Các kiểu dạng câu hỏi tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ và ý nghĩa tình thái tu từ của chùng trong ngữ cảnh được sử dụng ...56 3.2.1... Trong hoạt động văn học cũng được xem như một hoạt động
Trang 1- -
CÂU HỎI TU TỪ TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Đức Tồn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
HẢI PHÒNG, NĂM 2017
To remove this notice, visit: www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kì công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian theo học tại trường Đại học Hải Phòng và đặc biệt
là trong khoảng thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ hết lòng về mặt vật chất, tinh thần, kiến thức và những kinh nghiệm
quí báu từ gia đình, thầy cô, bạn bè
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới GS.TS Nguyễn
Đức Tồn - người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá
trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Quản lý sau đại học
trường Đại học Hải Phòng; Ban Giám hiệu, Tổ Khoa học xã hội trường Trung
học cơ sở Ngô Quyền đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn
thành khóa học cũng như hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời tri ân đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và những người thân
yêu đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
2.1 Dưới góc độ phong cách học 2
2.2 Dưới góc độ Ngữ dụng học 3
2.3 Vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ thơ của Lưu Quang Vũ 6
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Cấu trúc luận văn 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 9
1.1 Câu hỏi đích thực (câu nghi vấn) 9
1.1.1 Khái niệm 9
1.1.2 Phân loại câu hỏi (câu nghi vấn) 10
1.1.2.1 Câu hỏi được dùng theo lối trực tiếp 10
1.1.2.2 Câu hỏi được dùng theo lối gián tiếp 10
1.1.3 Các phương tiện ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi (câu nghi vấn) 11
1.1.3.1 Câu hỏi sử dụng đại từ nghi vấn 11
1.1.3.2 Câu hỏi sử dụng phó từ nghi vấn 1211
1.1.3.3 Câu hỏi sử dụng quan hệ từ lựa chọn 12
1.1.3.4 Câu hỏi sử dụng các tiểu từ chuyên dụng 12
1.1.4 Tiêu điểm hỏi 12
1.1.5 Tình thái hỏi 13
1.2 Câu hỏi tu từ 14
1.2.1 Khái niệm 14
1.2.2 Phân biệt câu hỏi tu từ trong các dạng văn bản 15
1.2.2.1 Câu hỏi tu từ trong văn bản chính luận 15
1.2.2.2 Câu hỏi tu từ trong truyện kể 16
1.2.2.3 Câu hỏi tu từ trong thơ trữ tình 18
1.3 Đặc trưng của câu hỏi tu từ trong thơ 21
1.4 Dấu hiệu nhận biết câu hỏi tu từ trong thơ 2221
1.4.1 Dựa vào kết cấu diễn đạt 2221
1.4.1.1 Kết cấu diễn đạt giống câu hỏi đích thực 22
1.4.1.2 Kết cấu diễn đạt khác câu hỏi đích thực 22
1.4.2 Dựa vào tính tình thái và biến đổi tình thái của câu hỏi tu từ 23
1.4.3 Dựa vào ngữ cảnh 24
Trang 51.4.3.1 Ngữ cảnh ngôn ngữ 2524
1.4.3.2 Ngữ cảnh tu từ 25
1.4.4 Dựa vào hành động hỏi 26
1.4.5 Các cơ sở nhận diện khác 27
1.5 Tiểu kết chương 1 28
CHƯƠNG 2: CÂU HỎI TU TỪ TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ XÉT THEO KẾT CẤU HÌNH THỨC 29
2.1 Câu hỏi tu từ sử dụng đại từ nghi vấn 29
2.1.1 Đại từ nghi vấn “đâu” 29
2.1.2 Đại từ nghi vấn “sao” 32
2.1.3 Đại từ nghi vấn “nào” 35
2.1.4 Đại từ nghi vấn “bao” 36
2.1.5 Đại từ nghi vấn “ai” 36
2.1.6 Đại từ nghi vấn “gì”, “chi” 39
2.1.7 Đại từ nghi vấn “bao giờ” 42
2.2 Câu hỏi tu từ sử dụng cặp phó từ nghi vấn 43
2.2.1 Cặp phó từ “có… không” 43
2.2.2 Cặp phó từ “có phải… không” 46
2.3 Câu hỏi tu từ sử dụng tiểu từ tình thái 47
2.3.1 Tiểu từ tình thái “nhỉ” 47
2.3.2 Tiểu từ tình thái “ư” 48
2.3.3 Tiểu từ tình thái “có lẽ nào” 49
2.4 Câu hỏi tu từ sử dụng quan hệ từ lựa chọn "hay" 49
2.4.1 Quan hệ từ “hay” đứng đầu dòng 49
2.4.2 Quan hệ từ “hay” đứng giữa dòng 51
2.5 Câu hỏi tu từ khuyết dấu hiệu nghi vấn 51
2.5.1 Câu hỏi tu từ khuyết từ ngữ nghi vấn 51
2.5.2 Câu hỏi tu từ khuyết dấu “?” 52
2.6 Tiểu kết chương 2 53
CHƯƠNG 3: CÂU HỎI TU TỪ TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ XÉT THEO Ý NGHĨA TÌNH THÁI TU TỪ TRONG NGỮ CẢNH SỬ DỤNG 55
3.1 Phân loại câu hỏi tu từ theo truyền thống 55
3.2 Các kiểu dạng câu hỏi tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ và ý nghĩa tình thái tu từ của chùng trong ngữ cảnh được sử dụng 56
3.2.1 Câu hỏi tu từ không lời đáp 56
3.2.1.1 Câu hỏi tu từ tầng bậc 57
3.2.1.2 Câu hỏi tu từ xuất hiện đơn lẻ 67
3.2.2 Câu hỏi tu từ được người hỏi gợi ý hồi đáp 73
3.2.2.1 Câu hỏi tu từ được người hỏi gợi ý hồi đáp bằng câu trần thuật 74
3.2.2.2 Câu hỏi tu từ được gợi ý hồi đáp bằng phó từ phỏng đoán 77
3.3 Tiểu kết chương 3 7877
KẾT LUẬN 8079
TÀI LIỆU THAM KHẢO i
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Câu hỏi (câu nghi vấn) là một trong 4 kiểu câu cơ bản của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, xét theo chức năng thông báo (cách phân loại của
Diệp Quang Ban trong cuốn Ngữ pháp Việt Nam - phần câu, NXB Đại học
Sư phạm, Hà Nội, 2009) Câu hỏi tồn tại ở mọi lĩnh vực giao tiếp ngôn ngữ của con người, từ đời thường đến nghi thức, từ khoa học, chính trị đến văn chương - nghệ thuật Trong hoạt động văn học (cũng được xem như một hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, xét theo quan điểm của ngôn ngữ học hiện đại), câu hỏi càng trở nên quan trọng, giúp người phát (nhà văn, nhà thơ) xích gần tác phẩm (diễn ngôn) của mình lại gần người nhận (độc giả) và chuyên chở cảm xúc nghệ thuật Câu hỏi trong văn học, thơ ca có nhiều nét riêng độc đáo cần được nghiên cứu
Khác với các hoạt động giao tiếp ngôn ngữ khác của con người, hoạt động giao tiếp văn chương, thi ca sử dụng chủ yếu câu hỏi tu từ để vừa giao tiếp, vừa thực hiện chức năng nghệ thuật
Câu hỏi tu từ, hay còn gọi là nghi vấn tu từ (erotema - từ Hy Lạp cổ; interrogates - từ Latinh) từ lâu đã được tu từ học truyền thống miêu tả, phân tích và xem như là một trong những phương tiện diễn đạt giàu màu sắc tu từ Phương tiện này xuất hiện không nhiều nhưng mỗi lần xuất hiện đều có ý nghĩa với những màu sắc tu từ đặc biệt Bởi vậy, nghiên cứu câu hỏi tu từ là công việc quan trọng, cần thiết để nắm rõ hơn nghệ thuật, phong cách thi ca của một tác gia, tác phẩm
1.2 Lưu Quang Vũ Là một trong những nhà thơ xuất sắc và có nhiều đóng góp cho nền thi ca Việt Nam từ những năm 60 thế kỉ XX Dù viết thành công trên nhiều thể loại, nhưng thơ ca vẫn là thể loại mà Lưu Quang Vũ đam
mê nhất Thơ ca đi cùng tác giả trong suốt những năm tháng cuộc đời, từ thời niên thiếu đến lúc xuôi tay, là “cuốn nhật kí” để ông thác gửi tâm sự, tài năng của mình Bởi vậy, thơ Lưu Quang Vũ chất chứa nhiều nét độc đáo, sâu sắc
Trang 7về nội dung lẫn hình thức Tuy nhiên, có một thời gian, thơ Lưu Quang Vũ bị xem nhẹ, chịu đổ tiếng oan, mãi tới sau này mới được công nhận Vì vậy, những công trình nghiên cứu về thơ Lưu Quang Vũ dù đã có nhưng chưa thực
sự đầy đủ để đánh giá toàn diện về tài năng cũng như vị trí của ông trong nền thi ca nước nhà
Cũng như nhiều nhà thơ khác, thơ Lưu Quang Vũ sử dụng rất nhiều câu hỏi tu từ và xem nó như một phương tiện đắc lực để đong đầy cảm xúc và
truyền tải ý niệm nghệ thuật Nhận thấy điều đó, tôi tiến hành đề tài "Câu hỏi
tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ" để khai thác, làm rõ nét hơn về thơ ông
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Dưới góc độ phong cách học
Câu hỏi tu từ (rhetorical question) xuất hiện đầu tiên trong lĩnh vực
nghiên cứu của phong cách học Cho đến nay, các nhà phong cách học trong
và ngoài nước đều có ý kiến thống nhất cho rằng câu hỏi tu từ là kiểu câu hỏi
không chờ đợi sự trả lời và có tác dụng tăng cương diễn cảm cho phát ngôn
Sau đây là một số ý kiến tiêu biểu
Theo D.E Rosental và M.A Telenkova, “câu hỏi tu từ chứa đựng hình
thức nghi vấn phủ định hay khẳng định nhưng không chờ đợi sự trả lời” [61,
61] Còn Katie Wales cho rằng “ câu hỏi không chờ đợi được trả lời” do ”đã
xác định điều đã biết đối với người nhận là không thể trả lời được” [88,
407-408] Katie Wales đã nhấn mạnh đặc biệt đến vai trò của câu hỏi tu từ trong
