1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu THÀNH PHẦN LOÀI, PHÂN bố, tập TÍNHSINH THÁI, độ NHẠY cảm với hóa CHẤT HIỆT côn TRÙNG và HIỆU lực PHÒNG CHỐNG MUỖI AEDES của BÌNH xịt NIMPE tại THỰC địa hẹp ở hà nội và THANH hóa, năm (2018 2020)

73 152 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 474,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRẦN THỊ THƯƠNGNGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, PHÂN BỐ, TẬP TÍNH SINH THÁI, ĐỘ NHẠY CẢM VỚI HÓA CHẤT HIỆT CÔN TRÙNG VÀ HIỆU LỰC PHÒNG CHỐNG MUỖI AEDES CỦA BÌNH XỊT NIMPE TẠI THỰC ĐỊA HẸP Ở H

Trang 1

TRẦN THỊ THƯƠNG

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, PHÂN BỐ, TẬP TÍNH SINH THÁI, ĐỘ NHẠY CẢM VỚI HÓA

CHẤT HIỆT CÔN TRÙNG VÀ HIỆU LỰC PHÒNG CHỐNG

MUỖI

AEDES CỦA BÌNH XỊT NIMPE TẠI THỰC ĐỊA HẸP

Ở HÀ NỘI VÀ THANH HÓA, NĂM (2018-2020)

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT NGHIÊN CỨU SINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

VIỆN SỐT RÉT - KÝ SINH TRÙNG - CÔN TRÙNG TRUNG ƯƠNG

TRẦN THỊ THƯƠNG

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, PHÂN BỐ, TẬP TÍNH SINH THÁI, ĐỘ NHẠY CẢM VỚI HÓA

CHẤT HIỆT CÔN TRÙNG VÀ HIỆU LỰC PHÒNG CHỐNG

MUỖI

AEDES CỦA BÌNH XỊT NIMPE TẠI THỰC ĐỊA HẸP

Ở HÀ NỘI VÀ THANH HÓA, NĂM (2018-2020)

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BI Breteau Index (chỉ số Breteau)

CSDCCNCBG Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Đặc điểm hình thái muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus 3

1.1.1 Hình thể muỗi Aedes 3

1.1.2 Vòng đời của muỗi Aedes 5

1.2 Phân bố muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus 6

1.2.1 Đặc điểm phân bố của muỗi Aedes 6

1.2.2 Phân bố muỗi Aedes trên thế giới 7

1.2.3 Sự phân bố của muỗi Aedes ở Việt Nam 9

1.3 Tập tính của muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus 15

1.3.1 Tập tính sinh sản 15

1.3.2 Tập tính hút máu và trú đậu của muỗi Aedes 17

1.4 Nghiên cứu về vai trò truyền bệnh của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus 19

1.4.1 Nghiên cứu trên thế giới vai trò truyền bệnh của muỗi Ae aegypti 19

1.4.2 Các nghiên cứu về vai trò truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue của muỗi Aedes tại Việt Nam 23

1.5 Phòng chống muỗi Aedes 24

1.5.1 Tình hình sử dụng hóa chất diệt công trùng, tính kháng và cơ chế kháng của muỗi với hóa chất diệt côn trùng 26

1.5.2 Bình xịt hương chanh NIMPE 32

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Mục tiêu 1 33

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 33

2.1.3 Địa điểm 33

2.1.4 Phương pháp nghiên cứu 34

Trang 5

2.1.6 Thu thập số liệu 38

2.2 Mục tiêu 2 38

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 38

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 38

2.2.3 Thời gian nghiên cứu 39

2.2.4 Nội dung nghiên cứu 39

2.2.5 Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu 39

2.2.6 Các chỉ số đánh giá 41

2.3 Mục tiêu 3 41

2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 41

2.3.2 Địa điểm nghiên cứu 41

2.3.3 Nội dung nghiên cứu 41

2.3.4 Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu 41

2.3.5 Các chỉ số đánh giá 42

2.4 Xử lý số liệu 43

2.5 Sai số và khống chế sai số 43

2.5.1 Sai số 43

2.5.2 Cách khắc phục sai số 43

2.6 Đạo đức trong nghiên cứu 44

CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ 45

3.1 Xác định thành phần loài, phân bố, tập tính sinh thái, vai trò truyền bệnh của muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus tại một số quận huyện ở Hà Nội và Thanh Hóa 45

3.1.1 Xác định thành phần loài, phân bố, tập tính sinh thái, vai trò truyền bệnh của muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus tại một số quận huyện ở Hà Nội 45

3.1.2 Xác định thành phần loài, phân bố, tập tính sinh thái, vai trò truyền bệnh của muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus tại Thanh Hóa 46

Trang 6

albopictus tại Hà Nội và Thanh Hóa 47

3.2 Độ nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng trong bình xịt NIMPE của muỗi Ae.aegypti và Ae.albopictus tại Hà Nội và Thanh Hóa 49

3.3 Hiệu lực phòng chống muỗi Aedes aegypti và Ae.albopictus của Bình xịt NIMPE tại một số điểm nghiên cứu tại Thanh Hóa 49

CHƯƠNG 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 50

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 51

DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ 52

KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU 53

KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH 54

TÍNH KHOA HỌC, TÍNH MỚI, TÍNH KHẢ THI CỦA ĐỀ TÀI 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

Bảng 1.1: Chỉ số muỗi Ae aegypti tại Thanh Hóa, 2016-2017 13

Bảng 1.2 Chỉ số muỗi Ae.albopictus tại Thanh Hóa, 2016-2017 14

Bảng 1.3: Chỉ số bọ gậy Ae aegypti tại Thanh Hóa, 2016 -2017 14

Bảng 1.4: Chỉ số bọ gậy Ae albopictus tại Thanh Hóa, 2016 -2017 15

Bảng 1.5 Tổng hợp các nghiên cứu vai trò truyền bệnh của muỗi Ae aegypti đối với bệnh SXHD 20

Bảng 1.6 Tổng hợp các nghiên cứu vai trò truyền bệnh của muỗi Ae albopictus đối với bệnh SXHD 22

Bảng 2.1: Điều kiện phản ứng 36

Bảng 2.2: Hệ mồi và đầu dò cho phản ứng qPCR phát hiện virus SXH dengue, virus Zika, Chikungunya 37

Bảng 2.3: Các hệ mồi sử dụng cho phân tích các alen Kdr: 40

Bảng 2.4: Điều kiện phản ứng 40

Bảng 3.1 Chỉ số muỗi Ae aegypti và Ae albopictus tại Hà Nội, 2019 - 2020 45

Bảng 3.2 Chỉ số muỗi theo sinh cảnh 46

Bảng 3.3 Chỉ số bọ gậy Ae aegypti và Ae albopictus tại Hà Nội và Thanh Hóa, 2019 -2020 47

Bảng 3.4 Ổ bọ gậy nguồn khu vực ngoại thành Hà Nội,Thanh Hóa năm 2019 - 2020 48

Bảng 3.5 Ổ bọ gậy nguồn khu vực ngoại thành Hà Nội,Thanh Hóa năm 2019 - 2020 48

Bảng 3.6 Độ nhạy cảm của muỗi Aedes với bình xịt NIMPE 49

Trang 8

Hình 1.1 Muỗi Ae aegypti và Ae albopictus trưởng thành 5 Hình 1.2: Vòng đời của muỗi cái Aedes 5

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm virus cấp tính, gây dịch

do muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus truyền Bệnh xảy ra đầu tiên ở

Philaelphia (Mỹ) vào năm 1780, sau đó lan ra các vùng lân cận Ở Châu Âu,bệnh xuất hiện đầu tiên năm 1927 tại A-then (Hy Lạp) Năm 1953 một vụdịch sốt xuất huyết (SXH) lớn xảy ra ở Philippin, từ đó lan ra và trở thànhbệnh lưu hành ở các vùng đô thị lớn Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dươngvới số dân rất lớn gây ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe của con người [1]

Hàng năm, Tổ chức Y tế Thế giới dự đoán có từ 50 – 100 triệu người

nhiễm Dengue với 500.000 trường hợp SXHD và ít nhất 21.000 trường hợp tử

vong, hầu hết là trẻ em – tương đương với một ca tử vong trong mỗi 20 phút,khiến SXHD trở thành một trong những bệnh nhiệt đới lưu hành và tái xuấthiện quan trọng nhất trong thế kỷ 21 [2] Giám đốc tổ chức Y tế thế giới(WHO) bà Margaret Chan tuyên bố ngày 22 tháng 3 năm 2016: …sự lây lancủa Zika, sự trỗi dậy của Dengue và báo động về Chikungunya chính là cáigiá phải trả cho sự thất bại của một chiến lược lớn về kiểm soát muỗi từ 1970,những thất bại đó là nguyên nhân cho các virus từ muỗi lan mạnh và tạo nênmột đe dọa cực lớn cho sức khỏe người dân toàn cầu… [3]

Ở Việt Nam, bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) xuất hiện lần đầutiên vào năm 1958 tại miền Bắc và 1960 tại miền Nam Sau đó bệnh gây nênthành dịch và lan rộng tới hết các tỉnh trong cả nước; cao điểm là những năm

1969, 1977,1978,1980,1983, 1987, 1991 là những năm có dịch lớn Bệnhkhông chỉ tập trung ở các vùng thành thị đông dân mà đã lan tới các vùngnông thôn đồng bằng, trung du và miền núi Vì tầm quan trọng như vậy, việcnghiên cứu bệnh sốt Dengue nói chung và véc tơ truyền bệnh nói riêng là hết

sức quan trọng Những nghiên cứu về sinh học, sinh thái học của Aedes trước

Trang 10

đây đã được Christophers tổng kết vào năm 1960 [4] Bên cạnh những đặcđiểm sinh học, sinh thái học, di truyền học của từng vùng riêng biệt là khôngthể thiếu được đối với việc đề xuất những biện pháp phòng trừ có hiệu quảcho từng địa phương cụ thể [1].

