TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA GIÁO DỤC MẦM NON NGUYỄN THỊ THẢO PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG VIỆT CHO TRẺ 4-5 TUỔI DÂN TỘC DAO KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phương pháp phát
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
NGUYỄN THỊ THẢO
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG VIỆT CHO TRẺ 4-5 TUỔI DÂN TỘC DAO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ
HÀ NỘI -2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
NGUYỄN THỊ THẢO
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG VIỆT CHO TRẺ 4-5 TUỔI DÂN TỘC DAO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THU HƯƠNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sựgóp ý, giúp đỡ của các Thầy (Cô) trong khoa Giáo dục Mầm non; Bangiám hiệu cùng giáo viên điểm trường bản 4 Vành – Trường Mầm nonXuân Thượng (Xuân Thượng, Bảo Yên, Lào Cai); các anh chị và cácbạn sinh viên khoa Giáo dục Mầm non, trường Đại học Sư phạm Hà Nội2
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo - TS Nguyễn Thu Hương, người đã tận tình chỉ bảo, trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp đại học này
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Thảo
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đề tài “Phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ 4-5 tuổi dân tộcDao” là kết quả nghiên cứu của tôi Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụngtài kiệu của một số nhà nghiên cứu, một số tác giả khác Tuy nhiên đó là cơ sở
để tôi rút ra những vấn đề cần tìm hiểu của đề tài mình Những kết quả và các
số liệu trong luận văn chưa được công bố dưới bất cứ hình thức nào Tôi hoàntoàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thảo
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7
1.1 Một số vấn đề về từ và vốn từ trong tiếng Việt 7
1.1.1 Từ tiếng Việt 7
1.1.2 Vốn từ tiếng Việt 8
1.2 Nhiệm vụ và nội dung phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi 10
1.2.1 Nội dung phát triển ngôn ngữ trong chương trình giáo dục mầm non cho trẻ 4-5 tuổi 10
1.2.2 Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ 11
1.2.3 Nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 12
1.2.4 Phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 13
1.2.5 Hình thức phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 19
1.3 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi 20
1.4 Đặc điểm vốn từ của trẻ 4 - 5 tuổi dân tộc Dao 22
1.5 Đặc điểm tâm - sinh lý của trẻ 4 - 5 tuổi 23
1.5.1 Đặc điểm sinh lý 23
1.5.2 Đặc điểm phát triển tâm lý 25
1.6 Thực trạng phát triển vốn từ mẫu giáo 4 - 5 tuổi dân tộc Dao 32
Trang 71.6.1 Mục đích điều tra 32
1.62 Đối tượng và địa bàn điều tra 32
1.6.3 Nội dung điều tra 32
1.6.4 Phương pháp điều tra 33
1.6.5 Thời gian điều tra 33
1.6.6 Phân tích và đánh giá kết quả điều tra 33
CHƯƠNG II: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG VIỆT CHO TRẺ DÂN TỘC DAO VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 42
2.1 Nguyên tắc lựa chọn các biện pháp triển vốn từ cho trẻ 42
2.2 Cácbiện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi 43
2.2.1 Biện pháp trực quan để phát triển vốn từ cho trẻ 43
2.2.2 Sử dụng biện pháp luyện tập theo mẫu để phát triển vốn từ cho trẻ 48
2.2.3 Thực hành giao tiếp để phát triển vốn từ cho trẻ 50
2.2.4 Biện pháp giảng giải 52
2.2.5 Tổ chức trò chơi dân gian (truyền thống) giúp trẻ em 4 – 5 tuổi dân tộc Dao dạy nói tiếng Việt 55
2.2.6 Tạo môi trường học phong phú đa dạng 59
2.2.7 Nâng cao nhận thức của giáo viên về việc phát triển ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 4-5 tuổi dân tộc Dao trong các hoạt động giáo dục 61
2.3 Thực nghiệm sư phạm 63
2.3.1 Mục đích thực nghiệm 63
2.3.2 Nội dung thực nghiệm 63
2.3.3 Đối tượng thực nghiệm 64
2.3.4 Địa điểm thực nghiệm 64
2.3.5 Quy tình thực nghiệm 64
2.3.6 Tiêu chí đánh giá 64
2.3.7.Giáo án thực nghiệm 65
Trang 82.3.8 Kết quả thực nghiệm 65 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
Trang 91 Lý do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Giao tiếp là nhu cầu không thể thiếu của con người, hoạt động giao tiếp
là hoạt động thông qua phương tiện ngôn ngữ, ngôn ngữ có vai trò rất quantrọng đối với con người, nhờ ngôn ngữ con người có thể lĩnh hội các tri thức
và người ngày càng phong phú, nó giúp con người có thể thông báo trao đổithông tin cho nhau
Ngôn ngữ có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của conngười nói riêng và xã hội nói chung, nó giúp con người phát triển toàn diện vềcác mặt trí tuệ,đạo đức, thể lực, thẩm mĩ Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầmnon là thông qua ngôn ngữ trẻ có thể nhận thức được thế giới xung quanhđồng thời có thể cảm thụ hiểu đúng đắn về cái đẹp trong xã hội, trong nghệthuật Từ đó giúp trẻ hiểu biết về những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức rènluyện cho trẻ những tình cảm, hành vi đạo đức phù hợp Ngoài ra ngôn ngữcòn đóng vai trò quan trọng đáng kể, trong các hoạt động hằng ngày cần đếnngôn ngữ để có thể hướng dẫn trẻ thực hiện tốt các yêu cầu cần đạt Hoạtđộng nói có liên quan đến các bộ phận khác nhau như hô hấp, thính giác…Trong thực tế, chúng ta thường thấy khi giao tiếp Tại sao ở cùng một độtuổi có trẻ này có khả năng nói năng mạch lạc, rõ ràng, diễn đạt đầy đủ ýmuốn suy nghĩ của mình chomọi người xung quanh có thể nghe được hiểuđược Ngược lại ở trẻ khác thì lại lúng lúng, thiếu tự tin trong giao tiếp, chưamạnh dạn, chưa truyền đạt được nguyện vọng và ý muốn của mình cho ngườikhác hiểu Nhìn chung trẻ còn nhiều hạn chế khi giao tiếp bằng ngôn ngữ Sựkhác biệt đó được thể hiện rõ giữa những trẻ ở miền núi và trẻ miền xuôi, giữatrẻ giữa thành phố và vùng quê Vì ngôn ngữ của trẻ còn nhiều hạn chế chưađược khắc phục, việc làm này lại nằm trong khả năng của giáo viên, của cha
Trang 10mẹ và những người xung quanh trẻ, nhất là những trẻ dân tộc thiểu số ở vùngnúi phía Bắc Điển hình trong đó là dân tộc Dao.
