dẻ; các loại thảo dược và nhiều động vậthiếm như hươu, nai, lợn rừng, trăn,
Đất đai vùng đồi chủ yếu là đất Feralit vàng và đỏ, rất thích hợp trồng cácloại cây công nghiệp như trẩu, sở, Đặc biệt là cây sơn, một loại cây côngnghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao Có thời kỳ, sơn của Tam Nông đã đượcxuất khẩu sang Trung Quốc, Nhật Bản Tuy nhiên do việc trồng, chăm sóc
và thu hoạch nhựa sơn tương đối công phu, yêu cầu quy trình kỹ thuật chặt chẽnên ít người bỏ vốn kinh doanh Bên cạnh cây sơn, cây cọ, cây chè, cây cà phêcũng là những sản phẩm tiêu biểu của Tam Nông Trước đây, Tam Nông cónhững khu rừng cọ rộng hàng chục héc-ta Sản phẩm chính của cây cọ là ládùng để làm nhà khi chưa có các loại vật liệu khác thay thế Cây chè ở tỉnhPhú Thọ nói
Trang 19chung và huyện Tam Nông nói riêng rất phát triển [xem phụ lục 2] Thời
thuộc Pháp, chè búp tươi của các địa phương thuộc huyện Tam Nông cũngnhư tỉnh Phú Thọ được người Pháp mua và chế biến, sau đó đem bán khắpĐông Dương và sang cả nước Pháp Sau này, người Hoa Kiều cũng mua
Ngoài ra ở một số địa phương còn trồng các loại cây lấy dâù như trẩu, sở,dọc, trám Dầu sở rất có giá trị nên thời thuộc Pháp, khi khai thác chúng đãđem về nước và chế biến thành một thứ dầu “sà lách” (dầu trộn rau sống) cómàu vàng, ăn rất ngon, thường dùng trong các bữa tiệc Nhiều loại cây ăn quảcũng được trồng nhiều trong vườn nhà như mít, cam, chanh, dứa, vải, chuối, Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi trong vùng cũng khá phát triển Năm
2007, lĩnh vực chăn nuôi chiếm tỷ trọng 33,2% Trong đó: chăn nuôi gia súcchiếm tỷ trọng 59%, chăn nuôi gia cầm chiếm 16% và sản phẩm chăn nuôikhác chiếm 14% Chủ yếu là chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, dê, Sản xuất chănnuôi ở địa bàn đều ở quy mô cá thể hộ gia đình, những năm gần đây mới xuấthiện một vài mô hình chăn nuôi theo trang trại Việc sản xuất chăn nuôi ở quy
mô nhỏ gây khó khăn rất lớn trong việc áp dụng khoa học công nghệ vào sảnxuất nâng cao năng suất hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi, đặc biệt là phòngdịch bệnh [20]
Tam Nông cũng là một huyện có diện tích rừng khá đáng kể 2,87 nghìn
ha (2007) Diện tích rừng sản xuất chủ yếu trồng bạch đàn để lấy gỗ phục vụsản xuất giấy và làm nhiên liệu
Về phát triển làng nghề: Năm 2004, Uỷ ban Nhân dân tỉnh đã công nhậnlàng nghề mộc Minh Đức- xã Thanh Uyên Đồng thời hỗ trợ vốn để phát triểnnghề mây tre đan tại xã Tam Cường, Thượng Nông và thị trấn Hưng Hóa,phát triển nghề sơn mài truyền thống tại xã Thọ Văn
Cùng với trồng trọt, chăn nuôi nhân dân Tam Nông còn làm các nghềkhác như đan lát, làm mộc, đánh cá, Các sản phẩm làm ra không chỉ phục
Trang 20vụ cuộc sống hàng ngày mà còn được nhân dân đem trao đổi, buôn bán vớinơi khác Việc giao lưu buôn bán ở huyện Tam Nông phát triển từ rất sớm.Tuy nhiên lĩnh vực thương mại chỉ dừng lại ở mức phát triển mạng lưới chợ,
hệ thống cửa hàng lớn, nhỏ phân bố đều trong các xã, thị trấn Bước đầu đãhình thành các điểm bán hàng tập trung ở mỗi xã
1.4 Đặc điểm văn hóa- xã hội
Nhân dân huyện Tam Nông có đời sống tinh thần hết sức phong phú Cóthể nói đây là vùng đất còn lưu truyền nhiều nhất những truyền thuyết, truyện
cổ dân gian của tỉnh Phú Thọ Tuy bị hàng ngàn năm Bắc thuộc, hàng trămnăm dưới chế độ thực dân phong kiến, những dòng văn học dân gian tiêu biểu
là các điệu múa, các làn điệu dân ca hát xoan (1), hát ghẹo (2), hát ví giao duyên,tục ngữ, ca dao về kinh nghiệm lao động sản xuất, vẫn tồn tại và ngày càngđược phát huy Đặc biệt ở Tam Nông còn lưu truyền nhiều câu chuyện đặc sắc,tiêu biểu là truyện cười Văn Lang (xã Văn Lương ngày nay) mang tên quốcgia thời dựng nước Những câu chuyện vừa ca ngợi tinh thần hăng say laođộng của nhân dân vừa đả kích, châm biếm nhẹ nhàng nhưng sâu cay đối vớitầng lớp thống trị, cường hào trong làng đồng thời góp phần phê phán nhữngthói hư, tật xấu của con người, thể hiện