Hà Nội và Thanh Hóa là một trong những tỉnh trọng điểm về SXHD của

cả nước Năm 2015, dịch SXHD được ghi nhận ở khu vực miền Bắc với16.913 ca mắc, trong đó 90% ca bệnh chủ yếu tập trung tại Hà Nội [5] Năm

2017, dịch sốt xuất huyết bùng phát ở khắp các quận/huyện của thành phố HàNội Tính tới tháng 10 năm 2017 toàn thành phố có 35,239 ca bệnh sốt xuấthuyết, 7 trường hợp tử vong và hơn 500 ổ dịch SXHD [6]

Hiện nay đã có vacxin phòng bệnh SXHD, tuy nhiên, mới chỉ được sửdụng ở một số ít quốc gia và cũng chưa có thuốc điều trị đặc hiệu Do đó, diệtmuỗi truyền bệnh hay là biện pháp phòng chống tốt nhất hiện nay là kiểmsoát véc tơ bằng các hóa chất diệt côn trùng (HCDCT) [7]

Xuất phát từ thực tế trên, cùng với sự quan tâm của Viện Sốt Rét - Ký

sinh trùng - Côn trùng Trung ương, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu

thành phần loài, phân bố, tập tính sinh thái, độ nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng và hiệu lực phòng chống muỗi Aedes của Bình xịt NIMPE tại thực địa hẹp ở Hà Nội và Thanh Hóa (2018-2020)” Với các mục tiêu sau:

1 Xác định thành phần loài, phân bố, tập tính sinh thái, vai trò truyền bệnh của muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus tại một số quận huyện ở Hà Nội và Thanh Hóa.

2 Đánh giá độ nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus tại các điểm nghiên cứu.

3 Đánh giá hiệu lực phòng chống muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus của Bình xịt NIMPE ở một số điểm nghiên cứu tại Thanh Hóa và Hà Nội.

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đặc điểm hình thái muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus

Aedes aegypti và Aedes albopictus thuộc giới động vật, ngành chân

khớp, lớp côn trùng (Insecta), bộ 2 cánh (Diptera), phân bộ râu dài

(Nematocera), họ Culicidae, giống Aedes [8].

1.1.1 Hình thể muỗi Aedes

Aedes aegypti là loại côn trùng biến thái hoàn toàn với hình dạng của

các giai đoạn: trứng - bọ gậy – quăng và muỗi trưởng thành hoàn toàn khácnhau (Maricopa, 2006) ( Hình 1.1) [9]

Muỗi Ae aegypti trưởng thành: Có kích thước trung bình, nhỏ hơn

10mm, chân có khoang trắng đen, trên lưng ngực của muỗi có hai sọc trắng,

Độ dài của sải cánh khoảng 4,5 – 5mm Muỗi thường có màu đen điểm vẩybạc khắp cơ thể, nên còn được gọi là muỗi vằn Khi đậu, thân hình muỗi nằmngang với bề mặt mà nó đậu nghỉ Cơ thể muỗi chia làm ba phần: đầu, ngực

và bụng

Phần đầu có dạng hình cầu, hai bên đầu có đôi mắt kép lớn Giữa haimắt kép là vòi Hai bên vòi là pan, hai bên pan là râu

Râu gồm 14 – 15 đốt, râu ở con đực rậm hơn con cái rất nhiều

Vòi của muỗi có cấu tạo dạng chích hút của côn trùng

Pan gồm 5 đốt Ở muỗi đực pan dài hơn vòi, muỗi cái pan ngắn hơn vòi Phần ngực gồm ba đốt: ngực trước (Pronotum), ngực giữa(Mesonotum) và đốt ngực sau (Metanotum) Đặc điểm nổi bật để xác địnhloài muỗi Ae aegypti là vẩy bạc ở mặt lưng ngực (Scutum) thành đường viềnhình giống như mặt đàn và trên tấm bên ngực giữa không có lông lỗ thở màchỉ có lông sau lỗ thở

Trang 12

Phần ngực mang một đôi cánh và ba đôi chân Đôi cánh bám vào đốtngực giữa Ở gần gốc cánh, về phía sau có hai thùy nhỏ là alula và squama

Chân gồm 3 đốt: đùi (femur), ống hay cẳng (tibia) và bàn (tarsus) Bànchân có 5 đốt, đốt cuối bàn có mang một đôi vuốt trơn hay có răng

Phần bụng gồm 10 đốt, có dạng hình ống thon dài Đốt IX và đốt X tiêugiảm, tham gia vào cấu tạo của cơ quan giao phối Từ đốt I đến đốt VIII cócấu tạo giống nhau [10, 11]

Muỗi Ae albopictus trưởng thành về hình thể rất giống muỗi

Ae aegypti chỉ khác trên mặt lưng chỉ có một sọc trắng duy nhất chạy ở giữa,

phần xung quanh đen không có các sọc trắng khác [10]

Quăng : Quăng của muỗi Aedes có hình dạng giống như một dấu hỏi.

Bên ngoài quăng được bao bọc một lớp vỏ màu xẫm nhưng có thể nhận thấymầm của những phần phụ của muỗi trưởng thành sau này Cơ thể quăng đượcchia làm hai phần: đầu ngực và bụng [10]

Bọ gậy: Bọ gậy muỗi Aedes có dạng hình trụ, thon dần về phía đuôi và

có màu trắng sữa Cơ thể chia ra làm ba phần: đầu, ngực và bụng Đặc điểm

đặc trưng của bọ gậy muỗi Aedes là có một chùm lông nằm ở giữa ống thở.

Tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng của ống thở gọi là chỉ số ống thở (chỉ số si

- phon) cũng hay được sử dụng để định loại [10]

Trứng: Trứng muỗi Aedes có kích thước nhỏ (dưới 1mm), hình bầu dục

(oval) không đều một mặt phẳng một mặt cong, màu nâu sẫm, một cực nhỏhơn Ở cực to của trứng có lỗ trứng được bao bọc bởi một lớp globulin trongsuốt Bên ngoài trứng được phủ bởi màng chrion màu trắng sữa, có thể thấymàng này khi trứng được ngâm trong nước, khi khô màng chrion co sát vào

vỏ trứng làm mặt vỏ trứng gồ ghề Trứng muỗi Aedes thường từng cái rời ra

bám trên thành các dụng cụ chứa nước [10]

Trang 13

Hình 1.1 Muỗi Ae aegypti và Ae albopictus trưởng thành [9]

1.1.2 Vòng đời của muỗi Aedes

Vòng đời của muỗi trải qua 4 giai đoạn:

- Giai đoạn hình thành trứng: 2-5 ngày

- Giai đoạn từ trứng thành bọ gậy: 1-2 ngày

- Giai đoạn từ bọ gậy thành quăng: 3-4 ngày

- Giai đoạn từ quăng thành muỗi trưởng thành: 1-2 ngày [8, 10]

Giai đoạn trước trưởng thành của muỗi vào khoảng 7 ngày trong điềukiện nhiệt đới, diễn ra trong môi trường nước Bất kỳ DCCN nào, dù tự nhiênhay nhân tạo mà có thể tích trữ nước đều có thể trở thành nơi sinh sản và phát

triển bọ gậy của muỗi Aedes [8, 10].

Hình 1.2: Vòng đời của muỗi cái Aedes [12]

Trang 14

Ở Việt Nam, vào mùa mưa (tháng 6-11), nhiệt độ và độ ẩm thích hợp,vòng đời của muỗi từ trứng cho đến khi thành muỗi trưởng thành là 8,1 ngày.Muỗi có thể sống trung bình 1 tháng Vào mùa khô (tháng 12-5), vòng đời củamuỗi kéo dài hơn 20 ngày Vì điều kiện khô hạn, nên trứng muỗi không thể

nở được và sẽ nở thành bọ gậy khi có cơn mưa đầu tiên Do vậy, khi bắt đầumùa mưa, mật độ bọ gậy và muỗi tăng lên rất nhanh [13]

Muỗi cái Aedes giao phối và hút máu lần đầu vào khoảng 48 giờ sau

khi nở và tiếp tục thực hiện các bữa ăn máu trong các chu kỳ sinh thực Thờigian từ khi hút máu tới khi đẻ trứng thay đổi từ 2 đến 5 ngày Trong lần đẻtrứng đầu tiên, một muỗi cái đẻ trung bình 60-100 trứng [14], [15]

Nghiên cứu về khả năng sống sót trong phòng thí nghiệm cho thấymuỗi đực có thể sống trung bình 20 ngày và muỗi cái là 30 ngày Như vậy về

mặt lý thuyết, mỗi muỗi Aedes cái có thể đẻ 4 lần [13].

Năm 1964 và 1986, hội thảo về SXHD của Tổ chức Y tế Thế giới ở

Băng Cốc, Thái Lan đã khẳng định Ae aegypti là véc tơ chủ yếu còn Ae albopictus đóng vai trò nhất định trong việc lưu trữ virus trong tự nhiên.

1.2 Phân bố muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus

1.2.1 Đặc điểm phân bố của muỗi Aedes

Muỗi Aedes phân bố ở những vùng nhiệt đới và ôn đới giữa 350 vĩtuyến Bắc và 350 vĩ tuyến Nam giới hạn bằng đường đẳng nhiệt 100 C Muỗi

Aedes, có thể có mặt ở độ cao từ 0 đến 1200m [16].

