1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình phân định biển tại khu vực vịnh bắc bộ giữa việt nam và trung quốc giai đoạn 1974 2004 (2017)

100 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghiên cứu về Biển Đông, đặc biệt đặt trong bối cảnh Trung Quốc đang giatăng các hoạt động lấn chiếm trên biển như hiện nay.Xuất phát từ những lý do trên, em đã chọn đề tài “Quá trình ph

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

GIAI ĐOẠN 1974-2004

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS TRẦN THỊ THU HÀ

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, tôi xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Trần Thị Thu Hà –giảng viên bộ môn Lịch Sử - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, người đãdành rất nhiều thời gian và công sức tận tình chỉ bảo, định hướng và tháo gỡnhững vướng mắc trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, hỗ trợ tôi cóđược những kỹ năng cần thiết để tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệpnày

Tôi xin dành lời cảm ơn tới các giảng viên trong Khoa Lịch Sử, trườngĐại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy, đóng góp ý kiến và chỉnh sửa để bàikhóa luận của tôi có thể hoàn thiện hơn

Tôi cũng xin được dành lời cảm ơn tới các thầy, cô đang công tác tạiTrung tâm Thư viện trường Học viện Ngoại giao đã tạo điều kiện cho tôi cóthể tìm kiếm tài liệu để hoàn thành bài khóa luận này

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới nhữngngười thân trong gia đình và bạn bè, những người đã luôn bên cạnh tôi khích

lệ, động viên và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập vàthực hiện khóa luận tốt nghiệp này

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Đặng Văn Bắc

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, dotôi thực hiện với sự tham gia góp ý của các thầy cô giáo và tham khảo các tàiliệu

Tôi xin cam đoan đề tài không trùng lặp với các đề tài khác và chịu tráchnhiệm về những thắc mắc đối với đề tài của tôi

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Đặng Văn Bắc

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

1 Lí do chọn đề tài 7

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu vấn đề 9

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 10

5 Đóng góp khóa luận 11

6 Bố cục khóa luận 11

CHƯƠNG 1 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC PHÂN ĐỊNH VỊNH BẮC BỘ GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC 12

1.1 Đặc điểm tự nhiên khu vực Vịnh Bắc Bộ 12

1.1.1 Vị trí địa lí, khí hậu, thủy văn 12

1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 16

1.1.3 Tầm quan trọng của Vịnh Bắc Bộ với Việt Nam và Trung Quốc 20

1.2 Yếu tố pháp lý quốc tế tác động đến vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ 23

1.2.1 Công ước Geneva về luật biển năm 1958 23

1.2.2 Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển quốc tế năm 1982 25

1.3 Phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn trước năm 1974 28

Tiểu kết chương 1 30

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH PHÂN ĐỊNH VỊNH BẮC BỘ GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 1974-2004 32

2.1 Quá trình đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn 1974-1991 33

2.2 Phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung quốc giai đoạn 1991– 2004 40

Trang 5

2.3 Kết quả và ý nghĩa của việc ký các hiệp định trong Vịnh Bắc Bộ giữa

Việt Nam và Trung Quốc 50

Tiểu kết chương 2 52

KẾT LUẬN 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

HST : Hệ sinh thái

ĐNN : Đất ngập nước

UNCLOS : United Nations Convention on the Law of the Sea

-Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982ĐQKT : Đặc quyền kinh tế

LHQ : Liên hiệp quốc

Trang 7

1 Lí do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Vùng biển Việt Nam dài rộng, có vị trí đặc biệt quan trọng đối với kinh

kế xã hội và an ninh quốc phòng Hiện nay, trong điều kiện hội nhập quốc tế,vùng biển và hải đảo được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm Đó là, kết hợpchặt chẽ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bànlãnh thổ, nhằm bảo đảm vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toànvẹn lãnh thổ quốc gia, trong đó có vùng biển và hải đảo

Vịnh Bắc Bộ là khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là hải sản

và dầu khí Về mặt quốc phòng và an ninh, Vịnh Bắc Bộ có vị thế chiến lượccực kì quan trọng đối với nước ta bởi đó là con đường biển duy nhất nối liềnBắc - Nam và thông ra biển Đông, với các nước Đông Nam Á hải đảo và thếgiới Vị trí tiếp xúc, giao lưu nơi địa đầu đất nước như vậy của khu vực VịnhBắc Bộ đặt ra cho chúng ta không ít khó khăn, thách thức trong vấn đề quản

lí, khai thác, bảo vệ tài nguyên biển và giữ gìn an ninh quốc phòng, trật tự xãhội không chỉ trong thời kì phong kiến tự chủ mà cho đến tận hôm nay

Một thực tế không thể phủ nhận, đó là do vị trí địa lý cũng như pham virộng lớn của mình mà Vịnh Bắc Bộ không chỉ thuộc về chủ quyền của ViệtNam mà còn cả Trung Quốc Do vậy, việc phân định, cắm mốc định giới trênvịnh là hết sức cần thiết nhằm tránh những xung đột, tranh chấp giữa hai nướctrong sử dụng và khai thác, quản lí Tuy nhiên, các tranh chấp trên biển vàtheo đó là nhiều cuộc gặp gỡ, tiếp xúc ở các cấp khác nhau giữa hai nước Việt– Trung trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI đã cho thấy bêncạnh những vấn đề liên quan đến chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa thì quátrình đàm phán và những điều khoản được kí kết trong Hiệp định phân địnhVịnh Bắc Bộ cũng cần phải được xem xét và có cơ chế giám sát chặt chẽ Vìvậy, đây cũng là một trong những đối tượng quan trọng không thể bỏ qua khi

Trang 8

nghiên cứu về Biển Đông, đặc biệt đặt trong bối cảnh Trung Quốc đang giatăng các hoạt động lấn chiếm trên biển như hiện nay.

Xuất phát từ những lý do trên, em đã chọn đề tài “Quá trình phân định biển tại khu vực Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn 1974-2004” làm khóa luận tốt nghiệp của mình Qua đề tài này ,em mong

muốn sẽ hệ thống và tổng hợp được những nội dung cơ bản về việc phân địnhbiển, đánh giá được thực trạng phân định cũng như quan điểm mỗi bên đưa

ra Đồng thời đánh giá cũng như đưa ra một số nhận xét về vấn đề phân địnhbiển tại khu vực Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề phân định biển tại khu vực Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam vàTrung Quốc là một vấn đề không mới Tuy nhiên trong tình hình Biển Đôngđang căng thẳng như hiện nay thì vấn đề này cần đáng được lưu tâm và trìnhbày theo hệ thống

Nhìn lại lịch sử nghiên cứu vấn đề đã có nhiêu công trình nghiên cứu vềvấn đề phân định biển tại Vịnh Bắc Bộ Các công trình nhiên cứu liên quan

như: Sách của tác giả Lưu Văn Lợi (2012) “Những điều cần biết về đất biển

trời Việt Nam”, NXB Thanh niên, Hà Nội, cuốn sách nêu các quyền của nước

ta về lãnh thổ, vùng biển, vùng trời, biên giới đất liền với các nước lánggiềng, tình hình cập nhật giải quyết các biên giới đất liền và biên giới biểnnhằm cung cấp những kiến thức cơ bản cho người đọc Một số tác phẩm khác

như: Nguyễn Thế Tưởng (2004), điều tra tổ hợp điều kiện tự nhiên, tài

nguyên và môi trường Vịnh Bắc Bộ, Hà Nội cũng đã đề cập đến vấn đề tài

nguyên và khai tháng nguồn lợi đó trên khu vực Vịnh Bắc Bộ Công trình

nhiên cứu của GS.Daisuke hosokawa, (2009), hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở

rộng: quan điểm của Việt Nam và những thách thức đối với Trung Quốc, Đại

học kinh tế Osaka, Nhật Bản cũng đã chỉ ra những quan điểm, bất đồng giữa

Trang 9

hai bên Việt – Trung thông qua lĩnh vực hợp tác mở khu vực Vịnh Bắc Bộ.

