Vấn đề giảm nghèo là vấn đề toàn cầu, không chỉ có ở Việt Nam và các nước đang phát triển, các nước nghèo mà là vấn đề của cả các nước phát triển. Giảm nghèo là đòi hỏi cấp bách của toàn nhân loại. Ở nước ta, chủ trương xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ người người nghèo thoát nghèo là một chủ trương, một quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước, giảm nghèo là một cuộc cách mạng xã hội sâu sắc, là phong trào của quần chúng, nhất là ở địa phương. Để thực hiện giảm nghèo, bên cạnh hệ thống các chính sách, vấn đề xây dựng nguồn lực, trong đó có nguồn nhân lực từ Trung ương đến địa phương, từ các nhà hoạch định chính sách đến những người tổ chức thực hiện các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở là một việc làm hết sức quan trọng. Công tác giảm nghèo nói chung, việc hỗ trợ cho hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình nói riêng cần có sự chung tay của toàn xã hội, trong đó công tác xã hội nhóm đóng vai trò rất quan trọng. Ở Việt Nam nghề công tác xã hội nhóm mới chỉ ở bước đầu hình thành và phát triển từ khi Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 322010QĐTTg (còn gọi là Đề án 32) về phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020. Từ khi Đề án được ban hành, công tác xã hội nhóm mới chính thức được coi như một ngành khoa học, một nghề chuyên môn với việc ban hành mã ngành đào tạo và mã số ngạch viên chức. Tuy nhiên, hiện nay công tác xã hội nhóm đối với hộ đình nghèo chưa có chính sách cụ thể mà chủ yếu vẫn lồng ghép vào các hoạt động của ngành lao động thương binh và xã hội; mặt trận và các đoàn thể; các dịch vụ cung cấp cho hộ gia đình nghèo nói chung, hỗ trợ cho hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình nói riêng còn bỏ ngỏ dẫn đến các chính sách được thực hiện song hiệu quả mang lại chưa cao. Do đó vấn đề đặt ra là cần có những chính sách cụ thể nhằm phát triển nghề công tác xã hội nhóm, trong đó có chính sách nhằm phát triển công tác xã hội nhóm đối với hộ gia đình nghèo, hỗ trợ cho hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình nói riêng, nhằm giúp họ tăng năng lực, chủ động tự tin thụ hưởng các chính sách của Nhà nước. Xã Hiệp Hoà nằm ở phía Bắc thị xã Quảng Yên, có diện tích tự nhiên 998,7 ha, là xã có số dân đông 2.764 hộ với 9.746 nhân khẩu (5.020 lao động), toàn xã có 16 thôn. Nhân dân chủ yếu sống và phát triển với nghề sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng đánh bắt thuỷ hải sản là chính, ngoài ra còn một số ngành nghề phụ như kinh doanh dịch vụ và đan lát, chế biến lương thực, thực phẩm. Về phát triển kinh tế, năm 2016, giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn xã Hiệp Hoà ước đạt 193,1 tỷ đồng, bằng 101% so với kế hoạch Thị xã giao và bằng 114,6% so cùng kỳ (năm 2015 đạt 168,5 tỷ). Trong đó, giá trị sản xuất ngành công nghiệp – xây dựng cơ bản ước đạt: 79,7 tỷ đồng tương ứng 102% kế hoạch thị xã giao; chiếm 41,3% giá trị tổng sản phẩm; giá trị ngành thương mại dịch vụ ước đạt: 70,2 tỷ đồng, tương ứng 100,5% kế hoạch thị xã giao và bằng 116,8% so cùng kỳ, chiếm 36,3% giá trị tổng sản phẩm; giá trị ngành sản xuất Nông, lâm ngư nghiệp ước đạt: 43,2 tỷ bằng 100,2% kế hoạch thị xã giao và 105,8% so cùng kỳ, chiếm 22,4% giá trị tổng sản phẩm. Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 ước đạt 28,8 triệu đồngngườinăm, tăng 4,7% so cùng kỳ. Về công tác giảm nghèo được quan tâm chỉ đạo, các ngành, đoàn thể đó có nhiều hình thức tạo điều kiện giúp đỡ hộ nghèo vay vốn, hỗ trợ phát triển sản xuất vươn lên thoát nghèo. Năm 2016, có 07 hộ nghèo tham gia dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo của tỉnh. Qua điều tra, rà soát cuối năm 2016, toàn xã giảm được 72 hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo còn 4,48%. Tuy nhiên, việc hiệu quả hỗ trợ hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình trên địa bàn xã Hiệp Hòa, xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh chưa cao, nhiều hộ trong danh sách được vay còn dư nợ tại ngân hàng nên không thể tiếp tục cho vay. Đồng thời, mức vay quá thấp, thực tế hộ nghèo không biết sử dụng đồng vốn này vào việc gì để có thể sinh lợi, giảm nghèo... tất cả điều này cần có một giải pháp tổng thể để nâng cao hiệu quả hỗ trợ hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình trên địa bàn xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Vì vậy, để làm rõ thực trạng hỗ trợ cho hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình trên địa bàn xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh; nghiên cứu ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay phát triển kinh tế từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ cho hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình trên địa bàn xã, tôi đã lựa chọn đề tài: “Công tác xã hội nhóm hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình tại địa bàn xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn nghiên cứu.
Trang 1Ọ QU NỘ TRƯỜNG Ọ O Ọ Ộ V NHÂN VĂN
- -
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM HỖ TRỢ HỘ GIA ÌN NGHÈO SỬ DỤNG V N VAY TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA ÌN
(NGHIÊN CỨU TẠI XÃ HIỆP HÒA, THỊ XÃ QUẢNG YÊN,
TỈNH QUẢNG NINH)
LUẬN VĂN TH C SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM HỖ TRỢ HỘ GIA ÌN NGHÈO SỬ DỤNG V N VAY TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA ÌN
(NGHIÊN CỨU TẠI XÃ HIỆP HÒA, THỊ XÃ QUẢNG YÊN,
TỈNH QUẢNG NINH)
LUẬN VĂN TH C SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HÀ THỊ THƯ
Hà Nội - 2018
Trang 4LỜ ẢM ƠN
Trong quá trình làm luận văn, tôi xin gửi lời cảm ơn tới TS Hà Thị Thư - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài này
Tôi chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Ban Chủ nhiệm và tất cả các thầy,
cô trong Khoa Công tác xã hội – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã trang
bị kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn
Tôi trân trọng cảm ơn lãnh đạo Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã Quảng Yên, Ngân hàng Chính sách xã hội thị xã Quảng Yên cùng Lãnh đạo Đảng uỷ - Uỷ ban nhân dân xã Hiệp Hoà đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành việc thu thập số liệu phục vụ luận văn này
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên cạnh quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 9 năm 2018
Trang 51
MỤC LỤC
LỜI CAM O N 1
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
3 ối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Ý nghĩa của đề tài 11
6 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 12
7 Kết cấu của đề tài 15
ƯƠN 1: MỘT S VẤN Ề LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM HỖ TRỢ GIA ÌN NGHÈO SỬ DỤNG V N VAY TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA ÌN 16
1.1 Hộ gia đình nghèo và vốn vay trong phát triển kinh tế đối với hộ nghèo 16
1.1.1 Khái niệm về nghèo và hộ nghèo 16
1.1.2 Khái niệm vốn vay và tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo 19
1.2 Lý luận về công tác xã hội nhóm hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình 29
1.2.1 Một số khái niệm 29
1.2.2 Các hoạt động công tác xã hội nhóm đối với hộ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay 31
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động của công tác xã hội nhóm hỗ trợ hộ gia đình nghèo sử dung vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình 34
1.3.1 Yếu tố thuộc về nhân viên công tác xã hội 34
1.3.2 Yếu tố về đặc điểm hộ gia đình nghèo và lao động thuộc hộ nghèo 36
Trang 62
1.4 Chính sách và quy định của pháp luật về công tác xã hội hộ trợ gia đình nghèo và hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia
đình trên địa bàn xã 37
1.4.1 Chính sách và quy định của pháp luật về hỗ trợ gia đình nghèo và hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình trên địa bàn xã 37
1.4.2 Chính sách và quy định của pháp luật về công tác xã hội hỗ trợ hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình trên địa bàn xã 39
1.5 Các lý thuyết áp dụng trong công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ hộ nghèo tiếp cận và sử dụng vốn vay để phát triển kinh tế hộ gia đình 40
1.5.1 Thuyết nhận thức - hành vi 40
1.5.2 Thuyết vị trí - vai trò xã hội 43
Tiểu kết chương 1 45
