------ ĐẶC ĐIỂM HÀNH ĐỘNG TÁI HIỆN VÀ HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN TRONG VĂN BẢN BÁO CÁO, CÔNG VĂN, CHỈ THỊ CỦA HUYỆN ỦY AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN Chuyên ngà
Trang 1- -
ĐẶC ĐIỂM HÀNH ĐỘNG TÁI HIỆN VÀ HÀNH ĐỘNG
CẦU KHIẾN TRONG VĂN BẢN BÁO CÁO, CÔNG VĂN, CHỈ THỊ
CỦA HUYỆN ỦY AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thuận
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
HẢI PHÒNG, NĂM 2017
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 21 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn bản hành chính (VBHC) là loại văn bản được hình thành trong hoạt động quản lý và lãnh đạo, là phương tiện để ghi lại và truyền đạt các quyết định quản lý hoặc các thông tin cần thiết hình thành trong quá trình quản lý VBHC có hai đặc điểm, đó là phương tiện quan trọng để ghi lại và truyền đạt các quyết định quản lý hoặc thông tin cần thiết được hình thành trong quá trình quản lý và là phương tiện để điều chỉnh những quan hệ xã hội thuộc phạm vi quản lý nhà nước
Ngôn ngữ của VBHC sử dụng các phương tiện ngôn ngữ chuẩn mực
Đó là công cụ giao tiếp chủ yếu trong các cơ quan nhà nước và giữa các cơ quan nhà nước với công dân hoặc giữa công dân với nhà nước Ngôn ngữ của VBHC tồn tại chủ yếu ở dạng viết và được thể hiện trong các văn bản công văn, chỉ thị, báo cáo, thông báo,…
Ngữ dụng học là một chuyên ngành mới của Ngôn ngữ học, là ngành nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình sử dụng và quan hệ với ngữ cảnh Một trong những vấn đề trung tâm của ngữ dụng học là hành động nói Việc nghiên cứu tiếng Việt dưới góc độ sử dụng ngôn ngữ trong thực tế đã được quan tâm từ nhiều thập kỷ nay và sớm trở thành một ngành nghiên cứu khoa học Theo sự phân loại hành động ngôn ngữ của Searle, có 5 hành động nói,
đó là: hành động tái hiện (biểu hiện), hành động cầu khiến (điều khiển), hành động kết ước, hành động bộc lộ và hành động tuyên bố
Trong VBHC có 2 nhóm hành động nói chủ đạo là hành động tái hiện (HĐTH) và hành động cầu khiến (HĐCK) HĐTH là hành động mà người phát ngôn mô tả lại sự việc để người tiếp nhận nắm bắt được thông tin nhất định về người hay sự vật, sự việc, hiện tượng được nói đến HĐCK là hành động mà người phát ngôn mong muốn người nghe thực hiện hành động nào đó
Trang 3Do vậy, trong VBHC, hai hành động nói này rất quan trọng, nó góp phần giúp người tiếp nhận có cái nhìn đầy đủ, cụ thể về sự việc được nói đến cũng như hiểu rõ mong muốn, yêu cầu của cấp trên, làm tăng hiệu lực và hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành
1.2 Bản thân làm công tác văn phòng cấp ủy cấp huyện, với chức năng nhiệm vụ tham mưu soạn thảo các văn bản phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Thường trực, Ban Thường vụ Huyện ủy, do vậy, việc nghiên cứu đặc điểm của hai hành động chủ đạo là hành động tái hiện và hành động cầu khiến trong các văn bản của Huyện ủy An Dương có ý nghĩa rất thiết thực đối với tác giả đề tài, giúp nâng cao kiến thức về VBHC nói chung và đặc điểm của hai hành động này nói riêng, góp phần soạn thảo, biên tập các văn bản một cách chuẩn xác Đồng thời, còn góp thêm một tiếng nói tìm hiểu về văn phong hành chính, góp phần khắc họa sâu hơn phong cách và chức năng của ngôn ngữ
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã tăng cường chỉ đạo thực hiện chính sách cải cách hành chính, trong đó cải cách về VBHC cũng là một trong những nhiệm vụ được đặt ra nhằm đáp ứng yêu cầu cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp chính quyền Qua đó đã có nhiều công trình, tác phẩm, sách báo nghiên cứu về văn bản hành chính và soạn thảo văn bản hành chính nói chung
- Về ngôn ngữ hành chính: Nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ trong VBHC nói chung đã được nhiều tác giả đề cập đến
cứu về các VBHC tương đối kỹ lưỡng Trong tài liệu này, các VBHC được xem xét trong mối quan hệ với pháp lý, quyền hạn, nhiệm vụ và công tác soạn thảo
Trang 4Tác giả Bùi Khắc Viện [36] đã khái quát các đặc điểm ngôn ngữ của phong cách hành chính song chủ yếu là để thực hành
Bên cạnh đó, các tác giả Tạ Hữu Ánh [1], tác giả Trần Hà [13], tác giả Lưu Kiếm Thanh [30] đã đề cập đến đặc điểm và cách thức soạn thảo VBHC nói chung
Tác giả Đinh Trọng Lạc [20] đã đề cập đến các chức năng ngôn ngữ trong đó có ngôn ngữ hành chính
- Về các hành động nói trong VBHC, tác giả Vũ Ngọc Hoa [14] đã khái quát những đặc điểm của hành động cầu khiến và phân loại các hành động cầu khiến trong VBHC nói chung
Tác giả Vũ Thị Sao Chi và Đỗ Thị Thanh Nga [9] đã chỉ ra các đặc điểm
cơ bản của HĐTH trong các VBHC
Qua các công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy, nội dung chính mà các công trình nêu ra đều đề cập đến đặc điểm ngôn ngữ trong VBHC nói chung
Điểm lại các công trình nghiên cứu, có thể thấy tính đến thời điểm này, chưa có bất kỳ một công trình nghiên cứu nào đề cập đến hành động tái hiện
và hành động cầu khiến trong văn bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị của Huyện
ủy An Dương, thành phố Hải Phòng
Do vậy, trên cơ sở kế thừa và phát huy các thành tựu đó, Luận văn xin nghiên cứu đặc điểm hành động tái hiện và hành động cầu khiến trong văn
bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị của Huyện ủy An Dương, thành phố Hải
Phòng với mong muốn hiểu rõ hơn về hai hành động này, giúp cho việc sử dụng chuẩn xác các hành động ngôn ngữ để phát huy tối đa hiệu quả trong giao tiếp nói chung và trong văn phong hành chính nói riêng
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở xem xét và tổng kết các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, chúng tôi muốn làm sáng tỏ thêm một số khía cạnh của lý thuyết liên quan
Trang 5đến HĐTH và HĐCK trong Báo cáo, Công văn, Chỉ thị nói chung và của
Huyện ủy An Dương nói riêng Đồng thời, để từ đó nâng cao kỹ năng soạn thảo và xử lý các thể loại văn bản này tại cơ quan
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài cần giải quyết được ba nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tìm hiều cơ sở lý luận của đề tài,
- Tìm hiểu đặc điểm hành động tái hiện trong văn bản Báo cáo,
Công văn, Chỉ thị của Huyện ủy An Dương, thành phố Hải Phòng,
- Tìm hiểu đặc điểm hành động cầu khiến trong văn bản Báo cáo,
Công văn, Chỉ thị của Huyện ủy An Dương, thành phố Hải Phòng
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là hành động tái hiện và hành
thành phố Hải Phòng
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Việc nghiên cứu HĐTH và HĐCK trong Báo cáo, Công văn, Chỉ thị
của Huyện ủy An Dương là một nhiệm vụ phức tạp đòi hỏi nhiều thời gian và khó tránh khỏi sơ lược Để giảm thiểu những hạn chế và để cho việc nghiên cứu được diễn ra thuận lợi, dễ dàng, Luận văn chỉ chọn xem xét hành động tái hiện và hành động cầu khiến trong 186 văn bản (bao gồm 50 Báo cáo, 112 Công văn và 24 Chỉ thị) thuộc khóa XVI (nhiệm kỳ 2010 - 2015) của Huyện
ủy An Dương, thành phố Hải Phòng
Trang 66 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ được đặt ra trong đề tài nghiên cứu, Luận văn
đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả: dùng để miêu tả các đặc điểm của hành động tái hiện và hành động cầu khiến trong Báo cáo, Công văn, Chỉ thị của Huyện
ủy An Dương, thành phố Hải Phòng
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: dùng để phân tích các phát ngôn sử
dụng hành động tái hiện và hành động cầu khiến trong các văn bản Báo cáo,