hình thức hội thoại đặc thù: tranh biện cổ điển và tiểu thuyết “câu hỏi tu từ
được sử dụng từ trong thuật tranh biện cổ điển như là những thủ pháp khích
lệ, kêu gọi sự biện minh của người nghe, hay là thủ pháp khêu gợi cảm hứng của người nói Trong truyện kể, chúng là những tín hiệu hiển nhiên của người
kể toàn thông, dấu hiệu hô gọi đến người đọc” [88, 407-408]
Ở Việt Nam, Đinh Trọng Lạc định nghĩa câu hỏi tu từ “là câu về hình
thức là câu hỏi, về thực chất là câu khẳng định hoặc phủ định có cảm xúc Nó
có dạng không đòi hỏi câu trả lời mà chỉ nhằm tăng cường tính diễn cảm của
Trang 8phát ngôn” [52, 194-197] Nguyễn Thái Hoà xếp câu hỏi tu từ vào một trong
những kiểu câu chuyển đổi tình thái điển hình nhất Theo tác giả, câu hỏi tu từ
sử dụng trong văn luận chiến như là thủ pháp để “buộc đối thủ phải chấp
nhận luận điểm của mình”; còn câu hỏi tu từ sử dụng trong thơ ca là ”cách nói truyền cảm” [51, 228]
2.2 Dưới góc độ Ngữ dụng học
Các nhà ngữ dụng học đã nghiên cứu câu hỏi tu từ trong mối quan hệ với
lí thuyết hội thoại, với lí thuyết hành động ngôn ngữ:
Trong mối quan hệ tương tác với lý thuyết hội thoại, Brown và Levinson
cho rằng câu hỏi tu từ là “một trong những chiến lược để đảm bảo lịch sự
trong hội thoại” [Dẫn theo Đỗ Hữu Châu trong tài liệu số 6, 274]
Henri Morier cho rằng câu hỏi tu từ “được nêu ra để khêu gợi một câu
trả lời trong tâm trí người nghe, người đọc Câu hỏi tu từ tạo ra một cuộc đối thoại mà người đối thoại không nói nhưng kêu gọi hay khích lệ người đối thoại tham gia” [57, 572-573]
Nguyễn Việt Tiến xem câu hỏi tu từ là một trong ba "câu hỏi giả nhất
(câu hỏi điều tiết)" [79, 126] và “loại câu hỏi này (câu hỏi tu từ) đối lập hoàn toàn với câu hỏi thực hay còn gọi là “câu hỏi chính danh” (câu hỏi yêu cầu thông tin) ở chỗ biên độ dành cho câu trả lời bị thu hẹp đến mức gần như bằng không vì loại câu hỏi này thách thức người được hỏi cả về khả năng phủ nhận hoặc thậm chí trả lời” [79, 107]
Như vậy, nhìn từ góc độ phong cách học đến ngữ dụng học, các tác giả đều cho rằng câu hỏi tu từ là câu hỏi không yêu cầu thông tin hồi đáp mà hướng tới một mục đích phát ngôn khác, một hoặc một số hiệu lực ở lời khác
Lê Thị Thu Hoài từ góc độ ngữ nghĩa ngữ dụng cho rằng câu hỏi tu từ có những đặc điểm sau: (i) Có hình thức nghi vấn; (ii) Bao giờ cũng ngầm ẩn nội dung phán đoán khẳng định hay phủ định; (iii) Câu có chứa từ phủ định thì ngầm ẩn nội dung khẳng định mệnh đề tương ứng và ngược lại câu không
chứa từ phủ định lại ngầm ẩn nội dung phủ định mệnh đề tương ứng [43,17]
Trang 9Tuy nhiên tác giả cũng khẳng định tồn tại tính hỏi (yêu cầu cung cấp
thông tin) trong câu hỏi tu từ và nó "tồn tại có lí do, mục đích” và “nếu ở câu
hỏi chính danh chúng đóng vai trò là mục đích giao tiếp của phát ngôn thì trong câu hỏi tu từ chúng bị đẩy xuống thứ yếu và chỉ được xem như một công
cụ nhằm đạt đến một mục đích giao tiếp khác của người nói" [43, 181]
Như vậy theo quan niệm của Lê Thu Hoài, do câu hỏi tu từ có tính nghi vấn (tính hỏi), vì vậy tất yếu sẽ kéo theo một trong đích ngôn trung của câu hỏi tu từ là yêu cầu người hỏi phải cung cấp thông tin, tuy nhiên hiệu lực của đích ngôn trung này là thứ yếu, mà xếp tầng trên nó là các hiệu lực ở lời khác,
vì vậy nhiệm vụ cung cấp thông tin có thể có hoặc không cũng không ảnh hưởng đến tiến trình của cuộc giao tiếp
Những nghiên cứu gần đây trên thế giới cũng đã khẳng định quan điểm trong câu hỏi tu từ có tính hỏi Các tác giả Ivano Caponigro, Jon Sprouse
khẳng định: “Chúng tôi cho rằng câu hỏi tu từ có ngữ nghĩa giống như câu
hỏi thông thường Dữ liệu mới được trình bày để cho thấy rằng câu hỏi tu từ cho phép các câu trả lời và một loạt các câu trả lời của nó cũng giống như câu hỏi thông thường” và “câu hỏi tu từ và câu hỏi thông thường chỉ khác nhau ở mức độ thực tế: một câu hỏi được hiểu như là một câu hỏi tu từ khi câu trả lời của nó được biết đến với diễn giả và người nghe, trong khi nó được xem như là một câu hỏi thông thường khi câu trả lời của nó là không được diễn giả biết đến” [93, 48]
Tổng hợp ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước, trong luận văn của chúng tôi, có thể hiểu khái quát về câu hỏi tu từ như sau:
- Có hình thức nghi vấn nhưng chủ yếu nhằm hướng tới một hoặc nhiều mục đích khác, mục đích yêu cầu cung cấp thông tin (nếu có) chỉ là thứ yếu
- Là chiến lược đối thoại khôn ngoan, ấn tượng, làm tăng tính biểu cảm, biểu hiện ý nghĩa tình thái tu từ cho câu văn, câu thơ
Riêng việc sử dụng câu hỏi tu từ trong thơ trữ tình nói chung, ở một tác
giả nói riêng, cho đến nay vẫn còn ít được quan tâm trong giới nghiên cứu
Trang 10Việt ngữ học Hiện mới chỉ có một số tác giả nghiên cứu trong những công trình là khóa luận tốt nghiệp đại học hoặc luận văn cao học Chẳng hạn, Nguyễn Thị Thanh Huyền đã bảo vệ khóa luận tốt nghiệp đại học có nhan đề
Giá trị liên kết nội dung của câu hỏi trong thơ (2001) Tác giả đã bước đầu
thống kê được 564 câu hỏi xuất hiện trong 214 bài thơ và ca dao Căn cứ vào
vị trí xuất hiện của câu hỏi, khóa luận này đã chỉ ra giá trị liên kết nội dung của nó trong văn bản cũng như sự phối hợp của nhiều câu hỏi để tạo tính liên kết cho bài thơ Như vậy, công trình của Nguyễn Thị Thanh Huyền chủ yếu khai thác chức năng của câu hỏi trong việc liên kết văn bản
Năm 2002, Phạm Thị Hà đã bảo vệ khóa luận tốt nghiệp đại học Đặc
trưng của câu hỏi trong thơ trữ tình Khóa luận đã thu thập được 104 câu hỏi
trong ca dao và thơ trữ tình Từ đó tác giả chỉ ra sự đóng góp của câu hỏi trong việc tạo nên đặc trưng nghệ thuật của văn bản như: kết cấu, xây dựng hình tượng nhân vật trữ tình
Trong cả hai khóa luận tốt nghiệp nêu trên, khái niệm câu hỏi tu từ chưa được minh định Cả hai tác giả này chưa có tiêu chí phân định rõ ràng giữa câu hỏi đích thực (còn được gọi là câu hỏi chính danh) và câu hỏi tu từ Theo các tác giả, câu hỏi trong thơ trữ tình là câu hỏi có hình thức hỏi xuất hiện trong thơ mà không phân biệt giữa câu hỏi dùng để hỏi đích thực hay câu hỏi
tu từ Diện khảo sát của hai khóa luận cũng rộng và chưa có tính hệ thống, bởi vậy không thể hiện được đặc trưng nghệ thuật của tác phẩm hay phong cách nghệ thuật của tác giả nào
Năm 2005, Quách Thị Bình Thọ bảo vệ luận văn cao học Cách sử dụng
trực tiếp và gián tiếp các kiểu câu trong Truyện Kiều và năm 2006, Trịnh
Minh Thành bảo vệ luận văn cao học Câu hỏi trong Truyện Kiều của Nguyễn
Du và việc sử dụng câu hỏi để biểu thị mục đích nói Tác giả Trịnh Minh
Thành đã thống kê được 275 câu hỏi và bước đầu chỉ ra được một số đặc
điểm tình thái của dạng câu hỏi gián tiếp trong tác phẩm Truyện Kiều Tuy
nhiên, cả hai luận văn cũng đều không phân biệt câu hỏi chính danh và câu
Trang 11hỏi tu từ, do đó tính tình thái, giá trị nghệ thuật của câu hỏi tu từ chưa được làm rõ Mặt khác, các đặc điểm tình thái của câu hỏi không chính danh được chỉ ra còn mang tính suy đoán mà chưa dựa trên cơ sở và phương pháp khoa học để phân tích và chứng minh, do đó tính thuyết phục chưa cao
Năm 2008 Phạm Thị Như Hoa đã bảo vệ luận văn thạc sĩ Câu hỏi tu từ
trong thơ Chế Lan Viên Tác giả đã có sự phân biệt câu hỏi đích thực, câu hỏi
tu từ; thống kê, phân loại câu hỏi tu từ trong thơ Chế Lan Viên dựa vào kết cấu hình thức; nghiên cứu các tình thái của câu hỏi tu từ, từ đó phân tích giá trị thẩm mĩ của câu hỏi tu từ trong thơ Chế Lan Viên Năm 2014 Phạm Thị
Như Hoa phát triển thành luận án tiến sĩ theo lí thuyết ngữ dụng học: Hành
động ngôn ngữ qua câu hỏi tu từ trong thơ Chế Lan Viên và thơ Tố Hữu
2.3 Vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ thơ của Lưu Quang Vũ
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Lưu Quang Vũ là một nghệ sĩ đa tài mà tài năng nghệ thuật của ông đột ngột bị ngừng khá sớm Ra đi khi vừa tròn bốn mươi tuổi đời do một tai nạn giao thông, nhưng khối lượng sáng tác Lưu Quang Vũ để lại rất phong phú và vô cùng quý giá Với kịch, Christian
Hoche (Pháp) mệnh danh ông là: “Molie của Việt Nam” Nhà lí luận phê bình kịch Nguyễn Tất Thắng thì khẳng định: “Sự có mặt của Vũ đã làm mờ đi,
