Hình thức TTM thực sự có hiệu quả bởi tư liệu để tuyên truyền là các chỉ thị, nghị quyết trực tiếp của cấp trên hoặc đã được thể hiện trên các cơ quan ngôn luận của trung ương hay địa ph
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
_
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA BÁO CÁO VIÊN
TRONG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN MIỆNG
THUỘC ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
( Khảo sát từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 6 năm 2016 )
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Kim Bảng
HẢI PHÒNG - 2017
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc
Hải Phòng, ngày 18 tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong Tổ ngôn
ngữ, Khoa Ngữ văn – Địa lý, Phòng quản lí sau đại học Trường Đại học Hải Phòng
Tác giả đặc biệt biết ơn sâu sắc tới Phó Giáo sư - Tiến sĩ Vũ Kim Bảng, viện
Ngôn ngữ học Việt Nam, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, khích lệ tôi học tập,
nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo cơ quan Quận ủy Lê Chân
và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt để tôi yên tâm học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn
Xin được cảm ơn sự động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè- những người ủng
hộ tôi về mặt tinh thần trong quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù đã đã nỗ lực cố gắng nhưng luận văn của tôi không tránh khỏi những
thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các nhà khoa học, các thầy giáo cô giáo
và những người quan tâm đến đề tài
Xin trân trọng cảm ơn!
Hải Phòng, ngày 18 tháng 12 năm 2016
Người thực hiện
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do lựa chọn đề tài nghiên cứu……… 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ……….……… 2
2.1 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ báo chí nói chung……….…… ……… 2
2.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ của báo cáo viên trong tuyên truyền miệng (báo nói) thuộc Đảng bộ Hải Phòng 6
3 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 6
3.1 Mục tiêu……… ……….… 6
3.2 Nhiệm vụ……….….… .6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… … 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu……….………… 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu……… … .7
5 Phương pháp nghiên cứu……… ……… ………… 7
6 Cấu trúc của luận văn……… …… .7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN……… .9
1.1 Tổng quan về báo chí Việt Nam 9
1.1.1 Sơ lược về lịch sử phát triển của báo chí Việt Nam 9
1.1.2 Các thể loại báo chí tiêu biểu………… 12
1.2 Những vấn đề ngôn ngữ của báo chí 20
1.2.1 Phong cách ngôn ngữ báo chí……… 20
Trang 51.2.3 Sự khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ giữa báo nói và báo viết……… … .25
1.2.4 Mối quan hệ giữa văn bản viết và văn bản nói trong tuyên truyền miệng 27
1.3 Tiểu kết Chương 1……… 34
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ VIẾT CỦA BÁO CÁO VIÊN TRONG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN MIỆNG THUỘC ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG……….…… 35
2.1 Các lớp từ báo cáo viên sử dụng trong công tác tuyên truyền miệng xét về nguồn gốc……… 36
2.1.1 Lớp từ thuần Việt……… .36
2.1.2 Lớp từ vay mượn……… 39
2.2 Các lớp từ báo cáo viên sử dụng trong công tác tuyên truyền miệng xét về phạm vi sử dụng……… 43
2.2.1 Từ toàn dân……… 43
2.2.2 Từ ngữ địa phương (Hải Phòng)……… …… .….…45
2.2.3 Từ ngữ chuyên môn……… ……….…… … …47
2.3 Tiểu kết chương 2 50
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NÓI CỦA BÁO CÁO VIÊN TRONG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN MIỆNG THUỘC ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 52
3.1 Đặc điểm nhịp của báo cáo viên trong công tác tuyên truyền miệng… … .52
3.1.1 Khái niệm nhịp……… 52
3.1.2 Đặc điểm nhịp của báo cáo viên trong tuyên truyền miệng…… 53
3.1.3 Kiến nghị về cách ngắt nhịp của báo cáo viên trong công tác tuyên truyền miệng 63
3.2 Các khuôn mẫu ngôn từ thường được báo cáo viên sử dụng trong công tác tuyên truyền miệng……… 64
Trang 6truyền miệng……… 65
3.2.2 Các khuôn mẫu ngôn từ trong phần thân bài của văn bản tuyên truyền miệng……… 66
3.2.3 Các khuôn mẫu ngôn từ trong phần kết luận của văn bản tuyên truyền miệng……… .70
3.3 Các yếu tố phi ngôn ngữ đi kèm ngôn ngữ nói của báo cáo viên trong công tác tuyên truyền miệng……… 71
3.3.1 Yếu tố không gian, thời gian……… …… ….…71
3.3.2 Cử chỉ, điệu bộ và biểu cảm của báo cáo viên trong công tác tuyên truyền miệng……… …….72
3.3.3 Kiến nghị về các yếu tố phi ngôn ngữ đi kèm ngôn ngữ nói của báo cáo viên trong công tác tuyên truyền miệng……… … .… 73
3.4 Tiểu kết chương 3 73
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC … ……
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCV Báo cáo viên
TTM Tuyên truyền miệng
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài nghiên cứu
1.1 Trong sự đa dạng của các phương tiện truyền thông hiện đại (báo viết, báo nói, báo hình và báo điện tử) đang phát triển vượt bậc cả về mặt số lượng và
chất lượng trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam thì tuyên truyền miệng (TTM)
được coi là dạng thức truyền thông đặc biệt mang tính truyền thống, hiệu quả và được sử dụng nhiều trong các buổi phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước; các lớp tập huấn chính trị, phổ biến nghị quyết ở các cấp xã phường Hình thức TTM thực sự có hiệu quả bởi tư liệu để tuyên truyền là các chỉ thị, nghị quyết trực tiếp của cấp trên hoặc đã được thể hiện trên các cơ quan ngôn luận của trung
ương hay địa phương (truyền thông, báo chí) Báo cáo viên (BCV) trong TTM phải
là người nắm vững các nội dung của văn bản viết sau đó sử dụng lời nói của mình
để truyền đạt những nội dung đó trực tiếp cho người nghe Do vậy, có thể nói, TTM
là hình thức tuyên truyền trực tiếp, hiệu quả có thể trình bày toàn diện và phân tích sâu sắc các vấn đề cần diễn đạt, thông báo cho người nghe, thông qua đó cung cấp
và định hướng thông tin cho các đối tượng khác nhau trong xã hội TTM là một hình thức truyền thông đặc thù được Đảng và Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sử dụng thường xuyên, liên tụcvà đạt được những thành tựu to lớn trong
sự nghiệp chống ngoại xâm và xây dựng đất nước
1.2 So với các loại hình truyền thông, báo chí khác, TTM có những đặc thù:
TTM là hoạt động giao tiếp thực hiện được chức năng thông tin hai chiều trực tiếp thông qua cơ chế đối thoại giữa người nói tức là các BCV với người nghe
(công chúng) Người nói không chỉ truyền đạt một cách chủ quan một chiều (độc thoại) những vấn đề cần tuyên truyền, giải thích mà còn lắng nghe những ý kiến thắc mắc; trả lời những vấn đề mà người nghe đang quan tâm; tiếp thu và phản ánh kịp thời những ý kiến đóng góp của người nghe
TTM không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật, nghệ thuật nói, nghệ thuật diễn đạt, tác động vào lòng người một cách truyền cảm, tự giác, nhằm giải đáp những vấn đề bức xúc của thực tiễn đời sống, định hướng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân Chính vì vậy mà ngày nay, thời đại bùng nổ thông tin và mặc dù có nhiều phương tiện thông tin mới hiện đại ra đời, nhưng không có phương tiện truyền thông nào có thể
Trang 10thay thế được tuyên truyền miệng, một phương thức tuyên truyền có lịch sử lâu đời nhất,
có sức sống bền vững, gắn liền với truyền thống công tác tư tưởng, tuyên truyền vận động cách mạng của Đảng và của nhân dân ta
TTM còn là một "kiểu" tuyên truyền tổng hợp, kết hợp được ngôn ngữ nói với biểu cảm, phong cách, thái độ được thể hiện trên nét mặt, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười Nét mặt, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười là một loại "ngôn ngữ thầm", nếu được kết hợp chặt chẽ với ngôn ngữ nói sẽ có sức truyền cảm lớn mà chỉ những người làm công tác tuyên truyền miệng mới thực hiện được Người nghe cảm thụ được niềm vui, nỗi buồn, sự mỉa mai, thái độ kiên quyết, niềm tin mãnh liệt từ báo cáo viên, làm cho hiệu quả trong công tác tuyên truyền nâng lên rất nhiều Chẳng những nó tạo ra mối quan hệ đồng cảm, gần gũi giữa người nói với người nghe mà còn để lại trong người nghe những ấn tượng sâu sắc về một phong cách, "cái duyên", sức hấp
dẫn của mỗi con người Theo Lênin: “Khi được thuyết trình công khai, ta nói với quần chúng, tiếp xúc trực tiếp với họ, được nhìn thấy họ, làm quen với họ và ảnh hưởng tới họ theo kiểu của mình” [57, tr.36]
Từ những tiền đề đã trình bày trên nêu trên, chúng tôi tiến hành khảo sát,
nghiên cứu đề tài luận văn: “Đặc điểm ngôn ngữ của báo cáo viên trong công tác tuyên truyền miệng thuộc Đảng bộ Thành phố Hải Phòng” (khảo sát trong giai đoạn từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 6 năm 2016) Luận văn góp phần quan trọng
giúp đội ngũ báo cáo viên sử dụng hiệu quả ngôn ngữ, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền miệng của Đảng bộ Thành Phố Hải Phòng
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ báo chí nói chung
Ở Việt Nam đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí nói chung và ngôn ngữ báo cáo viên trong công tác tuyên truyền miệng nói riêng
Các công trình này đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau, theo các hướng khác nhau, song có thể khái quát thành 2 nhóm nghiên cứu sau:
Thứ nhất là nhóm tác giả đề cập tới báo chí một cách chung chung, khái quát
trên diện rộng, lướt qua các vấn đề nhưng không đi sâu vào một vấn đề nào cụ thể
(ngôn ngữ trên một dạng báo cụ thể: báo in, báo điện tử, …) như: Một số vấn đề về
sử dụng ngôn từ trên báo chí (Hoàng Anh), Ngôn ngữ báo chí (Vũ Quang Hào),…
Trang 11Trong cuốn sách Ngôn ngữ báo chí, tác giả Vũ Quang Hào nêu ra những vấn đề cơ
bản nhất của ngôn ngữ báo chí Sách này đề cập đến các nội dung như: ngôn ngữ chuẩn mực của báo chí, ngôn ngữ các phong cách báo chí, ngôn ngữ của tên riêng trên báo chí, ngôn ngữ của thuật ngữ khoa học, danh pháp khoa học, ký hiệu khoa học, chữ tắt và số liệu trên báo chí, ngôn ngữ tít báo, ngôn ngữ phát thanh…cho đến ngôn ngữ quảng cáo báo và quảng bá báo chí được tác giả trình bày và lý giải một cách cô đọng
Thứ hai là nhóm tập trung nghiên cứu ngôn ngữ theo hướng chuyên sâu, vào
một nội dung, một khía cạnh cụ thể (ngôn ngữ tít báo, ngôn ngữ của người dẫn chương trình, thuật ngữ trên báo chí, …)
Trong nhóm thứ hai, cũng đã có những nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí trên các bình diện khác như: các bình diện ngôn ngữ, phong cách ngôn ngữ, cấp độ ngôn ngữ,…
Xét trên bình diện ngôn ngữ, báo chí được quan tâm trên mọi phương diện:
từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ âm, ngữ dụng với mức độ nông – sâu, nhiều -ít khác nhau Cũng có thể thấy rằng tùy đặc trưng của mỗi thể loại báo mà người ta xem xét báo chí ở bình diện ngôn ngữ này nổi trội hơn bình diện ngôn ngữ khác
Về mặt từ vựng, các nghiên cứu báo chí tập trung đi vào việc sử dụng từ ngữ
trên báo chí sao cho chuẩn, cho hay Những vấn đề đã được nghiên cứu có thể kể đến: vấn đề sử dụng từ ngữ địa phương; sử dụng thành ngữ - tục ngữ - danh ngôn; chơi chữ; từ vựng nước ngoài – gốc nước ngoài; viết tên riêng (Việt, Anh); viết tắt;
tiếng lóng; thuật ngữ khoa học, danh pháp; … trên báo chí Ví dụ như: Vận dụng tục
ngữ, thành ngữ và danh ngôn trên báo chí (Nguyễn Đức Dân); Vài nhận xét về quá
trình tiêu chuẩn hóa tiếng Việt thể hiện qua cách dùng từ địa phương trong sách vở, báo chí trước và sau cách mạng Tháng tám (Hoàng Thị Châu); Chơi chữ trên báo chí (Hoàng Anh); Thực trạng cách viết tên riêng tiếng Anh trên báo chí Việt Nam hiện nay (Nguyễn Cảnh Phúc); Viết tắt trên báo chí hiện nay (Nguyễn Bảo); Thực
trạng sử dụng ngôn ngữ "lóng" trên văn bản dành cho giới trẻ hiện nay (Phạm Thị Thu Hoài); Cách khắc phục tình trạng lạm dụng từ ngữ (Đức Dũng)…
Về mặt ngữ pháp, có không nhiều các công trình xem xét báo chí trên
phương diện ngôn ngữ này Một số công trình đi vào miêu tả cấu trúc ngôn ngữ thể hiện trên một số kênh tin tức, sự phân bố từ loại trên báo chí…
Trang 12Về mặt ngữ nghĩa, nội dung ngữ nghĩa thường được xen/ kết hợp vào trong
các nghiên cứu về từ vựng: chữ và nghĩa trên báo chí, ngữ nghĩa của lớp từ mới,
chất liệu văn học trên báo chí: Đôi nét về chữ và nghĩa trên báo "Giáo dục và thời
đại chủ nhật" (Ngô Gia Thi); Việc sử dụng chất liệu văn học trong tác phẩm báo chí (Hoàng Anh); Bước đầu xem xét đặc điểm ngữ nghĩa của lớp từ mới tiếng Việt trên báo chí (Huỳnh Văn Tài)…
Về mặt ngữ dụng, xem xét ngôn ngữ báo chí trên bình diện dụng học là
một hướng nghiên cứu rất hấp dẫn và thú vị, thường hướng đến các thao tác nghề nghiệp – viết làm sao cho sâu sắc, hấp dẫn, hiệu quả cao Các nội dung nghiên cứu liên quan tới ngữ dụng có thể kể đến là: cách giật tít, chất hài trên báo chí, hiện tượng bất thường trên báo, xảo thuật ngôn từ và đánh tráo khái niệm, như:
Hiện tượng bất thường được xem như biện pháp hấp dẫn ngôn ngữ báo chí
(Hoàng Trọng Phiến); Món “khai vị” trong một bài báo (Trần Quang), Nhờ đâu tiêu đề bài viết có sức hấp dẫn (Hồ Lê)…
Về ngữ âm, có không nhiều các công trình nghiên cứu ngôn ngữ báo trên
bình diện này: dạng thức nói trên truyền hình, nguyên tắc đọc chữ tắt…như:
Dạng thức nói trên truyền hình (Nguyễn Bá Kỷ); Ngôn ngữ của người dẫn
chương trình truyền hình (Lê Thị Phong Lan); Ngôn ngữ của người dẫn chương trình trò chơi trên truyền hình (Hoàng Anh); Những kĩ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông đại chúng (Hoàng Anh); Ngôn ngữ truyền hình Việt Nam (Mai Thị Minh Thảo)
Xét về cấp độ ngôn ngữ, các nghiên cứu ngôn ngữ báo chí đã đề cập đến các
cấp độ: từ, ngữ, cú, câu, văn bản (diễn ngôn) Các trích dẫn, tít báo (tiêu đề báo), cách mở đầu, cách triển khai, cách kết thúc, cấu trúc tin, … đều đã được quan tâm
nghiên cứu, như: Nghiên cứu diễn ngôn về chính trị - xã hội trên tư liệu báo chí tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại (Nguyễn Hòa); Cấu trúc ngôn ngữ hiển thị trên một
số kênh tin tức nước ngoài (Nguyễn Đình Thuận)…
Xét về mặt phong cách ngôn ngữ, có thể thấy phong cách ngôn ngữ báo chí là
một trong số các phong cách chức năng ngôn ngữ, nó có những đặc điểm, quy phạm riêng phân biệt với các phong cách chức năng khác (phong cách ngôn ngữ hành chính, phong cách nghệ thuật, phong cách khoa học,…) Bên cạnh những điểm chung
Trang 13thuộc về phong cách báo chí thì mỗi thể loại báo chí lại có phong cách riêng, đặc thù:
xã luận, bình luận, tin (trong nước, quốc tế), thông cáo báo chí, phỏng vấn, phóng sự,
kí, phát thanh – truyền hình, tùy bút,… Với mỗi thể loại này, lại có những đề tài nghiên cứu ngôn ngữ chuyên về một thể loại, nhằm nêu bật lên đặc trưng ngôn ngữ/ phong cách từng thể tài Về mặt này có thể thấy có khá nhiều các công trình nghiên cứu ngôn ngữ nhìn từ hoạt động báo chí, song có thể chia làm 3 nhóm sau:
Nhóm thứ nhất gồm các thể loại mà để viết được, nhà báo cần phải phát hiện
và khai thác các vấn đề sự kiện trong thực tế, nói cách khác là nó phản ánh khách quan, trực tiếp các sự kiện, vấn đề có tính thời sự: tin, phóng sự, ghi nhanh, tường thuật, phỏng vấn, bài phản ánh, bài điều tra
Nhóm thứ hai gồm các thể loại tác phẩm được thể hiện bằng ngôn ngữ logic
lí luận là chủ yếu thông qua các tài liệu, thông tin trong kho trữ tư liệu để tạo nên tác phẩm: bình luận, xã luận, chuyên luận
Nhóm thứ ba gồm các thể loại kí nằm ở khoảng giao thoa giữa văn học và
báo chí Kí viết về người thật, việc thật, không cho phép hư cấu mà chỉ có sự suy
ngẫm, liên tưởng, thẩm định của nhà báo về sự việc được phản ánh: Ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm báo chí (Hoàng Anh); Ngôn ngữ phóng
sự báo chí (Phan Thảo Linh Chi); Ngôn ngữ thể loại tin trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay (Phạm Thị Mai)…
Ngoài ra, ngôn ngữ báo chí còn được quan tâm dưới góc độ của các ngành khoa học khác (liên ngành): tâm lý, xã hội, truyền thông,… Một số tác giả đi theo hướng nghiên cứu liên ngành trên đối tượng là báo chí, như: Ngôn ngữ phát thanh truyền hình nhìn từ góc độ tâm lý (Nguyễn Đức Tồn), Những kĩ năng sử dụng ngôn
ngữ trên truyền thông đại chúng (Hoàng Anh), Ngôn ngữ của người dẫn chương trình trên truyền hình (Hoàng Anh), Ngôn ngữ quảng cáo (Vũ Quang Hào)…
Bên cạnh việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trên báo chí, người ta cũng rất quan tâm tới các ngôn ngữ phi văn tự trên báo: ngôn ngữ phi văn tự - maquette, thông tin đồ họa,… Tuy nhiên, ngôn ngữ vẫn luôn là yếu tố quan trọng số một và là công cụ quan trọng nhất đối trong việc thực hiện chức năng truyền tin của báo chí Đây có thể xem là cơ sở soi rọi cho việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn sử dụng ngôn ngữ trên các báo chí hiện nay
Trang 142.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ của báo cáo viên trong tuyên truyền miệng (báo nói) thuộc Đảng bộ Hải Phòng
Nghiên cứu về báo nói nói riêng và báo chí Hải Phòng nói chung có thể kể
đến công trình do Sở Thông tin-Truyền thông chủ trì mang tên Đề án phát triển báo chí Hải Phòng đến năm 2020 Tuy nhiên, công trình này được nghiên cứu dưới góc
độ khoa học quản lý của Đảng và Nhà nước, chủ yếu nghiên cứu, phân tích, đưa ra những ý tưởng về mặt quy hoạch tổng thể các cơ quan báo chí, trong đó có báo nói
Đối với báo Hải Phòng nói chung và báo nói Hải Phòng nói riêng, vấn đề đặc điểm ngôn ngữ mới chỉ dừng lại ở các quy định, các trao đổi chuyên môn nghiệp vụ của nội bộ cơ quan báo Hải Phòng, trong đội ngũ phóng viên, phát thanh viên, biên tập viên
Năm 2013, lần đầu tiên có hai luận văn viết về đặc điểm ngôn ngữ báo chí
thể loại báo in và báo điện tử là: "Đặc điểm sử dụng từ ngữ mục chính trị, kinh tế trên báo Hải Phòng" của Bùi Văn Kiệm và "Đặc điểm sử dụng từ ngữ chuyên mục văn hóa, thể thao trên báo Điện tử Hải Phòng (khảo sát từ năm 2006 đến nay)" của
Hàn Ngọc Trang
Có thể nói đây là những nghiên cứu tiên phong về đặc điểm hình thức sử dụng
ngôn ngữ đáng ghi nhận trên báo Hải Phòng
3 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Luận văn đặt vấn đề trên cơ sở khảo sát thực trạng những đặc điểm ngôn ngữ
của BCV trong công tác TTM hay còn gọi là một hình thức đặc biệt của "báo nói"
trong cách sử dụng từ ngữ, cách sử dụng âm thanh, khuôn mẫu và những hình thức phi ngôn ngữ đi kèm trong các bài nói của BCV tuyên truyền miệng để từ đó đưa ra
một số giải pháp hướng tới những chuẩn mực chung cho BCV trong công tác TTM thuộc Đảng bộ Thành phố Hải Phòng Đồng thời, các kết quả nghiên cứu của luận văn mong muốn góp phần giữ gìn và phát triển tiếng Việt trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục tiêu này, luận văn này sẽ thực hiện các nội dung cụ thể sau:
- Chỉ rõ những đặc điểm sử dụng từ ngữ trong các văn bản viết (bản chuẩn bị
đề cương) của BCV sử dụng cho việc TTM;
Trang 15- Chỉ rõ những đặc điểm sử dụng âm thanh (cách ngắt nhịp và dùng các khuôn mẫu) và các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (cử chỉ, điệu bộ) khi các BBV trình bày trong quá trình TTM;
- Nêu ra những kinh nghiệm rút ra các về việc chuẩn bị văn bản và trình bày các bài TTM của BCV thuộc Đảng bộ Thành phố Hải Phòng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm ngôn ngữ của 25 văn bản viết và 4 văn bản nói tiếng Việt của BCV trong công tác TTM thuộc Đảng bộ Thành
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, luận văn cũng xem xét đến một số cứ liệu ngôn ngữ trên báo chí khác nhằm đối chiếu, so sánh để làm rõ hơn những vấn
đề có liên quan
5 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài những thao tác cơ bản như quan sát, sưu tập, lập luận theo các hướng quy nạp, diễn dịch luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân loại, thống kê;
- Phương pháp miêu tả, so sánh, đối chiếu
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các thủ pháp phân tích ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng, đối chiếu Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp được vận dụng linh hoạt tùy vào từng đối tượng cụ thể
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc
gồm ba chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến luận văn
Trang 16Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ viết của báo cáo viên trong công tác tuyên truyền miệng thuộc Đảng bộ Thành phố Hải Phòng
Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ nói của báo cáo viên trong công tác tuyên truyền miệng thuộc Đảng bộ Thành phố Hải Phòng
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 1.1 Tổng quan về báo chí Việt Nam
1.1.1 Sơ lược về lịch sử phát triển của báo chí Việt Nam
Báo chí của Việt Nam ra đời tương đối muộn Tờ báo in bằng chữ Quốc ngữ xuất hiện vào giữa thế kỉ XIX, khởi đầu là tờ Gia Định báo (ra số đầu tiên vào ngày 1/4/1865) Một dấu mốc quan trọng của lịch sử báo chí Việt Nam là sự kiện Báo Thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra số đầu tiên, khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam vào ngày 21/6/1925 Từ đó đến nay, báo chí Cách mạng Việt Nam không ngừng phát triển về số lượng, chất lượng và lực lượng những người làm báo Theo đề nghị của Hội Nhà báo Việt Nam, ngày 2-5-1985, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Quyết định số 52-QĐ/TƯ lấy ngày
21- 6 hằng năm là “Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam”
Tính từ năm 1865 đến nay, báo chí Việt Nam có chặng đường lịch sử phát triển trên hơn một thế kỉ nhưng nó đã thực sự đạt được nhiều thành tựu, với những dấu mốc đáng ghi nhớ
1.1.1.1 Giai đoạn từ trước năm 1930 đến Cách mạng tháng Tám 1945
Giai đoạn 1908-1918: Sau khi Thực dân Pháp xâm lược, phong trào đấu
tranh của nhân dân ta diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt trong thời gian này là sự phát triển của phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản như Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục
Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất bùng nổ (1914-1918), vì mục đích chính trị, người Pháp đã đề ra chủ thuyết mang tên mình nhằm mục đích: ca ngợi Thực dân Pháp, hạ thấp uy tín của nước Đức, chống lại Đức; dùng báo chí tiếng Việt và tiếng Pháp để cắt đứt mối liên hệ của Báo chí Việt Nam với Trung Hoa; đồng thời lôi kéo nhằm nô dịch tầng lớp tri thức Việt Nam mà chủ yếu là tri thức Bắc kỳ
Giai đoạn 1919-1930: Trong nước giai đoạn này xuất hiện nhiều Đảng phái
chính trị theo những khuynh hướng khác nhau và chính những tổ chức này đã khai sinh ra ở nước ta một dòng báo chí bí mật và cách mạng Các Đảng phái trên đều có
hệ thống báo chí riêng, các dòng báo chí đó luôn luôn đấu tranh với nhau để tuyên truyền và tập hợp lực lượng cho mình, khiến cho hoạt động báo chí ở nước ta trở nên
Trang 18khá sôi động Báo chí Việt Nam lúc này vì vậy mà chia thành 2 khuynh hướng khác nhau đó là phái ca ngợi tư tưởng Pháp- Việt đề huề và phái chống lại tư tưởng đó
Giai đoạn 1930-1936: Sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tạo ra
những thuận lợi nhất định cho sự phát triển của báo chí: Xác định phương hướng và đường lối phát triển, báo chí trở thành một vũ khí chiến đấu, tuyên truyền của Đảng… Tuy nhiên, sau cao trào Xô Viết- Nghệ Tĩnh, cuộc khủng bố trắng của thực dân Pháp đã khiến cho nước ta trong không khí u ám, hoang mang Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến báo chí khi một lực lượng lớn nhà báo mất tinh thần; báo chí hoạt động theo sự chỉ đạo của Nha mật thám Pháp; xuất hiện nhiều tờ báo có màu sắc mê tín dị đoan; sự xuất hiện của báo song ngữ và dòng văn thơ bi quan, tiêu cực
Giai đoạn 1936-1939: Thời kỳ này Đảng ta chuyển hướng đấu tranh, đưa ra
khẩu hiệu “Độc lập dân chủ”, chuẩn bị lực lượng, cơ sở vật chất cho việc làm báo; hội truyền bá chữ Quốc ngữ đẩy mạnh hoạt động giúp tăng nhanh lực lượng bạn đọc… Thực dân Pháp ban hành 40 văn bản về báo chí nhằm kiểm soát một cách khôn khéo Báo chí Việt Nam
Báo chí nước ta thời gian này phát triển tăng vọt về số lượng, là thời kì bùng
nổ nhiều thể loại báo chí mới Đọc báo trở thành một sinh hoạt tư tưởng không thể thiếu của phần đông người Việt
Giai đoạn 1939-1945: Toàn quyền Đông Dương ra hàng loạt văn bản nhằm
thủ tiêu những quyền lợi ta vừa giành được trong cuộc vận động Dân chủ 1939; mọi mối liên hệ với Đảng cộng sản, với các phong trào cách mạng tiến bộ đều
1936-bị cấm ngặt, báo chí Cách mạng phải đóng cửa…
Cách mạng tháng Tám thành công và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã mở ra kỉ nguyên độc lập dân tộc cho nước ta, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Báo chí
1.1.1.2 Giai đoạn từ 1945 đến năm 1954
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công với việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, báo chí Cách mạng Việt Nam có thời cơ phát triển mới đồng thời cũng nhận thêm những nhiệm vụ nặng nề Sự ra đời của Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam và hãng Thông tấn Quốc gia đã mang lại diện mạo mới cho hệ thống báo chí Cách mạng Việt Nam Cả hệ thống báo chí, đặc biệt là báo chí Cách
Trang 19mạng đã lên đường tiến hành kháng chiến chống Pháp Chính trong thử thách khắc
nghiệt đó, hàng loạt tờ báo đã ra đời như: Sự thật, Nhân dân, Văn nghệ, Quân đội
nhân dân, Đài tiếng nói Nam bộ, Nhân dân miền Nam Báo chí giai đoạn này
đã có những bước nhảy vọt trong việc chuyển tải nội dung thông tin, sự đổi mới hình thức trong mỗi trang báo; đặc biệt các thiết bị máy móc kĩ thuật được sử dụng nhiều hơn, nâng cao chất lượng cũng như tăng sức hấp dẫn cho tờ báo Thời gian này, báo chí đã trở thành một phương tiện chuyển tải thông tin quen thuộc và không thể thiếu đối với quần chúng nhân dân Từ năm 1945 đến năm 1954, báo chí Cách mạng Việt Nam đã hoàn thành sứ mạng của mình trong cuộc kháng chiến trường kì chống Pháp với chiến thắng Điện Biên Phủ oai hùng để tiếp tục gánh vác những nhiệm vụ mới của giai đoạn mới
1.1.1.3 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975
Trong thời kì từ 1954 đến 1975, báo chí Việt Nam đã có nhiều cơ hội để phát triển hơn những cũng đối mặt với không ít khó khăn, thách thức Hầu hết các tờ báo đều hướng tới mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc
Số lượng nhà báo cũng tăng lên đáng kể Trước thềm Đại hội lần thứ 3 của Hội Nhà báo Việt Nam 1962, riêng miền Bắc đã có 1500 nhà báo làm việc trong khoảng 120 cơ quan báo chí các loại
Báo chí đã trở thành động lực góp phần to lớn tạo dựng và tổ chức những phong trào thi đua, những cuộc vận động rầm rộ trong toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị như: Sóng Duyên hải, Gió đại phong,
Cờ ba nhất, Thanh niên ba sẵn sàng, Phụ nữ ba đảm đang…
Báo chí cách mạng ở miền Nam như “báo chí tiền phương” đã bám sát thực
tế chiến đấu, có mặt ngay tại các chiến hào, tại các mặt trận ác liệt để phản ánh kịp thời, sinh động cuộc chiến đấu của đồng bào ta Các nhà báo thực sự là các chiến sĩ
ra trận, vừa cầm súng, vừa cầm bút, cầm máy ảnh, máy quay phim…đóng góp xứng đáng vào chiến thắng chung của dân tộc
1.1.1.4 Giai đoạn từ 1975 đến nay
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, lần đầu tiên báo chí Việt Nam trở thành nền báo chí duy nhất của đất nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước Chính sách đổi mới của Đảng đã tạo những điều kiện thuận lợi để báo chí
Trang 20phát triển Chỉ trong khoảng 20 năm đổi mới, nền báo chí đã lớn lên cả chục lần, đã
có những bước phát triển chưa từng thấy về công nghệ và kĩ thuật, về quy mô ảnh hưởng cũng như trình độ tác nghiệp Ở một số mặt, báo chí đã bắt kịp trình độ phát triển hiện đại, hội nhập với khu vực và quốc tế
Ở Việt Nam, sự phát triển của hệ thống cơ quan truyền thông đại chúng hiện nay có thể nói là vô cùng lớn mạnh Theo đánh giá, thống kê trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng năm 2016:
- Về báo chí in: Hiện cả nước có 857 cơ quan báo chí (gồm 199 báo in, 658 tạp chí); 01 hãng thông tấn quốc gia – TTX VN;
- Về Phát thanh - truyền hình (báo nói, báo hình): Hiện cả nước có 67 đài PTTH (02 đài quốc gia là Đài Truyền hình VN, Đài Tiếng nói VN; 64 đài địa phương) Số kênh chương trình PTTH quảng bá là 183 kênh; kênh chương trình truyền hình trả tiền là 75 kênh