khát vọng về một đời sống đầy đủ, tốt đẹp như: “Sắn qua đường 24”, “Xôidẻo”, “Cây rau dền”, “Ba vạ”, Bên cạnh đó, vùng đất Tam Nông còn bảo tồn
và lưu giữ được nhiều loại hình vă hóa dân gian khác mang đặc trưng từng địaphương
như tục chạy lợn, cướp cờ (Cổ Tiết), cầu trâu (Hương Nha), diễn xướng càybừa
1 Hát Xoan còn được gọi là Khúc môn đình (hát cửa đình), là lối hát thờ thần, tương truyền có từ thời các vua Hùng Thuở xa xưa, người Văn Lang tổ chức các cuộc hát Xoan vào mùa xuân để đón chào năm mới Có 3 hình thức hát xoan: hát thờ cúng các vua Hùng và Thành hoàng làng; hát nghi lễ cầu mùa tốt tươi, cầu sức khỏe; và hát lễ hội là hình thức để nam nữ giao duyên Ca nhạc của Xoan là ca nhạc biểu diễn với đầy đủ các dạng thức nhạc hát: hát nói, hát ngâm, ngâm thơ và ca khúc; có đồng ca nữ, đồng ca nam, tốp ca, đối ca, hát
đa thanh, hát đuổi, hát đan xen, hát có lĩnh xướng và hát đối đáp.Trong hát Xoan, múa và hát luôn đi cùng và kết hợp với nhau, dùng điệu múa minh họa nội dung cho lời ca
2 Hát ghẹo là hình thức hát nước nghĩa trong dịp hội làng của người Việt và người Mường hay còn gọi là hát giao duyên nam nữ Sự tích hát Ghẹo gắn với việc dựng lại ngôi đền làng Nam Cường Nội dung lời hát
Trang 21Ghẹo cũng như các loại hình dân ca trữ tình khác, phần lớn đều có hình thức và nội dung như cao dao hoặc rất gần gũi với ca dao, thường được tổ chức vào những ngày hội mùa xuân, mùa thu, ngày hội được mùa và những đêm trăng sáng.
Trang 22(Hương Nha), thi cướp phết(3) (Hiền Quan) [xem phụ lục 3], múa mo (Nam
Cường), Hàng năm mỗi dịp xuân về, các lễ hội, các tục lệ được các địaphương tổ chức tại các ngôi đình của làng Có hội tổ chức 2-3 ngày, có hội tổchức 3-5 ngày, thu hút đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia, tạo nên không khíhết sức sôi nổi [20]
Nhân dân huyện Tam Nông sống thành các làng với nhiều gia đình nhỏtập trung Nhà của nhân dân huyện Tam Nông trước kia được làm từ nhữngnguyên liệu như tre, gỗ, cọ, Ngày nay, các vật liệu mới xuất hiện, kiến trúcnhà ở, đặc biệt là kiến trúc đình, chùa rất đa dạng, phong phú và đặc sắc Hiệnnay, trên địa bàn huyện Tam Nông còn 2 ngôi đình, 25 ngôi chùa, 10 ngôiđền, 6 ngôi miếu với gần 90 % số dân theo nghi lễ tôn giáo của đạo Phật [20].Mỗi ngôi đình, chùa đều mang nét kiến trúc khác nhau, nhưng đều là cáccông trình có giá trị văn hóa nghệ thuật cao, thể hiện tài năng kiến trúc vàđiêu khắc dân gian cũng như óc sáng tạo, thẩm mỹ tinh tế của nhân dân địaphương Trong những năm gần đây, một số công trình lịch sử văn hóa củaTam Nông được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia như di tích
ở xóm Đồi xã Cổ Tiết, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường lên chiến khuViệt Bắc chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã dừng
chân ở lại một số ngày [Xem Phụ lục 4]; cột cờ Hưng Hóa thị trấn Hưng Hóa
[Xem phụ lục 5-6] Về di tích kiến trúc nghệ thuật cổ có đền Thượng (xã
Hương Nha); chùa Vực Trường (xã Vực Trường); đình, chùa Quang Húc (xã
Quang Húc), đình Cổ Tiết [Xem phụ lục 7] Năm 1992 đình Quang Húc
được Bộ Văn hóa- Thông tin quyết định công nhận là di tích lịch sử văn hóa
[Xem phụ lục 8] Hàng năm vào dịp lễ, dân làng mở hội tưng bừng, nhiều trò
3 Hội phết Hiền Quan được tổ chức vào ngày 13 tháng Giêng hàng năm là trò diễn lại sự tích lịch sử của nữ tướng Thiều Hoa, một tướng giỏi dưới thỏi Hai Bà Trưng Vào ngày hội, tại sân đình Hiền Quan, trước đông đảo người dự lễ Sau khi Chủ tế đọc tiểu sử và công lao của Bà Thiều Hoa thì tiến hành rước quả phết được làm bằng củ tre Các đấu thủ được chia làm hai tốp Trên sân giữa hai tốp đào một cái hố sâu 60- 70cm và thả quả phết vào đó Các đấu thủ cầm rùi phết thi nhau moi quả phết lên Mọi người xung quanh hố hò reo cổ vũ,
ai giành được phết đem về thì năm đó có nhiều may mắn.
