Với một số lí do trên đây, chúng tôi quan tâm và lựa chọn nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của tiêu đề báo chí điện tử tiếng Việt.. Trong bài viết này, các tác giả đã chỉ ra hai điểm khác
Trang 1- -
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TIÊU ĐỀ
BÁO CHÍ ĐIỆN TỬ TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Na
Ma số: 60.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Phương Lâm
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
HẢI PHÒNG, NĂM 2017
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, với những biện
luận, quan điểm độc lập Các số liệu khảo sát, kết quả nêu trong luận văn này là
trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác Các
thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hải Phòng, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình theo học ngành cao học Ngôn ngữ học Việt Nam tại
trường Đại học Hải Phòng, đặc biệt là khoảng thời gian thực hiện luận văn tốt
nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ hết lòng từ gia đình, thầy cô và bạn bè Vì vậy,
tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
Gia đình tôi, hậu phương luôn đứng bên tôi trong những phút khó khăn để
hoàn thành được luận văn
Các thầy, cô giảng dạy chuyên ngành Ngôn ngữ học Việt Nam khóa K6 tại
trường Đại học Hải Phòng, những người đã dành tâm sức tận tình hướng dẫn tôi
Thầy giáo, tiến sĩ Đỗ Phương Lâm, người đã tận tâm hướng dẫn, động viên
và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, tôi xin kính chúc sức khỏe tới quí thầy cô, gia đình và các anh chị
học viên
Hải Phòng, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 9
1.1 Phong cách ngôn ngữ báo chí 9
1.1.1 Ngôn ngữ báo chí có tính thời sự 9
1.1.2 Ngôn ngữ báo chí có tính ngắn gọn, chính xác 13
1.1.3 Ngôn ngữ báo chí có tính cụ thể 15
1.1.4 Ngôn ngữ báo chí có tính khuôn mẫu 15
1.2 Tiêu đề báo chí 17
1.2.1 Khái niệm 17
1.2.2 Chức năng của tiêu đề báo chí 18
1.2.3 Vai trò của tiêu đề báo chí 19
1.2.4 Đặc trưng của tiêu đề báo chí 22
1.2.5 Cấu trúc tiêu đề báo chí 23
1.2.6 Phân loại tiêu đề báo chí 24
1.2.7 Yêu cầu về đặt tiêu đề báo chí 25
1.3 Khái quát về thể loại và hệ thống báo chí Việt Nam 25
1.3.1 Các thể loại báo chí 25
1.3.2 Diện mạo báo chí ở Việt Nam 26
Tiểu kết chương 1 27
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TIÊU ĐỀ BÁO ĐIỆN TỬ VỀ MẶT CẤU TRÚC HÌNH THỨC 29
2.1 Một số đặc điểm về cấu trúc ngữ pháp 29
2.1.1 Tiêu đề bài báo là một cụm từ 29
Trang 52.1.2 Cấu trúc ngữ pháp của tiêu đề bài báo là câu 35
2.2 Một số đặc điểm về cách dùng từ, ngữ trong tiêu đề 38
2.2.1 Tiêu đề bài báo điện tử sử dụng nhiều tiếng lóng của giới trẻ 38
2.2.2 Tiêu đề báo dùng nhiều thành ngữ mới 41
Tiểu kết chương 2 42
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TIÊU ĐỀ BÁO ĐIỆN TỬ VỀ MẶT NỘI DUNG 44
3.1 Ý nghĩa của tiêu đề và các kiểu tiêu đề tương ứng 44
3.1.1 Tiêu đề thông báo (hay còn gọi là tiêu đề xác nhận thông tin) 44
3.1.2 Tiêu đề nghi vấn 45
3.1.4 Tiêu đề cảm thán 48
3.1.5 Tiêu đề để ngỏ 48
3.2 Các cách đặt tiêu đề thường gặp trên báo điện tử hiện nay 49
3.2.1 Dùng các mô típ có sẵn 49
3.2.2 Dùng các phương thức chuyển nghĩa 62
3.2.3 Chơi chữ, nói lái 67
3.2.4 Uyển ngữ 71
3.2.5 Châm biếm, nói mỉa 72
3.2.6 Dùng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong tiêu đề 75
3.3 Ảnh hưởng, tác động của tiêu đề báo điện tử đối với tiếng Việt văn hóa 75
3.3.1 Tác động tích cực 75
3.3.2 Tác động tiêu cực và giải pháp 77
Tiểu kết chương 3 80
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
Báo điện tử (báo mạng) là loại hình báo chí rất non trẻ ở nước ta Những tờ báo điện tử ra đời sớm nhất cũng mới chỉ có tuổi đời chừng 15 năm Tuy ra đời muộn, nhưng báo điện tử lại là loại hình báo chí năng động, có khả năng thích ứng cao, tích hợp được nhiều phương tiện truyền thông hiện đại và luôn vận động, biến đổi theo tốc độ chóng mặt của công nghệ kĩ thuật số Không những thế, báo điện tử còn đặc trưng ở tính miễn phí, tính đồ họa và tính thời sự, tính cập nhật rất cao Vì vậy, báo điện tử hiện nay đã gần như chiếm tỷ lệ tuyệt đối so với báo in về số lượng người đọc
Tờ báo điện tử đầu tiên của Việt Nam là Vnexpress “hiện có hơn 17 triệu độc giả thường xuyên (unique visitors), với khoảng 34 triệu lượt truy cập (pageviews) mỗi ngày (độc giả trong nước chiếm hơn 80%, 7% ở Mỹ, 13% từ các nơi khác)” [69] Đây là con số khổng lồ mà chưa từng có tờ báo in nào đạt được