Hay như cuấn sách của Đặng Đình Quý – Nguyễn Minh Ngọc (2013), Biển

Đông: địa chính trị, lợi ích, chính sách và hành động của các bên liên quan,

và sách Biển Đông: Quản lý tranh chấp và Định hướng giải pháp tác giả cũng

đã chỉ ra những lợi ích khu vực biển đảo và những tranh chấo nổi cộm giữacác bên liên quan đồng thời đề ra các biện pháp định hướng giải quyết.Đại tá

Hải quân Mỹ Raul Pedrozo, với công trình nhiên cứu (2015), So sánh yêu

sách chủ quyền của Trung Quốc và Việt Nam ở Biển Đông, NXB Thế giới

cũng đã chỉ ra những quan điểm của hai bên Việt – Trung xoay quoanh vấn

đề tranh chấp Biển Đông Những công trình trên đã phân tích và chỉ ra quanđiểm của Việt Nam, Trung Quốc khi thực hiện đàm phán về phân định biêngiới biển, những tranh chấp giữa hai quốc gia

Như vậy đã có nhiều công trình nhiên cứu, bài viết của tác giả nghiêncứu về những vấn đề lý luận chung liên quan đến phân định biển Song để đápứng nhu cầu phân định biển hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc tại khuvực Vịnh Bắc Bộ thì chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu sâu

về vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt –Trung theo từng giai đoạn, thời

kì lịch sử Do vậy đề tài góp một phần quan trọng vào việc nghiên cứu và giảiquyết nhu cầu bức thiết của nước ta hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu vấn đề

- Mục đích:

Nghiên cứu quá trình phân định tại khu vực Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam

và Trung Quốc thông qua đó làm bài học cho quá trình phân định biển Đônggiữa Việt Nam và các nước liên quan

- Nhiệm vụ:

+ Phân tích những yếu tố tác động đến quá trình phân định tại khu vựcVịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc

Trang 10

+ Làm rõ quan điểm của mỗi nước về vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ.+ Hệ thống quá trình đàm phán và đi đến thỏa thuận giữa Việt Nam,Trung Quốc về phân định Vịnh Bắc Bộ.

+ Đánh giá những điểm tích cực và hạn chế của việc phân định khu vựcVịnh Bắc Bộ

- Phạm vi

+ Về không gian: Đề tài xem xét nghiên cứu các vấn đề lịch sử phânđịnh Vịnh Bắc Bộ, tại khu vực Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc.+ Về thời gian: Đề tài chủ yếu nghiên cứu từ năm 1974 đến năm 2004,đặc biệt vào năm 2000 - thời điểm hai nước Việt Nam và Trung Quốc tiếnhành kí kết, thực thi hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ; đến năm 2004, Quốchội Việt Nam khóa XI đã chính thức thông qua Hiệp định và lễ trao đổi vănkiện thư Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ diễn ra Ngoài ra còn phân tích các

sự kiện đã từng xảy ra trước năm 1974 để làm rõ hơn tiến trình đàm phán haibên

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

- Nguồn tư liệu:

+ Nguồn tư liệu gốc: các văn bản, hiệp định ký kết giữa Việt Nam và

Trung Quốc liên quan đến vấn đề phân định biển

+ Các tài liệu tham khảo của các học giả về vấn đề Vịnh Bắc Bộ như:

Nguyễn Bá Diễn, Lê Quý Quỳnh, Lê Công Phụng, Lê Tuấn Thanh

+ Các tạp chí nghiên cứu trong và ngoài nước như: Tạp chí Đông Nam

Á, Thông tấn xã Việt Nam…

+ Các bài viết nghiên cứu Biển Đông trên các trang Web như:nghiencuubiendong.net…

- Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp logic là

Trang 11

chủ yếu, ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: so sánh đối chiếu, phân tích tổng hợp và tiếp cận hệ thống.

5 Đóng góp khóa luận

- Về mặt khoa học: Khóa luận là công trình nghiên cứu hệ thống về việcphân định tại khu vực Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn1974-2004, góp phần làm rõ hơn quan điểm của hai nước và đánh giá những mặt tích cực, hạn chế liên quan đến quá trình đàm phán về phân định biển

- Kết quả nghiên cứu của khóa luận góp phần cung cấp cơ sở lý luận và

cơ sở thực tiễn, tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến vấn đềphân định biển tại khu vực Vịnh Bắc Bộ

6 Bố cục khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo vàPhụ lục, khóa luận bao gồm 2 chương:

Chương 1: Các yếu tố tác động đến việc phân định Vịnh Bắc Bộ giữa

Việt Nam và Trung Quốc.

Chương 2: Tình hình phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và

Trung Quốc giai đoạn 1974- 2004.

Trang 12

CHƯƠNG 1 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC PHÂN ĐỊNH

VỊNH BẮC BỘ GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

1.1 Đặc điểm tự nhiên khu vực Vịnh Bắc Bộ

1.1.1 Vị trí địa lí, khí hậu, thủy văn

Vịnh Bắc Bộ là một trong những vịnh lớn ở Đông Nam Á và thế giới,

có diện tích toàn Vịnh khoảng 126.250 km2 (36.000 hải lý vuông) Vịnh Bắc

Bộ là vịnh nửa kín được bao bọc ở phía Bắc bởi bờ biển lãnh thố đất liền củahai nước Việt Nam và Trung Quốc, phía Đông bởi bờ biển bán đảo Lôi Châu

và đảo Hải Nam của Trung Quốc, phía Tây bởi bờ biển đất liền Việt Nam vàgiới hạn phía Nam bởi đoạn thẳng nối liền từ điểm nhô ra nhất của mép ngoàicùng của mũi Oanh Ca - đảo Hải Nam của Trung Quốc có tọa độ địa lý là vĩtuyến 18 o 30 19" Bắc, kinh tuyến 1080 41 17" Đông, qua đảo Cồn Cỏ củaViệt Nam đến một điểm trên bờ biển của Việt Nam có tọa độ địa lý là vĩtuyến 160 57 40" Bắc và kinh tuyến 107o 08 42" Đông Theo như lời Bộtrưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Niên đăng trên báo người lao động số ra ngày01/07/2004: “Vịnh Bắc Bộ có diện tích khoảng 126.250 km2 (36.000 hải lývuông), chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310 km (176 hải lý), nơi hẹp nhất

ở cửa Vịnh rộng khoảng 207,4 km (112 hải lý) bờ Vịnh Bắc Bộ thuộc 10 tỉnh,thành phố của Việt Nam với tổng chiều dài khoảng 763 km và bờ biển thuộc

2 tỉnh Quảng Tây, Hải Nam của Trung Quốc với tổng chiều dài khoảng 695

km Vịnh có hai cửa: eo biển Quỳnh Châu nằm giữa bán đảo Lôi Châu và đảoHải Nam với bề rộng khoảng 35,2 km (19 hải lý) và cửa chính của Vịnh từđảo Cồn Cỏ (Việt Nam) tới đảo Hải Nam (Trung Quốc) rộng khoảng 207,4

km (112 hải lý).Phần Vịnh phía Việt Nam có khoảng 2.300 đảo, đá ven bờ,đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền Việt Nam khoảng 110 km,

Trang 13

cách đảo Hải Nam Trung Quốc khoảng 130 km Phía Trung Quốc có một số ítđảo nhỏ ở phía Đông Bắc Vịnh như đảo Vị Châu, Tà Dương” [29].

