1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua dạy trẻ kể lại chuyện theo đồ chơi, theo tranh (2017)

77 264 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON====== VŨ THỊ THU UYÊN PHÁT TRIỂN LỜI NÓI MẠCH LẠC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA DẠY TRẺ KỂ LẠI CHUYỆN THEO ĐỒ CHƠI, THEO TRANH K

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

VŨ THỊ THU UYÊN

PHÁT TRIỂN LỜI NÓI MẠCH LẠC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA DẠY TRẺ KỂ LẠI CHUYỆN THEO ĐỒ CHƠI, THEO TRANH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học

TH.S LÊ BÁ MIÊN

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trường Đại học sưphạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non đã giúp đỡ, tạo điềukiện thuận lợi cho em trong suốt khóa học

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S Lê Bá Miên là người

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cô giáo và các bélớp 5TA6, trường Mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội đã giúp em hoànthành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2017

Sinh viên

Vũ Thị Thu Uyên

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Đề tài “Phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua dạy trẻ kể lại chuyện theo đồ chơi, theo tranh” là kết quả

nghiên cứu của riêng mình, khóa luận không sao chép từ tài liệu sẵn có nào Đềtài chưa được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác

Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2017

Sinh viên

Vũ Thị Thu Uyên

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

7 Giới thuyết đề tài 6

8 Kết cấu khóa luận 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lý luận 7

1.1.1 Lời nói mạch lạc và đặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn 7 1.1.1.1 Khái niệm lời nói mạch lạc 7

1.1.1.2 Các kiểu lời nói mạch lạc 7

1.1.1.3 Đặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn 8

1.1.1.4 Sự cần thiết phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn

9 1.1.1.5 Nhiệm vụ phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn 10

1.1.2 Một số đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn 11

1.1.2.1 Đặc điểm tâm lý 11

1.1.2.2 Đặc điểm sinh lý 13

1.1.2.3 Đặc điểm tư duy 15

1.1.2.4 Đặc điểm ngôn ngữ 15

1.2 Cơ sở thực tiễn 18

1.2.1 Chương trình học của trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non 18

1.2.2 Thực tiễn dạy học ở trường mầm non Đại Thịnh 19

Trang 5

CHƯƠNG 2: DẠY TRẺ KỂ CHUYỆN THEO ĐỒ CHƠI, THEO TRANH 23

2.1 Dạy trẻ kể chuyện theo đồ chơi 23

2.1.1 Tầm quan trọng của việc dạy trẻ kể chuyện theo đồ chơi 23

2.1.2 Đặc điểm của dạy trẻ kể chuyện theo đồ chơi 23

2.1.3 Yêu cầu trong giờ dạy trẻ kể lại chuyện theo đồ chơi 24

2.1.4 Quy trình thực hiện khi dạy trẻ kể chuyện theo đồ chơi 25

2.1.5 Các biện pháp sử dụng trong khi dạy trẻ kể chuyện theo đồ chơi 28

2.1.5.1 Biện pháp quan sát 28

2.1.5.2 Biện pháp cô đặt các lời kể miêu tả 28

2.1.5.3 Biện pháp trò chơi 29

2.2 Dạy trẻ kể chuyện theo tranh 29

2.2.1 Tầm quan trọng của việc dạy trẻ kể chuyện theo tranh 29

2.2.2 Đặc điểm của dạy trẻ kể chuyện theo tranh 30

2.2.3 Yêu cầu trong giờ dạy trẻ kể lại chuyện theo tranh 31

2.2.4 Quy trình thực hiện dạy trẻ kể lại chuyện theo tranh 32

2.2.5 Các biện pháp sử dụng tranh trong giờ dạy trẻ kể chuyện theo tranh35 2.2.5.1 Biện pháp sử dụng tranh kết hợp với lời kể mẫu của cô 36

2.2.5.2 Biện pháp sử dụng tranh kết hợp với cho trẻ kể lại chuyện 36

2.2.5.3 Biện pháp sử dụng tranh kết hợp với trò chuyện theo hệ thống câu hỏi 37

2.2.5.4 Biện pháp cho trẻ kể chuyện theo tranh trẻ tự vẽ 38

2.3 Một số giáo án dạy trẻ kể lại truyện 40

2.3.1 Giáo án dạy trẻ kể lại truyện theo tranh 40

2.3.2 Giáo án dạy trẻ kể chuyện theo đồ chơi 44

KẾT LUẬN 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 6

Ngày nay trẻ em được quyền phát triển về tất cả mọi mặt như: đức, trí, văn,thể, mỹ Trong các mục tiêu giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non, phát triểnngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu quan trọng nhất Những nghiêncứu thuộc nhiều lĩnh vực như: Tâm lý học, giáo dục học, ngôn ngữ học… đã chỉ

ra vai trò to lớn của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ Ngôn ngữ đóng vaitrò vô cùng quan trọng, quyết định trực tiếp đến sự thành công của con người, sựhình thành và phát triển của xã hội loài người Ngôn ngữ là công cụ để tư duy, làchìa khóa để nhận thức và là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng tri thức của nhânloại Ngôn ngữ có nhiệm vụ đặc biệt trong việc tiếp thu kiến thức nói riêng vàgiáo dục trẻ trở thành những con người phát triển toàn diện nói chung Ngôn ngữcủa trẻ phát triển tốt sẽ giúp trẻ nhận thức và giao tiếp tốt, góp phần to lớn vàoviệc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ Do đó, việc rèn luyện và pháttriển ngôn ngữ cho trẻ là hết sức quan trọng và phải bắt đầu từ sớm ngay từ lứatuổi mầm non

Phát triển ngôn ngữ ở độ tuổi mẫu giáo là việc làm vô cùng quan trọng vàkhông hề đơn giản cần phải hoàn thành ở độ tuổi mẫu giáo lớn để chuẩn bị hànhtrang vững chắc cho trẻ bước vào lớp một Ở độ tuổi 5 – 6 tuổi, yêu cầu đối với

Trang 7

trẻ không chỉ dừng lại ở việc phát triển vốn từ, câu mà bắt buộc trẻ phải nóimạch lạc Do đó, trẻ phải hiểu và biết sử dụng từ để thể hiện suy nghĩ, tiếp nhậnthông tin từ người khác một cách rõ ràng, chính xác Trẻ phải có khả năng trìnhbày đúng, có trình tự, có hình ảnh một nội dung nhất định góp phần phát triển tưduy logic của trẻ Việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ trong giao tiếp sẽgiúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các môn khoa học khác như: Làm quen với toán,môi trường xung quanh, âm nhạc, tạo hình…đặc biệt là bộ môn làm quen vớivăn học Bộ môn làm quen văn học thông qua dạy trẻ đọc thơ, kể chuyện, đóngkịch…tạo điều kiện cho trẻ được hoạt động nhiều; giúp trẻ phát triển trí nhớ,ngôn ngữ và tư duy logic; khả năng cảm thụ cái hay, cái đẹp, cái tốt, cái xấu củamọi vật xung quanh trẻ Trong đó kể chuyện là hình thức rất phù hợp để pháttriển ngôn ngữ cho trẻ Đặc điểm tâm lý của trẻ ở giai đoạn này là trẻ rất thíchđược nghe cô giáo và người lớn kể chuyện Trẻ có thể ngồi hàng giờ chỉ để nghe

cô kể chuyện rồi nhẹ nhàng đi vào giấc ngủ say sưa với chàng hoàng tử, nàngcông chúa hay những ông Bụt, bà Tiên trong các câu chuyện cổ tích Nghengười khác kể chuyện với trẻ đã là điều rất thú vị nhưng trẻ thường luôn muốnđược tự mình kể chuyện, tự mình nói nói lên những hiểu biết, suy nghĩ, cảm xúc

về những thứ xung quanh mà trẻ thấy Tuy nhiên khả năng truyền đạt nhữngthái độ, cảm xúc thông qua lời nói của trẻ trong lời kể vẫn chưa phát triển đầy