Trang 23chơi dân gian diễn ra và đình Quang Húc trở thành trung tâm sinh hoạt văn
hóa của nhân dân vùng lưu vực sông Bứa [18, tr.23- 28]
Nơi đây còn khá nhiều ngôi Đình, Đền, Chùa, Miếu… thờ Đức Thánh TổHùng Vương cùng các Bộ tướng của ngài Bên cạnh đó ở Tam Nông cũng tồntại rất nhiều truyền thuyết, sự tích và những lễ hội cổ truyền mang đậm yếu
tố văn hóa cổ xưa Các làng xã ở đây còn là nơi in dấu ấn lịch sử của cuộckhởi nghĩa Hai Bà Trưng, cuộc khởi nghĩa của Lý Nam Đế, rồi phong trào CầnVương do Nguyễn Quang Bích lãnh đạo…
Cùng tồn tại với nền văn hóa vật chất và văn hóa dân gian đặc sắc, vùngđất Tam Nông còn bảo lưu được rất nhiều truyền thuyết, huyền thoại về thuởbình minh của đất nước và khởi nguồn dân tộc Những câu chuyện “Tản ViênSơn Thánh” (Sơn Tinh), hay Cao Sơn, Qúy Minh, thần núi, thần sông, thầnđầm, thần ghềnh, thần bến dọc sông Đà, sông Thao như thần ghềnh NgọcTháp, Hùng Hải trị nước, ông Hộ giết thuồng luồng, là những nhân vật thamgia vào công việc trị thủy từ xa xưa, được nhân dân thần thánh hóa đều bắtnguồn từ nơi đây
Bên cạnh dòng văn hóa dân gian phong phú, đa dạng do nhân dânsáng tạo nên, ở Tam Nông cũng có những danh nho nổi tiếng làm rạngdanh cho quê hương làng xã được sử sách ghi nhận và ca ngợi nhưNguyễn Quang Bích, Lý Bật
Tam Nông còn là vùng đất hiếu học Ông bà, cha mẹ dạy dỗ con cháuđiều hay lẽ phải, ngăn ngừa thói hư, tật xấu Tính đến 2003, toàn huyện cótất cả các loại hình trường phổ thông từ giáo dục mầm non đến tểu học,trung học cơ sở, trung học phổ thông với hàng chục vạn học sinh theohọc [18,
tr.28]
Trang 24Khai thác tiềm năng du lịch trên cơ sở phát huy các lợi thế về vị trí địa
lý, tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn đa dạng hoá sản phẩm cácloại hình du lịch Lễ hội truyền thống có ở hầu hết các xã, thị trấn, các lễ hộiphục
Trang 25dựng gắn với việc phát huy làn điệu dân ca đặc sắc tổ chức tour du lịch ViệtTrì - Tam Nông - Thanh Thuỷ, tại Tam Nông du lịch tín ngưỡng lễ hội văn hoá:Làng cười Văn Lang, hát Ghẹo Nam Cường - Thanh Uyên; kể chuyện cười VănLang; hội Cầu Trâu Hương Nha; hội chẻ tre kéo lửa nấu cơm thi, thi ném cầugiỏ thôn Gia Dụ xã Vực Trường Năm 2006 UBND huyện đã chọn
05 di tch trọng điểm (trục văn hóa tâm linh) gắn với tour du lịch đó là: lễ hộiPhết, các di tích LSVH xã Hiền Quan- Đền thờ Vua Lý Nam Đế xã Văn Lương-khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh xã Cổ Tiết- cụm di tch Chùa Phúc Thánh,Đền Đức Bà xã Hương Nộn- Cột cờ Hưng Hoá, Đền thờ Danh nhân văn hóaNguyễn Quang Bích thị trấn Hưng Hoá [20]
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Tam Nông là huyện thuộc vùng trung du miền núi Địa hình của huyệnthể hiện những nét đặc trưng của một vùng bán sơn địa Với diện tích đấtđai, tài nguyên, cho phép huyện có khả năng phát triển nông nghiệp đadạng, phong phú, có khả năng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng
đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi Mặt khác, xuất phát từ tiềm năng đấtđai và tài nguyên, cùng hệ thống giao thông thuận lợi, huyện Tam Nông cónhiều lợi thế phát triển sản xuất công nghiệp và dịch vụ thương mại Nhữngnăm qua, kinh tế của huyện đã từng bước phát triển trên nhiều lĩnh vực như:sản xuất lương thực, thuỷ sản, chăn nuôi bò thịt, phát triển vùng nguyênliệu giấy, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất hàng sơn mài, mây tre đan,nghề mộc gia dụng , cơ sở hạ tầng khu công nghiệp đã được hình thành
và đầu tư phục vụ phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp
Mỗi thời kỳ lịch sử đều để lại cho huyện Tam Nông những di sản văn hóa
có giá trị, nhiều di tích cấp Quốc gia và cấp tỉnh Tam Nông ngày nay vẫn cònlưu tích nhiều dấu ấn cội nguồn dân tộc
Trang 26Chương 2 CÁC TẬP TỤC TRONG NGHI LỄ VÒNG ĐỜI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI
VIỆT Ở HUYỆN TAM NÔNG
2.1 Khái niệm “nghi lễ vòng đời” và các khái niệm liên quan.
Để tếp xúc và cầu khẩn thế giới thần linh, từ thời nguyên thủy, conngười đã từng bước tạo nên những nghi lễ và phát triển thành hệ thống
E.B.Tylor trong công trình nghiên cứu Văn hóa nguyên thủy đã dành một chương lớn viết về nghi lễ và lễ nghi Theo ông, nghi lễ là: “Phương tiện giao
tếp với những thực thể tinh thần (Spiritual) như một định nghĩa tối thiểu
về tôn giáo” Thông qua nghi lễ, những người sống ở cõi trần cầu cúng thần
linh ở thế giới siêu nhiên những khát vọng cho cuộc đời của mỗi con người.Còn A.A Radugin – nhà văn hóa học Nga đã nói về nghi lễ như sau:
“Nghi lễ xuất hiện trong thần thoại học nhằm thể hiện mối quan hệ hữu hiệu giữa cuộc sống thường ngày với siêu nhiên (linh hồn tổ tiên, thần thánh, ma quỷ, số phận ) Nghi lễ được truyền lại không chỉ trong tôn giáo mà đi vào
cả cuộc sống thường ngày, đặc biệt là trong nền văn hóa dân gian truyền thống Tại đây, nghi lễ là di tích còn sót lại của thần thoại.” [4, tr.35].