Các trang báo điện tử khác cũng đã phát triển nhanh chóng, như Báo Dân trí
(Dantri.com.vn) “đã được công cụ xếp hạng Zeitgeist của Google xếp thứ 9 trong Top 10 từ khóa có tốc độ “tăng trưởng tìm kiếm nhanh nhất toàn cầu” [69] Hay
“VietNamNet là lựa chọn hàng đầu của độc giả tuổi trên 30 - kết quả nghiên cứu của Công ty CP Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report), vừa chính thức công bố” [69]
Để làm được điều này, báo điện tử đã năng động, đổi mới cả về nội dung và hình thức, đáp ứng thị hiếu của người đọc Vì vậy, vấn đề ngôn ngữ báo điện tử dù
đã được nghiên cứu, tìm hiểu nhiều, song, chưa bao giờ là cũ, khi nó luôn biến đổi theo từng ngày, từng giờ
Tiêu đề (từ đây viết tắt là TĐ) thường là nhân tố hình thức quan trọng nhất quyết định sự thành công, quyết định lượng người đọc của một bài báo Theo Dan
Shure, “Trong cuốn sách nổi tiếng về marketing, bestseller của The New York Times và Wall Street Journal, có tên “Made to stick”, tác giả cho rằng các biên tập viên tin tức và báo chí nên dành 80% thời gian của họ để suy nghĩ đặt TĐ cho bài
Trang 7viết, thời gian nào còn lại thì dành cho nội dung” [62] Với báo điện tử, tồn tại
trong môi trường số với diện tích phủ tin dày đặc và tốc độ lướt tin nhanh đến chóng mặt, thì TĐ lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, gần như thay thế toàn bộ nội dung bài báo để quyết định việc đọc hay không đọc của độc giả Nhà báo thường phải có rất nhiều chiến lược ngôn ngữ thực hiện trên TĐ để thu hút người đọc Vì vậy, TĐ báo điện tử có rất nhiều nét đặc trưng về cách sử dụng ngôn ngữ cần được nghiên cứu, tìm hiểu
Gần đây, việc giật tít (đặt TĐ bài báo một cách giật gân) trên báo điện tử đã trở thành một hiện tượng gây chú ý và phản ứng mạnh mẽ trong dư luận xã hội Nhiều TĐ báo chí không phản ánh đúng nội dung bài báo, chỉ nhằm gây sự chú ý của độc giả Một số TĐ báo chí mắc lỗi ngôn ngữ, sai về chính tả, ngữ pháp, ngữ
nghĩa, gây hiểu lầm cho độc giả Chẳng hạn, TĐ bài báo “Phạt 70 triệu bác sĩ bị tố hiếp dâm cô gái 18 tuổi” của tác giả Thạch Quý đăng trên Báo Vietnamnet ngày 07-
10-2016 có thể mang đến một cách hiểu phi lí: có tới 70 triệu bác sĩ Những trường hợp tương tự như ví dụ vừa dẫn không chỉ là một hiện tượng báo chí mà còn là một hiện tượng ngôn ngữ tác động tiêu cực đến đời sống ngôn ngữ xã hội
Với một số lí do trên đây, chúng tôi quan tâm và lựa chọn nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của tiêu đề báo chí điện tử tiếng Việt
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu về báo điện tử
Ở Mỹ, báo điện tử hình thành và phát triển sớm nhất trên thế giới Việc nghiên cứu về báo điện tử cũng vì thế mà phát triển nở rộ, không chỉ ở phương diện
kĩ thuật điện tử - mạng internet, phương diện báo chí mà cả trên phương diện ngôn ngữ học Có thể điểm lại một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Nhóm tác giả: Keith Kenney, Alexander Gorelik, Sam Mwangi với bài
chuyên luận Những đặc điểm mang tính tương tác của báo điện tử Bài viết đã phân
tích rất sâu sắc về đặc tính tương tác của báo điện tử Trong đó, các tác giả đã chỉ ra những chiến lược của báo điện tử trong việc tăng cường khả năng tương tác với độc giả và trao cho độc giả nhiều sự chủ động hơn trong việc tìm kiếm thông tin Như
Trang 8vậy, ba tác giả người Mỹ đã bước đầu nhận thấy tầm quan trọng trong sự đọc (sự nhận tin) của độc giả, tức là thấy được sự chi phối của nhân vật giao tiếp, cũng như thấy được tính đa chiều của hoạt động báo chí [68] Đây là tài liệu quan trọng, quán xuyến tư tưởng của chúng tôi khi tiến hành nghiên cứu đề tài luận văn này
Ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu về báo điện tử còn khá khiêm tốn Đây là khó khăn của chúng tôi trong quá trình tìm hiểu về các vấn đề lí thuyết ngôn ngữ học báo chí Có thể kể đến một số tác giả có công trình nghiên cứu chung về báo điện tử dưới đây:
Nhóm tác giả: Vũ Hồng Quang, Trần Hồng Nhung, Vũ Thu Phương, Vũ Minh Phúc, Nguyễn Thị Thơm, Vũ Thị Hà My có bài viết “Nghiên cứu so sánh giữa trang web thông thường và báo điện tử” Trong bài viết này, các tác giả đã chỉ
ra hai điểm khác nhau cơ bản về nội dung và hình thức giữa báo điện tử và trang web, qua đó cho thấy thiết kế của một tờ báo điện tử có tính chất tích cực hơn một trang web thông thường [70]