thậm chí làm vơi hẳn đi cả một lớp tác giả từng ngự trị sân khấu một thời”
Đặc biệt là thơ ca đã mang nặng tiếng lòng của ông với cuộc đời Đó cũng chính là nơi khởi hành cuộc đi tìm lớn nhất, mang ý nghĩa triết học sâu sắc về
sự khám phá cái tôi thi sĩ qua sự trải nghiệm đường đời xa thẳm và cũng là nơi hành hương lớn nhất: trở về bản thể thi sĩ của chính mình Với tất cả những ý nghĩa đó, thơ Lưu Quang Vũ đã vượt qua sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian, tìm được chỗ đứng riêng trong làng thơ Việt Cho đến nay, những trang viết của ông vẫn có sức cuốn hút mãnh liệt nhiều thế hệ độc giả
Làm nên sức mạnh trường tồn của thơ Lưu Quang Vũ, ngoài nội dung thẩm mĩ còn phải kể đến phương diện nghệ thuật Trong đó, ngôn ngữ và cách
sử dụng ngôn ngữ luôn được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất
Trang 12Từ trước tới nay, bên cạnh những bài viết của các nhà nghiên cứu, ngày càng
có nhiều khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Lưu Quang Vũ Có thể kể đến những công trình như:
Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ (Luận văn thạc sĩ của
Phạm Thị Thanh Tâm), Cảm hứng thế sự và đời tư trong thơ Lưu Quang Vũ (Luận văn cao học của Phạm Thị Minh Huệ), Thơ tình Lưu Quang Vũ (Luận văn thạc sĩ của Lương Ngọc Thúy), Đặc sắc thơ Lưu Quang Vũ (Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Kim Chi), Phong cách nghệ thuật thơ Lưu Quang Vũ
(Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Thủy), v.v
Trong những công trình trên, hầu hết những phương diện trong thơ Lưu Quang Vũ đều đã được xem xét tới, trong đó có phương diện nghệ thuật Các
tác giả đều nhấn mạnh vào tính biểu tượng, nhắc đến biểu tượng nghệ thuật
như một nhân tố quan trọng góp phần định hình phong cách thơ Lưu Quang
Vũ Riêng nghiên cứu về ngôn ngữ thơ của Lưu Quang Vũ thì hầu như không đáng kể Cho đến nay mới có luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Hoài nghiên cứu
về Ẩn dụ tri nhận trong thơ Lưu Quang Vũ (2013) mà thôi
Riêng vấn đề câu hỏi tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ được xem xét như một đặc điểm nghệ thuật biểu hiện phong cách nghệ thuật của thơ ông thì chưa có công trình nghiên cứu nào Do vậy, luận văn của chúng tôi đã chọn
đề tài Câu hỏi tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ nhằm khám phá một nét quan
trọng để xác định phong cách thơ ông
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là toàn bộ hệ thống câu hỏi tu từ
trong thơ Lưu Quang Vũ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các kết cấu hình thức, ngữ cảnh xuất hiện cùng với các ý nghĩa tình thái tu từ của câu hỏi tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ Nguồn tư liệu chủ yếu là các tập thơ của Lưu Quang Vũ đã được
Trang 13xuất bản dựa trên nguồn tư liệu chính là Lưu Quang Vũ- Gió và tình yêu thổi
trên đất nước tôi (NXB Hội nhà văn, 2014)
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu cách sử dụng sáng tạo một phương tiện tu từ vốn ít phổ biến trong thơ trữ tình của Lưu Quang Vũ - nhà thơ tiêu biểu trong thơ ca Việt Nam hiện đại
Để đạt mục đích trên, chúng tôi xác định các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân biệt, làm sáng tỏ hơn về các khái niệm câu hỏi đích thực hay chính danh, câu hỏi tu từ và quan niệm câu hỏi tu từ trong thơ trữ tình
- Khảo sát, thống kê, phân loại câu hỏi tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ dựa vào kết cấu hình thức, nghiên cứu các ý nghĩa tình thái và ý nghĩa tình thái tu từ, từ đó phân tích giá trị thẩm mĩ của câu hỏi tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ
- Phân tích tính đa tình thái và đa chức năng được thể hiện trong câu hỏi
tu từ của thơ Lưu Quang Vũ, từ đó tiếp cận một khía cạnh của một phong cách thơ độc đáo, có nhiều sáng tạo
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả: giúp miêu tả ngữ cảnh rộng/hẹp xuất hiện câu hỏi tu từ để nhận diện các kiểu câu hỏi tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ
- Phương pháp thống kê, phân loại: để tập hợp và phân loại các kiểu câu hỏi tu từ cùng với các ý nghĩa tình thái tu từ tương ứng của chúng
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần chính văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Câu hỏi tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ theo kết cấu hình thức Chương 3: Câu hỏi tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ theo ý nghĩa tình thái
tu từ trong ngữ cảnh sử dụng
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Câu hỏi đích thực (câu nghi vấn)
1.1.1 Khái niệm
Câu hỏi đích thực thường được gọi với nhiều tên khác nhau như: câu hỏi, câu nghi vấn, câu hỏi đích danh, câu hỏi dùng theo lối trực tiếp Theo Bùi
Đức Tịnh, câu hỏi đích thực dùng “để tỏ ý muốn biết một vật gì hay một điều
gì” [80, 154] Còn theo Nguyễn Kim Thản, “câu nghi vấn nhằm mục đích nêu lên sự hoài nghi của người nói và nói chung đòi người nghe tường thuật về đối tượng hay đặc trưng của đối tượng” [70, 254] Cao Xuân Hạo không định
nghĩa trực tiếp về câu hỏi đích thực mà cho rằng nó là câu “có dấu hiệu riêng
về tình thái hỏi” [35, 224] Đồng thời, tác giả cũng dựa vào dấu hiệu hình
thức chuyên dùng để chia thành 6 tiểu loại câu nghi vấn tương ứng với 6 hiệu
lực ở lời khác nhau Diệp Quang Ban lại cho rằng “câu nghi vấn thường dùng
để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi và chờ đợi sự trả lời, giải thích của người tiếp nhận câu đó; về mặt hình thức câu nghi vấn cũng có những dấu hiệu đặc trưng nhất định” [4,247] Trong đó, điều chưa biết gợi mở
những ý hàm ẩn, còn sự chờ đợi sẽ lôi kéo người đọc vào cuộc giao tiếp Ngoài ra, tác giả cũng phân biệt câu nghi vấn với câu trần thuật, câu cảm thán, câu cầu khiến theo tiêu chí về chức năng thông báo
Tổng hợp các quan niệm trên, có thể thấy, các tác giả đều thống nhất về đặc trưng của câu hỏi đích thực (câu nghi vấn) là:
- Về nội dung: câu hỏi đích thực dùng để nêu lên điều chưa biết và mong muốn nhận được sự giải thích hoặc trả lời
- Về hình thức: câu hỏi đích thực có những dấu hiệu chuyên dùng
Từ các đặc điểm riêng, câu nghi vấn đã được phân biệt với câu trần thuật
về dấu hiệu hình thức và phân biệt với câu cầu khiến, câu cảm thán ở tính đối thoại Mỗi câu nghi vấn được dùng đều mang sẵn trong mình tính có lí do, tức
là sự tồn tại của nó gắn liền với các nhân tố giao tiếp như: nhân vật giao tiếp
Trang 15ngữ cảnh, thông điệp, phương thức truyền tin,…
Theo Searle, điều kiện sử dụng hành vi hỏi phải đảm bảo 4 yêu cầu sau: (i) Điều kiện nội dung mệnh đề: tất cả các mệnh đề hay hàm mệnh đề; (ii) Điều kiện chuẩn bị: người hỏi không biết chính xác lời giải đáp; (iii) Điều kiện chân thành: người hỏi tự đặt giả thuyết rằng người được hỏi biết câu trả lời; (iv) Điều kiện căn bản: người hỏi cố gắng nhận được thông tin từ người được hỏi [dẫn theo 10, 119] Bốn điều kiện sử dụng mà Searle chỉ ra chính là
cơ sở để nhận biết một phát ngôn mang hình thức hỏi có phải là câu hỏi đích thực hay không
1.1.2 Phân loại câu hỏi (câu nghi vấn)
1.1.2.1 Câu hỏi được dùng theo lối trực tiếp
Câu hỏi được sử dụng để thực hiện hành động hỏi với tư cách là hành động ngôn ngữ trực tiếp được chúng tôi quy ước diễn đạt gọn là câu hỏi được dùng theo lối trực tiếp Đó là kiểu câu hỏi chính danh thực hiện hành động đúng với đích ở lời và điều kiện sử dụng của nó Như vậy, câu hỏi trực tiếp là loại câu hỏi nhằm mục đích nêu lên điều không biết hoặc sự hoài nghi của người nói (người phát) và đòi hỏi người nghe (người nhận) phải trả lời Nó được sử dụng để thực hiện các hành động ngôn ngữ trực tiếp
Loại câu hỏi sử dụng theo lối trực tiếp có mặt nhiều trong giao tiếp ngôn ngữ thường nhật, nhưng cũng xuất hiện ít nhiều trong thơ ca nghệ thuật Xét ngữ cảnh của câu hỏi dùng theo lối trực tiếp trong thơ thì có thể thấy rằng, thường sau câu hỏi trực tiếp là câu trả lời,ví dụ:
Nhiều đấy ư em, mấy tuổi rồi ?