đủ Vì vậy đây chính là thời điểm thích hợp để chúng ta dạy trẻ kể chuyện.Thông qua việc dạy trẻ kể lại chuyện theo các bức tranh, đồ chơi hay các vậtthực xung quanh sẽ góp phần phát triển lời nói mạch lạc ở trẻ

Vấn đề phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn luôn là vấn đềđược các nhà nghiên cứu quan tâm và khai thác.Tất cả những nghiên cứu đó đềunhằm mục đích tìm ra những biện pháp, phương thức tốt nhất để phát triển lờinới mạch lạc cho trẻ Tuy nhiên thực tiễn cho thấy, trẻ mầm non đặc biệt là trẻ

5 – 6 tuổi, hiện tượng trẻ nói câu què, câu cụt khá phổ biến Cùng với việc phát

Trang 8

triển của xã hội, các chương trình giải trí, phim ảnh, âm nhạc, sách truyện hoặc

từ chính các bậc cha mẹ, việc trẻ “nói bậy, chửi tục” cũng là vấn đề rất đáng longại Bên cạnh đó là hàng loạt lỗi sai như : sắp xếp từ không chính xác; dùng từkhông đúng nghĩa; dùng từ trùng lặp, dài dòng; kết hợp từ sai… dẫn đến việchiểu sai, hiểu nhầm, khó hiểu Do đó, việc phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ làrất cần thiết

Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Phát triển lời nói mạch lạccho trẻ mẫu giáo lớn thông qua dạy trẻ kể lại chuyện theo đồ chơi, theo tranh”làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình Chúng tôi nghĩ rằng đây là một đềtài rất hấp dẫn và thiết thực với những người quan tâm đến trẻ em và ngành giáodục mầm non

2 Lịch sử vấn đề

Từ trước đến nay những vấn đề về trẻ em đều được các nhà khoa học rất quantâm Đặc biệt là việc phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ đã có rất nhiều nghiêncứu khoa học thành công và được xã hội ghi nhận

Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”, NXB

ĐHSP, năm 2004 tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã nghiên cứu rất kỹ sự phát triểnngôn ngữ của trẻ mẫu giáo Trên cơ sở những đánh giá chung về đặc điểm sinh

lý của trẻ ở lứa tuổi này và dựa trên mối quan hệ của bộ môn ngôn ngữ học vớinhững bộ môn khác ông đã đưa ra được một số phương pháp phát triển ngônngữ cho trẻ mầm non, trong đó bao gồm cả vấn đề phát triển lời nói mạch lạccho trẻ

Cùng với Nguyễn Xuân Khoa, Đinh Hồng Thái trong cuốn “Giáo trình phương pháp phát triển lời nói trẻ em”, NXB ĐHSP, năm 2007 đã viết rất chi

tiết về lời nói mạch lạc và các hình thức, phương pháp phát triển lời nói mạchlạc cho trẻ mẫu giáo

Trang 9

Luận án tiến sĩ của Vũ Thị Hương Giang, ĐHSP Hà Nội, năm 2007 đã bàn

về “Một số phương pháp dạy trẻ 5 – 6 tuổi kể chuyện với đồ chơi nhằm phát triển lời nói mạch lạc” Luận án này đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận của việc

phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện với đồchơi, thực trạng việc sử dụng các biện pháp dạy trẻ kể chuyện với đồ chơi nhằmphát triển lời nói mạch lạc cho trẻ ở các trường mầm non hiện nay Bên cạnh đó,trong luận án của mình Vũ Thị Hương Giang còn xây dựng được một số biệnpháp kể chuyện với đồ chơi rất sáng tạo, phát huy tốt khả năng sử dụng lời nóimạch lạc ở trẻ

Cũng nghiên cứu về việc dạy trẻ 5 – 6 tuổi kể chuyện theo tranh, Nguyễn

Thùy Linh lại có cái nhìn ở góc độ khác “Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo kể chuyện theo tranh liên hoàn có chủ đề”, Nguyễn Thùy Linh đã tìm được phương

thức hiệu nghiệm dùng tranh liên hoàn có chủ đề trong việc dạy trẻ mẫu giáolớn kể lại chuyện

Luận án tiến sĩ “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ

5 – 6 tuổi thông qua kể chuyện theo tranh” của Nguyễn Thị Xuân , ĐHSP Hà

Nội đã điều tra được thực trạng về việc sử dụng các biện pháp dạy trẻ kể chuyệntheo tranh và thực trạng việc sử dụng ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 – 6 tuổi.Nguyễn Thị Xuân đã đưa ra được kết luận khoa học và đề xuất những kiến nghị

về biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ

Luận án “Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi kể lại chuyện văn học nhằm phát triển lời nói mạch lạc” của Âu Thị Hảo đã điều tra thực trạng

ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ, tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá và kiểmtra giả thiết khoa học, đồng thời xử lý kết quả nghiên cứu bằng toán thống kê

Hồ Lam Hồng cũng nghiên cứu vấn đề này trong luận văn : “Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua kể chuyện”.

Trang 10

Có thể nói hầu hết các công trình nghiên cứu, các nhà khoa học đều đưa rađược những biện pháp hữu hiệu nhằm phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ;đồng thời cụ thể hóa các cơ sở lý luận có liên quan như: đặc điểm phát triểnngôn ngữ của trẻ mầm non, biểu hiện lời nói mạch lạc của trẻ 5 – 6 tuổi, đặcđiểm lời nói mạch lạc của trẻ, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển lời nóimạch lạc của trẻ Ở mỗi công trình là những khía cạnh, những ý kiến khác nhaucủa từng người Đây chính là những tài liệu bổ ích, làm cơ sở giúp chúng tôi tìmhiểu cơ sở lý luận cho đề tài của mình

Tuy nhiên cho tới thời điểm này, chưa có một ai và chưa có công trình nào

đi sâu vào khai thác việc phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thôngqua dạy trẻ kể lại chuyện theo đồ chơi, theo tranh Với đề tài nghiên cứu này,chúng tôi đã tìm được cho mình một hướng đi riêng dựa trên sự tìm hiểu, đánhgiá và thực nghiệm của chính bản thân

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài của chúng tôi nhằm đạt 2 mục đích sau:

- Đề tài hướng tới góp phần phát triển tư duy logic cho trẻ nhằm phục vụ cho việc giao tiếp

- Là tư liệu để xây dựng một kiểu bài kể chuyện theo đồ chơi, theo tranh

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi cần thực hiện 3 nhiệm vụ sau :

- Đọc tài liệu nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài

- Đi thực tế ở trường mầm non để có cơ sở thực tiễn

- Xử lý tư liệu

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp tổng hợp

Trang 11

- Phương pháp thống kê

Quá trình nghiên cứu được tiến hành như sau :

+ Bước 1 : Đọc lý luận về vấn đề nghiên cứu

+ Bước 2 : Đi khảo sát thực tế để thu thập tư liệu về việc kể chuyện của trẻ ởlớp mầm non

+ Bước 3 : Lên thống kê xử lý số liệu

+ Bước 4 : Viết khóa luận

6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu : Thông qua kể chuyện theo đồ chơi, theo tranh để phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ

- Phạm vi nghiên cứu : trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi)