Nhóm tác giả: Ngọc Liên, Bích Hà, Hồng Nhung, Thu Hằng, Thanh Tùng có
bài viết Con đường riêng của báo Dân trí Bài viết ghi lại một cách hệ thống quá
trình hình thành, phát triển cũng như chỗ đứng của Dantri.com hiện nay trên cộng đồng mạng [66]
Tác giả Trương Đình Hữu trong bài viết “Những ưu điểm của báo chí trực tuyến” đã chỉ ra những lợi thế của báo điện tử so với báo chí truyền thống như tính tương tác, tính đa phương tiện, tính thời sự, tính phi định kì và khả năng truyền tải thông tin không hạn chế Đặc biệt, bài viết này đã nhắc tới một đặc tính tương tác riêng biệt của báo điện tử là “cho phép người đọc gửi mail (thư điện tử) phản hồi trực tiếp tới tòa soạn báo với tốc độ nhanh chóng” [85] Đặc tính này cho chúng tôi cái nhìn về quá trình giao tiếp trực tiếp giữa người đọc và nhà báo để chi phối tới bài báo, cái mà các loại hình báo chí truyền thống khác không có
Nhìn chung, các tác giả trên đã bước đầu đưa ra những nghiên cứu của mình
về một số đặc điểm của báo điện tử, thông qua việc khảo sát những tờ báo điện tử tiêu biểu Tuy nhiên, các bài viết mới chỉ dừng lại ở việc so sánh, khảo sát chung chung mà chưa nghiên cứu khái quát nên những đặc điểm về ngôn ngữ cũng như
Trang 9chỉ ra những thành tựu hay những bất cập, những tác động tới ngôn ngữ xã hội của báo chí điện tử tiếng Việt hiện nay
2.2 Nghiên cứu về tiêu đề báo chí
TĐ báo chí nói chung và TĐ báo điện tử nói riêng là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Dưới đây, chúng tôi tổng thuật một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
Dan Shure trong bài viết “TĐ (giật tít) quyết định 80% thành công của bài viết! Tại sao?” đã gián tiếp đề cập đến đặc tính của ngữ cảnh mạng khi cho rằng
Internet là đường cao tốc: “Nếu như trang web của bạn là cửa hàng nằm trên đường cao tốc, thì TĐ là bảng chỉ dẫn để lôi kéo sự chú ý của càng nhiều người phù hợp càng tốt Có thể nhiều người bỏ qua liên kết, email, bài viết của bạn, nhưng một số người sẽ muốn dừng lại để xem xét” [62] Tác giả cũng nêu ra 7 nguyên liệu cần thiết cho một TĐ báo điện tử: Tò mò (Curiosity), Lợi ích (Benefit), Cảm xúc (Emotion), Hữu hình (Tangible), Thẩm mỹ (Appearance), Có âm (Sound), Kỳ vọng (Expectation)
Trong bài viết “Cách đặt đầu đề (TĐ - Tít) cho bài báo”, tác giả Lê Thanh
Bình nhấn mạnh: “Đặt đầu đề cho bài báo là việc làm có tính chất quyết định số phận của bài báo” [29] Trong bài viết, tác giả trình bày sơ bộ về đặc điểm nổi bật
của tít, chức năng của tít, tính chất của tít, dạng tít, cấu trúc tít và một số loại tít báo thường gặp
Với công trình Nghiên cứu, khảo sát các cách giật tít trên báo điện tử điện
tử, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế, tác giả La Thị Hoàn đã nghiên cứu kĩ lưỡng về
các loại tít, đặc trưng của tít báo điện tử, thủ thuật giật tít, tiêu chí giật tít, tiêu chí đánh giá một tít hay Đồng thời, tác giả cũng khảo sát 25 tít báo trên Vietnamnet.vn
để chỉ ra chất liệu đặt tít và nhận xét về hiệu quả cũng như nhược điểm của chúng
Tác giả Võ Thị Hồng Nhung trong bài viết “Báo điện tử: Tầm quan trọng của việc rút tít” đã dẫn lại lời của giảng viên Fabienne Gerault thuộc Đại học Báo
chí Lille, Pháp khi nêu ra 6 chức năng chủ yếu của tít là:
– Thu hút sự chú ý vào trang viết;
Trang 10– Cung cấp thông tin chính trong một cái liếc mắt;
– Giúp độc giả lựa chọn bài;
– Khiến độc giả muốn đọc;
– Tổ chức trang;
– Sắp xếp thông tin
Điều quan trọng ở bài viết này là tác giả Võ Thị Hồng Nhung đã bước đầu
nhận thức được vai trò của người đọc với TĐ báo chí khi cho rằng: “Loại hình báo chí nào cũng có ưu và nhược điểm của nó và Báo điện tử điện tử cũng không phải
là ngoại lệ Những mặt hạn chế trong việc rút tít của các bài báo điện tử mà thời gian qua nhận nhiều phản ứng không tốt của độc giả là do nhiều nguyên nhân gây
ra Ở đây, tôi không nói đến những nguyên nhân xuất phát từ tòa soạn báo, phóng viên hay biên tập viên mà nói đến nguyên nhân từ độc giả Xu hướng tâm lý tò mò, thích cái giật gân, rùng rợn, ghê sợ…của công chúng báo điện tử chính là một phần khiến cho những cái tít kia trở nên tối nghĩa như thế Chính vì vậy, để giúp báo điện
tử hạn chế đi những điểm yếu là trách nhiệm của tất cả mọi người chứ không chỉ riêng những người làm báo” [74]
Bên cạnh nghiên cứu từ góc độ khoa học báo chí, TĐ bài báo cũng là đối tượng nghiên cứu được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm Trong cuốn
Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Cao Xuân Hạo (2006) đã coi TĐ như một bộ phận hữu cơ, gắn chặt với nội dung bài viết, mà vai trò của nó như là phần
đề còn cả bài văn, bài báo là phần thuyết Trong bài viết “Nhờ đâu những TĐ bài viết có sức hấp dẫn” đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ (số 1/1982), Hồ Lê đã phân tích
những đặc trưng của TĐ báo chí, dựa trên cứ liệu là những bài báo của Hồ Chí
Minh Tác giả Hoàng Anh (2003) trong cuốn Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí đã phân loại các kiểu TĐ báo chí từ góc độ ý nghĩa – chức năng
Trong cuốn Ngôn ngữ báo chí những vấn đề cơ bản, Nguyễn Đức Dân
(2007) đã đưa ra những nhận định về đặc điểm của ngôn ngữ báo chí, phong cách ngôn ngữ báo chí, vấn đề về đạo đức nhà báo, tầm quan trọng của báo chí, đào tạo nhà báo Nội dung chuyên sâu nhất của cuốn sách là phân tích về tiêu đề, đề dẫn,
Trang 11những hàm ý trong tin bài báo chí và các thông tin chìm trong bài tin
Cuốn Ngôn ngữ báo chí (Nhà xuất bản Thông tấn, 2014) của tác giả Vũ
Quang Hào có thể coi là cuốn giáo khoa về cách tổ chức các bài báo Trong cuốn sách, ngoài đề cập đến các nội dung: chuẩn mực ngôn ngữ, các phong cách ngôn ngữ báo chí, ngôn ngữ thuật ngữ khoa học, danh pháp khoa học, ký hiệu khoa học,
chữ tắt và số liệu trên báo chí, tác giả còn cung cấp những kiến thức bổ ích về
“Ngôn ngữ tít báo”: chức năng và cấu trúc của tít báo; những loại tít thường gặp;
những loại tít mắc lỗi
Một số tác giả khác chú ý đến việc nghiên cứu các khía cạnh của việc đặt TĐ báo chí, đặt trong sự so sánh với TĐ báo chí tiếng nước ngoài Nguyễn Thị Thanh Hương trong bài viết “Một số nhận xét về đặc điểm ngôn ngữ của các đầu đề trong
báo chí tiếng Anh hiện đại” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 9+10, 2001) đã nêu khái quát các
đặc điểm ngôn ngữ báo chí có thể vận dụng và liên hệ hữu ích đối với tiếng Việt Tác giả Nguyễn Thị Vân Đông phân tích những đặc trưng ngôn ngữ của TĐ báo chí theo quan điểm thống hợp ba bình diện của tín hiệu học: kết học, nghĩa học và dụng học trong loạt bài viết: “Đôi điều nên biết về TĐ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt”
(Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 11/2003), “TĐ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện ngữ dụng” (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 12/2005), “TĐ báo tiếng Anh và tiếng Việt dạng ngữ cố định” (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số
1+2/2005) và “Những đặc trưng ngôn ngữ của TĐ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt
trên bình diện nghĩa học” (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 7/2015) Trong những
bài báo trên đã chỉ ra một số phương thức chuyển nghĩa thường gặp như ẩn dụ, hoán
dụ, chơi chữ trong TĐ báo chí tiếng Anh, liên hệ với tiếng Việt Trong khi nghiên cứu về cấu trúc ngữ pháp, tác giả cũng cho thấy các nhà báo đã khai thác một cách triệt để các ngữ cố định trong TĐ để tạo những hiệu quả giao tiếp cao nhất
Ở bài viết “Từ trái nghĩa trong các TĐ trên báo chí Nga” đăng trên Tạp chí
Ngôn ngữ số 1/2007, Vũ Thị Chín đã cho thấy một xu hướng nổi bật trong cách đặt
TĐ báo chí tiếng Nga là cách sử dụng các từ trái nghĩa Bằng cách này, tác giả bài báo đưa ra những nghịch đề tạo hứng thú cho độc giả
Tác giả Nguyễn Văn Hưng (2011) trong luận văn thạc sĩ ngôn ngữ Tìm hiểu
Trang 12TĐ văn bản báo chí tiếng Việt trên cứ liệu báo Tuổi trẻ và Thanh niên đã phác hoạ
được cái nhìn bao quát về đặc trưng ngôn ngữ của TĐ báo tiếng Việt trên một số phương diện ngôn ngữ: từ vựng, ngữ pháp, mối quan hệ giữa TĐ với phần còn lại của văn bản báo chí trong tổ chức văn bản Tuy vậy, cấu trúc nội dung của luận văn
có phần bất hợp lí khi không nghiên cứu phương diện ngữ nghĩa của TĐ báo
Tóm lại, có thể thấy, việc nghiên cứu, tìm hiểu về ngôn ngữ báo chí nói chung
và TĐ báo điện tử nói riêng vốn không phải vấn đề mới mẻ, đã được nhiều người quan tâm Có khá nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về đặc điểm, tính chất, yêu cầu, loại hình của tít báo điện tử Thậm chí, một số tác giả đã bước đầu nhìn nhận ra
mô hình giao tiếp đặc biệt của báo điện tử hoặc vai trò chi phối của người đọc tới TĐ báo điện tử chứ không chỉ ở phía người phát tin, tạo lập thông điệp là nhà báo Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào áp dụng đầy đủ các kiến thức mới của ngữ dụng
