1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua tập thơ “bài ca trái đất” của định hải (2017)

74 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON===o0o=== ĐINH THỊ THU PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA TẬP THƠ “BÀI CA TRÁI ĐẤT” CỦA ĐỊNH HẢI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

===o0o===

ĐINH THỊ THU

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA TẬP THƠ “BÀI CA TRÁI ĐẤT”

CỦA ĐỊNH HẢI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành:Phương pháp phát triển ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học

TS Lê Thị Thùy Vinh

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sưphạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và các thầy côgiáo trong tổ bộ môn phương pháp phát triển ngôn ngữ đã giúp đỡ emtrong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóaluận tốt nghiệp

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo

-TS Lê Thị Thùy Vinh - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trongquá trình học tập, nghiên cứu và giúp em hoàn thành khóa luận này

Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu xót vàhạn chế Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo

và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Đinh Thị Thu

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi với sựhướng dẫn tận tình của cô giáo ThS Lê Thị Thùy Vinh Đề tài chưa được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Đinh Thị Thu

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Cấu trúc đề tài 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Cơ sở lí luận 1.1.1 Cơ sở tâm lí học 6

1.1.2 Cơ sở giáo dục học 8

1.1.3 Cơ sở sinh lí học 9

1.1.4 Cơ sở ngôn ngữ học 11

1.1.5 Các khái niệm cơ bản 13

1.5.1 Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non 13

1.5.2 Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn 17

1.2 Cơ sở thực tiễn 1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ của nhà thơ Định Hải 20

1.2.2 Khảo sát thực trạng……….22

Chương 2 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA TẬP THƠ “BÀI CA TRÁI ĐẤT” CỦA ĐỊNH HẢI 27

2.1 Từ ngữ trong tập thơ “Bài ca trái đất” của nhà thơ Định Hải 27

2.1.1 Yếu tố ngôn ngữ trong tập thơ “Bài ca trái đất” 27

Trang 5

2.1.2 Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua thế giới trẻ thơ hồn nhiên, ngộ

nghĩnh qua tập thơ “Bài ca trái đất” của nhà thơ Định Hải

29 2.1.3 Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua thế giới trẻ thơ hồn hậu, trong sáng, đậm chất nhân văn qua tập thơ “Bài ca trái đất” của nhà thơ Định Hải

33 2.2 Các biện pháp phát triển vốntừ qua tập thơ “Bài ca trái đất” của nhà thơ Định Hải 35

2.2.1 Biện pháp đọc thơ cho trẻ nghe 36

2.2.2 Biện pháp đàm thoại 40

2.2.3 Biện pháp giải nghĩa của từ 41

2.2.4 Dạy trẻ học thuộc thơ 45

KẾT LUẬN 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 6

Mặt khác ngôn ngữ không có sẵn do di truyền, nó có được trong suốt quátrình trau dồi, học hỏi của trẻ Vì vậy để phát triển ngôn ngữ cần thực hiệnnhiệm vụ quan trọng là phát triển vốn từ Khi vốn từ của trẻ tăng lên trẻ có thểhiểu được nghĩa và diễn đạt chính xác hơn Trẻ có thể dễ dàng giao tiếp vớinhững người xung quanh, bộc lộ những suy nghĩ, ý muốn của bản thân mộtcách rõ ràng Đặc biệt ở giai đoạn 5 - 6 tuổi trẻ có thể hiểu và nói được nhiều

từ hơn, trẻ có khả năng nói những câu khó, phức tạp theo nhiều nghĩa khácnhau Do đó trẻ có nhu cầu rất lớn trong giao tiếp, tìm hiểu, khám phá thế giớixung quanh Để đáp ứng nhu cầu đó trẻ cần có vốn từ phong phú về tự nhiên,con người và xã hội

1.2.Mỗi con người chúng ta khi sinh ra ngay từ thuở lọt lòng đã đượcnghe những tiếng ru ầu ơ của bà, của mẹ thật ngọt ngào, tha thiết, trong trẻo

và bay bổng làm cho tâm hồn trẻ thơ cảm nhận được sự tuyệt vời của tiếng

mẹ đẻ khi còn nằm trong nôi Cũng chính vì lẽ đó mà thơ ca là phương thứcđắc lực bồi dưỡng những tâm hồn bé bỏng ấy không gì có thể thay thế được.Với nội dung trong sáng, lành mạnh, thơ như dòng sữa mẹ thơm mát thổi vàotâm hồn non nớt của trẻ những tình cảm tốt đẹp, trí tưởng tượng cũng như sựphát triển vốn từ cho trẻ

Đã có rất nhiều nhà thơ nổi tiếng có nhiều tác phẩm hay viết cho thiếunhi như: Phạm Hổ, Võ Quảng, Trần Đăng Khoa, Xuân Quỳnh… Trong số các

Trang 7

tác giả viết có thiếu nhi, Định Hải là một trong những người tâm huyết với

nghề, được bao thế hệ nhỏ tuổi đón nhận, yêu mến Với tập thơ nổi tiếng “Bài

ca trái đất”, Định Hải đã ghi dấu ấn riêng qua việc vẽ nên thế giới trẻ thơ

sống động, vừa hồn nhiên, ngây thơ vừa mang chiều sâu triết lí Tựu chung đó

là nghệ thuật chan chứa tình yêu thương, lòng nhân ái, sự bao dung giữa conngười với con người, giữa con người với thế giới tự nhiên Trong thế giới ấycây cỏ, động vật cũng được thổi một luồng sinh khí trở nên sống động, có hồn

như trong bài thơ “Cái nụ”, “Con vịt”, “Con chó và con mèo” Đọc “Bài ca

trái đất”, bạn đọc không chỉ bắt gặp trong đó thế giới trẻ thơ hồn nhiên, ngộ

nghĩnh mà còn cảm nhận được nét đẹp hồn hậu, trong sáng và đậm chất nhânvăn Sáng tác đã mang đến cho thế giới trẻ thơ những ước mơ, khát vọng vềcuộc sống tốt đẹp, nhân ái, góp phần tạo dựng và giáo dục phẩm chất, nhữngđức tính tốt cho các em Điều này được thể hiện qua những vần thơ ấm áp, nóilên tình yêu gia đình, yêu mến công việc lao động cũng như có những ước

mơ, khát vọng của tuổi thơ

Từ những lí do trên, chúng tôi đã mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài

“Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua tập thơ “Bài ca trái đất” của Định Hải” với mong muốn tìm hiểu rõ hơn việc sử dụng từ ngữ trong thơ

Định Hải để giúp trẻ phát triển vốn từ nói riêng và ngôn ngữ nói chung, từ đótruyền những cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ thơ Định Hải đến với các em

Trang 8

Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”, NXB

Đại học Sư phạm, 2004, tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã nói về phương phápphát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo rất chi tiết, tỉ mỉ và cụ thể, trên cơ sởnhững đánh giá chung về đăc điểm tâm sinh lí của trẻ ở lứa tuổi này, dựa trênmối quan hệ của bộ môn ngôn ngữ học với những bộ môn khác tác giả đã đưara