Theo nhu cầu của đời sống tâm linh, ứng với tâm lý vừa sợ sệt, vừamong muốn sự ban ơn của thần linh, con người đã hình thành nên hệ thống
tn ngưỡng và kèm theo đó là hệ thống nghi lễ
Các nhà nghiên cứu văn hóa đã chia ra nhiều loại hình nghi lễ khác nhau:
Hệ thống nghi lễ nông nghiệp cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươitốt; hệ thống nghi lễ trong tín ngưỡng ngư nghiệp; hệ thống nghi lễtheo tín ngưỡng tổ nghề, nghi lễ thờ tổ tiên, nghi lễ cộng đồng tôn giáo và
hệ thống nghi lễ vòng đời
Trang 27Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả đi sâu tìm hiểu hệ thống các nghi lễ
vòng đời (hay còn có thuật ngữ tương tự là nghi lễ chuyển đổi hoặc nghi lễ trong gia đình) của cộng đồng người Việt ở huyện Tam Nông.
Theo tác giả Tô Thị Huê trong bài Nghi lễ vòng đời người và nghi lễvòng cây trồng của người M’Nông ở Bình Phước, thứ ba ngày 16/08/2016 thì:Nghi lễ vòng đời người là hệ thống nghi lễ gắn chặt với từng giai đoạn vàcuộc đời của một con người Có thể nói hệ thống nghi lễ này xuất hiện khicon người chỉ đang là một bào thai trong bụng mẹ cho đến nghi lễ tiễnđưa linh hồn của một ai đó về thế giới của tổ tên
Tác giả Ngô Đức Thịnh đã đưa ra khái niệm về nghi lễ vòng đời một
cách chung nhất, ông cho rằng các nghi lễ vòng đời là: “những nghi lễ liên
quan đến cá nhân, từ khi sinh ra đến khi chết đi” [4, tr.36].
Còn theo tác giả Phan Quốc Anh: Nghi lễ vòng đời là cách ứng xử củacộng đồng người đối với một cá nhân, cũng là cách ứng xử của toàn bộ xã hội
và toàn bộ thế giới tự nhiên bao quanh con người Tác giả chỉ rõ, nghi lễ vòngđời người là nghi lễ mà gia đình, tộc họ, cộng đồng tôn giáo thực hiệncho mỗi người, mà liên quan đến cả cộng đồng Nghi lễ vòng đời người thểhiện sự lo lắng, chăm sóc lẫn nhau để bảo toàn giống nòi và bảo toàn xã hộiloài người Nếu như những lễ nghi nông nghiệp là sự ứng xử của conngười với cái tự nhiên ngoài ta (ngoài con người) thì những nghi lễ vòngđời là sự ứng xử với cái tự nhiên trong ta (trong con người) [1, tr.126-127]
A.V Gennep – tác giả cuốn Nghi lễ của sự chuyển tiếp, viết năm 1909
-một cuốn sách kinh điển về nghi lễ tuân thủ theo chu kỳ đời người, phân tíchkhá sâu sắc những nghi lễ liên quan đến những thời kỳ chuyển tiếp, có tínhquyết định đời sống xã hội của con người Ông đã khái quát một cách đầy đủ
và khoa học về nghi lễ vòng đời người, trong đó ông phân biệt tầm quan
trọng của ba giai đoạn: sinh, trưởng thành và tử.
Trang 28Trong mỗi giai đoạn lớn, A.V Gennep lại chia ra thành 3 giai đoạn nhỏkhác nhau: Mỗi giai đoạn có ba thời kỳ, tách biệt với thời kỳ trước, bước đầuhội nhập và hội nhập vào thời kỳ tếp sau, cụ thể: Giai đoạn sinh gồm:chửa, đẻ và tuổi sơ sinh, tuổi thiếu niên Giai đoạn Trưởng thành gồm: tuổithiếu niên, lễ thành đinh và hôn nhân Giai đoạn ba là Tử gồm: lên lão, sựchết đi đi đôi với tang ma và cuộc sống ở thế giới bên kia (kèm theo đó là tụcthờ cúng).