ƯƠN 2: THỰC TR NG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM HỖ TRỢ GIA ÌN NGHÈO SỬ DỤNG V N VAY TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA ÌN T I ỊA BÀN XÃ HIỆP HÒA, THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH 46
2.1 Thực trạng địa bàn và khách thể nghiên cứu 46
2.1.1 Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội của xã Hiệp Hòa, Thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 46
2.1.2 Thực trạng hộ gia đình nghèo và hỗ trợ hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình tại địa bàn xã Hiệp Hòa 47
2.2 Thực trạng hoạt động công tác xã hội nhóm hỗ trợ hộ gia đình nghèo sử dung vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình tại địa bàn xã Hiệp Hòa 50
2.2.1 Thực trạng khả năng tiếp cận nguồn vốn ưu đãi đối với hộ nghèo 50
2.2.2 Thực trạng hoạt động công tác xã hội nhóm hỗ trợ hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình tại địa bàn xã Hiệp Hòa 52
2.2.3 Thực trạng một số yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động của công tác xã hội nhóm hỗ trợ hộ gia đình nghèo sử dung vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình 64
Trang 73
2.2.4 Thuận lợi khi triển khai các hoạt động của công tác xã hội nhóm hỗ trợ hộ
gia đình nghèo sử dung vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình 66
2.2.5 Khó khăn và những mặt hạn chế 68
2.2.6 Tác động đến việc phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững 70
Tiểu kết chương 2 71
ƯƠN 3: ỨNG DỤNG VÀ Ề XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM HỖ TRỢ GIA ÌN NGHÈO SỬ DỤNG V N VAY TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA ÌN T I ỊA BÀN XÃ HIỆP HÒA, THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH 72
3.1 ơ sở của việc đề xuất giải pháp 72
3.2 Ứng dụng công tác xã hội nhóm hỗ trợ hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình tại địa bàn xã Hiệp Hòa 73
3.2.1 Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm 73
3.2.2 Giai đoạn khởi động và tiến hành hoạt động 82
3.2.3 Giai đoạn tập trung hoạt động – giai đoạn trọng tâm 86
3.2.4 Giai đoạn lượng giá và kết thúc hoạt động 90
3.3 Vai trò của nhân viên xã hội trong công tác xã hội nhóm hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế 93
3.3.1 Vai trò khảo sát, đánh giá nhu cầu 94
3.3.2 Vai trò định hướng các hoạt động nhóm 94
3.3.3 Vai trò tập hợp, thu hút sự tham gia 95
3.3.4 Vai trò quản lý, giám sát 96
3.3.5 Vai trò huy động, kết nối nguồn lực 96
Tiểu kết chương 3 97
KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 107
Trang 95
D N MỤ Á BẢN B ỂU, ÌN VẼ
Hình 2.1: Quy trình cho vay hộ nghèo của NHCSXH 50
Bảng 2.1: Kết quả rà soát hộ nghèo, cận nghèo xã Hiệp Hoà năm 2015-2017 49
Bảng 2.2: Mức độ cần thiết của các hoạt động tư vấn/tham vấn theo khảo sát 58
Bảng 2.3: Mức độ thường xuyên của các hoạt động tư vấn/tham vấn theo khảo sát 58 Hình 2 4: Mức độ cần thiết của các hoạt động truyền thông theo khảo sát 61
Bảng 2.5: Mức độ thường xuyên của các hoạt động truyền thông theo khảo sát61 Bảng 2.6: Mức độ thường xuyên của các hoạt động kết nối nguồn lực theo khảo sát 62
Bảng 2.7: Mức độ cần thiết của các hoạt động kết nối nguồn lực theo khảo sát 63 Bảng 2.8: Thực trạng một số yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động của công tác xã hội nhóm hỗ trợ hộ gia đình nghèo sử dung vốn vay trong PTKT HGĐ 65
Bảng 3.1: Danh sách nhóm thành viên hộ nghèo tại xã Hiệp Hoà, thị xã Quảng Yên……….75
Bảng 3.2: Kế hoạch chương trình hoạt động nhóm 81
Bảng 3.3: Đánh giá tính hiệu quả của nhóm 90
Bảng 3.4: Kết quả lượng giá (đã làm tròn) 91
Trang 106
MỞ ẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề giảm nghèo là vấn đề toàn cầu, không chỉ có ở Việt Nam và các nước đang phát triển, các nước nghèo mà là vấn đề của cả các nước phát triển Giảm nghèo là đòi hỏi cấp bách của toàn nhân loại Ở nước ta, chủ trương xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ người người nghèo thoát nghèo là một chủ trương, một quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước, giảm nghèo là một cuộc cách mạng xã hội sâu sắc, là phong trào của quần chúng, nhất là ở địa phương Để thực hiện giảm nghèo, bên cạnh hệ thống các chính sách, vấn đề xây dựng nguồn lực, trong đó có nguồn nhân lực từ Trung ương đến địa phương, từ các nhà hoạch định chính sách đến những người tổ chức thực hiện các cấp, đặc biệt là cấp cơ
sở là một việc làm hết sức quan trọng
Công tác giảm nghèo nói chung, việc hỗ trợ cho hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình nói riêng cần có sự chung tay của toàn xã hội, trong đó công tác xã hội nhóm đóng vai trò rất quan trọng Ở Việt Nam nghề công tác xã hội nhóm mới chỉ ở bước đầu hình thành và phát triển từ khi Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 32/2010/QĐ-TTg (còn gọi là Đề án 32)
về phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020 Từ khi Đề án được ban hành, công tác xã hội nhóm mới chính thức được coi như một ngành khoa học, một nghề chuyên môn với việc ban hành mã ngành đào tạo và mã số ngạch viên chức Tuy nhiên, hiện nay công tác xã hội nhóm đối với hộ đình nghèo chưa có chính sách cụ thể mà chủ yếu vẫn lồng ghép vào các hoạt động của ngành lao động thương binh và xã hội; mặt trận và các đoàn thể; các dịch vụ cung cấp cho hộ gia đình nghèo nói chung, hỗ trợ cho hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình nói riêng còn bỏ ngỏ dẫn đến các chính sách được thực hiện song hiệu quả mang lại chưa cao Do đó vấn đề đặt ra
là cần có những chính sách cụ thể nhằm phát triển nghề công tác xã hội nhóm, trong đó có chính sách nhằm phát triển công tác xã hội nhóm đối với hộ gia đình
Trang 117
nghèo, hỗ trợ cho hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình nói riêng, nhằm giúp họ tăng năng lực, chủ động tự tin thụ hưởng các chính sách của Nhà nước
Xã Hiệp Hoà nằm ở phía Bắc thị xã Quảng Yên, có diện tích tự nhiên 998,7 ha, là xã có số dân đông 2.764 hộ với 9.746 nhân khẩu (5.020 lao động), toàn xã có 16 thôn Nhân dân chủ yếu sống và phát triển với nghề sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng đánh bắt thuỷ hải sản là chính, ngoài ra còn một số ngành nghề phụ như kinh doanh dịch vụ và đan lát, chế biến lương thực, thực phẩm
Về phát triển kinh tế, năm 2016, giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn xã Hiệp Hoà ước đạt 193,1 tỷ đồng, bằng 101% so với kế hoạch Thị xã giao và bằng 114,6% so cùng kỳ (năm 2015 đạt 168,5 tỷ) Trong đó, giá trị sản xuất ngành công nghiệp – xây dựng cơ bản ước đạt: 79,7 tỷ đồng tương ứng 102% kế hoạch thị xã giao; chiếm 41,3% giá trị tổng sản phẩm; giá trị ngành thương mại dịch vụ ước đạt: 70,2 tỷ đồng, tương ứng 100,5% kế hoạch thị xã giao và bằng 116,8% so cùng kỳ, chiếm 36,3% giá trị tổng sản phẩm; giá trị ngành sản xuất Nông, lâm ngư nghiệp ước đạt: 43,2 tỷ bằng 100,2% kế hoạch thị xã giao và 105,8% so cùng kỳ, chiếm 22,4% giá trị tổng sản phẩm Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 ước đạt 28,8 triệu đồng/người/năm, tăng 4,7% so cùng kỳ
Về công tác giảm nghèo được quan tâm chỉ đạo, các ngành, đoàn thể đó
có nhiều hình thức tạo điều kiện giúp đỡ hộ nghèo vay vốn, hỗ trợ phát triển sản xuất vươn lên thoát nghèo Năm 2016, có 07 hộ nghèo tham gia dự án nhân rộng
mô hình giảm nghèo của tỉnh Qua điều tra, rà soát cuối năm 2016, toàn xã giảm được 72 hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo còn 4,48% Tuy nhiên, việc hiệu quả hỗ trợ hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình trên địa bàn xã Hiệp Hòa, xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh chưa cao, nhiều hộ trong danh sách được vay còn dư nợ tại ngân hàng nên không thể tiếp tục cho vay Đồng thời, mức vay quá thấp, thực tế hộ nghèo không biết sử dụng đồng vốn này vào việc
gì để có thể sinh lợi, giảm nghèo tất cả điều này cần có một giải pháp tổng thể
Trang 12kinh tế gia đình trên địa bàn xã, tôi đã lựa chọn đề tài: “Công tác xã hội nhóm
hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình tại địa bàn xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn nghiên
cứu
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ vấn đề lý luận và thực trạng hỗ trợ cho hộ gia đình nghèo
sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình; ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay phát triển kinh tế; từ đó đƣa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội nhóm hỗ trợ cho hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình trên địa bàn xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài: nhƣ một số khái niệm làm công cụ triển khai đề tài, hộ nghèo, công tác xã hội nhóm đối với hộ nghèo…; thực tiễn vay và vốn vay của hộ nghèo trên địa bàn xã…