Dân tộc Dao là một trong những dân tộc thiểu số sống ở Việt Nam, sốngrải rác ở các vùng núi phía Bắc thường là các tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Sơn La,Lai châu…Địa bàn cư trú chủ yếu là miền núi, dân cư thưa thớt, sinh sống chủyếu ở các thôn bản khó khăn, chủ yếu là văn hóa dân tộc ít người, có rất ít sựgiao thoa tiếp thu từ bên ngoài Vì vậy trước khi đến trường trẻ em dân tộcbiết rất ít tiếng Việt,nên ảnh hưởng tới quá trình giao tiếp với thầy cô bằngtiếng Việt Trẻ thường rụt rè thiếu tự tin vào bản thân
Là một người con của đồng bào dân tộc thiểu số, là sinh viên lớp K39D Giáo dục Mầm non và trong tương lai sẽ trực tiếp giáo dục con em dân tộcthiểu số Tôi thiết nghĩ để giáo dục công việc này, tôi cần có trình độ hiểu biếtnhất định, đồng thời có biện pháp giáo dục phù hợp để phát triển vốn từ chotrẻ
-Nhận thức rõ tầm quan trọng ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ em dân tộcthiểu số nói chung, và trẻ em 4-5 tuổi dân tộc Dao nói riêng, tôi đã chọn đề tài
“Một số biện pháp phát triển vốn từ để nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻmẫu giáo 4-5 tuổi dân tộc Dao”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt chỉ được sinh ra và phát triểntrong xã hội loài người Ngôn ngữ là công cụ để tư duy, là chìa khóa để nhậnthức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng của nhân loại Như vậy, ngôn ngữkhông chỉ như một chìa khóa vạn năng nó không chỉ hỗ trợ quan trọng trongviệc giao tiếp giữa con người với con người, mà ngôn ngữ còn là phương tiệnnhận thức thế giới xung quanh, trong lao động mà còn làm cho con người pháttriển cả về tư duy, đạo đức, thể chất thẩm mĩ Vì vậy, qua nhiều thời đại ngôn
Trang 11ngữ đã trở thành đối tượng nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực: Triết học, toánhọc, văn học, tâm lý học, xã hội học…và đạt được nhiều thành công rực rỡ.Đặc biệt là trẻ em những chủ nhân tương lai của đất nước đã giành được
sự quan tâm rất lớn của người thân, gia đình, nhà trường và xã hội Việc pháttriển ngôn ngữ cho trẻ như việc khai hoang một miền đất mới bởi đã gây được
sự đầu tư tìm hiểu của các nhà ngôn ngữ ở trong nước
Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”, tác giảNguyễn Xuân Khoa đã dày công nghiên cứu bộ môn tiếng Việt, tìm hiểu cácmối quan hệ giữa phát triển tiếng với các môn khoa học khác nhằm nghiêncứu để phát triến ngôn ngữ cho trẻ Trong cuốn sách này Nguyễn Xuân Khoa
đã đưa ra các phương pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách cụ thể.Trong đó có chương phương pháp phát triển từ ngữ, ở chương này tác giả đãđem đến cho người đọc, nhất là giáo viên và phụ huynh có thể nắm được nắmđược đặc điểm ngôn ngữ ở trẻ và từ đó có các biện pháp giáo dục theo từng
độ tuổi để từ đó đạt kết quả cao trong quá trình giáo dục trẻ phát triển vốn từ.Ngoài ra ông còn đưa ra một số lỗi phát âm và trò chơi, từ đó giúp trẻ tích lũyđược vốn từ đa dạng, phong phú
Bên cạnh đó tiến sĩ Trịnh Thị Hà Bắc cũng nghiên cứu về vấn đề này,trong tài liệu phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ, bà đã đề cập đến sự pháttriển vốn từ của trẻ ở từng giai đoạn Trên cơ sở vốn từ ở từng lứa tuổi giáoviên có thể áp dụng các phương pháp, biện pháp để phát triển vốn từ của trẻcho phù hợp
Riêng vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số, ngườidân tộc thiểu số vẫn còn gặp nhiều khó khăn Trong những công trình nghiêncứu khoa học có rất nhiều bài viết nghiên cứu về việc mở rộng vốn từ cho họcsinh Bài viết của các tác giả Lý Toàn Thắng, Nguyễn Văn Lợi “Về sự pháttriển của ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong thế kỉ XX” Bài viết
Trang 12đã đề cập đến những khía cạnh như: Đặc điểm về sự hình thành và phát triểncộng đồngcác dân tộc Việt Nam và lịch sử hình thành các ngôn ngữ dân tộcViệt Nam, đặc điểm về dân số - tộc người và địa lí - tộc người của ngôn ngữdân tộc thiểu số Việt Nam, đặc điểm về phạm vi giao tiếp của ngôn ngữ dântộc thiểu số ở Việt Nam Các tác giả đã làm rõ một số vấn đề khá phức tạp củaviệc phát triển ngôn ngữ cho đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta, chỉ ranhững tồn tại trong việc đưa tiếng phổ thông với đồng bào dân tộc thiểu số, để
từ đó có những hoạch định trong tương lai Bên cạnh đó, các tác giả đã chỉ ramột số trở ngại, yếu kém, hạn chế cho sự phát triển ngôn ngữ và đề xuất một
số giải pháp về xu thế thống hợp, quy tụ là là những xu thế chủ yếu trong sựphát triển ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở nước ta, xóa dần sự khác biệt giữa cácthổ ngữ, phương ngữ
Trong bài “nét đẹp trong trong ngôn ngữ dân tộc Tày” của một bài báotỉnh Cao Bằng cũng đã nói về mối quan hệ giữa tiếng Tày và tiếng Kinh, ngônngữ tày rất giàu và đẹp Như vậy, ngôn ngữ dân tộc Tày kết hợp với ngôn ngữdân tộc Kinh càng trở nên phong phú, uyển chuyển và tinh tế
Từ trước đến nay dường như chưa có một đề tài nào nghiên cứu về vấn
đề phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi dân tộc Dao Vì vậy tôi chọn đềtài này nhằm tìm ra một số biện pháp để giúp vốn từ của trẻ em dân tộc Daongày càng phát triển, các em ngày càng có khả năng giao tiếp tốt với mọingười xung quanh bằng tiếng Kinh
3 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ mẫugiáo 4-5 tuổi dân tộc Dao
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này cần làm các nhiệm vụ như sau:
Trang 13Tìm hiểu một số cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn liên quan đến phát triểnvốn từ cho trẻ mẫu giáo.