Công văn, Chỉ thị của Huyện ủy An Dương, thành phố Hải Phòng để khái
quát thành các đặc điểm của hai hành động này
- Thủ pháp thống kê, phân tích, tổng hợp: được sử dụng để phân tích,
xử lý thông tin tìm được và tổng hợp thành kiến thức chung nhất
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm
3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài,
Chương 2: Đặc điểm của hành động tái hiện trong văn bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị của Huyện ủy An Dương, thành phố Hải Phòng,
Chương 3: Đặc điểm của hành động cầu khiến trong văn bản Báo cáo,
Công văn, Chỉ thị của Huyện ủy An Dương, thành phố Hải Phòng
Trang 7Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm hành động nói
Thuật ngữ “Hành động nói” (HĐN) hay còn có cách gọi khác là hành vi ngôn ngữ, hành động ngôn ngữ là một thuật ngữ nằm trong hệ thống lý thuyết tương ứng có tên là Lý thuyết hành động nói do L Austin - nhà triết học người Anh khởi xướng Đây là một thuật ngữ mấu chốt và mới mẻ mở ra hướng nghiên cứu về cách sử dụng ngôn ngữ, đó là Dụng học - là ngành chuyên nghiên cứu về cách sử dụng ngôn ngữ
Theo Austin, nói năng cũng là một loại hành động và nó cũng tác động được đến người nghe (kể cả người nghe là chính bản thân người nói, như khi người nói tự vấn lương tâm) Hành động xuất hiện rõ nhất là trong hội thoại, khi người này giao tiếp với người kia Theo tác giả Diệp Quang Ban, HĐN là
“một hành động được thực hiện trong việc nói ra một cái gì đó, như tạo một lời hứa, nêu một câu hỏi, đặt một cái tên” [3, tr.89]
Việc nghiên cứu HĐN xuất phát từ chỗ toàn bộ sự giao tiếp bằng ngôn ngữ bao gồm trong các hành động bằng ngôn ngữ Các từ và các câu không phải là các đơn vị của sự giao tiếp, chúng chỉ là các biểu trưng được tạo ra để thực hiện các HĐN, các biểu trưng bằng từ và câu dùng để thể hiện HĐN được gọi là thông điệp Hay nói cách khác thì thông điệp là từ và câu được sản xuất ra trong những điều kiện nhất định để biểu thị HĐN
Các điều kiện sử dụng ngôn ngữ giúp phân biệt trường hợp là HĐN với trường hợp không cần HĐN và trường hợp không phải là HĐN Các nhà nghiên cứu hội thoại đã nêu bốn trường hợp sau đây:
(1) Thực hiện HĐN bằng phương tiện ngôn ngữ tường minh, như lời hứa, lời sai khiến, lời chào,
Trang 8(2) Thực hiện HĐN bằng phương tiện kèm ngôn ngữ, như gật đầu, lắc đầu, mở to mắt, tạo hàm ý hội thoại bằng một quãng im lặng gắn được, tất cả những hiện tượng này đều mang một giá trị diễn đạt nào đó và người nhận thông thường cũng nhận biết được giá trị đó
(3) Trong quá trình trao đáp, một bên nào đó có thể ngầm đánh giá, ngầm đoán định, ngầm kết luận, mà không cần nói ra, thì những ý nghĩ đó không cần đến HĐN, thậm chí không cần đến HĐN bên trong
(4) Việc sắp xếp công việc (việc gì, làm lúc nào), phân loại đồ vật, mà không cần đến ngôn ngữ thì không phải là HĐN
Trong bốn trường hợp trên, trường hợp thứ nhất và thứ hai là có dùng HĐN, trong đó HĐN của trường hợp thứ hai coi như thuộc “bên trong” vì không được nói ra bằng lời mà dùng cử chỉ, điệu bộ và dùng hàm ý hội thoại Trường hợp thứ ba không cần dùng đến HĐN Trường hợp thứ tư không phải
là HĐN, nó chỉ là HĐN khi được nói ra bằng lời Như vậy, HĐN ở đây chỉ là một tiềm năng, chưa được thực hiện, nên nó không được tính vào HĐN
1.2 Các điều kiện thực hiện hành động nói
1.2.1 Điều kiện về nội dung mệnh đề
Nội dung mệnh đề (NDMĐ) là phần nghĩa chỉ sự việc có thể xét được theo tiêu chuẩn đúng hay sai, thật hay giả của lôgic Điều kiện mệnh đề được dùng để “cô lập mệnh đề ra khỏi phần còn lại của hành động nói” [3, tr.95] Việc “cô lập mệnh đề” như vậy là điều kiện để người phân tích tập trung vào những tính chất riêng biệt của HĐN, chứ không phải để tập trung NDMĐ, cũng tức là xem NDMĐ đó được sử dụng cho hành động nói nào (trình bày hay sai khiến, ), chứ không phải mệnh đề đó có ý nghĩa thực như thế nào
Điều kiện mệnh đề không có trong hành động chào, vì hành động chào thuộc lớp hành động bộc lộ (một cảm xúc, một trạng thái tâm lý) do tình trạng của sự vật nói trong mệnh đề đem lại, chứ không bình luận về mệnh đề đó
Trang 9Chẳng hạn, để chào hỏi khi gặp nhau có thể sử dụng cặp trao đáp “Anh chào em/ Em chào anh”, nhưng đối với người Việt và nhất là đối với những người
có mối quan hệ thân tình, khi gặp nhau, người ta thường chào nhau bằng câu hỏi “Anh/ chị khoẻ không?” Đây không phải chỉ là một câu hỏi thăm sức khoẻ mà chủ yếu là để chào hỏi người nghe Đối với người nghe, do hiểu cái thiện cảm đó của người nói, nên có thể chỉ trả lời bằng từ “Chào em/ Chào anh” không liên quan gì với nội dung mệnh đề trong câu hỏi được người nói đưa ra mà người nói vẫn chấp nhận được, nhưng cũng có thể trả lời bằng
câu “Anh/Em khoẻ! Anh/Em có khoẻ không?” là để đáp lại lời của người nói
Do vậy, ví dụ này có thể coi là một lời chào hỏi nhưng đồng thời để thể hiện tình cảm qua NDMĐ
Có thể hiểu, điều kiện NDMĐ chỉ ra cái bản chất nội dung của hành động NDMĐ có thể là một mệnh đề đơn giản (đối với các hành động khảo nghiệm, xác tín, miêu tả), hay một hàm mệnh đề (đối với những câu hỏi chỉ
có hai khả năng trả lời có hoặc không, phải hoặc không phải, ) Sở dĩ gọi đó
là hàm mệnh đề vì phát ngôn ngữ vi tương ứng với hành động hỏi đưa ra hai khả năng, người trả lời chọn một phương án để trả lời NDMĐ có thể là một hành động của người nói (như hứa hẹn) hay một hành động của người nghe (lệnh, yêu cầu)
1.2.2 Điều kiện chuẩn bị
Theo tác giả Diệp Quang Ban, điều kiện chuẩn bị là “điều kiện về việc người nói có được quyền tham dự vào HĐN đang đề cập đến, người nói ngụ ý
về việc anh ta thực hiện hành động đó, nó cho chúng ta biết người nói cần phải tiếp xúc với người nghe” [3, tr 96]
Có nghĩa là, điều kiện chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và các quan hệ giữa người nói, người nghe
Trang 10Cụ thể như với hành động ra lệnh, theo tác giả Đỗ Hữu Châu, “người nói phải tin rằng người nhận lệnh có khả năng thực hiện hành động quy định trong lệnh, đồng thời biết rằng giữa người nói và người nhận có vị thế xã hội
có lợi cho người nói Hành động hứa hẹn đòi hỏi người hứa hẹn có ý muốn thực hiện lời hứa và người khác cũng thực sự mong muốn lời hứa được thực hiện Hành động khảo nghiệm, xác tín, không những đòi hỏi người nói nói một cái gì đó mà còn đòi hỏi anh ta phải có những bằng chứng” [5, tr.117]
1.2.3 Điều kiện chân thành
Điều kiện chân thành là “ở đâu mà một trạng thái tâm lý được định rõ trong điều kiện chân thành, thì việc thực hiện hành động được xem như một biểu hiện của trạng thái tâm lý ấy Quy luật này có giá trị cả khi hành động đó
là chân thành lẫn khi nó không là chân thành, có nghĩa là dù cho người nói thực sự có trạng thái tâm lý đã được định rõ đó hay là không có nó cũng thế” [3, tr.96] Tuy đã được giải thích như vậy nhưng về sau (năm 1975), Searle vẫn đổi tên điều kiện này thành “Những khác biệt trong trạng thái tâm lý được biểu hiện” Có thể hiểu là khi người nói thực hiện hành động hứa thì trạng thái tâm lý khi đó là chân thành, trong trường hợp thực tế người đó có chân thành hay không nó vẫn là hành động hứa Điều kiện chân thành không có trong hành động chào
Có thể hiểu, điều kiện chân thành chỉ ra các trạng thái tâm lý tương ứng của người phát ngôn Hành động xác tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín; hành động ra lệnh đòi hỏi lòng mong muốn; hành động hứa hẹn đòi hỏi ý định của người nói