Vùng biển Vịnh Bắc Bộ liên quan đến hai nước Việt Nam và TrungQuốc Trong đó, bờ biển phía Trung Quốc nằm trên đảo Hải Nam, chạy theohướng Tây Bắc - Đông Nam, sau đó chuyển Đông Bắc – Tây Nam và là bờbiển của đảo, có tổng chiều dài khoảng 114 hải lý (211km) Bờ biển phía ViệtNam là bờ biển của lục địa, chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam qua 10tỉnh, thành phố là Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam vàQuảng Ngãi; có tổng chiều dài khoảng 149 hải lý (276 km) Vùng biển VịnhBắc Bộ phía Việt Nam là vùng biển nông, đáy biển tương đối bằng phẳng, có

2 vịnh kín là vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long

Vùng biển vịnh Bắc Bộ được phân chia làm 2 khu vực:

- Khu vực từ Quảng Ninh đến Ninh Bình: từ Móng Cái đến Đồ Sơn bờbiển chạy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam, địa hình chia cắt mạnh, phức tạp.Phần vịnh phía Việt Nam có khoảng 2.300 đảo đá ven bờ, trong đó có 26 đảolớn Quan trọng hơn cả là quần đảo Cát Bà với tổng diện tích 34.531 ha vàquần đảo Cô Tô với tổng diện tích 3.850 ha Đảo Bạch Long Vĩ là đảo lớnhơn cả nằm cách đất liền Việt Nam khoảng 110km, cách đảo Hải Nam (TrungQuốc) khoảng 130km Phần ven lục địa, đáy biển bằng phẳng, thường có cácbãi triều, rừng ngập mặn Chất đáy vùng biển Móng Cái là bùn nhuyễn, vùngngang khu vực Cửa Ông-Hòn Gai là cát nhỏ lẫn vỏ sò, đá sỏi, ven bờ từ cửaBạch Đằng đến Ninh Bình là bùn phù sa Vùng quanh các đảo có nhiều rạn đávới tổng diện tích khoảng 260 km2, trong đó tập trung nhiều nhất ở QuảngNinh

- Khu vực từ Ninh Bình đến Quảng Trị: Bờ biển chạy theo hướng gầnBắc-Nam Bờ cát thoải dạng vòng cung Phía ngoài bờ rải rác có các đảo đáphiến, đá hoa cương nhu Hòn Nẹ, Hòn Mê, Hòn Mắt, Hòn La, Hòn Nồm

Trang 14

Đường đẳng sâu 20m chạy cách bờ 3 - 5 km, nhiều nơi chạy sát chân các mũi

đá nhô ra Khu vực này thích hợp với các loài hải sản ưa sống vùng cát, hanghốc và san hô

Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm khu vực ven bờ lớn hơn 220c.Mùa hè, nhiệt độ trung bình lớn nhất xuất hiện vào tháng 6-7, đạt giá trị từ27-290c, nhiệt độ cao nhất lên tới 420c Mùa đông, nhiệt độ không khí trungbình nhỏ nhất từ 15-170c, nhiệt độ thấp nhất có thể xuống tới 4-60c Nhiệt độbiến đổi theo vĩ độ, phía nam cao, phía bắc thấp

Đối với nước biển tầng mặt vịnh Bắc Bộ, nhiệt độ bình quân thấp nhấtvào tháng 2 (19.50c) và nước ấm dần lên đến tháng 8 đạt cực đại (bình quân29.50c) Xu thế biến đổi tương tự cũng thấy ở nước tầng đáy, thấp nhất vàotháng 2 là 160c và cao nhất là tháng 8 là 270c Sự thay đổi lớn về nhiệt độnước biển giữa mùa đông và mùa hè dẫn đến hiện tượng di cư của các đàn cá:

từ tháng 4 đến tháng 11 là vụ cá Nam, vào thời gian này các đàn cá nổi di cưvào khu vực gần bờ để sinh sản như cá Trích, cá Cơm, cá Lầm Vụ cá Bắc từtháng 11 đến tháng 4 năm sau, khi này các đàn cá có xu hướng di chuyển ra

xa bờ kiếm ăn và trú đông như cá Trích, cá Cơm, cá Lầm, cá Thu, cá Ngừ ,khi này nhiệt độ nước biển tầng đáy ấm hơn tầng mặt cho nên các đàn cá dichuyển xuống tầng nước sâu gần đáy và tập trung với mật độ dày, rất thuậnlợi cho nghề lưới kéo, lưới vây Do đó sản lượng khai thác xa vụ cá Bắc caohơn vụ cá Nam

Lượng mưa trung bình hàng năm ở vịnh Bắc Bộ là 1.077mm Mưa lớnvào các tháng 7-9 và mưa ít vào các tháng 12-2

Vùng biển từ Quảng Ninh đến Thanh Hoá, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5

và kết thúc vào tháng 10, lượng mưa khoảng 1.800-2.000mm với số ngàymưa trong năm khoảng 140-150 ngày Vùng biển từ Nghệ An đến Quảng Trịmùa mưa bắt đầu từ tháng 8 và kết thúc vào tháng 12 hoặc tháng Giêng năm

Trang 15

sau, lượng mưa khoảng 2.200-2.400mm và số ngày mưa trong năm khoảng140-145 ngày.

Vùng khơi Vịnh Bắc Bộ, tổng lượng mưa trong năm vào khoảng 1.800mm, số ngày mưa cả năm từ 100-120 ngày Mùa mưa bắt đầu từ tháng

1.500-6 và kết thúc vào tháng 9 với tổng lượng mưa khoảng 1.000-1.500mm, chiếmkhoảng 2/3 tổng lượng mưa trong năm Trong mùa mưa, mỗi tháng có từ 12-

15 ngày mưa, lượng mưa trung bình 200-250mm/tháng

Mùa bão từ tháng 5 đến tháng 11, tập trung vào tháng 7, 8, 9 Vùngbiển Vịnh Bắc Bộ chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới hình thành từbiển Đông và Thái Bình Dương Trong hơn 120 cơn bão và áp thấp nhiệtđới đổ vào miền Bắc 40 năm gần đây có 32 cơn đổ bộ vào Hải Phòng, QuảngNinh (chiếm 24,1%), 65 cơn đổ bộ vào Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh(chiếm

51,4%)

Vịnh Bắc Bộ chịu ảnh hưởng khá mạnh của các đợt gió mùa đông bắckéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mỗi đợt gió mùa thường kéo dàitừ

5-7 ngày, gây ra biển động, sóng lớn Thời kỳ giao thoa giữa hai mùa gió, vàokhoảng tháng 4-6 biển êm, thuận lợi cho nghề khai thác đặc biệt là các nghềnhư vây, vó, mành nhưng trong thời kỳ này trên biển cũng thường xuất hiệnnhững cơn dông cục bộ gây ra gió mạnh, gió xoáy, rất nguy hiểm cho tàuđánh cá

Vùng biển từ Quảng Ninh đến Ninh Bình thuộc chế độ nhật triều khôngđều với biên độ triều lớn khoảng 3-4 m Khu vực Thanh Hoá thuộc chế độnhật triều không đều, biên độ thuỷ triều kỳ nước cường trung bình là2,6m Khu vực Nghệ An có chế độ nhật triều không đều với biên độ lúc triềucường trung bình từ 2,9-3m Khu vực từ Quảng Bình đến Quảng Trị thuộc

Trang 16

chế độ bán nhật triều không đều, hầu hết các ngày trong tháng đều có hailần nước lớn và hai lần nước ròng, biên độ thuỷ triều thường đạt 0,8-1,7m.