Khảo sát thực trạng của trẻ 4-5 tuổi về phát triển vốn từ trên địa bànTrường Mầm non Xuân Thượng, xã Xuân Thượng-huyện Bảo Yên- tỉnh LàoCai
Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 4-5 tuổi
Tổ chức thực nghiệm để đảm bảo tính khả thi của biện pháp cho trẻ 4-5tuổi dân tộc Dao mà đề tài nghiên cứu
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng: Phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ 4-5 tuổi dân tộc Dao Khách thể: Quá trình giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4 – 5 tuổi ởTrường Mầm non Xuân Thượng
6 Phạm vi nghiên cứu
Vì điều kiện có hạn nên tôi chỉ tìm hiểu thực trạng và thực nghiệm trênđiểm Trường Mầm non Xuân Thượng, xã Xuân Thượng-huyện Bảo Yên-tỉnhLào Cai
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu sách, tài liệu liên quan đến đề tài, đọc và hệ thống hóa cáctài liệu liên quan đến cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu và các tài liệu liênquan đến hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng phiếu điều tra trực tiếp trên giáo viên và phụhuynh ở điểm trường mầm non Xuân Thượng, xã Xuân Thượng-huyện BảoYên-Tỉnh Lào Cai
Phương pháp quan sát: Quan sát giờ dạy của giáo viên, các hoạt độngcủa trẻ, quan sát hoạt động hằng ngày của trẻ
Trang 14Phương pháp trò chuyện- đàm thoại với giáo viên và phụ huynh, phươngpháp trò chuyện với trẻ.
Phương pháp phân tích, so sánh giữa lớp thực nghiệm với lớp đối chứng
8 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo đề tài của tôiđược cấu trúc thành 2 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Biện pháp phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ dân tộc Daovàthực nghiệm sư phạm
Trang 15NỘI DUNG CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC
TIỄN1.1 Một số vấn đề về từ và vốn từ trong tiếng Việt
1.1.1 Từ tiếng Việt
Khái niệm: Từ là một đơn vị để xây dựng câu, xây dựng lời nói Từ là công
cụ cơ bản và hữu hiệu trong giao tiếp Từ bao gồm hai mặt âm thanh và ýnghĩa [7]
Phân loại: Có thể phân chia các từ tiếng Việt về các mặt cấu tạo thành: từđơn và từ phức (từ láy và từ ghép)
Từ đơn
Đại bộ phận các từ đơn là một âm tiết, chúng mang những đặc trưngngữ nghĩa chủ yếu của từ vựng tiếng Việt [7].Ví dụ: Nước, cơm, cây… Cómột số ít từ đơn đa âm tiết như: Bù nhìn, mồ hôi, bò hóng Có một số từđơn đa âm tiết là từ vay mượn của các ngôn ngữ ấn âu như: cà phê, ô tô…
Từ phức: Từ láy và từ ghép
Từ láy là từ trong đó các âm tiết có quan hệ với nhau về ngữ âm(chắn chắn, làm lụng, bàn bạc…) hoặc giống nhau ở vần (bối rối, lì xì…)hoặc có những âm tiết khác nhau (chuồn chuồn, xanh xanh…) Từ láy baogồm láy đôi (tôn tốt, bối rối…), láy ba (dửng dừng dưng, khít khìn khịt…)
và láy bốn (hớt hơ hớt hải, lơ thơ lẩn thẩn…)[7]
Từ ghép là từ trong đó các thành tố có ý nghĩa được kết hợp vớinhau, các thành tố này có thể độc lập hoặc không độc lập Từ ghép bao gồm
từ ghép đẳng lập (đẹp tươi, to lớn, nhà cửa…) và từ ghép chính phụ (áo dài,sân bay, chia rẽ…)[7]
Trang 161.1.2 Vốn từ tiếng Việt
1.1.2.1.Khái niệm
Vốn từđược hình thành và tích lũy dần trong quá trình trưởng thành củacon người, xét trên 4 phương diện: số lượng, cơ cấu từ loại, khả năng hiểunghĩa của từ và việc sử dụng tích cực hay thụ động Vốn từ của một người chỉ
có thể hình thành khi người đó sử dụng (ngôn ngữ nào đó) giao tiếp trongcuộc sống và học tập Như vậy vốn từ tỉ lệ thuận với mức độ, mật độ giao tiếpcủa con người Nói cách khác một người sử dụng một ngôn ngữ nào đó để họctập,giao tiếp càng nhiều thì vốn từ đó càng phong phú Vì vậy, môi trườnggiao tiếp, học tập vô cùng quan trọng đối với việc hình thành vốn từ vựng củacon người [7]
Việc phát triển vốn từ cho trẻ là giúp trẻ nắm được nhiều từ, hiểu ý nghĩacủa từ và biết sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp
1.1.2.2.Vai trò của vốn từ tiếng Việt đối với sự phát triển của trẻ 4-5 tuổidân tộc Dao
Ngôn ngữ tiếng Việt là công cụ giao tiếp
“Bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” (Marx).
“Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng Giao tiếp là một đặc trưng quan trọng của con người Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất”,
(Lênin) Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được nhau và cùng nhauhoạt động vì những mục đích chung: Lao động, đấu tranh, xây dựng và pháttriển xã hội.Không có ngôn ngữ không thể giao tếp được, thậm chí không thểtồn tại được, nhất là trẻ em, một sinh thể yếu ớt cần được chăm sóc, bảo vệcủa người lớn
Ngôn ngữ chính là một phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành một thànhviên của xã hội loài người Ngôn ngữ là công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏnguyện vọng của mình từ khi trẻ còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc,
Trang 17điều khiển, giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia vào hoạtđộng và vào trong hoạt động hình thành nhân cách của trẻ.