- Cả nước có khoảng 48.000 nhà báo, báo cáo viên, phóng viên được cấp thẻ hành nghề Điều này không chỉ cho thấy sự lớn mạnh của báo chí nước ta mà còn thấy được vai trò của báo chí trong việc thực hiện chức năng là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội và là diễn đàn của nhân dân
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra khẩn trương, sôi động, với sự tham gia hoạt động của nhiều lực lượng, trong đó báo chí có vai trò vô cùng quan trọng Đội ngũ nhà báo, báo cáo viên, phóng viên phải không ngừng rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn Cần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước đối với báo chí và hệ thống hội nhà báo các cấp, thực hiện giám sát đối với hoạt động báo chí Đồng thời, không ngừng tổng kết thực tiễn, đánh giá hoạt động, đúc rút kinh nghiệm qua mỗi chặng đường hoạt động
Đó là cơ sở cho việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ báo chí, những người sẽ kế tục sự nghiệp các thế hệ nhà báo cha anh, xây dựng nền báo chí Việt Nam phát triển lớn mạnh và hiện đại hơn
1.1.2 Các thể loại báo chí tiêu biểu
Cùng với sự phát triển của xã hội, báo chí ngày càng trở nên quan trọng trong đời sống, bởi nhu cầu về thông tin xã hội của người dân ngày càng lớn Sự phát triển của báo chí được đánh dấu một phần bởi sự phong phú và đa dạng khi thể
Trang 21hiện tin, bài dưới nhiều hình thức, các vấn đề được đề cập dưới nhiều góc độ, mức
độ giúp cho độc giả có điều kiện tiếp xúc với nhiều thông tin dưới nhiều hình thức khác nhau
1.1.2.1 Phân loại báo chí dựa vào nội dung
Năm 1995, trong cuốn sách Từ lí luận đến thực tiễn báo chí, tác giả Tạ
Ngọc Tấn đưa ra quan niệm, chia báo chí thành các thể loại: tác phẩm thông tin; loại tác phẩm chính luận; loại tác phẩm chính luận nghệ thuật Trong cuốn sách
Các thể loại báo chí, tác giả Trần Quang đề xuất cách chia: Nhóm thông tấn –
nhóm chính luận – nghệ thuật Trong bài viết Luận bàn về thể loại báo chí, tác
giả Đinh Hường cũng nêu lên quan niệm phân chia thể loại báo chí làm ba nhóm: nhóm các thể loại báo chí thông tấn, nhóm các thể loại báo chí chính luận, nhóm các thể loại chính luận nghệ thuật
Trên cơ sở đối tượng phản ánh chức năng và nhiệm vụ chúng tôi cho rằng, hệ thống thể loại báo chí nước ta gồm ba thể loại
Nhóm các thể loại thông tấn báo chí: nhóm này thể hiện nội dung thông tin
sự kiện thời sự, thông tin được thể hiện nhiều cách khác nhau nhưng đó đều có quan
điểm chung là phải đảm bảo tính xác thực Chúng ta biết rằng tin là thể loại tiêu
biểu của báo chí, nó không có sự xuất hiện của nhân vật, không có ngôn ngữ giàu hình ảnh
Nhóm các thể loại chính luận báo chí: Nhóm này có nhiệm vụ đánh giá, phân
tích, giải thích, bình luận về những sự thật của đời sống, thế mạnh của nó là năng lực thông tin lí lẽ Nhóm này không những có nhiệm vụ thông tin về sự thật mà còn nhằm hướng dẫn và điều chỉnh dư luận Trong nhóm này có các thể loại nhỏ như bình luận,
xã luận, điều tra, bài phê bình trong đó thể loại phê bình giữ vai trò là hạt nhân thể hiện cơ bản và sinh động nhất đặc điểm của nhóm
Nhóm các thể loại Tài liệu – nghệ thuật: Nhóm này mang đặc trưng không
hoàn toàn giống hai nhóm trên, nó có tính sinh động hơn, mô tả một cách có hình ảnh, có cảm xúc về những sự thật của đời sống Nhóm này phản ánh một cách linh hoạt kết hợp được đặc điểm bên ngoài và bên trong của báo chí Phóng sự được coi
là hạt nhân của nhóm này, ngoài ra nhóm này còn có các thể loại chất văn học như
Trang 22phỏng vấn chân dung, ký chính luận Một điều đáng chú ý là một dạng của tiểu phẩm cũng có thể xếp vào nhóm này
1.1.2.2 Phân loại báo chí dựa vào phương thức truyền thông
Sự ra đời và phát triển của báo chí không chỉ phụ thuộc vào nội dung thông tin giao tiếp mà còn phụ thuộc vào kĩ thuật công nghệ thông tin Trong thời đại ngày nay, sự phát triển của khoa học, kĩ thuật; các phương tiện in ấn và đặc biệt là công nghệ thông tin như kĩ thuật truyền phát sóng tín hiệu, máy thu thanh, thu hình, máy tính điện tử, cáp quang đến vệ tinh nhân tạo đã đem đến cho báo chí một diện mạo mới Do vậy, căn cứ vào kĩ thuật và phương thức thực hiện truyền thông, về cơ bản người ta chia truyền thông đại chúng thành 4 loại hình sau: báo in (báo viết); báo nói; báo hình và báo điện từ (internet) Dưới đây là một số đặc điểm đặc trưng của 4 loại hình báo chí gắn liền với phương thức truyền thông và đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong việc truyền tải thông tin của mỗi loại báo đó
a) Tuyên truyền miệng
Tuyên truyền miệng có lịch sử xuất hiện sớm nhất trong các loại hình báo mà
xã hội sử dụng Đó là một hình thức đặc biệt của tuyên truyền, được tiến hành thông
qua sự giao tiếp trực tiếp giữa người tuyên truyền với đối tượng tuyên truyền, chủ
yếu bằng lời nói trực tiếp
Những ưu thế đặc trưng của tuyên truyền miệng: là sự giao tiếp trực tiếp để cung cấp và trao đổi thông tin nên sử dụng được mọi ưu thế của giao tiếp trực tiếp
Có thể giải thích được những vấn đề mà vì một lý do nào đó không thể đưa công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng; tuyên truyền miệng qua hình thức đối thoại giữa người nói với người nghe, là một hình thức tuyên truyền dân chủ nhất, thực hiện được chức năng thông tin cả hai chiều, không mang tính áp đặt; tuyên truyền miệng có thể sử dụng triệt để nhất ưu thế của ngôn ngữ nói và "kênh" phi ngôn ngữ; có điều kiện và nhiều khả năng tiến hành một cách thường xuyên và rộng rãi ở nhiều nơi, trong các điều kiện khác nhau BCV có khả năng thích nghi với các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể để tiến hành nhiệm vụ tuyên truyền được giao
Những hạn chế của tuyên truyền miệng: lời nói có tính tuyến tính, chỉ đi một chiều, không quay trở lại Vì vậy, người nói cần thận trọng, người nghe cần chú ý nếu không, không lấy lại được lời đã nói và không nghe được lời BCV đã nói; phạm
Trang 23vi về không gian có giới hạn, do khả năng phát ra của lời nói trực tiếp (dù đã có phương tiện khuyếch đại) và khả năng tập hợp một số đông tại một địa điểm và thời điểm nhất định; dễ chịu tác động của các yếu tố ngoại cảnh do tập trung đông người
và ở các địa điểm khác nhau
b) Báo in (báo viết)
Báo in là những sản phẩm định kì chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội Báo in gồm hai bộ phận: báo và tạp chí Báo xuất hiện theo chu kì đều đặn và cố định (định kì), hằng ngày (nhật báo), thưa kì (2, 3, 4, 5 ngày một số), hằng tuần (tuần báo), nửa tháng (bán nguyệt san), hằng tháng (nguyệt báo) hằng tháng hay hai, ba tháng
Do báo in chuyển tải nội dung thông qua chữ in, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ,
bảng biểu…và công chúng tiếp nhận thông tin trên báo in qua thị giác (đọc báo) nên
báo in có những ưu điểm sau:
- Do chủ động về thời gian ra báo nên các thông tin trên báo in có chiều sâu, tính phổ cập cao; đảm bảo tính chính xác mà các loại hình báo khác khó có thể thay thế được Báo in giúp người đọc biết và hiểu rất rõ sự kiện
- Người đọc hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin: từ việc bố trí thời gian đọc, trình tự đọc, tốc độ đọc, cách thức đọc, nội dung mà mình quan tâm
- Việc lưu giữ báo in hết sức đơn giản và thuận tiện Do đó, nó trở thành nguồn tư liệu được lưu giữ lâu dài và nguyên bản, khi cần tra lại nội dung thông tin
gì, có thể mở xem lại
- Việc đọc báo cũng như đọc sách mang tính truyền thống và đã trở thành
"văn hoá đọc" đối với nhiều người
Tuy nhiên, bên cạnh các ưu điểm, báo in cũng có những hạn chế nhất định:
- Khả năng cập nhật chậm hơn các loại hình báo khác Báo in chỉ xuất hiện vào một thời điểm cụ thể và nhất định nên thông tin chậm, thông tin đề cập chỉ là các sự kiện, vấn đề xảy ra trong chu kì xuất bản, thông tin sau đó phải đợi thời điểm định kì sau Như vậy, có một khoảng trống thông tin trong báo in, hạn chế tính cập nhật hơn so với phát thanh, truyền hình Để khắc phục hạn chế này, trước đây, người ta cho ra thêm số báo buổi chiều
Trang 24- Những người đọc được báo in thì phải biết chữ (có trình độ văn hóa nhất định), hoặc không gặp trở ngại về thị giác Do đó, không phải đối tượng nào trong
xã hội cũng có thể tiếp nhận được thông tin mà báo in mang lại, điều này là một hạn chế so với phát thanh, truyền hình và đặc biệt là báo điện tử
- Khả năng tương tác 2 chiều (người đọc – người viết) kém
- Việc phát hành báo in phụ thuộc vào nhiều yếu tố đặc biệt là phương tiện giao thông Ở những nơi xa trung tâm, những người công tác và làm việc ở những nơi xa (thám hiểm, trong rừng, trên biển…) không thể đợi thông tin từ báo in được
c) Báo nói (phát thanh)
Khi đề cập đến báo nói, chúng ta biết rằng báo nói chủ yếu được thực hiện dưới hai dạng thức Đó là phát thanh bằng kỹ thuật đường truyền và diễn thuyết trực tiếp, tuyên truyền miệng của người diễn ngôn, báo cáo viên
Cuối những năm 30 của thế kỉ XX, kĩ thuật phát thanh FM bắt đầu phát triển
có tính chất thử nghiệm và dần dần phát triển mạnh Hiện nay, kĩ thuật vệ tinh địa tĩnh, cáp quang, kĩ thuật số đang là những yếu thúc đẩy sự phát triển đa dạng, phong phú của phát thanh trên thế giới Phát thanh là một loại hình truyền thông hiệu quả, sinh động bởi nó chuyển tải thông tin đến người nghe bằng 3 yếu tố đặc trưng cơ bản là: lời nói, âm nhạc và tiếng động