- Làm rõ thực trạng hộ gia đình nghèo; thực trạng công tác xã hội nhóm
hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay phát triển kinh tế gia đình; đánh giá hiệu quả của hoạt động này trên địa bàn xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh;
Trang 139
- Ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay phát triển kinh tế trên địa bàn xã
- Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ gia đình nghèo
sử dụng vốn vay phát triển kinh tế trên địa bàn xã
3 ối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 ối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội nhóm hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình trên địa bàn xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: (i) thực trạng công tác xã hội nhóm hỗ trợ cho hộ
gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình trên địa bàn xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh; (ii) ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay phát triển kinh tế; (iii) những giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ cho hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình trên địa bàn xã
- Phạm vi về khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu trên 81 hộ đại diện
thuộc hộ gia đình nghèo trên địa bàn xã Hiệp Hoà
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp một cách khoa học nhiều phương pháp: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp thống kế, tổng hợp, phương pháp thảo luận nhóm
4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu và phân tích các tài liệu có liên quan như các tài liệu về công tác xã hội, công tác xã hội nhóm, công tác xã hội với người thuộc hộ nghèo, báo cáo tổng kết chương trình giảm nghèo, báo cáo về tình hình phát triển kinh tế xã hội qua các năm của xã Hiệp Hòa, các báo cáo về kết quả các chương trình hỗ trợ giảm nghèo của thị xã Quảng Yên và các văn bản pháp lý, tài liệu từ các
Trang 144.2 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi
Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi là phương pháp nghiên cứu hữu dụng trong việc cung cấp cái nhìn chuyên sâu trong một vấn đề cũng như đánh giá quan điểm, cách nhìn nhận của đối tượng điều tra Trong nghiên cứu này, phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi được xây dựng như một phương pháp phỏng vấn viết, được thực hiện cùng một lúc với nhiều người theo một bảng hỏi
in sẵn Người được hỏi trả lời theo ý kiến cá nhân về hoạt động công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ hộ nghèo phát triển kinh tế hộ gia đình bằng cách đánh giá theo thang đo có sẵn và trả lời một số câu hỏi mở
Bằng phương pháp này, người nghiên cứu có thể tiến hành trên không gian nghiên cứu rộng mà vẫn tiết kiệm được thời gian; dễ khái quát, xử lý thông tin; mang tính chủ động cao Tuy nhiên, tính khách quan của kết quả lại không được đảm bảo cao Nghiên cứu này được triển khai trên 81 người đại diện hộ nghèo
4.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Đề tài được áp dụng phương pháp này nhằm chỉ ra cái nhìn sâu sắc hơn,
cụ thể hơn về công tác giảm nghèo và hỗ trợ vay và sử dụng vốn phát triển kinh
tế tại địa bàn nghiên cứu Thông qua đó nhận diện những những khó khăn mà các hộ nghèo đang gặp phải, làm cơ sở cho đề tài đề xuất những giải pháp, khuyến nghị
Tiến hành phỏng vấn sâu đối với cán bộ UBND xã, cán bộ Lao động, TB&XH xã, đoàn thể và một số hộ nghèo của xã tham gia vay và sử dụng vốn phát triển kinh tế
Trang 1511
ối tượng Số lượng phỏng vấn
4.4 Phương pháp công tác xã hội
Đề tài sử dụng phương pháp công tác xã hội nhóm để tiếp cận với các hộ gia đình nghèo tại 01 thôn của xã Hiệp Hòa để trợ giúp các hộ gia đình nghèo có thể giải quyết được một số vấn đề khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát triển về đời sống vật chất và tinh thần của người dân thông qua việc nâng cao năng lực, hiểu biết chính sách, phương thức lao động và xử dụng hợp lý nguồn vốn Đây là phương pháp tiếp cận và hỗ trợ mà tác giả cho rằng sẽ mang lại kết quả nhanh nhất đối với nhóm hộ nghèo nhiều thành phần thông qua các chương trình hoạt động kích thích nhóm viên hoạt động Hơn nữa, đối với đối tượng người thuộc hộ nghèo, họ thường gặp hạn chế trong giao tiếp
Vì thế, việc sử dụng phương pháp CTXH nhóm sẽ tạo điều kiện cho nhóm người nghèo thêm gắn kết, chia sẻ, thảo luận với nhau để cùng tìm ra phương pháp phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện gia đình mình; đồng thời cũng xây dựng được tính đoàn kết, tương trợ lẫn nhau bởi họ có cùng điểm chung là hoàn cảnh gia đình đang khó khăn
5 Ý nghĩa của đề tài
5.1 Ý nghĩa về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn
đề lý luận về công tác xã hội, công tác xã hội nhóm, một số lý thuyết về công tác
Trang 1612
xã hội nhóm có liên quan, công tác xã hội nhóm hỗ trợ gia đình nghèo nói chung, hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay phát triển kinh tế nói riêng, từ đó
bổ sung làm phong phú thêm cách nhìn nhận, đánh giá trong việc gia đình nghèo
được hỗ trợ, tiếp cận vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình
5.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Đề tài cung cấp khá đầy đủ về thực trạng hộ gia đình nghèo, thực trạng
hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình trên địa bàn xã Hiệp Hòa, huyện Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh; trên cơ sở ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình sẽ có những giải pháp rất cụ thể, khả thi để nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh
tế gia đình trên địa bàn xã Tài liệu sẽ cung cấp nhưng giải pháp có giá trị cho cấp ủy, chính quyền xã trong việc thực hiện chủ trương giảm nghèo, phát triển
kinh tế xã hội trên địa bàn xã
6 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Nghèo đói là một vấn đề lớn có tính chất toàn cầu Vì thế vấn đề giảm nghèo không chỉ giành được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các tổ chức xã hội của nhiều nước trên thế giới Ở nước ta cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn
đề giảm nghèo, đáng chú ý là một số công trình sau:
Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay của tác giả
Nguyễn Thị Hằng (1997): Tác phẩm đánh giá được tình hình nghèo đói của nông thôn Việt Nam sau 3 năm dỡ bỏ cấm vận, nền kinh tế có bước chuyển động đầu tiên nhưng tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn Việt Nam vẫn còn cao Qua đi sâu nghiên cứu tình hình đói nghèo ở nông thôn, tác giả đã chỉ ra những khó khăn cũng như những biện pháp thực hiện giảm nghèo trong điều kiện hiện tại
Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam của tác giả Lê Xuân Bá và các
đồng nghiệp (2001) đã chỉ ra rằng vấn đề xóa đói giảm nghèo luôn gắn bó và chịu ảnh hưởng của quan hệ giai cấp và chế độ xã hội khác nhau Hiện tượng bị tha hóa
Trang 1713
và tự tha hóa con người dưới chế độ tư bản chủ nghĩa luôn là một lực cản đối với công việc giảm nghèo Trong tác phẩm này tác giả đã đưa ra được những cái nhìn chung nhất, tổng quát nhất về tình hình nghèo đói và công tác giảm nghèo ở Việt Nam Nghèo đói được nhìn nhận và đánh giá ở nhiều mức độ khác nhau Cũng trong tác phẩm này, công tác giảm nghèo cũng được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau Bên cạnh việc đánh giá tình hình chung, tác phẩm còn đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả giảm nghèo bền vững
Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay của
tác giả Trần Thị Hằng (2001): Dựa trên kết quả nghiên cứu thực tế và những số liệu thống kê, tác giả đã đánh giá tình hình thực công tác giảm nghèo ở Việt Nam Đồng thời cũng chỉ ra được tầm quan trọng của công tác giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường
Văn hóa của nhóm nghèo ở Việt Nam của tác giả Lương Hồng Quang
(2001) Tác giả cho rằng nghèo khổ và văn hóa của nhóm nghèo có liên quan tới các vấn đề thuộc phạm trù văn hóa của nhóm nghèo đóng khung trong một khu vực, nó phụ thuộc vào bối cảnh lịch sử Nghiên cứu về văn hóa của nhóm nghèo tác giả chủ yếu dựa vào tiêu chí thu nhập bình quân, nhưng tác giả tập trung nghiên cứu tâm lý, lối sống, cách tiếp cận của họ đối với xã hội Tác giả thấy rằng những người nghèo có trình độ văn hóa thấp hoặc mù chữ, họ thường cảm thấy cô lập, tự ti, bị tước đoạt những cái mà người khác có được, khi được trợ cấp xã hội thì dường như họ lại trông chờ ỷ lại Tác giả cũng đưa ra được những giải pháp khoa học có tính khả thi, tuy nhiên các giải pháp đó chủ yếu là dựa vào nguồn ngân sách Nhà nước chứ chưa tập trung phát huy được tổng lực của toàn xã hội,