Muỗi Aedes có khả năng phát tán chủ động và bị động Khả năng phát tán chủ động của Aedes rất thấp, chúng bay chậm, bay xa trong khoảng cách dưới 100m xung quanh ổ bọ gậy (loài Ae aegypti trung bình 35,3m; tối đa 100m), loài Ae albopictus có thể bay xa trong dưới 200m (trung bình 50,6m;

tối đa 180m) từ ổ bọ gậy Thực tế muỗi chỉ sống quanh quẩn ở nơi gần ổ bọgậy Tuy nhiên, đã có nghiên cứu cho thấy muỗi này có thể phát tán xa và

Trang 15

rộng trong khoảng 800m và hơn nữa chủ yếu nhờ các phương tiện giao thôngnhư: sự chuyên chở trứng (chịu đựng được mùa khô) và bọ gậy trong nhữngbồn chứa nước, tàu bè, túi đựng nước của các du mục, những người hànhhương…; sự chuyên chở các dạng muỗi trưởng thành bằng những phương

tiện chuyên chở nhanh (xe lửa, máy bay, tàu…) Khả năng bay xa của Ae aegypti và Ae albopictus tùy thuộc vào điều kiện sinh thái, khí hậu như gió,

độ ẩm, nhiệt độ, lượng mưa, địa hình, thảm thực vật, đặc điểm nhà ở, nguồn

máu Ngoài ra, loài Aedes có thể bay phát tán để tìm bạn tình, tìm máu vật

chủ, màu sắc và tìm nơi đẻ trứng Muỗi phát tán xa và rộng do không có sẵnchỗ đậu nghỉ và nơi sinh sản, làm cho muỗi cái trưởng thành phải bay xa hơntìm dụng cụ chứa nước để đẻ trứng, đây cũng là nguyên nhân làm lan truyền

bệnh mà muỗi Aedes là véc tơ trên phạm vi rộng lớn hơn [17], [18].

1.2.2 Phân bố muỗi Aedes trên thế giới

Giống Aedes được tìm thấy ở khắp mọi nơi trên thế giới vơi hơn 1000 loài [19] Trong số những loài liên quan đến y học thì muỗi Ae aegypti được

biết đến nhiều nhất bởi nó không chỉ là véc tơ truyền bệnh mà còn được dùng

trong nghiên cứu phòng thí nghiệm Các tác giả đã thống kê được Ae aegypti

phân bố ở 142 quốc gia

Phân bố của Ae.albopictuc hơn 70 quốc gia trên thế giới, Ở nửa đầu của thế kỷ 20, người ta đã tìm thấy Ae aegypti ở hầu hết các vùng nhiệt đới và

cận nhiệt đới giữa vĩ tuyến 350 Bắc và vĩ tuyến 350 Nam cả châu Á, châu Mỹ

và châu Phi Muỗi Ae aegypti phân bố rộng ở Nam và Trung Mỹ, còn ở

Châu Á, trước chiến tranh thế giới thứ hai muỗi có mật độ thấp và phạm vihoạt động hẹp, nhưng càng về sau này muỗi càng mở rộng vùng phân bố ởnhiều nước thuộc Châu Á và Tây Thái Bình Dương [20]

Tổ chức Y tế Thế giới đã tổng kết các tài liệu và cho rằng sự phân bố

của muỗi Ae aegypti phù hợp với sự phân bố của bệnh nhân SXHD Tại mỗi

Trang 16

nước, muỗi tự mở rộng vùng phân bố từ đô thị tới các vùng nông thôn chủyếu nhờ vào các phương tiện giao thông và sự phát triển của hệ thống cấpnước [20].

Ngày nay Ae aegypti và Ae albopictus phân bố rộng rãi ở hầu hết các

nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, mặc dù hiếm thấy các quần thể muỗi này ởbên ngoài dải xích đạo nằm giữa vĩ tuyến 350 Bắc và 350 Nam

Phân bố địa lý của Ae aegypti và Ae albopictus có khả năng sẽ tiếp tục

lan rộng và sẽ xâm nhập vào các vùng trước đây chưa hề có loài muỗi này,dẫn tới nguy cơ lan truyền bệnh SXHD trong các quần thể dân cư trước đâychưa từng bị bệnh SXHD

Ở Đông Nam Á tại những vùng bán khô hạn như Ấn Độ, Ae aegypti là

véc tơ truyền bệnh ở khu vực đô thị và các quần thể muỗi biến động rõ rệttheo lượng mưa và thói quen dự trữ nước Tại các nước Đông Nam Á khác có

lượng mưa hàng năm lớn hơn 200mm nước, quần thể Ae aegypti và Ae albopictus ổn định hơn và có mặt ở các khu vực đô thị, bán đô thị và thậm chí

cả ở nông thôn Ở In-đô-nê-xi-a, Myanma và Thái Lan, do tập quán dự trữnước ở khu vực bán đô thị nên ở đây mật độ muỗi cao hơn ở khu vực đô thị.Tình trạng đô thị hoá không có kế hoạch có xu hướng làm gia tăng các sinh

cảnh thích hợp cho muỗi Ae aegypti và Ae albopictus phát triển Ở một số thành phố có hệ thực vật phong phú, cả Ae aegypti và Ae albopictus cùng có

mặt, nhưng nói chung tuỳ thuộc vào sinh cảnh thích hợp cho sự phát triển của

bọ gậy và mức độ đô thị hoá của từng nơi Muỗi Ae aegypti vẫn thường chiếm ưu thế ở vùng đô thị, tại Singapore chỉ số nhà có Ae aegypti cao nhất ở

những khu nhà ổ chuột, các cửa hàng và những khu nhà cao tầng, trong khi đó

Ae albopictus dường như không liên quan đến tình trạng nhà ở nhưng lại xuất

hiện nhiều ở những nơi thoáng và có nhiều cây cối [21], [22]

Trang 17

Độ cao là một yếu tố quan trọng làm hạn chế sự phân bố của Ae aegypti và Ae albopictus Ở Ấn Độ phạm vi thích hợp cho Ae aegypti và Ae albopictus sinh sống là nơi có độ cao từ 0 đến 1000m so với mực nước biển.

Trong khoảng dưới 500m, mật độ quần thể muỗi là lớn hoặc vừa, còn ở vùngnúi có độ cao trên 500m thì mật độ muỗi thấp Ở các nước Đông Nam Á, độ

cao từ 1000-1500m là những hạn chế sự có mặt của Ae aegypti Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới cho thấy muỗi Ae aegypti chủ yếu

phân bố ở các điểm dân cư và các thành phố thuộc miền Duyên Hải Ở một số

nơi thuộc Châu Phi và Châu Mỹ còn gặp muỗi Ae aegypti ở một số điểm dân

cư thuộc vùng núi cao trên 1500m Tại một số khu vực khác trên thế giới có thể

tìm thấy Ae albopictus ở độ cao lớn hơn, như ở Colombia, tới 2200m [23].

1.2.3 Sự phân bố của muỗi Aedes ở Việt Nam

Việt Nam là một nước nhiệt đới, muỗi Ae aegypti và Ae albopictus

phân bố rộng ở các khu dân cư Muỗi này gặp ở hầu hết các thành phố, thị xã,thị trấn, vùng nông thôn và thậm chí cả vùng miền núi, cao nguyên Cũng như

trên thế giới, tình hình phân bố của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus ở Việt

Nam cũng thích hợp với vùng của SXHD [13]

Ở Việt Nam, muỗi Aedes phân bố hình da báo trong 3 sinh cảnh: Chủ

yếu tập trung ở thành phố, rồi đến các đồng bằng ven biển và các làng mạcgần đường giao thông Đó là những nơi có dân cư đông đúc, có nhiều dụng cụchứa nước và các phương tiện giao thông thường xuyên qua lại; hiện nay kinh

tế phát triển (rác thải, vỏ bia, đồ hộp….) và việc đô thị hóa nhanh chóngnhưng không đồng bộ (cấp thoát nước chưa đầy đủ, vệ sinh môi trường kém),

sự thờ ơ của một số người dân với giáo dục sức khỏe cho cộng đồng, làm cho

vùng phân bố của Aedes ngày càng mở rộng [24].

Ở miền Bắc Việt Nam cho đến trước năm 1984 mới chỉ tìm thấy muỗi

Ae aegypti và Ae albopictus trong một số sinh địa cảnh thuộc vùng trung du

Trang 18

và đồng bằng có độ cao dưới 100m, đó là các thành phố, thị xã và các điểmdân cư đông đúc thuộc vùng đồng bằng ven biển hoặc trên các đầu mối giaothông thuỷ bộ như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Việt Trì, Hòa Bình,Phú Thọ, Bắc Ninh, Hòn Gai, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Phủ Lý và

Thanh Hoá, trong đó mật độ muỗi Ae aegypti ở nội thành và nội thị tương

đương với vùng đồng bằng ven biển và bao giờ cũng cao hơn ở ngoại thành

và ngoại thị Vùng nông thôn chỉ gặp muỗi ở các đầu mối giao thông thuỷ bộ

Năm 1984, tác giả Vũ Đức Hương cũng chưa tìm thấy muỗi

Ae aegypti ở một số điểm ở cách nội thành Hà Nội và trục đường giao thông

trên 3 km (xã Trung Văn, Mễ Trì), trong khi đó lại thấy muỗi xuất hiện ở một

số đảo, nơi có tầu thuyền thường xuyên ra vào như đảo Tuần Châu (Hòn Gai,Quảng Ninh), Quan Lạn (Cẩm phả, Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng) Với sựthay đổi về nếp sống sinh hoạt, nhân dân tăng cường dụng cụ chứa nước mưa

(là nơi mà muỗi Ae aegypti rất thích đẻ trứng) và phát triển sự giao lưu giữa

các vùng, giữa thành thị và nông thôn, năm 1987 ở miền Bắc đã xảy ra 1 vụdịch SXHD lớn Qua nghiên cứu, Vũ Sinh Nam và các cộng tác viên thấy

Ae aegypti có mặt ở 97,06% ổ dịch điều tra và chiếm 54,64% so với tổng số

loài Chỉ số mật độ muỗi trung bình là 1,7 con/nhà, chỉ số Breteau là 58,34

Số ổ dịch có cả muỗi Ae albopictus và Ae aegypti chiếm tỷ lệ thấp (1,47%).