7 Giới thuyết đề tài

- Tập trung phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn

8 Kết cấu khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, Nội dung của khóa luận gồm haichương :

- Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn

- Chương 2 : Dạy trẻ kể chuyện theo đồ chơi, theo tranh

Trang 12

1.1 Cơ sở lý luận

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1.1 Lời nói mạch lạc và đặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn

1.1.1.1 Khái niệm lời nói mạch lạc

Có rất nhiều các nhà sư phạm đã nêu ra định nghĩa về lời nói mạch lạc củatrẻ em và chúng có những điểm giống và khác nhau Trong cuốn “Giáo trìnhphát triển ngôn ngữ tuổi mầm non” của PGS.TS Đinh Hồng Thái đã nêu ra địnhnghĩa của tiến sĩ ngôn ngữ học Xôkhin người Nga – tác giả của nhiều cuốn sáchgiáo khoa, phương pháp về phát triển ngôn ngữ trẻ em Ông đã định nghĩa nhưsau:

“Lời nói mạch lạc được hiểu là sự diễn đạt mở rộng một nội dung xác định,được thực hiện một cách logic, tuần tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có tínhbiểu cảm”

Chúng tôi sẽ sử dụng khái niệm này làm cơ sở lý luận xuyên suốt trongkhóa luận của mình

1.1.1.2 Các kiểu lời nói mạch lạc

Các nhà ngôn ngữ học đã nghiên cứu và cho rằng có 2 kiểu lời nói mạch lạc

đó là hội thoại và độc thoại

- Lời nói hội thoại là câu chuyện giữa hai hay nhiều chủ thể nói năng, baogồm những phản ứng tương hỗ của các cá nhân giao tiếp với nhau, các phản ứng

tự phát một cách bình thường được xác định bởi hoàn cảnh hoặc lời nói củanhững người tham gia đối thoại

Có 2 hình thức hội thoại đó là nói chuyện và đàm thoại

+ Nói chuyện là câu chuyện giữa hai hay nhiều người không nhất thiết phải theo một chủ đề nhất định, được phát triển nhưng không được chuẩn bị kĩ

Trang 13

từ trước Đây là hình thức đơn giản nhất của ngôn ngữ nói Nó mang tính hoàncảnh và những người nói chuyện hiểu được nhau Cần nhờ các hình thức diễnđạt khác như nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, giọng nói…

+ Đàm thoại là câu chuyện về một chủ đề nào đó được chuẩn bị kĩ càngvới một hệ thống câu hỏi được sắp xếp, tổ chức theo kế hoạch Nó sử dụngnhiều hình thức ngôn ngữ tỉnh lược, những phương tiện biểu cảm phi ngôn ngữ,các đặc tính biểu cảm của lời nói đóng vai trò quan trọng

Lời nói hội thoại trẻ nắm tương đối dễ vì chúng được nghe nhiều trong đờisống hàng ngày

- Lời nói độc thoại là câu chuyện của một chủ thể nói năng trước nhiều đốitượng giao tiếp Đây là hình thức ngôn ngữ phức tạp nhất về tư duy và hìnhthức Người nói phải có vốn kiến thức rộng, chuẩn bị bài nói cẩn thận về nộidung, kỹ năng ngôn ngữ tốt Biết trình bày một cách sáng tỏ, biết kiểm tra, kiểmsoát các hình thức ngôn từ

Trẻ học độc thoại khó vì ít nghe trong đời sống hàng ngày

1.1.1.3 Đặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn

Ở trẻ mẫu giáo lớn, lời nói mạch lạc đã đạt trình độ cao hơn so với trẻ ở cáclứa tuổi trước là mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ Chẳng hạn:

Trẻ mẫu giáo bé phù hợp với hình thức đơn giản của lời nói đối thoại (trảlời câu hỏi) nhưng đứa trẻ thường xa rời với nội dung câu hỏi Chúng mới chỉbắt đầu nắm được kỹ năng bày tỏ một cách mạch lạc những ý nghĩ của mình,mắc nhiều lỗi trong xây dựng câu đặc biệt là câu phức

Lời nói của trẻ mang tính tình huống, chủ yếu là diễn đạt một cách vộivàng Những lời nói mạch lạc đầu tiên của trẻ được cấu tạo từ hai đến ba câunhưng cũng được xem đó chính là sự thể hiện mạch lạc Dạy lời nói đối thoạicho trẻ mẫu giáo bé và sự phát triển của nó sau đó là cơ sở để hình thành lời nóiđộc thoại

Trang 14

Sự phát triển lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo nhỡ lại chịu ảnh hưởng lớncủa việc tích cực hóa vốn từ (khối lượng từ lúc này đạt khoảng 700 từ), lời nóicủa trẻ đã được mở rộng hơn, có trật tự hơn mặc dù cấu trúc còn chưa hoànthiện.

Trẻ mẫu giáo nhỡ bắt đầu học đặt những câu chuyện nhỏ theo tranh, theo

đồ chơi Nhưng phần lớn câu chuyện của trẻ chỉ đơn thuần là mô phỏng lại mẫucủa người lớn Trong độ tuổi này diễn ra sự phát triển mạnh mẽ lời nói văn cảnh,

có nghĩa là nói mà chỉ tự mình hiểu được

Ở trẻ mẫu giáo lớn để trả lời các câu hỏi trẻ đã sử dụng các câu tương đốichính xác ngắn gọn và khi cần thì mở rộng Ở trẻ phát triển kỹ năng nhận xét lờinói và câu trả lời của các bạn, bổ sung hoặc sửa chữa các câu trả lời đó

Ví dụ 1: Trẻ thưa với cô: Cô ơi, bạn Nhung đi học mà vẫn khóc nhè như thế

là chưa ngoan cô nhỉ?

Ví dụ 2: Cô đàm thoại với trẻ:

Cô giáo: - Các con thấy hôm nay quần áo cô mặc có đẹp không?

Trẻ: - Con thấy ngày nào cô cũng mặc đẹp ạ

1.1.1.4 Sự cần thiết phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn

Phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn góp phần chuẩn bị phươngtiện phát triển tư duy trực quan hình tượng ở giai đoạn cao hơn, hình thànhnhững cơ sở ban đầu cho sự xuất hiện kiểu tư duy logic ở giai đoạn phát triểntiếp theo; giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh mình một cách đầy đủ , chínhxác và sâu sắc hơn Đồng thời góp phần mở rộng phạm vi giao tiếp, phát triểncảm xúc, tình cảm và tâm lý trẻ nói chung; nâng cao kỹ năng ngôn ngữ nóichung của trẻ lứa tuổi này

Như vậy, lời nói mạch lạc là một hình thức ngôn ngữ rất cần thiết cho trẻmẫu giáo 5 – 6 tuổi Nó là phương tiện thỏa mãn hàng loạt nhu cầu của trẻ (nhucầu nhận thức, giao tiếp, phối hợp hoạt động…) đáp ứng sự phát triển của trẻ ở

Trang 15

giai đoạn này Chính vì vậy, một trong những nội dung phát triển ngôn ngữ chotrẻ ở trường mầm non là cần phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo, đặcbiệt là mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi).