Phát thanh có các ưu thế: nhờ các âm thanh, âm nhạc và tiếng động thực với chất lượng âm thanh cao, báo tiếng có khả năng kích thích trí tưởng tượng của công chúng trong việc tiếp thu thông tin; sử dụng kỹ thuật không quá phức tạp nhưng hiệu quả (cần có không gian phù hợp và chỉ cần một thiết bị thu, phát tín hiệu); khả năng phủ sóng rộng vượt được các khoản cách về không gian Phát thanh đã trở nên phổ biến khắp các vùng đồng bằng, miền núi, trung du hay nơi hải đảo xa xôi, ít bị hạn chế bởi địa hình, hoàn cảnh; tiếp nhận thông tin không cần điều kiện phức tạp (so với báo hình và báo điện tử) chỉ cần một máy thu thanh bỏ túi là người ta có thể nghe được thông tin trên đài phát thanh dù họ đang ở đâu (đồng bằng, rừng núi, hải đảo…), thậm chí đang làm việc khác, người ta cũng có thể cùng lúc tiếp nhận thông tin (ăn uống, lái xe, nội trợ,…); đối tượng tiếp nhận thông tin đa dạng cho quảng đại quần chúng nhân dân lao động, không phân biệt tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, vùng miền (vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, hải đảo…) và cả cho những người khiếm thị; Báo
Trang 25nói có khả năng truyền tải thông tin hết sức nhanh nhạy, cung cấp thông tin một cách nhanh nhất (tính tức thời), đảm bảo tính thời sự, tính cập nhật, tạo hiệu ứng xã hội một cách nhanh chóng
Tuy nhiên, phát thanh cũng có những hạn chế: do chỉ sử dụng âm thanh (giọng đọc, kể, âm nhạc, tiếng động), triệt tiêu yếu tố ngôn ngữ cử chỉ đi kèm bằng hình ảnh nên người nghe khó ghi nhớ; hạn chế về khả năng tra cứu và lưu giữ tư liệu; do cách tiếp cận duy nhất của phát thanh là nghe, mà thông tin xuất hiện theo chuỗi tín hiệu âm thanh tuyến tính (trật tự thời gian) nên công chúng không được quyền chủ động lựa chọn chương trình theo sở thích, trình độ, khả năng Thông tin nghe một lần thoảng qua, không kéo chậm lại được Buộc người nghe phải tập trung, chú ý cao độ mới bắt kịp tốc độ đọc vận hành của âm thanh lời nói nếu muốn hiểu đầy đủ nội dung thông điệp; người nghe phải phụ thuộc vào trình tự phát tin, nghe tuần tự từ đầu đến cuối một cách bị động (không chủ động tìm thông tin cần thiết như đối với báo in)
d) Báo hình (truyền hình)
Kĩ thuật truyền phát hình ảnh ra đời năm 1927 với chương trình truyền hình đầu tiên qua dây dẫn đã được thực hiện giữa hai thành phố Washington và New York với khoảng cách 250 dặm Ngày nay, truyền hình trên thế giới đã trở nên phố biến và có sức mạnh đặc biệt mà khó có phương tiện truyền thông nào sánh nổi Với
sự giúp đỡ của mạng lưới vệ tinh địa tính trong không gian, các chương trình truyền hình được truyền đi khắp thế giới bất chấp các biên giới quốc gia
Báo hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông điệp bằng hình ảnh động và âm thanh Cội nguồn trực tiếp của truyền hình là điện ảnh Điện ảnh đã cũng cấp cho truyền hình những ý tưởng về một phương thức truyền thông mới có sức thuyết phục mạnh mẽ với những đặc trưng kĩ thuật riêng Với sự kết hợp giữa hình ảnh và âm thanh, truyền hình mang lại cho con người cảm giác về một cuộc sống thực đang hiện ra trước mắt
Báo hình có những ưu thế sau:
- Do báo hình sử dụng cả hình ảnh và âm thanh để chuyển tải thông tin nên các chương trình của nó phong phú về nội dung, đa dạng hóa về chức năng, cuốn hút và đáp ứng nhu cầu thông tin của toàn xã hội
Trang 26- Thông tin nhanh, mang tính thời sự, gây ấn tượng đối với người xem
- Truyền hình có sức hấp dẫn đặc biệt nhờ khả năng giao tiếp với con người bằng cả thị giác và thính giác (hình ảnh, màu sắc, âm thanh), làm cho người xem có cảm giác như được có mặt, trực tiếp chứng kiến các sự kiện đang diễn ra
- Phạm vi ảnh hưởng rộng rãi do kĩ thuật cáp quang, vệ tinh địa tĩnh, sóng tín hiệu truyền hình
Báo hình có những hạn chế sau:
- Khả năng tương tác hai chiều chưa cao Cũng như báo nói, phát thanh viên đọc cho tất cả mọi người nghe, người nghe không được phép chọn tin để nghe được, trừ những chủ đề lớn được thông báo trước
- Tín hiệu hình ảnh động và âm thanh theo tuyến tính của báo hình làm cho khán giả bị động hoàn toàn về tốc độ, trình tự tiếp nhận thông tin; thông tin đã qua không lặp lại được
- Khi tiếp nhận thông thông tin, hầu như người tiếp nhận phải tập trung toàn
bộ giác quan vào những gì diễn ra trên màn hình Điều này làm cản trở khả năng tiếp nhận thông tin truyền hình với các hoạt động khác của con người
- Thiết bị, phương tiện kĩ thuật ghi hình và chuyển phát sóng hình cồng kềnh, giá thành cao không cho phép người ta tiếp cận nhanh những sự kiện thời sự ở xa các thành phố trung tâm hay ở nơi địa hình núi non hiểm trở
e) Báo điện tử
International Network ( Internet ) là một mạng thông tin diện rộng, bảo trùm toàn cầu, hình thành trên cơ sở kết nối các máy tính điện tử Tiền thân của nó là mạng ARPANET của Bộ quốc phòng Mĩ có từ năm 1969 Sau khi ra đời, internet liên tục phát triển và trở thành một siêu mạng toàn cầu Ngày nay, internet xuất hiện nhiều dịch vụ khác nhau: gửi thư, truy cập dữ liệu, sách, báo, tạp chí điện tử, hội
thảo, giải trí, mua bán, quảng cáo, học tập,…
Có thể nói, báo điện tử đã sử dụng một cách tổng hợp các phương tiện của
báo in, báo tiếng và báo hình để truyền tải thông tin, cụ thể là bằng bài viết, âm
thanh, hình ảnh và video clip (các đoạn video gồm cả hình ảnh động và âm thanh)
Do vậy, báo điện tử có các ưu thế:
Trang 27- Tích hợp những ưu thế của báo in, báo nói, báo hình, sử dụng yếu tố công nghệ cao nên rất tiện dụng
- Trải rộng phạm vi, đa dạng hóa đề tài và có góc nhìn sâu sát tới tận địa phương
- Công chúng đa dạng, mọi ngành nghề, lứa tuổi
- Thông tin cập nhật hết sức nhanh chóng, tính tương tác hai chiều cao, người viết và người tiếp nhận có thể dễ dàng và nhanh chóng trao đổi tư tưởng, ý kiến qua mạng
- Báo mạng mở ra một cánh cửa tiếp cận với một ngân hàng dữ liệu khổng lồ trên mọi lĩnh vực của cả thế giới, cho phép con người có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề mà mình quan tâm
- Công chúng có thể chủ động lựa chọn thông tin và đọc vào bất cứ đâu, thời gian nào miễn là có kết nối internet
- Nhờ có báo mạng, con người có thể tiếp cận trực tiếp với các nguồn thông tin mà không qua một sự nhào nặn trung gian nào giảm được hiện tượng nhiễu
Tuy vậy, báo điện từ cũng có những hạn chế:
- Nhược điểm là tính phổ cập yếu, bởi không phải ai ai cũng có điều kiện hay biết cách sử dụng mạng internet để xem, nghe, đọc
- Do thông tin tràn ngập trên mạng nên để chọn lọc được thông tin nghiêm túc là khó khăn do thông tin không được bảo đảm về độ chính xác, được đưa lên tùy hứng, vô trách nhiệm
- Sự bảo vệ thông tin và các bí mật dịch vụ trên mạng là rất đáng lo ngại Vi rút có thể xâm nhập, phá hủy hệ thống dữ liệu, làm rối loạn hệ điều hành, thông tin
bị đánh cắp
- Mạng internet tạo ra sự phá vỡ biên giới chính trị, do đó các dòng thông tin
sẽ tự động chảy vào các nước, kèm theo cả những tác động/ yếu tố tiêu cực tác động tới chính trị, văn hóa các nước
- Xét về chất lượng, do là sản phẩm đa năng, tích hợp nhiều loại hình nên tính chuyên dụng của nó kém sản phẩm chuyên dụng như riêng báo viết, riêng báo hình,…Người viết ít đầu tư vào trau chuốt ngôn ngữ
Như vậy, do những đặc điểm riêng của mỗi loại hình báo chí đã chi phối và quyết định rất lớn tới đặc điểm của ngôn ngữ của mỗi loại hình trong việc chuyển
Trang 28tải thông tin Tức là việc sử dụng ngôn ngữ trên mỗi kiểu loại báo có sự khác nhau nhất định, chẳng hạn như trong việc sử dụng từ ngữ, cách thức diễn đạt, lượng thông tin chuyển tải bằng ngôn ngữ (nói hoặc viết), Vì thế, dựa vào đặc điểm nội tại của mình, mỗi loại hình báo chí lại tìm ra cho mình những thế mạnh mà các loại hình khác không thể thay thế được, điều này tạo ra một sự phân công về chức năng trong việc phát huy hiệu quả quá trình truyền tin
1.2 Những vấn đề ngôn ngữ của báo chí
1.2.1 Phong cách ngôn ngữ báo chí
1.2.1.1 Khái niệm
Phong cách ngôn ngữ báo chí (phong cách báo chí) là phong cách ngôn ngữ được dùng trên các văn bản báo chí dưới hình thức báo viết, báo nói, báo hình và cả báo điện tử Cả bốn loại báo này đều có chung một đặc điểm là đều sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện để chuyển tải thông tin đến với công chúng, tuy mức độ nhiều
ít và những đặc trưng riêng có khác
Ngôn ngữ báo chí tồn tại dưới cả dạng nói và dạng viết trong các thể loại như tin, bình luận, phỏng vấn, ký, phóng sự, v.v Để đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh nhạy, kịp thời về mọi lĩnh vực, ngôn ngữ báo chí sử dụng hầu hết các lớp từ với cách thức diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và tuân theo chuẩn mực chung của xã hội Trong mối quan hệ với hiện thực, ngôn ngữ báo chí chính là tin tức, sự kiện được thể hiện qua ngôn từ Nhìn từ góc độ giao tiếp, sự kiện tin chính là sự kiện giao tiếp đã được mã hoá trong các thông điệp mà người viết muốn gửi đến người đọc (là đông đảo công chúng)
Vì vậy, ngôn ngữ báo chí có nhiều đặc trưng rất riêng và bị chi phối bởi nhiều yếu tố
1.2.1.2 Những yếu tố quy định đặc điểm của ngôn ngữ báo chí
a) Yếu tố chức năng
Báo chí có hai chức năng chính là thông tin và tác động
Chức năng thông tin được xem là chức năng đầu tiên của báo chí Người ta xem một tờ báo, trước hết là xem những thông tin cần biết cho cuộc sống Sau đó, thế giới vật chất ngày càng phong phú, đa dạng, những mối quan hệ của con người ngày càng rộng mở, con người càng có nhu cầu thông tin nhiều hơn Sự phát triển không ngừng của các phương tiện kỹ thuật hiện đại đã đáp ứng rất nhanh, nhiều nhu cầu thông tin của con người