Mặc dù phân bố rộng rãi nhưng một số tỉnh ở vùng núi phía Bắc vẫn không

thấy có sự hiện diện của muỗi Ae aegypti [13].

Kết quả nghiên cứu từ năm 1987 - 1990 tại ba tỉnh: Bình Trị Thiên,

Lạng Sơn, Hoàng Liên Sơn thấy rằng: Tại Bình Trị thiên 3/7 điểm có Ae aegypti (TP Huế, thị xã Đông Hà và xã Gia Ninh, huyện Quảng Ninh) và 2/7 điểm chỉ có Ae albopictus (xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền và xã Hưng Thủy) Tại tỉnh Hoàng Liên Sơn, chỉ bắt được muỗi Ae aegypti ở phường Chi Lăng, Thị xã Lạng Sơn), các điểm khác chỉ có Ae albopictus Tại tỉnh Hoàng

Trang 19

Liên Sơn, đã bắt được Ae aegypti tại thị trấn đông dân cư như Phố Lu và thị

xã Yên Bái; các điểm khác chỉ thấy Ae albopictus [13].

Từ năm 1992 - 1995, qua nghiên cứu, nhiều tác giả cũng đã khẳng định

rằng sự phân bố và số lượng của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus ở miền

Bắc đã giảm đi nhiều, riêng ở Hà Nội số lượng muỗi này đã giảm đi 3 lần sovới giai đoạn từ năm 1988 - 1990, ở Thái Nguyên và thị xã Hải Dương không

tìm thấy muỗi Các địa điểm khác thấy muỗi Ae aegypti nhưng với tỷ lệ đã

giảm rất nhiều (chỉ chiếm 25% số địa điểm điều tra) [25]

Từ đèo Hải Vân trở vào, có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát tán để

mở rộng vùng phân bố và sự phát triển để tăng số lượng muỗi Ae aegypti và

Ae albopictus hơn ở miền Bắc, ở đây không có mùa đông, việc cung cấp

nước, nhất là vùng cao và vùng ven biển không đủ dẫn đến số dụng cụ chứanước nhiều hơn Kết quả điều tra năm 1992 - 1995, trong vùng phân bố của

muỗi Ae aegypti và Ae albopictus, số dụng cụ chứa nước trung bình trong

mỗi gia đình ở miền Bắc từ 1 - 1,8 cái; ở miền trung và Tây Nguyên từ 2 - 3cái; ở Nam bộ từ 4 - 8 cái Qua điều tra từ Quảng Nam, Khánh Hoà, TâyNguyên đến Long An của Vũ Đức Hương và cs (năm 1992 - 1995) thấy xuất

hiện muỗi Ae aegypti ở 16/18 điểm điều tra (trừ xã Khánh Nam, huyện

Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà và xã Tabhinh, Giàng, Quảng Nam - Đà Nẵng).Mật độ muỗi cao nhất là ở phường Hội Thương, Trà Bá, Pleiku, tỉnh Gia Lai(1,52), chỉ số Breteau cao nhất ở xã Tân Trạch, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long

An [24], [25]

Qua số liệu trên cho thấy sự phân bố của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus phân bố chủ yếu ở thành phố, thị xã, thị trấn của vùng đồng bằng,

nơi tập trung đông dân, có hệ thống giao thông thuận tiện và sinh địa cảnh

thích hợp, chúng ta cũng có thể thấy vùng phân bố của muỗi Ae aegypti và

Ae albopictus có nhiều biến động và cần thiết phải có sự giám sát điều tra

Trang 20

thường xuyên để đánh giá chỉ số, cảnh báo nguy cơ từ đó đề xuất biện pháp

phòng chống muỗi Ae aegypti và Ae albopictus có trọng tâm trọng điểm, đạt

hiệu quả, tiết kiệm nhân lực, vật lực và giảm những chi phí không cần thiết

Năm 2006, Vũ Đức Hương và cs đã tiến hành điều tra bổ sung các chỉ

số muỗi, bọ gậy và thành phần ổ bọ gậy Ae aegypti ở 20 địa điểm thuộc 10

tỉnh và thành phố Kết quả cho thấy các chỉ số muỗi và bọ gậy của loài muỗinày còn cao, nhất là vùng đồng bằng ven biển Trong 20 địa điểm, 15 địađiểm (75%) có chỉ số Breatau lớn hơn 50; 3 địa điểm (6,66%) có chỉ sốBreatau trên 20; 17 địa điểm (85%) có tỷ lệ dụng cụ bọ gậy lớn hơn 10%; 6địa điểm (33,33%) có mật độ muỗi trên 1 con/nhà Ở vùng đồng bằng venbiển Nam Bộ do thiếu nước sạch, số lượng dụng cụ chứa nước nhiều, trungbình từ 3,5 đến 6,5 cái/nhà Trong các vùng khác, số dụng cụ chứa nước trungbình từ 1-2,5 cái/nhà Ba loại ổ bọ gậy là lọ hoa, bát chống kiến, dụng cụ phếthải ở một số nơi chiếm xấp xỉ 50% tổng số dụng cụ chứa nước, cho nên trongphòng chống muỗi phải lưu ý cả ba loại ổ bọ gậy này [13]

Ở Hà Nội, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về sự phân bố của 2

loài muỗi Ae aegypti và Ae albopictus này Theo Phạm Văn Minh và cs trong

năm 2011 ở Hà Nội, có chỉ số mật độ muỗi trung bình lớn hơn 0,2 con/nhà;Chỉ số nhà có muỗi là 12,12%, so với 11 tỉnh/ thành phố ở toàn miền bắc thì

Hà Nội có chỉ số cao nhất vì Hà Nội là địa bàn thành phố, sự đô thị hóa diễn

ra từ lâu, có nhiều điều kiện phù hợp cho muỗi Aedes phát triển Ổ bọ gậy nguồn của Ae aegypti tại Hà Nội chủ yếu là bể nước lớn hơn 500 lít và bể

cảnh Năm 2009, Đỗ Thị Phương Bắc cũng nghiên cứu sự phân bố của muỗi

Aedes ở 3 quận huyện thuộc thành phố Hà Nội là Hoàng Mai, Thanh Trì, Từ Liêm cho thấy có cả 2 loài Ae aegypti và Ae albopictus Tuy vậy, bọ gậy của

Ae aegypti chỉ chiếm 24,72% so với tổng số bọ gậy bắt được của hai loài,

nhưng muỗi bắt được trú đậu hút máu trong nhà ban ngày chiếm 66,30% so

Trang 21

với tổng số muỗi cả hai loài Tuy nhiên, bọ gậy loài Ae albopictus nhiều hơn loài Ae aegypti 2,4 lần (4750/1560); nhưng số muỗi trú đậu trong nhà hút máu thì loài Ae aegypti cao hơn Ae albopictus 1,9 lần (583/303) Điều đó phù hợp với đặc tính sinh thái của từng loài muỗi; loài Ae.agypti luôn trú đậu trong nhà, còn Ae albopictus là loài muỗi hoang hại thích trú đậu ngoài nhà ở các bụi cây [13] Theo Vũ Trọng Dược (2015), tỷ lệ phân bố của Ae albopictus tại các vùng dân cư không có ổ dịch ở Hà Nội cao hơn Ae aegypti.

Ngược lại, tại hầu hết các ổ dịch cả ở nội thành, vùng đệm và ngoại thành mật

độ muỗi Ae aegypti đều cao hơn Ae albopictus rất nhiều lần [26].