1.1.1.5 Nhiệm vụ phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn

Phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo tức là phát triển kỹ năng diễnđạt mạch lạc trong hai kiểu lời nói (đối thoại và độc thoại) thông qua ba nhiệm

sử dụng từ để nói năng rõ ràng, mạch lạc, có nội dung Việc phát triển nội dung

từ ngữ, mở rộng vốn từ và dạy trẻ biết cách sử dụng từ ngữ để diễn đạt ý nghĩcủa mình được tiến hành đồng thời trong mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau, khôngthể tách rời nhau trong quá trình trẻ tham gia vào các hoạt động ở trường mầmnon

- Nhiệm vụ thứ hai là hình thành và phát triển cấu trúc ngữ pháp của trẻTrẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi học nắm cấu trúc ngữ pháp Tiếng Việt không phảibằng cách phân tích các thành phần câu, đặc điểm ngữ pháp tiếng Việt… mà trẻhọc bằng cách trực tiếp tham gia vào các hoạt động ở trường mầm non (hoạtđộng vui chơi, hoạt động học tập, lao động, tham quan, dạo chơi…) Dưới sựhướng dẫn của cô giáo, trẻ được nghe cô nói, bạn nói sau đó trẻ ghi nhớ các cấutrúc ngữ pháp một cách tổng quát Nhờ sự lặp đi lặp lại các cấu trúc ngữ pháp

mà trẻ nghe được, trẻ nhập tâm, bắt chước và tập sử dụng vào các tình huốngkhác trong hoạt động ngôn ngữ của trẻ

- Nhiệm vụ thứ ba là giáo dục ngữ âm cho trẻ mẫu giáo lớn

Trang 16

Giáo dục ngữ âm cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi là giáo dục kỹ năng ghinhận, phân biệt các loại âm thanh và quá trình tái hiện âm thanh Hai quá trìnhnày được phát triển đồng thời trong mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau Phát triểnngữ âm cho trẻ mẫu giáo lớn được tiến hành dựa trên cơ sở trực quan và hànhđộng Để phát triển khả năng ghi nhận và phân biệt các loại âm thanh cho trẻ, côgiáo không cần phát âm rõ ràng các âm tiết rời rạc cho trẻ nghe mà phải gắn vớilời nói của mình Với các tình huống cụ thể trong quá trình tổ chức các hoạtđộng đa dạng của trẻ ở trường mầm non nhằm giúp trẻ được nghe các âm thanh

đa dạng, các ngữ điệu khác nhau trong lời nói Đồng thời, để rèn luyện kỹ năngtái hiện âm thanh, cô giáo có thể tổ chức cho trẻ kể lại chuyện theo tác phẩm vănhọc, đọc thơ, diễn kịch hoặc thông qua hoạt động vui chơi

Tóm lại, việc phát triển lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đượcthực hiện thông qua ba nhiệm vụ: phát triển vốn từ, đặc biệt là mặt ngữ nghĩacủa từ; hình thành cấu trúc ngữ pháp tiếng việt và rèn luyện kỹ năng phát âm

Ba nhiệm vụ này được tiến hành đồng thời trong mối quan hệ chặt chẽ vóinhau, tương hỗ lẫn nhau Sự mạch lạc trong lời nói của trẻ 5 – 6 tuổi được thểhiện ở cách dùng từ ngữ, cách sử dụng câu và cách cấu âm như thế nào để ngườinghe hiểu một cách trọn vẹn, đầy đủ ý nghĩa, tình cảm của trẻ Nếu như việctrao đổi, đàm thoại giữa cô giáo với trẻ, giữa trẻ với trẻ là hình thức phát triểnkhả năng mạch lạc trong lời nói đối thoại thì việc kể chuyện cho trẻ nghe và dạytrẻ kể lại chuyện là hình thức phát triển khả năng mạch lạc trong lời nói độcthoại

1.1.2 Một số đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn

1.1.2.1 Đặc điểm tâm lý

Ý thức về cái tôi phát triển mạnh Trẻ hiểu được chính mình và biết đượcphẩm chất của mình, trẻ biết được những người xung quanh đối xử với mình rasao, chúng bắt đầu ý thức được những hoạt động của bản thân Trẻ hay đưa racác lời nhận xét về bản thân mình và người khác Trẻ thích tự mình quyết định

Trang 17

việc của mình Trẻ bắt đầu thích nghe chuyện có chút kịch tính, phức tạp hơnchuyện của trẻ 4 tuổi.

Tính hiếu kì phát triển mạnh: Trẻ có sự tưởng tượng rất phong phú chính vìthế mà chúng rất hiếu kỳ, cái gì cũng muốn tìm hiểu, muốn biết Khi thấy cái gìmới lạ, trẻ tò mò ngắm nghía; được đi ra ngoài thì ngó trước ngó sau và luônmiệng đặt câu hỏi “tại sao?” Để thỏa mãn cho sự tò mò trẻ thường thích hỏihan, thăm dò để tìm ra đáp án Vì thế cha mẹ nên cố gắng giải thích cho conmình hiểu một cách chi tiết, đừng quá qua loa Nếu không trẻ sẽ cảm thấy mất

đi hứng thú để tìm hiểu mọi vật xung quanh, mà chúng chỉ dựa vào nhữngsuy đoán của mình

Tâm lý không ổn định: Trẻ có tâm lý không ổn định, lúc khóc lúc cười, haygiận hờn và nổi cáu Chúng bắt đầu có tính ích kỷ, không muốn chia sẻ bất cứcái gì là của mình và thích đặt mình là trung tâm Trẻ rất nhạy cảm hay tủi thânnếu bố mẹ không chú ý, buồn nếu bị mắng và thường cảm thấy rất có lỗi nếulàm sai việc gì Trẻ cũng hiếu thắng, luôn mong muốn mình phải làm đúng, làmtốt mọi việc Ở độ tuổi này trẻ rất thích xem phim hoạt hình, múa rối, truyệntranh… tất cả những phim ảnh có hình tượng cụ thể Dễ rơi vào trạng thái lúngtúng, xấu hổ

Chuẩn bị về mặt tâm lý cho trẻ vào lớp một là bước ngoặt quan trọng trong sựphát triển của trẻ

* Đặc điểm tri giác:

Trẻ mẫu giáo thường tri giác những gì phù hợp với nhu cầu, những gì thườnggặp hoặc được giáo viên chỉ dẫn Tính cảm xúc thể hiện rất rõ khi trẻ tri giác.Những gì trực quan rực rỡ, sinh động được trẻ trực giác tốt hơn Điều này chothấy tính cần thiết phải đảm bảo tính trực quan trong dạy học nói chung và trongdạy kể chuyện nói riêng

* Đặc điểm chú ý:

Trang 18

Chú ý không chủ định phát triển mạnh ở trẻ 5 – 6 tuổi Sự chú ý của trẻ tậptrung vào những gì mới mẻ, rực rỡ Chú ý có chủ định còn thiếu, các em chỉthực sự chú ý khi có động cơ cần thúc đẩy như: được cô khen, được các bạn biểudương, thán phục… Vì vậy khen thưởng có ý nghĩa lớn với các em.