Ngôn ngữ tiếng Việt là một công cụ để phát triển tư duy và nhận thức
Quá trình trưởng thành của trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ Công cụ đểphát triển tư duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ chính là hiện thực (sựhữu hiệu) của tư duy Tư duy của con người có thể hoạt động được (nhất là tưduy trừu tượng) cũng chính là nhờ có phương tiện ngôn ngữ Tư duy và ngônngữ có quan hệ mật thiết với nhau Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tưduy của con người không diễn ra được Ngôn ngữ làm cho kết quả của tư duyđược củng cố lại, do đó có thể khách quan hóa nó cho người khác và cho bảnthân chủ thể tư duy Ngược lại nếu không có tư duy với các sản phẩm của nóthì ngôn ngữ chỉ là âm thanh vô nghĩa
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ không chỉ là mục đích tự thân, có ngôn ngữ
tư duy của trẻ được phát triển Đây là hai mặt của một quá trình biện chứng cótác động qua lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau (Galperin: Ngôn ngữ có vai tròđến sự phát triển tâm lý của trẻ em) Ngôn ngữ phát triển làm cho tư duy pháttriển, ngược lại tư duy phát triển càng làm thúc đẩy nhanh quá trình phát triểncủa ngôn ngữ
Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi, đây là những hoạt độngchủ yếu của trường mầm non Giống như việc dạy tiếng mẹ đẻ ở các cấp họckhác, phát triển lời nói cho trẻ mầm non thực hiện mục tiêu “kép” Đó là trẻhọc để biết tiếng mẹ đẻ đồng thời sử dụng nó để vui chơi, học tập Ngôn ngữđược tích hợp trong tất cả các loại hình hoạt động giáo dục, ở mội nơi, mộilúc Như vậy ngôn ngữ có tất cả các hoạt động và ngược lại, mọi hoạt độngđều tạo cơ hội cho ngôn ngữ trẻ phát triển
Ngôn ngữ tiếng Việt là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện
Trang 18Sự phát triển của trẻ bao gồm cả sự phát triển về đạo đức, chuẩn mựchành vi văn hóa Điều gì tốt, điều gì xấu và cần phải ứng sử giao tiếp thế nàocho phù hợp… không chỉ là sự bắt chước máy móc Ngôn ngữ phát triển sẽgiúp cho trẻ mở rộng giao tiếp Điều này giúp trẻ có điều kiện học hỏi những
gì tốt đẹp xung quanh Bằng lời nói cô giáo cũng dễ dàng hơn trong việc giảithích, nêu gương thuyết phục trẻ, giáo dục những hành vi đạo dức cho trẻ.Ngôn ngữ phát triển giúp trẻ sớm tiếp thu giá trị thẩm mỹ trong thơ ca,truyện kể, những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên của người lớn có thểđem đến cho trẻ những ngày thơ ấu Sự tác động của lời nói nghệ thuật nhưmột phương tiện hữu hiệu giáo dục thẩm mỹ
1.2 Nhiệm vụ và nội dung phát triển vốn từ cho trẻ 4-5 tuổi
1.2.1 Nội dung phát triển ngôn ngữ trong chương trình giáo dục mầm non cho trẻ 4-5 tuổi
1.2.1.1 Nghe
Hiểu các từ chỉ đặc điểm, tính chất, công dụng và các từ biểu cảm
Hiểu và làm theo được 2, 3 yêu cầu
Nghe hiểu nội dung các câu đơn, câu mở rộng, câu phức
Nghe hiểu nội dung chuyện kể, chuyện đọc phù hợp với tuổi
Nghe những bài hát, bài thơ, ca dao, đồng dao, tục ngữ, câu đố, hò,vèphù hợp với tuổi
1.2.1.2 Nói
Phát âm các tiếng có chứa các âm khó
Bày tỏ tình cảm, nhu cầu và hiểu biết của bản thân bằng những câu đơngiản, câu ghép
Trả lời và đặt các câu hỏi: “Ai ?”; “Cái gì ?”; “Ở đâu ?”; “Khi nào ?”;
“Để làm gì ?”…
Sử dụng các từ biểu thị lịch sự lễ phép
Trang 19Nói và thể hiện cử chỉ, điệu bộ, nét mặt phù hợp với yêu cầu, hoàn cảnhgiao tiếp.
Đọc thơ, ca dao, đồng dao, tục ngữ, hò, vè
Kể lại chuyện được nghe
Mô tả sự vật, hiện tượng, tranh ảnh
Kể lại sự vật có nhiều tình tiết
Đóng kịch
1.2.2 Nhiệm vụphát triển vốn từ cho trẻ
Làm giàu vốn từ cho trẻ, giúp trẻ làm quen với các từ mới và chú ýđến cơ cấu từ loại hợp lý trong vốn từ của trẻ.
Việc làm giàu vốn từ cần tiến hành trên nguyên tắc mở rộng dần từcụ thểđến khái quát và cần cho cuộc sống của trẻ Ở giai đoạn đầu, cần cung cấp chotrẻ những từ ngữ mang ý nghĩa cụ thể (các đồ vật trong gia đình, các cây,con… gần gũi, các động từ biểu thị hoạtđộng cơ bản của con người, các tính
từ chỉ đặc điểm bên ngoài của sự vật…)
Ở giai đoạn sau, cung cấp cho trẻ những từ mang ý nghĩa khái quát hơn.Làm giàu những từ ngữ chỉ số, những từ ngữ trừu tượng.Cho trẻ biết một từ
có thể có nhiều nghĩa (đi học, đi găng tay), cónghĩa chính và nghĩa phụ (đốivới trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi và mẫu giáo 5–6tuổi)
Trên cơ sở nghĩa vốn có, có thể phát triển thêm các nghĩa mới của từ.Cóthể cho trẻ biết một số ẩn dụ (răng lược, chân ghế, mũi kim) và hoán dụ(đỏmặt tía tai) dễ hiểu.Để làm phong phú vốn từ, có thể cho trẻ tìm từ tráinghĩa.Cần phải dạy trẻ mầm non biết ghi nhớ và sử dụng các thành ngữ(đennhư mực, chậm như rùa, đỏ như gấc), tục ngữ với nội dung phù hợp vàcáchnói gợi cảm, dễ nhớ của các thành ngữ, tục ngữ đó Trong khi hình thành vốn
từ cho trẻ cần chú ý đến cơ cấu từ loại (saocho có đủ các từ loại tiếng Việt với
tỉ lệ thích hợp)
Trang 20Củng cố vốn từ, giúp trẻ hiểu được ý nghĩa của từ
Để vốn từ của trẻ được mở rộng giáo viên thường xuên củng cố vốn từbằng cách nhắc lại nhiều lần những từ mới được học trong các hoạt động chotrẻ phát âm những từ khó, tích cực sửa sai cho trẻ và chú ý dạy trẻ phát âmđúng những từ mới học.Đặc biệt chú ý đến việc củng cố nghĩa của từ, nhắc lạinhiều lần ý nghĩa của từ để củng cố vững chắc cho trẻ