Tại Thanh Hóa, theo điều tra của Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côntrùng Trung ương năm 2016 - 2017, ta có các số liệu qua các bảng:

Bảng 1.1: Chỉ số muỗi Ae aegypti tại Thanh Hóa, 2016-2017:

TT Xã/Phường Quận/Huyện Thời gian

CSNCM (%)

Trang 22

Bảng 1.2 Chỉ số muỗi Ae.albopictus tại Thanh Hóa, 2016-2017

TT Xã/Phường Quận/Huyện Thời gian

điều tra CSMĐM

CSNCM (%)

Bảng 1.3: Chỉ số bọ gậy Ae aegypti tại Thanh Hóa, 2016 -2017

TT Xã/Phường Quận/Huyện Thời gian

điều tra BI CSNCBG

CSNCDC CNCBG

Bảng 1.4: Chỉ số bọ gậy Ae albopictus tại Thanh Hóa, 2016 -2017

TT Xã/Phường Quận/Huyện Thời gian

điều tra BI CSNCBG

CSNCDC CNCBG

Trang 23

3 X.Hải Thanh Q.Tĩnh Gia 07/2016 18 8 13,4

1.3 Tập tính của muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus

1.3.1 Tập tính sinh sản

Sau khi tiêu máu, chín trứng muỗi tìm nơi đẻ trứng Theo

Alongkotponlawat (2005) hai loài muỗi Ae aegypti và Ae albopictus có khả

năng đẻ trứng phụ thuộc nhiều vào kích thước cơ thể, chiều dài của cánh Khikích thước của cánh và độ rộng của cơ thể càng lớn thì khả năng sinh sản của

2 loài này càng tăng [27]

Muỗi có thể đẻ hàng chục đến hàng trăm trứng mỗi lần đẻ với tốc độgần 3 trứng mỗi phút, số lượng trứng phụ thuộc vào độ lớn của cơ thể, tuổisinh lý của con cái, máu và số lượng máu hút được Có tác giả đã chứng minh

số trứng đẻ của Ae aegypti theo phương trình Y = 28,2X + 15,2 (Y là số

lượng trứng, X là số lượng máu (miligam)) Số trứng giảm dần qua mỗi lần

đẻ, một đời muỗi cái đẻ 6 - 7 lần, khoảng 760 trứng [8]

Nhìn chung, bọ gậy của muỗi Ae aegypti thường phát hiện thấy ở

những nơi gần chỗ ở của con người và ở nơi nước đọng sạch trong khi đó, bọ

gậy loài muỗi Ae albopictus thường sống ở những nơi có nước đọng gần tự

nhiên hoặc ở ngoài trời hoặc trong vườn cây tại các hốc cây, kẽ lá, vũng nướcdưới đất, vỏ dừa [8]

Trang 24

Đã có ghi nhận rằng, mỗi cá thể muỗi Ae aegypti đẻ trứng vào nhiều

dụng cụ chứa nước khác nhau trong một lần đẻ Tuy nhiên, bằng chứng giántiếp thu thập được ở Thái Lan cho thấy tập tính này là không phổ biến Nơi đẻcủa muỗi là những ổ nước có thành cứng, màu xẫm, diện tích bề mặt nhỏ, cómức nước thường xuyên thay đổi và nước có nhiều chất hữu cơ, tại các dụng

cụ chứa nước tự nhiên và nhân tạo không bị ô nhiễm ở ngoài nhà hoặc trongnhà như: chum, vại, bát nước kê chân chạn, bể nước, lọ hoa, chậu cây cảnh,

chai, lọ, phuy chứa nước, hốc cây, lốp xe hỏng Ổ bọ gậy Ae aegypti trong

dụng cụ chứa nước sinh hoạt chiếm 84,4%, dụng cụ có nước phế thải chiếm15,19%, trong các bể cảnh, lọ hoa là 0,41% Tuy nhiên, tỷ lệ phần trăm các

dụng cụ có bọ gậy Ae aegypti có thể khác nhau tuỳ theo mỗi địa phương, mỗi

vùng, tuỳ theo trình độ vệ sinh, tập quán trữ nước và sử dụng nước ở vùng đó[17], [18], [28], [31]

Ổ chứa lăng quăng chủ yếu là các vật chứa nước sạch do con người chủđộng tạo ra để dự trữ nước phục vụ cho ăn uống và sinh hoạt rất ít gặp ở cácloại ổ chứa khác Gần phân nửa số vật chứa này không có nắp đậy; số có nắpcũng chưa đạt yêu cầu do nắp đậy không kín và không được sử dụng thườngxuyên Ðặc biệt trong mùa mưa, các vật chứa nước thường được mở nắp đểhứng nước dự trữ nên tỷ lệ vật chứa có nắp giảm nhiều tạo điều kiện cho muỗi

Ae aegypti vào đẻ trứng và phát triển.

Nildimar et al (2006), trong công trình nghiên cứu của mình đã ghi

nhận sự phát triển của bọ gậy 2 loài Ae aegypti và Ae albopictus ở nơi các

dụng cụ tích nước ở Brazil qua điều tra hàng tháng trong năm Kết quả cho

thấy loài Ae albopictus có thể hiện tập tính phát triển theo mùa và số lượng nhiều nhất vào mùa mưa trong khi loài Ae aegypti không thể hiện rõ tập tính

phát triển theo mùa mà chỉ thể hiện tập tính ở nơi có chứa nước sạch Khi

Trang 25

mực nước lên cao, độ pH thấp thì bọ gậy của cả hai loài này đều phát triểnkém [32].

Lun H et al (2007) cũng đã tiến hành nghiên cứu khả năng sống sót của

bọ gậy muỗi Ae aegypti và Ae albopictus trong điều kiện nhiệt độ thấp ở Đài

Loan Khảo sát tại đây đã ghi nhận thấy loài muỗi Ae aegypti được phát hiện

đầu tiên ở phía Bắc của Đài Loan trước khi tìm thấy chúng ở khắp nơi trongđất liền Một trong những nguyên nhân có thể là do nhiệt độ thấp ở trong đấtliền vào mùa đông đã ngăn cản sự phát triển của loài này Thực hiện nghiêncứu trong phòng thì nghiệm ở nhiệt độ thấp với 2 véc tơ truyền bệnh SXHD

cho thấy, ở nhiệt độ 100C thì bọ gậy tuổi 1 và 4 của loài Ae albopictus sống tốt hơn loài Ae aegypti, tuy nhiên ở nhiệt độ 2,50C - 50C thì tuổi 1 của loài

Ae albopictus sống tốt hơn loài Ae aegypti nhưng tuổi 4 của loài Ae aegypti sống tốt hơn loài Ae Albopictus [33].

1.3.2 Tập tính hút máu và trú đậu của muỗi Aedes

Cũng giống như nhiều giống và loài muỗi khác, muỗi Aedes có sự khác

nhau giữa con đực và con cái về đặc điểm dinh dưỡng Để sống và phát triểncon cái phải hút máu; còn con đực không hút máu mà chỉ hút nước, nhựa câyhay dịch hoa quả để tồn tại và phát triển

Muỗi Aedes cái trưởng thành hút máu lần đầu khoảng 48 giờ sau khi

nở, giao phối và tiếp tục hút máu trong các chu kỳ sinh thực tiếp theo Quátrình sống và phát triển của muỗi chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như nhiệt

độ, độ ẩm, gió, mưa, ánh sáng đáng chú ý là nhiệt độ và độ ẩm Muỗi Aedes

chỉ hút máu trong khoảng nhiệt độ từ 160C – 400C, nhiệt độ thích hợp chohoạt động này là từ 250C – 340C, thích hợp nhất là 28 0C, ở ngoài giới hạn

nhiệt độ thích hợp, hoạt động đốt máu của muỗi Aedes giảm dần Khi nhiệt độ

xấp xỉ 400C thì muỗi hầu như không hút máu và bị chết hàng loạt; khi nhiệt

Trang 26

độ dưới 18 0C, muỗi hầu như ngừng hoạt động và đậu áp sát vào giá thể Thời

gian của chu kỳ tiêu sinh và thời gian phát triển vòng đời của muỗi Aedes ở

nhiệt độ 170C – 180C kéo dài gấp 3 lần ở nhiệt độ 280C – 300C (2,5 và 8 ngày;11,2 và 37,9 ngày) Ở cùng một nhiệt độ những hoạt động của muỗi thay đổi

theo độ ẩm Hoạt động hút máu của muỗi Aedes diễn ra tích cực hơn khi có

độ ẩm cao [8], [10]

Muỗi cái Ae aegypti có thể hút máu nhiều động vật khác nhau nhưng

ưa hút máu người nhất và theo mồi rất dai Có nhiều yếu tố thu hút muỗi cáiđến với vật chủ như: nhiệt độ, độ ẩm, các yếu tố hoá học, CO2 do vật chủ thải

ra Muỗi Ae aegypti cái trưởng thành hút máu lần đầu khoảng 48 giờ sau khi

nở, đỉnh hoạt động hút máu là 2 đến 3 giờ sau bình minh, và nhiều giờ trướckhi trời tối, và một đỉnh thứ ba vào gần trưa Muỗi đánh hơi người nhanh và

sà vào là đốt ngay Muỗi thường hoạt động đốt người vào ban ngày, hoạt độngcao điểm vào lúc sáng sớm và chiều tối Muỗi cái trưởng thành thường hútmáu nhiều hơn một lần trong suốt một chu kỳ tiêu máu, và tỷ lệ hút máunhiều lần có thể liên quan với kích thước cơ thể muỗi hoặc nhiệt độ môitrường xung quanh [8], [10], [17]

Vì tập tính ưa thiên nhiên nên muỗi Ae albopictus thích đốt động vật

như trâu, bò, lợn hơn là đốt người [28], [34], [39]

Hoạt động tìm kiếm vật chủ (để hút máu) của 2 loài muỗi Aedes này có

liên quan mật thiết với nhiệt độ và ánh sáng Khi cường độ ánh sáng tăng lên

thì loài Ae aegypti có khả năng tìm kiếm vật chủ tốt hơn loài Ae albopictus.

Sau khi hút máu, muỗi Aedes bay tìm chỗ đậu nghỉ để tiêu máu.

Ae aegypti thường đậu nghỉ tiêu máu ở những nơi tối, trên quần áo có

hơi người, màu sẫm, đôi khi còn đậu cả ở gầm giường, trên tường, cạnh và

Trang 27

sau tủ, ban ngày muỗi thường thay đổi vị trí đậu nghỉ liên tục Nhìn chung nơi

hoạt động và trú ẩn của muỗi Ae aegypti là những nơi ẩm, tối và kín gió.