Trang 17

Do ảnh hưởng của gió mùa nên hải lưu vịnh Bắc Bộ cũng biến đổi theomùa rõ rệt Về mùa đông (tháng 12-2), hướng dòng chảy là ngược chiều kimđồng hồ, được hình thành do nước biển phía Nam chảy theo cửa vịnhmen theo bờ tây đảo Hải Nam lên phía Bắc, cùng nhập với dòng nước từbiển Đông chảy qua eo biển Quỳnh Châu vào vịnh, sau đó chảy men theo bờtây xuống phía nam và ra ngoài vịnh Vùng ven bờ dòng chảy có hướngĐông Bắc - Tây Nam, vùng khơi ngang Hải Phòng có bộ phận nước tách rachảy theo hướng Bắc - Nam rồi sang Đông - Nam sau đó chảy quanh đảoBạch Long Vĩ tạo nên vùng nước trồi, là ngư trường lớn trong mùa này Vềmùa hạ (tháng 6 - 8), hướng dòng chảy hầu như ngược lại mùa đông, tứcthuận chiều kim đồng hồ Hình thành do dòng nước chảy vào vịnh men theo

bờ Tây vịnh chảy lên phía Bắc và quay theo bờ tây đảo Hải Nam rồi chảy rakhỏi vịnh Về mùa xuân (tháng 3 - 5), nước từ biển phía Nam chảy qua cửavịnh phân làm hai nhánh: một nhánh đâm thẳng vào bờ tây vịnh khu vựcNam Định-Thanh Hoá, nhánh kia men theo bờ tây đảo Hải Nam chảy lên phíabắc và cùng nhập với dòng nước từ biển Đông qua eo Quỳnh Châu Dòng nàylại chia làm hai nhánh, một nhánh men theo bờ Tây chảy xuống phía Nam và

ra khỏi vịnh, nhánh thứ hai chảy theo phía Đông hình thành một dòng chảyvòng ngược chiều kim đồng hồ ở phía Bắc vịnh Về mùa thu (tháng 9 - 11),nước từ biển phía Nam chảy vào vịnh lên phía Bắc, gần như song song với bờTây đảo Hải Nam, sau đó nhập với dòng nước từ biển Đông và tiếp tục chảylên phía Bắc

rồi chuyển hướng chảy về phía Nam đến vĩ độ 19000’N tách ra một nhánhchảy theo hướng Đông hình thành một dòng nước chảy vòng ngược chiều kimđồng hồ

1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên sinh vật

Trang 18

Các hệ sinh thái (HST) dải ven bờ Tây vịnh rất phong phú và đa dạng,

Trang 19

tiêu biểu là rừng ngập mặn, rạng san hô, thảm cỏ biển, vùng của sông, vùngtriều, bãi cát biển, bãi đá, đáy mềm, đáy cứng HST hồ nước mặn rất đặcthù cho khu vực Hạ Long – Cát Bà do địa hình bị biển làm chìm ngập và HSTcồn cát ven biển đặc trưng cho Bắc Trung Bộ, thể hiện tính phi địa đới HSTđảo có một vị trí quan trọng ở ven bờ vịnh Các đảo là nơi sinh sản cư trú củacác loài thú, chim, bò sát, lưỡng cư, đặc biệt là nơi trú Đông của các loài chim

di cư Nhiều đảo, đặc biệt là các đảo đá vôi, tạo ra cảnh quan thiên nhiênđẹp Phần dưới nước của đa số các đảo có rạng san hô với các cảnh quanngầm đẹp Các đảo có tiềm năng du lịch gắn liền với bảo tồn thiên nhiên.Nguồn lợi sinh vật biển gồm nhiều loại đặc sản, có giá trị xuất khẩu cao,

có tiềm năng đánh bắt và nuôi trồng làm thực phẩm, dược phẩm, mỹ nghệ vàphục vụ du lịch Tuy nhiên, dự trữ tự nhiên không nhiều chủ yếu tập trung ởvùng nước ven bờ “Có 4.521 loài sinh vật sống trong Vịnh: thực vật ngậpmặn 60 loài; rong biển 330 loài; cỏ biển 6 loài; thực vật phù du 340 loài; độngvật phù du 236 loài; động vật đáy 2.092 loài; san hô 199 loài; cá biển 1198loài; chim biển 22 loài;thú biển và bò sát 38 loài; nhiều loài được ghi vào sách

đỏ có nguy cơ bị tuyệt chủng” [24, tr.296]

Vùng Vịnh thuộc Việt Nam có trữ lượng 390.000 tấn các nổi và 176.420tấn cá đáy, tổng trữ lượng 566.420 tấn, chiếm khoảng gần 20% trữ lượng

cá biển cả nước [3, tr 326] Phần lớn cá tập trung thành từng đàn nhỏ di cưgần, mùa Đông tập trung ở phía Nam, còn mùa Hè hầu như phân tán khắpVịnh Vịnh Bắc Bộ được chia làm 6 ngư trường: Nga Tào-Hòn Gió; Bạch LongVĩ- Bạch Mã Tĩnh; Xương Cảm-Oanh Ca;Vi Châu; Giữa Vịnh-Hòn Con Cọp và

Cô Tô-Cát Bà Các ngư trường tốt nhất đều nằm bên phía Việt Nam, tập trung

ở khu vực Bạch Long Vĩ và kéo dài dọc ven bờ tới Quảng Bình Mùa vụ đánhcác chủ yếu là vào tháng 6-11

Trang 20

Một hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên biển đã được xây dựng hoặc

Trang 21

quy hoạch gắn liền với các giá trị về đa dạng sinh học và cảnh quanthiên nhiên Đó là các khu được công nhận cấp Quốc Tế như: Di sản Thế giớiVịnh Hạ Long được UNESCO công nhận hai lần về giá trị mỹ học (năm 1994)

và giá trị địa chất học (năm 2000); khu đất ngập nước Xuân Thủy có tầm quantrọng quốc tế, khu dự trữ Sinh quyển Thế giới quần đảo Cát Bà và ven biểnChâu thổ sông Hồng; các vườn quốc gia trên biển như Cát Bà, Bái Tử Long;các khu bảo tồn biển như Đảo Trần,Cô Tô, Cát Bà, Bạch Long Vĩ và Cồn Cỏ

Tài nguyên phi sinh vật

Tài nguyên đất ngặp nước: Trong phạm vi bờ Tây Vịnh tổng diện tích

đất ngập nước (ĐNN) ven bờ tính đến độ sâu 6m khoảng 395.682ha (tnh cảtỉnh Quảng Trị) Cơ cấu tài nguyên ĐNN thay đổi hàng năm do bồi tụ, sói lở,khai thác sử dụng và chuyển đổi mục đích sử dụng Mỗi năm ven bờ Bắc Bộ