Qua đó cho thấy điều kiện chân thành hiểu theo kiểu này thì khó có thể kiểm tra, vì trong đời sống thực tế, việc hứa hão, bịa chuyện, hỏi cho qua chuyện, cũng cần thiết trong những trường hợp nhất định Tình trạng này khiến chính tác giả phải điều chỉnh lại cách gọi tên của điều kiện này Năm
1975, điều kiện này được đưa ra dưới tên gọi trạng thái tâm lý được biểu hiện
Trang 11Liên hệ với tên gọi cũ điều kiện chân thành, có thể hiểu tên gọi mới này là người nói có chân thành hay không ta không thể biết được, chỉ biết rằng các trạng thái tâm lý mà người đó biểu hiện trong khi đưa ra phát ngôn đó là khớp với HĐN được anh ta thực hiện thông qua phát ngôn Nói cách khác, chẳng hạn người nói hứa thật hay hứa hão người nghe không cần biết, chỉ cần xác nhận rằng cái trạng thái tâm lý thúc đẩy anh ta đưa ra lời hứa khớp với các phát ngôn chứa hành động hứa của anh ta Và người phân tích chỉ căn cứ vào
đó mà thôi, không cần biết về độ chân thành của người nói
1.2.4 Điều kiện căn bản
Theo tác giả Diệp Quang Ban, “điều kiện căn bản có nội dung chung là người nói chịu ràng buộc với điều người đó nói, tức là người nói không tự mâu thuẫn với mình, hay nói chặt chẽ hơn, người nói chủ tâm rằng phát ngôn này sẽ đặt anh ta vào một sự bắt buộc phải làm HĐN đó, mặt khác, điều kiện này còn là cái cho rằng phát ngôn này (của người nói) được coi là dấu hiệu lịch sự trong việc (người nói) nhận biết người nghe Điều kiện cho thấy phát ngôn của người nói có được là do HĐN mà anh ta chủ định thực hiện, cho nên anh ta phải chịu trách nhiệm về hành động đó, và không được phép nói rằng
“tôi nói như vậy nhưng tôi không hành động thế”, mặt khác phát ngôn đó còn thể hiện việc người nói đánh giá tích cực năng lực hiểu biết” [3, tr96]
Hiểu chi tiết hơn, điều kiện căn bản được hiểu là “điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi hành động ở lời
đó được phát ra” Trách nhiệm có thể rơi vào hành động sẽ thực hiện (lệnh, hứa hẹn) hoặc đối với tính chân thực của nội dung (một lời xác tín buộc người nói phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của điều nói ra)
Bốn điều kiện trên đây không có mặt đồng đều trong tất cả các hành động nói, chúng được sử dụng khác nhau trong các HĐN cụ thể khác nhau, thậm chí có điều kiện không có mặt trong một kiểu HĐN nào đó
Trang 121.3 Hành động tái hiện và hành động cầu khiến
1.3.1 Các hành động tái hiện
Hành động tái hiện (HĐTH) là HĐN trình bày những gì mà người nói tin là đúng Các HĐTH thường gặp là kể chuyện (được nghe thấy), báo tin, trình bày sự việc (như trong dạy học)
Ví dụ, người mẹ xem chương trình dự báo thời tiết và báo cho người con là “Dự báo thời tiết ngày mai có thể có thể có mưa đấy!” Như vậy, người
mẹ đã nói với người con một việc mà mình tin là có thật bởi bà ta đã xem đúng như vậy, và việc ngày mai có mưa hay không đã có từ “có thể” báo trước
Như vậy, có thể thấy, mục đích của các HĐTH là mức độ cam kết của ngưới nói đối với việc thông báo tình hình của sự việc, đối với tính chân thực của phán đoán được nêu ra Tất cả các yếu tố của của lớp HĐTH đều có thể đánh giá theo tính chân thực và tính giả dối
Hướng khớp ghép của các HĐTH là “từ ngữ vào hiện thực”, tức là dùng từ ngữ để trình bày các sự việc có trong hiện thực Ví dụ một em bé nhìn thấy một con mèo và dùng từ ngữ “con mèo (kìa)” để báo cho mẹ em biết (hành động thông báo), như thế là em bé đó đã ghép từ ngữ vào con vật mà
em nhìn thấy trên thực tế Đích ngôn trung là niềm tin của người nói vào sự việc nêu trong phát ngôn
1.3.2 Các hành động cầu khiến
Hành động cầu khiến (HĐCK) là HĐN mà người nói dùng để làm cho người nghe thực hiện một việc gì đó Các HĐCK thường gặp là sai khiến (kể
cả trong các dịch vụ), khuyên nhủ, bảo ban (như trong việc dạy con),
Đích ở lời của HĐCK là đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành động trong tương lai (hành động này được đưa ra bằng những từ ngữ trong lời nói của người ra lệnh)
Trang 13Hướng khớp ghép của HĐCK là “hiện thực vào từ ngữ”, được hiểu là hành động trong hiện thực được thực hiện căn cứ vào từ ngữ đã cho trong HĐCK
Ví dụ: (Trong một cửa hàng văn phòng phẩm)
Chủ hàng: - Chị mua gì ạ?
Khách hàng: - Chị cho tôi xem quyển số bìa màu đỏ kia!
Chủ hàng lấy quyển sổ có bìa màu đỏ được chỉ định trao cho khách hàng Như vậy, hành động “trao (quyển sổ)” của chủ hàng khớp với từ “cho” trong lời của khách hàng, rõ ràng hướng khớp ghép của hành động điều khiển trên là “hiện thực ghép vào từ ngữ”
1.4 Biểu thức ngữ vi và phát ngôn ngữ vi
1.4.1 Biểu thức ngữ vi
Phát ngôn ngữ vi (PNNV) trong HĐN có hiệu lực nhất định Mỗi PNNV có một cấu trúc đặc trưng, kết cấu lõi gọi là biểu thức ngữ vi (BTNV) Như vậy, có thể hiểu BTNV là kiểu cấu trúc ứng với một PNNV Một PNNV tối thiểu phải là một BTNV
Ví dụ: - BTNV hỏi “có … không ?” là cấu trúc cho các phát ngôn hỏi:
“Ngày mai trời có mưa không?” hoặc “Anh có đi họp không?”;
- BTNV khuyên “nên (p)” là cấu trúc cho các phát ngôn: “Anh nên bỏ thuốc lá” hoặc “Không nên thức quá khuya”
1.4.2 Phát ngôn ngữ vi
1.4.2.1 Khái niệm phát ngôn ngữ vi
PNNV là các phát ngôn - sản phẩm của một hành động ở lời nào đó khi hành động này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực
Ví dụ: Phát ngôn “Tôi sẽ gửi anh công văn mời họp Ban Thường vụ Huyện ủy vào sáng mai!” là phát ngôn cam kết; phát ngôn “Đứng lên!” là phát ngôn ra lệnh; phát ngôn “Đồng chí dự thảo cho tôi báo cáo tình hình, kết
Trang 14quả công tác năm 2016, phương hướng nhiệm vụ công tác trọng tâm năm 2017” là phát ngôn yêu cầu; phát ngôn “Cánh đồng lúa chín vàng” là phát ngôn miêu tả
1.4.2.2 Phân loại phát ngôn ngữ vi
Austin chia PNNV thành 2 loại: gồm: Phát ngôn ngữ vi tường minh (PNNVTM) và phát ngôn ngữ vi nguyên cấp (PNNVNC)
là động từ ngữ vi khi thỏa mãn 3 điều kiện: (1) Nghĩa của động từ đó diễn đạt
chức năng chung của HĐN đang được thực hiện, mỗi động từ cụ thể còn diễn
đạt được cái nội dung chỉ lực ngôn trung cụ thể chứa nó; (2) Động từ đó phải được sử dụng ở ngôi thứ nhất chỉ người nói; (3) Động từ đó phải được dùng ở
thì hiện tại, là thời điểm mà phát ngôn được thực hiện, không được kèm các
phó từ chỉ thời gian đã, sẽ, đang và những phó từ chỉ thời gian khác, không
kèm các trạng ngữ chỉ thời gian chỉ quá khứ, tương lai Tác giả Đỗ Hữu Châu gọi động từ ngữ vi là động từ ngôn hành và khẳng định “Động từ ngôn hành
là những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng với biểu thức ngôn hành (có khi không cần có biểu thức ngôn hành đi kèm) là người nói thực hiện luôn cái hành vi ở lời do chúng biểu thị” [5, tr.97]
Ví dụ: Tôi hứa với chị mai tôi sẽ đến
Phát ngôn trên là một PNNVTM Bởi vì, trong phát ngôn trên, người nói là “tôi” (ngôi thứ nhất); động từ ngữ vi “hứa” ở thì hiện tại, người tiếp nhận hành động cam kết là “chị” (ngôi thứ hai) Trước động từ “hứa” không
có các phụ từ tình thái
PNNVNC là phát ngôn không có động từ ngữ vi Có thể khôi phục phát ngôn đó thành PNNVTM bằng cách thêm động từ ngữ vi và người phát ngôn trước các phát ngôn
Ví dụ: Không nên hút thuốc lá!
Trang 15Đây là một PNNVNC vì không chứa động từ ngữ vi Hoàn toàn có thể khôi phục phát ngôn đó thành PNNVTM bằng cách thêm động từ ngữ vi khuyên vào trước phát ngôn thành “(Tôi) khuyên bạn không nên hút thuốc lá!”
1.4.2.3 Thành phần nội dung của phát ngôn ngữ vi
Trong PNNV có 2 nội dung: nội dung mệnh đề và hiệu lực tại lời Hiệu lực tại lời là hiệu quả của các hành vi tại lời
Searle đưa ra công thức F(p) Trong đó, F là hiệu lực tại lời, (p) là nội dung mệnh đề
Ví dụ: - Chao ôi! Trời nắng quá!