Muỗi Ae albopictus cũng đậu nghỉ tiêu máu ngoài nhà như trên thân, lá

cây, các dụng cụ, vật thể để ngoài nhà hay trên tường của chuồng trâu, bò,lợn [8], [24]

1.4 Nghiên cứu về vai trò truyền bệnh của muỗi Ae aegypti và Ae.

albopictus

1.4.1 Nghiên cứu trên thế giới vai trò truyền bệnh của muỗi Ae aegypti

Vai trò truyền bệnh SXHD của muỗi Ae aegypti được thể hiện qua: (1) khả năng truyền vi rút của muỗi Ae aegypti qua gây nhiễm trong phòng thí nghiệm; (2) khả năng truyền vi rút của muỗi Ae aegypti tại các ổ dịch đang hoạt động; (3) khả năng truyền vi rút qua trứng muỗi Ae aegypti Trên thế

giới trong nhiều năm qua đã có rất nhiều nghiên cứu xác định vai trò truyềnbệnh của loài muỗi này Kết quả các nghiên cửu trên thế giới được tóm tắt lại

ở bảng dưới đây:

Trang 28

Bảng 1.5 Tổng hợp các nghiên cứu vai trò truyền bệnh của muỗi Ae.

aegypti đối với bệnh SXHD

Tác giả nghiên

cứu

Năm nghiê

n cứu

Địa điểm nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Kết quả thí nghiệm Tại thực địa

2001 Venezuela

154 mẫu muỗi từ nhà bệnh nhân 5,2% mẫu dương tính Urdaneta, L và

cs

2000

-2001 Venezuela

142 mẫu muỗi từ nhà liền kề bệnh nhân 12,7% mẫu dương tính Garcia - Rejon, J

và cs

2007 2008

-Merida, Mexico

Muỗi tại 880 hộ gia đình

3,9% hộ gia đình dương tính

Kumari, R và cs 2011 Delhi, India 229 mẫu từ các HGD

trên thực địa 10,5% mẫu dương tính

Tại phòng thí nghiệm

Chen, W J và cs 1993 Taiwan Muỗi Ae aegypti

Tuyến nước bọt, ruột, ống dẫn trứng, các tuyến phụ là nơi có nồng độ vi rút cao

Mourya, D và cs 2001 - Muỗi Ae aegypti F13

di truyền và vùng dân cư Salazar, M I.

va cs 2007 Mexico

Nồng độ vi rút: tại ruột giảm, taị tuyến nước bọ tăng theo thời gian

Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng tại thực địa và tại ổ dịch sốt

xuất huyết Dengue đang hoạt động, tỷ lệ muỗi Ae aegypti bắt được dương

Trang 29

tính với vi rút Dengue giao động trong khoảng 1,33% - 12,7% tùy thuộc vàokhu vực bắt muỗi có phải là ổ dịch đang hoạt động hay không Kow C Y và

cộng sự (2001) đã bắt muỗi đực Ae aegypti trên thực địa Singapore và xác

định tỷ lệ nhiễm vi rút Dengue của muỗi đực tại đây là 1,33% [40] Mộtnghiên cứu khác của Chung Y K và cộng sự (1997-2000) cũng tại Singapore

đã xác định tỷ lệ nhiễm vi rút Dengue của muỗi cái Ae aegypti là 6,9%

Urdaneta Lvà cộng sự (2005) nghiên cứu tại thực địa Venezuela đã xác

định tỷ lệ nhiễm vi rút Dengue của các mẫu muỗi cái Ae aegypti là 5,2%

[41] Garcia - Rejon J và cộng sự (2007-2008) nghiên cứu tại thực địa Merida,Mexico đã xác định tỷ lệ nhiễm vi rút Dengue của các hộ gia đình xung quanh

ổ dịch có muỗi cái Ae aegypti dương tính là 3,9% [42] Kumari R và cộng sự

(2011) nghiên cứu tại thực địa Ấn Độ đã xác định tỷ lệ nhiễm vi rút Dengue

của các mẫu muỗi cái Ae aegypti là 10,5% [43] Trên thế giới cũng đã có rất

nhiều nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm vi rút Dengue sau gây nhiễm trong ph

ng thí nghiệm Các nghiên cứu tại Taiwan, Mexico và Campuchia chỉ ra rằng

tỷ lệ nhiễm khác nhau phụ thuộc vào cấu trúc di truyền và vùng dân cư của,giao động trong khoảng 25% - 61% Ngoài các bộ phận khác nhau trên muỗi

sẽ nhiễm một nồng độ vi rút Dengue khác nhau như tại tuyến nước bọt, ruột,ống dẫn trứng, các tuyến phụ là nơi có nồng độ vi rút cao [43],[48]

Vai trò truyền bệnh của muỗi Ae albopictus

Cũng giống như Ae aegypti, vai trò truyền bệnh của muỗi

Ae albopictus cũng đã được xác định ở nhiều nghiên cứu Các kết quả nghiên

cứu chính được tóm tắt ở bảng 1.2 dưới đây

Bảng 1.6 Tổng hợp các nghiên cứu vai trò truyền bệnh của muỗi Ae.

albopictus đối với bệnh SXHD

Tác giả nghiên Năm Địa điểm Đối tượng nghiên Tỷ lệ dương

Trang 30

2,9% muỗi dương tínhKow, C Y và cs 2001 Singapore Muỗi đực trên thực

địa

2,15% muỗi dương tínhKumari, R và cs 2008-

2009

Delhi,India

34 mẫu từ các HGD trên thực địa

11,76% mẫu dương tính

Tại phòng thí nghiệm

Tardieux, I và cs 1992 - Muỗi Ae albopictus

gây nhiễm

38% muỗi dương tínhShu, L P và cs 2005 Trung

Quốc

Muỗi Ae albopictus

gây nhiễm D1

80% muỗi dương tínhShu, L P và cs 2005 Trung

Quốc

Muỗi Ae albopictus

gây nhiễm D2

80% muỗi dương tínhShu, L P và cs 2005 Trung

Quốc

Muỗi Ae albopictus

gây nhiễm D3

53,3% muỗi dương tínhShu, L P và cs 2005 Trung

Quốc

Muỗi Ae albopictus

gây nhiễm D4

86,7% muỗi dương tínhVazeille, M và cs 2010 Ấn Độ Muỗi Ae albopictus

gây nhiễmCác nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng tại thực địa có dịch SXHD

lưu hành, tỷ lệ muỗi Ae albopictus bắt được dương tính với vi rút Dengue

giao động trong khoảng 2,9% - 11,76% phụ thuộc vào khoảng cách bắt muỗitới nhà bệnh nhân (Bảng 1.2) Rudnick A và cộng sự (1965) đã phân lập được

vi rút Dengue trên muỗi Ae albopictus bắt được tại thực địa Singapore [49]

Một nghiên cứu khác của Chung Y K và cộng sự (1997-2000) cũng tại

Singapore đã xác định tỷ lệ nhiễm vi rút Dengue của muỗi cái Ae albopictus là

2,9% [37], [50] Kow, C Y và cộng sự (2001) cũng tại Singapore đã xác định

Trang 31

tỷ lệ nhiễm vi rút Dengue của muỗi cái Ae albopictus là 2,15% [37], [50].

Kumari R và cộng sự (2008-2009) nghiên cứu tại Delhi, India đã xác định tỷ lệ

các mẫu muỗi cái Ae albopictus nhiễm vi rút Dengue là 11,76% [43]

1.4.2 Các nghiên cứu về vai trò truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue của muỗi Aedes tại Việt Nam

Có rất ít nghiên cứu về vai trò truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue của

muỗi Ae aegypti và Ae albopictus trên thực địa và trong phòng thí nghiệm.

Kết quả nghiên cứu của Vũ Sinh Nam (1995) tại các ổ dịch SXHD ở ViệtNam cho thấy, tất cả các ổ dịch SXHD đang hoạt động đều có mặt của

Ae aegypti, chỉ có rất ít ổ dịch có cả hai loài, trong đó Ae albopictus chỉ

chiếm tỷ lệ rất thấp [51], [52] Nghiên cứu của ông cho thấy ở rất nhiều địa

phương có sự lưu hành của Ae albopictus với mật độ cao trong nhiều năm

như Lào Cai, Cao Bằng, Phú Thọ, Hoà Bình, Hà Giang, Tuyên Quang nhưng không có thông báo về bệnh SXHD ở những địa phương này [53].Trong những năm có dịch lớn, ở một số điểm của địa phương trên có một số ổdịch SXHD nhỏ, khi điều tra véc tơ truyền bệnh cho thấy đó là những nơi có

sự xuất hiện của loài muỗi Ae aegypti Một vụ dịch SXHD tại huyện Từ Sơn, Bắc Ninh 1993 cho thấy có cả hai loài Aedes bắt được tại ổ dịch, muỗi Ae albopictus có chỉ số 2 con/nhà, muỗi Ae aegypti chỉ số 0,9 con/nhà [51], [52].

Nghiên cứu của Trần Văn Tiến và cs (2003) cho thấy muỗi Ae albopictus lưu hành rộng rãi ở nhiều địa phương và các vùng dân cư khác

nhau nhất là khu vực ngoại thành nơi có nhiều cây xanh bao phủ, ổ bọ gậycủa loài muỗi này ghi nhận chủ yếu từ các dụng cụ chứa nước tự nhiên, phong

phú về chủng loài Trong khi ấy muỗi Ae aegypti thường xuất hiện ở khu vực

đô thị hóa và nội thành - nơi có mật độ dân cư đông và ổ bọ gậy nguồn đượctìm thấy thường là các loài dụng cụ chứa nước nhân tạo Tuy nhiên nghiêncứu kết luận rằng không có sự lưu hành của virus, kháng thể kháng virus

Trang 32

Dengue và bệnh SXHD tại thực địa nghiêu cứu mặc dù chỉ số mật độ bọ gậy

Ae albopictus tại các thực địa này khá cao [54], [55].