học hiện đại để nghiên cứu TĐ báo điện tử một cách hệ thống
3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm khái quát được những đặc điểm về hình
thức (cấu trúc), nội dung và sự thích ứng của TĐ báo chí điện tử tiếng Việt hiện nay Từ đó đánh giá được tác động tích cực, tiêu cực của TĐ báo điện tử đối với sự trong sáng của tiếng Việt
Nhiệm vụ nghiên cứu chung của luận văn là tìm hiểu những đặc điểm, đặc
trưng về ngôn ngữ của TĐ báo điện tử Từ đó, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của báo điện tử trong việc sử dụng ngôn ngữ, đồng thời đề xuất một số kiến nghị, định hướng đối với người làm báo và bạn đọc Cụ thể là:
- Xác định cơ sở lí thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu;
- Khảo sát hiện trạng sử dụng ngôn ngữ trong đặt TĐ báo điện tử để làm cơ
sở cho việc nghiên cứu
- Khái quát những đặc điểm về ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của TĐ báo điện tử;
- Chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế trong việc sử dụng ngôn ngữ của TĐ báo điện tử hiện nay
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tiêu đề báo điện tử tiếng Việt được xuất bản trên các trang báo và trang thông tin điện tử trong thời gian từ 01-01-2014 đến 31-10-2016 Trong đó, tập trung vào các báo lớn như Dantri.com.vn, Vnexpress.net, Vietnamnet.vn, Tuoitre.vn, Thanhnien.vn, News.zing.vn… và các
trang thông tin điện tử lớn như Kenh14.vn, Soha.vn, 2sao.vn…
Sở dĩ chúng tôi lựa chọn phạm vi nghiên cứu trong thời gian xuất bản là 2,5 năm là vì như vậy có thể đủ ngữ liệu để khảo sát, đánh giá và phù hợp với quy mô
nghiên cứu của một luận văn thạc sĩ
5 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu, chúng tôi sử dụng kết hợp các thủ pháp và phương pháp sau: khảo sát, thống kê, phân loại; phân tích, so sánh; miêu tả và các phương pháp nghiên cứu liên ngành
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phần Nội dung của luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận
Chương 2.Một số đặc điêm tiêu đề báo điện tử về mặt cấu trúc hình thức Chương 3 Một số đặc điểm tiêu đề báo điện tử về mặt nội dung
Trang 14CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Phong cách ngôn ngữ báo chí
1.1.1 Ngôn ngữ báo chí có tính thời sự
Những sự kiện trong đời sống xã hội diễn ra từng giờ, từng phút và người đọc luôn đòi hỏi báo chí phải thông tin nhanh, kịp thời Các báo cũng luôn cạnh tranh với nhau để có thể đưa tin kịp thời Bởi vậy, một trong những đặc điểm quan
trọng nhất của báo chí là tính thời sự, tức là “sự kiện được thông tin nhanh, kịp thời (thông tin tức thời càng tốt)” [21, tr.23] Theo Ted Turner, “tính thời sự trong tin tức thậm chí là những gì “cập phút, cập giờ”, chứ không còn là những gì cập nhật nữa” [21, tr.22]
Theo đó, ngôn ngữ báo chí cũng phải mang tính thời sự để đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh, kịp thời Điều này đồng nghĩa với việc ngôn ngữ báo chí phải luôn luôn vận động, thay đổi từng ngày, từng giờ để theo sát hình thái/trạng thái ngôn ngữ của xã hội đương đại Nói cách khác, ngôn ngữ báo chí luôn chịu sự tác động từ phía người đọc, phải thay đổi, cập nhật để hấp dẫn, thu hút người đọc và bắt kịp thời đại Người làm báo luôn phải tự đặt mình ở vị trí người đọc để nắm bắt kịp thời cách sử dụng từ ngữ, thành ngữ, lối nói hiện đại của xã hội Từ tính thời sự mà hình
thành nên tính cập nhật của ngôn ngữ báo chí
Chẳng hạn, trước năm 1945, trên báo chí thường sử dụng từ phiên âm Hán
Việt để gọi tên các quốc gia, như: Phi Luật Tân, Xiêm, Mã Lai, Miến Điện, Tân Gia
Ba, Hương Cảng, Ý Đại Lợi, A Mỹ Lợi Gia, Gia Nã Đại, v.v.; tên các thành phố lớn, như: Nữu Ước, Mạc Tư Khoa, Mạn Cốc, Hoa Thịnh Đốn, v.v Nhưng ngày nay,
cùng với trào lưu hội nhập quốc tế, các từ nêu trên đã không còn sử dụng Thay vào
đó là các từ rút gọn, như: Mỹ, Ý; hoặc phiên âm trực tiếp, như: I-rắc, I-ran, si-a, Phi-lip-pin, Sing-ga-po, Hồng-Kông, Cam-pu-chia, Pa-ri, Băng-Cốc, Tô-ky-ô, Mi-an-ma, v.v Một xu hướng mới của các báo điện tử hiện nay là dùng nguyên ngữ (thường là tiếng Anh), như tên các thành phố: Iraq, Italia, Bangkok, Hongkong, Philipines, Singapore, Paris, London, New York, Milan, Tokyo, New Zealand, Indonesia, Seoul, Syria, v.v.; tên người: Britney Spears, Obama, Donal Trump,