Ở ví dụ này, F(hiệu lực tại lời) là cảm thán; nội dung mệnh đề (p) là
“Trời nắng”
1.5 Đặc điểm của văn bản hành chính
1.5.1 Khái niệm về văn bản hành chính
Nằm trong hệ thống văn bản nói chung, VBHC là một kiểu văn bản gắn liền với lĩnh vực quản lý, tổ chức, điều hành, giao dịch của các cơ quan, đơn vị Loại văn bản này đã được ngành ngôn ngữ học và hành chính học hết sức quan tâm Trong chủ trương cải cách hành chính của Nhà nước ta hiện nay, vấn đề hoàn thiện các hệ thống VBHC tiếng Việt được xác định là một nhiệm vụ quan trọng Việc chuẩn hoá ngôn ngữ hành chính cũng cần phải bắt đầu từ chuẩn hoá ngôn ngữ trong VBHC
Có nhiều quan niệm về VBHC Phần lớn các tác giả đều cho rằng đây là loại văn bản được sử dụng trong lĩnh vực quản lý, tổ chức và điều hành xã hội, nhưng nhìn từ phương diện tác giả (chủ thể ban hành) và tên gọi của các loại văn bản này thì còn có nhiều quan niệm khác nhau Tiêu biểu là các quan niệm sau đây: Quan niệm thứ nhất cho rằng, VBHC là văn bản được ban hành bởi các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các tổ chức, cơ quan khác, “là công cụ được dùng
Trang 16để truyền đạt chủ trương, chính sách luật phát và các thông tin cần thiết khác của Đảng, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức khác” [25, tr 207]
Theo tác giả Đinh Trọng Lạc, VBHC “là văn bản “tạo ra bởi “khuôn” phong cách hành chính công vụ, trong đó thể hiện vai của người tham gia vào giao tiếp trong lĩnh vực hành chính - công vụ tức những người tham gia vào guồng máy tổ chức, quản lý, điều hành tất cả các mặt của đời sống xã hội” [19, tr.66] “Những người tham gia vào guồng máy tổ chức, quản lý, điều hành tất cả các mặt của đời sống xã hội” ở nước ta cũng chính là các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và các tổ chức,
cơ quan khác “VBHC gồm các thể loại như mệnh lệnh, báo cáo, điều lệnh, hướng dẫn, trong kiểu văn bản quân sự; công điện, giác thư, công hàm, hiệp định, hiệp nghị, hiệp ước, điều ước, nghị định thư, chứng thư nhà nước, trong kiểu văn bản ngoại giao; Hiến pháp, sắc lệnh, mệnh lệnh, điều lệ, nghị định, thông tư, quy chế, thông báo, trong kiểu văn bản pháp quyền; thông báo, thông
tư, chỉ thị, nghị quyết, quyết định, đơn từ, báo cáo, biên bản, phúc trình, giấy khen, văn bằng, giấy chứng nhận các loại, hợp đồng, hóa đơn, giấy biên nhận, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, trong kiểu văn bản văn thư” [19, tr67]
Quan niệm thứ hai cho rằng, chủ thể ban hành VBHC ngoài các cơ quan Nhà nước, các tổ chức đoàn thể xã hội còn có thể là nhân dân Đó là các tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng khi định nghĩa: VBHC là “loại văn bản dùng trong các hoạt động tổ chức, điều hành xã hội và thực hiện sự giao tiếp giữa các cơ quan Nhà nước với nhân dân và ngược lại; giữa các cơ quan Nhà nước với nhau; giữa các tổ chức đoàn thể với nhau và với quần chúng” Theo các tác giả này, VBHC bao gồm “các văn bản luật, các văn bản hội nghị (biên bản, nghị quyết, báo cáo hoặc đề án công tác, ), các văn bản về thủ tục hành chính (đơn từ, công văn, chỉ thị, quyết định)” [16, tr.31]
Quan niệm thứ ba cho rằng, VBHC là văn bản được các cơ quan hành chính Nhà nước ban hành (đây là quan niệm về VBHC gắn liền với lĩnh vực
Trang 17hành chính theo nghĩa hẹp) Tiêu biểu cho quan điểm này là tác giả Đoàn Trọng Truyến có định nghĩa “VBHC là hình thức thể hiện của quyết định hành chính nhằm cụ thể hóa Hiến pháp, luật, pháp lệnh và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc áp dụng pháp luật cho các chủ thể xác định trong các trường hợp nhất định Nói cách khác, VBHC là các quyết định hành chính được ban hành thành văn bản (được văn bản hóa) do các cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền hành pháp ban hành theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, mang quyền lực Nhà nước [36, tr.216] Đồng thời tác giả cũng cho
rằng: VBHC gồm: (1) các văn bản pháp quy như nghị quyết và nghị định của
Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ; nghị quyết, quyết định, chỉ thị
của các cơ quan chính quyền ở địa phương (2) các “VBHC thông thường, mang
tính thông tin điều hành nhằm thực thi các văn bản pháp quy hoặc dùng để giải quyết các tác nghiệp cụ thể, phản ánh tình hình, giao dịch, trao đổi công việc trong quá trình thực thi các nhiệm vụ theo chức năng quản lý hành chính nhà nước” [36, tr.216] Cũng theo các tác giả của quan niệm này thì VBHC là một loại nhỏ hơn của hệ thống văn bản quản lý nhà nước
Như vậy, ở đây luận văn thống nhất với quan điểm VBHC gắn với lĩnh vực hành chính theo nghĩa rộng Theo đó, văn bản hành chính là loại văn bản được sử dụng trong hoạt động quản lý, tổ chức và điều hành xã hội để truyền đạt thông tin quản lý như các quy định, quyết định, mệnh lệnh, ý kiến trao đổi, giao dịch, cam kết, thoả thuận về công việc,… thực hiện sự giao tiếp giữa các cơ quan, tổ chức, công dân đối với đối tác có liên quan trên cơ sở pháp lý
1.5.2 Các loại văn bản hành chính
VBHC là một hệ thống bao gồm nhiều hệ thống nhỏ hơn hợp lại Các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân loại VBHC theo những tiêu chí nhất định như: theo tác giả (chủ thể ban hành văn bản), theo tên loại văn bản, theo mục đích ban hành văn bản, theo thời gian hoặc địa điểm hình thành văn bản, theo lĩnh vực
Trang 18hoạt động chuyên môn, theo hướng chu chuyển văn bản, theo tính chất cơ mật
và phạm vi áp dụng văn bản, theo kỹ thuật chế tác, theo tính chất và mức độ pháp lý,… Nghiên cứu, khảo sát ngôn ngữ hành chính trên cơ sở văn bản viết, chúng tôi quan tâm đến các loại VBHC được phân định theo các tiêu chí: tác giả (chủ thể ban hành văn bản), hiệu lực pháp lý, tính chất nội dung và tên loại
Đó là, theo chủ thể ban hành, có các loại VBHC: văn bản của Đảng, văn bản của các cơ quan nhà nước (còn được gọi là văn bản quản lý nhà nước), văn bản của các đoàn thể, hiệp hội, các tổ chức chính trị - xã hội, kinh tế ngoài nhà nước Theo hiệu lực pháp lý, tính chất nội dung và tên gọi, có các loại văn bản hành chính sau:
1.5.2.1 Văn bản quy phạm pháp luật
Theo Điều 1, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục luật định nhằm đưa ra các quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội
1.5.2.2 Văn bản hành chính cá biệt (văn bản cá biệt)
Văn bản cá biệt là những quyết định quản lý mang tính áp dụng pháp luật,
do chủ thể nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục nhất định nhằm đưa ra các quy tắc xử sự riêng đối với một hoặc một nhóm đối tượng cụ thể, được chỉ định rõ
Văn bản cá biệt bao gồm: chỉ thị (cá biệt), quyết định (cá biệt), nghị quyết (cá biệt) Các văn bản cá biệt thường gặp như: quyết định nhân sự (quyết định tuyển dụng, phân công công tác, quyết định thuyên chuyển, điều động công tác, quyết định nâng lương, quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ,…); quyết định khen thưởng, kỷ luật; quyết định thành lập ban hoặc hội đồng; chỉ thị về việc phát động phong trào thi đua,…
Trang 191.5.2.3 Văn bản hành chính thông thường
VBHC thông thường là những văn bản có nội dung chứa đựng các thông tin mang tính chất điều hành tác nghiệp trong các cơ quan tổ chức như: triển khai, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, theo dõi, phản ánh tình hình, đánh giá kết quả các hoạt động; hoặc trao đổi, giao dịch, liên kết hoạt động giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân,… VBHC thông thường không đưa ra các quyết định quản lý, do
đó không được dùng thay thế cho văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản cá biệt VBHC thông thường bao gồm: quy chế, quy định, thông cáo, thông báo, hướng dẫn, chương trình, kế hoạch, phương án, đề án, dự án, báo cáo, biên bản,