Tích cực hóa vốn từ cho trẻ
Để vốn từ của trẻ thêm phong phú giáo viên nên biết lựa chọn từ để trẻ sửdụng một cách chính xác, thành thạo,biểu cảm Đồng thời giúp trẻ có một trínhớ linh hoạt để tìm ra những từ ngữ cần thiếtcho sự diễn đạt Tích cực hoávốn còn từ giúp trẻ vận dụng từ vào lời nói làm cho vốn từngữ thụ độngchuyển sang từ ngữ tích cực.Giáo viên cần chú ý ngăn ngừa trẻ sử dụngnhững từ ngữ thô tục, thiếu văn hoá
1.2.3 Nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
N
h ữ n g t ừ n g ữ về c u ộ c s ốn g r i ê n g
Mở rộng thế giới đồ vật trong tầm nhìn của trẻ,giáo viên nên cho trẻtiếp xúcvới tất cả những đồ vật có trong nhà, trường mầm non Trẻ phânbiệt đượcnhững đặc điểm của các đồ dùng, đồ vật gần nhau (cái ghế, cầuthang, cửa sổ,cái quạt…) Trẻ nhớ địa chỉ trường, nhận biết được môitrường xung quanh một cáchcó phương hướng(trẻ biết đâu là trước, sau,phải, trái…), sử dụng được các từ chỉ hoạt động hàng ngày của trẻ (ăn cơm,
đi học, đi tập thể dục, đi về…).Bên cạnh đó trẻ cũng nhận biết được và gọiđúng các màu xanh, đỏ, đen, trắng, tím, vàng (quả bóng có màu xanh, bứctường có màu vàng, cửa sổ có màu đỏ)
N
h ữ n g t ừ n g ữ về c u ộ c s ốn g xã h ộ i
Cho trẻ hiểu biết hơn các kiến thức về xã hội chúng ta nên cung cấpcho trẻ biết thêm các ngày lễ lớn(ngày 8 -3, này 20 -11, tết Nguyên Đán);
Trang 21kể về nơi Bác làm việc (Bắc Bó, Bến cảng Nhà Rồng), kể vềLăng Bác, vềBảo tàng Hồ Chí Minh.
Cung cấp cho trẻ tên gọi một số cơ quan nhà nước và chứcnăng củachúng Chẳng hạn bệnh viện có chức năng khám chữa bệnh cho mọi người,Trường học là một cơ quan được lập ra nhằm giáo dục học sinh dưới sựgiám sát của giáo viên
Quan sát, gọi tên và hiểu chức năng của các công trìnhcông cộng như
“công viên” là nơi để vui chơi giải trí hoặc “bãi đỗ xe” là nơi để các loại xe đểvào đúng nơi quy định.Tiếp tục cung cấp vốn từ về bộ đội, công an, nông dân,côngnhân
N
h ữ n g t ừ n g ữ nó i về th ế g i ớ i t ự n h i ên
Thế giới tự nhiên rất gần gũi với trẻ, vì vậy nên cho trẻ nhận biết và gọitên đúng mùi vị một số loại rau, hoa, quả (chuối, cam, hồng, mận,táo, lê,…,hoa hồng, hoa đồng tiền, hoa mười giờ,…, rau cải, rau muống, rau mồngtơi…) Đồng thời cho trẻ gọi tên các con vật tương đối giống nhau, cho trẻ sosánhđể thấy được những điểm giống và khác nhau giữa chúng Giáo viên cóthể cung cấp cho trẻ tên gọi về ích lợi và tác hại của một số loài vật (rắn, trâu,voi, cáo, chó…) Bên cạnh đó giáo viên cũng có thể mở rộng hiểu biết vềthiên nhiên, đặc điểm các mùa (Mùa xuân cây cối đâm chồi, nảy lộc Mùa hè
có nắng chói chang, các bạn nhỏ thường đi tắm biển Mùa thu lá cây vàng vàtrở nên sơ xác Mùa đông lạnh nên các bạn nhỏ phải mặc quần áo ấm.)
1.2.4 Phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo
Trang 22chính xác với vật và đặc điểm của vật Trong khi xem xét, cô giáo kết hợp chỉvào vật hoặc từng chi tiết, đặc điểm của vật với từ được gọi (trong trường hợpkhông có vật thật, cô giáo cho trẻ tiếp xúc với đồ chơi, tranh ảnh…).
Q
u a n s á t
Quan sát là dạy trẻ sử dụng những giác quan, bộ máy vận động của mình
để tích lũy dần dần những kinh nghiệm, những hình ảnh, những biểu tượng và
kỹ xảo ngôn ngữ Khi tổ chức quan sát, không nên chỉ hướng sự chú ý của trẻvào các sự vật và hiện tượng riêng lẻ, mà cần phải làm cho trẻ thấy được mốiquan hệ giữa chúng Điều đó giúp trẻ suy nghĩ mạch lạc và biểu hiện những
ấn tượng của mình bằng lời nói trôi chảy
T
ha m q ua n
Tham quan là con đường đưa trẻ đến gần sự vật, hiện tượng, trẻ có thểquan sát các sự vật và mở rộng nhận thức của mình, nội dung tham quan phảiđáp ứng được sở thích của trẻ Buổi tham quan không mang tính chất của mộtbài học, sau buổi tham quan cần tổ chức ngay các biện pháp củng cố các nhậnthức và ấn tượng thu lượm được thông qua việc trao đổi, trò chuyện
X
em p hi m
Xem phim là hình thức sử dụng máy móc, thiết bị hiện đại vào quá trìnhdạy trẻ, tạo điều kiện cho trẻ có thể quan sát, tham quan cảnh vật mà trẻkhông thểđi đến nơi xem được hoặc xem lại cảnh quay trong quá khứ Xemphim cũng góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ nếu cô giáo lựa chọn phimphù hợp với nhận thức, sở thích… của trẻ kết hợp với tổ chức trò chuyện, đàmthoại sau đó
Nhóm phương pháp trực quan được sử dụng trong dạy học nhằm vào cácmục đích rèn luyện phát âm cho trẻ, hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ, củng cố kiến thức, củng cố vốn từ, đồng thời phát triển ngôn ngữ mạch lạccho trẻ Khi trực quan, trẻ tích lũy dần dần những kinh nghiệm, những hình
Trang 23ảnh, những biểu tượng và dùng phương tiện ngôn ngữ để củng cố và diễn đạt
xa lạ đối với trẻ Đây là việc làm góp phần phát triển vốn từ nói riêng, pháttriển ngôn ngữ nói chung cho trẻ
Kể và đ ọ c t r u y ệ n
Kể và đọc chuyện là phương pháp chủ yếu giúp trẻ làm quen với vănhọc Khi đọc, kể chuyện cô giáo sử dụng ngữ điệu giọng nói để bộc lộ đượcđặc điểm, tnh cách nhân vật Đọc kể phải chậm rãi, vừa phải để trẻ còn lắngnghe và ghi nhớ được các từ ngữ, câu văn trong truyện điều đó giúp trẻtích luỹ vốn từ và học được cách thể hiện qua giọng đọc, giọng kể của cô
Trang 24có kế hoạch nhằm mục đích đi sâu, làm cho chính xác và hệ thống tất cảnhững biểu tượng và kiến thức mà trẻ thu lượm được.