- Hai mươi -
Ờ nhỉ tháng năm trôi
(Mẹ Tơm - Tố Hữu)
1.1.2.2 Câu hỏi được dùng theo lối gián tiếp
Câu hỏi được sử dụng để thực hiện hành động ngôn ngữ “hỏi” gián tiếp được chúng tôi diễn đạt vắn tắt là câu hỏi dùng theo lối hành động ngôn ngữ
Trang 16gián tiếp là loại câu hỏi có dấu hiệu hình thức hỏi nhưng lại nhằm tới đích ở lời của hành vi khác, tức là sử dụng hành động ngôn ngữ gián tiếp Câu hỏi gián tiếp tạo nên tính mơ hồ về nghĩa cho lời nói (đặc trưng của ngôn ngữ thơ ca) Để nhận ra nghĩa đích thực của câu hỏi gián tiếp, người nghe, người đọc phải dựa vào ngữ cảnh, thao tác suy ý và các quy tắc ngữ dụng học
Thông thường, các câu hỏi sử dụng theo lối gián tiếp khi đi vào thơ ca, ngôn ngữ nghệ thuật sẽ trở thành câu hỏi tu từ vì chúng đều là những câu hỏi nhằm để khẳng định ý kiến của người nói, ví dụ:
Ngẫm duyên kì ngộ xưa nay Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi Trương?
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
1.1.3 Các phương tiện ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi (câu nghi vấn)
Câu hỏi trong tiếng Việt thường sử dụng các phương tiện ngôn ngữ sau:
1.1.3.1 Câu hỏi sử dụng đại từ nghi vấn
Theo Diệp Quang Ban, “câu nghi vấn dùng đại từ nghi vấn được dùng
để hỏi vào những điểm xác định trong câu, điểm hỏi là điểm chứa các đại từ nghi vấn Do đó, ngay cả khi câu bị tách ra khỏi ngữ cảnh, điểm hỏi trong câu vẫn xác định, nếu câu được dùng để hỏi” [4, 213] Tức là điểm hỏi có sẵn
trong câu và không cần phụ thuộc vào ngữ cảnh để nhận biết nó
Có các kiểu đại từ nghi vấn trong câu hỏi như sau:
- Hỏi về người, vật, việc: ai, gì, nào
- Hỏi về số lượng và thứ tự: bao nhiêu, mấy
- Hỏi về thời gian: bao giờ, bao lâu, khi nào, chừng nào
- Hỏi về không gian: (ở) đâu, chỗ nào, hướng nào, phía nào, đằng nào
- Hỏi về tính chất và cách thức: như thế nào, thế nào, sao
- Hỏi về nguyên nhân: vì sao, tại sao, sao, do đâu, bởi đâu, vì cái gì
- Hỏi về điều kiện và mục đích: với điều kiện gì/nào, trong điều kiện
gì/nào, để làm gì, nhằm mục đích gì, vì mục đích gì
Trang 171.1.3.2 Câu hỏi sử dụng phó từ nghi vấn
Để tạo ra câu hỏi, tiếng Việt sử dụng các cặp phó từ làm thành các khuôn nghi vấn sau:
- Hỏi về tính khẳng định/tính phủ định: có… không (hoặc có không); có
phải không (hoặc có phải không)
- Hỏi về sự xảy ra/không còn xảy ra: đã… chưa
- Hỏi về tính hoàn thành/không hoàn thành: …xong (rồi)… chưa; …xong
chưa (chưa)
1.1.3.3 Câu hỏi sử dụng quan hệ từ lựa chọn
Quan hệ từ hay là quan hệ từ bình đẳng, nó được sử dụng trong câu nghi
vấn để hỏi có hạn chế trong khả năng trả lời bằng cách sử dụng một trong những đề nghị đã được người hỏi đưa ra Vì vậy, loại câu hỏi này cũng được gọi là câu nghi vấn lựa chọn
1.1.3.4 Câu hỏi sử dụng các tiểu từ chuyên dụng
Câu hỏi sử dụng các tiểu từ chuyên dụng, nếu không có các phương tiện tạo tính nghi vấn khác đi kèm thì điểm hỏi trong câu sẽ rất mơ hồ khi tách ra khỏi ngữ cảnh Vì vậy, kiểu câu này là câu nghi vấn không rõ trọng điểm
Các tiểu từ chuyên dụng được dùng trong câu nghi vấn như: à, ư, ạ, ạ,
hả, hử, hở, chứ, chớ, nhỉ,… Chúng thường kèm theo cả nghĩa tình thái, tức là
những sắc thái tình cảm tế nhị, ví dụ:
Bác lấy cái bút này à? (trung hòa)
Bác lấy cái bút này ư? (ngạc nhiên)
Bác lấy cái bút này ạ? (kính trọng)
Bác lấy cái bút này hả? (thân hữu hoặc suồng sã)
Bởi vậy, các tiểu từ nghi vấn thường được dùng trong thơ ca để biểu đạt cảm xúc, tình cảm của nhân vật trữ tình
Khi không có các phương tiện đánh dấu khác để phân biệt, thì ngữ điệu đặc thù cho câu hỏi là một ngữ điệu cao và sắc dành cho trọng điểm hỏi
1.1.4 Tiêu điểm hỏi
Trang 18Tiêu điểm hỏi là điểm nhấn mà người hỏi muốn nhận được thông tin từ người nghe Cùng một nội dung và hình thức, nhưng tiêu điểm hỏi trong một phát ngôn/diễn ngôn có thể khác nhau Khi người nghe không nhận ra được tiêu điểm hỏi, sẽ dẫn đến mơ hồ về nghĩa và có nhiều câu trả lời khác nhau cho một câu hỏi Do vậy, ngữ cảnh và ngữ điệu của phát ngôn là căn cứ để người nghe nhận ra tiêu điểm hỏi, ví dụ:
Ngữ cảnh 1: - Hôm trước bạn đi chơi với Lan à?
- Không, mình ở nhà mà!
Ngữ cảnh 2: - Hôm trước bạn đi chơi với Lan à?
- Bạn nói gì lạ thế, tớ đi chơi với em gái mà!
Ngữ cảnh 3: - Hôm trước anh đi chơi với Lan à?
- Tôi làm gì có bạn gái mà đi chơi!
Ba ngữ cảnh trên đều cùng một câu hỏi, nhưng câu trả lời lại theo ba hướng khác nhau do người nghe không nắm rõ được tiêu điểm hỏi Trong câu hỏi tu từ, khi nhận ra được tiêu điểm hỏi, sẽ dễ dàng nhận ra được tính tình thái trong câu hỏi đó
1.1.5 Tình thái hỏi
Tình thái là thái độ, tình cảm của người hỏi được biểu thị đối với sự việc hay trạng thái diễn đạt trong câu Theo Noam Chomsky, các kiểu câu được phân biệt theo tính tình thái Tình thái tường thuật, cầu khiến hay nghi vấn đều là tình thái bắt buộc và nó sẽ tạo ra các kiểu câu tương ứng [dẫn theo 56] Tình thái bắt buộc là yếu tố xác định kiểu câu Ngoài tình thái bắt buộc, còn
có thể có một tình thái khác, được gọi là tình thái tuỳ nghi Đó là các yếu tố thể hiện sự thừa nhận, phủ nhận, chủ động, bị động, nhấn mạnh, Trong câu hay phát ngôn, các phương tiện ngữ âm, từ vựng, hoặc ngữ pháp thường đảm nhiệm ý nghĩa tình thái
Phương tiện ngữ âm biểu đạt ý nghĩa tình thái được thể hiện qua ngữ điệu, sự nhấn mạnh vào tiêu điểm mà người nói cần chú ý để thể hiện thái độ tình cảm, hoặc yêu cầu của mình
Trang 19Phương tiện từ vựng biểu đạt ý nghĩa tình thái được thể hiện qua các
động từ tình thái (muốn, tưởng, định, dám, ); phó từ (đã, sẽ, đang, vẫn,
cứ, ); tiểu từ tình thái (à, ừ, nhỉ, a, thế, ạ, ); trợ từ (ngay, chính, cả, ); thán
từ (ôi, ối chà, chao ôi); và một số từ, tổ hợp từ chuyên dùng với ý nghĩa tình thái xuất hiện trên bậc câu (có lẽ, có thể, chắc chắn, )
Phương tiện ngữ pháp biểu đạt ý nghĩa tình thái được biểu hiện ở cách đảo trật tự từ, thay đổi cấu trúc câu nhằm thể hiện ý định của người nói qua điểm cần nhấn trong phát ngôn
Ngoài các dấu hiệu hình thức trên, ý nghĩa tình thái của một phát ngôn còn được nhận diện thông qua việc vi phạm các nguyên tắc sử dụng hành động ở lời
1.2 Câu hỏi tu từ
1.2.1 Khái niệm
Như đã trình bày, câu hỏi tu từ là kiểu câu có hình thức để hỏi nhưng được người nói sử dụng nhằm khẳng định hay phủ nhận một ý kiến, hiện tượng nào đó chứ không phải để nhận lại thông tin mình muốn biết Nói cách
khác, đây là câu hỏi “không chờ đợi sự trả lời” ở người nghe, người đọc
Câu hỏi tu từ được sử dụng nhằm mục đích khêu gợi trí tưởng tượng của người nghe hay cảm hứng của người nói Nói cách khác, câu hỏi tu từ được
sử dụng để làm tăng tính đối thoại của văn bản Nó có tác dụng kích thích người nghe, người đọc tham gia vào cuộc giao tiếp
Câu hỏi tu từ nếu được sử dụng đúng chỗ sẽ nâng cao cảm xúc của phát ngôn, thay đổi hơi văn, hài hoà âm điệu Nó được sử dụng trong văn bản nghệ thuật như biện pháp tu từ làm cho văn bản thêm sinh động, hấp dẫn, giàu tính gợi cảm, gợi tả
Câu hỏi tu từ xuất hiện trong thơ ca nhằm tăng tính cảm xúc, xuất hiện trong văn luận chiến làm tăng tính tranh biện, thuyết phục người nghe
Từ các khái niệm và đặc điểm trên, chúng tôi xin đề xuất định nghĩa riêng về câu hỏi tu từ để phục vụ đề tài như sau:
Trang 20Câu hỏi tu từ là loại câu hỏi đặc biệt, hàm chứa ý nghĩa hàm ẩn, thực hiện hành động ngôn ngữ gián tiếp nhằm hướng đến những đích ở lời gián tiếp thông và qua đó để tạo nên các tác động tâm lí khác với người tiếp nhận Trong thơ ca, câu hỏi tu từ là phương tiện nghệ thuật quan trọng tạo nên tính
mơ hồ về nghĩa, gợi cảm xúc và sự sáng tạo từ người đọc
1.2.2 Phân biệt câu hỏi tu từ trong các dạng văn bản
1.2.2.1 Câu hỏi tu từ trong văn bản chính luận
Câu hỏi tu từ thường được sử dụng đặc biệt trong văn luận chiến Nó được đặt ra như một thủ pháp khích lệ người nghe và hướng họ vào câu trả lời
đã được dự định trước của người nói Nhưng để đảm bảo tính khách quan, người nói không trực tiếp nêu ra câu trả lời mà lại sử dụng câu hỏi tu từ để người nghe tự nhận ra chân lí theo ý muốn của người nói Câu hỏi tu từ và thể văn luận chiến thường được các chính trị gia sử dụng nhiều trong tranh biện
Trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn đã sử dụng câu hỏi tu từ để khẳng
định những tấm gương anh hùng nghĩa sĩ và vực dậy tinh thần binh lính trong
hoàn cảnh hiện tại, khi đất nước lâm nguy: “Từ xưa các bậc trung thần nghĩa
sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh
sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được?” Câu hỏi “đời nào chẳng có?”