Tài nguyên nước: Nước biển có tiềm năng lớn cho du lịch, giao thông,

nuôi trồng thủy sản và làm muối Nước ven bờ Trà Cổ-Cát Bà và ven bờ ThanhHóa-Quảng Bình thường trong và có độ mặn cao rất thích hợp cho du lịch,giao thông và nuôi thủy sản nước mặn Nước vùng của sông Bạch Đằng hìnhphễu mặn-không quá đục, thích hợp cho nuôi thủy sản mặn, lợ và giao thôngđường

thủy

Khoáng sản: Đến nay tại bể Sông Hồng phát hiện khí và dầu với tổng trữ

lượng và tiềm năng khoảng 225 triệu mét khối quy dầu, trong đó đã khaithác0,55 tỉ mét khối khí Các phát hiện có trữ lượng lớn hơn đều nằm ởkhu vục bờ biển và phía nam bể Sông Hồng, tiềm năng chưa phát hiện dự báo

Trang 22

vào khoảng 845 triệu mét khối quy dầu.chủ yếu là khí và tập trung ở ngoàibiển Gần đây phát hiện khí và dầu ở giếng Yên Tử thuộc lô 106 cách HảiPhòng khoảng 70km về phía Đông với trữ lượng ước tính 700 – 800 triệuthùng dầuvà

Trang 23

40 tỉ mét khối khí Khu vục đảo Vị Châu (phía Đông Bắc vịnh) gần TrungQuốc cũng đã phát hiện và khai thác một vai mỏ nhỏ; ở khu vực Đông Phong,Trung Quốc đã công bố phát hiện được mỏ khí có trữ lượng 80 tỷ mét khối[24, tr.296]

Khoáng sản dưới bờ Vịnh Bắc Bộ có ưu thế về nhiên liệu và vật liệu xâydựng Than đá Quảng Ninh có trữ lượng 3,5 tỷ tấn, chất lượng tốt, đã khaithác từ lâu Bể than nâu sông Hồng tính đến độ sâu 3.500m có tổng tàinguyên dự báo đến 210 tỷ tấn Theo Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển,

ở vùng biển Hải Phòng – Quảng Ninh và Bạch Long Vĩ phát hiện được 7 diệntích triển vọng vật liệu xây dựng với tổng tài nguyên dự báo khoảng 1,4 tỷmét khối Cát trắng thủy tinh ven bờ và các đảo Quảng Ninh có trữ lượngkhoảng 5,804 triệu tấn Đá vôi Quảng Ninh trữ lượng 3,1 tỉ tấn, Hải Phòng

185 triệu tấn Các mỏ sét gạch ngói Giếng Đáy, Quảng Yên trữ lượng 45 triệutấn vùng biển có nhiều điểm khoáng sản kim loại, nhưng trữ lượng khônglớn Quặng titan sa khoáng ven biển phân bố rải rác từ Móng Cái đến NamĐịnh [24, tr297]

Khoáng sản bờ biển Bắc Trung Bộ phong phú và đa dạng, nhưng vật liệuxây dựng là thế mạnh lớn nhất, đặc biệt là đá vôi Theo Trung tâm Địa chất

và khoáng sản biển, vật liệu xây dựng vùng biển này có tổng tài nguyên dựbáo khoảng 86 tỉ mét khối Mỏ sắt Thạch Khê , Hà Tĩnh hàm lượng đạt61,35%; trữ lượng 544 triệu tấn có thể khai thác lộ thiên sâu dến 120m dướimặt nước biển Mỏ crômit Cổ Định(Thanh Hóa) trữ lượng 322 triệu tấn đangđược khai thác Sa khoáng ven biển có trữ lượng khoảng 16,2 triệu tấnkhoáng vật nặng có ích, đặc biệt là titan zircon và monazit ở Cẩm Xuyên, NghiXuân, Kì Anh và nam Thanh Hóa [24, tr298]

Nguồn năng lượng biển trên vịnh khá đa dạng, đến nay ít được sửdụng do vấn đề công nghệ và giá thành Trong tương lai chúng có vai trò quan

Trang 24

trọng vì là năng lượng sạch, không tiêu hao hoặc có khả năng tái tạo, thíchhợp với

Trang 25

vùng hải đảo, vùng ven bờ hẻo lánh Đó là các nguồn năng lượng bức xạ nhiệt,năng lượng sóng biển và thủy triều.

Tài nguyên du lịch và sinh thái: Vùng Hạ Long – Bái Tử Long có hàng

ngàn hòn đảo, đặc biệt là các đảo đá vôi, tạo ra cảnh quan thiên nhiên đẹpvới hình thù kì dị và các hang động gắn liền với các truyền thuyết, cổ tch.Đây là tiềm năng để phát triển các loại hình du lịch biển – đảo và du lịch sinhthái gắn với mục đích bảo tồn thiên nhiên Ở phần di nước của đa số các đảo,các rạng san hô với các cảnh quan ngầm đẹp Dải bờ Tây Vịnh có các bãi biểnđẹp như Trà Cổ, Cô Tô, Quan Lạng, Sầm Sơn, bãi biển Cửa Lò, Thiên Cầm,Nhật Lệ

1.1.3 Tầm quan trọng của Vịnh Bắc Bộ với Việt Nam và Trung Quốc.

Vịnh Bắc Bộ về mặt địa lí, gắn liền với hai nước ven bờ là Việt Nam vàTrung Quốc, nên mặc nhiên nó chỉ liên quan đến hai nước Đây đồng thời làmôi trường kiếm sống, làm ăn lâu đời của ngư dân Việt Nam và TrungQuốc, có ý nghĩa quan trọng đối với hai nước không chỉ trên lĩnh vực kinh tế

mà còn cả về an ninh quốc phòng

Về kinh tế

Từ góc độ giao thương, khu vực vịnh Bắc Bộ mà hạt nhân là thươngcảng Vân Đồn được chính thức ra đời từ năm 1149 dưới thời Lý với cáccảng, bến, điểm thu thuế, căn cứ phòng vệ… thông qua các tuyến giaothương và chuỗi đảo, đã trở thành một thương cảng lớn, trung tâm của cácluồng giao lưu buôn bán trao đổi với Nam Trung Hoa, với Hải Nam, ĐàiLoan, miền Nam Nhật Bản và nhiều quốc gia lớn nhỏ thuộc khu vực châu ÁThái Bình Dương trong các thế kỉ XII - XVIII Bên cạnh đó, các tỉnh venbiển Đông Bắc của Việt Nam như Quảng Ninh, Hải Phòng trong suốt chiềudài lịch sử luôn là nơi tập trung đến, đi của các luồng di cư của người Hoabằng cả hai tuyến thủy, bộ; là cơ sở cho sự hình thành các cộng đồng

Trang 26

Hoa kiều sinh sống làm ăn rải rác ở các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ViệtNam.