Trang 29Chức năng cơ bản thứ hai của báo chí là chức năng tác động Theo nghĩa rộng, báo chí tác động đến độc giả trên nhiều lĩnh vực nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ ; theo nghĩa hẹp, báo chí lôi cuốn, hấp dẫn người đọc quan tâm ngay đến những vấn đề thời sự thường ngày Chức năng tác động ở đây được hiểu theo nghĩa bao hàm cả một số chức năng mà nhiều tác giả cũng đã đề cập đến: chức năng thẩm
mỹ, chức năng giáo dục, chức năng hướng dẫn dư luận, chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng
b) Đặc trưng về thể loại
Thông tin trên báo chí tồn tại dưới nhiều hình thức thể loại: tin, phóng sự, phỏng vấn, bình luận, ký, trao đổi bạn đọc,v.v Báo chí có nhiều thể loại cũng nhằm thực hiện tốt hai chức năng thông tin và tác động Khả năng thông tin và tác động của từng thể loại có nhiều mức độ khác nhau Chẳng hạn, nếu tin, phóng sự có ưu thế trong việc thông tin thì tiểu phẩm, bình luận lại có ưu thế trong việc tác động Do đó, cách tổ chức ngôn ngữ trong từng thể loại cũng mang nhiều đặc trưng khác nhau
c) Yếu tố thời sự (cập nhật)
Hằng ngày, trong đời sống sảy ra nhiều sự kiện đáng chú ý Yếu tố thời sự đã tác động đến tất cả các lĩnh vực trước tiên là báo chí Báo chí với chức năng thông tin, tác động đã chiếm ưu thế trong việc thể hiện nhu cầu của con người; đồng thời
nó cũng đặt con người trong chừng mực nào đó vào vị thế phải quan tâm đến tất cả những vấn đề xảy ra hằng ngày Tính chất thời sự của báo chí gắn liền với sự kiện tin - sự kiện mới, tiêu biểu, nằm trong xu thế vận động và phát triển của thời đại
Trong ý nghĩa đó, thông tin báo chí phải là thông tin mới Xu hướng khám phá, tìm tòi những gì mới mẻ là xu hướng thuộc về bản chất của con người Ở góc
độ này, nhà báo - người phát tin - phải có năng lực "đặc biệt mẫn cảm, nhanh nhạy, kịp thời phát hiện đúng và trúng những hiện tượng mới, những vấn đề mới muôn mặt của xã hội" [54, tr.16]; còn độc giả - người nhận tin - chỉ thật sự quan tâm đến những gì mới lạ, hấp dẫn "tin tức là những gì thời sự, trung thực và hấp dẫn công chúng" [54, tr.214] Từ đó, thông tin báo chí cũng phải là thông tin chính xác
Thông tin được quy chiếu trong một không gian cụ thể, trong một thời gian xác định Thông tin có giá trị biểu vật Hiện thực được quy chiếu trong tác phẩm báo chí phải đồng nhất với thực tại Thông tin chính xác không chỉ thỏa mãn nhu
Trang 30cầu nhận thức mà còn có giá trị tác động đến tình cảm của người đọc Để thực hiện chức năng tác động, thông tin báo chí phải là thông tin mới lạ, hấp dẫn, ngắn gọn Nội dung phải luôn luôn mới mẻ, đa dạng, nêu được những vấn đề đích thực của cuộc sống mà công chúng đang quan tâm
1.2.1.3 Đặc điểm chung của ngôn ngữ báo chí
Thuật ngữ ngôn ngữ báo chí được hiểu là ngôn ngữ đặc trưng của quá trình chuyển tải thông tin báo chí Báo in truyền thống bao gồm nhiều thể loại (tin tức, tường thuật, phóng sự, phỏng vấn, bình luận ), mỗi thể loại lại có yêu cầu ngôn ngữ riêng phù hợp với đặc điểm truyền thông của thể loại Do vậy, ngôn ngữ báo chí một mặt được hiểu như là tổng thể các ngôn ngữ thể loại Khái niệm ngôn ngữ báo chí được xác lập chủ yếu trong sự khác biệt với ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ đời sống tự nhiên Trong tương quan so sánh, nếu đặc trưng của ngôn ngữ văn học
là tính nghệ thuật và hiệu quả thẩm mỹ thì ngôn ngữ báo chí đòi hỏi tính chính xác, hàm súc, khách quan và hiệu quả truyền thông tối ưu nhằm chuyển tải trọn vẹn nhanh chóng thông tin tới người nhận Tin vắn là thể loại thể hiện rõ rệt và tập trung đặc trưng ngôn ngữ báo chí
Do những yêu cầu về chức năng và các yếu tố đã nêu trên, ngôn ngữ báo chí
có những đặc điểm riêng so với các thể loại văn phong khác:
- Ngôn ngữ báo chí phải có sức thu hút, lôi cuốn người đọc, người nghe từ
việc lựa chọn từ ngữ đến cách thức tổ chức văn bản sao cho "bắt mắt", "bắt tai"
- Ngôn ngữ báo chí phải ngắn gọn nhưng súc tích Nhiều toà soạn xem đây là
tiêu chuẩn đầu tiên, có những quy ước bắt buộc về số câu, số chữ trong từng kiểu bài Điều này có thể được lý giải từ góc độ của các vai giao tiếp: đối với người viết,
"phong cách ngắn gọn này phát sinh từ nhu cầu cần thiết Báo chí phải kể nhiều chuyện trong ngày, và chỉ có bấy nhiêu trang" [54, tr.211]; còn đối với người đọc
"ngày càng bị lôi cuốn bởi cách xử lý ngắn gọn các tin tức thời sự" [53, tr.24]
- Ngôn ngữ báo chí mang tính chính xác, chuẩn mực Báo chí ngày nay đã
trở thành diễn đàn công luận Những thông tin trên báo luôn được độc giả tin cậy và
kể cho nhau nghe, truyền cho nhau xem Do đó, ngôn ngữ báo chí phải chân thực, hướng đến sự chuẩn mực trong diễn đạt
Trang 31- Ngôn ngữ báo chí phải mang tính chiến đấu cao Báo chí luôn là cơ quan
ngôn luận của một tổ chức, một đảng phái, tuyên truyền và tác động đến độc giả vì một mục tiêu nào đó về chính trị, về kinh tế, xã hội
- Ngôn ngữ báo chí cũng phải mang tính thời sự để thực hiện tốt chức năng
tác động, đáp ứng được khả năng cạnh tranh thông tin
1.2.2 Tính chuẩn mực của ngôn ngữ báo chí
Ngôn ngữ báo chí có tác dụng trực tiếp tới hiệu quả của thông tin nên trước hết, đó phải là thứ ngôn ngữ văn hoá chuẩn mực Giáo sư Giôn Hô-hen-béc, Đại học
báo chí Cô-lum-bi-a nói: “Không thể cẩu thả trong việc sử dụng ngôn ngữ ở các ngành truyền thông được Ngôn ngữ ở đây phải chuyển được tin tức, ý kiến và tư tưởng tới quần chúng càng hữu hiệu càng tốt Cũng không thể hạ giá văn phạm của báo chí, ít ra cũng phải cao bằng trình độ của những độc giả hoặc khán thính giả
có học thức, nếu không báo chí mất ngay sự kính trọng của quần chúng Sự chuẩn xác của ngôn ngữ làm sắc bén thêm ý nghĩa của sự kiện Vì thế sự kiện và chuẩn xác phải luôn đi đôi với nhau” [18, tr.17]
Tuy nhiên, tính chuẩn mực không phải là một thứ khuôn phép bó buộc, ngược lại, nó vẫn cho phép sự sáng tạo của cá nhân nhà báo Người ta gọi đây là hiện tượng chệch chuẩn Chính hiện tượng này tạo nên phong cách của các nhà báo, mỗi nhà báo có cách thể hiện ý tưởng không giống nhau, sắc thái khác nhau nó tạo nên tính cá thể riêng biệt, không ai giống ai, nhằm đưa thông tin đa chiều và hấp dẫn độc giả hơn
Đến nay, xung quanh khái niệm chuẩn ngôn ngữ đang còn nhiều ý kiến chưa thống nhất:
- Nhóm các nhà khoa học Xô viết nhấn mạnh đến tính chất xã hội của chuẩn ngôn ngữ, họ xem chuẩn là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử Quan niệm này cũng có phần phiến diện vì nó không quan tâm đến quy luật phát triển, cũng như cấu trúc của ngôn ngữ
- Côsêriu xem chuẩn là tổng hợp những sự thể hiện trong cấu trúc ngôn ngữ
đã được tách ra và củng cố trong thực tế sử dụng Ông cho rằng, hệ thống ngôn ngữ
là những hình mẫu trừu tượng và chuẩn ngôn ngữ chính là cách thể hiện những hình mẫu trừu tượng đó
Trang 32- Trường phái ngôn ngữ học Praha lại coi chuẩn ngôn ngữ là hiện tượng cấu trúc bên trong ngôn ngữ, còn thể hiện chuẩn là hiện tượng ngoài ngôn ngữ Trường phái này không chấp nhận một cái chuẩn chung, vì theo họ, những chuẩn ngôn ngữ không thể đánh giá bằng những quy định đã có sẵn mà chúng ta phải dựa trên các chức năng hoạt động của ngôn ngữ trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Quan điểm này gần với quan điểm của Kô-xtô-ma-rốp và Lê-ôn-chép Như vậy, chuẩn ngôn ngữ chỉ có thể được xác định trong từng bối cảnh giao tiếp Các tác giả này lại
đề nghị thêm phải có tính hợp lý trong giao tiếp Nó đòi hỏi phải có sự chọn lọc cao
để phù hợp với từng hoàn cảnh giao tiếp Xu hướng này chỉ cho chúng ta nhận thấy chuẩn ngôn ngữ ở từng tình huống và tính chất giao tiếp
Một số ý kiến đều cho rằng, chuẩn ngôn ngữ là mẫu ngôn ngữ đã được xã hội chọn lọc và đánh giá cao, lựa chọn và đưa vào sử dụng Sự đánh giá đó cũng chỉ mang tính tương đối chứ không thể lấy nó ra làm chuẩn cho mọi hoàn cảnh, mọi tình huống Nó đòi hỏi cá nhân phải có sự lựa chọn phù hợp cho mình trong tình huống cụ thể
Hai nội dung cơ bản làm nên chuẩn ngôn ngữ đó là cái đúng và sự thích hợp
Viện sĩ V Vi-nô-gra-đốp viết: “Tất cả những cái gì mới, đang phát triển, được các quy luật nội tại của quá trình phát triển ngôn ngữ thừa nhận, phù hợp với cấu trúc của nó, dựa vào những xu thế sáng tạo của nhân dân, dựa vào các quá trình mang tính tích cực trong lĩnh vực ngữ pháp, ngữ nghĩa, sử dụng từ đều không thể bị cho
là không đúng, không thể bị phủ nhận căn cứ vào thị hiếu và thói quen cá nhân”
[18, tr.24] Trái với phạm trù này là cái sai, tức là cái mà người ta không tiếp nhận hoặc không hiểu, nguyên nhân dẫn đến cái sai rất nhiều nhưng cơ bản là do không nắm vững ngôn ngữ, bắt chước máy móc; loại sai do người viết cố ý viết sai tạo sự độc đáo gây ấn tượng nhưng lại không được cộng đồng chấp nhận Lép Tônxtôi
khẳng định: “Cần phải xoá bỏ không thương tiếc tất cả những thứ không rõ ràng, dài dòng không đúng chỗ, tóm lại tất cả những gì không thích hợp mặc dù tự thân
nó là đúng” [10, tr.26] Xi-xê-rôn (106 - 403 TCN) viết: “Trong đời sống cũng như trong lời nói không có gì khó hơn là sự thích hợp” [19, tr.27]
Tuy nhiên, chuẩn ngôn ngữ không áp dụng cho mọi hoàn cảnh, mọi thời đại,
nó được sử dụng phù hợp trong từng giai đoạn khác nhau Ngôn ngữ luôn vận động,
Trang 33nên cái chuẩn không những không bị loại trừ mà còn cho phép những biến thể khác nhau được sử dụng cùng với chuẩn