Tác giả Nguyễn Xuân Khoa cũng đã cung cấp tri thức cơ bản về tiếng

Việt trong 2 tập “Tiếng Việt”, NXB Đại học Sư phạm, 2003, từ đó giúp giáo

viên mầm non có vốn kiến thức cơ bản phục vụ tốt việc phát triển ngôn ngữ

mẹ đẻ cho trẻ mầm non

Trong cuốn“Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi”,

NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, các tác giả Hoàng Thị Oanh - PhạmThị Việt - Nguyễn Kim Đức đã nói lên tầm quan trọng của ngôn ngữ trongviệc giáo dục toàn diện cho trẻ và nêu sơ lược nội dung, phương pháp, biệnpháp để luyện phát âm, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, pháttriển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ

Đứng trên phương diện một nhà giáo dục học, tâm lí học, tác giả NguyễnÁnh Tuyết đã nghiên cứu ý nghĩa của truyện cổ tích trong việc bồi dưỡng cảmxúc lành mạnh và trong sáng góp phần giáo dục đạo đức cho trẻ trong cuốn

“Giáo dục mầm non, những vấn đề lí luận và thực tiễn”, 2007, NXB Đại học

Sư phạm

Trong cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non” (2005), tác giả

Nguyễn Ánh Tuyết cũng đã trình bày sự phát triển vốn từ ở từng giai đoạn,lứa tuổi

Tìm hiểu về thơ Định Hải và một số nhà thơ khác viết cho thiếu nhi, ta

có thể thấy các bài viết trong tập Nhà văn hiện đại, Nhà xuất bản Hội Nhà văn

1997; bài viết của Tô Hà trong Báo văn nghệ số 37 (ngày 8-9-1984) Tô Hà

đã ra nhận xét, đánh giá về tập thơ Bài ca trái đất của Định Hải Theo Tô Hà,

Trang 9

tập thơ đã khai thác các khía cạnh: hồn nhiên, ngộ nghĩnh, giàu tưởng tượngcủa trẻ em; nhận thức của các em về mối quan hệ gia đình, ý thức lao động,tình cảm bạn bè.

Tác giả Nguyễn Trọng Hoàn nhận xét khá đầy đủ về Định Hải và quátrình sáng tác thơ viết qua thiếu nhi qua bài viết Nhà thơ Định Hải (Tạp chí

nhà văn, 6 - 2001) Nguyễn Trọng Hoàn đã nhận xét: “Cảm hứng bao trùm

lên nội dung và các tác phẩm viết cho thiếu nhi của nhà thơ Định Hải là tình yêu thương con người, tình yêu thiên nhiên, tình yêu loài vật Trong thơ ông, khát vọng lớn nhất của tuổi thơ là khát vọng hòa bình, là tình hữu nghị”.

Và còn rất nhiều những công trình nghiên cứu khác đi vào tìm hiểu vềngôn ngữ và phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo ở các độ tuổi, các giai đoạn.Tựu chung lại các nhà khoa học đều muốn trẻ được phát triển về mặt ngônngữ, nâng cao chất lượng dạy và học của ngành giáo dục mầm non nói riêng

và của ngành giáo dục nước ta nói chung Tuy nhiên cho đến thời điểm nàychưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về

đề tài thơ Định Hải đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non Với đềtài này, chúng tôi đã tìm được hướng đi riêng, dựa trên sự tìm hiểu, đánh giá

và thực nghiệm của chính bản thân

3 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫugiáo lớn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn

- Phạm vi nghiên cứu: trong khuôn khổ khóa luận chúng tôi nghiên cứu

sự phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn qua tập thơ“Bài ca trái đất”của nhà

thơ Định Hải

Trang 10

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài, nghiên cứu của chúng tôi nhằm thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài

- Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thôngqua những sáng tác thơ của nhà thơ Định Hải

Thực nghiệm sư phạm tại trường Mầm non Ngô Quyền Vĩnh Yên Vĩnh Phúc

-Trên cơ sở những nhiệm vụ trên, chúng tôi đưa ra Kết luận và khuyến nghị

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông

qua tập thơ “Bài ca trái đất” của nhà thơ Định Hải.

Trang 11

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Cơ sở tâm lí học

Con người khác xa con vật nhờ có ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiệnvừa là điều kiện để con người hoạt động và giao lưu Trong hoạt động học tậpngôn ngữ là công cụ có giá trị, có tác dụng vô cùng to lớn.ngôn ngữ vừa làcông cụ hiện thực hóa tư duy, lĩnh hội tri thức vừa nói lên khả năng trí tuệ củacon người ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác độngqua lại với nhau, người có tư duy tốt sẽ nói năng mạch lạc, trôi chảy; nếu traudồi ngôn ngữ tỉ mỉ, chu đáo thì sẽ tạo điều kiện cho tư duy phát triển tốt

Đứng ở góc độ tâm lí học, các nhà ngôn ngữ thấy rằng: việc tiếp thungôn ngữ có nhiều điểm khác so với tiếp thu kiến thức trong các lĩnh vựckhác Ngôn ngữ được hình thành rất sớm Ngay từ giai đoạn hài nhi, ở trẻ đãhình thành những tiền đề của sự lĩnh hội ngôn ngữ Nhu cầu giao tiếp vớingười lớn ngày càng tăng làm nảy sinh khả năng nói nói năng của trẻ Trẻkhông có ý thức về ngôn ngữ nhưng bằng cách bắt chước có tính bản năng, trẻ

em sẽ được học nói của những người xung quanh mình

Sự phát triển mọi mặt của trẻ mẫu giáo chưa hoàn thiện, còn non nớt.Hoạt động học tập đòi hỏi sự căng thẳng về trí tuệ và thể lực, đòi hỏi sự chú ý

có chủ định kéo dài, đòi hỏi sự hoạt động nhiều mặt của trẻ Trẻ 5 - 6 tuổi,chú ý không chủ định phát triển mạnh, chú ý đã có chủ định đã xuất hiệnnhưng còn hạn chế Đặc điểm trí nhớ của trẻ mẫu giáo là tính trực quan hìnhtượng, tính không chủ định nhờ tác động một cách tự nhiên của những ấntượng hấp dẫn bên ngoài.Trí nhớ trực quan phát triển mạnh hơn trí nhớ từ ngữ

- logic Ghi nhớ máy móc là đặc điểm nổi bật, trẻ ghi nhớ những sự vật hiện

Trang 12

tượng, cụ thể dễ dàng hơn nhiều so với những lời giải thích dài dòng Vàocuối tuổi mẫu giáo, trí nhớ của trẻ có một bước biến đổi về chất: ghi nhớ cóchủ định xuất hiện và phát triển mạnh Biểu tượng của trí nhớ ở trẻ mẫu giáolớn mang tính khái quát hơn.Trong quá trình tưởng tượng, trẻ sử dụng cácbiểu tượng của trí nhớ.

Ngôn ngữ giúp trẻ biết điều khiển chú ý của mình, biết tự giác hướngchú ý của mình vào những đối tượng nhất định, khối lượng chú ý tăng và sứctập chung chú ý trở nên bền vững hơn Ghi nhớ của trẻ mẫu giáo lớn cũngngày càng có tính chủ định hơn so với trẻ mẫu giáo bé.Tuy vậy, cho đến cuốituổi mẫu giáo các quá trình tâm lí không chủ định vẫn chiếm ưu thế tronghoạt động tâm lí của trẻ, ngay cả hoạt động trí tuệ

Tư duy và tưởng tượng của con người không thể tách rời ngôn ngữ

Ngôn ngữ là phương tiện tư duy, hay ngôn ngữ cũng chính là “dòngtư duy”.