sự tự lực của người nghèo bởi nâng cao trình độ văn hóa cho người nghèo cần phải có một thời gian dài Tác giả cho rằng, muốn xóa được tận gốc của cái nghèo
và có tính bền vững thì phải nâng cao văn hóa cho người nghèo vì khi con người
có tri thức thì họ tiếp cận được và thế giới bên ngoài và tiếp thu khoa học kỹ thuật nhanh đặc biệt là trong việc sản xuất kinh doanh
Trang 1814
Bài viết: “Định hướng tiếp cận giải quyết vấn đề nghèo đói ở nước ta” của
tác giả Nguyễn Hải Hữu (2005): Trong bài viết này một lần nữa tác giả khẳng định nghèo đói là vấn đề toàn cẩu không một quốc gia nào giải quyết triệt để được Tác giả khẳng định những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực giảm nghèo là một thành công không nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội làm cho bộ mặt các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn đã có sự thay đổi đáng kể, nhất là
về kết cấu hạ tầng và phát triển sản xuất; đời sống của đại đa số người dân được nâng cao, đặc biệt là nhóm hộ nghèo, đồng bào dân tộc ở miền núi, phụ nữ (thu nhập tăng 21%, đời sống được cải thiện không chỉ trên khía cạnh ăn, mặc ở mà còn khía cạnh sức khỏe, đi lại, học hành…); tạo được sự đồng thuận cao hơn giữa các tầng lớp dân cư, các nhóm xã hội
Mục tiêu tổng thể của chương trình là tạo môi trường thuận lợi cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ sản xuất, tự lực vượt qua nghèo đói, vươn lên khá giả
và làm giàu
Thành tựu giảm nghèo của nước ta không những thể hiện sự cam kết chính trị mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước với cộng đồng quốc tế mà còn tạo được hình ảnh, vị thế tốt đẹp của nước ta trên trường quốc tế, thông qua đó tạo được sự đồng thuận cao và sự ủng hộ tích cực hơn về mọi mặt, nhất là về tài chính của cộng đồng các nhà tài trợ cho cuộc chiến chống nghèo đói ở nước ta Những kết quả đạt được là không thể phủ nhận Trong bối cảnh đất nước có nhiều mục tiêu ưu tiên, việc dành nguồn lực xứng đáng cho công cuộc giảm nghèo đã thể hiện sự quyết tâm của Đảng và Chính phủ trong cuộc chiến chống nghèo, đói Cùng với
đó là sự nỗ lực vươn lên của cộng đồng, người dân và chính người nghèo cũng đóng góp vào sự thành công của chương trình
Cùng với những thành tựu đã đạt được tác giả còn nêu lên những khó khăn trong quá trình triển khai chương trình giảm nghèo không trong tránh khỏi những khó khăn, những mặt chưa được, đòi hỏi phải có sự nỗ lực giải quyết như nguồn kinh phí do trung ương bố trí còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được mục
Trang 1915
tiêu đề ra, một số chính sách hỗ trợ chưa thật sự phù hợp với người nghèo ảnh hưởng đến hiệu quả của chương trình, hệ thống theo dõi, giám sát chương trình chưa được tổ chức một cách có hệ thống và đồng bộ, thiếu đội ngũ cán bộ giảm nghèo có đủ năng lực để thực hiện chương trình Đồng thời để thực hiện được mục tiêu của chương trình giảm nghèo tác giả cũng nêu những giải pháp để thực hiện hiệu quả
Tóm lại, đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về công tác giảm nghèo dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau cả về lý luận và thực tiễn, song lại chỉ có số ít công trình nghiên cứu về giảm nghèo dưới góc nhìn của CTXH
và các công trình đó chỉ đề cập đến những vấn đề chung, mang tính vĩ mô, càng
ít công trình đề cập ở tầm vi mô, tức là những vùng miền, làng quê, thậm chí những nhóm dân cư cụ thể để thấy được tính đa dạng của đói nghèo, của hoạt động giảm nghèo cũng như là tính đa dạng của CTXH với nhiệm vụ giảm nghèo Vì vậy, rất cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu về việc đưa tri thức CTXH, phương pháp hoạt động, kỹ năng hoạt động thực tiễn của CTXH vào công tác giảm nghèo Chỉ như vậy mới tạo cơ cở xã hội để giảm nghèo bền vững
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn được trình bày gồm 03 chương chính:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về công tác xã hội nhóm hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội nhóm hỗ trợ gia đình nghèo sử
dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình tại địa bàn xã Hiệp Hòa, thị xã
Quảng Yên
Chương 3: Ứng dụng và giải pháp công tác xã hội nhóm hỗ trợ gia đình
nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại địa bàn xã Hiệp
Hòa, thị xã Quảng Yên
Trang 2016
ƯƠN 1: MỘT S VẤN Ề LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM HỖ TRỢ GIA ÌN NGHÈO SỬ DỤNG V N VAY TRONG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA ÌN
1.1 Hộ gia đình nghèo và vốn vay trong phát triển kinh tế đối với hộ nghèo
1.1.1 Khái niệm về nghèo và hộ nghèo
* Quan niệm về nghèo của một số cơ quan, tổ chức quốc tế
Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch
và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008, được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua)
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu Á- Thái Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm
1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận."
Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel Kinh
tế năm 1998): để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn
Trang 2117
* Quan niệm nghèo của Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nghèo đói, song ý kiến chung nhất cho rằng:
- Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện
- Hộ nghèo, hộ cận nghèo là hộ gia đình qua điều tra, rà soát hằng năm ở
cơ sở đáp ứng các tiêu chí về xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận thuộc danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn
- Người nghèo: là người thuộc hộ nghèo
- Lao động nghèo: là người trong độ tuổi lao động, còn khả năng lao động thuộc hộ nghèo
* Tiêu chí xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo ở Việt Nam
Tiêu chí xác định hộ nghèo và cận nghèo được xác định trong giai đoạn 2016-2020 được căn cứ theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ “về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020”:
(2) Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản
- Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch
và vệ sinh; thông tin;
Trang 2218
- Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin
(3) Hộ nghèo
a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
b) Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách
an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác
* Kinh tế hộ gia đình:
Tại Việt Nam, lực lượng sản xuất quan trọng nhất ở nông thôn là kinh tế
hộ gia đình Lực lượng sản xuất này chủ yếu phát triển dựa vào nông nghiệp, có
mô hình sản xuất, kinh doanh đa dạng, kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh ngành nghề phụ Do nông nghiệp, nông thôn và nông dân có vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển Từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của
Bộ Chính trị khóa VI (1988), hộ nông dân đã thực sự được trao quyền tự chủ
Trang 2319
trong sản xuất, và do đó đã khơi dậy nhiều nguồn lực và tiềm năng để kinh tế hộ gia đình phát triển Nghị quyết Trung ương 6 lần 1 (khoá VIII) với chủ trương tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn đã khẳng định nông nghiệp, nông thôn là lĩnh vực có vai trò cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, làm cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
Trong Chương trình giảm nghèo, hộ gia đình được hiểu là những người cùng ăn, cùng ở, cùng chung quỹ chi tiêu Do đó, đây là một đơn vị sản xuất phổ biến, có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế vĩ mô, nhằm huy động mọi nguồn lực tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong hoạt động kinh tế, hộ gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tái sản xuất Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của mình
Kinh tế hộ gia đình đang có cơ hội, điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn khi Chương trình Giảm nghèo đang là mục tiêu phát triển kinh tế trọng tâm của nước ta Với những cách tiếp cận đối tượng theo hộ gia đình và chính sách hỗ trợ trên tinh thần “nhà nước và nhân dân cùng làm”, Chương trình đã và đang tỏ