Trang 27

Hiện nay, vùng bờ Tây Vịnh Bắc Bộ có vai trò hậu cứ, làm tăng vị thếkinh tế của biển Viêt Nam Nhiều vũng, vịnh ven bờ, các của sông có tiềmnăng lớn phát triển giao thông – cảng, du lịch và dịch vụ, nghề cá biển, pháttriển công nghiệp, cơ sở hạ tầng và đô thị hóa Do yêu cầu của tổ chức lãnhthổ

- lãnh hải, quy hoạch vùng và khả năng tạo vùng hấp dẫn và giao lưu với cácvùng trong nước, nhiều địa phương đã phát triển các cảng bến, tạo đà chophát triển kinh tế biển Theo quyết định số 1353/QĐ-TTG, trong hệ thống 15khu kinh tế ven biển, 6 khu gắn kết với đới bờ Tây Vịnh là: Vân Đồn(Quảng Ninh); Đình Vũ – Cát Hải (Hải Phòng); Nghi Sơn (Thanh Hóa); ĐôngNam Nghệ An (Nghệ An); Vũng Áng (Hà Tĩnh); Hòn La (Quảng Bình) Vùng bờTây có vai trò đặc biệt quan trọng trong mối phát triển kinh tế quay môquốc gia và quốc tế Kinh tế phát triển tạo ra liên kết các địa ohương trongnước và các nước trong khu vực Vị thế kinh tế của bờ Tây được pháthuy theo 3 hướng: là của ngõ ra biển ở phía Bắc (Hải Phòng), làm trục nốicho hành lang kinh tế Vịnh Bắc Bộ nối tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây, làtrụ đỡ và kết nối các tuyến hành lang Quang Ninh – Hải Phòng – Hà Nội –Nam Định và Quảng Ninh – Hải Phòng – Hà Nội – Côn Minh

Về phía Trung Quốc cũng đã chủ trương phát triển chuỗi đô thị ven biểnVịnh Bắc Bộ (Quảng Tây) Đó là khu vực ven biển phía Tây duy nhất của TrungQuốc làm cầu nối giữa Trung Quốc với các nước ASEAN; nhằm xây dựng cácdải đô thị có tầm ảnh hưởng nhất tại vùng phía Tây Bắc, trở thành trungtâm chế tạo doanh vận, ngoại thương, thông tin, tiền tệ và giao lưu hàng hóatrong khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN, Nam Kinh, Khâm Châu,Bắc Hải và Phong Thành là trung tâm phát triển và mở của của khu

Về chính trị, quốc phòng, an ninh

Trong lịch sử, ít nhất là từ thế kỉ X, vùng hải đảo và ven biển Đông

Trang 28

Bắc của nước ta (thuộc vịnh Bắc Bộ) đã sớm ghi nhận sự hiện diện của

Trang 29

thuyền bè của Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á hoạt động ở khuvực này vì mục đích quân sự Ba lần chiến thắng giặc ngoại xâm của nhândân ta tại cửa biển Bạch Đằng trong các thế kỉ X, XIII là minh chứng rõ rệt

về vị trí quan yếu của vùng biển này trong phòng vệ đất nước từ phía

biển Cho đến thế kỉ XIX, các trí thức phong kiến khi viết Đại Nam nhất

thống chí, phần nói về sông Bạch Đằng đã đánh giá: “Nước ta khống chế người Bắc, sông này là chỗ cổ họng”.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biển đảo Việt Nam nóichung và khu vực Vịnh Bắc Bộ nói riêng có vai trò quan trọng, làm tăngchiều sâu phòng thủ đất nước ra hướng biển Do đặc điểm lãnh thổ đất liềnnước ta có hình chữ S, trải dài ven biển từ Bắc vào Nam, chiều ngang hẹp(nơi rộng nhất khoảng 600 km, nơi hẹp nhất khoảng 50 km), nên chiềusâu đất nước bị hạn chế Hầu hết các trung tâm chính trị, kinh tế xã hộicủa ta đều nằm trong phạm vi cách bờ biển không lớn, nên rất dễ bị địchtấn công từ hướng biển Nếu chiến tranh xảy ra thì mọi mục tiêu trên đấtliền đều nằm trong tầm hoạt động, bắn phá của vũ khí trang bị công nghệcao xuất phát từ hướng biển Nếu các quần đảo xa bờ, gần bờ được củng cốxây dựng căn cứ, vị trí trú đậu, triển khai của lực lượng Hải quân ViệtNam và sự tham gia của các lực lượng khác thì biển đảo có vai trò quantrọng làm tăng chiều sâu phòng thủ hiệu quả cho đất nước

Ở phía Tây Vịnh thuộc dải ven bờ Việt Nam thuộc về 9 tỉnh và 1 thànhphố trực thuộc trung ương, với tổng số 7 thành phố (01loại 1; 06 loại 2),

4 quận, 2 thị xã và 35 huyện (trong đó có 5 huyện đảo) Các tỉnh, thành phốdải ven biển phía Tây Vịnh có 16.500.400 người, chiếm 19,2% dân số củanước Trong đó, các huyện và quận ven biển có 6.747.747 người chiếm 7,8%dân số cả nước Trong đó, các huyện và quận ven biển có 6.747.747 ngườichiếm

Trang 30

7,8% dân số cả nước [3, tr.15].

Trang 31

Vì thế, vùng bờ Tây Vịnh có vai trò trọng yếu đối với vị thế chính trị củabiển vì có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đảm bảo an ninh quốc phòng

và chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển và tạo lập mối quan hệ đặc biệt với

Hà Nội, đầu não chính trị của cả nước, với các trung tâm chính trị trong nước

và khu vực Đó chính là giá trị địa quân sự, quốc phòng và an ninh, được khaithác và sử dụng triệt để trong chiến tranh chống ngoại xâm và phát triểnthương mại quốc tế Việc bố trí phòng thủ và lập các phương án tác chiếnphần nhiều dựa và các yếu tố vị thế của vũng vịnh ven bờ

Hơn nữa, từ nhiều năm nay, nhất là những năm đầu của thập kỷ 70 củathế kỷ XX đến nay trên Biển Đông đang tồn tại những tranh chấp biểnđảo rất quyết liệt và phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định, tác độngđến quốc phòng và an ninh nước ta Trên Biển Đông vùng biển nước tatiếp giáp với vùng biển 7 nước trong khu vực là: Trung Quốc (phía Bắc),Campuchia và Thái Lan (Tây Nam), Philippin, Malaixia, Inđônêxia, Brunây(phía Đông, Đông Nam và Nam) Nơi đây đang diễn ra những tranh chấpphức tạp và quyết liệt về chủ quyền giữa các quốc gia, đẩy tới xu hướng tăngcường lực lượng quân sự, đặc biệt là hải quân của các nước trong khu vực,nhất là những nước có tiềm lực lớn về kinh tế, quân sự Họ tận dụng ưu thếcủa mình trên biển để đe dọa chủ quyền vùng biển đảo, thềm lục địa củanước ta, gây ra những nhân tố khó lường về chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và

an ninh đất nước

1.2 Yếu tố pháp lý quốc tế tác động đến vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ

1.2.1 Công ước Geneva về luật biển năm 1958

Tại hội nghị quốc tế về luật biển được tổ chức ở Geneva (Thụy Sĩ) năm

1958, lần đầu tiên một hội nghị quốc tế được tổ chức với quy mô mở để bàn luận về chế độ pháp lý của đại dương và chi tiết hóa việc sử dụng các vùng

Trang 32

biển của đại dương1 Hội nghị đã nghiên cứu các dự thảo quy chế về biển mà

Ủy ban Liên hợp quốc về luật biển đã chuẩn bị Trên cơ sở đó Hội nghị đãthông qua được bốn Công ước điều chỉnh chế độ pháp lý các vùng biển vàviệc đánh bắt cá ở thế giới đại dương

1 Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp (có hiệu lực ngày 10/9/1964)

2 Công ước về thềm lục địa (có hiệu lực ngày 10/6/1964)

3 Công ước về biển quốc tế (có hiệu lực ngày 30/9/1962)

4 Công ước về đánh bắt cá và bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật ở biển

Có thể nhận thấy rằng, việc thông qua các Công ước Geneva về luật biểnnăm 1958 đã khẳng định luật quốc tế đã bước sang một giai đoạn phát triểntiến bộ Trong Công ước Geneva năm 1958 về thềm lục địa, lần đầu tiên tronglịch sử pháp lý có các quy phạm phối hợp ở tầm quốc tế về đặc quyền củacác quốc gia ven biển trong quản lý nguồn tài nguyên ở thềm lục địa và vềgiới hạn chiều rộng của nó Công ước Geneva năm 1958 về vùng tiếp giápcũng là một điểm nhấn mới trong luật quốc tế vì đây là lần đầu tiên các quyphạm về khái niệm và về quy chế pháp lý vùng tiếp giáp được ghi nhận trên

cơ sở của một điều ước quốc tế đa phương

Ngoài ra, công ước Geneva năm 1958 về thềm lục địa định nghĩa thềm

Trang 33

1 Năm 1958, Liên Hợp Quốc đã triệu tập Hội nghị quốc tế về Luật Biển lần thứ nhất tại Genève (phiên âm tiếng Việt: Giơ-ne-vơ; tiếng Anh: Geneva) có 86 nước tham dự.