tờ trình, hợp đồng, công văn, công điện, bản ghi nhớ, bản cam kết, bản thoả thuận, giấy chứng nhận, giấy uỷ quyền, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy đi đường, giấy biên nhận hồ sơ, phiếu chuyển, thư công, đơn từ,…
1.5.2.4 Văn bản quản lý chuyên môn
Là loại văn bản do một cơ quan nhà nước quản lý một lĩnh vực nhất định, được Nhà nước uỷ quyền ban hành, dùng để quản lý một lĩnh vực điều hành của
bộ máy nhà nước Loại văn bản này mang tính chất đặc thù và thuộc thẩm quyền ban hành riêng của từng cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật Cơ quan,
tổ chức khác có nhu cầu sử dụng các loại văn bản này phải theo quy định của cơ quan ban hành văn bản, không được tự tiện thay đổi nội dung và hình thức của chúng (tức là phải theo đúng mẫu văn bản đã quy định) Văn bản chuyên môn gồm nhiều loại nhỏ, liên quan đến nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau như: tài chính, ngân hàng, giáo dục, y tế, văn hoá, tư pháp,… Ví dụ: hoá đơn tài chính của ngành tài chính; văn bản chứng chỉ tốt nghiệp của ngành giáo dục đào tạo;
hồ sơ bệnh án của ngành y tế; giấy khai sinh của ngành tư pháp,…
1.5.3 Chức năng của văn bản hành chính
Được hình thành trong hoạt động quản lý, tổ chức và điều hành xã hội nói chung, VBHC vừa là phương tiện, vừa là sản phẩm của quá trình quản lý, được
Trang 20sử dụng để ghi chép và truyền đạt các thông tin quản lý từ đối tượng quản lý đến đối tượng bị quản lý và ngược lại, hoặc được sử dụng làm công cụ để cụ thể hoá pháp luật, điều chỉnh những quan hệ xã hội thuộc phạm vi quản lý của Nhà nước hay các tổ chức chính trị xã hội Cùng với mục đích và tính chất nội dung ban hành, VBHC có những chức năng rất điển hình, đó là:
1.5.3.1 Chức năng thông tin
Thông tin đóng vai trò, ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mọi loại hoạt động nói chung cũng như hoạt động quản lý nói riêng Trong hoạt động quản lý, nhu cầu thông tin rất lớn, đa dạng và luôn luôn biến đổi Thông tin phục vụ cho hoạt động quản lý được phản ánh bằng nhiều phương diện, nhiều kênh khác nhau như các phương tiện thông tin đại chúng, truyền miệng,… tuy nhiên vẫn chủ yếu là bằng văn bản Thông qua văn bản, các cá nhân, bộ phận, đơn vị trong
cơ quan, tổ chức có thể thu thập những thông tin cần thiết để tạo điều kiện cho hoạt động của cơ quan mình đạt hiệu quả cao nhất Nói chung tất cả các loại VBHC đều có chức năng thông tin
1.5.3.2 Chức năng quản lý
VBHC được sử dụng làm phương tiện trong hoạt động quản lý, tổ chức, điều hành công việc của các cơ quan, tổ chức Đây là một chức năng chuyên biệt của VBHC, được biểu hiện ở các điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, VBHC là phương tiện truyền đạt hữu hiệu các quyết định quản
lý Trong hoạt động quản lý, công tác truyền đạt các chủ trương, chính sách, biện pháp công tác, ý kiến chỉ đạo, … của cấp trên tới các đối tượng thi hành thông qua các văn bản mang tính pháp lý, tính mệnh lệnh hành chính là một trong những khâu cốt yếu Do vậy, việc truyền đạt các quyết định quản lý là chức năng quan trọng của VBHC Văn bản được xây dựng, ban hành đúng thẩm quyền và quy trình thì khả năng truyền đạt các quyết định quản lý càng nhanh chóng và chuẩn xác
Trang 21Thứ hai, văn bản là phương tiện tổ chức, điều hành công vụ Từ việc xây dựng chương trình, kế hoạch công tác; chỉ đạo, hướng dẫn triển khai hoạt động; đến việc đôn đốc, kiểm tra, theo dõi, phản ánh, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ; đề đạt ý kiến lên cấp trên hoặc tham mưu, tư vấn cho lãnh đạo về các mặt, các lĩnh vực quản lý; rồi trao đổi công việc với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan,… tất cả đều có thể được thực hiện thông qua văn bản
1.5.3.3 Chức năng pháp lý
Chức năng pháp lý cũng là một chức năng mang tính chuyên biệt của VBHC, nhất là ở các văn bản quản lý Nhà nước Chức năng pháp lý của VBHC thể hiện ở chỗ nó được các cơ quan nhà nước sử dụng làm phương tiện ghi chép
và truyền đạt các quy phạm pháp luật Các văn bản quy phạm pháp luật này đến lượt mình lại được các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng làm bằng chứng hoặc căn cứ pháp lý cho việc đưa ra các quyết định quản lý hay xử lý, triển khai, giải quyết công việc theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã định
Công tác quản lý xã hội, quản lý nhà nước thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật được văn bản hoá trong Hiến pháp, các đạo luật, bộ luật và các văn bản dưới luật như: pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư,… Với hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật này, việc truyền đạt
và thực thi pháp luật trong các cơ quan nhà nước và toàn xã hội được đúng đắn, chính xác, đầy đủ, nghiêm chỉnh và thống nhất; đồng thời cũng tạo dựng nên một hành lang pháp lý đảm bảo cho hoạt động quản lý nhà nước đạt hiệu quả nhất định
Để xây dựng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh làm cơ
sở pháp lý cho mọi hoạt động quản lý nhà nước, các cơ quan nhà nước phải thừa hành công vụ theo đúng pháp luật, đồng thời phải đảm bảo quyền lợi chính đáng của mọi công dân đã được pháp luật quy định Vì vậy, những năm gần đây, Nhà nước ta rất coi trọng công tác xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật Rất nhiều đạo luật, bộ luật và hệ thống các văn bản dưới luật đã được ban hành hoặc đang trong dự định sẽ ban hành
Trang 22Chức năng pháp lý thể hiện trước hết và rõ nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, các loại VBHC khác cũng có những chức năng này
Ở những văn bản được sử dụng trong giao tiếp giữa các công dân trên cơ sở pháp lý như: hợp đồng mua bán tài sản, giấy ủy quyền, giấy cho tặng tài sản của cha mẹ đối với con cái, chức năng pháp lý thể hiện ở chỗ nội dung cam kết, thỏa thuận giữa các cá nhân nhưng phải dựa trên cơ sở những quy định của pháp luật và phải được cơ quan có thẩm quyền chứng thực, xác nhận (công chứng) Khi đã thống nhất cam kết, các bên phải thống nhất thực hiện Nếu tự ý đơn phương phá bỏ cam kết thì có thể phải chịu trách nhiệm pháp luật Như vậy, dù
là văn bản giữa các cá nhân với nhau nhưng vẫn có tính chất pháp lý, bị ràng buộc về mặt phát lý, mang chức năng pháp lý
1.5.3.4 Chức năng văn hóa - xã hội
Văn bản là sản phẩm phản ánh sự sáng tạo của con người, từ lao động sản xuất đến hoạt động văn hóa tinh thần Vì vậy, nó có giá trị văn hóa Đồng thời, sự sản sinh của mỗi văn bản đều do nhu cầu của xã hội và giải quyết các vấn đề của xã hội
1.5.4 Yêu cầu đối với văn bản hành chính
Như đã khẳng định, văn bản là phương tiện thông tin chủ yếu, phục vụ cho các hoạt động quản lý của các cơ quan Văn bản là cơ sở pháp lý để tiến hành giải quyết công việc, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước nói chung, của từng cơ quan nói riêng Để thực hiện được tất cả các chức năng ấy, đòi hỏi văn bản phải đảm bảo đạt chất lượng cả về nội dung và hình thức
Chất lượng của văn bản được soạn thảo, ban hành thể hiện nhận thức chính trị, trình độ văn hóa, năng lực công tác, nghệ thuật lãnh đạo, hiệu suất và tác phong làm việc của tập thể, cán bộ, nhân viên trong mỗi cơ quan, tổ chức
1.5.4.1 Về nội dung
Trước hết, nội dung VBHC phải có tính chính xác Đó là phải đúng với mục đích ban hành văn bản, phải hợp Hiến pháp và phải phù hợp với thực tế khách quan
Trang 23Thứ hai, nội dung văn bản phải có tính khoa học Nội dung văn bản với các phần, các ý phải được triển khai, sắp xếp theo bố cục có trình tự, thứ bậc trên - dưới, trước - sau, lớn - nhỏ, sao cho thật hợp lý lôgíc, đảm bảo tính liên kết, tính thống nhất và sự hoàn chỉnh của vấn đề Có như vậy thì nội dung văn bản mới được phản ánh chính xác, đầy đủ và người tiếp nhận văn bản mới có thể dễ dàng hiểu được một cách đúng đắn các vấn đề văn bản đưa ra Những văn bản
có nội dung phức tạp nếu được trình bày theo một bố cục hợp lý, chặt chẽ, lôgíc cũng sẽ trở nên rõ ràng, mạch lạc, dễ tiếp nhận