Tư duy của trẻ: tư duy trực quan - hành động và trực quan hình ảnh Ở trẻchưa hình thành loại tư duy ngôn ngữ - logic nên ngôn ngữ của trẻ mầm noncòn hạn chế Ở tuổi ấu nhi, hầu hết trẻ đều rất tích cực hoạt động với đồ vật,nhờ đó trí tuệ, tư duy phát triển khá mạnh, đó là tư duy trực quan hành động.Nhưng đó mới chỉ là những hành động bên ngoài, làm tiền đề cho sự hìnhthành những hoạt động định hướng bên trong Đến tuổi mẫu giáo, tư duy củatrẻ có một bước ngoặt rất cơ bản, chuyển từ kiểu tưu duy trực quan- hànhđộng sang kiểu tư duy trực quan - hình tượng Tuổi mẫu giáo bé, trẻ bắt đàubiết tư duy bằng những hình ảnh trong đầu, nhưng do những biểu tượng cònnghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bình diện bên ngoài vào bình diệnbên trong nên trẻ chỉ mới giải quyết được những bài toán hết sức đơn giảntheo kiểu tư duy trực quan - hình tượng.Ở tuổi mẫu giáo nhỡ trẻ phải giảinhững bài toán ngày càng phức tạp và đa dạng, đòi hỏi tách biệt và sử dụngmối liên hệ giữa những sự vật, hiện tượngvà hành động Trẻ mẫu giáo nhỡ đã

Trang 13

bắt đầu đề ra những bài toán nhận thức, tìm tòi cách giải thích những sự vật,hiện tượng mà mình nhìn thấy, kiểu tư duy trực quan hình tượng đã bắt đầuchiếm lĩnh Đến tuổi mẫu giáo lớn, khi ngôn ngữ trở thành phương tiện của tưduy và cho phép trẻ giải những bài toán trí tuệ mà không cần sử dụng trực tiếphành động và biểu tượng Lúc này trẻ bắt đầu tập làm quen, lĩnh hội nhữngkhái niệm đơn giản, khái niệm trừu tượng.những khái niệm đó là những trithức về các dấu hiệu chung và bản chất của sự vật cũng như hiện tượng tronghiện thực đã được khái quát lại bằng các từ Trẻ biểu hiện năng lực trí tuệ quahoạt động tổng hợp của lời nói, qua quan sát, chú ý và suy nghĩ bằng năng lựcghi nhớ liên tưởng và khả năng giải quyết các nhiệm vụ thông qua vui chơisáng tạo Tư duy trực quan giải thích việc trẻ mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ cóvốn từ biểu danh là chủ yếu Tư duy trừu tượng và tư duy logic xuất hiện ởtuổi thứ năm và cho phép trẻ em lĩnh hội những khái niệm đầu tiên- đó lànhững khái niệm về sự vật, hiện tượng gần gũi xung quanh trẻ.

Việc cho trẻ tiếp xúc nhiều với thơ và việc giáo dục đạo đức trẻ thôngqua nội dung các bài thơ là hai hướng đi song song nhất quán, thúc đẩy, hỗ trợphát triển cho trẻ và dần hình thành nhân cách trẻ thơ

1.1.2 Cơ sở giáo dục học

Dạy học ở trường mẫu giáo là quá trình phát triển có hệ thống, có kếhoạch, có mục đích các năng lực nhận thức cửa trẻ, trang bị cho trẻ hệ thốngtri thức sơ đẳng, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tương ứng.trên cơ sở đó góp phầnhình thành nhân cách cho trẻ Trong quá trình dạy học gồm có nhiều hoạt

động khác nhau như: Làm quen với văn học, Hình thành biểu tượng toán sơ

đẳng cho trẻ mầm non, Làm quen với môi trường xung quanh… Tất cả các

hoạt động này nhằm mục đích mở rộng kiến thức hiểu biết cho trẻ và bêncạnh đó còn một nhiệm vụ quan trọng là phát triển ngôn ngữ cho trẻ Hiệnnay ở các trường mầm non có hai hình thức phát triển lời nói cho trẻđó là: tiết

Trang 14

học và ngoài tiết học Các tiết học như: nhận biết tập nói, Làm quen với chữ

cái, làm quen với các tác phẩm văn học, làm quen với môi trường xung quanh, Hình thành biểu tượng toán sơ đẳng cho trẻ mầm non, Tổ chức hoạt động tạo hình, Giáo dục âm nhạc… Tất cả đều phát triển lời nói cho trẻ.Vì

vậy trong giờ học các hoạt động khác chúng ta phải chú ý phát triển ngôn ngữcho trẻ vì ngôn ngữ là cửa ngõ để trẻ phát triển toàn diện nhân cách

Ngôn ngữ của trẻ được hình thành và phát triển qua giao tiếp với conngười, với sự vật hiện tượng xung quanh Để thực hiện điều đó phải thông quanhiều hoạt động khác nhau như qua các giờ học, các trò chơi, dạo chơi ngoàitrời và sinh hoạt hằng ngày Qua đó rèn luyện và phát triển vốn từ cho trẻ, tậpcho trẻ biết nghe, hiểu và phát âm chính xác các âm của tiếng mẹ đẻ, hướngdẫn trẻ biết cách diễn đạt ý muốn của mình cho người khác hiểu.Vì vậy, khicho trẻ làm quen, tiếp xúc với các sự vật hiện tượng ngoài việc giới thiệu têngọi, đặc điểm của đối tượng cho trẻ thì giáo viên cần dạy trẻ biết nói các câuđầy đủ, rõ nghĩa, dạy trẻ phát âm đúng các âm chuẩn tiếng Việt, đảm bảo cácnguyên tắc của giáo dục như tính khoa học, tính hệ thống, tính vừa sức

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một nhiệm vụ quan trọng trong chươngtrình giáo dục toàn diện trẻ Chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ đãđượcnhà giáo dục mầm non Liên Xô (cũ) nổi tiếng Eiti- Kheeva xem là khâuchủ yếu nhất của các hoạt động trong trường mầm non, là tiền đề thành côngcủa các công tác khác

Trang 15

gấp 3 và đa số các tế bào thần kinh đã được biệt hóa.

Học thuyết về các hệ thống tín hiệu đã khẳng định: Ngôn ngữ là hệ thốngtín hiệu thứ hai, là sự hoạt động đặc biêt của vỏ bán cầu đại não Hệ thống tínhiệu thứ hai có được là nhờ những kích thích trừu tượng như ngôn ngữ, lờinói, chữ viết… Việc phát triển ngôn ngữ phải lien quan mật thiết tới việc pháttriển, hoàn thiện bán cầu đại não và hệ hệ thần kinh Trong ba năm đầu là kếtthúc sự trưởng thành về mặt giải phẫu vùng não chỉ huy ngôn ngữ, vì thế phảiphát triển ngôn ngữ cho trẻ đúng lúc mới đạt hiệu quả tốt nhất