Cụ thể hơn, theo tác giả A.V Gennep thì: Nghi lễ chuyển đổi là nghi lễđánh dấu sự thay đổi địa vị xã hội của con người Nghi lễ chuyển đổi thường
đi kèm với những nghi lễ xung quanh những sự kiện liên quan đến đời ngườinhư việc ra đời của một đứa trẻ, tuổi vào đời, hôn lễ, lễ mừng thọ không
giống như khái niệm chu kì đời người thường dùng để chỉ chu kì sinh học:
sinh ra – trưởng thành – kết hôn – già yếu – chết đi Nghi lễ chuyển đổi lànghi lễ được tiến hành như một sự tiếp nhận khi một cá nhân được chuyển
từ vị thế xã hội này sang vị thế xã hội khác
Với lý thuyết này, Van Genep muốn nhấn mạnh đến vai trò văn hóa,bằng cách thông qua những lễ nghi văn hóa mà vai trò và địa vị của conngười được xác lập khác với vị trí ban đầu trong xã hội, và cũng nhằmđánh dấu bước phát triển của con người về vị trí xã hội theo quy định củamỗi nền văn hóa [4, tr.37]
Như vậy, nói tóm lại những nghi lễ vòng đời người (hoặc nghi lễ chuyểnđổi, nghi lễ trong gia đình) là những nghi lễ được thực hiện xung quanh cuộcđời con người từ khi còn nằm trong bụng mẹ đến khi rời khỏi cuộc đời Đó lànhững nghi thức, phong tục, tập quán gắn với từng thời kì, thậm chí còn lànhững điều kiêng kị, cấm đoán, có khi còn là những điều mê tín
Trang 292.2 Những nghi lễ truyền thống trong vòng đời của người Việt ở huyện Tam Nông.
2.2.1 Nghi lễ sinh đẻ
Đối với người Việt Nam, khi đã lập gia đình thì việc sinh con là rất quantrọng Thời xưa, những trường hợp người phụ nữ không sinh nở được là mộttrong những lý do chính đáng để người đàn ông bỏ vợ hoặc lấy lẽ
Dấu hiệu của việc người phụ nữ biết mình có thai hay chưa thôngthường là tắt kinh, kèm theo nôn ọe vào sáng sớm lúc ngủ dậy hoặc lúc ăncơm, hoặc những thức ăn có nấu với hành, lúc nào cũng cảm thấy người mệtmỏi, uể oải, khó chịu Đó là hiện tượng “ốm nghén” Ngoài những triệuchứng trên, người “ốm nghén” thường ăn dở (thèm chua, ngọt hay nhữngthứ mà trước đó vốn không ưa dùng) Có người còn ăn đất thó, bánhngói Có người nghén thịt chó, thịt gà, nghén cà, nghén dưa, Thời kỳ thainghén người phụ nữ thường thấy có sự thay đổi trong cơ thể như: vú căng,khó thở, đi tiểu nhiều và táo bón, tnh tình thay đổi bất chợt, màu da cũngthay đổi như sạm gò má, thâm vú, [15, tr.7]
Phụ nữ có thai đều có cảm nhận được hiện tượng thai “máy”, đạp
từ tháng thứ tư trở đi Thời gian mang thai là hết sức quan trọng và thiêngliêng Người ta phải giữ gìn để sao cho “mẹ tròn con vuông” Các bà mẹthường dặn con cái, con dâu là khi có thai thì lúc đi thoải nhẹ nhàng, khôngbước dài, không ngồi xổm, không dướn người lên cao, tránh đi xe đạpnhiều và đi bộ đều thì khi sinh nở mới dễ dàng Thời gian mang thai người
mẹ phải chuẩn bị đầy đủ về thể lực và tinh thần thì mới dưỡng thai tốt Lúc
đó thai nhi không chỉ tiếp nhận từ người mẹ các chất bổ dưỡng mà còn cảtình cảm, tâm hồn của người mẹ Dân gian cũng truyền khẩu nhiều điềungười mang thai nên làm và cần tránh: “phải năng vận động, làm việc nhẹ,
Trang 30đừng ăn không ngồi dồi, kiêng ăn nhiều chất bổ- sợ thai lớn khó sinh, kiêng
ăn trái cây sinh đôi, kiêng ăn cua
Trang 31để tránh sinh ngang, kiêng ăn sò, ốc, trai, hến để con khỏi có nhiều dớt rãi,không nên nóng giận, không hành động gian ác, không nên nhìn những cảnhkhiếp sợ, thương tâm Trái lại, người có thai nên ăn nhiều trứng gà, đu
đủ chín, uống nước dừa cho đứa bé có da trắng đẹp, hồng hào Luôn tươi vui,hòa nhã, dịu dàng với tâm hồn thảnh thơi, ngay thẳng cho khỏi ảnh hưởngxấu đến đứa con sau này”; hay “người đàn bà chửa kiêng gần tử thi vàkiêng đưa ma trừ trường hợp đại tang, mẹ chồng chửa kiêng cưới con dâu;
vợ chửa, chồng không sát sinh”; “Treo ảnh trong nhà, để luôn luôn đượcngắm tranh ảnh các vị anh hùng, các vĩ nhân, các bà mẹ hiền từ cùng nhữngphong cảnh tao nhã, thanh khiết, gây một ảnh hưởng tốt đẹp cho đứa consau này” [15, tr.8- 9]
Tất cả những điều nêu trên là phương pháp giữ vệ sinh trong ăn uốngphòng tránh độc không phải là không có ích đối với người phụ nữ mang thai.Những điều nười phụ nữ có thai cần kiêng kị gọi là thai giáo Thai giáo khônghoàn toàn là mê tn dị đoan, mà là kinh nghiệm dân gian đã được đúc kết đểcon người làm theo nhằm đảm bảo sức khỏe cho người mẹ và cho bào thaitrong bụng mẹ
Trong thời kỳ mang thai là lúc người mẹ đang sống “bằng hai”, nên mọitai biến đều có thể dễ dàng xảy ra trong thời gian này, vì thế, dân gian có câu