Thứ ba, nội dung văn bản phải có tính trọng tâm Việc triển khai bố cục nội dung, sắp xếp các vấn đề, các phần, các ý phải đi liền với việc xác định dung lượng trình bày, vị trí ưu tiên, sao cho làm nổi bật được vấn đề hay phần, ý trọng tâm của nội dung văn bản
Hoạt động trong phạm vi giao tiếp mang tính quy thức, bởi vậy ngôn ngữ
sử dụng trong VBHC là tiếng Việt văn hóa chuẩn mực Do, VBHC thực hiện chức năng thông tin - quản lý, thông tin - pháp lý, nên phương tiện ngôn ngữ được sử dụng trong VBHC phải có sự chính xác cao, từ ngữ thường có tính khái quát, đơn nghĩa và trung hòa về sắc thái biểu cảm, câu văn chặt chẽ, rõ ràng, dễ hiểu và thiên về lối tư duy lôgíc học
Do vậy, việc soạn thảo văn bản cần chú ý về thẩm quyền, thủ tục ban hành
và kỹ thuật soạn thảo Các VBHC, nhất là văn bản quy phạm pháp luật cần được soạn thảo với một ngôn ngữ có độ chính xác tối đa nếu chưa thể đạt được mức
Trang 24tuyệt đối Nội dung của văn bản sẽ không thể được chuyển tải đúng nếu cách thể hiện chúng thiếu chính xác, thiếu khoa học
1.6 Đặc điểm của văn bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị
1.6.1 Đặc điểm của văn bản Báo cáo
Báo cáo hiểu theo nghĩa rộng là các văn bản có nội dung thông tin tình hình về những sự việc, hiện tượng cần chú ý xem xét; những hoạt động đã và đang làm của cơ quan, đơn vị, những văn bản điều tra hay tổng kết một hoặc nhiều lĩnh vực công tác
Báo cáo của Đảng là văn bản dùng để tường trình về tình hình hoạt động của một cấp uỷ, tổ chức, cơ quan Đảng hoặc về một đề án, một vấn đề,
Thể thức của Báo cáo gồm:
+ Quốc hiệu, tiêu ngữ (tiêu đề),
+ Cơ quan chủ quản và cơ quan ban hành văn bản,
+ Số và ký hiệu văn bản,
+ Địa điểm, ngày, tháng, năm ban hành văn bản,
+ Tên loại văn bản và trích yếu nội dung văn bản,
+ Nội dung văn bản,
+ Thể thức đề ký,
+ Nơi nhận văn bản
Nội dung chính của Báo cáo gồm:
Trang 25+ Phần mở đầu: là phần thường được trình bày ngắn gọn căn cứ, yêu cầu của việc xây dựng báo cáo
+ Phần nội dung chính: là phần quan trọng nhất của báo cáo, gồm: phân tích và đánh giá kết quả đạt được; những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại hạn chế; các đề xuất, kiến nghị; phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới
+ Phần kết luận: thường nêu ngắn gọn mục đích của việc xây dựng báo cáo Nội dung của báo cáo phải trung thực, khách quan; phải nêu rõ những hiện tượng, những sự kiện quan trọng, nổi bật với những dẫn chứng tiêu biểu nhất để người tiếp nhận báo cáo hiểu thực chất và tầm quan trọng của hiện tượng, sự việc, trên cơ sở đó xác định thái độ quyết định nội dung cần xử lý tùy theo chức trách được giao
Khi soạn thảo báo cáo, trước tiên cần xác định rõ mục đích, tính chất của công việc và đối tượng báo cáo, yêu cầu thời gian phải thực hiện Sau đó phải xác định phạm vi nội dung, trọng tâm của vấn đề hoặc các nội dung làm
rõ những vấn đề báo cáo Văn phong, ngôn ngữ của báo cáo rất phong phú, vừa có tính khuôn mẫu, vừa vận dụng những phương pháp của phong cách
chính luận như giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận
1.6.2 Đặc điểm của văn bản Công văn
Công văn hành chính là một loại văn bản mang tính chất trao đổi thông tin, nó như một loại thư từ bình thường, nhưng đây là một sự trao đổi mà đại diện là cơ quan và nhằm đến mục đích là giải quyết những nhiệm vụ chung Như vậy, công văn có phạm vi sử dụng rất rộng Ví dụ, công văn có thể dùng
để thông báo một vấn đề trong hoạt động công vụ hoặc một hoạt động sẽ diễn
ra trong tương lai, hướng dẫn thực hiện một văn bản của cấp trên, trao đổi ý kiến về một vấn đề trong hoạt động của một cơ quan, trình bày với cấp trên về một kế hoạch mới,
Trang 26Công văn của Đảng là văn bản dùng để truyền đạt, trao đổi các công việc cụ thể trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cấp uỷ, tổ chức,
Thể thức của công văn gồm:
+ Quốc hiệu, tiêu ngữ (tiêu đề),
+ Cơ quan chủ quản và cơ quan ban hành văn bản,
+ Số và ký hiệu văn bản,
+ Địa điểm, ngày, tháng, năm ban hành văn bản,
+ Tên loại văn bản và trích yếu nội dung công văn,
+ Cơ quan hoặc cá nhân nhận công văn,
+ Nội dung chính,
+ Thể thức đề ký,
+ Nơi nhận văn bản
Phần nội dung chính của công văn gồm:
+ Phần mở đầu: là phần nêu lí do, căn cứ, cơ sở để ban hành công văn + Phần nội dung chính: là phần cơ bản của công văn, nêu các yêu cầu cần giải quyết Do vậy khi trình bày cần rõ ràng, chính xác, cụ thể các yêu cầu đặt ra Văn phong phải dứt khoát, mạch lạc, tránh lập lờ, nhiều nghĩa, lập luận chặt chẽ, lôgíc
Trang 27+ Phần kết luận: là phần để khẳng định thêm hoặc làm sáng tỏ thêm yêu cầu thực hiện hoặc nhấn mạnh trách nhiệm giải quyết Phần này cần được viết thành một đoạn riêng để làm nổi bật yêu cầu, đề nghị hoặc nhấn mạnh trách
nhiệm giải quyết
1.6.3 Đặc điểm của văn bản Chỉ thị
Chỉ thị là một loại văn bản của cơ quan, tổ chức cấp trên gửi cho cấp dưới để chỉ đạo thực hiện một nhiệm vụ công tác nhất định
Chỉ thị của Đảng là văn bản dùng để chỉ đạo các cấp uỷ, tổ chức, cơ quan Đảng cấp dưới thực hiện các chủ trương, chính sách hoặc một số nhiệm vụ cụ thể
Khi quyết định ban hành chỉ thị, cấp lãnh đạo phải căn cứ vào tầm quan trọng của vấn đề và yêu cầu có tính nguyên tắc cao mà cơ quan, tổ chức cấp trên thấy cần có ý kiến chỉ đạo, điều hành cấp dưới thực hiện Các loại văn bản như công văn, thông báo, thông tri đều có tính chất chỉ thị
Thể thức của Chỉ thị gồm:
+ Quốc hiệu, tiêu ngữ (tiêu đề),
+ Cơ quan chủ quản và cơ quan ban hành văn bản,
+ Số và ký hiệu văn bản,
+ Địa điểm, ngày, tháng, năm ban hành văn bản,
+ Tên loại văn bản và trích yếu nội dung văn bản,
+ Nội dung văn bản,
+ Thể thức đề ký,
+ Nơi nhận văn bản
Nội dung chính của chỉ thị gồm:
Trang 28+ Phần mở đầu: là phần thường được trình bày rất vắn tắt lý do phải ban hành chỉ thị, chủ yếu là nêu tình hình thực tế và yêu cầu chỉ đạo giải quyết nhiệm vụ do thực tế đặt ra
+ Phần nội dung chính: là phần quan trọng nhất của chỉ thị, thường nhấn mạnh tầm quan trọng và yêu cầu đối với các cơ quan, đơn vị liên quan trong việc giải quyết, thi hành nhiệm vụ đề ra
+ Phần kết luận: thường nêu yêu cầu về chế độ thông tin, báo cáo của các cơ quan, đơn vị với cấp có thẩm quyền
Vì chỉ thị là một văn bản chỉ đạo, điều hành nên phải viết rất cụ thể, chính xác; tư tưởng chỉ đạo phải dứt khoát, thể hiện được tính nguyên tắc, sự đòi hỏi về hiệu lực thi hành, đồng thời tạo điều kiện cho cấp dưới vận dụng sáng tạo, linh hoạt trong xử lý những tình huống cụ thể
Trong chỉ thị thường xuất hiện các từ ngữ thể hiện sự khẳng định, bắt
buộc như: yêu cầu, cần, cần có, cần phải, trách nhiệm, có nhiệm vụ,
1.7 Tiểu kết chương 1
Chương 1 của Luận văn đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận quan trọng liên quan trực tiếp đến nội dung của đề tài Những vấn đề lý luận được cụ thể hóa đó là:
(1) Hành động nói Theo tác giả Diệp Quang Ban, hành động nói là
“một hành động được thực hiện trong việc nói ra một cái gì đó, như tạo một lời hứa, nêu một câu hỏi, đặt một cái tên” [3, tr 89]
nhà Ngôn ngữ học, luận văn đề cập đến 4 điều kiện sử dụng hành động nói, gồm: điều kiện về nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành
và điều kiện căn bản Trên thực tế, bốn điều kiện trên đây không đồng thời có mặt trong tất cả các hành động nói và được sử dụng khác nhau trong các hành
Trang 29động nói cụ thể khác nhau, thậm chí có điều kiện không có mặt trong một kiểu hành động nói nào đó
(3) Khái niệm về hành động tái hiện và hành động điều khiển Hành động tái hiện là hành động nói trình bày những gì mà người nói tin là đúng Hành động điều khiển là hành động nói mà người nói dùng để làm cho người nghe thực hiện một việc gì đó
(4) Khái niệm về biểu thức ngữ vi và phát ngôn ngữ vi Biểu thức ngữ