Để có thể giao tiếp tốt chúng ta không thể không kể đến bộ máy phát âm.Mỗi con người sinh ra đã có sẵn bộ máy phát âm, đó là tiền đề vật chất để sảnsinh âm thanh ngôn ngữ Đó là một trong những điều kiện vật chất quan trọngnhất mà thiếu nó không thể có ngôn ngữ; nếu như bộ máy phát âm có mộtkhiếm khuyết nào đó (ví dụ như sứt môi, hở hàm ếch, ngắn lưỡi, lưỡi dài…)thì việc hình thành lời nói cũng gặp rất nhiều khó khăn Khi sinh ra mỗi conngười không phải đã có ngay bộ máy phát âm hoàn chỉnh Độ tuổi mầm non

là giai đoạn hoàn thiện dần bộ máy đó: sự xuất hiện và hoàn thiện của haihàm răng, sự vận động của môi, lưỡi, hàm dưới… quá trình đó diễn ra tựnhiên theo các quy luật sinh học, nó phát triển và hoàn thiện cùng sự lớn lêncủa trẻ Trong thực tế ở cùng một độ tuổi nhiều em có ngôn ngữ phát triển tốt,phát âm rõ ràng bên cạnh đó có những em ngôn ngữ kém phát triển hơn, nóingọng hoặc lời nói không rõ ràng Có sự khác nhau như thế là do bộ máy phát

âm khác nhau và quá trình chăm sóc giáo dục cũng khác nhau Trẻ nói ngọng

là do bộ máy phát âm phát triển chưa hoàn chỉnh Tuy nhiên bộ máy phát âmhoàn chỉnh mới chỉ là tiền đề vật chất Cùng với thời gian, quá trình học tập,rèn luyện một cách có hệ thống sẽ làm cho bộ máy phát âmđáp ứng được nhucầu thực hiện các chuẩn mực âm thanh ngôn ngữ Cấu tạo bộ máy phát âmgồm: dây thanh và các hộp cộng hưởng phía trên thanh hầu Âm sắc và tiếng

Trang 16

nói do tính chất của âm xác định và phụ thuộc vào các khoang cộng hưởngcủa phần trên các bộ phận thanh quản, họng, khoang, miệng, mũi Bộ máyphát âm của trẻ chưa phát triển đầy đủ, các bộ phận tạo thành tiếng nói chưaliên kết chặt chẽ nên trẻ phát âm còn chưa chuẩn, không chính xác Do đó,việc nghiên cứu bộ máy phát âm để tìm hiểu vốn từ của trẻ mầm non hoàntoàn có cơ sở và mang tính khoa học.

Ở cuối Tuổi mẫu giáo, do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng,tai nghe âm vị được rèn luyện thường xuyên để tiếp nhận các ngữ âm khinghe người lớn nói, mặt khác cơ quan phát âm đã trưởng thành đên mức trẻ

có thể phát âm tương đối chuẩn kể cả những âm khó của tiếng mẹ đẻ khi nóinăng Trẻ mẫu giáo lớn đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nộidung giao tiếp hay nội dung câu chuyện mà trẻ kể

1.1.4 Cơ sở ngôn ngữ học

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơbản và quan trọng nhất trong xã hội loài người Ngôn ngữ đồng thời cũng làphương tiện phát triển tư duy, lưu giữ và truyền đạt truyền thống văn hóa- lịch

sử từ thế hệ này sang thế hệ khác Lênin từng khẳng định: “Con người muốn

tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng Giao tiếp là một hoạt động đặc trưng của con người Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất.” Ngôn

ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống con người, nhờ ngôn ngữ mà con người

có thể trao đổi hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm, tâm sự vớinhau những nỗi niềm thầm kín

Ngôn ngữ chính là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thànhmột thành viên của xã hội loài người Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vuichơi Ngôn ngữ là công cụ hữu hiệu để bày tỏ những tình cảm hay nguyệnvọng của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể yêu thương và chăm sóccác em một cách tốt nhất Ngôn ngữ rất cần cho tất cả các hoạt động của trẻ

Trang 17

và ngược lại, mọi hoạt động thúc đẩy ngôn ngữ của trẻ phát triển.

Ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non chủ yếu là ngôn ngữ nói, vì thế

sự phát triển ngôn ngữ nói của trẻ phụ thuộc rất lớn vào sự giao tiếp của trẻ

em với người lớn và giữa các trẻ với nhau Sống trong xã hội con người luônphải giao tiếp, mà khi giao tiếp con người phải sử dụng ngôn ngữ để biểu đạtvới những người xung quanh Trẻ em giao tiếp với mọi người xung quanh,học các từ của ông bà, bố mẹ, người thân, bạn bè thì ngôn ngữ của trẻ cũngchịu ảnh hưởng không nhỏ Trẻ bắt chước người lớn nói và được được ngườilớn dạy Cần làm giàu vốn từ cho trẻ bằng những từ mới, từ khó đối với trẻ.Đào sâu cung cấp, chính xác hóa vốn từ cho trẻ hiểu chính xác nghĩa của từ;tích cực hóa vốn từ cho trẻ, trang bị cho trẻ vốn từ sống động Bằng vốn ngônngữ của mình trẻ có thể biểu đạt hiểu biết của mình cho người lớn hiểu vàhiểu được ý nghĩa những câu nói của người lớn Trong công tác giáo dụcmầm non người lớn cần có ý thức rèn luyện và phát triển ngôn ngữ cho trẻmột cách thường xuyên, liên tục ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoạt động

Sống trong xã hội luôn phải giao tiếp, mà khi giao tiếp con người luônphải sử dụng vốn từ của mình để biểu đạt với những người xung quanh Vốn

từ cá nhân phát triển thì ngôn ngữ càng phát triển Trong vốn từ của trẻ mẫugiáo, đầu tiên trẻ phản ứng những đặc trưng của sự vật, hiện tượng.Càng lớntrẻ em càng có nhiều vốn từ thể hiện đặc điểm của sự vật, hiện tượng bằng từngữ Vốn từ của trẻ mẫu giáo có khối lượng nhỏ hơn rất nhiều so với khốilượng vốn từ của người lớn vì khối lượng tri thức của trẻ còn hạn chế Vì thế

mở rộng vốn từ cho trẻ phải dựa vào sự mở rộng nhận thức cho trẻ Vốn từchủ động là vốn từ mà chủ thể nói năng sử dụng một cách tích cực trong giaotiếp Vốn từ chủ động của trẻ mẫu giáo ít hơn so với vốn từ bị động, vì thếtích cực hóa vốn từ là chuyển hóa vốn từ thụ động sang vốn từ chủ động chotrẻ Vốn từ cơ bản bao gồm những từ ngữ có tần số xuất hiện cao, vì thế dạy

Trang 18

trẻ em phai dạy cho trẻ vốn từ cơ bản vì chỉ khi đó trẻ mới có thể giao tiếp tốthơn Vốn từ ngữ phongphú chính xác sẽ giúp trẻ dễ dàng định hướng trongkhông gian.

Để dạy trẻ sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp thì việc đầutiên người giáo viên cần tìm hiểu đó là vốn từ của trẻ.Trong ngôn ngữ từ làcái quan trọng nhất, là vật liệu trực tiếp để tạo ý, tạo lời, tạo câu ở tuổi mẫugiáo trẻ cần nắm được một vốn từ cần thiết đủ để chúng có thể giao tiếp đượcvới bạn bè, người lớn, tiếp thu những tri thức ban đầu trong trường mầm non,chuẩn bị học tập ở trường phổ thông; xem các chương trình truyền hình,truyền thanh… Vì thế, giáo dục học mẫu giáo coi việc hình thành vốn từ làmột nhiệm vụ quan trọng trong nội dung giáo dục trẻ Phát triển vốn từ đượchiểu như là một quá trình lâu dài của việc lĩnh hội vốn từ mà con người đãlĩnh hội được trong lịch sử Nó bao gồm hai mặt: tích lũy số lượng (tăng dần

số từ tích cực) và nâng cao chất lượng (lĩnh hội dần dần nội dung xã hội tíchlũy trong từ, nó là sự phản ánh kết quả của nhận thức)

1.1.5 Các khái niệm cơ bản

Từ tiếng Việt gồm một số âm tiết cố định bất biến mang theo những đặcđiểm ngữ pháp nhất định, ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong

Khi trẻ đươc 7 - 8 tháng, trẻ bắt đầu biết tên mình

Từ 10 - 11 tháng, trẻ bắt đầu hiểu một số từ chỉ sự vật, người mà trẻ

Trang 19

thường xuyên được tiếp xúc.