“chửa là cửa mả” cũng nói lên sự quan trọng đặc biệt của thời gian này Bởivậy, người mẹ cần phải giữ gìn trong suốt thời kỳ mang thai: không tắm đêm,mùa đông phải luôn giữ ấm, nhà cửa luôn luôn giữ sạch sẽ gọn gàng, thoángmát Không nên tiếp xúc với những người mắc bệnh lây lan, truyền nhiễm.Tránh những nơi ồn ào, náo nhiệt với những âm thanh mạnh Không nênnghe những chuyện kinh dị, tránh những vận động mạnh, những cú “sốc”,những tổn thương về tinh thần, tránh buồn phiền, sầu não, tạo không giansống bình ổn, vui vẻ thoải mái
Trang 32Thông thường quá trình phát triển đẩy đủ của thai nhi là chín thángmười ngày nhưng cũng có trường hợp đẻ non (chưa đầy chín tháng); ngượclại có những trường hợp qua chín tháng mười ngày mà vẫn chưa sinh thì phảinhờ y học can thiệp Thời xưa trường hợp mang thai quá ngày mà chưa sinhthì dân gian thường gọi là “chửa trâu” Trong trường hợp này, người chồngnên tìm một con trâu, cắt đứt dây thừng sỏ ở mũi trâu, người vợ sẽ đẻchóng, hoặc lấy một chiếc cọc đóng nơi chân chiếc cối giã gạo trong nhà.Trong những trường hợp đẻ khó, dân gian có những cách xử lý như sau:người chồng có thể làm những việc sau để vợ đẻ dễ dàng:
- Cầm một chiếc đòn gánh đứng giữa cửa lao ra đường
- Trèo lên cây cau cao rồi ôm cây tụt xuống
- Lật đít ông đầu rau giữa bếp và nhổ nước bọt vào
- Viết đủ họ tên một ông lớn trong vùng vào một mảnh giấy nhỏ,đốt mảnh giấy rồi dầm vào nước, lấy nước cho vợ uống, vừa cho uống vừađọc câu thần chú: “Đại nhân nhập, tiểu nhân xuất” (nghĩa là người lớn vào,đứa bé ra) [phỏng vấn bà Nguyễn Thị Hóa, khu 3, Tề Lễ, Tam Nông, Phú Thọ].Người dân địa phương cũng thường cho người có thai ăn cháo vừng
để dễ đẻ Một số nơi còn có tập quán là khi người mang thai từ tháng thứ haitrở đi, cứ tối đến, người ta lấy hai quả trứng gà (trứng gà so càng tốt) rửasạch, bỏ vào chiếc niêu đất cùng với 7 hoặc 9 ngọn cây ngải cứu và độ 2/3bát nước lạnh đun sôi lên một hai dạo rồi tắt lửa Sáng hôm sau, thấy trứngbiến thành màu xanh- vì trứng gà đã hút chất ngải cứu vào, cho người mangthai ăn hai quả trứng cùng với các ngọn ngải cứu và uống luôn số nước cònlại trong nồi Nếu có điều kiện thì nên ăn như vậy cho đến tháng thứ bảy,nếu không thì ăn hai tháng cũng có tác dụng tốt Vì rằng lá ngải cứu là loạithực phẩm giúp an thai và mát, kết hợp với trứng gà là chất bổ dưỡng tốtnhất cho thai nhi [15, tr.12]
Trang 33Khi tìm hiểu những điều kiêng kị liên quan tới người phụ nữ trong thời
ký có mang, cũng chỉ để tham khảo và rút ra những điều nào hợp lý đáng lưugiữ và những điều không hợp lý, không phù hợp hoặc mê tn dị đoan đểloại
Dưới thời phong kiến nhiều người quan niệm “Nhất nam viết hữu,thập nữ viết vô” nghĩa là một con trai là có, mười gái vẫn như không Cócon trai để nối dõi tông đường Nhưng dân ta cũng có câu “Ruộng sâu trâunái không bằng con gái đầu lòng” vì gái đầu lòng sớm biết đỡ đần cha mẹhơn trai đầu lòng
Thời xưa sau khi sinh con, người ta đều cho sản phụ nằm ở trong buồngkín gió, ít khi dùng đèn sáng và giữ cho yên tnh Dưới gậm dường bao giờcũng để một chậu than ấm áp Các gia đình kiêng kị ngăn không cho người lạvào thăm vì sợ người vía dữ Nếu không may có trường hợp không ngăn kịpngười lạ vào thăm mà trẻ khóc đêm hoặc không chịu bú hay bú vào lại trớ rathì người nhà phải “đốt vía” (4) Mặt khác, người nhà thắp hương khấn thầnlinh, thổ công, thổ địa, ông bà, ông vải phù hộ cho cháu tai qua nạn khỏi.Nhiều nơi trong huyện còn dùng một cành xương rồng gai buộc ở cửabuồng để tránh tà ma, quỷ quái quấy nhiễu cháu bé
Việc chăm sóc trẻ sơ sinh là cực kỳ quan trọng Từ xưa nhân dân ta đã
Trang 34nhận thức rằng: sữa mẹ là thức ăn thiên nhiên đầy đủ, lý tưởng nhất cho bé.
4 Thường “đốt vía” là lấy một vài tờ giấy đốt cháy rồi nhảy qua nhảy lại ở cửa buồng, trong mồm nói một câu lẩm bẩm trong miệng: “Vía lành thì ở, vía dữ thì đi”.
Trang 35Và để cho người mẹ có nhiều sữa sau sinh, người ta thường hầm mónggiò với gạo nếp (có thể thêm hạt sen cho lành và dễ ngủ) cho mẹ ăn xen kẽvào các bữa chính Lúc mới sinh con để cho tuyến sữa của người mẹ đượcthông suốt, người ta thường lấy tay day nhẹ vào vú và cho trẻ sơ sinh bú dầndần dể kích thích các tuyến sữa chảy đều (tránh dùng tay nặn sữa) [15, tr.18].