thực chất để khẳng định rằng các bậc nghĩa sĩ đời nào cũng có Còn câu hỏi
“sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ?” lại biểu thị ý
thúc giục, kích thích tinh thần ở các binh sĩ
Bác Hồ cũng từng dùng câu hỏi tu từ trong các diễn văn đọc ở Quốc hội
và ở lời kêu gọi: “Này, Tổng thống Giônxơn, ngươi hãy công khai trả lời
trước nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới: Ai đã phá hoại hiệp định Giơneve,
là hiệp nghị bảo đảm chủ quyền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam? Phải chăng, quân đội Việt Nam sang xâm lược nước Hoa Kỳ
và giết hại người Hoa Kỳ? Hay là Chính Phủ Mỹ đã đem quân đội Hoa Kỳ đến xâm lược Việt Nam và giết hại người Việt Nam?” Các câu hỏi liên tiếp
Trang 21được đưa ra không để chờ đợi sự trả lời mà để tuyên bố, khẳng định tội ác của
Mỹ đối với Việt Nam và tạo áp lực cho đối phương khi tiếp nhận diễn ngôn
1.2.2.2 Câu hỏi tu từ trong truyện kể
Truyện kể là loại hình tự sự, dấu ấn chủ quan của tác giả nhường chỗ cho tiếng nói khách quan của các hình tượng nhân vật Nói cách khác, trong truyện kể, hình tượng nhân vật đại diện cho tư tưởng chủ đề tác phẩm và qua
đó thể hiện lí tưởng, thẩm mĩ của tác giả Người kể truyện là nhân vật giấu mặt, thường để nhân vật trong tác phẩm lên tiếng để đảm bảo tính chân thực,
khách quan Nhà văn Balzac đã từng nói: “Không phải lỗi tại tôi, nếu nhân
vật nói ra và nói to đến thế” [dẫn theo 41] và chính ông cũng phải thừa nhận
rằng tác giả không chi phối được sự phát triển tính cách của nhân vật
Vì vậy, câu hỏi tu từ xuất hiện trong truyện kể có thể là lời của nhân vật trong đối thoại hoặc trong độc thoại nội tâm, cũng có thể là lời của tác giả, hoặc đôi khi là lời nhân vật hoà với lời tác giả
Câu hỏi tu từ trong lời đối thoại của nhân vật:
- Kẻ tội lỗi kia, ta biết tâm trạng ngươi Hoá ra ngươi tầm thường thế? Khi Chúa tạo ra loài người, Ngài đã biết thảm cảnh mà các ngươi sẽ trút lên đầu nhau Ngài đã kịp thời phái xuống những kẻ có tri thức để dẫn dắt đồng loại Cuộc đời trần thế các ngươi phàm tục, nhơ nhuốc lắm Kẻ có quyền bính
là bắt đầu tác hoạ Các ngươi khốn khổ vì các ngươi không bao giờ biết các ngươi là ai Người mà ngươi có sứ mệnh bảo trợ, bởi lẽ cao quý quá nên các ngươi không thấy Ngươi đáng tội bị chọc mù mắt Vả lại, thiếu người ấy, dù
có ở nơi Thiên Đường ngươi cũng sẽ trở nên buồn chán Ngươi nên quay về
là hơn
- Quay về với chiếc vực nhơ nhuốc?
- Thế ngươi tưởng ngươi thanh cao lắm đấy? Chấp nhận là con người, ngươi phải chịu mọi đầy đoạ thua thiệt Chúa chỉ tin những kẻ ngập ngụa trong bùn mà vẫn thơm lừng từ cốt cách
(Khúc dạo đầu - Tạ Duy Anh)
Trang 22Trong đoạn đối thoại trên, câu hỏi tu từ được các nhân vật dùng để chất vấn, mỉa mai lẫn nhau
Câu hỏi tu từ trong độc thoại nội tâm nhân vật: "Núp muốn chạy về làng
trước Làng không còn gì nữa, con heo, con gà, con trâu, hột lúa, đem vô chỗ
bí mật hết rồi Nhưng Núp không muốn cho nó đốt làng Từ ngày đánh Pháp đến nay, Núp đẫ dẫn làng Kông Hoa chạy chín lần, chín lần làm nhà mới, chín lần làng bị cháy Lần này nó đốt nữa? Không được, không cho nó đốt nữa! Núp chạy thẳng về làng Nhưng, tới nửa đường, dừng lại Giữ làng, bỏ rẫy à? Không được, phải giữ rẫy trước " (Đất nước đứng lên - Nguyên
Ngọc) Trong đoạn độc thoại này, nhân vật tự dùng câu hỏi tu từ để khích lệ, tìm hướng đi cho bản thân
Câu hỏi tu từ là lời của tác giả hoà với lời nhân vật: "Ồ! Thế này thì tức
thật! Tức chết đi mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn Nhưng cũng không ai ra điều Mẹ kiếp, thế thì có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này? A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo!" (Chí Phèo - Nam
Cao) Trong đoạn diễn ngôn này, các câu hỏi tu từ của tác giả và nhân vật hòa với nhau tạo nên lời than thân trách phận cay đắng, nhấn mạnh vào cảnh đường cùng của nhân vật
Câu hỏi tu từ là lời tác giả: "Lão Hạc ơi! Giờ thì tôi hiểu tại sao lão lại
không muốn bán con chó vàng của lão Lão chỉ còn một mình nó để làm khuây Vợ lão chết rồi Con lão đi bằn bặt Già rồi mà ngày cũng như đêm, chỉ thui thủi một mình thì ai chả phải buồn?" (Lão Hạc - Nam Cao) Câu hỏi
tu từ này như khẳng định chân lí, lẽ thường mà tác giả muốn đưa ra
Các câu hỏi trên đều là câu hỏi tu từ hướng tới đối tượng cụ thể, hoặc là người nghe hoặc chính bản thân mình Vì hướng tới một đối tượng cụ thể nên tính đối thoại của câu hỏi tu từ trong loại hình truyện kể rất nổi bật Câu hỏi tu
từ xuất hiện trong một diễn ngôn văn xuôi luôn đòi hỏi sự trả lời, hoặc bằng
Trang 23thái độ hoặc bằng lời nói Cơ chế nhận diện câu hỏi tu từ trong loại hình truyện kể rõ ràng hơn nhiều so với thơ ca Bởi ngữ cảnh tu từ bao chứa câu hỏi tu từ chứa đựng nhiều nhân tố khác nhau như tình huống giao tiếp, không gian, thời gian giao tiếp, đặc điểm tâm lý, tính cách của người nói, người nghe Thậm chí, nội dung tư tưởng của tác phẩm cũng là yếu tố giúp nhận diện giá trị đích thực của kiểu câu hỏi trong văn xuôi
1.2.2.3 Câu hỏi tu từ trong thơ trữ tình
Trữ tình mang đặc trưng là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc Thơ là nơi
để chủ thể trữ tình biểu đạt sự thăng hoa cảm xúc, tâm trạng Vì vậy, câu hỏi
tu từ trong thơ trữ tình thường là câu hỏi bộc lộ tình cảm Nhà thơ sử dụng câu hỏi tu từ để tự hỏi mình nhằm giãi bày tình cảm ở mức độ cao nhất những băn khoăn, những gợi nhớ, những điều trái ngược, ví dụ:
Áo đỏ em đi giữa phố đông Cây xanh như dõi ánh theo hồng
Em đi lửa cháy trong bao mắt Anh đứng thành tro em biết không?