Trang 15Ma-lay-Putin, Whitney Houston, Celine Dion, Madonna, Ronaldo, Hillary Clinton, v.v Những từ ngữ phiên âm tên riêng đang dần trở nên xa lạ trên mặt báo, như: Đô-nan Trăm (Donal Trump), Ba Rắc Ô Ba Ma (Barrak Obama), v.v
Ngày nay, tiếng Anh trở nên thông dụng, có mặt trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Nhiều thông tin về các sản phẩm, sự kiện, nhân vật đều liên quan mật thiết tới tiếng Anh Bởi vậy, các từ tiếng Anh được sử dụng rộng rãi trong xã hội
cũng được báo chí cập nhật mà không cần phiên âm tiếng Việt, như: internet, chat, email, gmail, smart phone, laptop, macbook, hot boy, hot girl, model, shipper, v.v
Báo chí luôn phải cập nhật vốn từ tiếng Anh thông dụng trong xã hội để đáp ứng
nhu cầu tin tức nhanh chóng, thời sự Một số từ như 8x, 9x, 90s, 80s, v.v cũng được
báo chí ngày nay sử dụng triệt để
Nhiều từ tiếng Việt mới xuất hiện, nhưng dần phổ biến trong xã hội ngày nay
cũng được báo chí tiếp nhận sử dụng, như: đi phượt, chơi săm, đập đá, quẩy, hít ke, dân lắc, đi bay, lầy lội, soái ca, mỹ nam, đam mỹ, v.v
Như vậy, để cập nhật những thông tin nóng hổi hàng ngày đến với người đọc, ngôn ngữ báo chí phải có tính thời sự, theo sát chuyển biến ngôn ngữ của xã hội đương đại Nó phải là thứ ngôn ngữ thông tin để người đọc cảm nhận được biến động, phát triển của xã hội diễn ra quanh họ
Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ toàn dân Báo chí hướng đến đối tượng phục
vụ là tất cả các tầng lớp xã hội, ở các trình độ khác nhau đều có thể đọc, hiểu được Bởi vậy, một trong những đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ báo chí là tính phổ cập, đại chúng
Tính phổ cập, đại chúng yêu cầu ngôn ngữ báo chí phải cụ thể, dễ hiểu, đúng phong cách chức năng, mang tính quy phạm, khuôn mẫu và phổ quát
Báo chí chỉ nên sử dụng phương ngữ ở một mức độ cho phép nhất định, và khi sử dụng phải phù hợp với ngữ cảnh trước và sau nó Nhà báo không được tùy
tiện sử dụng, sẽ gây khó hiểu cho người đọc Theo Nguyễn Đức Dân, “từ địa phương có thể gây khó hiểu cho một số bạn đọc và trở thành rào cản độc giả đến
Trang 16với bài báo của bạn, thậm chí chúng có thể làm độc giả hiểu lầm sang một nghĩa khác” [21, tr.191]
Ví dụ: Trong câu sau có hai từ địa phương: “… đã cho các gia đình nghèo
trong xã mượn tiền không lấy lãi, bán thiếu heo con, thức ăn hoặc tiền heo
giống…” là “heo” và “bán thiếu” Tuy cùng là phương ngữ, nhưng từ “heo” được
mọi người hiểu vì được dùng thường xuyên và rộng rãi Trong khi đó, từ “bán thiếu” lại khá khó hiểu với người thuộc phương ngữ Bắc Bộ vì nó không phổ biến
Do vậy, sẽ có tình trạng hiểu lầm thành “bán không đủ số lượng”
Các đại từ thuộc phương ngữ miền Trung đa số đều không được sử dụng
trong ngôn ngữ báo chí, như: tê, mô, tui, bọn tui, tụi tau, choa, bọn choa, ông nớ, bà
nớ, dì nớ, rứa, tề, mầy, cổ, chỉ, ảnh, bả, v.v Một số danh từ, động từ thuộc phương
ngữ miền Trung và miền Nam cũng phải thật hạn chế sử dụng trên báo chí, như:
mạo, nón, vớ, tẩy, viết, gôm, xài, bịnh, tiền thối, trả thiếu, v.v
Tuyệt đối không sử dụng thổ ngữ trên báo chí, trừ trường hợp đặc biệt cần
trích dẫn, ví dụ: răng, núa neng, muối mẹn, lọa, téc đèn, xa quéc, hỉ, chừ, ngằng, nhá nhơi, nghĩ ngỡn, v.v
Báo chí cũng cần sử dụng lớp từ chuyên môn một cách đúng mực Nhà báo trước khi đặt bút phải xem xét rõ đối tượng tiếp nhận của mình là ai, có đủ khả năng
tri thức để tiếp nhận kiến thức mình đưa ra hay không “Đối tượng trong các tờ báo đại chúng rất rộng rãi, người viết hãy nghĩ tới đối tượng thường thường bậc trung trong tờ báo, bài viết của bạn Luôn luôn tự hỏi liệu viết như vậy người đọc có hiểu nổi bài viết của mình không Nên luôn luôn nghĩ rằng độc giả không phải những nhà chuyên môn trong lĩnh vực đó nên họ có thể không am hiểu tường tận vấn đề
mà mình đang viết Có những câu, chữ, hình ảnh bạn cho là đúng, nhưng không phải là ai đọc cũng hiểu” [21, tr.193] Vì vậy, khi viết một bài báo chuyên môn,
người viết hãy tìm những từ ngữ giản đơn, đại chúng hơn thay thế cho các thuật ngữ chuyên ngành Trong trường hợp không có từ nào thay thế, nhất thiết phải có lời giải thích ngắn gọn, dễ hiểu về ý nghĩa của thuật ngữ đó
Ví dụ: TĐ “Phát hiện sớm trẻ tự bế” (báo Dân trí, 4/2/2012) gây khó hiểu cho người đọc vì ít người hiểu được “trẻ tự bế” là cái gì, phải đọc cả bài mới hiểu
Trang 17được đó là bệnh loạn tâm thần