* Đặc điểm trí nhớ:

Ở tuổi này trí nhớ trực quan phát triển mạnh hơn trí nhớ từ ngữ logic Các trẻghi nhớ những sự vật, hiện tượng cụ thể dễ dàng hơn nhiều so với những lời giảithích dài dòng, khuynh hướng ghi nhớ máy móc là đặc điểm nổi bật và cần đượcphát huy trong môn kể chuyện cho trẻ

* Đặc điểm tưởng tượng:

Trẻ mẫu giáo là tuổi thần tiên, lứa tuổi có nhiều trí tưởng tượng phong phúnhất, trẻ có thể tưởng tượng mình được gặp Hoàng tử, Công chúa hay hóa thânthành Lọ Lem, Bạch Tuyết… Đó là những giấc mơ hết sức hồn nhiên và đángyêu của trẻ Song tưởng tượng của trẻ còn tản mạn, rời rạc Những đồ dùng trựcquan sinh động, những cử chỉ điệu bộ, ngôn ngữ giàu nhạc điệu của giáo viên làđiều kiện tốt để trẻ hình thành tưởng tượng

* Sự phát triển nhân cách:

Trẻ từ 3 – 6 tuổi là thời điểm quan trọng cho việc hình thành và phát triểnnhân cách Ở lứa tuổi này, những tác động giáo dục từ phía nhà giáo dục ảnhhưởng chủ đạo đến sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ thơ Trong giaiđoạn 5 – 6 tuổi, sự phát triển nhân cách của trẻ tương đối êm đềm, phẳng lặng.Tuy nhiên cũng có những biểu hiện rõ nét mới: trẻ dễ xúc động, khó kìm hãmcảm xúc Tình cảm của trẻ gắn liền với đặc điểm trực quan, hình ảnh cụ thể

1.1.2.2 Đặc điểm sinh lý

Ở trẻ mẫu giáo lớn, sự phát triển diễn ra chậm hơn so với giai đoạn trước

Trang 19

- Về số lượng: Chiều cao trung bình tăng từ 4 – 6cm, đạt 105,5 – 125,5cm;cân nặng tăng khoảng 1 – 2,5kg, đạt khoảng 15,7kg, có sự thay đổi rõ rệt vềchất lượng.

- Về hệ thần kinh: trẻ 5 – 6 tuổi cường độ và tính linh hoạt của các quá trìnhthần kinh tăng lên rõ rệt Trẻ có thể tập trung chú ý vào một đối tượng nhất địnhtrong thời gian 25 – 30 phút Đồng thời, ở lứa tuổi này vai trò của hệ thống tínhiệu thứ hai ngày càng tăng Tư duy bằng từ ngày càng tăng, ngôn ngữ bêntrong xuất hiện Chức năng khái quát hóa của từ đã có bước nhảy vọt gần nhưngười lớn ở chỗ sự khái quát hóa được thể hiện theo hoạt động với đồ vật Vìthế tư duy bằng hành động vẫn giữ vai trò quan trọng trong thần kinh cấp caocủa trẻ

Ở lứa tuổi này trẻ có thể học đọc và học viết Ngoài ra, do sự phát triển của

hệ thần kinh nên số lần ngủ trong ngày và thời gian ngủ của trẻ cũng giảmxuống còn 11 giờ/ngày

- Cơ quan phân tích: Trẻ 5 – 6 tuổi đã có khả năng phân biệt được một số màutrung gian Trẻ có khả năng thu nhận và phân biệt những kích thích (hình dáng,màu sắc…) càng phong phú Nhưng mức độ phong phú đó lại phụ thuộc vào sựluyện tập của từng trẻ

- Về hệ vận động: trẻ 5 – 6 tuổi có sự phối hợp vận động của nhiều nhóm cơnhư ở người lớn Còn việc tiếp thu những thói quen và vận động còn phụ thuộcvào đặc điểm của từng cơ thể trẻ, nhất là sự luyện tập phù hợp

- Về hệ tuần hoàn: thành phần máu của trẻ cũng tăng lên và biến đổi về chất:huyết sắc tố 80 – 90%; hồng cầu 4,5 – 5 triệu đơn vị; bạch cầu 7 – 10 nghìn; tiểucầu 200 – 300 nghìn Ngoài ra, tần số co bóp của tim cũng tăng lên từ 80 – 110lần/phút

Trang 20

- Về hệ hô hấp: khe thanh âm ngắn, thanh đới ngắn, trẻ có giọng nói caohơn so với người lớn Nhịp thở của trẻ giảm dần, cơ quan phát âm của trẻphát triển và hoàn thiện làm cho ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển.

Tóm lại, trẻ 5 – 6 tuổi thì não bộ và thần kinh đã phát triển và dần hoànthiện nên trẻ rất dễ bị kích động Do vậy người lớn và giáo viên cần tránh quátmắng, nạt nộ trẻ, ngắt lời thô bạo khi trẻ đang tham gia học tập, vui chơi Giáoviên cần nhẹ nhàng, dịu gàng và tế nhị trong quá trình dạy trẻ kể chuyện

1.1.2.3 Đặc điểm tư duy

Sự phát triển tư duy ở độ tuổi 5 – 6 tuổi mạnh mẽ về kiểu loại, các thaotác và thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng;thông tin giữa mới và cũ, gần và xa…

Tư duy trực quan – hành động và tư duy trực quan – hình ảnh vẫn tiếp tụcphát triển, nghĩa là trẻ em giải quyết nhiệm vụ vẫn phải dựa vào các thaotác bằng tay và các hình ảnh trực quan

Đặc điểm nổi trội của trẻ ở giai đoạn này là xuất hiện một loại tư duy trựcquan mới: tư duy trực quan – sơ đồ Đây là trình độ phát triển cao nhất của

tư duy trực quan – hình ảnh, đây cũng là cơ sở để trẻ em phát triển tư duytưởng tượng

Kiểu tư duy này tạo ra cho trẻ một khả năng phản ánh những mối liên hệtồn tại khách quan, không bị phụ thuộc vào hành động hay ý muốn chủquan của bản thân đứa trẻ

Có nhiều dạng tri thức nếu chỉ giải thích bằng lời hay tổ chức hành động với

đồ vật trẻ trẻ vẫn không thể lĩnh hội được Nhưng nếu tổ chức cho trẻ hànhđộng với sơ đồ trực quan thì trẻ sẽ lĩnh hội được một cách dễ dàng Ví dụ: chỉcần một sơ đồ đơn giản là một tờ giấy được cắt ra làm nhiều mảnh rồi từnhững mảnh đó chắp lại với nhau để tạo thành tờ giấy như cũ thì việc làm

Trang 21

đó giúp trẻ hiểu rõ một nguyên lý khá trừu tượng là: bất cứ một đối tượngnguyên vẹn nào cũng có

Trang 22

thể chia ra thành nhiều bộ phận nhỏ và lại có thể khôi phục những bộ phận đólại thành một chỉnh thể Tư duy trực quan – sơ đồ giúp trẻ một cách có hiệulực để lĩnh hội những tri thức ở trình độ khái quát cao, từ đó mà hiểu được bảnchất của sự vật Tuy nhiên tư duy của trẻ vẫn bị sơ đồ khống chế hoàn toàncho nên trẻ chưa tiếp thu được những mối quan hệ trừu tượng tách khỏi sơ đồ,nghĩa là chưa tiếp thu được khái niệm khoa học, chỉ khi vào học lớp một thì trẻmới tiếp thu được.

Tư duy của trẻ đang có bước chuyển biến quan trọng, tự nhận biết những

sự vật hiện tượng cụ thể chuyển sang nhận biết những hình ảnh khái quát đó

* Đặc điểm phát âm (ngữ âm, ngữ điệu):

- Trẻ 5 – 6 tuổi: đã dần hoàn thiện về mặt ngữ âm Các phụ âm đầu, âmcuối, âm đệm, thanh điệu dần được định vị Trẻ phát âm đúng hầu hết cáchình thức của âm thanh ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ và phát âm đúng ngay cảnhững âm và vần khó, khả năng sử dụng giọng nói biểu cảm hơn

Ví dụ: khúc khuỷu, thuyền buồm, nghênh ngang, loanh quanh…

- Trẻ học và bắt chước ngữ điệu của người lớn rất tốt, bước đầu đã biết sử

dụng các phát triển đơn giản của giọng như cao độ, cường độ, trường

độ

Trang 23

Ví dụ: Khi kể chuyện diễn cảm trẻ biết lên giọng, xuống giọng, biết ngắt, nghỉđúng chỗ.