Từ 12 tháng trở đi, nhu cầu giao tiếp của trẻ với thế giới xung quanhngày cành tăng, bên cạnh các âm bập bẹ xuất hiện các từ chủ động đầu tiên.Khi 18 tháng, số từ bình quân là 11 từ, trẻ bắt chước người lớn và lặp lại một

số từ gần gũi như: bố, mẹ, bà, ô tô, măm…

Từ 19 - 21 tháng, môi trường tiếp xúc của trẻ được mở rộng, trẻ đượclàm quen với nhiều sự vật, hiện tượng hơn, số lượng từ của trẻ tăng lên rõ rệt.Đến 21 tháng tuổi, trẻ đạt 220 từ Giai đoạn 21 - 24 tháng, tốc độ chậm lại, chỉđạt 234 từ vào tháng 24, sau đó tăng tốc: 30 tháng đạt 434 từ

Trẻ 3 tuổi sử dụng được hơn 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ, tính từ

và các từ loại khác.danh từ chỉ đồ chơi, đồ dùng quen thuộc, các con vật gần

gũi như: búp bê, siêu nhân, quả bóng, con chó, con mèo, con gà… Động từ chỉ những hoạt động gần gũi với trẻ và những người xung quanh như: ăn,

Tốc độ tăng vốn từ ở các độ tuổi khác nhau, chậm dần theo độ tuổi: cuối

3 tuổi so với đầu 3 tuổi vốn từ tăng 107%; cuối 4 tuổi so với đầu 4 tuổi tăng40,58%; cuối 5 tuổi so với đầu 5 tuổi, vốn từ của trẻ chỉ tăng 10,40% ; cuối 6tuổi so với đầu 6 tuổi vốn từ chỉ tăng 10,01% [7; 77]

Mặc dù số lượng từ của trẻ mẫu giáo do các nhà tâm lí học, ngôn ngữhọc đưa ra không khớp nhau, nhưng sự chênh lệch không lớn lắm; bởi lẽ sốlượng từ của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhau trong đó quantrọng nhất là tác động của môi trường như sự tiếp xúc thường xuyên với

Trang 20

những người xung quanh, sự chăm sóc giáo dục của gia đình và nhà trường.

*Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại

Cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ là một têu chí để đánh giá chấtlượng vốn từ Số lượng từ loại càng nhiều bao nhiêu thì càng tạo điều kiệncho trẻ diễn đạt thuận lợi bấy nhiêu Các loại từ xuất hiện dần dần trongvốn từ của trẻ Theo Xtecnơ, ban đầu chủ yếu là danh từ, sau đó đến động

từ, tnh từ và các từ loại khác xuất hiện muộn hơn

Theo nhà nghiên cứu Đinh Hồng Thái, đến 3 - 4 tuổi, về cơ bản vốn từcủa trẻ đã có đủ các loại từ Tuy nhiên tỉ lệ danh từ và tính từ cao hơnnhiều so với các loại từ khác: danh từ chiếm 38%, động từ 32%; còn lại làtính từ

6,8%, đại từ 3,1%, phó từ 7,8%, tình thái từ 4,7%, quan hệ từ và số từ còn

ít xuất hiện: số từ 2,5%, quan hệ từ 1,7%

Giai đoạn 5 - 6 tuổi cũng là giai đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu từ loạitrong vốn từ của trẻ Tỉ lệ danh từ, động từ giảm đi (chỉ khoảng 50%) nhườngchỗ cho tính từ và các loại từ khác tăng lên: tnh từ đạt tới 15%, quan hệ từtăng lên đến 5,7%, còn lại là các loại từ khác [7; 78]

Từ đặc điểm này chúng ta cần chú ý đến các loại từu khác khi dạy từ chotrẻ, chú trọng tới vốn từ cho trẻ vì lúc này vốn từ của trẻ còn nghèo nàn: lúcđầu số lượng danh từ chiếm phần lớn, sau đó đến động từ, rồi đến tính từ

* Khả năng hiểu nghĩa của từ của trẻ mẫu giáo

Trẻ mẫu giáo bé có khả năng nắm được những từu ngữ có ý nghĩa cụ

thể như những từ ngữ là tên gọi các đồ vật trong gia đình (bát, đĩa,

bàn, tủ, ghế…), tên gọi các con vật (lợn, chó, gà, mèo…), thực vật (cây chuối,

quả cam, hoa loa kèn…) Từ “đồ vật” có ý nghĩa trừu tượng, trẻ hiểu nó

Trang 21

không phải bằng cảm giác mà bằng sự trừu tượng hóa Đến 6 tuổi, để nắm từvới ý nghĩa khái quát trẻ không đòi hỏi cảm giác trực tiếp nữa.

Theo Fedorenko (Nga), ở trẻ em có 5 mức độ hiểu nghĩa khái quát của từ

Trang 22

Ví dụ: “Bóng” chỉ một quả bóng bất kì như bóng bay, bóng nhựa, bóng cao su; “cốc” chỉ những vật dùng để uống nước.

- Mức độ thứ hai của sự khái quát: trẻ nắm được những từ ngữ thểhiện sự khái hơn

Ví dụ: “quả” có thể chỉ bất cứ loại quả nào (quả cam, quả xoài, quả

táo…); “xe” (xe đạp, xích lô, ô tô…); “con” (gà, mèo, lợn, chim…).

Cam, xoài, táo: mức độ thứ nhất của sự khái quát; “quả”: mức độ thứ

hai của sự khái quát

- Mức độ ba của sự khái quát: trẻ 5 - 6 tuổi có thể nắm được mức độ bacủa sự khái quát

Ví dụ: “đồ vật” có thể chỉ đồ chơi như búp bê, máy bay, ô tô…; “đồ gỗ” chỉ các đồ dùng, vật dụng được làm từ gỗ (bàn, ghế, giường…); “phương tiện

giao thông” (xe máy, tàu thủy, tàu hỏa, máy bay…).

“Búp bê”: mức độ thứ nhất của sự khái quát; “đồ chơi”: mức độ thứ hai của sự khái quát; “đồ vật”: mức độ thứ ba của sự khái quát.

- Mức độ thứ tư của sự khái quát: trẻ hiểu được những từ biểu thị sựkhái quát tối đa - những khái niệm thực sự khoa học

Trang 23

Ví dụ: vật chất, hành động, trạng thái, chất lượng, số lượng, quan hệ…Khả năng nắm được mức độ thứ tư của sự khái quát xuất hiện vào tuổithiếu niên.