Ngôn ngữ báo chí cần sự chính xác, trong sáng, vì thế, nó đòi hỏi nhà báo luôn có sự trau dồi không ngừng về mọi mặt để cung cấp cho người đọc thông tin
1.2.3 Sự khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ giữa báo nói và báo viết
Báo in và báo nói dạng diễn ngôn (tuyên truyền miệng) là loại hình truyền thông
ra đời sớm nhất trong các loại hình truyền thông đại chúng Bên cạnh đó là báo mạng điện tử, đài phát thanh, đài truyền hình So sánh giữa các loại hình báo chí thì báo in được công chúng tiếp nhận thông tin hoàn toàn chủ động giống với báo điện tử Đối với báo nói và truyền hình thì công chúng có thể nghe, xem trong nhiều không gian, nhưng lại không chủ động về thời gian theo dõi do các chương trình phát sóng theo thời gian cố định và thường chỉ phát có một lần, một nơi được chọn Do vậy, có những
sự khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ giữa hai thể loại cơ bản này
1.2.3.1 Báo nói
Trong báo nói (tuyên tuyền miệng), ngôn ngữ là công cụ quan trọng đảm bảo
thực hiện mục đích của hoạt động tuyên truyền miệng Bằng ngôn ngữ, cán bộ tuyên truyền chuyển tải thông tin, thúc đẩy sự chú ý và sự suy nghĩ của người nghe, điều khiển, điều chỉnh hoạt động nhận thức của đối tượng và cổ vũ họ đi tới những hành động tích cực Ngôn ngữ tuyên truyền miệng có các đặc trưng sau:
- Tính hội thoại: Tuyên truyền miệng có đặc trưng là sự giao tiếp trực tiếp giữa người nói và người nghe thể hiện cả trong độc thoại và đối thoại Cho nên, một đặc điểm văn phong quan trọng của tuyên truyền miệng là tính hội thoại, tính sinh động, phong phú của lời nói
- Tính chính xác: Tính chính xác của ngôn ngữ là sự phù hợp giữa tư tưởng muốn trình bày và từ ngữ, thuật ngữ được chọn để diễn đạt tư tưởng đó Tính chính xác đảm bảo cho lời nói truyền đạt chính xác nội dung khách quan của vấn đề, sự việc, sự kiện được đề cập trong bài phát biểu, tuyên truyền miệng
- Tính phổ thông: Tính phổ thông của lời nói trong tuyên truyền miệng thể hiện ở việc chọn từ, cách diễn đạt rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với trình độ chung, phổ biến của một nhóm đối tượng công chúng, là biết "phiên dịch" ngôn ngữ hàn lâm, ngôn ngữ chuyên gia sang ngôn ngữ của công chúng rộng rãi Tính phổ
Trang 34thông của lời nói đảm bảo cho người nghe hiểu được, tiếp thu được những vấn đề phức tạp, tiếp nhận những tư tưởng mới của người tuyên truyền
- Tính truyền cảm: Tính truyền cảm là đặc trưng riêng có của ngôn ngữ nói Việc khai thác, vận dụng đặc trưng này sẽ đem lại thành công cho bài nói Một bài nói có chất lượng là bài nói vận dụng tốt các phương tiện lôgíc và phương tiện cảm xúc - thẩm mỹ Nhờ yếu tố truyền cảm của lời nói mà người nghe bỏ qua những thông tin nhiễu khác như tiếng ồn, các tác động của môi trường, sự nóng nực, tập trung chú ý để tiếp thu những từ thức mới, tích cực, chủ động nâng cao nhận thức của mình về những điều tưởng như đã biết, thích thú trong việc tiếp nhận thông tin
1.2.3.2 Báo in
Trong báo in (báo viết), chuyển tải nội dung thông tin thông qua văn bản in
gồm: chữ in, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ…Toàn bộ các yếu tố thể hiện nội dung thông tin của tác phẩm báo in xuất hiện đồng thời trước mắt người đọc hầu như ngay trên cùng một trang báo Sự đồng hiện của báo in được thể hiện bằng những thông tin cùng xuất hiện đồng thời trên trang báo in, thông qua việc trình bày
tổ chức trang báo bao gồm các phần: tên chuyên mục, tiêu đề, tít, hoặc những dòng chữ gây chú ý, tít phụ cùng sự hỗ trợ của hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ… Công chúng đọc một bài báo in có thể do tít hấp dẫn hay cũng có thể do tranh ảnh, biểu đồ minh hoạ thêm gây chú ý cho họ Do phương thức thông tin đặc thù trên, báo in có những đặc trưng riêng biệt sau:
Một là, công chúng tiếp nhận thông tin trên báo in thông qua thị giác – giác
quan quan trọng nhất của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh nên người đọc hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin từ báo in Sự chủ động bao gồm từ việc bố trí thời điểm đọc, lựa chọn trình tự đọc đến việc chủ động về tốc
độ đọc, cách thức đọc khi trong tay có một tờ báo in cụ thể Buổi sáng người ta có thể mua một tờ báo in của một cơ quan báo chí nào đó, đọc lướt qua các tin tức, bình luận quan trọng rồi chiều tối về nhà mới đọc tiếp những tờ báo dài và đáng quan tâm như phóng sự, phản ánh, tiểu luận, các loại bài ký… Khi đọc các tờ báo
in, người ta hoàn toàn có thể đọc lướt nhanh những nội dung quen thuộc, đọc kỹ hay đọc lại những nội dung phức tạp mà đọc lần đầu chưa rõ Đặc điểm này tạo cho báo in khả năng thông tin những nội dung sâu sắc, phức tạp Nhà báo có thể trình
Trang 35bày, lí giải các nội dung thông tin với những mối quan hệ đan chéo, những biểu hiện trên nhiều bình diện, nhiều tầng nấc khác nhau Những thông tin có thể được
tổ chức theo nhiều cách khác nhau mà người đọc vẫn có thể hiểu, miễn là những thông tin, nội dung bài viết là bổ ích, đáp ứng được nhu cầu của người đọc
Hai là, vì sự tiếp nhận thông tin từ báo in của công chúng là quá trình chủ
động, đòi hỏi người đọc phải tập trung cao độ, phải huy động sự làm việc tích cực của trí não Vì thế, làm tăng khả năng ghi nhớ thông tin, giúp người đọc có thể nhận thức sâu sắc những mối quan hệ bên trong phức tạp và tế nhị của các vấn đề, sự kiện
Ba là, việc lưu trữ báo in rất đơn giản và thuận lợi, phù hợp với thói quen của
nhiều người đọc Do đó, báo in trở thành nguồn tư liệu quý giá đối với người đọc Nguồn tư liệu đó có thể được lưu trữ lâu dài (nguyên bản hoặc lưu giữ riêng những tin tức bài vở được quan tâm, dẫn liệu minh chứng trong các công trình nghiên cứu
xã hội, lịch sử)
Báo in chỉ xuất hiện trong một thời điểm cụ thể và nhất định với nội dung thông tin đề cập các vấn đề, sự kiện trong cả một chu kỳ xuất bản Thông tin về các vấn đề, sự kiện thời sự diễn ra trong chu kỳ sau đó chỉ có thể được đề cập trong sản phẩm được xuất bản vào thời điểm định kỳ sau Vì thế trong báo in bao giờ cũng tồn tại một khoảng thời gian trống thông tin, hay nói cách khác, độ nhanh, tính thời
sự của báo in bị hạn chế hơn so với các loại hình phát thanh truyền hình và đặc biệt
là báo mạng Để khắc phục hạn chế này khi mà phát thanh và truyền hình chưa phát triển, người ta đưa ra các tờ báo buổi chiều
1.2.4 Mối quan hệ giữa văn bản viết và văn bản nói trong tuyên truyền miệng
Văn bản viết và văn bản nói luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, quyết định
và bổ sung hoàn thiện cho nhau Đặc biệt, bài diễn thuyết (văn bản nói) để đảm bảo nội dung, chặt chẽ về bố cục và thuyết phục được người nghe chỉ khi có sự chuẩn bị chu đáo, chỉn chu từ một văn bản viết Và khi bài diễn thuyết thành công sẽ bổ sung trở lại văn bản viết thêm sâu sắc về nội dung và chặt chẽ hơn về mặt hình thức Chính vì lẽ đó, để có kết quả cho văn bản nói hấp dẫn, chuẩn mực, BCV cần thực hiện tốt các nội dung sau:
Một là, lựa chọn, thu thập tài liệu từ các văn bản viết khác nhau Đây là một
nhiệm vụ quan trọng vì nó là cơ sở quyết định sự thành công trong việc thực hiện
Trang 36văn bản nói, yếu tố tạo ra chất lượng cho một buổi tuyên truyền miệng Trong thực tiễn, nguồn tài liệu, văn bản viết cung cấp rất phong phú nên cán bộ tuyên truyền lựa chọn, xử lý các thông tin, sử dụng ngôn ngữ phù hợp, đạt hiệu quả Người làm công tác tuyên truyền miệng phải có kiến thức vững chắc và hệ thống về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, để trên cơ sở
đó đánh giá, phân tích các sự kiện, hiện tượng Người làm công tác tuyên truyền miệng cần quan tâm đến các nguồn tài liệu, như: các loại từ điển (Từ điển tiếng Việt, Từ điển triết học,Từ điển kinh tế…), tài liệu thống kê là nguồn tài liệu chủ yếu để tra cứu các khái niệm, khai thác số liệu cho bài nói; các sách chuyên khảo phù hợp là nguồn tài liệu rất quan trọng Qua các tài liệu này có thể thu thập khối lượng lớn kiến thức hệ thống, sâu sắc về nội dung tuyên truyền, đặc biệt là tuyên truyền chuyên đề; các báo, tạp chí chính trị - xã hội, tạp chí chuyên ngành cũng là một nguồn tài liệu Tạp chí cung cấp những thông tin khái quát, mang tính lý luận, nhưng tính thời sự ít hơn so với báo Cần chú ý rằng, một tờ báo có thể cung cấp thông tin về những sự việc, sự kiện nhiều người đã biết Tuy nhiên, cán bộ tuyên truyền cần thông qua các sự việc, sự kiện đó để phân tích, rút ra ý nghĩa chính trị, tư tưởng nằm sâu trong cái diễn ra hàng ngày mà ai cũng biết ấy Cho nên, cần lưu trữ báo và tạp chí, lên thư mục hoặc cắt ra những bài báo và ghi rõ nguồn gốc xuất xứ của chúng; sổ tay tuyên truyền, sổ tay báo cáo viên là những tài liệu hướng dẫn nội dung, nghiệp vụ tuyên truyền và một số tư liệu chung cần thiết cho cán bộ tuyên truyền rất thiết thực, bổ ích; các bản tin nội bộ, đặc biệt là thông tin được cung cấp thông qua các hội nghị báo cáo viên định kỳ là nguồn thông tin trực tiếp mà dựa vào
đó báo cáo viên tuyên truyền viên xây dựng nội dung bài nói; có thể sử dụng các băng ghi âm, các băng hình phù hợp, các báo cáo tình hình của cơ sở, các ghi chép qua nghiên cứu thực tế tham quan các điển hình tiên tiến, các di tích lịch sử - văn hoá; các tác phẩm văn học để khai thác hình tượng văn học, câu nói, câu thơ liên quan, làm nổi bật ý của bài nói chuyện
Hai là, cần thực hiện tốt các thao tác xử lý tài liệu khi được tiếp xúc Cụ thể,