(Áo đỏ - Vũ Quần Phương)
Nhân vật trữ tình trong bài thơ dùng câu hỏi tu từ để bộc lộ tình yêu lửa cháy trong lòng mình một cách tha thiết, đắm say Đối tượng “em” tuy được nhắc đến, nhưng câu hỏi rõ ràng không đặt ra cho “em”, mà lại là câu trả lời cho cú sét ái tình mang lại nỗi đam mê mãnh liệt và sự xốn xang trong tâm trạng của “anh”
Trong thơ trữ tình, nhân vật trữ tình - cái tôi trữ tình - tác giả thường hòa làm một Câu hỏi tu từ xuất hiện trong thơ chính là phát ngôn của tác giả - của nhân vật trữ tình Bởi vậy, câu hỏi tu từ cũng mang lại dấu ấn cá nhân, cảm xúc cá nhân Trong thơ trữ tình, người làm thơ phân thân dùng câu hỏi tu từ
để tự hỏi và tự trả lời hay nhắc nhở người đọc trả lời Đối tượng câu hỏi tu từ hướng tới thường chính là bản thân chủ thể Ngay cả khi câu hỏi tu từ hướng tới đối tượng khác thì cũng để diễn tả tâm trạng của chủ thể trữ tình:
Trang 24Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may
Áo em sơ ý cỏ găm đầy Lời yêu mỏng mảnh như làn khói
Ai biết lòng ai có đổi thay?
(Hoa cỏ may - Xuân Quỳnh)
Câu hỏi trữ tình hướng về “ai” nhưng lại thể hiện tâm trạng băn khoăn, ngờ vực của chủ thể trữ tình - “em” Đó là tâm trạng thường gặp ở một người đang yêu, luôn bất an về lòng thuỷ chung trong tình yêu Những tín hiệu
“em”, “ai”, “mình”, xuất hiện trong thơ trữ tình với tư cách là đối thể trữ tình Nhưng thực chất, đây chính là sự phân thân của chủ thể trữ tình Do đó, thơ trữ tình thường là thơ một giọng điệu, người đọc có thể gặp nhiều ý cảm xúc, nhưng đều thống nhất một giọng của chủ thể trữ tình
Các câu hỏi tu từ xuất hiện liên tiếp trong đoạn thơ sau ngầm biểu đạt những kí ức khác nhau trong mạch cảm xúc nuối tiếc thời tự do tung hoành của chúa sơn lâm:
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội Tiếng chim ca, giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm riêng phần bí mật?
Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu Ghét những cảnh không đời nào thay đổi Những cảnh sửa sang tầm thường giả dối Hoa chăm cỏ xén lối phẳng cây trồng
Trang 25(Nhớ rừng - Thế Lữ) Trong đoạn thơ trên, câu hỏi tu từ “Thời oanh liệt nay còn đâu?” có tác
dụng chuyển điệu cảm xúc Nó tổng hợp và khép lại hồi tưởng về quá khứ oai hùng của chúa sơn lâm, đồng thời đưa chúa sơn lâm trở về hiện tại giam cầm
và mở ra điệu cảm xúc ngao ngán, uất hận chán nản ở các dòng thơ dưới Tất
cả các điệu cảm xúc đó đều thống nhất trong giọng thơ tự vấn của nhân vật
“ta” Trong thơ trữ tình, không chỉ có dạng câu hỏi tu từ “không chờ đợi trả lời” mà còn có dạng “gợi ý trả lời” từ phía người hỏi, ví dụ:
Em không nghe mùa thu Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực Hình ảnh kẻ chinh phu Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu
Lá thu rơi xào xạc Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô?
(Tiếng thu - Lưu Trọng Lư)
Cách kết hợp bất thường trên trục ngữ đoạn của các câu hỏi cho thấy đây không phải là hành vi hỏi đích thực mà chính là cách tác giả gợi ý cho chính mình và cho độc giả rằng mùa thu đã về, về từ âm thanh rạo rực trong hồn vạn vật lẫn con người Có lẽ vì thế mà trong thơ trữ tình, nhiều khi câu hỏi bị lược mất dấu hỏi chấm Cơ sở nhận diện ra câu hỏi tu từ chính là ngữ cảnh tu
từ xung quanh Tuy nhiên, ngữ cảnh tu từ trong thơ không có nhiều yếu tố nhận biết như văn xuôi Ngữ cảnh tu từ xung quanh câu hỏi tu từ trong thơ là lời thơ đứng trước và sau câu hỏi tu từ, là giọng điệu bài thơ, là mạch cảm xúc, là âm hưởng thơ, Những yếu tố này đòi hỏi sự đồng cảm và cảm nhận tinh tế từ người đọc hơn là miêu tả dàn trải như trong văn xuôi
Tóm lại, thơ trữ tình, văn chính luận và truyện kể có đặc điểm nghệ thuật
Trang 26đặc trưng Vì vậy, tính chất của câu hỏi tu từ trong mỗi loại cũng không giống nhau Sự phân biệt câu hỏi tu từ trong các dạng văn bản trên đây nhằm mục đích tìm hiểu tính chất độc đáo của phương tiện tu từ này trong thơ trữ tình nói chung và trong thơ Lưu Quang Vũ nói riêng
1.3 Đặc trưng của câu hỏi tu từ trong thơ
Từ những bài viết về ngôn ngữ thơ của Trần Đình Sử trong cuốn Giáo
trình lí luận văn học tập 2 - Tác phẩm và thể loại văn học [65], ta có thể hiểu
về đặc trưng của câu hỏi tu từ trong thơ ca như sau:
- Thơ là sự biểu lộ tình cảm một cách mãnh liệt, nên câu hỏi tu từ trong thơ được dùng để biểu đạt cảm xúc chứ không phải để hỏi Vì cảm xúc trong thơ là cảm xúc đã được ý thức, siêu thăng Do vậy, câu hỏi tu từ được dùng như một phương tiện nghệ thuật để biểu đạt cảm xúc đã được ý thức hóa đó
- Thơ là nghệ thuật của trí tưởng tượng nên câu hỏi tu từ được dùng để xây dựng trường liên tưởng
- Tình cảm trong thơ mang tính cá thể nên câu hỏi tu từ để cá thể hóa, thể hiện cái tôi tác giả
- “Thơ không nói ở những điều nó viết ra, mà nói ở những chỗ trống
không viết ra” [65, 265], nên nó sử dụng câu hỏi tu từ để biểu đạt nhiều ý
nghĩa khác ngoài câu chữ, tạo nên chất thơ cho thơ
- Câu hỏi tu từ giúp tạo nên biểu tượng, ý tượng cho thơ, giúp thơ không
kể lể mà nắm bắt được những hình ảnh cô đọng, nổi bật nhất
- Câu hỏi tu từ trong thơ thể hiện cả nhịp điệu và tính phức hợp
- Câu hỏi tu từ trong thơ sử dụng nhiều phép tu từ và rất giàu nhạc tính
- Câu hỏi tu từ trong thơ mang tính hướng nội nhiều hơn, để bộc lộ nội tâm nhân vật trữ tình và giúp chủ thể trữ tình khám phá bản thân mình
- Câu hỏi tu từ trong thơ mang tính đa nghĩa, mơ hồ về nghĩa, để gợi nhiều liên tưởng, suy ngẫm cho người đọc
- Câu hỏi tu từ trong thơ cũng thể hiện quan niệm sống, nhân sinh quan của tác giả
Trang 271.4 Dấu hiệu nhận biết câu hỏi tu từ trong thơ
1.4.1 Dựa vào kết cấu diễn đạt
1.4.1.1 Kết cấu diễn đạt giống câu hỏi đích thực
(a) Kết cấu
- Dựa vào các đại từ nghi vấn: “gì”, “sao”, “nào”, “đâu”, ‘ai” ví dụ:
Cảnh cũng như người, chung mối hận Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai?
(Mai rụng - Lê Văn Bái)
- Dựa vào quan hệ từ lựa chọn “hay”, “hay là”, ví dụ:
Năm canh máu chảy đêm hè vắng Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ?
(Cuốc kêu cảm hứng - Nguyễn Khuyến)
- Dựa vào các cặp phó từ nghi vấn: “có không”, “có phải không”,
“đã chưa”, “rồi chưa”, “xong chưa” ví dụ:
Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông
Nó lại lôi ông đến giữa đồng Lấy của đánh người quân tệ nhỉ!
Thân già da cóc có đau không?
(Hỏi thăm quan tuần mất cắp - Nguyễn Khuyến)
(b) Dựa vào dấu “?”
Dấu “?” thường là hình thức dứt câu của câu hỏi thể hiện qua chữ viết:
Thương dấu xuân tàn, nghiêng giỏ hốt Thương xuân xuân hỡi, có thương người?
(Mai rụng - Lê Văn Bái)
1.4.1.2 Kết cấu diễn đạt khác câu hỏi đích thực
(a) Kết cấu
- Câu hỏi khuyết đại từ nghi vấn, ví dụ:
Trang 28Có ai nhớ đến giữa lòng tôi, Phong cảnh trăm năm, buồn vạn đời
Trong gió? Trong mây? Trong nắng ngả?
Từ đâu đưa lại tiếng chơi vơi!
(Nhớ mông lung - Xuân Diệu)
- Câu hỏi tỉnh lược một yếu tố trong cặp phó từ nghi vấn Các cặp phó từ nghi vấn có thể khuyết một thành phần ở đầu câu hoặc cuối câu, ví dụ: + (Có) X không?
Biết không em nỗi lòng anh khi đó?
Nó tơi bời đau đớn lắm em ơi!
(Đi đi em - Tố Hữu)
+ Có X (không)?