ra hiệu quả trong việc hỗ trợ hộ nghèo phát triển kinh tế hộ gia đình, xoá bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào các chính sách cho không như thời gian trước đây
1.1.2 Khái niệm vốn vay và tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo
1.1.2.1 Vốn và vốn vay
Vốn là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất đối với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế đối với mỗi quốc gia Việt Nam là nước đang phát triển có nhu cầu vốn rất lớn để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy nhận thức và vận dụng đúng đắn phạm trù vốn là tiền đề thúc đẩy khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng vốn để đầu tư phát triển nền kinh tế - xã hội
Trang 24số tiền lớn hơn số tiền ban đầu (Trần Thị Thu Thủy, 2010)
Các nhà kinh tế thuộc nhiều trường phái kinh tế trước C.Mác nghiên cứu vốn thông qua phạm trù tư bản và đi đến kết luận: Vốn là phạm trù kinh tế, do yêu cầu cao của sự phát triển, vốn là yếu tố cần thiết đối với quá trình sản xuất các nước đang phát triển và kém phát triển Phạm trù vốn trong phát triển kinh tế được các nhà kinh tế học nghiên cứu và tiếp cận trên nhiều bình diện khác nhau
Trên cơ sở đó, vốn vay là vốn huy động được từ bên ngoài để bổ sung, làm tăng lượng vốn của chủ thể kinh doanh, đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của quá trình sản xuất (Trần Thị Thu Thủy, 2010) Người vay vốn là người có nhu cầu bổ sung vật chất và tài sản vào quá trình sản xuất, kinh doanh Họ mua quyền sử dụng vốn bằng cách trả cho chủ sở hữu vốn một khoản dưới dạng lãi suất cho vay, lãi suất cho vay tùy thuộc vào nhu cầu lượng vốn vay và lãi suất huy động vốn
1.1.2.2 Vốn vay tín dụng ưu đãi với hộ nghèo:
Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ và triển khai nhiều chương trình ưu đãi dành cho người dân tộc thiểu số và người nghèo các khu vực để phát triển kinh tế Đây là giải pháp nhằm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, tín dụng nhất là các quỹ tiết kiệm và tín dụng nhỏ phù hợp với thói quen, phong tục tập quán Việc cải cách và đổi mới hệ thống tài chính, tín dụng nông thôn đã tạo điều kiện đầu tư vốn thuận lợi để giúp đỡ nông dân nhất
là hộ gia đình nghèo đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp, đảm bảo điều kiện vay
Trang 2521
vốn thuận lợi, đồng thời cũng huy động được các nguồn lực tín dụng trong xã hội để phát triển sản xuất
Bên cạnh đó, tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau và hoàn trả cả gốc
và lãi trong một khoảng thời gian nhất định đã được thỏa thuận giữa người đi vay và người cho vay Hay nói một cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế, trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho một các nhân hay tổ chức khác với thời hạn hoàn trả cùng với lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi món vay… Tín dụng ra đời, tồn tại và phát triển cùng với nền sản xuất hàng hóa Trong điều kiện nền kinh tế còn tồn tại song song hàng hóa và quan hệ hàng hóa tiền tệ thì sự tồn tại của tín dụng là một tất yếu khách quan
Ngày 04/10/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác Theo đó, tín dụng đối với người nghèo là những khoản tín dụng chỉ dành riêng cho người thuộc hộ nghèo, có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi; tuỳ theo từng nguồn có thể hưởng theo lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp người nghèo mau chóng vượt qua nghèo đói vươn lên hoà nhập cùng cộng đồng Tín dụng đối với người nghèo hoạt động theo những mục tiêu, nguyên tắc, điều kiện riêng, khác với các loại hình tín dụng của các Ngân hàng Thương mại mà nó chứa đựng những yếu
tố cơ bản sau (Nguyễn Thị Lan, 2005):
* Mục tiêu: Tín dụng đối với người nghèo nhằm vào việc giúp những lao
động thuộc hộ nghèo có vốn phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống, hoạt động vì mục tiêu giảm nghèo bền vững, không vì mục đích lợi nhuận
* Nguyên tắc cho vay: Cho vay hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu
vốn sản xuất kinh doanh Hộ nghèo vay vốn phải là những hộ được UBND cấp
xã công nhận theo chuẩn nghèo do Chính phủ hoặc do địa phương quy định
Trang 2622
trong từng thời kỳ Hộ nghèo tham gia vay vốn có trách nhiệm phải hoàn trả (gốc và lãi) theo kỳ hạn đã thoả thuận
* Điều kiện: Có một số điều kiện, tuỳ theo từng nguồn vốn, thời kỳ khác
nhau, từng địa phương khác nhau có thể quy định các điều kiện cho phù hợp với thực tế Nhưng một trong những điều kiện cơ bản nhất của tín dụng đối với người nghèo đó là: Khi được vay vốn không phải thế chấp tài sản
1.1.2.3 Vai trò của vốn vay ưu đãi đối với hộ nghèo
Tín dụng ưu đãi là một trong những yếu tố để phát triển nông nghiệp, nhất
là giúp các hộ nghèo phát triển kinh tế hộ gia đình Tín dụng ưu đãi là cần thiết cho các vùng mà lao động đang gặp nhiều khó khăn về đời sống và kinh tế, cho các thời điểm mà nông dân thực sự đáp ứng nhu cầu bức thiết của nông dân và nông thôn Vì thế tùy theo điều kiện của từng quốc gia, chính phủ có những chương trình tín dụng ưu đãi cho phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, cho hộ nghèo thiếu vốn sản xuất, để thực hiện các mục tiêu giảm nghèo bền vững, công bằng xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Như đã đề cập, một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, có nguyên nhân chủ yếu và cơ bản là do thiếu vốn, thiếu kiến thức làm ăn Vốn, kỹ thuật, kiến thức làm ăn là “chìa khoá” để người nghèo vươn lên thoát nghèo Do không đáp ứng đủ vốn nhiều người rơi vào tình thế luẩn quẩn làm không đủ ăn, phải đi làm thuê, vay nặng lãi, bán lúa non, cầm cố ruộng đất, chặt phá rừng… mong đảm bảo được cuộc sống tối thiểu hàng ngày, nhưng nguy cơ nghèo đói vẫn thường xuyên đe doạ họ, thoát nghèo không bền vững Mặt khác do thiếu kiến thức làm ăn nên lao động nghèo chậm đổi mới tư duy làm ăn, bảo thủ với phương thức làm ăn cũ cổ truyền, không muốn hoặc không thể áp dụng kỹ thuật mới để tăng năng suất lao động làm cho sản phẩm sản xuất ra kém hiệu quả Thiếu kiến thức và kỹ thuật làm ăn là một cản lực lớn nhất hạn chế tăng thu
Trang 27Tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo cũng tạo điều kiện cho người nghèo không phải vay nặng lãi, không phải tiếp cận với nguồn tín dụng không tích cực, nên hiệu quả hoạt động kinh tế sẽ cao hơn, tránh được sự bóc lột, lợi dụng của các hoạt động vay nặng lãi
Lao động nghèo sẽ dần nâng cao được kiến thức tiếp cận với thị trường,
có điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Để đáp ứng điều kiện thu hồi vốn và lãi, lao động nghèo tham gia vay vốn phải tính toán phương thức và cách thức làm ăn để có hiệu quả kinh tế cao Để làm được điều
đó họ phải tìm hiểu học hỏi kỹ thuật sản xuất, suy nghĩ biện pháp quản lý từ đó tạo cho họ tính năng động sáng tạo trong lao động sản xuất, tích luỹ được kinh nghiệm trong công tác quản lý kinh tế Mặt khác, khi số đông người nghèo đói tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hoá thông qua việc trao đổi trên thị trường làm cho họ tiếp cận được với kinh tế thị trường một cách trực tiếp
Trang 2824
Cuối cùng, giảm nghèo là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp,
các ngành Tín dụng cho người nghèo thông qua các quy định về mặt nghiệp vụ
cụ thể của nó như việc bình xét công khai những người được vay vốn, việc thực hiện các tổ tương trợ vay vốn, tạo ra sự tham gia phối hợp chặt chẽ giữa các đoàn thể chính trị xã hội, của cấp uỷ, chính quyền Điều này sẽ dẫn đến một số lợi ích sau: (1) Tăng cường hiệu lực của cấp uỷ, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo kinh tế ở địa phương; (2) Tạo ra sự gắn bó giữa hội viên, đoàn viên với các
tổ chức hội, đoàn thể của mình thông qua việc hướng dẫn giúp đỡ kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm quản lý kinh tế của gia đình, quyền lợi kinh tế của tổ chức hội thông qua việc vay vốn; (3) Thông qua các tổ tương trợ tạo điều kiện để những người vay vốn có cùng hoàn cảnh gần gũi, nêu cao tính tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau tăng cường tình làng, nghĩa xóm, tạo niềm tin ở dân đồi với Đảng, Nhà nước Điều này sẽ thay đổi đời sống kinh tế ở nông thôn, an ninh, trật
tự an toàn xã hội phát triển tốt, hạn chế được những mặt tiêu cực, tạo ra được bộ mặt mới trong đời sống kinh tế xã hội và nông thôn
1.1.2.4 Đặc điểm cơ bản của chính sách tín dụng đối với hộ nghèo:
Chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo có những đặc điểm sau:
- Nhà nước hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ nguồn vốn cho hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo
- Tổ chức tín dụng được Nhà nước chỉ định hoặc do Nhà nước thành lập để thực hiện tín dụng chính sách đối với hộ nghèo
- Mục tiêu của tín dụng chính sách đối với hộ nghèo là: (1) giảm nghèo bền vững, (2) tạo việc làm cho lao động nghèo, tạo cho lao động nghèo cơ hội tính toán làm ăn, phát triển kinh tế hộ gia đình
- Hoạt động tín dụng chính sách đối với hộ nghèo có nhiều đặc điểm khác
so với các loại hình tín dụng khác, như có ưu đãi về điều kiện vay vốn, thủ tục vay vốn, thời hạn vay và hoàn trả, tài sản đảm bảo, một số trường hợp có thể ưu đãi về lãi suất vốn vay, cụ thể là:
Trang 2925
+ Phương thức cho vay: Để vốn vay đến tay các hộ nghèo, ngân hàng có
thể sử dụng hai phương thức chủ yếu là cho vay theo nhóm và cho vay từng hộ: (1) Cho vay theo nhóm là hình thức cho vay thông qua việc sử dụng nhóm là công cụ bảo lãnh cho vốn vay của các thành viên trong nhóm đó Ưu điểm của việc cho vay theo nhóm là sử dụng sức ép của những thành viên trong nhóm thay thế cho tài sản thế chấp vì các thành viên không muốn bỏ rơi các thành viên khác trong nhóm hoặc không muốn phải chịu bất kỳ hình phạt nào vì sự chậm trả, đồng thời việc cho vay theo nhóm còn tiết kiệm được chi phí giao dịch của ngân hàng thông qua chuyển việc xem xét và giám sát cho nhóm Tuy nhiên nhược điểm của cho vay theo nhóm là tác động dây chuyền dẫn đến mất khả năng hoàn trả của nhóm bởi các nguyên nhân khách quan như mất mùa, hạn hán,… (2) Cho vay từng hộ: thực hiện cho vay trực tiếp đến từng hộ nghèo Do khách hàng không có tài sản đảm bảo nên ngân hàng thường áp dụng một công
cụ quan trọng để đảm bảo an toàn vốn cho vay là kiểm tra uy tín của khách hàng qua hàng xóm của họ, qua chính quyền địa phương hoặc những ngân hàng đã cho họ vay vốn Trên thực tế, cho vay thông qua hộ và nhóm liên đới mang lại hiệu quả cao nhất so với các phương thức cho vay khác Hầu hết các tổ chức tín dụng thực hiện cho vay người nghèo đều thông qua phương thức cho vay qua hộ
và nhóm liên đới chịu trách nhiệm
+ Các hình thức đảm bảo tiền vay: hộ nghèo thường là những hộ có rất ít
tài sản Do vậy, yêu cầu về những tài sản thế chấp thông thường như đất đai, nhà cửa, máy móc và các tài sản khác là không thích hợp Tín dụng chính sách trong trường hợp này dựa trên uy tín của chính khách hàng vay, cho vay không cần tài sản đảm bảo Ngân hàng có thể sử dụng một số hình thức thay cho tài sản thế chấp như: Nhóm liên đới, cho vay dựa trên uy tín và tính cách khách hàng, bảo lãnh của bên thứ ba…
+ Thời hạn cho vay và hoàn trả: Nếu ngân hàng xác định thời hạn cho vay
càng gần với nhu cầu đầu tư và kinh doanh của khách hàng thì khách hàng càng
Trang 3026
có khả năng sử dụng món vay dễ dàng và có cơ hội hoàn trả món vay đầy đủ và
đúng hạn Việc hoàn trả tiền vay có thể thực hiện làm nhiều lần (theo tuần, tháng hoặc quí) hoặc trả một lần vào cuối kỳ hạn vay Tuy nhiên, hình thức hoàn trả được đánh giá cao là trả nhiều lần theo định kỳ thường xuyên (tuần, tháng) Tần xuất trả tiền vay phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng vay, khả
năng quản lý của ngân hàng Ưu điểm của hình thức này là: giúp khách hàng dễ kiếm những món nhỏ để trả nợ; khi kết thúc thời hạn vay còn tài sản mua sắm được từ vốn vay; kích thích khách hàng năng động trong việc sử dụng vốn, biết tính toán làm ăn; hạn chế rủi ro mất vốn cho ngân hàng; vốn quay vòng nhanh nên nhiều người sẽ được vay hơn; và đảm bảo mối quan hệ thường xuyên giữa ngân hàng và khác hàng
+ Lãi suất vốn vay: Lãi suất là giá cả của vốn vay Thông thường lãi suất được xây dựng từ công thức: Lãi suất cho vay = lãi suất huy động + chi phí của ngân hàng + lợi nhuận hợp lý (có tính đến yếu tố bù đắp rủi ro) Hiện có hai
quan điểm trái ngược nhau về lãi suất cho vay đối với hộ nghèo, đó là: (i) áp dụng lãi suất ưu đãi, tức là lãi suất thấp hơn lãi suất áp dụng tại các ngân hàng thương mại trên thị trường do quan điểm này cho rằng người nghèo vay vốn phải được hiểu như một nội dung của chính sách xã hội; (ii) quan điểm thứ hai cho rằng áp dụng lãi suất thị trường vì cho rằng người nghèo cần vốn hơn, lãi suất ưu đãi hay không không quan trọng đối với người nghèo vì thực tế cho thấy
họ vẫn có thể đi vay nặng lãi và hoàn trả sòng phẳng Đối với tổ chức cấp tín dụng chính sách, bền vững tài chính là mục tiêu đạt được không dễ dàng Yếu tố quan trọng nhất đảm bảo sự bền vững về tài chính là khả năng tự trang trải chi phí trong quá trình hoạt động Chính sách về lãi suất cho vay liên quan đến vấn
đề này
Tuy nhiên nhằm đảm bảo mục tiêu bền vững, hoạt động tín dụng đối với người nghèo cũng giống như các hoạt động cho vay khác đều tuân thủ hai nguyên tắc đó là: (i) vốn vay được sử dụng đúng mục đích đã thoả thuận và (ii)
Trang 3127
các món vay phải được hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi Để thực hiện tín dụng chính sách đối với người nghèo, một số quốc gia đã thành lập ngân hàng riêng chỉ thực hiện hoạt động tín dụng chính sách, hoặc tín dụng chính sách được thực hiện tại các ngân hàng thương mại theo chỉ định của Chính phủ, các ngân hàng thương mại ngoài việc cấp tín dụng thông thường còn được chỉ định cấp tín dụng chính sách Mỗi loại hình hoạt động đó đều có những thuận lợi và bất cập Tại Việt Nam, thực hiện mục tiêu tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại, Chính phủ đã thành lập ngân hàng Chính sách xã hội chuyên
thực hiện tín dụng chính sách đối với người nghèo (chiếm trên 90% dư nợ cho vay hộ nghèo cả nước)
1.1.2.5 Đặc điểm tâm lý – xã hội và nhu cầu của hộ gia đình nghèo
* Đặc điểm tâm lý – xã hội
Nhìn chung người thuộc hộ gia đình nghèo thường có đặc điểm tâm lý mặc cảm, tự ti, do hoàn cảnh, chất lượng cuộc sống không bằng mặt bằng chung của cộng đồng Từ đó dẫn đến việc ngại giao tiếp và tham gia vào các hoạt động tập thể Bên cạnh đó, còn nhiều trường hợp người nghèo có tư tưởng buông xuôi, phó mặc và chưa thực sự quyết tâm vươn lên, không dám đấu tranh, không dám bộc lộ bản thân, ngại thay đổi
Sự tự tin của nhóm người này dẫn đến sự thiếu mạnh dạn tham gia, đề xuất ý kiến với cộng đồng Họ tự cho rằng lời nói của mình không có trọng lượng, không được chấp thuận
* Nhu cầu của hộ gia đình nghèo
Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần
Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã
Trang 3228
đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó
và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc
về nhu cầu của con người tư thấp đến cao
Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con
người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục
Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: An ninh và an toàn có nghĩa là một môi
trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người
Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận: Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận
Nhu cầu được tôn trọng: Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng Nhu cầu phát huy bản ngã: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong
cách phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân
Người thuộc hộ nghèo cũng có những nhu cầu nhất định và cơ bản của họ Nhu cầu lớn nhất của người nghèo trước tiên là đủ ăn, đủ mặc không bị đói kém triền miên hết năm này sang năm khác Những hộ quá nghèo thì nhu cầu được trợ cấp hàng tháng của Nhà nước để đáp ứng những nhu cầu tối thiểu, muốn được vay vốn để phát triển sản xuất, có nhu cầu học hỏi kinh nghiệm trong chăn nuôi, trồng trọt Hiểu được những nhu cầu của lao động nghèo để biết họ đang ở bậc thang nhu cầu thứ mấy, họ đã đáp ứng được nhu cầu nào và mong muốn gì giai đoạn tiếp theo nhằm tiếp cận để thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của người nghèo như ăn, mặc, học hành, khám chữa bênh, nhà ở…
Đáp ứng đúng nhu cầu của lao động nghèo sẽ giúp họ phát triển bền vững hơn trong kinh tế, điều kiện sống của gia đình Tuy nhiên, nhu cầu thì nhiều, hầu
Trang 331.2 Lý luận về công tác xã hội nhóm hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình
1.2.1 Một số khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm công tác xã hội
Theo Hiệp hội Quốc gia Nhân viên CTXH của Mỹ (NASW): “CTXH là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ.”