đó là: đọc tài liệu, thoạt đầu nên đọc lướt qua mục lục, lời chú giải (nếu có) của từng tài liệu cũng như của tất cả các tài liệu đã thu nhận được để trên cơ sở đó hình thành quan niệm về nội dung, kết cấu bài nói Sau đó đọc kỹ, tìm cái mới có phân tích, suy
Trang 37nghĩ, lựa chọn Có thể đọc cả tài liệu phản diện để hiểu nội dung và cách xuyên tạc của các thế lực xấu, xây dựng lập luận phê phán sát với nội dung, có hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu của bài phát biểu, tuyên truyền miệng Trong lúc đọc tài liệu, có thể ghi được rất nhiều nhưng nói chung chỉ nên ghi lại nhũng chỗ hay nhất, những khái niệm, những tư liệu chính xác, cần thiết nhất, tư liệu mới có liên quan đến chủ đề tuyên truyền Có thể ghi vào sổ tay hoặc ghi trên phích Khi ghi nên ghi trên một mặt giấy, hoặc trang ghi chừa lề rộng để lấy chỗ ghi thêm những vấn đề mới, thông tin mới hoặc ý kiến bình luận của mình Khi cần giữ lại ý kiến của tác giả một cách hoàn chỉnh, có thể trích nguyên văn từng câu, từng đoạn và chú giải xuất xứ của đoạn trích (ghi rõ tên tác giả, tác phẩm, nơi xuất bản, năm xuất bản, lần xuất bản, số trang) Đoạn trích phải lấy từ tài liệu gốc hoặc tra cứu lại từ tài liệu gốc, không trích dẫn từ tài liệu của người khác
Ba là, khi sử dụng tài liệu:
- Sau khi đọc, ghi chép, tiến hành lựa chọn những tư liệu mới nhất, có giá trị nhất, dự kiến có khả năng thu hút người nghe nhất đưa vào đề cương bài nói
- Chọn và sắp xếp tư liệu theo trình tự lôgíc để hình thành đề cương
- Chỉ sử dụng những tư liệu rõ ràng, chính xác Không dùng những tư liệu chưa rõ về quan điểm tư tưởng, thiếu chính xác vế mặt khoa học Cần tuân thủ nguyên tắc về chất lượng thông tin trong giao tiếp: Không nói điều mà mình chưa tin là đúng và những điều không đủ bằng chứng
Trước khi sử dụng bất kỳ tư liệu nào đều phải xem xét nó bằng “lăng kính” của người cán bộ tư tưởng Đó là sở nhạy cảm về tư tưởng, là bản lĩnh chính trị, là trách nhiệm người cân bộ trước Đảng, trách nhiệm công dân Không được để lộ bí mật của Nhà nước Khi sử dụng các tài liệu mật, thông tin nội bộ cần xác định rõ vấn
đề nào không được nói, hoặc chỉ được nói đến đối tượng nào Trong điều kiện bùng
nổ thông tin hiện nay, cần thiết phải định hướng thông tin theo quan điểm của Đảng
Sử dụng tài liệu là một kỹ năng, phụ thuộc vào năng lực, kinh nghiệm nghề nghiệp của cán bộ tuyên truyền Cùng một lượng tài liệu như nhau, ai dày công và sáng tạo hơn sẽ có bài nói chuyện chất lượng cao hơn
Bốn là, kỹ năng xây dựng đề cương tuyên truyền miệng là văn bản mà dựa
vào đó người tuyên truyền tiến hành buổi nói chuyện trước công chúng Đề cương
Trang 38tuyên truyền miệng cần đạt tới các yêu cầu sau: Phải thể hiện mục đích tuyên truyền Đề cương là sự cụ thể hoá, quán triệt mục đích tuyên truyền trong các phần, các mục, các luận điểm, luận cứ, luận chứng của bài nói Phải chứa đựng, bao hàm nội dung tuyên truyền một cách lôgíc Cần xây dựng nhiều phương án của đề cương, từ đó chọn phương án tối ưu Phương án tối ưu là phương án đạt mục đích tuyên truyền và phù hợp với một đối tượng công chúng cụ thể, xác định Quá trình xây dựng đề cương có thể thay đổi, bổ sung, hoàn thiện dần từ thấp lên cao, từ đề cương sơ bộ đến đề cương chi tiết Đối với những vấn đề quan trọng, phát biểu trước những đối tượng có trình độ cao, có sự hiểu biết và giầu kinh nghiệm thực tiễn, đề cương cần được chuẩn bị với các số liệu thật chính xác, có giá trị cao Càng chi tiết càng tốt
Một số lưu ý khi xây dựng đề cương từ văn bản viết cho bài nói:
Tuyên truyền miệng có nhiều thể loại: Bài nói chuyện thời sự, báo cáo chuyên
đề, báo cáo nhanh hoặc giới thiệu về nghị quyết của các cấp uỷ đảng, kể chuyện người tốt việc tốt, gương anh hùng, chiến sĩ thi đua, diễn văn đọc trong các cuộc mít tinh Mỗi thể loại trên đều có kết cấu đề cương riêng Nhưng khái quát lại, đề cương
được kết cấu bởi ba phần: Phần mở đầu, phần chính và phần kết luận Mỗi phần có chức năng riêng, yêu cầu riêng, phương pháp xây dựng và thể hiện riêng
(1) Phần mở đầu
Phần mở đầu có các chức năng làm phần nhập đề cho chủ đề tuyên truyền Đồng thời là phương tiện giao tiếp với người nghe nhằm kích thích sự hứng thú của người nghe với nội dung tuyên truyền Yêu cầu đối với lời mở đầu:
- Phải tự nhiên và gắn với các phần khác trong bố cục toàn bài cả về nội dung và phong cách ngôn ngữ
- Ngắn gọn, độc đáo và hấp dẫn đối với người nghe
Các cách mở đầu và cấu trúc phần mở đầu:
Cách mở đầu rất đa dạng, phong phú nhưng có thể khái quát thành hai cách
mở đầu chủ yếu: Mở đầu trực tiếp và mở đầu gián tiếp:
Mở đầu trực tiếp là cách mở đầu bằng việc giới thiệu thẳng với người nghe vấn đề sẽ trình bày để người nghe tiếp cận ngay Cách mở đầu này ngắn gọn, tự nhiên, dễ tiếp nhận và thích hợp với nhũng bài phát biểu ngắn với đối tượng đã
Trang 39tương đối quen thuộc… Mở đầu trực tiếp được cấu trúc bởi hai phần: Nêu vấn đề và giới hạn phạm vi vấn đề (hay chuyển vấn đề)
- Nêu vấn đề là trình bày một ý tưởng, một quan niệm tổng quát có liên quan trực tiếp đến chu đề tuyên truyền để dọn đường cho việc trình bày phần chính tiếp theo
- Giới hạn phạm vi vấn đề là thông báo cho người nghe biết trong bài nói có mấy phần, bàn đến những vấn đề gì
Mở đầu gián tiếp là cách mở đầu không đi thẳng ngay vào vấn đề mà chỉ nêu vấn đề sau khi đã dấn ra một ý kiến khác có liên quan, gần gũi vời vấn đề ấy nhằm chuẩn bị bối cảnh, dọn đường cho vấn đề xuất hiện Cách mở đầu này dễ tạo cho bài nói sự sinh động hấp dẫn đối với người nghe, làm cho người nghe nhanh chóng thay đổi quan điểm vốn có, chấp nhận quan điểm của người tuyên truyền
- Mở đầu gián tiếp được cấu trúc bởi ba phần: Dẫn dắt vấn đề, nêu vấn đề và giới hạn phạm vi vấn đề Tuỳ theo cách dần dắt vấn đề, hay là cách chuyển từ phần dẫn dắt ván đề sang phần nêu vấn đề mà hình thành
Các phương pháp mở đầu gián tiếp sau:
- Nếu dẫn dắt vấn đề được bắt đầu từ một cải riêng để đi đến nêu vấn đề là một cái chung ta có phương pháp quy nạp
- Nếu dẫn dắt vấn đề bắt đầu từ một cái chung để đi đến nêu vấn đề là một cái riêng ta có phương pháp diễn dịch
- Nếu dẫn dắt vấn đề bảng cách lấy một ý khác tương tự để làm rõ hơn cho việc nêu vấn đề ở phần tiếp theo ta có phương pháp tương đồng
- Nếu dẫn dắt vấn đề bằng cách lấy một ý khác trái ngược để đối chiếu, so sánh với vấn đề sẽ nêu ra ta có phương pháp tương phản
Trong thực tế công tác tuyên truyền miệng, ngoài các cách mở đầu có tính
"kinh điển" trên, người ta còn sử dụng hàng loạt các phương pháp mở đầu khác, tự
do hơn, miễn là chúng đáp ứng được các yêu cầu như đã nêu trên
Ngoài ra trong phần mở đầu dù trực tiếp hay gián tiếp, nên có thêm phần giới thiệu thời gian nói chuyện (đến mấy giờ), phương thức tiến hành (có nghỉ giải lao hay không, nghỉ mấy lần, có trả lời các câu hỏi và tổ đối thoại hay không )
(2) Phần chính của bài nói: Đây là phần dài nhất, quan trọng nhất, quy định chất lượng của bài nói, là phần thể hiện và phát triển nội dung tuyên truyền một
Trang 40cách toàn diện, theo yêu cầu đặt ra Nếu như chức năng, đặc trưng của phần mở đầu
là thu hút sù chú ý của người nghe ngay từ đầu thì chức năng đặc trưng của phần chính là lôi cuốn người nghe, kích thích sự hứng thú, định hướng tư tưởng, phát triển tư duy của họ bằng chính sự phát triển phong phú của nội dung và lôgíc của sự trình bày Khi chuẩn bị phần chính của bài nói cần đạt tới các yêu cầu:
- Bố cục chặt chẽ, được trình bày, lập luận theo những quy tắc, phương pháp nhất định Phần chính được bố cục thành các luận điểm hay các mục (mục lớn tương ứng với luận điểm cấp một, mục nhỏ tương ứng với luận điểm cấp hai) Các luận điểm phải được làm sáng tỏ bởi các luận cứ Giữa các luận điểm hay các phần, các mục phải có đoạn chuyển tiếp làm cho bài nói có tính liên tục và giúp người nghe chủ động chuyển sang tiếp thu những mục, những luận điểm tiếp theo Tư liệu,
cứ liệu dùng để chứng minh, làm sáng tỏ luận điểm cần được sắp xếp một cách lôgíc theo phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch, phương pháp loại suy hoặc phương pháp nêu vấn đề Mỗi luận điểm, mỗi phần, mỗi mục có thể trình bày theo một trong các phương pháp trên Việc chọn phương pháp trình bày, sắp xếp tư liệu nào là do nội dung bài nói, đặc điểm người nghe và hoàn cảnh cụ thể của buổi tuyên truyền miệng quy đinh
- Tính xác định, tính nhất quán và tính có luận chứng: Nhìn chung, quá trình trong ý thức của mỗi cá nhân trong xã hội đã hình thành những mối quan hệ lôgíc nhất định Nếu lôgíc bài nói phù hợp với lôgíc trong tư duy, ý thức người nghe thì bài nói sẽ trở nên dễ hiểu, dễ thuyết phục Chính vì vậy, khi thiết lập đề cương bài nói, hình thành các luận điểm, các phần, các mục phải vận dụng các quy luật lôgíc (quy luật đồng nhất, quy luật mâu thuẫn, quy luật loại trừ cái thứ ba, quy luật có lý
do đầy đủ) Việc vận dụng các quy luật này trong khi lập luận, trình bày, kết cấu đề cương sẽ đảm bảo cho bài nói có tính rõ ràng, chính xác (tính xác định), tính nhất quán và tính có luận chứng
- Tính tâm lý, tính sư phạm Khi xây dựng phần chính cua bài nói và trình bày, lập luận nội dung, ngoài việc vận dụng các quy luật của lôgíc hình thức cần vận dụng các quy luật của tâm lý học tuyên truyền như: Quy luật hình thành và biến đổi của tâm thế, quy luật đồng hoá và tương phản của ý thức, quy luật đứng đầu trong niềm tin, quy luật về sự tác động của cái mới…