Đối với trẻ mầm non, khi ở tuổi nhà trẻ, trẻ hiểu được nghĩa biểu danh(mức độ zero và 1) Mức độ 2 và 3 dành cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt làmẫu giáo lớn [5; 134]

1.1.5.2 Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn

Trẻ mẫu giáo lớn đã trong giai đoạn trưởng thành vì thế mà trẻ cónhu cầu rất lớn về nhận thức, trẻ khát khao được tìm hiểu khám phá thế giơixung quanh mình.Các nhà nghiên cứu giáo dục khẳng định rằng phát triểnvốn từ là nền tảng quan trọng để phát triển ngôn ngữ, có ý nghĩa quan trọngquyết định đến mọi mặt của trẻ

Như chúng ta đã biết thì trẻ 5 - 6 tuổi đã biết sử dụng khá thànhthạo tếng mẹ đẻ để giao tiếp Khả năng ngôn ngữ liên quan chặt chẽ đến sựphát triển trí tuệ những trải nghiệm của trẻ Ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độphát triển khá nhanh và đến cuối tuổi mẫu giáo, thì hầu hết trẻ em đã biết

sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo trong sinh hoạt hàng ngày Vốn

từ của trẻ mẫu giáo lướn tăng lên đáng kể, có khoảng 3000 - 4000 từ, trẻthường xuyênsử dụng 1033 từ Trong đó loại từ được tích lũy khá phong phú,không những về danh từ, động từ mà còn cả về đại từ, tính từ, liên từ… đủ

để giao tiếp với những người xung quanh Danh từ và đại từ vẫn chiếm ưuthế nhưng tính từ và các loại từ khác cũng được trẻ sử dụng nhiều hơn Cụthể:

- Về danh từ: nội dung, ý nghĩa của các từ được mở rộng, phong phúhơn; những từ chỉ nghề nghiệp của người lớn tăng Ở trẻ còn có những

từ mang tnh văn học như: áng mây, đóa hoa,… Trẻ biết sử dụng một số từ

Trang 24

chỉ khái niệm trừu tượng, mặc dù trẻ chưa thực sự hiểu nghĩa của từ đó,

thậm chí không hiểu như: kiến trúc tài năng,…

- Về động từ: phần lớn là những động từ gần gũi, tiếp tục phát triển thêm

Trang 25

những nhóm từ mới như:nhảy nhót, leng keng, ngoe nguẩy…; những động từ

chỉ sắc thái khác nhau như: chạy vèo vèo, chạy tung tăng…; xuất hiện thêm

những động từ có nghĩa trừu tượng như: giáo dục, khánh thành… Trẻ mẫu

giáo lớn đã phân biệt được nghĩacủa các động từ gần nghĩa nhau, ví dụ: động

từ “băm” và “chặt” (khi băm thì nhẹ nhàng, khi chặt phải mạnh và

nhanh hơn) Trẻ cũng có thể hiểu được một số từ có thể có nhiều nghĩa khácnhau như: đánh đập, đánh rơi, đánh mất, đánh bóng…

- Về tnh từ: phát triển về số lượng cũng như chất lượng, trẻ sử dụng

nhiều tính từ có tnh chất gợi cảm như: tròn xoe, đỏ chót, sáng lóe, ngọt lịm… Trẻ đã sử dụng chính xác các từ chỉ tính chất không gian như: cao - thấp, dài-

ngắn, rộng - hẹp…, các từ chỉ tốc độ như: nhanh - chậm…, các từ chỉ màu

sắc: đỏ, vàng, cam, xanh, nâu, tm…

- Ngoài ra các loai từ khác như đại từ, trạng từ, quan hệ từ, phụ từ…cũng được dùng nhiều hơn những lứa tuổi khác: trạng từ được mở rộng;

trẻ cũng đã biết sử dụng những quan hệ từ như: nếu, thì, vì, nên, thế mà,

xong là, và, với, nhưng, để… Trẻ 5 - 6 tuổi đã biết số từ số 1 đến số 10 và

sử dụng

được các từ không xác định: bao nhiêu, một vài, những, các… Trẻ đã sử dụng chính xác hơn các phó từ: đã, đang, sẽ, vẫn, còn, hơi, không, chưa…, các tình thái từ: à, nhé, nhỉ… Trẻ biết sử dụng nhiều từ đơn hơn từ ghép; trẻ

hiểu nhiều từ láy và biết sử dụng chúng Trẻ đã hiểu được một số từ có nghĩakhái quát, biết sử dụng một số từ ghép mang tính gợi cảm và những từ có

nghĩa đối lập: bé xíu- to đùng, béo múp - gầy nhom… các từ chỉ tính chất không gian (bao la, bát ngát, rộng lớn, mênh mông, bát ngát…), từ chỉ tốc độ (nhanh, chậm, thoăn thoắt, lề mề…), từ chỉ màu sắc (đo đỏ, tim tím, xanh

lơ…) được trẻ sử dụng chính xác Trẻ đã hiểu và biết dùng các từ chỉ khái

niệm thời gian (hôm qua, ngày mai, ngày kia…), từ đồng nghĩa (tàu hỏa - xe

Trang 26

lửa, to - lớn, thấp - nùn…), từ có tính chất gợi cảm, có hình ảnh và mang

sắc thái khác nhau (bé tí, bé xíu, be bé…) Trẻ mẫu giáo cũng biết xưng hô

đúng với các

Trang 27

đối tượng gần gũi: em, tôi, tớ, mình, người ta…

Sự lĩnh hội ngôn ngữ tùy thuộc trực tếp vào điều kiện sống và giáodục và được quyết định bởi tính tch cực của bản thân trẻ đối với ngôn ngữ.Những trẻ e mà năng giao tiếp, năng tm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ

thì không những hiểu được từ ngữ và nắm vững ngữ pháp mà còn “sáng tạo”

ra những từ ngữ, những cách nói chưa từng có trong ngôn ngữ của người lớn

Ở lứa tuổi này, trẻ rất thích sử dụng những từ mới được biết hoặc những từ

do trẻ tự nghĩ ra Trẻ đưa chúng vào những hoạt động sáng tạo như khi kểchuyện, đóng kịch hay chơi trò chơi đóng vai, thậm trí trẻ còn sử dụng chúng

trong giao tiếp hang ngày của trẻ Bé Hoàng Hoa Anh, 5 tuổi đã nói “Vịt ngã

lộn phèo”, bé Vàng Anh đã dùng từ mới để chỉ màu đỏ “Đỏ choen choét” [10;

309]

Theo Nguyễn Minh Loan, Tìm hiểu vốn từ của trẻ mẫu giáo 5 tuổi, Khóaluận tốt nghiệp khoa Mầm non, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 1993, [5;141] Các từ loại trong lời nói của trẻ 5 tuổi:

Bảng 1.1.Các từ loại trong lời nói của trẻ 5 tuổi [5; 141]

Trang 28

Tóm lại trong các độ tuổi mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ được phát triển dần về các mặt: vốn từ, ngữ âm, ngữ điệu, ngữ pháp xuất hiện dần kiểu ngôn ngữ mạch lạc Đến cuối tuổi mẫu giáo (5 - 6 tuổi) trẻ đã có khả năng nắm được

ngữ nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm gần đúng với các phát âm củangười lớn, biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là nắm được hệ thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những quy luật ngôn ngữ tinh vi nhất về phương diện ngữ pháp và phương diện tu từ, trẻ nói năng mạch lạc và thoải mái Trẻ đã thực sự nắm vững tếng mẹ đẻ trong đời sống sinh hoạt

và ở một mức độ nào đó về phong cách nghệ thuật (tức là nói năng có vănhóa, lịch sự, lễ phép)