2.2.2 Nghi lễ thôi nôi và sinh nhật
Dân trong huyện cũng giống như người Việt các nơi khác vẫn có phongtục làm cữ cho trẻ sơ sinh Cữ là một định lượng thời gian: 7 ngày đối với bétrai và 9 ngày đối với bé gái (bé ra đời đủ thời gian trên được gọi là đầy cữ)
Sở dĩ tính như vậy vì dân ta quan niệm mỗi con người đều có hồn và vía Aicũng có 3 hồn: nam và nữ đều giống nhau nhưng vía thì khác: nam có 7 vía,
nữ có 9 vía Người xưa tin rằng hình hài của thai nhi là do Bà Mụ nặn thành
Vì thế nên khi sinh con trai được 7 ngày, con gái được 9 ngày, người ta làm lễđầy cữ để tạ ơn bà Mụ Cơ thể con người theo tục truyền thì do 12 bà Mụ5nặn thành do đó lễ vật khi dâng cúng cũng phải đủ 12 xuất cho 12 Bà Mụ Vídụ:
12 bộ quần áo, 12 đôi hài, 12 cái mũ, 12 chiếc bánh, [xem phụ lục 9] Theo
tục khi trẻ sinh ra được 3 ngày cúng mụ, cúng đầy cữ 9 ngày đối với con gái
và 7 ngày đối với con trai, rồi lại cúng đầy tháng, cúng thôi nôi, cúng đầynăm
Cúng đầy tháng- cúng thôi nôi là một trong nhiều nghi lễ gắn liền vớicuộc đời của mỗi con người, là nét đẹp văn hóa truyền thống của ngườiviệt
Nam Nghi lễ này không chỉ có ý nghĩa khẳng định sự hiện hữu của một con
5
Mụ bà Trần Tứ Nương, coi việc sanh đẻ; Mụ bà Vạn Tứ Nương, coi việc thai nghén; Mụ bà Lâm Cửu Nương, coi việc thụ thai ; Mụ bà Lưu Thất Nương, coi việc nặn hình hài nam, nữ cho đứa bé; Mụ bà Lâm Nhất Nương, coi việc chăm sóc bào thai (an thai); Mụ bà Lý Đại Nương, coi việc chuyển dạ (chuyển sanh);
Trang 36Mụ bà Hứa Đại Nương, coi việc khai hoa nở nhụy (hộ sản); Mụ bà Cao Tứ Nương, coi việc ở cữ (dưỡng sanh); Mụ bà Tăng Ngũ Nương, coi việc chăm sóc trẻ sơ sinh (bảo tống); Mụ bà Mã Ngũ Nương, coi việc ẵm bồng con trẻ (tống tử); Mụ bà Trúc Ngũ Nương, coi việc giữ trẻ (bảo tử); Mụ bà Nguyễn Tam Nương, coi việc chứng kiến và giám sát việc sinh đẻ.
Trang 37người, một thành viên mới trong xã hội, mà còn khẳng định vai trò của giađình và xã hội đối với thành viên mới, thế hệ mới.
Trẻ khi sinh được tròn một tháng sẽ làm lễ đầy tháng- thôi nôi Trongngày đầy tháng, ngoài việc chuẩn bị món ăn, thức uống để chiêu đãikhách, gia chủ còn chuẩn bị mâm lễ vật cúng kính 12 Bà Mụ gồm 12 chénchè, 3 tô chè, 3 đĩa xôi
Sau khi bày lễ vật, một trưởng tộc hoặc người biết thực hành nghi
lễ, hoặc bố mẹ em bé, thắp ba nén hương khấn nguyện: “Hôm nay, ngày(mùng)… tháng… (âl), năm…….(âl), ngày cháu (nội hay cháu ngoại…hoặc con),nay cháu tròn 1 tháng tuổi, gia đình xin được đặt tên cháu là (Họ và tên):
………, gia đình chúng tôi bày mâm lễ vật này, cung thỉnh thập nhị mụ bàtrước về chứng minh nhận lễ, sau tiếp tục phù trợ cho cháu (Họ và tên là:
……… ) mạnh tay, mạnh chân, mau lớn, hiền, ngoan, phù trợ cho gia đình anvui, hạnh phúc”
Tiếp sau là lời chúc mừng và tặng quà hoặc tiền lì xì của khách mời, củadòng họ bà con cho cháu bé và gia đình nhân ngày cháu tròn một tháng tuổi.Khi bé đầy tuổi (lễ sinh nhật) không chỉ đánh dấu mốc thời đoạn trongcuộc đời con người mà còn biểu hiện sự chuyển biến về cơ thể và trí não củatrẻ Lễ sinh nhật, có mâm lễ xôi chè cúng thổ công, thổ chủ Mâm cúng đượcbày ngoài sân, đầu lạy hướng ra ngoài
Trong nhà, bày 3 mâm cúng gồm mâm cúng Thành hoàng bổn cảnh;mâm cúng cửu huyền thất tổ và mâm cúng ông bà quá vãng (bao nhiêu bànthờ, bấy nhiêu mâm cúng) Lễ vật là những thức ăn chín phù hợp với tậpquán mỗi địa phương Kế bên bày 12 chén chè, xôi; cúng 12 Mụ bà
Nghi lễ cúng đất đai diên địa, thổ công thổ chủ có lời khấn như sau:
“Hôm nay, ngày (mùng)… tháng… (âm lịch), gia đình cháu (nêu họ tên)…bày làm mâm lễ vật, trước cung thỉnh đất đai diên địa, thổ công thổ
Trang 38chủ trước về chứng minh nhận lễ mừng cho cháu (Họ và tên là…) tròn mộtnăm tuổi, sau tiếp tục phù trợ cho cháu (Họ và tên là…) khỏe mạnh, chónglớn, ngoan hiền, phù trợ cho gia đình luôn ấm no, hạnh phúc…”.