Trang 34

lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải củaquốc gia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền củaquốc gia này và có ranh giới ngoài được xác định bởi hai tiêu chuẩn:

Tiêu chuẩn độ sâu: 200m – một tiêu chuẩn ấn định;

Tiêu chuẩn khả năng khai thác – một tiêu chuẩn động, mâu thuẫnvới tiêu chuẩn trên và chỉ phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật khai thác thềm lụcđịa của quốc gia ven biển

Tuy nhiên một số nội dung quan trọng chưa được giải quyết trong hộinghị như: chiều rộng lãnh hải, quyền đi qua eo biển quốc tế, giới hạn vùngđánh cá, ranh giới ngoài của thềm lục địa Đến năm 1960, cũng tại Geneva,Liên Hợp Quốc lại triệu tập Hội nghị Luật Biển lần thứ 2 để giải quyết nhữngtồn tại nói trên Nhưng hội nghị này cũng không đi đến kết quả gì Năm 1973,Liên Hợp Quốc triệu tập Hội nghị quốc tế về Luật Biển lần thứ 3 để tiếp tụcthảo luận và thông qua công ước Luật Biển mới Nhưng đó là một kết quả cònkhá khiêm tốn vì đại dương đang tồn tại rất nhiều vấn đề cấp thiết màHội nghị lần này còn chưa đồng thuận Song, những kết quả đạt được bướcđầu trong các hội nghị sẽ là cơ sở pháp lý để tiếp tục hoàn thiện và thốngnhất trong Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển quốc tế năm 1982

1.2.2 Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển quốc tế năm 1982

Sau hơn 4 năm chuẩn bị và 9 năm đàm phán, ngày 10/12/1982, Côngước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật biển1982), tên tiếng Anh là United Nations Convention on the Law of the Sea,hay thường được gọi tắt là UNCLOS 1982, được 107 quốc gia, trong đó cóViệt Nam, ký tại Montego Bay, Jamaica, đánh dấu thành công của Hội nghịLiên Hợp Quốc về biển Công ước còn được nhiều quốc gia, kể cả nhữngquốc gia không có biển, cùng chấp nhận, có nghĩa là việc phê chuẩn hoặc

Trang 35

tham gia Công ước đòi hỏi quốc gia phải có trách nhiệm thực hiện toàn bộcác

Trang 36

điều khoản của Công ước.

Công ước Luật biển 1982 thực sự là một bản hiến pháp về biển của cộngđồng quốc tế bởi Công ước không chỉ bao gồm các điều khoản mang tính điềuước mà còn là văn bản pháp điển hoá các quy định mang tính tập quán Côngước Luật biển 1982 thể hiện sự thoả hiệp mang tnh toàn cầu, có tnh đến lợiích của tất cả các nước trên thế giới, dù là nước công nghiệp phát triển hay lànước đang phát triển… Công ước không chấp nhận bảo lưu mà đòi hỏi cácquốc gia phải tham gia cả gói (package deal), có nghĩa là việc phê chuẩn hoặctham gia Công ước đòi hỏi quốc gia phải có trách nhiệm thực hiện toàn bộcác điều khoản của Công ước

Sau khi Công ước Luật biển 1982 ra đời và có hiệu lực, các quốc gia venbiển đã ra các tuyên bố để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyềntài phán của mình đối với những vùng biển được mở rộng theo quy định củaCông ước Quy chế pháp lý đối với lãnh hải đã trở thành biện pháp giải toảcho các yêu sách xung đột giữa các quốc gia với nhau Lưu thông hàng hảiqua vùng lãnh hải và các dải hẹp giờ đây dựa trên các nguyên tắc pháp lý Cácquốc gia ven biển đã tận dụng các điều khoản lợi thế cho phép mở rộng vùngĐQKT ra tới 200 hải lý dọc theo bờ biển Các quốc gia không có biển đượcquyền tiếp xúc với biển hoặc từ biển cũng được quy định một cách rõ ràng.Quyền được tiến hành các nghiên cứu khoa học biển giờ đây được dựatrên các nguyên tắc mà không thể vì lý do gì để từ chối Cơ quan quyền lựcquốc tế về đáy đại dương đã được thành lập năm 1994, đang thực hiện chứcnăng tổ chức và kiểm soát các hoạt động dưới biển sâu ngoài vùng thuộcquyền tài phán quốc gia, nhằm điều hành việc khai thác và bảo tồn cácnguồn tài nguyên của biển Toà án Luật biển quốc tế cũng đã được thành lậpnăm 1996 và có quyền lực để giải quyết các tranh chấp liên quan đến biểnphát sinh từ việc áp dụng hay hiểu biết về Công ước

Trang 37

Sau khi Công ước Luật biển 1982 được thông qua ngày 30/4/1982, ViệtNam là một trong 107 quốc gia tham gia ký Công ước tại Montego Bay Ngày23/6/1994, Quốc hội nước ta đã ra Nghị quyết về việc phê chuẩn vănkiện pháp lý quan trọng này Điểm 1 trong Nghị quyết nêu rõ: “Bằng việc phêchuẩn Công ước của LHQ về Luật biển 1982, nước CH XHCN Việt Nambiểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lýcông bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển” Quốc hội khẳngđịnh chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải Quyềnchủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng ĐQKT vàthềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyêntắc của pháp luật quốc tế, yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nóitrên của Việt Nam Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của ViệtNam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời cũng tuyên bố

rõ lập trường của Nhà nước ta là giải quyết hòa bình các bất đồng liên quanđến Biển Ðông trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôntrọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển năm 1982, tôntrọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biểnÐông đối với vùng ĐQKT và thềm lục địa; Trong khi nỗ lực thúc đẩy đàmphán để tm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì hòa bình,

ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phứctạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực

Tham gia Công ước Luật biển 1982, Việt Nam, quốc gia ven biển, đượcthừa nhận có vùng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng ĐQKT rộng 200 hải lý, thềmlục địa rộng ít nhất 200 hải lý và có thể mở rộng tới 350 hải lý tính từ đường

cơ sở Diện tích các vùng biển và thềm lục địa mà nước ta được hưởng theoquy định của Công ước, khoảng gần một triệu Km2, rộng gấp ba lần diện tíchlãnh thổ đất liền