Cũng với cách tiếp cận trên, Bùi Thị Xuân Mai (2010) đưa ra khái niệm
“CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.”
1.2.1.2 Khái niệm công tác xã hội nhóm
Từ thập niên 30 của thế kỷ 20, việc sử dụng nhóm trong công tác xã hội như một phương pháp giúp đỡ, được thừa nhận là một phần của nghề công tác
xã hội Khi đó, phương pháp này như một phương tiện trị liệu trong bệnh viện, phòng khám bằt đầu trong thế chiến thứ 2
Theo như Toseland, Rivas (1998) định nghĩa: “CTXH nhóm là hoạt động
có mục đích với các nhóm nhiệm vụ và trị liệu nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu tình
Trang 3430
cảm xã hội và hoàn thành nhiệm vụ Hoạt động này hướng trực tiếp tới cá nhân các thành viên trong nhóm và tới toàn thể nhóm trong một hệ thống cung cấp
dịch vụ”
Theo Từ điển CTXH của Barker (1995), CTXH nhóm được định nghĩa là:
“Sự định hướng, một phương pháp can thiệp của CTXH, trong đó các thành viên chia sẻ những mối quan tâm, giải quyết những vấn đề chung thông qua các cuộc họp nhóm, các hoạt động của nhóm, nhằm đạt được mục tiêu cụ thể CTXH nhóm không chỉ là biện pháp can thiệp những vấn đề liên quan về tâm lý tình cảm cho các cá nhân, mà còn tạo nên môi trường để họ trao đổi thông tin, phát triển kỹ năng xã hội, thay đổi định hướng giá trị, làm chuyển biến những hành
vi không mong muốn”
Tóm lại, công tác xã hội nhóm là phương pháp nhằm trợ giúp các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội, môi trường hoạt động tương tác, chia sẽ những mối quan tâm hay những vấn đề chung khi tham gia vào các hoạt động nhóm để đạt tới mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích cá nhân từng thành viên
* Công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế là tiến trình tổ chức, hoạt động của nhân viên CTXH với nhóm hộ nghèo bằng việc thúc đẩy nhận thức, nâng cao năng lực, khả năng tự vươn lên của người nghèo trong việc tìm ra nguyên nhân của sự nghèo đói, xác định ý thức, trách nhiệm, khả năng và tự lựa chọn giải pháp của bản thân và khai thác các yếu tố sẵn sàng giúp đỡ của các nguồn lực để thoát nghèo Mặt khác, nhân viên CTXH phải huy động tài nguyên, tính sẵn sàng của cộng đồng giúp
đỡ người nghèo thoát nghèo, tạo ra sự hài hòa của quan hệ giữa người nghèo với cộng đồng (Nguyễn Thị Hoa, 2015)
Mục tiêu cuối cùng của CTXH với hộ nghèo là giúp thành viên học cách thực hiện chức năng của mình để đáp ứng các nhu cầu về phát triển cả về mặt
Trang 35Trong đề tài này, CTXH sẽ can thiệp, hỗ trợ nhóm hộ nghèo nâng cao năng lực sử dụng vốn vay ưu đãi hợp lý để phát triển kinh tế kết hợp với các lợi thế trong chính sách, điều kiện tự nhiên – xã hội
1.2.2 Các hoạt động công tác xã hội nhóm đối với hộ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay
1.2.2.1 Hoạt động tư vấn cho các nhóm hộ gia đình sử dụng vốn vay
Hoạt động tư vấn, tham vấn tâm lý là một quá trình đối thoại có tính gắn
bó, tương tác giữa hai chủ thể đó là nhân viên công tác xã hội và hộ gia đình nghèo Một bên là người thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin và một bên là ngời hỏi ý kiến hoặc tìm kiếm một giải pháp hay lời khuyên từ nhân viên Công tác xã hội Như vậy, thực chất tư vấn, tham vấn là hình thức giúp đỡ mọi người khắc phục những khó khăn về nhiều mặt nhất là về nhận thức, ý chí vươn lên thoát nghèo, đồng thời định hướng phương thức làm ăn cho hộ nghèo trong khi
họ là người rất cần những kiến thức để phát triển kinh tế hộ gia đình
Đây là hoạt động vô cùng quan trọng, đóng vai trò to lớn trong việc nâng cao nhận thức, kiến thức của lao động nghèo về mọi mặt trong cuộc sống Về mặt lý luận, hoạt động tư vấn/tham vấn tâm lý xã hội giúp thân chủ nâng cao nhận thức về bản thân, môi trường và hoàn cảnh, tạo được sự thay đổi tích cực
về nhận thức và hành vi bằng chính năng lực của mình; giúp họ tăng cường khả
Trang 3632
năng ra quyết định phù hợp với hoàn cảnh của mình và thực hiện quyết định một cách có hiệu quả; từ đó giúp họ giải tỏa được những cảm xúc tiêu cục, lấy lại sự thoải mái, tự tin suy nghĩ và hành động tích cực, làm chủ bản thân”
Hoạt động tư vấn, tham vấn cho lao động thuộc hộ nghèo là hết sức cần thiết vì bản thân gia đình gặp không ít khó khăn trong việc tư duy sử dụng vốn vay hiệu quả Do đó nhân viên CTXH đóng vai trò là người tham vấn, tư vấn cho lao động nghèo những kỹ năng, kiến thức, phương pháp phát triển kinh tế
hộ gia đình phù hợp với nội lực và điều kiện sẵn có đồng thời đưa ra các hành động cụ thể để thực hiện một cách có hiệu quả nhất nhằm hướng dẫn gia đình hộ nghèo có phương án sử dụng vốn vay hợp lý
Hình thức tư vấn, tham vấn trực tiếp cho hộ nghèo sử dụng vốn vay là vô cùng phong phú như trực tiếp tại nhà, nhà văn hoá thôn, các hoạt động của các hội đoàn thể trên địa bàn… thông qua buổi nói chung chuyên đề, các buổi sinh hoạt tại cộng đồng hoặc có thể gián tiếp qua đài phát thanh địa phương, banner
cổ động…
Ngoài việc thiếu kiến thức phát triển kinh tế, đa số hộ nghèo trên địa bàn
xã Hiệp Hoà đều gặp phải những hoàn cảnh khó khăn riêng Do đó, nhiều lao động nghèo có những đặc điểm tâm lý vô cùng đặc trưng như tự ti, không tin tưởng vào năng lực bản thân, không có ý chí thoát nghèo, dễ tự mãn với điều kiện sống hiện tại… Điều này tác động không nhỏ tới hành vi, nhận thức của hộ nghèo trong việc tiếp cận và sử dụng vốn vay Để định hướng cho lao động nghèo, xoá bỏ tâm lý tiêu cực, phát huy ý chí làm giàu thì hoạt động tham vấn/tư
vấn là hết sức cần thiết
1.2.2.2 Hoạt động truyền thông nhóm gia đình sử dụng vốn vay
Hoạt động truyền thông cho các nhóm hộ gia đình nghèo là việc cung cấp
cho hộ nghèo có nhu cầu vay và sử dụng vốn các kiến thức, cơ sở cần thiết để họ
có thể thay đổi phương thức sử dụng vốn, phát triển kinh tế hộ gia đình Khi hộ
Trang 37ở thay đổi suy nghĩ hay thái độ của những lao động nghèo mà còn cần phải tạo những hành động sử dụng đồng vốn vay đúng hướng Truyền thông không chỉ giúp gia đình loại bỏ những suy nghĩ cũ, tư tưởng ỷ lại, phương pháp chăn nuôi, trồng trọt lạc hậu mà còn làm cho gia đình hộ nghèo tự tin vào bản thân, có những hành động đem lại lợi ích cho cộng đồng, xã hội
Trong công tác xã hội nhóm hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình thì hoạt động truyền thông, vận động đem lại ý nghĩa hết sức quan trọng đặc biệt là những địa bàn phức tạp như xã Hiệp Hoà, thị xã Quảng Yên Thông qua các hoạt động truyền thông, tuyên truyền, hộ nghèo được hiểu rõ hơn về các chính sách giảm nghèo đang được áp dụng tại địa phương, các dự án phát triển kinh tế tiềm năng, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho hộ gia đình, đồng thời giữ đúng mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường
Các hoạt động truyền thông, tuyên truyền cần được triển khai một cách đồng bộ, có khoa học, thông qua nhiều hình thức, phương thức khác nhau như: truyền thông trực tiếp 1-1 hoặc 1-nhóm hộ gia đình và truyền thông gián tiếp (đài phát thanh, tờ rơi tuyên truyền, bảng tin tại nhà văn hoá thôn…) Đây cũng
là hình thức nhằm định hướng phát triển kinh tế cho nhóm hộ nghèo, xây dựng ý chí quyết tâm thoát nghèo bằng nỗ lực cao nhất của các thành viên trong hộ, từ
Trang 3834
nhằm hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, nhân viên CTXH cần phối hợp với chính quyền địa phương, các hội đoàn thể, chi nhánh ngân hàng chính sách xã hội, cơ quan chuyên môn… để từ đó kết nối các nguồn lực hỗ trợ lao động nghèo
Nhân viên CTXH tăng cường kết nối và giữ mối quan hệ chặt chẽ với chính quyền, hội đoàn thể, cơ sở sản xuất trên địa bàn, nắm chắc hoàn cảnh gia đình, chia sẻ khó khăn trong cuộc sống tùy theo khả năng, nguyện vọng để giới thiệu, giúp đỡ hộ nghèo sử dụng và phát huy đồng vốn vay đúng hướng và khắc phục tình trạng khó khăn vật chất và tinh thần
Nhân viên công tác xã hội cần có những nhận thức cơ bản về phát triển kinh tế phù hợp với tình hình địa phương và nội lực của nhóm hộ gia đình để có những phương án kết nối hộ gia đình với các nguồn lực bên ngoài như tập huấn kiến thức, kỹ thuật canh tác, chăn nuôi, bao tiêu sản phẩm…, chủ động đề xuất với chính quyền địa phương tạo điều kiện tối đa cho hộ gia đình phát triển kinh
tế và các nhu cầu tối thiểu khác của cuộc sống
Ngoài ra, hộ nghèo cũng cần được động viên tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, đồng thời cộng đồng cũng cần được vận động mạnh mẽ để đồng cảm, chung tay hỗ trợ lao động nghèo trong mọi mặt của cuộc sống Thông qua các hoạt động này, nhân viên CTXH phải thường xuyên giám sát, đánh giá sự chuyển biến của hộ nghèo nhằm phát hiện kịp thời những hoạt động đi lệch mục
tiêu đã đề ra
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động của công tác xã hội nhóm
hỗ trợ hộ gia đình nghèo sử dung vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình
1.3.1 Yếu tố thuộc về nhân viên công tác xã hội
Đi cùng với sự phát triển của xã hội là những vấn đề tiêu cực cũng dần phát sinh Sứ mệnh của nhân viên CTXH là phải khắc phục những “căn bệnh”
đó Muốn làm được điều này, người làm CTXH cần phải không ngừng nâng cao
về chuyên môn, kiến thức, chuyên nghiệp hoá để đáp ứng được những đòi hỏi
Trang 3935
của sự thay đổi của xã hội, hướng tới xây dựng một xã hội bình đẳng, mọi người được đáp ứng đầy đủ các dịch vụ cơ bản Nghề CTXH cũng cần được phát triển theo hướng phát huy năng lực, vai trò của đội ngũ nhân viên công tác xã hội đặc
ra yêu cầu hết sức quan trọng và cần thiết
Ngoài việc cần được đào tạo bàn bản về kiến thức và kỹ năng thực hành CTXH, để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trong việc trợ giúp đối tượng trong hoạt động CTXH nói chung hay trong việc hỗ trợ hộ nghèo sử dụng vốn vay tín dụng ưu đãi nói riêng, thì nhân viên CTXH cần phải nâng cao phẩm chất đạo đức, có trách nhiệm và sự cam kết đối với nghề
Do tính chất công việc của nhân viên CTXH là tiếp xúc, hỗ trợ trực tiếp
hộ nghèo, áp dụng những kỹ năng, kiến thức cần thiết để hỗ trợ lao động nghèo tiếp cận và sử dụng vốn vay hiệu quả, phát triển kinh tế gia đình nên nhân viên CTXH sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ quá trình trợ giúp Vì vậy, để quá trình hỗ trợ, can thiệp đạt hiệu quả, nhân viên CTXH cần vận dụng linh hoạt các thao tác kỹ thuật của CTXH Từ đó có thể dễ dàng tiếp cận, tạo dựng mối quan
hệ với các hộ gia đình nghèo, nhận biết được nhu cầu của họ trên quan điểm nhận thức rõ nội lực của lao động nghèo và hộ gia đình, xây dựng cầu nối giữa
hộ nghèo, lao động nghèo với những nguồn lực xung quanh như tạo dựng cơ sở vật chất, huấn luyện kỹ thuật, kết nối với các nguồn lực vật chất và tinh thần khác có sẵn từ cộng đồng
Có thể nói, nhân viên CTXH có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ hộ nghèo tiếp cận và sử dụng nguồn vốn Tuy nhiên, còn nhiều trường hợp nhân viên CTXH chưa được đào tạo bài bản nên chưa có phương pháp làm việc chuyên nghiệp, khoa học, đa số phải làm việc kiêm nhiệm, nhiều lĩnh vực nên hiệu quả còn chưa cao Việc hạn chế về số lượng và chất lượng trong đội ngũ nhân viên CTXH đang là vấn đề rất khó khăn trong việc can thiệp, hỗ trợ đối
tượng hộ nghèo hay các đối tượng xã hội khác
Trang 4036
1.3.2 Yếu tố về đặc điểm hộ gia đình nghèo và lao động thuộc hộ nghèo
Phần lớn hộ nghèo đều có điều kiện sống vô cùng khó khăn, có thành viên trong hộ gia đình là đối tượng bảo trợ xã hội hoặc không có khả năng lao động, không biết phương pháp làm ăn, một số trường hợp vẫn còn tâm lý sợ đầu tư, không dám bứt phá để thử những phương pháp mới dẫn đến việc khó khăn trong công tác vận động và hỗ trợ lao động nghèo phát triển kinh tế
Hiển nhiên khi kinh tế là yếu tố ảnh hưởng chính đến chất lượng cuộc
sống và tình hình sinh hoạt của các hộ gia đình thì trong trường hợp kinh tế gặp hạn chế, nhu cầu tối thiểu như điều kiện được chăm sóc về vật chất, tinh thần, y
tế, giáo dục cho người thuộc hộ nghèo sẽ gặp khó khan, khả năng cải thiện thu nhập của hộ nghèo chậm hơn nhiều so với cộng đồng Do đó, người nghèo luôn
có cảm giác bị tách rời khỏi xã hội, cộng đồng
Phần lớn hộ nghèo còn chịu ảnh hưởng của những vấn đề như điều kiện sản xuất khó khăn, thiếu việc làm, năng suất lao động thấp, cơ sở hạ tầng tại nông thôn còn nhiều hạn chế, phong tục tập quán lạc hậu Thu nhập hộ nghèo chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với điều kiện, nguồn lực vô cùng hạn chế (đất đai, lao động, vốn), thu nhập không ổn định và rất dễ rơi vào tình trạng bần cùng nếu như gặp rủi ro, biến cố trong gia đình hay ảnh hưởng bởi thiên tai Hơn nữa, tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp cũng tạo nên khó khăn cho người nghèo
1.3.3 Yếu tố thuộc về chính quyền địa phương
Chính quyền địa phương là một tổ chức hành chính có tư cách pháp nhân được Hiến pháp và pháp luật công nhận sự tồn tại vì mục đích quản lý một khu vực nằm trong một quốc gia Ở Việt Nam, chính quyền địa phương bao gồm: uỷ ban nhân dân, hội đồng nhân dân,…
Sự nhận thức về công tác xã hội nhóm trong việc can thiệp và hỗ trợ hộ nghèo sử dụng vốn vay của chính quyền địa phương các cấp là vô cùng quan trọng Điều này ảnh hưởng sâu sắc tới việc định hướng, hình thành phát triển nghề công tác xã hội trên địa bàn nói chung và việc can thiệp, hỗ trợ các đối