1.5 Phòng chống muỗi Aedes

Hiện nay trên thế giới chưa sản xuất ra vác xin của vi rút Dengue, điềutrị SXHD chủ yếu là điều trị triệu chứng và nâng cao khả năng miễn dịch củangười bệnh, chính vì vậy mà công tác phòng chống SXHD ở trên thế giới

cũng như ở Việt Nam chỉ có thể dựa vào phòng chống muỗi Ae aegypti và

Ae albopictus truyền bệnh [56].

+ Giải quyết nguồn bệnh: Có nhiều kỹ thuật xét nghiệm cho phép chẩn

đoán sớm và chính xác như phản ứng ngăn ngưng kết hồng cầu, kỹ thuậtMac-ELISA, kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang, kỹ thuật PCR [57],[59] Tuynhiên các kỹ thuật chẩn đoán xác định chưa có thể áp dụng rộng rãi được ởcác tuyến cơ sở [60], [64] Các phác đồ điều trị SXHD cũng đã được các nhàkhoa học nghiên cứu, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm và phổ biến rộng rãi đểnâng cao chất lượng điều trị, hạn chế tử vong [65], [67] Việc giải quyếtnguồn bệnh chỉ phần nào thực hiện được khi phát hiện sớm, cách ly để hạnchế sự lây lan vi rút ra cộng đồng

+ Bảo vệ khối cảm thụ: Việc nghiên cứu vác-xin Dengue đã được đầu

tư nhiều song tiến bộ còn ít và hiệu quả còn nhiều hạn chế [72], [73] Trongnhững năm tới, do những khó khăn về kỹ thuật, việc đưa vào sản xuất và sửdụng vác-xin Dengue như mong muốn là chưa thể đạt được

+ Biện pháp cắt đứt đường lây: Hiện tại biện pháp duy nhất có hiệu quả

để phòng chống SXHD là phòng chống véc tơ mà chủ yếu là phòng chống

muỗi Ae Aegypti , Ae albopictus [74] gồm: nằm ngủ màn, treo rèm cửa, hun

khói, phun khí dung, bôi kem DMP, DEP, DETA, dầu sả, … [66], [75],[78].Thực sự đây là những biện pháp không triệt để

Trang 33

- Diệt muỗi bằng hóa chất: Thông thường chúng được chia ra hai nhómchính là nhóm hữu cơ và nhóm vô cơ Nhóm hữu cơ được chia ra nhóm tổnghợp và nhóm thực vật Hiện nay các hoá chất diệt côn trùng thuộc nhóm hữu

cơ tổng hợp thường được sử dụng nhiều hơn và được chia làm 4 nhóm chính:nhóm Clo hữu cơ, nhóm Phốt pho hữu cơ, nhóm Carbamat và nhómPyrethroid

Bộ Y tế Việt Nam đã có hướng dẫn sử dụng từng loại hoá chất như độclực, liều hoạt tính, kỹ thuật sủ dụng để các địa phương áp dụng [66], [75],[79] Biện pháp sử dụng hoá chất diệt côn trùng cũng rất phong phú, từ máyphun thô sơ tới các máy phun có động cơ, từ việc sử dụng người đến phunbằng ô tô, máy bay Có thể phun bám tường, vách diệt muỗi bằng tiếp xúc,phun không gian dưới dạng khí dung thể tích cực nhỏ (ULV), dạng khói nóng

để tăng hiệu quả tức thời và tiết kiệm hoá chất [69], [80] Ưu điểm cơ bản củaphương pháp sử dụng các hoá chất diệt côn trùng là có tác dụng nhanh, có thểtriển khai trên một diện rộng trong một thời gian ngắn rất có hiệu quả trong

công tác dập dịch SXHD bằng cách hạ nhanh mật độ quần thể Ae aegypti

trong các ổ dịch Nhiều nước coi việc sử dụng hoá chất diệt muỗi như mộtnhiệm vụ cấp bách mỗi khi có dịch xảy ra hoặc khi mà chỉ số mật độ muỗivượt quá giới hạn cho phép (trên 0,2 con/nhà) [81]

Tuy có nhiều tác động không mong muốn như: chi phí cao, để lại dưlượng hóa chất trong môi trường, tạo ra hiện tượng kháng thuốc nhưng cácbiện pháp này vẫn đang được sử dụng trong việc xử lý các vụ dịch SXHD đểdiệt đàn muỗi nhiễm virus, ngăn chặn dịch bùng phát và lây lan tại cộngđồng[1]

1.5.1 Tình hình sử dụng hóa chất diệt công trùng, tính kháng và cơ chế kháng của muỗi với hóa chất diệt côn trùng

1.5.1.1 Các nghiên cứu về sử dụng hóa chất diệt côn trùng

Trang 34

Các hóa chất diệt côn trùng đóng một vai trò quan trọng trong quá trìnhkiểm soát các bệnh do véc tơ truyền Chúng thường được chia ra hai nhómchính theo cấu trúc hóa học của chúng là nhóm hữu cơ và nhóm vô cơ Nhómhữu cơ được chia ra nhóm hữu cơ tổng hợp và nhóm thực vật Hiện nay 4nhóm hữu cơ tổng hợp là nhóm Chlo hữu cơ, nhóm Phốt pho hữu cơ, nhómCarbamat và nhóm Pyrethroid được sử dụng nhiều.

Nhóm Chlo hữu cơ

Được phát hiện lần đầu tiên năm 1939, bao gồm DDT, 666, Clordan,Dieldrrin, Endrin Đặc điểm của nhóm chlo hữu cơ là không tan trong cácdung môi và rất bền vững trong môi trường

DDT là một trong những hoá chất diệt côn trùng đầu tiên được sử dụngrộng rãi trong phòng chống sốt rét vì DDT có hiệu lực diệt muỗi trú đậu trongnhà cao khi phun tồn lưu trên tường vách và có giá thành thấp, dẫn đến thànhcông trong việc kiểm soát bệnh sốt rét trên toàn cầu Chính vì vậy, từ năm1960-1990 DDT là hoá chất chính dùng trong phòng chống muỗi truyền bệnhsốt rét và SXHD ở Việt Nam Do có độc tính cao với người và các động vậtmáu nóng, gây ô nhiễm môi trường và hiệu quả diệt muỗi truyền bệnh khôngcòn do muỗi đã kháng với DDT, vì vậy đến nay hầu hết các nước đã cấm sửdụng DDT

Nhóm Phốt pho hữu cơ

Nhóm Phốt pho hữu cơ được các nhà khoa học người Đức phát hiệnđầu tiên vào năm 1944, nhóm này gồm nhiều hoá chất như: Parathion, Tabun,Sarin, DDVP, Diazinon, Temephos, Malathion, Fenithrothion, Chlorpyrifos …

đã được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp bởi vừa diệt được côn trùng gâyhại vừa là nguồn phốt pho cung cấp cho cây trồng, nhóm này có đặc điểm độcđối với động vật máu nóng, không bền vững trong môi trường Sau khi đượcsản xuất vào những năm đầu của thập niên 50 của thế kỷ XX, Malathion

Trang 35

nhanh chóng được thay thế cho DDT để phun tồn lưu phòng chống sốt rét vàSXHD trên khắp thế giới Việc sử dụng rộng rãi Malathion trong phòng chống

muỗi Aedes ở châu Mỹ La Tinh đã dẫn tới hiện tượng kháng hoá chất này ở loài muỗi truyền giun chỉ Culex quiquefasciatus nhưng chưa thấy kháng ở muỗi Aedes Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy muỗi Aedes còn nhạy cảm với

Malathion ở nhiều nơi trên thế giới

Nhóm Carbamat

Các hóa chất thuộc nhóm này được phát hiện đầu tiên năm 1951, baogồm các hóa chất như: Carbamate, Carbaryl, Bendiocarb, có độc tính vớiđộng vật thấp hơn, có tác dụng diệt côn trùng ở diện rộng hơn

Nhóm Pyrethroid

Pyrethroid là dẫn xuất của este cacboxylat có nguồn gốc tự nhiên từ câyhoa cúc Chrysanthemum cinerariaefolium và C.roseum chứa nhiều hoạt chấtpyrethrin độc đối với côn trùng Các hoạt chất pyrethrin có thể được chiếtxuất từ hoa, lá khô và rễ cây bằng một dung môi, chúng có tác dụng gây chếttức thời đối với côn trùng Trong dịch chiết của pyrethrin có 6 este của haiaxit cacboxylic với ba xyclopentenolon với tỷ lệ khác nhau

Pyrethrin có phổ diệt rộng, hiệu lực diệt cao, độc tính thấp với động vậtmáu nóng, nhưng dễ bị phân hủy bởi ánh sáng nên chỉ dùng để diệt côn trùngtrong nhà Chính nhờ tình chất quý báu đó của pyrethrin, đã thúc đẩy quátrình nghiên cứu tổng hợp các đồng đẳng của nó với hiệu lực diệt cao hơn và

độ bền quang hóa tốt hơn nhằm đưa vào sử dụng rộng rãi thay thế cho nhữnghợp chất diệt côn trùng nhóm Chlo hữu cơ, Phốt pho hữu cơ và Cacbamat

Hiện nay các hoá chất thuộc nhóm Pyrethroid được sử dụng rộng rãi đểkiểm soát muỗi truyền bệnh, Ở Thái Lan, từ năm 1992 các hoá chất nhómPyrethroid được dùng như những loại hoá chất chủ yếu trong lĩnh vực y tếcông cộng và được sử dụng phun diện rộng trong phòng chống muỗi trong

Trang 36

các vụ dịch SXHD Ở Việt Nam từ những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ XX,các hoá chất nhóm Pyrethroid như Permethrin, Lambdacyhalothrin,Deltamethrin, Alphacypermethrin, với những nồng độ khác nhau, được tẩmvào màn ngủ, phun tồn lưu hoặc phun ULV để phòng chống sốt rét và dậpdịch SXHD.