vi là kiểu cấu trúc ứng với một phát ngôn ngữ vi Phát ngôn ngữ vi là sản phẩm của một hành động ở lời nào đó khi hành động này được thực hiện một cách trực tiếp chân thực Có hai loại phát ngôn ngữ vi là phát ngôn ngữ vi tường minh và phát ngôn ngữ vi nguyên cấp Căn cứ để xác định phát ngôn ngữ vi tường minh hay phát ngôn ngữ vi nguyên cấp là có hay không có sự xuất hiện của động từ ngữ vi
xét về khái niệm, thể loại, chức năng của văn bản hành chính và yêu cầu đối với văn bản hành chính
(6) Đặc điểm của văn bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị Khái niệm, thể
thức và vai trò của 3 loại văn bản này là những nội dung được đề cập đến trong phần cuối cùng của Chương 1
Các vấn đề lý luận được đưa ra xem xét trên đây là những căn cứ khoa
hiện và hành động cầu khiến trong văn bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị của
Huyện ủy An Dương, thành phố Hải Phòng
Trang 30Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HÀNH ĐỘNG TÁI HIỆN TRONG VĂN BẢN
BÁO CÁO, CÔNG VĂN, CHỈ THỊ CỦA HUYỆN ỦY AN DƯƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Hành động tái hiện (HĐTH) là một trong 5 loại hành động chủ đạo theo
sự tình để người tiếp nhận nắm bắt được thông tin nhất định về người hay sự vật,
sự việc, hiện tượng được nói đến
Qua khảo sát, có 97/186 văn bản có sử dụng HĐTH, chiếm tỷ lệ 52,1% Những hành động đó chủ yếu là nêu lại những văn bản chỉ đạo của Trung ương, Thành ủy và Huyện ủy về một lĩnh vực nào đó hoặc tình hình thực hiện các nhiệm vụ, công tác của Đảng bộ, chính quyền, các ban, ngành đoàn thể huyện để làm cơ sở cho việc tổng hợp, báo cáo, kết luận hoặc chỉ đạo, giao nhiệm vụ, Điều đó cho thấy, việc tổng hợp, báo cáo, kết luận, chỉ đạo của Thường trực, Ban Thường vụ Huyện ủy đều được căn cứ, xem xét trên cơ sở
sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, Thành ủy hoặc tình hình thực tế đang diễn ra trên địa bàn huyện về một lĩnh vực, một mặt công tác nào đó, theo quan điểm “nói có sách, mách có chứng” Với ý nghĩa và tác dụng như vậy nên trong đa số các văn bản của Huyện ủy An Dương đã sử dụng HĐTH làm tăng thêm tính logic, tính khách quan, chân lý của vấn đề được nêu ra, từ đó làm tăng thêm hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Thường trực, Ban Thường vụ Huyện ủy
Trên cơ sở những vấn đề lý luận đã được đề cập ở Chương 1, Chương 2
đặc điểm của BTNV và PNNV của HĐTH trong các văn bản Báo cáo, Công
văn, Chỉ thị của Huyện ủy An Dương, thành phố Hải Phòng
Trang 312.1 Đặc điểm của biểu thức ngữ vi và phát ngôn ngữ vi của hành
động tái hiện trong văn bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị của Huyện ủy An
Dương, thành phố Hải Phòng
2.1.1 Biểu thức ngữ vi của HĐTH trong văn bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị của Huyện ủy An Dương, thành phố Hải Phòng
Như Chương 1 đã đề cập, BTNV là kiểu cấu trúc ứng với một PNNV
Từ khái niệm trên, có thể suy luận ra biểu thức ngữ vi của HĐTH là công thức nói năng đặc thù, cốt lõi của PNNV thực hiện HĐTH Trong đó BTNV tái hiện bao gồm biểu thức ngữ vi tái hiện tường minh (BTNVTHTM) và biểu thức ngữ vi tái hiện nguyên cấp (BTNVTHNC) BTNVTHTM là biểu thức ngữ vi tái hiện có sử dụng động từ ngữ vi, BTNVTHNC là biểu thức ngữ vi tuy vẫn có hiệu lực ngữ vi tái hiện nhưng không sử dụng động từ ngữ vi Như vậy, để khẳng định biểu thức đó là BTNVTHTM hay BTNVTHNC thì căn cứ vào biểu thức đó có hay không có sự xuất hiện của động từ ngữ vi
2.1.1.1 Biểu thức ngữ vi tái hiện tường minh
Dựa theo mô hình của Ross, BTNVTHTM được xác định với cấu trúc
điển hình sau đây:
+/- Sp1 + động từ ngữ vi +/- Sp2 + Nội dung mệnh đề
Qua mô hình cho thấy:
- Một BTNVTHTM có cấu trúc đầy đủ gồm 4 thành tố: Sp 1 (người phát ngôn); động từ ngữ vi; Sp2 (người tiếp nhận) và nội dung mệnh đề
- Thành tố Sp1 và Sp2 có thể có mặt hoặc không có mặt trong BTNVTHTM
Ví dụ:
Trang 32Ban Tổ chức Thành
ủy
xét tặng Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng trước thời hạn cho các đồng chí đảng viên sau: ( )
[175, tr.1]
Biểu thức trên có sự xuất hiện của 04 thành tố là Sp1 (Huyện ủy
An Dương), động từ ngữ vi (báo cáo, đề nghị), Sp2 (Ban Tổ chức Thành ủy)
và nội dung mệnh đề (xét tặng Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng trước thời hạn cho
[38, tr.1]
Biểu thức trên có sự xuất hiện của 3 thành tố là Sp1 (Huyện ủy
An Dương), động từ ngữ vi (báo cáo) và nội dung mệnh đề (kết quả 04 năm
thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh” của Đảng bộ huyện như sau:(…))
Qua khảo sát 97 HĐTH trong các văn bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị
của Huyện ủy An Dương, có 59 hành động có BTNVTHTM, chiếm tỷ lệ
60,8% Đây là một tỷ lệ tương đối lớn phản ánh thực tế mức độ sử dụng biểu
thức này trong các phát ngôn của Huyện uỷ An Dương
Trang 33Sau đây là việc xem xét từng thành tố trong mô hình cấu trúc của
BTNVTHTM ở văn bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị của Huyện ủy
An Dương, thành phố Hải Phòng:
a Vị trí thứ nhất: Sp 1
Xét về mặt cương vị, Sp1 trong BTNVTHTM là chủ thể phát ngôn,
đồng thời cũng chính là chủ thể của HĐTH (tức là chủ thể cung cấp thông tin)
là Huyện ủy hoặc Ban Thường vụ Huyện ủy An Dương
Xét về mặt cấu tạo, SP1 luôn phải ở ngôi thứ nhất và là một danh từ
hoặc cụm danh từ chỉ tên cơ quan là Huyện ủy hoặc Thường trực Huyện ủy,
Ban Thường vụ Huyện ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, Văn phòng Huyện
ủy An Dương Kết quả khảo sát phương tiện ngôn ngữ biểu hiện Sp được tổng
hợp bằng bảng sau:
Bảng 2.1
Bảng thống kê phương tiện ngôn ngữ biểu hiện Sp1 trong BTNVTHTM ở
các văn bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị của Huyện ủy An Dương, thành
Trang 34Qua kết quả thống kê cho thấy, chủ thể của phát ngôn đồng thời là chủ
thể của HĐTH là cụm danh từ Ban Chấp hành Đảng bộ huyện xuất hiện với
tỷ lệ cao nhất là 66,1% và thường là chủ thể của các báo cáo sơ, tổng kết việc
thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên; cụm danh từ Văn phòng Huyện
ủy xuất hiện với tỷ lệ thấp nhất là 1,7% Trong trường hợp Sp1 là cụm danh từ
Ban Chấp hành Đảng bộ huyện xuất hiện với tỷ lệ cao nhất là do xuất phát từ
vai trò và chức năng của cơ quan này được quy định rõ trong Điều lệ Đảng
Cộng sản Việt Nam Theo Điều lệ Đảng quy định, Ban Chấp hành Đảng bộ
huyện là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội đại biểu Đảng bộ huyện, có
chức năng lãnh đạo việc thực hiện nghị quyết của đại hội đại biểu, nghị quyết,
chỉ thị của cấp trên Do vậy, đối với những BTNVTHTM dùng để báo cáo kết
quả thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Thành ủy, Ban Chấp
hành Đảng bộ huyện luôn xuất hiện với tư cách là chủ thể của hành động báo
cáo nên có tần suất khá cao Chủ thể là Văn phòng Huyện ủy xuất hiện với tỷ
lệ thấp nhất là do trong một số ít trường hợp thừa lệnh để thông báo các nội
dung ý kiến chỉ đạo, giao nhiệm vụ của Ban Thường vụ Huyện ủy hoặc
Thường trực Huyện ủy
Về tính bắt buộc hiển thị bề mặt phát ngôn, trong tất cả BTNVTHTM
luôn có sự xuất hiện của chủ thể phát ngôn và đồng thời là chủ thể của hành
động tái hiện là Huyện ủy và Ban Thường vụ Huyện ủy Sau đây là kết quả
khảo sát tần số xuất hiện của thành tố Sp1 trong các BTNVTHTM như sau:
Bảng 2.2: Bảng thống kê sự có mặt, tỉnh lược thành tố Sp1 trong BTNVTHTM ở
văn bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị của Huyện ủy An Dương,
Trang 35Kết quả thống kê cho thấy, tất cả BTNVTHTM đều có sự xuất hiện của chủ thể phát ngôn Chủ thể đó là Huyện ủy An Dương, Ban Thường vụ Huyện ủy An Dương Điều đó cho thấy, Huyện ủy An Dương, Ban Thường
vụ Huyện ủy An Dương - chủ thể của HĐTH luôn xuất hiện để thể hiện tính trang trọng, lịch sự trong các phát ngôn và sự tôn trọng người hoặc cơ quan tiếp nhận phát ngôn Hay nói cách khác, Huyện ủy hoặc Ban Thường vụ Huyện ủy An Dương luôn xuất hiện trong các HĐTH để báo cáo sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, kết luận, của Trung ương, Thành