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ của nhà thơ Định Hải

Định Hải là một trong những nhà thơ có nhiều cống hiến cho nềnvăn học thiếu nhi Việt Nam Ông tên thật là Nguyễn Biểu, sinh ngày 6-6-

1937, quê xã Định Hải, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá, nguyên Tổng biêntập tạp chí Tuổi Xanh, nguyên Trưởng ban Văn học thiếu nhi Hội nhà văn ViệtNam

Từ 1962, ông đã sáng tác rất nhiều thể loại cho thiếu nhi như: truyệnngắn, truyện thơ, thơ, hoạt cảnh, viết lời cho các bộ phim hoạt hình Ở mỗithể loại ông đều để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả Songthành công hơn cả là những sáng tác thơ viết cho thiếu nhi Thơ của ông

đã mang đến những cảm xúc chân thành, bình dị, gần gũi, thân quen đốivới tâm hồn trẻ thơ

Các tác phẩm chính đã được xuất bản: các truyện kí: Thăm Bắc Lí

(1964), Hoa mùa xuân (1967); truyện vừa: Bàn tay gieo hạt (1967); truyện

thơ: Nắng xuân trên dẻo cao (1969); các tập thơ: Chồng nụ, chồng

hoa (1970), Hươu cao cổ (1975), Én hát - đu quay (1976), Bài ca trái đất (1983), Nụ hôn học trò (1988).

Trang 29

Trong đó, tập thơ Bài ca trái đất được giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam

1984, sau đó được in số lượng lớn trong Tủ sách vàng của NXB Kim Đồng

(1997) Tập thơ Bài ca trái đất bao gồm 147 bài Tập thơ khai thác các khía

Trang 30

cạnh: sự hồn nhiên, ngây thơ, trí tưởng tượng phong phú của trẻ: Hát với cậytrong vườn, Đánh trận giả, Nhảy dây, Đi trốn đi tm, Rồng rồng rắn rắn…

Một số bài thơ viết về mới quan hệ gia đình, ý thức lao động, tấm

lòng đối với bạn bè, xã hội: Trăng rằm, Thêm hiểu bàn tay, quạt cho bố ngủ,

Tặng hoa các cô chú, Bàn tay cô giáo…

Một số bài thể hiện tầm bao quát, ý nghĩa lớn lao đối với tầm suy

nghĩ của trẻ: Nếu chúng mình có phép lạ, Bài ca trái đất, Một mái nhà chung,

Trò chơi của biển… Những bài thơ đó thể hiện sự suy ngẫm mang tính bao

quát về thế giới xung quanh, về thế giới loài vật, cỏ cây, con người và trái đất.Bước vào vườn thơ Định Hải, các em được đến với thế giới đầy hương

sắc, nhiều khám phá bất ngờ, thú vị Từ Chồng nụ chồng hoa đến Hươu cao

cổ, từ én hát - đu quay đến Những câu tục ngữ gặp nhau, từ Bao nhiêu điều lạ đến Bài ca trái đất, từ Nhành hoa trong vườn sớm đến Nắng xuân trên rẻo cao Từ phong cách trữ tình da diết trong những bài thơ viết cho

đối tượng lớn tuổi được nhiều người một thời mến mộ, Định Hải "vào cuộc"

thật ngoạn mục và dẻo dai trong những sáng tác viết cho các em Nếu tính từ

chùm thơ in trong tập đầu tay có tên Đèn kéo quân (cùng với Nguyễn

Bao, Ngô Quân Miện, Lữ Huy Nguyên, Thanh Hào) đến nay, Định Hải đã đigần nửa thế kỉ cùng hành trang tâm hồn của hàng chục thế hệ thiếu nhi.Theo thời gian, bạn đọc thì lớn lên, có ai nghĩ tác giả của những vần thơ

ấy vẫn nguyên vẹn thuỷ chung với "nghiệp dĩ" văn chương và mặc dầu đã trải

qua nhiều công việc, từ dạy học đến biên tập sách, viết báo, làm báo; đãcho in trên 40 đầu sách gồm văn, thơ, truyện thơ, hoạt cảnh thơ, biên soạn,dịch thuật, tuyển chọn; đã cho đăng hàng trăm bài tiểu luận văn học nhưng

khát vọng hướng tới tuổi thơ vẫn trong trẻo nồng nàn từ "Cái thuở ban đầu

lưu luyến ấy" Sách của ông có cuốn được in đi in lại nhiều lần, có cuốn được

Trang 31

nhiều nhà xuất bản cùng in tính ra tất cả cũng tới hàng trăm ngànbản,

Trang 32

nhưng viết cho thiếu nhi luôn luôn là nỗi đam mê thôi thúc, nói đúng hơn làđối tượng này luôn luôn đem đến cho ông mạch nguồn dạt dào cảm xúc Ông

tâm sự trong lần tập thơ Bài ca trái đất (giải thưởng Hội Nhà văn Việt

Nam, 1984) được in với số lượng lớn trong Tủ sách vàng của Nhà xuất

bản Kim Đồng (1997): "Được suốt đời làm thơ cho các em - đó là niềm hạnh

phúc to lớn nhất mà tôi ao ước.

Nhà thơ Võ Quảng đã đưa ra nhận xét: “Thơ của Định Hải bao giờ cũng

mong muốn một điều tốt đẹp cho con người Bằng tấm lòng nhân hậu, bằng cả sự nhạy cảm và tnh tế, anh đã đến với trẻ em và đi cùng với trẻ em suốt nửa thế kỉ qua”.

Có thể nói, dù viết cho thiếu nhi hay người lớn, dù viết ở thể loại truyện

kí, truyện vừa, truyện thơ, thơ, dù sáng tác hay phê bình… người đọc luônluôn thấy ở Định Hải một tâm hồn thơ đa dạng

1.2.2 Khảo sát thực trạng

1.2.2.1 Điều tra thực trạng

Trong thời gian thực tập tại trường mầm non Ngô Quyền Vĩnh Yên Vĩnh Phúc, được sự giúp đỡ của các giáo viên trong trường và các bạn sinhviên K39MN - GDMN trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, chúng tôi đã tiếnhành khảo sát bằng phương pháp điều tra và thu được một số kết quảkhả quan

Trang 33

1.2.2.3 Nội dung điều tra

- Nêu đôi điều cảm nhận về một số bài thơ Định Hải viết cho thiếu nhi

- Quan điểm của bạn về việc nên hay không nên đưa một số bài thơ củaĐịnh Hải viết cho thiếu nhi vào chương trình giáo dục mầm non

1.2.2.4 Phương pháp điều tra

- Sử dụng phiếu Anket để lấy ý kiến của một số giáo viên trực tếp giảngdạy ở các lớp mẫu giáo lớn 5 tuổi A, 5 tuổi B, 5 tuổi C, 5 tuổi D trường Mầmnon Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc và ý kiến các bạn sinh viên lớpK39D - GDMN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

1.2.2.5 Cách thức điều tra

Để có được kết quả sát với thực tế chúng tôi tến hành điều tra như sau: Trao đổi ý kiến vói các bạn sinh viên và các giáo viên trực tiếp giảng dạytại trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc về nội dung điều tra trong phiếu Anket, sau đó lấy ý kiến của họ thông qua phiếu