1.5.1.2 Tính kháng và cơ chế kháng hoá chất diệt côn trùng của muỗi Aedes

Các nghiên cứu về tính kháng hoá chất diệt côn trùng của muỗi trên thế giới

Tính kháng hóa chất diệt côn trùng:

Theo Tổ chức Y tế thế giới, kháng hóa chất diệt côn trùng là khả năngcôn trùng sống sót sau khi tiếp xúc/phơi nhiễm với hóa chất diệt côn trùng ởliều lượng mà trước đó côn trùng chết, những cá thể kháng hóa chất sống sótđược tồn tại và phát triển bằng cách chọn lọc tự nhiên và đột biến Trongnhững thập kỷ vừa qua việc sử dụng rộng rãi các loài hóa chất diệt côn trùng

đã làm gia tăng số lượng loài chân đốt kháng với các hóa chất diệt ở nhiềugen nhất định Có nhiều loài thậm chí kháng với nhiều loại hóa chất diệt cùnglúc Từ con số 2 loài kháng với hóa chất diệt năm 1946 đã tăng lên con số 150loài vào năm 1980, 198 loài năm 1990 Hiện nay, có hơn 500 loài côn trùngtrên thế giới đã kháng với hóa chất diệt, trong đó có hơn 50 loài muỗi truyềnsốt rét Anopheles

Kháng hoá chất diệt côn trùng có thể là một đặc tính được di truyền lạiqua gen (nếu do đột biến gen), nó tăng lên ở các quần thể muỗi truyền bệnhnhư một kết quả trực tiếp của cơ chế chọn lọc phát sinh từ chính hoá chất diệtcôn trùng đã được sử dụng Tính kháng hoá chất diệt côn trùng và kiểu hình

di truyền phát sinh ở các cá thể côn trùng là kết quả của đột biến gen, từ đólàm biến đổi một tính trạng sinh lý, hình thái, hoặc tập tính ở kiểu hình muỗibình thường Kết quả là theo thời gian thì gen kháng hoá chất diệt côn trùng

Ngày đăng: 05/01/2020, 15:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Đỗ Thị Phương Bắc (2008), ‘Tìm hiểu số lượng và một số đặc điểm sinh học của muỗi Aedes aegypti (linnae, 1762) ở ngoại thành Hà Nội’, Luận văn Thạc sỹ khoa sinh học, Trường đại học khoa học tự nhiên, đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedes aegypti
Tác giả: Đỗ Thị Phương Bắc
Năm: 2008
15. Vũ Trọng Dược (2010), ‘Khoảng cách phát tán tối đa của muỗi cái trưởng thành Aedes aegypti và Aedes albopictus tại khu vực thành thị’, http://www.nihe.org.vn/new-vn/chuong-trinh-phong-chong-sot-xuat-huyet/1008/ (4.8.2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedes aegypti" và "Aedes albopictus
Tác giả: Vũ Trọng Dược
Năm: 2010
16. Phạm Văn Minh (2011), ‘Xây dựng bản đồ phân bố muỗi Aedes aegypti có vai trò trong truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue và khủng bố sinh học’, luận văn tiến sỹ y học, Học Viện Quân Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedesaegypti
Tác giả: Phạm Văn Minh
Năm: 2011
17. Nguyễn Khắc Lực và cs (2013), ‘Nghiên cứu một số đặc điểm về phân bố, tập tính sinh thái của muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus tại khu vực Hà Nội’, Tạp chí y học thực hành 874 (6), Tr. 31 – 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedes albopictus
Tác giả: Nguyễn Khắc Lực và cs
Năm: 2013
18. Phạm Văn Minh và cs (2012), ‘Phân bố muỗi Aedes aegypti tại một số điểm nguy cơ cao mắc sốt xuất huyết Dengue tại Hà nội năm 2011’, tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, (3- 2012), Tr.73-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedes aegypti
Tác giả: Phạm Văn Minh và cs
Năm: 2012
20. Cassie C. Jansen, Nigel W. Beebe (2010) The dengue vector Aedes aegypti: what comes next, Microbes and Infection, 12(4), 272-279 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedesaegypti
23. Russell, R. C., Webb, C. E., Williams, C. R. & Ritchie, S. A. (2005),‘Mark-release-recapture study to measure dispersal of the mosquito Aedes aegypti in Cairns, Queensland, Australia’, Med Vet Entomol, 19(4), pp. 451-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedes aegypti
Tác giả: Russell, R. C., Webb, C. E., Williams, C. R. & Ritchie, S. A
Năm: 2005
24. Vũ Đức Hương và cs (1985), Đặc điểm sinh thái của một số loài muỗi Aedes truyền bệnh sốt xuất huyết ở miền Bắc Việt Nam, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương, Nhà xuất bản Y học, Tr. 70 – 81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedes
Tác giả: Vũ Đức Hương và cs
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1985
26. Vũ Trọng Dược (2015) Sự phân bố và vai trò truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue của hai loài Ae.aegypti và Ae.albopictus tại Hà Nội, 2011-2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ae.aegypti" và "Ae.albopictus
27. Alongkotponlawat et al (2005), ‘Insecticide susceptibility of Aedes aegypti and Aedes albopictus across Thailand’, J. Med. Entomol, (5) 42, pp. 821 – 825 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedesaegypti" and "Aedes albopictus
Tác giả: Alongkotponlawat et al
Năm: 2005
32. Nildimar A H et al (2006), ‘Preliminary data on the performance of Ades aegypti and Aedes albopictus immatures developing in water – filled tires in Rio de Janeiro’, Mem Inst Oswaldo Cruz, Rio de Janeiro, 2 (101), pp.225 – 228 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adesaegypti" and "Aedes albopictus
Tác giả: Nildimar A H et al
Năm: 2006
33. Lun Hsienchang et al (2007), ‘differential survival fo Aedes aegupti and Aedes albopictus (Diptera : Culicidae) larvae exposed to low temperaturesin Taiwan’, J. Med. Entomal, 2 (44), pp. 205 – 210 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedes aegupti"and "Aedes albopictus
Tác giả: Lun Hsienchang et al
Năm: 2007
34. Benedict M. Q. R. S. Levine, W. A. Hawley and L. P. Lounibos (2007),‘Spread of the tiger: global risk of invasion by the mosquito Aedes albopictus’, Vector Borne Zoonotic Dis, 7(1), pp. 76-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedesalbopictus’
Tác giả: Benedict M. Q. R. S. Levine, W. A. Hawley and L. P. Lounibos
Năm: 2007
36. Pages F. V. Corbel and C. Paupy (2006), ‘Aedes albopictus: chronical of a spreading vector’, Med Trop (Mars), 66(3), pp. 226-228 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedes albopictus
Tác giả: Pages F. V. Corbel and C. Paupy
Năm: 2006
39. Linley J. R. (1989), ‘Comparative fine structure of the eggs of Aedes albopictus, Ae. aegypti, and Ae. bahamensis (Diptera: Culicidae)’, J Med Entomol, 26(6), pp. 510-521 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedesalbopictus, Ae. aegypti," and "Ae. bahamensis
Tác giả: Linley J. R
Năm: 1989
40. Kow C. Y. L. L. Koon and P. F. Yin (2001), ‘Detection of Dengue viruses in field caught male Aedes aegypti and Aedes albopictus (Diptera: Culicidae) in Singapore by típe-specific PCR’, J Med Entomol, 38(4), pp. 475-479 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedes aegypti" and "Aedes albopictus
Tác giả: Kow C. Y. L. L. Koon and P. F. Yin
Năm: 2001
42. Garcia-Rejon J. M. A. Lorono-Pino, J. A. Farfan-Ale, L. Flores-Flores, E. Del Pilar Rosado-Paredes, N. Rivero-Cardenas, et al (2008),‘Dengue virus-infected Aedes aegypti in the home environment’, Am J Trop Med Hyg, 79(6), pp. 940-950 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedes aegypti
Tác giả: Garcia-Rejon J. M. A. Lorono-Pino, J. A. Farfan-Ale, L. Flores-Flores, E. Del Pilar Rosado-Paredes, N. Rivero-Cardenas, et al
Năm: 2008
43. Kumari R. K. Kumar and L. S. Chauhan (2011), ‘First Dengue virus detection in Aedes albopictus from Delhi, India: its breeding ecology and role in Dengue transmission’, Trop Med Int Health, 16(8), pp. 949- 954 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedes albopictus
Tác giả: Kumari R. K. Kumar and L. S. Chauhan
Năm: 2011
48. Roslan M. A., A. Shafie, R. Ngui, Y. A. Lim and W. Y. Sulaiman (2014), ‘Vertical infestation of the Dengue vectors Aedes aegypti and Aedes albopictus in apartments in Kuala Lumpur, Malaysia’, J Am Mosq Control Assoc, 29(4), pp. 328336 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedes aegypti" and"Aedes albopictus
Tác giả: Roslan M. A., A. Shafie, R. Ngui, Y. A. Lim and W. Y. Sulaiman
Năm: 2014
49. Chan Rudnick A. and Y. C. (1965), ‘Dengue Type 2 Virus in Naturally Infected Aedes albopictus Mosquitoes in Singapore’, Science, 149(6), pp. 638-639 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aedes albopictus
Tác giả: Chan Rudnick A. and Y. C
Năm: 1965

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w