Trang 38

Công ước Luật biển 1982 đã trở thành cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc,quan trọng, được thừa nhận và luôn được viện dẫn trong cuộc đấu tranh cam

go, phức tạp để bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa và các quyền và lợi íchchính đáng của nước ta trên biển Trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyềncủa Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bên cạnh nhữngnhững chứng cứ lịch sử, pháp lý chứng minh chủ quyền của Việt Nam đãđược xác lập liên tục, hoà bình từ lâu đời đối với hai quần đảo, Công ước làcông cụ pháp lý để phản bác những yêu sách phi lý, ngang ngược của TrungQuốc đối với cái gọi là “đường lưỡi bò” chiếm đến 80% diện tích Biển Đông,vốn là vùng biển nửa kín được bao bọc bởi 9 quốc gia, trong đó có Việt Nam.Công ước Luật biển 1982 cũng là cơ sở pháp lý chung cho việc phânđịnh vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa nước ta với các nước xungquanh Biển Đông như Cămpuchia, Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia,Malaysia…góp phần tạo dựng sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, tạo môitrường ổn định, hoà bình, hợp tác và phát triển trong Biển Đông

1.3 Phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn trước năm 1974.

Từ bao đời nay giữa nước ta với Trung Quốc đã hình thành và tồn tạiđường biên giới lịch sử, mặc dù các nhà nước phong kiến Việt Nam chưa hề

kí với phong kiến Trung Hoa bất kì hiệp ước nào liên quan đến phân giới,cắm mốc cụ thể Từ cuối thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược và dần dầnđặt ách thống trị lên toàn đất nước thì hàng loạt các công ước về đất đai đãđược kí kết giữa chính quyền thực dân Pháp với nhà Thanh vào các năm 1887

và 1895 Sau các Công ước này, biên giới Việt Nam – Trung Quốc trở thànhmột biên giới quốc tế với hệ thống mốc chính quy

Trang 39

Để giải quyết vấn đề phân định biên giới, Pháp và nhà Thanh đãthỏa thuận thành lập một Ủy ban liên hợp hoạch định biên giới Đối vớiđoạn

Trang 40

biên giới Quảng Đông, Quảng Tây liên quan đến vùng vịnh Bắc Bộ doQuyền Khâm sứ Pháp ở Trung Kì là Dillon làm trưởng đoàn (trước đó làBourcier de Sain Chafrey); phía Trung Quốc là Hồng lô tự khanh, Khâm saiđại thần, Đổng lí các quốc sự vụ Đặng Thừa Tu làm trưởng đoàn.

Theo nghiên cứu của Lưu Văn Lợi – nguyên Trưởng ban Biên giớiChính phủ, thì sau khi cơ bản bàn xong việc hoạch định phần lục địađoạn biên giới Lưỡng Quảng, Dillon – Trưởng phái đoàn Pháp nêu vấn đềđường biên giới trên biển cũng là đường quy thuộc đảo trong vịnh Tuy nhiênĐặng Thừa Tu chỉ muốn bàn những đoạn biên giới liên quan đến vùng BảoLạc, Trương Uyên, Hải Ninh và cho rằng việc xác định hải giới không cótrong điều ước Thiên Tân Cần phải nói thêm rằng, trong vịnh Bắc Bộ, từthời xa xưa giữa ta và Trung Quốc chưa hề có một đường biên giới cụ thểnào Mỗi nước chỉ biết những đảo nào là của mình, ngư dân mỗi nước quenđến đánh bắt cá ở vùng nào Đại diện cho chính quyền Pháp và đại diện nhàThanh sau đó đã bàn bạc và tạm đưa ra một thỏa thuận về một biên giớitrên biển, tóm tắt là: Vạch đường Bắc - Nam theo kinh tuyến Paris 105043’kinh

độ Đông đi qua mũi Đông của đảo Trà Cổ, các đảo ở phía Tây kinhtuyến đó

là của Việt Nam; các đảo ở phía Đông kinh tuyến đó, phía Trung Quốc đềnghị là của Trung Quốc

Thỏa thuận trên sau khi được chính phủ hai bên phê chuẩn, đãđược chính thức hóa thành điều 2 của bản Công ước kí ngày 26 tháng 6 năm

1887 như sau: “Les îles qui sont l’est du meridian de Paris 105043 delongitude est, c’est-à-dire de la ligne nord-sud passant par la pointeorientale de l’île de

Tcha’a-Kou ou Quan-chan (Tra-co) et formant la frontière sont égalementattribuées à la Chine Les îles Go-tho et les autres îles qui sont à l’ouest de

Ngày đăng: 06/01/2020, 08:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Nguyễn Văn Lệ, (2011), Việt Nam và các tranh chấp biển đông hiện nay- thực tiễn và biện pháp giải quyết, đề tài khóa luận tốt nghiệp khoa luật đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và các tranh chấp biển đông hiệnnay- thực tiễn và biện pháp giải quyết
Tác giả: Nguyễn Văn Lệ
Năm: 2011
12. Lưu Văn Lợi (2012) những điều cần biết về đất biển trời Việt Nam, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: những điều cần biết về đất biển trời Việt Nam
Nhà XB: NXB Thanh niên
13. Lê Công Phụng (2001), “Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá giữa Việt Nam – Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ”, Tạp chí Cộng sản, Số 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp địnhHợp tác nghề cá giữa Việt Nam – Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ”, "Tạpchí Cộng sản
Tác giả: Lê Công Phụng
Năm: 2001
14. Lê Quý Quỳnh (2003), Các vùng biển Việt Nam: chế độ pháp lý và việc phân định, Luận án Tiến sĩ Luật học tại Đại học Quốc gia Hà Nội, mã số 50501, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vùng biển Việt Nam: chế độ pháp lý và việcphân định
Tác giả: Lê Quý Quỳnh
Năm: 2003
15. Lê Quý Quỳnh (2012), Các hiệp định phân định biển giữa Việt Nam và các nước láng giềng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hiệp định phân định biển giữa Việt Nam vàcác nước láng giềng
Tác giả: Lê Quý Quỳnh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2012
16. Nguyễn Hồng Thao (1997), Những điều cần biết về Luật biển, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết về Luật biển
Tác giả: Nguyễn Hồng Thao
Nhà XB: NXBCông an Nhân dân
Năm: 1997
17. Đặng Đình Quý chủ biên, Biển Đông: hướng tới một khu vực hòa bình, an ninh và hợp tác, năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Đình Quý chủ biên, "Biển Đông: hướng tới một khu vực hòa bình,an ninh và hợp tác
18. TS. Đặng Đình Quý – Nguyễn Minh Ngọc ( đồng chủ biên), Biển Đông:địa chính trị, lợi ích, chính sách và hành động của các bên liên quan, năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS. Đặng Đình Quý – Nguyễn Minh Ngọc ( đồng chủ biên), "Biển Đông:"địa chính trị, lợi ích, chính sách và hành động của các bên liên quan
19. TS. Đặng Đình Quý – Nguyễn Minh Ngọc (2012), Biển Đông: Quản lý tranh chấp và Định hướng giải pháp, NXB thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lýtranh chấp và Định hướng giải pháp
Tác giả: TS. Đặng Đình Quý – Nguyễn Minh Ngọc
Nhà XB: NXB thế giới
Năm: 2012
20. Đặng Đình Quý (2012), Tranh chấp Biển Đông: Luật pháp, Địa Chính trị và Hợp tác Quốc tế,NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh chấp Biển Đông: Luật pháp, Địa Chính trịvà Hợp tác Quốc tế
Tác giả: Đặng Đình Quý
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2012
21. Đặng Đình Quý (2010), Biển Đông: ợp tác v n ninh và Phát triển trong hu vực, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển Đông: ợp tác v n ninh và Phát triểntrong hu vực
Tác giả: Đặng Đình Quý
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2010
22. Raul Pedrozo, (2015), So sánh yêu sách chủ quyền của Trung Quốc và Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w