Mơ khách đường xa khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Mùa xuân nói gì trong vườn chuối
Mà nghe lá lật gió thâu đêm Mùa xuân nói gì trên cành bưởi Sáng ra hương đẫm cánh ong mềm
(Mùa xuân nói gì? - Phạm Công Trứ) 1.4.2 Dựa vào tính tình thái và biến đổi tình thái của câu hỏi tu từ
Câu hỏi tu từ là câu hỏi “không chờ đợi sự trả lời” Vì vậy, nó được sử dụng chủ yếu nhờ tính tình thái Nhờ vào tính tình thái và sự biến đổi tình thái của câu hỏi tu từ, người đọc có thể nhận diện ra nó Trong thơ ca, câu hỏi tu
Trang 29từ là một trong những biện pháp nghệ thuật làm cho lời văn, lời thơ thêm sinh động hấp dẫn Với tác giả, câu hỏi tu từ chính là phương tiện thể hiện tư tưởng tình cảm một cách kín đáo, ý nhị, khéo léo Về phía người đọc, câu hỏi
tu từ tạo nên vô vàn sự liên tưởng, mạch ngầm đối thoại và sức hút về một chiều sâu của tác phẩm Tình thái của câu hỏi tu từ rất phong phú và đa dạng Một câu hỏi tu từ có thể có nhiều tình thái khác nhau, nằm ở những tầng bậc khác nhau Nhiệm vụ của người đọc là phải khám phá tình thái đích thực của
nó ở tầng bậc sâu nhất Một số dạng tình thái thường gặp như sau:
- Dạng tình thái hỏi - khẳng định:
Em là ai?
Cô gái hay nàng tiên?
Em có tuổi hay em không có tuổi?
Mái tóc em đây là mây hay là suối?
Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm đông?
Thịt da em là sắt hay là đồng?
(Người con gái Việt Nam - Tố Hữu)
- Dạng tình thái hỏi - phủ định:
Gươm nào chém được dòng Bến Hải?
Lửa nào thiêu được dải Trường Sơn?
(Ba mươi năm đời ta có Đảng - Tố Hữu)
Câu hỏi tu từ trên là sự phủ định về khả năng chém được dòng Bến Hải
và thiêu được dải Trường Sơn, nhưng sâu hơn là lời ca ngợi tính thống nhất, đoàn kết và vững bền của non sông trước mọi sự tàn phá của kẻ thù
- Dạng hỏi - trách móc:
Buổi chợ đông sao em chẳng bán hàng
Để tan buổi chợ em dạo làng bán duyên?
(Ca dao)
1.4.3 Dựa vào ngữ cảnh
Trang 301.4.3.1 Ngữ cảnh ngôn ngữ
Ngữ cảnh là thuật ngữ phổ biến được dùng trong ngôn ngữ học hiện đại
và nghiên cứu văn học Nhiều chuyên ngành của ngôn ngữ học đã vận dụng
phương pháp phân tích ngữ cảnh Theo Từ điển bách khoa về ngôn ngữ và
ngôn ngữ học, “ngữ cảnh theo nghĩa rộng là những yếu tố tương thích của cấu trúc ngôn ngữ và phi ngôn ngữ ngoại vi trong mối quan hệ của một biểu đạt bằng lời đang được xem xét” [41] Còn theo Trần Đình Sử, “ngữ cảnh là toàn bộ những điều kiện quy định lời văn, ý nghĩa và giá trị của văn bản” [65,
62] Ngữ cảnh được phân chia làm hai loại là ngữ cảnh rộng và ngữ cảnh hẹp
1.4.3.2 Ngữ cảnh tu từ
Ngữ cảnh tu từ là “ngữ cảnh có cấu trúc hình tuyến (văn bản) được sắp
xếp theo một trật tự nhất định có quan hệ với những yếu tố ngoài ngôn ngữ (phi tuyến), có khả năng gợi lên ở người đọc những hình ảnh, cảm xúc, bổ sung vào lượng thông tin cơ bản và lý giải thông tin đó” [41]
Giống như ngữ cảnh ngôn ngữ, ngữ cảnh tu từ gồm hai loại: ngữ cảnh tu
từ hẹp (là yếu tố đứng trước hoặc sau một tiêu điểm tu từ đang xét) và ngữ cảnh tu từ rộng (là yếu tố có quan hệ tương thích với tiêu điểm tu từ như bối cảnh văn hóa - lịch sử, phong tục - tập quán, ) Ở đây, ngữ cảnh tu từ được hiểu là yếu tố tương thích liên quan đến câu hỏi tu từ Các yếu tố xung quanh một câu hỏi có hình thức hỏi chính là ngữ cảnh để nhận diện câu hỏi tu từ
Hôm qua em đi tỉnh về Đợi em ở mãi con đê đầu làng Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi!
Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân Nào đâu cái áo tứ thân Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?
(Chân quê - Nguyễn Bính)
Trang 31Bốn câu thơ đầu chính là ngữ cảnh hẹp của hai câu hỏi phía dưới Nó bộc lộ cảm xúc ngạc nhiên của chủ thể trữ tình trước sự thay đổi của nhân vật
“em” Vì vậy, câu hỏi phía dưới không phải đặt ra cho “em” mà là câu hỏi tu
từ nhân vật trữ tình đặt ra để tự hỏi mình, hồi tưởng về những hình ảnh thân thuộc và ước mong “em” trở về với nét đẹp xưa Đặt trong ngữ cảnh rộng là buổi giao thời, khi những giá trị văn hoá cổ truyền đang bị lung lay bởi ngọn gió phương Tây thì câu hỏi tu từ thể hiện sự lo lắng, nuối tiếc trước những giá trị đang đổi thay
1.4.4 Dựa vào hành động hỏi
Trong giao tiếp, vì lí do nào đó, người nói lại sử dụng trên bề mặt hành động ở lời này để đạt tới hiệu quả ở lời của một hành động khác, được gọi là hành động ngôn ngữ gián tiếp Trong thơ ca cũng vậy, nhiều câu hỏi không được tác giả sử dụng nhằm đạt tới đích ở lời để hỏi mà chỉ để thực hiện các đích ở lời khác Khi đó, nó trở thành câu hỏi tu từ Như vậy, căn cứ vào hành
vi hỏi chúng ta có thể nhận diện ra câu hỏi tu từ
- Hỏi để tăng tính biểu cảm:
Đưa người ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
(Tống biệt hành - Thâm Tâm)
Câu hỏi 2 và 4 không được đặt ra để lí giải vì sao có “tiếng sóng ở trong long” và “hoàng hôn trong mắt trong” mà để bộc lộ nỗi niềm buồn thương của người đi kẻ ở Câu thơ 1 và 3 là ngữ cảnh của buổi tiễn đưa
- Hỏi để phủ nhận:
Thơ em liệu có ích không?
Chẳng no anh buổi chiều đông đói lòng Chẳng thay được tấm áo bông Chẳng tươi đẹp tựa đoá hồng anh ưa
Trang 32Thì thôi em giã từ thơ
Dở dang đứt gánh toan lo đời thường
(Thơ viết cho mình - Trần Thị Mỹ Hạnh)
Câu hỏi ở đầu đoạn thơ đã bộc lộ nỗi niềm băn khoăn của chủ thể về giá trị của thơ ca trong mối tương quan với các giá trị khác của đời thường Các câu thơ tiếp theo đã gián tiếp trả lời cho câu hỏi đó Câu hỏi tu từ ở đây có vai trò triển khai mạch cảm xúc của tác giả và cũng để nêu ra yêu cầu về thơ phải hay hơn, cao hơn đời thường
- Hỏi để gợi ý cho độc giả:
Trong đầm gì đẹp bằng sen?
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
(Ca dao) Câu hỏi 1 là câu hỏi tu từ nhằm so sánh về giá trị vẻ đẹp của hoa sen giữa đầm lầy Xét trong ngữ cảnh rộng, người Việt quan niệm bông sen luôn tượng trưng cho vẻ đẹp cao quý thanh khiết Cách kết hợp trên trục hình tuyến
và trên bình diện liên văn bản cho thấy câu hỏi 1 không phải là hành vi hỏi đích thực mà nhằm gợi ý cho mọi người thấy được vẻ đẹp cao khiết, tuyệt vời của bông hoa sen
Trang 33nhiên là đan sàng được Vi vậy, câu hỏi của chàng trai đã hàm ý sự trả lời Nó chính là câu hỏi tu từ mang nội dung cầu hôn Đáp trả câu hỏi của chàng trai,
cô gái trả lời bằng một câu hỏi, vi phạm nguyên tắc hội thoại thông thường
Sự vi phạm này đã chỉ dẫn cho người đọc nhận biết câu hỏi tu từ này là chấp nhận lời bày tỏ của chàng trai
1.5 Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã trình bày các cơ sở lí thuyết có liên quan đến đề tài:
Về câu hỏi đích thực (câu nghi vấn), sau khi tổng hợp các quan điểm, chúng tôi chỉ ra, đó là loại câu được dùng để nêu lên điều chưa biết và mong muốn nhận được sự giải thích hoặc trả lời và có những dấu hiệu chuyên dùng Câu hỏi đích thực bao gồm loại câu hỏi được dùng theo lối trực tiếp và được dùng theo lối gián tiếp Nó sử dụng các phương tiện ngôn ngữ như: đại từ nghi vấn, phó từ nghi vấn, quan hệ từ lựa chọn, tiểu từ chuyên dụng, tiêu điểm hỏi và tình thái hỏi
Về câu hỏi tu từ, sau khi tổng hợp các khái niệm chúng tôi đề xuất định nghĩa riêng để phục vụ đề tài nghiên cứu: Câu hỏi tu từ là loại câu hỏi đặc biệt, hàm chứa ý nghĩa hàm ẩn, thực hiện hành động ngôn ngữ gián tiếp nhằm hướng đến những đích ở lời gián tiếp thông và qua đó để tạo nên các tác động tâm lí khác với người tiếp nhận Trong thơ ca, câu hỏi tu từ là phương tiện nghệ thuật quan trọng tạo nên tính mơ hồ về nghĩa, gợi cảm xúc và sự sáng tạo từ người đọc
Tiếp đó, chúng tôi trình bày đặc trưng của câu hỏi tu từ trong các dạng văn bản, nhấn mạnh vào thể loại trữ tình Chúng tôi cũng chỉ ra đặc trưng của câu hỏi tu từ trong thơ ca và cách nhận biết chúng (dựa vào kết cấu diễn đạt, ngữ cảnh ngôn ngữ, hành động nói và các cơ sở khác) Từ đây, chúng tôi có được hệ thống lí luận vững chắc để tìm hiểu về câu hỏi tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ
Trang 34CHƯƠNG 2: CÂU HỎI TU TỪ TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ XÉT
THEO KẾT CẤU HÌNH THỨC
Trong điều kiện giới hạn, chúng tôi đã khảo sát 131 bài thơ của Lưu
Quang Vũ được in trong cuốn Lưu Quang Vũ - Gió và tình yêu thổi trên đất
nước tôi (tuyển thơ) Qua đó, chúng tôi thống kê được 194 câu hỏi tu từ xuất
hiện trong 78/131 bài thơ (chiếm 59,54%) Và trung bình, mỗi bài thơ được thống kê (trong số 78 bài) có ít nhất 2 câu hỏi tu từ Đây là một con số khá lớn, cho thấy câu hỏi tu từ là phương tiện nghệ thuật quan trọng trong thơ Lưu Quang Vũ và được tác giả sử dụng với nhiều ý đồ nghệ thuật khác nhau Câu hỏi tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ nhìn chung đều có sử dụng các kết cấu nghi vấn như: đại từ nghi vấn; cặp phó từ nghi vấn; quan hệ từ lựa chọn “hay”; các tiểu từ nghi vấn chuyên dụng Các kết cấu nghi vấn này khi
đi vào thơ Lưu Quang Vũ đã tạo nên những ý nghĩa khác biệt
2.1 Câu hỏi tu từ sử dụng đại từ nghi vấn
Đại từ nghi vấn được sử dụng nhiều nhất trong câu hỏi tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ, nhưng lại không phân bố đồng đều ở từng nhóm từ Câu hỏi
tu từ chứa đại từ nghi vấn về người (ai), đối tượng (vật/việc - gì, nào), nguyên nhân (sao), không gian (đâu) chiếm số lượng nhiều hơn cả
2.1.1 Đại từ nghi vấn “đâu”
Đại từ nghi vấn “đâu” thường dùng trong những câu hỏi về không gian, phương hướng Chúng tôi thống kê được 28/194 câu hỏi tu từ sử dụng đại từ nghi vấn “đâu”
- “Đâu” + (P) (P = nội dung mệnh đề):
Đâu những tối mẹ ngồi khâu lại áo
Khi bên thềm xào xạc gió heo may
(Áo)
Đâu em miền đất xa xăm Đâu em khoảng trời thăm thẳm
Trang 35(Vẫn thơ tình viết về một người đàn bà không có tên)
Đâu mùa đông điệp nở hoa
(Những đứa trẻ buồn)
Với dạng kết cấu này, đại từ “đâu” không dùng để xác định sự vật, sự việc hay tính chất của các yếu tố đứng sau mà thể hiện tình thái bác bỏ hoặc biểu đạt nỗi nhớ, hoài niệm trong vô vọng của chủ thể trữ tình
- (P) + “đâu”:
Đất nước đánh thù đường trăm ngả
Các anh đi về đâu?