Trang 24

* Đặc điểm vốn từ:

- Trẻ mẫu giáo lớn vốn từ đang ở thời kỳ phát cảm Vì vậy, số lượng từ tăngnhanh khoảng 1300 – 2000 từ; danh từ và động từ vẫn chiếm ưu thế, số lượngtính từ và các loại từ khác đã tăng dần lên; có khả năng sử dụng tính từ chỉmức độ, đặc điểm tính chất của sự vật hiện tượng; trẻ sử dụng từ rất nhanh vàsáng tạo

- Trẻ đã sử dụng chính xác các từ chỉ tính chất không gian như: cao - thấp,dài – ngắn, rộng – hẹp; các từ chỉ tốc độ như: nhanh - chậm; các từ chỉ màusắc: xanh, đỏ, vàng, đen, trắng Ngoài ra các từ có khái niệm tương đối như:hôm qua, hôm nay, ngày mai trẻ dùng còn chưa chính xác Một số trẻ cònbiết sử dụng các từ chỉ màu sắc khó hơn như: xanh lá cây, da cam, tím, xám.Tuy nhiên trẻ sử dụng một số từ còn chưa chính xác

Ví dụ: Hoa có t h í t ăn kem không? (thích)

* Đặc điểm phát triển ngữ pháp:

- Trẻ đã biết dùng câu chính xác và dài hơn

 Câu ghép chính phụ: Con thích bông hoa thôi, màu bông hoa đẹp mà bạnMai lại hái rồi

 Câu phức đẳng lập: Vân đi chơi, Vân không làm bài tập

- Trẻ ít sử dụng câu cụt hơn Tuy nhiên trong một số trường hợp trẻ dùng từkhông chính xác Ví dụ: Mẹ ơi, con muốn cái váy kia!

Chủ yếu trẻ vẫn sử dụng câu đơn mở rộng

* Đặc điểm sự phát triển các loại ngôn ngữ:

Bước sang giai đoạn 5 – 6 tuổi hình thành ở trẻ ba loại ngôn ngữ: Ngôn ngữngữ cảnh; ngôn ngữ tình huống; ngôn ngữ giải thích (ngôn ngữ mạch

lạc)

Trang 25

- Ngôn ngữ ngữ cảnh: Trẻ biết dùng ngôn ngữ mô tả những điều mắtthấy, tai nghe cho người lớn hiểu mà không dựa vào tình huống cụ thể Yêucầu với loại ngôn ngữ này trẻ phải diễn đạt rõ ràng, khúc chiết.

Trang 26

- Ngôn ngữ tình huống: Trẻ sử dụng khi đối thoại với người lớn Khi giaotiếp với những người xung quanh trẻ sử dụng nhiều yếu tố trong tình huốnggiao tiếp để hỗ trợ cho ngôn ngữ của mình Như vậy, chỉ có những người đanggiao tiếp với trẻ lúc đó mới hiểu được trẻ đang nói gì.

- Ngôn ngữ mạch lạc: Phát triển mạnh bởi vì bước sang tuổi này làm nảysinh nhu cầu trẻ phải giải thích nội dung, chủ đề và lựa chọn bức tranh, đồchơi và giải thích để người lớn hiểu được những điều trẻ mong muốn

Ở lứa tuổi này trẻ biết trình bày theo một trật tự xác định làm nổi bậtđược những ý cơ bản để người lớn đồng tình hay không đồng tình

Yêu cầu trẻ có ngôn ngữ mạch lạc là trước khi giải thích một điều gì đó thìtrẻ phải nghĩ trong đầu, nghĩa là có sự tham gia của tư duy

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Chương trình học của trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non

Chương trình học chung cho tất cả các trẻ ở độ tuổi mẫu giáo lớn về việcphát triển ngôn ngữ cho trẻ do Bộ giáo dục và đào tạo ban hành bao gồm banội dung chính là: nghe, nói và làm quen với đọc viết

* Nghe

- Trẻ hiểu được các từ khái quát, từ trái nghĩa

- Trẻ hiểu và làm theo được 2, 3 yêu cầu liên tiếp

- Nghe hiểu nội dung các câu đơn, câu mở rộng, câu phức

- Nghe hiểu nội dung truyện kể, truyện đọc phù hợp với độ tuổi

- Nghe các bài hát, bài thơ, ca dao, đồng dao, tục ngữ, câu đố, hò, vè phùhợp với độ tuổi

* Nói

- Phát âm các tiếng có phụ âm đầu, phụ âm cuối gần giống nhau và các thanhđiệu

Trang 27

- Bày tỏ tình cảm, nhu cầu và hiểu biết của bản thân rõ ràng, dễ hiểu bằng cáccâu đơn, câu ghép khác nhau.

- Trả lời các câu hỏi về nguyên nhân, so sánh: “Tại sao?”, “Có gì giốngnhau?”, “Có gì khác nhau?”, “Do đâu mà có?”…

- Đặt các câu hỏi: “Tại sao?”, “Như thế nào?”, “Làm bằng gì?”…

- Biết sử dụng các từ biểu cảm, hình tượng

- Nói và thể hiện cử chỉ, điệu bộ, nét mặt phù hợp với yêu cầu, hoàn cảnh giao tiếp

- Đọc thơ, ca dao, đồng dao, tục ngữ, hò vè

- Kể lại chuyện đã được nghe theo trình tự

- Kể chuyện theo đồ vật, theo tranh

- Kể lại sự việc theo trình tự

- Đóng kịch

* Làm quen với đọc, viết

- Làm quen với một số kí hiệu thông thường trong cuộc sống (nhà vệ sinh, lối

ra, nơi nguy hiểm, biển báo giao thông: đường cho người đi bộ…)

- Nhận dạng các chữ cái

- Tập tô, tập đồ các nét chữ

- Sao chép một số kí hiệu, chữ cái tên của mình

- Xem và nghe đọc các loại sách khác nhau

- Làm quen với cách đọc và viết tiếng Việt:

+ Hướng đọc, viết: từ trái sang phải, từ dòng trên xuống dòng dưới

+ Hướng viết của các nét chữ; đọc ngắt nghỉ sau các dấu

- Phân biệt phần mở đầu, kết thúc của sách

- “Đọc” truyện qua các tranh vẽ

- Giữ gìn, bảo vệ sách

1.2.2 Thực tiễn dạy học ở trường mầm non Đại Thịnh

Trang 28

Thực tiễn dạy học ở trường Mầm non Đại Thịnh cho thấy việc phát triểnngôn ngữ cho trẻ ở các lớp mẫu giáo đã được thực hiện nhưng chưa thật sựđược quan tâm thích đáng.

Phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm nonthông qua hoạt động kể chuyện (theo đồ chơi, theo tranh) không phải là mộtviệc làm dễ dàng gì Trường mần non Đại Thịnh gồm có 4 lớp mẫu giáo lớn, mỗilớp trên

40 trẻ Để phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ đòi hỏi phải có sự quan tâm,hướng dẫn tỉ mỉ, chú ý đến khả năng của từng trẻ Tuy nhiên, thời gian dànhcho mỗi tiết học kể chuyện chỉ từ 30 – 35 phút mà để phát triển lời nói mạchlạc cho mấy chục trẻ thì giáo viên nào cũng thấy e ngại cho việc chuẩn bị đồdùng, đồ chơi Sĩ số lớp quá đông như vậy là một khó khăn rất lớn đối với việcgiảng dạy của giáo viên; do đó khó có thể mà đạt kết quả tốt cho trẻ được Đa

số giáo viên đều nói rằng do công việc quá tải nên không có thời gian để lại làmcác bộ tranh hay đồ chơi mới để phục vụ cho giờ dạy kể chuyện Vì vậy, giáoviên thường tận dụng các bộ tranh hay những đồ chơi từ những năm họctrước Điều này làm giảm đi đáng kể sự hứng thú, tích cực của trẻ khitham gia vào các giờ kể chuyện

Bên cạnh đó việc giáo viên lựa chọn các đồ chơi, câu chuyện chưa phù hợpvới khả năng và hứng thú của trẻ; chưa nắm vững các phương pháp phát triểnlời nói mạch lạc cho trẻ; còn thiếu kiến thức và kỹ năng cảm thụ nên chưa giảiđáp được một số thắc mắc của trẻ… cũng là một trong những lý do làm giảmhiệu quả của việc phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5 – 6 tuổi

Tại trường mầm non, việc phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ thông quahoạt động kể chuyện (theo đồ chơi, tranh) được tiến hành qua tiết học làmquen với văn học Với trẻ 5 – 6 tuổi thì chủ yếu là trẻ kể lại chuyện theo tranh,

Trang 29

bộ tranh theo chủ đề còn hình thức kể lại chuyện theo đồ chơi ta thường thấy

ở độ tuổi mẫu giáo bé hoặc mẫu giáo nhỡ hơn

Trang 30

Đa số các giờ học đều có sự chuẩn bị đầy đủ giáo án, đồ dùng Tuy nhiênviệc chuẩn bị này lại chưa đem lại hiệu quả, các giờ dạy trẻ kể chuyện còn rậpkhuôn, máy móc Thường diễn ra theo trình tự: cô kể mẫu câu chuyện kết hợpvới đồ dùng (đồ chơi, tranh ảnh); cô đàm thoại cùng trẻ; cô chia nhóm trẻquan sát, thảo luận câu chuyện; cô gọi các trẻ khá giỏi lên đại diện nhóm kểlại câu chuyện; kết thúc – cô nhận xét giờ học.

Giáo viên vẫn chưa tạo nhiều cơ hội kích thích trẻ kể lại, tự diễn đạt bằngngôn ngữ của mình Việc kể mẫu này cũng làm cho trẻ thụ động, bắt chướcnhau và bắt chước theo câu chuyện của cô

Qua quan sát, chúng tôi thấy được rằng khả năng phát triển lời nói mạch lạccủa trẻ ở trong lớp là không đồng đều Trong lớp cũng có những trẻ rất tíchcực trong giờ học kể chuyện đặc biệt là các giờ học kể lại chuyện theo tranh.Ngôn ngữ kể chuyện của trẻ phát triển tốt, nhìn vào các bức tranh của cô trẻ

có thể kể một cách rõ ràng, mạch lạc Bên cạnh đó cũng có những trẻ có khảnăng tự kể chuyện nhưng vẫn chưa mạch lạc Nhiều trẻ còn chưa biết cáchbắt đầu câu chuyện, nội dung lộn xộn, dài dòng, chưa có sự liên kết các chi tiết,hình ảnh, sai ngữ pháp…mà giáo viên vẫn chưa sửa kịp thời

Một số trẻ nhút nhát nên không tự tin khi tham gia vào các hoạt động giaotiếp hay tham gia trò chuyện trong các giờ học kể chuyện Trẻ không mạnh dạnnói lên điều mà trẻ biết, trẻ nghĩ dù đã được khuyến khích, động viên, gợi ý.Bên cạnh đó, một số trẻ lại quá nghịch ngợm, hiếu động nên trong các giờ họctrẻ không chú ý nghe cô kể chuyện, không tham gia kể chuyện cùng các bạn Do

đó kỹ năng giao tiếp còn nhiều hạn chế, làm cản trở quá trình phát triển lờinói mạch lạc của trẻ

Có thể thấy việc dạy trẻ kể chuyện là rất hữu ích cho sự phát triển ngôn ngữ

Trang 31

cho trẻ tuy nhiên để áp dụng vào thực tế giảng dạy là điều khó khăn về nhiều

Trang 32

mặt như: sĩ số lớp quá đông; đồ dùng dụng cụ thiếu thốn, không đa dạng;

áp dụng các biện pháp chưa phù hợp…

Trang 33

CHƯƠNG 2 DẠY TRẺ KỂ CHUYỆN THEO ĐỒ CHƠI, THEO TRANH

2.1 Dạy trẻ kể chuyện theo đồ chơi

2.1.1 Tầm quan trọng của việc dạy trẻ kể chuyện theo đồ chơi

Đồ chơi là những đồ vật được tạo dáng đơn giản, màu sắc bắt mắt môphỏng cấu tạo và hoạt động tương ứng của đồ vật, con vật trong thực tế

Đồ chơi là người bạn thân thiết của trẻ em, nó là phương tiện giúp trẻ làmquen với thế giới xung quanh, là nguồn vui của trẻ em

Nếu trẻ nhìn thấy những đồ chơi đẹp, hấp dẫn trẻ có thể ghi nhớ rất rõđặc điểm của đồ chơi đó và trẻ có thể kể lại đúng những gì chúng thấy.Điều

đó rất có lợi cho sự phát triển trí nhớ của trẻ Kể chuyện theo đồ chơi mangđến cho trẻ niềm vui thích to lớn và qua đó góp phần phát triển trí tuệ, tìnhcảm và ngôn ngữ của trẻ

Đồ chơi không chỉ có sức hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý của trẻ mà còn có ýnghĩa to lớn trong sự phát triển óc thẩm mỹ và năng lực cảm thụ cái đẹp.Chẳng hạn, khi trẻ nhìn thấy một con gấu bông, trẻ sẽ không rời mắt khỏi

nó sẽ nảy sinh lòng yêu thích đối với nó, thấy mọi đặc điểm của nó rất đẹp(màu hồng, đôi mắt đen, hai tai bé bé…)

2.1.2 Đặc điểm của dạy trẻ kể chuyện theo đồ chơi

Những giờ học kể chuyện với đồ chơi có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển lờinói của trẻ từ tuổi mẫu giáo Những giờ học như vậy diễn ra trong hình thứcxúc cảm, sinh động ngay từ tuổi mẫu giáo bé

Điều quan trọng nhất khi dạy trẻ kể chuyện theo đồ chơi là phải lựa chọn

đồ chơi cho phù hợp với lứa tuổi Ở lớp bé là đồ chơi đơn giản, một khối Trẻlớn có thể sử dụng các đồ chơi lắp ghép nhiều bộ phận (đoàn tàu, ngôi nhà…)hoặc các đồ chơi phức tạp hơn

Trang 34

Có thể sử dụng nhiều đồ chơi khác nhau để trẻ có thể quan sát, sử dụng, trao

đổi về nó nhưng không nên chọn loại quá to

Trẻ thường lựa chọn những đồ chơi yêu thích có cùng tên gọi nhưng có bềngoài khác nhau Sự lựa chọn như vậy tạo điều kiện tích cực hóa vốn từ vàphát triển lời nói mạch lạc trên cơ sở sử dụng biện pháp so sánh Ví dụ côcho trẻ quan sát hai chú mèo sau đó hỏi trẻ: “Các con hãy quan sát xem đây làcon gì?”, “Nhìn hai chú mèo xem tai của nó thế nào?”; “Chân nó thế nào?”,

“Tiếng kêu của nó ra sao?”, “Nó biết làm gì?”

“Mèo con còn có cả bạn nữa Các con hãy nhìn xem mắt, tai, chân của nónhư thế nào?”