Trang 25Mục đích của đàm thoại là củng cố và hệ thống hóa bằng công cụ ngônngữ tất cả những kiến thức mà trẻ thu nhận được Trong khi đàm thoại,yêu cầu trẻ phải suy nghĩ, lựa chọn từ ngữ, cách diễn đạt để thực hiện cuộcgiao tếp Qua quá trình đàm thoại, trẻ được nói về những suy nghĩ, hiểu biếtcủa mình, điều đó đã góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
N
ó i m ẫ u
Được sử dụng khi chỉ cho đứa trẻ cách thức tốt nhất để diễn đạt ýnghĩ của mình (có nghĩa là sử dụng câu đúng để diễn đạt) Nói mẫu còn sửdụng để củng cố, nhắc lại chính xác hóa từ, câu hay một đoạn văn Tuynhiên, số
lượng câu trong mẫu phải phù hợp với khả năng chú ý và trí nhớ của trẻ
Ví dụ: Cô có mẫu câu: Chủ ngữ - Vị ngữ - Bổ ngữ
Con ăn cơm (C - V - B)
Khi nói mẫu, giáo viên phải chú ý không nhắc lại cái sai của trẻ
G
i ả n g g i ả i
Cô nên dùng lời lẽ của mình để nói cho trẻ hiểu về bản chất, đặc điểm của một vật hoặc một hành động nào đó Khi cô sử dụng những từ trẻ đãbiết để giải nghĩa cho những từ trẻ chưa biết sẽ góp phần rất lớn trong việcphát triển vốn từ cho trẻ
C â u h ỏ i
Hệ thống câu hỏi được xây dựng theo mục đích phát triển ngôn ngữ củagiáo viên Chẳng hạn nếu muốn dạy trẻ nói những câu ghép, giáo viên sẽ sửdụng các dạng câu hỏi mà khi trả lời, trẻ phải trả lời bằng câu ghép
Câu hỏi đưa ra có mục đích phát triển ngôn ngữ yêu cầu trẻ biết lựachọn từ ngữ, sử dụng các kiểu câu và diễn đạt khi trả lời, góp phần quantrọng trong việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp Ở lứa tuổi mầm non, câu hỏithường
Trang 26hướng sự chú ý của trẻ tới việc nhận thức đối tượng và thường được kết hợp với trực quan.
Trang 27Vai trò của nhóm phương pháp dùng lời
Phương pháp dùng lời giúp trẻ cảm nhận được vần điệu, nhịp điệu củatếng Việt thông qua việc đọc, kể thơ truyện Phát triển ngôn ngữ nghệ thuậtcho trẻ, giúp trẻ làm quen với cách diễn đạt của ngôn ngữ văn học
Việc giải thích các từ khó, từ xa lạ đối với trẻ trong các tác phẩm vănhọc cũng góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ Việc sử dụng những từ trẻ
đã biết để giải nghĩa cho những từ trẻ chưa biết góp phần quan trọng vàoquá trình phát triển vốn từ, mở rộng vốn sống, vốn hiểu biết của trẻ
Sử dụng câu hỏi, đàm thoại đượcgiáo viên sắp xếp có tổ chức, có kếhoạch nhằm mục đích đi sâu, làm cho chính xác và hệ thống tất cả nhữngbiểu
tượng và kiến thức mà trẻ thu lượm được, đông thời giáo viên yêu cầu trẻphải
suy nghĩ, lựa chọn từ ngữ để trả lời câu hỏi được đặt
ra
Phương pháp dùng lời chỉ cho đứa trẻ cách thức tốt nhất để diễn đạt ýnghĩ của mình, nói rõ hơn có nghĩa là sử dụng câu đúng để diễn đạt, đồngthời để củng cố, nhắc lại chính xác hóa từ, câu hay một đoạn văn
Phương pháp thực hành
P h á t t r i ể n n gô n n g ữ c h o t rẻ q u a t r ò c h ơ i
Ngôn ngữ và tư duy liên hệ chặt chẽ với hoạt động, lao động của conngười Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ em Vui chơi đượcthể hiện qua các trò chơi Trò chơi góp phần phát triển toàn diện cho trẻtrong đó có ngôn ngữ
Từ những kinh nghiệm trong trò chơi trẻ khám phá ra những biểu tượngrồi liên hệ chúng với từ Mỗi vật có tên riêng, mỗi hành động có một động từriêng để chỉ nó cho nên nếu cô giáo tổ chức tốt hoạt động chơi, cung cấp
đủ đồ dùng, đồ chơi thì trẻ có điều kiện tăng cường hoạt động ngôn ngữ
Trang 28Trò chơi đóng vai theo chủ đề phát triển ngôn ngữ và nhiều mặt cho trẻ,
đặc biệt là khẩu ngữ Trong quá trình chơi trẻ không hề im lặng mà còn chia
Trang 29sẻ với nhau những kinh nghiệm của mình, điều này cần đến ngôn ngữ Có thểnói hoạt động vui chơi là hoạt động góp phần phát triển toàn diện chotrẻ, trong đó có ngôn ngữ.