(Gửi tới các anh)
Em ở đâu, em ngủ phương nào?
(Bầy ong trong đêm sâu)
Giờ đây em ở đâu?
(Viết cho em từ cửa biển)
Con tàu đêm nay đi về đâu
(Viết cho em từ cửa biển)
Bàn tay em mát lạnh Bây giờ đâu?
(Lý thương nhau)
Anh không còn nắm nữa Bây giờ đâu?
(Lý thương nhau)
Bây giờ các em đâu?
Khu nhà đầy tiếng gió
(Khu nhà vắng trẻ con)
Em ơi ngày ấy em đâu?
(Em - tình yêu trong những năm đau xót và hi vọng)
Bây giờ ăn cỏ nơi đâu?
Trang 36(Đất nước đàn bầu)
Nhân dân đi về đâu?
(Trung Hoa)
Đi một mình im lặng Giờ cha đang ở đâu
(Buổi chiều ấy) Ngày đó em đâu? Mùa đông ấy mưa phùn
(Nửa đêm tới thành phố lạ gặp mưa)
Em vuốt nước mưa chảy ròng trên mặt Ngoảnh đầu nhìn về đâu?
(Mưa dữ dội trên đường phố trên mái nhà)
Em ở đâu? Bao năm tháng qua rồi
(Thơ tình viết về một người đàn bà không có tên III)
Buổi sớm em đi đâu?
(Những ngày hè cuối)
Em ở đâu? Một thành phố xa xôi
(Cho Quỳnh những ngày xa)
Bây giờ em ở đâu
Cô gái nghèo của bến tàu
(Hoa cẩm chướng trong mưa)
Con đường về nơi ấy biết đâu
(Em vắng)
Với kết cấu này, đại từ “đâu” không nhằm mục đích xác định phương hướng mà thể hiện sự tìm kiếm của chủ thể trữ tình giữa bế tắc, lạc lối, vô vọng Sự tìm kiếm này rất đa dạng, có thể là tìm kiếm tương lai, tìm kiếm hi vọng, tìm kiếm lối đi, tìm kiếm người thương, hoặc tìm kiếm lí tưởng, hoài bão Nó thể hiện rõ nét tâm hồn, nhân cách của Lưu Quang Vũ, luôn đau đáu quan tâm, lo lắng đến mọi biến đổi, hoàn cảnh của thế thái nhân tình, của đất nước, nhân dân Đặc biệt, nhà thơ lúc nào cũng lo và nghĩ đến “em” (ở đâu, đi
Trang 37đâu, về đâu), thể hiện một tình yêu lúc nào cũng nồng cháy, thiết tha
- (P) + “đâu” + (P):
Em đi đâu đêm nay
(Những tuổi thơ)
Sẽ ở đâu, bài hát ấy của anh
(Bài hát ấy vẫn còn dang dở)
Từ đâu từ bao giờ Năm 60 năm 54?
2.1.2 Đại từ nghi vấn “sao”
Đại từ nghi vấn “sao” thường dùng trong các câu hỏi về nguyên nhân, cách thức Chúng tôi thống kê được 28 câu hỏi tu từ sử dụng “sao”
- (P) + “sao” + thán từ:
Áo em ướt để anh buồn khóc mãi Ngày mai chúng mình ra sao em ơi?
(Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa)
Trong câu thơ này, đại từ “sao” kết hợp cùng thán từ “ơi” không chỉ để hỏi, mà còn thể hiện sự lo sợ, tha thiết
- (P) + “sao” + động từ:
Anh đợi chờ em, không đợi sao đành?
Trang 38(Bầy ong trong đêm sâu) Chiếc ghế quen, sao em không ngồi xuống
(Tháng 5 - 1975)
- (P) + “sao” + tính từ:
Em ẩn hiện sao còn xa lạ thế
(Lá thu)
- “sao”, “tại sao” + (P):
Tại sao cây táo lại nở hoa?
Sao rãnh nước trong veo đến thế?
(Phố ta) Sao em chẳng cùng anh ra cửa biển
(Viết cho em từ cửa biển)
Đi tìm nhau suốt đời
Sao bây giờ mới gặp
(Lá thu) Tại sao em lại yêu anh
(Một bài thơ) Sao ngày xưa ta chẳng đến cùng nhau
(Gửi Hiền mùa đông) Sao bà hát những lời da diết
(Đất nước đàn bầu) Sao em muốn anh quên nhanh chóng thế
(Từ biệt) Sao em còn dặn chi hoài?
(Mắt một mí) Sao suốt chiều anh cứ đợi mong em?
(Chiều chuyển gió) Sao chân em giẫm đạp
Lên những gì tôi yêu?
Trang 39(Ngã tư tháng Chạp)
Ở đâu cũng có con người
Sao chưa tìm được cách nào
Sống với nhau cho ổn thỏa?
(Hoa cẩm chướng trong mưa)
Đại từ nghi vấn “sao” và “tại sao” trong các câu thơ trên không dùng để hỏi mà diễn đạt rất nhiều tình thái ý nghĩa và hành động ngôn ngữ khác nhau như mời gọi, rủ rê, bất ngờ, trách cứ, băn khoăn Các hành động này được thực hiện gián tiếp nhưng lại là hành động chính để hướng tới đích của câu hỏi tu từ
- “làm sao” + (P):
Sông rộng thế làm sao sang được?
(Nói với con cuối năm)
Em đi rồi, Anh làm sao sống như xưa nữa?
(Dù cỏ lãng quên) Làm sao nói được lên lời
(Viết cho em từ cửa biển)
Đã trót thương em
Làm sao xa được
(Lý thương nhau) Làm sao người biết đường về
(Những ngọn nến) Làm sao có thể trở về
Trang 40Ở kiểu kết hợp này, yếu tố nghi vấn “làm sao” mang chức năng cảm thán, biến câu hỏi tu từ thành lời than vãn, nỉ non Và nguyên cớ cho sự than vãn đã nằm ngay ở nội dung mệnh đề phía sau từ “làm sao” đó
- (P) + “hay sao”:
Anh chẳng mang cho đời những tiệc vui ảo ảnh
Nỗi buồn chân thành đời chẳng nhận hay sao?
(Anh đã mất chi anh đã được gì)
Giết chóc thế còn chưa đủ Các người điên cả hay sao?
(Em II)
Kiểu kết cấu này được dùng để thể hiện sự trách cứ, uất hận của chủ thể trước cuộc đời và quân giặc
- (P) + “ra sao”:
Trong buổi chiều tuyệt vọng ra đi
Sẽ ra sao? Không cách nào cứu vãn
(Viết cho một câu chuyện cũ)
Vừa mong vừa sợ hãi Gặp nhau, rồi ra sao?
(Em sang bên kia sông)
Từ “ra sao” trong các kết cấu trên không phải để hỏi mà diễn đạt trạng thái vô vọng hay hồi hộp của chủ thể trữ tình
Ở một số trường hợp, đại từ nghi vấn “sao” được thay bằng “đâu”, nhưng vẫn hỏi về cách thức chứ không phải không gian Cách thay thế này giúp câu thơ trở nên tha thiết, mềm mại hơn
Nghĩa lí sao, tại đâu lại thế