ủy hay một lĩnh vực công tác nào đó của Huyện ủy; hoặc nêu các ý kiến chỉ đạo, giao nhiệm vụ đối với UBND huyện, các phòng, ban, ngành, đoàn thể huyện và Đảng ủy các xã, thị trấn về một công việc cụ thể
b Vị trí thứ hai: động từ ngữ vi
Như chương 1 đã khẳng định, động từ ngữ vi là những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng với biểu thức ngữ vi là người nói thực hiện luôn cái hành động ở lời do chúng biểu thị Một động từ được xem là động từ ngữ vi khi có đủ 3 điều kiện: Người phát ngôn phải là ngôi thứ nhất, số ít và người tiếp nhận hành động ở lời phải là ngôi thứ hai; động từ luôn ở thì hiện tại;
trước động từ không có các phụ từ tình thái như: không, chưa, chẳng, đã, sẽ,
đang, sắp, vừa, mới,
Động từ ngữ vi đóng vai trò là một trong những phương tiện chính yếu đánh dấu hiệu lực ngữ vi của phát ngôn, đồng thời cũng là cơ sở quan trọng
để phân biệt BTNVTM và biểu thức ngữ vi nguyên cấp (BTNVNC)
Có thể nói, hệ thống động từ chỉ hoạt động nói năng biểu hiện hành động tái hiện trong tiếng Việt là khá phong phú Tuy nhiên, đối với các thể loại văn bản của Đảng, nhất là báo cáo, do tính chất công vụ, thiên về lí trí của loại văn bản này nên chỉ cho phép sử dụng các động từ ngữ vi tái hiện có
sắc thái trang trọng như: báo cáo, tường trình, trình bày, thông tin, thông báo,
khai, kê khai, khai báo, giải thích, hướng dẫn, giới thiệu, nhận định, nhận xét, đánh giá, tổng hợp, tổng kết ; không sử dụng các động từ ngữ vi tái hiện
mang tính khẩu ngữ hoặc tính biểu cảm cao như: mách, kể, tâu, phô bày,
giảng giải,
Trang 36Ví dụ:
Thực hiện Công văn số 4934-CV/BTCTU ngày 02/11/2010 của Ban Tổ chức Thành ủy về việc báo cáo tình hình, kết quả thực hiện Nghị quyết số 22- NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng và chất lượng đội ngũ cán
bộ, đảng viên”, Ban Thường vụ Huyện ủy báo cáo tình hình thực hiện Nghị
quyết của Trung ương như sau: ( ) [39, tr 1]
Sau đây là bảng thống kê tần số xuất hiện của các động từ ngữ vi trong
BTNVTM:
Bảng 2.3:
Bảng thống kê tần số xuất hiện của các động từ ngữ vi trong
BTNVTM ở các văn bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị của Huyện ủy
Trang 37c Vị trí thứ ba: Sp2
Về mặt cấu tạo, Sp2 được hiện thực hóa bằng danh từ hoặc cụm danh từ chỉ tên cơ quan, tổ chức hay chức danh pháp lý của đối tượng tiếp nhận thông tin (các chi, đảng bộ trực thuộc Huyện ủy) và luôn phải ở ngôi thứ hai (số ít hoặc số nhiều)
Về mặt cương vị, Sp2 là người hay chủ thể tiếp nhận phát ngôn, đồng thời cũng chính là đối tượng được cung cấp, thụ hưởng thông tin từ Sp1 Ở đây, Sp2 là cơ quan, tổ chức cấp trên (Thành ủy Hải Phòng) hay cơ quan, tổ chức cấp dưới (các chi, đảng bộ trực thuộc Huyện ủy) hoặc cá nhân (các đồng chí lãnh đạo)
Ví dụ:
Huyện uỷ An Dương báo cáo và đề nghị Ban Tổ chức Thành uỷ xét
tặng Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng trước thời hạn cho các đồng chí đảng viên sau: ( ) [ 175, tr.1]
Ở ví dụ trên, Huyện ủy An Dương (Sp1) đã thực hiện hành động báo cáo với Ban Tổ chức Thành ủy (Sp2) - là cơ quan tham mưu cho Ban Thường
vụ Thành ủy về công tác tổ chức, cán bộ Cụ thể ở đây, Huyện ủy An Dương
đã báo cáo với Ban Tổ chức Thành ủy về việc tặng huy hiệu đảng trước thời hạn cho các đồng chí đảng viên bị bệnh nặng, có thể bị mất trước khi đến thời hạn trao tặng huy hiệu đảng (được quy định trong Hướng dẫn số 01-HD/TW
về hướng dẫn một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng)
Sau đây là kết quả khảo sát thành tố Sp2 trong các BTNVTHTM ở Báo
cáo, Công văn, Chỉ thị của Huyện ủy An Dương:
Trang 38Bảng 2.4:
Bảng thống kê sự có mặt - tỉnh lược thành tố Sp2 trong BTNVTHTM
ở các văn bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị của Huyện ủy An Dương,
Qua khảo sát các BTNVTHTM trong Báo cáo, Công văn, Chỉ thị của
Huyện ủy An Dương, kết quả cho thấy có 58/59 BTNVTHTM bị tỉnh lược
cho phép tỉnh lược thành tố này là do có sự xuất hiện của thành phần thể thức
Nơi nhận trong văn bản Như ví dụ tại Báo cáo số 10-BC/HU ngày
13/12/2010 của Ban Thường vụ Huyện ủy An Dương về tình hình kết quả thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X)
về “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng và
chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”, phần Nơi nhận đã ghi rõ:
Ví dụ:
Nơi nhận:
- Thường trực Thành uỷ “để báo cáo”;
- Ban Tổ chức Thành uỷ “để báo cáo”;
- Thường trực Huyện ủy;
- Các Ban xây dựng Đảng, Văn phòng Huyện uỷ;
- Lưu VPHU [39, tr 7]
Như vậy, trong BTNVTHTM, thành tố Sp2 có thể được tỉnh lược để đảm bảo tính ngắn gọn cho văn bản Mặc dù bị tỉnh lược nhưng dựa vào ngữ
Trang 39cảnh văn bản, hoàn toàn có thể khôi phục lại thành tố này, do đó nội dung
thông tin vẫn rõ ràng, tường minh
Về hình thức cấu tạo, Sp2 luôn ở ngôi thứ hai (số ít hoặc số nhiều) và
được hiện thực hóa bằng danh từ hoặc cụm danh từ chỉ tên cơ quan, tổ chức
hay chức danh pháp lý của đối tượng tiếp nhận thông tin và khi đó tư cách
pháp lý cũng như vị thế xã hội của Sp2 và Sp1 cũng được nhấn mạnh
Sau đây là bảng thống kê số liệu phương tiện ngôn ngữ biểu hiện thành
tố Sp2 trong BTNVTHTM ở các văn bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị của
Huyện ủy An Dương, thành phố Hải Phòng:
Bảng 2.5: Bảng thống kê phương tiện ngôn ngữ biểu hiện thành tố Sp2 trong
BTNVTHTM ở các văn bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị
của Huyện ủy An Dương, thành phố Hải Phòng
Qua khảo sát 59 BTNVTHTM (trong đó có cả 58 biểu thức được khôi
phục thành tố Sp2 từ thành phần thể thức Nơi nhận của văn bản) có 115
phương tiện ngôn ngữ biểu hiện thành tố Sp2 Trong đó có 89,6% là danh từ
chỉ tên cơ quan, tổ chức tiếp nhận văn bản, gồm Thường trực Thành ủy, các
Ban và Văn phòng Thành ủy, Thường trực Huyện ủy, Ban Thường vụ Huyện
ủy, các Ban và Văn phòng Huyện uỷ, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện,
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân huyện, các chi đảng bộ trực thuộc
Huyện ủy Có 10,4% là danh từ chỉ chức danh pháp lý của các đồng chí lãnh
đạo là Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện hoặc Ủy viên Ban Thường vụ
Huyện ủy Như vậy, có thể thấy, chủ thể tiếp nhận các văn bản của Huyện ủy
Trang 40An Dương không chỉ là một tổ chức hay một cơ quan, cá nhân đồng chí cán
bộ nào mà có nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân cùng tiếp nhận Điều đó cũng lý giải vì sao thành tố này không được nêu trong BTNVTHTM mà tỉnh lược đi cho đảm bảo tính ngắn gọn của văn bản
d Vị trí thứ tư: Nội dung mệnh đề
Nội dung mệnh đề trong BTNVTHTM nêu ra những thông tin về sự vật, sự việc, hiện tượng được nói đến Như vậy, thông tin được cung cấp (do Sp1 cung cấp cho Sp2) ở phần nội dung mệnh đề là khá phong phú, đa
dạng nhưng phải có liên quan đến hoạt động quản lý của cơ quan, tổ chức
Kết quả khảo sát các ngữ liệu cho thấy, có 100 % BTNVTHTM có sự xuất hiện của thành phần nội dung mệnh đề Điều đó nói lên vai trò trọng yếu của thành phần này trong BTNVTHTM
Về mặt cấu tạo, vì tính chất của phần nội dung mệnh đề trong BTNVTHTM là phản ánh về sự vật, sự việc, hiện tượng được nói đến, cho nên nó thường có cấu tạo là cụm từ hoặc câu, thậm chí cả chuỗi câu hay trường cú với nhiều phần, đoạn khi mà nội dung mệnh đề phản ánh nhiều sự vật, sự việc, hiện tượng hoặc phản ánh một sự vật, sự việc, hiện tượng nhưng
có nhiều tính chất, hoạt động phức tạp Kết quả khảo sát cấu tạo của phần nội
dung mệnh đề trong BTNVTHTM ở các văn bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị
của Huyện ủy An Dương, thành phố Hải Phòng như sau:
Bảng 2.6:
Bảng thống kê cấu tạo của thành tố nội dung mệnh đề trong
BTNVTHTM ở các văn bản Báo cáo, Công văn, Chỉ thị
của Huyện ủy An Dương, thành phố Hải Phòng Stt Cấu tạo nội dung mệnh đề Tần số Tỷ lệ