Phương pháp sử dụng trò chơi
Đây là phương pháp mà giáo viên sẽ sử dụng các loại trò chơi khác nhau
để phát triển ngôn ngữ cho trẻ Trò chơi chiếm giữ một vị trí quan trọngtrong các hoạt động giáo dục ở trường mầm non, đối với việc dạy nói chotrẻ thì
điều này càng rõ, có nhiều trò chơi có thể sử dụng được vào mục đích dạynói cho trẻ Đó là các trò chơi luyện phát âm, luyện thở ngôn ngữ, phát triểnvốn từ, nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc Chẳng hạn trò chơi luyện phát âmnhư ngửi hoa, thổi bóng, hay các trò chơi để phát triển vốn từ như chiếc túi
kỳ diệu Hoặc các trò chơi để phát triển kỹ năng nói mạch lạc, giao tiếpngôn ngữ có văn hoá như các trò chơi đóng vai theo chủ đề: mẹ và con,bán hàng, cô giáo, bác sĩ
Trang 30Trò chơi chiếm giữ một vị trí quan trọng trong các hoạt động giáo dục ởtrường mầm non Thông qua trò chơi trẻ sẽ được thực hành ngôn ngữ,dùng
Trang 31ngôn ngữ để nói ra những ý nghĩ của mình và học hỏi, chia sẻ kinh nghiệmvới bạn.Sử dụng trò chơi để phát triển ngôn ngữ tạo cho trẻ một trạng tháihọc nói tự nhiên, là con đường nhanh nhất để trẻ bắt chước, tập nói và ghinhớ lâu những từ ngữ mới học được.
1.2.5 Hình thức phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo
Phát triển vốn từ cho trẻ qua giờ học
Giờ học khám phá khoa học và làm quen với môi trườngxung quanh Giờhọc Khám phá khoa học và làm quen với môi trường xung quanh giúp trẻtếp xúc với các sự vật hiện tượng, biết được những đặc điểm, cấu tạo, dấuhiệu, hình dáng, chất liệu của sự vật Cho trẻ làm quen với môi trường xungquanh có nhiệm vụ mở rộng dần nhận thức của trẻ về thế giới tự nhiên và xãhội, đòi hỏi cô giáo phải cung cấp vốn từ tương ứng với các sự vật và hiệntượng đem đến cho trẻ Ở những giờ học này, trẻ được rèn luyện kỹ năngphát âm, rèn luyện câu theo cấu trúc ngữ pháp và vốn từ của trẻ tăng lên rấtnhanh tạo điều kiện phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
Giờ làm quen với tác phẩm văn học,giờ học này có tác dụng làm giàuvốn từ(đặc biệt là vốn từ nghệ thuật), phát triển ngôn ngữ mạch lạc chotrẻ, bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm nghệ thuật và diễn đạt bằng ngônngữ văn học
Các tiết học khác (cho trẻ làm quen với toán, tổ chức hoạt động tạohình, giáo dục âm nhạc…) cũng có tác dụng tốt đối với việc phát triểnngôn ngữ của trẻ Qua các hoạt động đó, trẻ được rèn luyện về mặt phát
âm, có thêm
được nhiều từ mới và hiểu được hơn ý nghĩa của các từ đã biết và được rènluyện thêm về mặt ngữ pháp Giáo viên cần sử dụng các giờ học này như làmột phương tiện để củng cố những nội dung ngôn ngữ mà trẻ đã được họctrong các giờ nói trên
Trang 32Phát triển vốn từ cho trẻ qua các hoạt động ngoài giờ học
Trang 33Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua hoạt động vui chơi, thông qua hoạtđộng vui chơi, các biểu tượng mà trẻ thu nhận trước đây được chính xác hoábằng ngôn ngữ Trò chơi đã giúp trẻ nhớ ngôn ngữ, đồng thời tạo ra các tìnhhuống để trẻ sử dụng vốn từ đã tích luỹ được.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua hoạt động lao động khi tham gia vàocác hoạt động lao động, trẻ được tiếp xúc với trực tiếp với thiên nhiên,với đồ dùng lao động, đồ dùng sinh hoạt Trẻ nhận biết được đặc điểm củacác dụng cụ lao động, các thao tác lao động, sản phẩm lao động… Như vậy,trẻ có điều kiện hình thành các biểu tượng chưa có và khắc sâu các biểutượng đã có Từ đó, trẻ sẽ biết sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động lao động.Vốn ngôn ngữ của trẻ sẽ tăng lên
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua hoạt động dạo chơi, tham quanhoạt động dạo chơi, tham quan có tác dụng rất tốt đối với việc mở rộng tầmhiểu biết của trẻ Trẻ rất thích dạo chơi Đồng thời trong quá trình dạo chơitrẻ đặt nhiều câu hỏi về tên gọi, công dụng… của sự vật mà trẻ được tiếpxúc Vì vậy, dạo chơi, tham quan có tác dụng lớn trong việc phát triển vốn từ.Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua sinh hoạt hàng ngày các thời điểm cóthể tạo ra các tình huống phát triển ngôn ngữ cho trẻ: Cho trẻ ăn, cho trẻ
đi ngủ, vệ sinh, chơi tự do Giáo viên cần chọn những nội dung thíchhợp, trò chuyện với trẻ về các nội dung công việc trong sinh hoạt hàng ngày
có liên quan với trẻ Ngoài ra, trong các thời điểm đón trẻ, trả trẻ, giờ chơi tự
do giáo viên cần chủ động trò chuyện với trẻ, gợi mở giúp trẻ tch cực giaotiếp bằng ngôn ngữ
1.3 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi
Xét về mặt số lượng vốn từ của trẻ tăng nhanh theo thời gian, phụthuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, trong đó quan trọng nhất là các tác
Trang 34động của môi trường như: sự tiếp xúc ngôn ngữ thường xuyên của nhữngngười xung
Trang 35quanh, trình độ của cha mẹ Ở giai đoạn này vốn từ của trẻ tăng
1300-2000 từ, trong đó danh từ, động từ vẫn chiếm ưu thế, còn tnh từ và các từloại khác tuy xuất hiện trong ngôn ngữ của trẻ nhưng còn ít và đôi khi trẻ sửdung chưa chính xác