1.2.2.6 Phân tích kết quả điều tra

Vì điều kiện thời gian nghiên cứu không có nhiều nên chúng tôi chỉ tiếnhành điều tra tại 4 lớp với 12 giáo viên trực tiếp giảng dạy tại các lớp 5 tuổi

A, 5 tuổi B, 5 tuổi C, 5 tuổi D trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - VĩnhPhúc và ý kiến của các bạn sinh viên lớp K39D - GDMN, trường Đại học sưphạm Hà Nội 2

Để thu được kết quả tốt chúng tôi phải chọn lọc những bài thơ hay,ngôn ngữ trong sáng, giàu hình ảnh gần gũi với trẻ mầm non để đưa vàophiếu Anket Những bài thơ được sử dụng trong phiếu điều tra của tác giảĐịnh Hải khi đưa vào sử dụng phải được sắp xếp, tính toán kĩ lưỡng trướckhi thực hiện, xem xét những bài thơ nào có thể lồng vào chương trình giáodục mầm non một cách phù hợp nhất

Bảng 1.2 Bảng kết quả thực nghiệm số 1

Trang 34

(Thực hiện tại trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc)

Tên bài thơ

Các ý kiếnTổng Nên đưa Không nên Chỉ đọc Dạy học

ST số vào đưa vào cho trẻ sinh tiểu

T ngườ chương chương nghe học

i trình trình

Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ(%) (%) (%) (%)

1 Lấy tăm

12 12 100cho bà

2 Chú mèo

12 11 91,67 1 8,33con

3 Đèn đỏ đèn

12 12 100xanh

4 Gọi bạn 12 10 83,33 1 8,33 1 8,33

5 Bài ca trái

12 5 41,67 2 16,67 1 8,33 4 33,33đất

6 Hươu cao

12 9 75 2 16,67 1 8,33cổ

10 Con chó và

12 9 75 1 8,33 2 16,67con mèo

24

Trang 35

Bảng 1.3 Bảng kết quả thực nghiệm số 2 (Thực hiện tại lớp K39D- GDMN)

ST

T Tên bài thơ

Tổngsốngười

Các ý kiếnNên đưa

vào chươngtrình

Không nênđưa vàochươngtrình

Chỉ đọc chotrẻ nghe

Dạy họcsinh tểuhọc

Tỉ lệ(%)

Tỉ lệ(%)

Tỉ lệ(%)

Tỉ lệ(%)

6 Hươu cao 48 42 87,5 4 8,33 2 4,16cổ

7 Cái võng 48 39 81,25 3 6,25 6 12,5

8 Quạt cho 48 40 83,33 1 2,08 6 12,5 1 2,08

bố ngủ

9 Bàn tay cô 48 43 89,58 2 4,16 3 6,25giáo

10 Con chó và 48 44 91,67 1 2,08 3 6,25

con mèo

Trang 36

Thực hiện khảo sát trên 12 giáo viên của trường mầm non Ngô Quyền và

48 bạn sinh viên của lớp K39D - GDMN chúng tôi đã thu được kết quả rất thuyết phục

Qua bảng thực nghiệm số 1 (thực hiện tại trường mầm non Ngô Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc) và bảng thực nghiệm số 2 (thực hiện tại lớp K39D -GDMN) Chúng tôi nhận thấy hầu hết trong 10 bài thơ được đưa ra thì hầu hếtcác ý kiến đều cho rằng nên đưa các bài thơ này vào trong chương trình giáodục mầm non Ở bảng thực nghiệm số 1, tỉ lệ chiếm cao nhất là 3 bài

Quyền-thơ: “Lấy tăm cho bà”, “Đèn đỏ, đèn xanh” (100%) với 12 phiếu và bài “Bàn

tay cô giáo” (83,33%) với 10 phiếu Ở bảng thực nghiệm số 2, tỉ lệ chiếm

cao nhất ở các bài “Lấy tăm cho bà”, “Đèn đỏ đèn xanh”, “Con chó và con

mèo” Ngoài ra còn một số bài cũng chiếm tỉ lệ cao như: “Chú mèo con”

(93,75%), “Gọi bạn” (89,58%), “Hươu cao cổ” (89,58%) Tuy nhiên, bên cạnh

những ý kiến cho rằng nên đưa các bài thơ trên vào trong chương trình giáodục mầm non thì vẫn còn những ý kiến lại cho rằng không nên đưa vàochương trình giáo dục mầm non vì trẻ chưa thể hiểu hết được nội dung bàithơ hoặc vì bài thơ quá dài, từ ngữ không phù hợp với trẻ mầm non mà nênđưa vào chương trình dạy học sinh tiểu học: một số ý kiến lại cho rằng chỉnên đọc cho trẻ mầm non nghe thôi Số lượng này không nhiều nhưng cũngđáng để chúng ta lưu tâm

Tuy nhiên con số này chưa phải là chính xác cho tất cả trường hay cácsinh viên mầm non đang theo học Bởi tm được một số liệu chính xác thì cầnphải tiến hành điều tra trên diện rộng ở nhiều trường mầm non thuộcnhiều địa phương, vùng miền khác nhau, và trên nhiều lớp sinh viên đangtheo học hơn nữa Nhưng do điều kiện không cho phép nên chúng tôi chỉ xindừng lại tại trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc và tại lớp

Trang 37

K39D- GDMN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 với kết quả khảo sát nhưtrên

Ngày đăng: 06/01/2020, 08:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Âm (2003), Giáo dục học mầm non (tập 3), NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2003
2. Nguyễn Đổng Chi (1993), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập), NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: NXBVăn nghệ TP Hồ Chí Minh
Năm: 1993
3. Lê Thu Hương (2007), Tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non theo hướng tích hợp, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầmnon theo hướng tích hợp
Tác giả: Lê Thu Hương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
4. Nguyễn Xuân Khoa (2003), Tiếng Việt (2 tập), NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Xuân Khoa
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2003
5. Nguyễn Xuân Khoa (2004), phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫugiáo
Tác giả: Nguyễn Xuân Khoa
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2004
6. Lã Thị Bắc Lý - Lê Thị Ánh Tuyết (2009), Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn học
Tác giả: Lã Thị Bắc Lý - Lê Thị Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
7. Đinh Hồng Thái (2007), Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em
Tác giả: Đinh Hồng Thái
Nhà XB: NXBĐại học Sư phạm
Năm: 2007
8. Hoàng Thị Oanh - Phạm Thị Việt - Nguyễn Kim Đức (2005), Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương phápphát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
Tác giả: Hoàng Thị Oanh - Phạm Thị Việt - Nguyễn Kim Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
9. Hoàng Thị Oanh - Phạm Thị Việt - Nguyễn Kim Đức (2005), phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phương phápphát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi
Tác giả: Hoàng Thị Oanh - Phạm Thị Việt - Nguyễn Kim Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
10. Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2005), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2005
11. Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2007), Giáo dục mầm non, những vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mầm non, những vấn đề lí luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007
12. Lê Thanh Vân (2009), Sinh lí học trẻ em, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lí học trẻ em
Tác giả: Lê Thanh Vân
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2009
13. Các tạp chí: Tạp chí Giáo dục Mầm non, Tạp chí Ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Mầm non", Tạp chí
14. Một số trang web: mammon.com, luanvan.net, thuvien.net Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w