Sau đó cô kể câu chuyện về hai bạn mèo cho trẻ nghe và yêu cầu trẻ kể về một chú mèo bất kỳ nào đó

Nếu trẻ gặp khó khăn khi đặt lời kể, cô sử dụng các câu hỏi để hỗ trợ trẻ:

“Bạn Mèo ấy trông như thế nào? Đôi mắt của bạn ấy có màu gì? ” Sau đó côghép các câu từ, lời kể vào lời kể chung và đề nghị trẻ nhắc lại

Từ ví dụ trên, ta có thể thấy được rằng việc xem đồ chơi và cho trẻ đặt câuchuyện miêu tả nhất thiết bao hàm việc giải quyết các nhiệm vụ từ vựng vàngữ pháp Trẻ lựa chọn các định ngữ cần thiết, tổ chức hình thức ngữ pháptương ứng và trên ngữ liệu đó xây dựng lời kể mạch lạc Miêu tả đồ chơi bắtđầu từ những câu hỏi mà giáo viên đã suy nghĩ cẩn thận khi nêu ra nó Khitrẻ trả lời các câu hỏi, trẻ chú ý đến đặc trưng bên ngoài của đồ chơi (màu,hình, chất liệu), lựa chọn so sánh, định nghĩa (với sự giúp đỡ của cô giáo) vàmột cách tự nhiên chuyển sang đặt lời kể Chuyện kể của cô giáo sẽ trở thànhmẫu

2.1.3 Yêu cầu trong giờ dạy trẻ kể lại chuyện theo đồ chơi

Trang 35

Ở tuổi mẫu giáo lớn, những giờ học sử dụng đồ chơi phát triển ngôn ngữmạch lạc diễn ra theo các cách khác nhau: Đặt các lời kể miêu tả, có cốt truyệnvới một đồ chơi hoặc một nhóm đồ chơi Trẻ rất thích các giờ học kiểunày.

Trang 36

Chúng nhìn nhận theo một cách mới các đồ chơi quen thuộc và chú ý quan sátcác hành động của đồ chơi trong lời kể Cô giáo phải đặc biệt chú ý phân tíchcác câu chuyện do trẻ tự nghĩ ra Cô nên nhận xét, đánh giá trước tiên cả cốttruyện lý thú, cả sự không bình thường, hành vi của các nhân vật đồ chơi, cảngôn ngữ kể chuyện, hình thức được dùng để chuyển tải nội dung Sau giờ học

cô nên đặt các đồ chơi ấy vào một chỗ để trẻ có thể chơi với chúng và sángtạo ra các “vở diễn” khác Cô giáo nên tham gia vào các trò chơi này, chú ý đếnnội dung câu chuyện của trẻ

Khi trẻ đã nắm vững kỹ năng sáng tạo các câu chuyện có chủ đề, cô có thểkhông cần đưa ra mẫu đầy đủ, chỉ cần nhấn mạnh cốt truyện Riêng đối với trẻcuối mẫu giáo lớn, có thể đặt ra những câu chuyện đồ chơi tập thể Đầu tiêntrẻ có thể bàn bạc xem nên chọn đồ chơi nào, thống nhất chung về cốttruyện, sau đó tiến hành trình diễn Những giờ học như vậy tạo điều kiện hìnhthành quan hệ qua lại giữa trẻ, dạy cho chúng thống nhất quan điểm với nhau,thỏa thuận được sự phân công

2.1.4 Quy trình thực hiện khi dạy trẻ kể chuyện theo đồ chơi

* B ư ớ c 1 : Lựa chọn đồ chơi

Đây là bước đầu tiên và rất quan trọng trong quá trình dạy trẻ kể chuyện Các

đồ chơi chuẩn bị cho trẻ quan sát phải đẹp, hấp dẫn, lôi cuốn chú ý Việcchọn đồ chơi phù hợp sẽ tạo được sự hứng thú cho trẻ trong quá trình trigiác với chúng Khi trẻ chọn được đồ chơi mình thích thì trẻ sẽ hăng say kể về

đồ chơi đó Khi lựa chọn đồ chơi, trẻ phải biết gọi tên đồ chơi đó

Ví dụ: Cô đặt 2 đồ chơi lên bàn

- Đồ chơi thứ nhất: con mèo

- Đồ chơi thứ hai: con gấu

Cô cho trẻ lên chọn đồ chơi Trẻ chọn đồ chơi thứ nhất và phải nói được đólà

Trang 37

“con mèo”

Trang 38

Quá trình hướng dẫn trẻ quan sát là quá trình có mục đích, có kế hoạch, thứ

tự đi từ sự phân tích mặt này đến sự phân tích mặt khác Cô vừa đưa ra từ mớivừa củng cố từ cũ

Ví dụ: Quan sát con mèo:

Cô hướng dẫn trẻ quan sát tổng thể trước gồm các bộ phận như đầu, mình,

đuôi, chân

Sau đó mới đi vào quan sát chi tiết các bộ phận như: mắt (tròn, màu xanh), lông (màu trắng, mềm mượt), mũi (nhỏ, màu hồng)…

Chất liệu: con mèo được làm bằng bông, vải

* B ư ớ c 3 : Đối thoại, giải thích

Sau khi cho trẻ quan sát kỹ đồ chơi, giáo viên sử dụng biện pháp đối thoại

để dẫn dắt trẻ nói ra những đặc điểm, thuộc tính của đồ chơi đó Có 2 hìnhthức đối thoại chủ yếu là cô hỏi – trẻ trả lời, trẻ hỏi – trẻ khác trả lời

Ví dụ: cho trẻ xem đồ chơi con mèo, với hình thức đối thoại cô – trẻ, cô có thểhỏi trẻ theo dàn ý sau:

- Các con hãy nhìn và nói xem mắt con mèo như thế nào? (Tròn, màuxanh)

- Lông của nó thế nào? (Mềm)

- Có thể dùng những từ gì để tả về nó? (Lông mềm, hiền lành, đáng yêu…)

Ngày đăng: 06/01/2020, 08:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Âm (1997), Giáo dục học mầm non (tập I, II, III), NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: NXB ĐHQGHà Nội
Năm: 1997
2. Vũ Thị Hương Giang (2007), Một số biện pháp dạy trẻ 5 – 6 tuổi kể chuyện với đồ chơi nhằm phát triển lời nói mạch lạc, Luận án tiến sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp dạy trẻ 5 – 6 tuổi kể chuyện với đồ chơi nhằm phát triển lời nói mạch lạc
Tác giả: Vũ Thị Hương Giang
Năm: 2007
3. Âu Thị Hảo (2002), Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi kể lại truyện văn học nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ, Luận văn thạc sỹ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi kể lạitruyện văn học nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ
Tác giả: Âu Thị Hảo
Năm: 2002
4. Nguyễn Xuân Khoa (2004), Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
Tác giả: Nguyễn Xuân Khoa
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2004
5. Đinh Hồng Thái (2007), Giáo trình phương pháp phát triển lời nói trẻ em, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp phát triển lời nói trẻ em
Tác giả: Đinh Hồng Thái
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2007
6. Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên), Nguyễn Thị Như Mai, Đinh Thị Kim Thoa (2007), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên), Nguyễn Thị Như Mai, Đinh Thị Kim Thoa
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2007
7. Nguyễn Thị Xuân (2005), Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua kể chuyện theo tranh, Luận án tiến sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua kể chuyện theo tranh
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân
Năm: 2005
8. Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan (1997), Giáo trình sinh lí học trẻ em, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lí học trẻ em
Tác giả: Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w