Lời khấn mâm cúng Thành hoàng bổn cảnh; mâm cúng Cửu huyền thất
tổ và mâm cúng Ông bà quá vãng nội dung cơ bản giống như lời khấn nghicúng đất đai diên địa, thổ công thổ chủ, chỉ thay đổi đối tượng đượcthỉnh mời
Lời khấn cầu 12 Mụ bà cơ bản giống như lời khấn trong ngày đầy tháng
Ba tuần rượu và một tuần trà , lời khấn không thay đổi (trùng ngôn, trùng
ngữ) Kết thúc ba tuần rượu và một tuần trà là thực hiện nghi thức “thử tài”cháu bé bằng cách bày những vật dụng phù hợp trên bộ ván hoặc trên bộván phù hợp với tnh cách của nam, hoặc nữ Sau đó, đặt cháu bé ngồitrước các vật dụng để cháu tự chọn lựa các vật dụng như: gương, lược, viết,tập sách, nắm xôi, tiền, kéo… Vật nào được cháu chọn trước (cầm trước) dângian tin tưởng đó là sự chọn lựa của cháu về nghề nghiệp tương lai cho mình.Sau khi kết thúc nghi thức tử tài, khách mời thực hiện nghi thức chúcmừng và lì xì cho cháu bé
Nghi lễ kết thúc, cuộc tiệc mừng cháu tròn một tuổi cũng bắt đầu
Nhìn chung, Lễ đầy tháng, lễ sinh nhật là một nghi lễ biểu hiện tính nhânbản của người Việt Nam nói chung
Thời xưa, những người sinh con muộn hoặc hiếm hoi thường “bánkhoán” Đây là một tục đã có từ xưa, nghĩa là bán (sinh mệnh) cho phật
để đứa bé được yên ổn, bố mẹ bớt lo lắng Khi đã bán khoán rồi thì đứa trẻ
sẽ là con nuôi của Phật Để thực hiện bán khoán, trước hết bé phải đượctrăm ngày tuổi (là khoảng thời gian đủ để sạch những uế tập lặt vặt của lúcmới sinh và lúc đó người mẹ cũng đã hết tuần chay gái đẻ) Thủ tục bán
Trang 39khoán trong nhân dân của huyện cũng đơn giản và nhẹ nhàng: gia đìnhphải chọn ngày tốt,
Trang 40mang lễ vật lên chùa trình bày nguyện vọng của mình với sư trụ trị của chùa
đó Gia chủ nhờ thầy viết lá sớ xin bán khoán đứa trẻ vào một tờ khoán(được hiểu là tờ bán con cho phật) Tờ khoán được ghi làm hai bản và có dấucủa chùa Nghi lễ được thực hiện nơi Tam Bảo Cha mẹ làm lễ trước bàn thờ,nhà chùa hoặc thầy cúng đọc bản sớ Khi nghi lễ thực hiện xong thì hóa sớ,còn bản khoán được lưu lại tại chùa một bản và bản còn lại thì cha mẹ bémang về Từ đó, về mặt tâm linh, đứa bé có họ mới, họ của nhà Phật (làMẫu) cho nên trong mọi việc cúng khấn cho bé sau này đều phải khấn theo
họ của Phật Khi đứa trẻ đến 13 tuổi thì cha mẹ có thể chuộc khoán.Chuộc khoán cũng theo một nghi lễ nơi trước kia đã bán khoán
Thời xưa tại các xã không có sổ hộ tịch mà chỉ có sổ đinh để định thuếnhưng chỉ dành cho nam giới nên đứa trẻ sinh ra chưa cần khai sinhngay Tuy nhiên để có thể gọi một đứa trẻ, người dân có những cách địnhtên khác nhau như: gọi theo giới tính (thằng cu, thằng cò, cái gái, con hĩm,con đĩ, ) Dân trong huyện thường gọi tên con xấu xí, tầm thường như:Hom, Sọt, Đó, Nơm, để tỏ ra đứa trẻ này chẳng báu bọc gì, để tà ma đừng
để ý mà quấy nhiễu nó, để cho dễ nuôi Khi phải chính thức khai sinh, cha mẹthường theo nếp cũ, theo mối liên tưởng gần gũi với tên bố mẹ mà đặt chocon Ví như cha tên Cầy thì con tên Bừa, mẹ tên Mận thì con tên Đào, Một
số gia đình trung lưu, có học thì đặt tên con theo tên các loài hoa, tên chữnhư: Hồng, Cúc, Mai, Tùng, Bách, cũng có gia đình đặt tên con theo nămsinh như Giáp, Bính, Đinh, Dần, Hầu hết dân trong huyện cũng giống nhưdân các vùng khác thường dùng tên con để gọi người cha hoặc người mẹ, màkiêng tên thật của người đó
Thông thường tên đầy đủ của mỗi người (nam cũng như nữ) đều gồm
3 từ: họ, tên đệm và tên Trước đây nam thường lấy tên đệm là “Văn” và nữ
là “Thị” Ví dụ: Hoàng Văn Nam hay Hoàng Thị Nụ Cũng có những trường