Trẻ 4-5 tuổi phát âm có tiến bộ hơn trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi Trẻ nói rõhơn, dứt khoát hơn, song vẫn sai thanh ngã âm đệm và âm cuối.Ở trẻ đãhình thành những cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ điệu âm tiết Tuynhiên dưới tác động của cảm xúc, trẻ có thể nghe nhầm phát âm nhầm các
âm vị như “t” - “ch” ( “tôm to” thành “chôm cho” ), dễ bị nhòe các phụ âm “l”thành “nh”
Xét về mặt từ loại, danh từ là những từ loại xuất hiện sớm nhất, sau đó là
các từ loại như động từ, tính từ, đại từ, số từ, trạng từ, quan hệ từ Giaiđoạn
3 - 4 tuổi, về cơ bản trong vốn từ của trẻ đã có đủ các loại từ, trong đó tỉ lệdanh từ, động từ cao hơn nhiều so với các loại khác Sang đến giai đoạn 5 - 6tuổi, tỉ lệ danh từ, động từ giảm đi nhường chỗ cho tính từ và các từ loạikhác tăng lên
Khả năng hiểu nghĩa từ của trẻtheo Fedorenko (Nga), ở trẻ em có 5 mức
độ hiểu nghĩa khái quát của từ như:
Mức độ 0: Cuối tuổi lên 1, đầu tuổi lên 2, trẻ tương ứng tên gọi với mộtngười cụ thể, một đồ vật cụ thể (bà, Hùng, bàn, bát ) để chỉ một vật cụ thể,riêng biệt (nghĩa biểu danh)
Mức độ thứ nhất của sự khái quát: Cuối tuổi lên hai, trẻ nắm đượcmức độ thứ nhất của sự khái quát, tức là tên gọi chung của đối tượng cùngloại (đồ vật, hành động, tnh chất): “Bóng” chỉ một quả bóng bất kỳ, “Búp bê”chỉ một con búp bê bất kỳ nào (nghĩa biểu niệm ở mức độ thấp)
Trang 36Mức độ thứ hai của sự khái quát: Trẻ nắm được mức độ thứ hai của sự
khái quát, tức là tên gọi chung của những sự vật không cùng loại: “quả” cóthể
Trang 37chỉ bất kỳ loại quả nào (quả cam, đu đủ, chuối ) “Xe” có thể chỉ bất kỳ loại
xe nào (Ô tô, xích lô ).Ví dụ:
Cam, chuối, đu đủ: mức độ thứ nhất của sự khái
quát Quả: mức độ thứ hai của sự khái quát
Mức độ thứ ba của sự khái quát: Trẻ khoảng 5-6 tuổi có thể nắm đượcmức độ thứ ba của sự khái quát: “đồ vật” có thể chỉ đồ chơi (búp bê, ôtô,máy bay ), đồ gỗ (giường, tủ, bàn ghế ), đồ nấu bếp (nồi, bát, chảo ).Búp bê: Mức độ thứ nhất của sự khái
quát Đồ chơi: Mức độ thứ hai của sự khái
quát Đồ vật: Mức độ thứ ba của sự khái
quát
Mức độ thứ tư của sự khái quát: Là những biểu thị sự khái quát tối đanhư: vật chất, hành động, trạng thái, chất lượng, số lượng, quan hệ,khái niệm
Khả năng nắm được mức độ thứ tư của sự khái quát xuất hiện vào tuổithiếu niên Trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi hiểu được mức độ thứ hai của sự khái quát,trẻ biết tên gọi chung của những sự vật không cùng loại (quả cam, ô tô, xíchlô…) Trẻ 4-5 tuổi cũng có thể hiểu mức độ mang tính khái quát ở giai đoạn 3nhưng chưa toàn vẹn
1.4 Đặc điểm vốn từ của trẻ 4-5 tuổi dân tộc Dao
Đối với trẻ dân tộc thiểu số, việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng bằngtếng Việt là hoàn toàn mới và vô cùng khó bởi tiếng mẹ đẻ của các em vàtếng Việt là hai ngôn ngữ khác nhau Tiếng Việt là tiếng phổ thông nhưngvẫn là ngôn ngữ thứ hai Các em chỉ tếp xúc với tiếng Việt chủ yếu khi trẻđến trường
Tuổi mẫu giáo, trẻ mới bắt đầu trong quá trình học nói, chính vì vậy màcung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ, đặc biệt là dân tộc thiểu số là vô cùng quan
Trang 38trọng Bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ củatrẻ,
Trang 39nên khó khăn trong việc tiếp nhận tiếng Việt, dẫn đến trẻ khó tiếp thulời giảng của cô bằng ngôn ngữ tếng Việt Chính vì vậy việc cung cấp vốntiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề cần được quan tâm, nhằm hìnhthành và phát triển những kỹ năng cần thiết cho việc học tiếng Việt ở lớp mộtphổ thông.
Trẻ em dân tộc Dao đã được kế thừa một nền văn hóa vô cùngphong phú, độc đáo và hấp dẫn ,có thể nói rằng những hiểu biết về vănhóa có thể ảnh hưởng lớn đến vốn từ ở trẻ Ngay trừ khi sinh ra khi mớiđược ba ngày tuổi, người Dao đã tổ chức lễ cúng hát đặt tên, trong lễ cúngngười cha đứa trẻ sơ sinh trực tiếp múa hát cầu cho thần linh phù hộ chođứa trẻ Bên cạnh đó trong mỗi lời ru của bà hay của mẹ cũng làm giàu chovốn từ của trẻ
1.5 Đặc điểm tâm-sinh lý của trẻ 4-5 tuổi
1.5.1 Đặc điểm sinh lý
Khả năng vận động của trẻ ở giai đoạn này làdo sự myelin hoá của hệthần kinh phát triển nhanh nên phối hợp vận động tốt hơn, các giác quanngày một nhạy bén và tnh tế Trên cơ sở đó tạo sự quan sát có mục đích hơn
và dẫn tới nhiều thay đổi Đây là tuổi ngây thơ, là tuổi “học ăn, học nói,học gói, học
mở”
Trẻ cuối 4 tuổi đã có thể vận động toàn thân, hoặc làm các độngtác phức tạp hơn như chơi đá cầu, nhảy dây, leo trèo, lộn xà đơn… Các ngóntay cử động chậm hơn so với sự vận động toàn thân, nhưng phần lớn trẻ 4tuổi đã có thể thực hiện các động tác nắn, vẽ hay bóp một cách thành thạo.Mặc hoặc cởi áo, thường bé gái thành thạo hơn bé trai Các ngón taycủa trẻ không những có thể hoạt động tự do, mà động tác còn nhanh
Trang 40nhẹn và hoàn chỉnh hơn, nên có thể cầm bút để viết hoặc vẽ, đồng thời cònthực hiện nhiều động tác mới và tinh tế hơn.