Hay những từ ngữ chuyên môn, chuyên ngành trong bài báo “Chưa bao giờ bạn đọc được những điều như thế này về Thanh Lam và Hồng Nhung” (Soha.vn,
26/4/2016) như “kéo dài note với vibrato hoặc non-vibrato”, “Hồng Nhung head
voice tới C6”, “xuống D3”, v.v gây khó hiểu cho người đọc Các thuật ngữ này có
thể thông dụng với người học nhạc và tìm hiểu âm nhạc, nhưng hoàn toàn xa lạ với
đa phần người đọc
Cách viết tắt tùy tiện cũng là điều cần tránh trong báo chí, trừ những từ viết tắt thông dụng (như CAND, XHCN, UBND, Tp.HCM, v.v.) là được ghi thẳng, còn lại cần được ghi đầy đủ trong ngoặc đơn ngay sau đó Ví dụ không thể viết “Văn hóa cơ sở và phong trào TDĐKXDĐSVH” (TĐ báo của Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch Bến Tre, 16/3/2016)
Không nên dùng thành ngữ, tục ngữ, ẩn dụ nước ngoài vì người đọc không hiểu Chẳng hạn, có bài báo bóng đá viết là “…Thành công về mặt cá nhân là thế, nhưng dấu chấm quyết định lên chữ i lại là thành tích ở Mondial” (báo, 16/5/1998)
Rất ít người học tiếng Pháp mới biết câu thành ngữ Mettre les points sur les i (đặt
dấu chấm lên chữ i) ý nói phải rõ ràng, chính xác Người đọc bình thường không thể hiểu được ẩn dụ trong bài báo này
Báo chí cũng không nên dùng những điển cố, điển tích, ẩn dụ văn học thuộc những tác phẩm bác học, không phổ biến toàn dân Nếu không, người đọc không những không thấy được cái hay, mà còn không hiểu báo đang viết về cái gì Chẳng
hạn, Tít báo “Ga-vơ-rốt không muốn về nhà” (báo, 12/9/2003) ẩn dụ về trẻ em đường phố vì Ga-vơ-rốt là nhân vật cậu bé lang thang trong tác phẩm Những người khốn khổ của Victo Hugo Nhưng không phải ai cũng đọc Những người khốn khổ để
hiểu được ẩn dụ này
Vì vậy, các tít trên dù rất hay, thâm sâu, nhưng lại khó tiếp cận với người đọc, nên trở thành vô nghĩa Nếu không có tính đại chúng, thì dù có tâm huyết đến đâu, báo chí cũng không thể tác động và hòa vào quần chúng để thực hiện chức năng định hướng dư luận, xã hội
Trang 18Dù phổ cập và đại chúng đến đâu, ngôn ngữ báo chí cũng không thể quá bình dân, suồng sã, dễ dãi, thấp kém, vì đây là thể loại dành cho toàn dân, có khả năng tác động đến xã hội rất cao
Báo chí không thể sử dụng các tiếng lóng như: ông bô, bà bô, hãm, ô môi, chảnh chó, cớm, choai, thuổng, trẩu, lồi lõm, quay tay, vãi, v.v cũng như không thể
sử dụng những từ ngữ thô tục như: con mẹ, thằng cha, chịch, cứt, đái, đia ỉa, đi đái,
v.v Cần phải tìm những từ ngữ cùng nghĩa nhưng lịch sự hơn
Tất cả các lớp ngôn từ được sử dụng trên báo chí đều phải đúng chuẩn mực, đảm bảo ngôn ngữ văn hóa, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Ngôn ngữ báo chí không khó hiểu nhưng cũng không dễ dãi, bỉ lậu
1.1.2 Ngôn ngữ báo chí có tính ngắn gọn, chính xác
Báo chí cần nhất việc thông tin nhanh, kịp thời, nên ngôn ngữ phải thật ngắn gọn, chính xác Người đọc không có nhiều thời gian để đọc báo, và việc dùng sai ngôn từ sẽ gây hậu quả khôn lường do lượng độc giả của báo rất lớn, là toàn thể xã
hội “Ngắn gọn thì hay (short is beautiful) Có những thể loại, bài tin chẳng hạn, càng ngắn gọn, càng súc tích càng hay (short is even better)” [21, tr.30] Sự dài
dòng, phức tạp dễ làm loãng thông tin và giảm hứng thú ở người đọc
Tính ngắn gọn của ngôn ngữ báo chí được biểu hiện qua một số yêu cầu:
- Thông tin được dồn càng nhiều càng tốt
- Ngôn từ được sắp xếp để làm nổi bật sự kiện cốt lõi
- Ngôn từ có sức biểu đạt cao nhất
- Đáp ứng được nhu cầu về dung lượng, thời lượng
- Ngôn ngữ phù hợp với từng thể loại báo chí
Tâm lí học đã chứng minh, một người bình thường chỉ nhớ được 7+- 2 yếu tố ngẫu nhiên Vì vậy, những đoạn viết dài quá 5 dòng hay 10 dòng trên một bài báo
sẽ khó nhớ, khó đọc Trên báo chí, trung bình độ dài dưới 8 từ/câu thì dễ đọc Câu
có độ dài 25 từ trở nên sẽ khó đọc Khuynh hướng chung của báo chí ngày nay là viết các câu và các đoạn ngày càng ngắn đi Vì thế, nhiều người viết chủ trương
Trang 19tách thành càng nhiều câu, nhiều đoạn nhỏ càng tốt Xu hướng của báo mạng hiện nay là chỉ để 1 tới 2 câu ngắn gọn trong một đoạn văn
Ví dụ: viết “mười năm trở lại đây” đã ngắn, nhưng nên viết “10 năm nay” vì nghĩa không thay đổi mà còn ngắn hơn
Theo Nguyễn Đức Dân, “sửa những câu rối rắm, phức tạp cho ngắn lại thực chất là sửa về cấu trúc tư duy, sửa lại câu theo cấu trúc tư duy chặt chẽ” [21, tr.15]
Đây là công việc cần thiết của người biên tập khi phải rút ngắn câu mà không làm mất ý
Thay vì viết câu dài, có thể viết những câu ngắn liên kết với nhau Ví dụ:
“Madonna là nữ hoàng nhạc pop Cô là nữ ca sĩ có album bán chạy nhất Cô hoạt động hơn 30 năm qua Cô gây ảnh hưởng mạnh tới thế giới” Để làm được điều
này, cần chú ý dùng những phương thức liên kết văn bản để tạo câu ngắn và có mối liên hệ mạch lạc Đó là liên kết hình thức và liên kết nội dung:
- Liên kết hình thức: còn gọi là liên kết ngữ pháp, gồm các phương thức lặp
từ vựng, thay thế từ vựng, dùng hư từ, v.v
- Liên kết nội dung: còn gọi là liên kết logic – ngữ nghĩa, gồm sự liên tưởng, phép đối, liên kết qua những thuộc tính, qua những quan hệ logic, v.v
Để đảm bảo tính ngắn gọn, ngôn ngữ báo chí tránh các cách diễn đạt dùng
nhiều từ hoa mĩ xen vào bài báo Ví dụ: trong bài “Dọc đường ấp văn hóa” sử dụng
nhiều từ hoa mỹ không cần thiết ở đề dẫn “Khuôn mặt được trang điểm kĩ càng
của cô nhân viên Phòng VHTT Bình Chánh tỏ vẻ ái ngại khi tôi hỏi đường tới một
ấp văn hóa nào đó của huyện “Xa lắm”… nhưng rồi cô cũng cho tôi địa chỉ của ấp
4, xã Tân Phúc, một trong 5 ấp văn hóa của huyện Bình Chánh hiện nay” [21, tr.227] vừa dài dòng, vừa gây khó hiểu cho người đọc
Không dùng tới hai, ba từ đồng nghĩa nếu chỉ một từ là đủ và chỉ viết những
gì cần thiết với độc giả “Hãy dũng cảm cắt bỏ những câu thừa, chữ thừa, ý lặp, những chi tiết rườm rà, vô ích” [21, tr.228]
Để đảm bảo tính chính xác, ngôn ngữ báo chí hạn chế các cách diễn đạt mơ
hồ, lập lờ, nước đôi mà hướng tới sự rõ ràng, mạch lạc Phải làm sao để hạn chế
Trang 20được thật nhiều hiểu lầm trong ngôn từ khi bài báo đến tay người đọc Một trong những chức năng quan trọng nhất của báo chí là cung cấp thông tin chính xác cho
người đọc, nên “nguyên tắc báo chí và cũng là một phẩm chất hàng đầu của nhà báo là: trung thực và chính xác” [21, tr.24] Bởi vậy, ngôn từ của nhà báo phải làm
sao để thể hiện được tính trung thực, không bịa đặt, không mập mờ
1.1.3 Ngôn ngữ báo chí có tính cụ thể
Ngôn ngữ báo chí cần phải có sự miêu tả, tường thuật tường tận, cụ thể, cặn
kẽ đến từng chi tiết nhỏ nhất Đây là cơ sở của tính chính xác Đặc biệt, trong bản tin tường thuật, cần cụ thể đến từng số phút, số giờ Có như vậy, người đọc mới cảm giác như mình là người trong cuộc, đang chứng kiến trực tiếp sự việc
Khi viết báo, người viết phải nắm được đầy đủ thông tin của đối tượng cần viết, về định danh, không gian, thời gian, tuổi tác, v.v Nhiều khi, phải viết rõ năm sinh, quê quán, biệt danh, v.v của đối tượng Phải rõ ràng đến từng chi tiết thì thông tin đưa ra mới có tính thuyết phục, người đọc mới có thể dựa vào đó để kiểm chứng tính chính xác của tin báo
Báo chí cần hạn chế các kiểu cấu trúc mơ hồ như: “một ai đó…”, “một người nào đó…”, “một nơi nào đó…”, “vào khoảng…”, “hình như…”, “có vẻ như…”, “có
lẽ là…”, “người đàn ông ấy…”, “cô gái kia…”, “đoán là…”, “biết đâu là…”, v.v
Do chịu sự giới hạn về không gian, thời gian trong một diện tích báo nhất định nên ngôn từ trong một bài báo cũng phải được căn chỉnh, tính toán sao cho đảm bảo về dung lượng yêu cầu, không quá dài mà cũng không quá ngắn
Hiện nay, rất nhiều báo quy định rõ ràng về số lượng chữ trong một bài báo Chẳng hạn, TĐ không được quá 20 chữ, đề dẫn không được quá 52 chữ Ở báo điện
tử, người ta đã thiết kế chương trình soạn thảo dành riêng cho phóng viên và được cài đặt để nếu quá số chữ cho phép sẽ không thể viết tiếp
Bởi vậy, người viết phải lựa chọn từ ngữ sao cho cô đọng, hàm súc và biết lược bỏ những câu chữ không cần thiết
1.1.4 Ngôn ngữ báo chí có tính khuôn mẫu
Đề truyền đạt thông tin nhanh nhạy nhất, ngôn ngữ báo chí phải sử dụng tính
Trang 21khuôn mẫu, tức là những hệ thống ngôn từ có sẵn, thống nhất, được dùng lặp đi lặp lại một cách quen thuộc
Khuôn mẫu ngôn từ thường đơn giản, đơn nghĩa, mang sắc thái biểu cảm trung tính, không cứng nhắc, bất di bất dịch mà linh hoạt, uyển chuyển Có hai dạng khuôn mẫu là:
- Khuôn mẫu hình thức: ngôn ngữ báo chí thường sử dụng các khuôn như
“cho chúng ta thấy…”, “chúng ta có thể thấy…”, “…gây xôn xao dư luận”,
“…khiến cộng đồng bức xúc”, “phát sốt vì…”, “…dậy sóng cộng đồng”…
- Khuôn mẫu nội dung: việc sử dụng các khuôn mẫu nội dung thường phụ thuộc vào mối quan tâm của độc giả Chẳng hạn, xu hướng chung của báo chí hiện nay là gán tên các người đẹp chân dài với “đại gia” Hay nhắc tới Thanh Lam, Mỹ Linh, Hồng Nhung, Hà Trần thì báo chí là gán kèm với từ “diva”
Dù mô phạm, khuôn mẫu đến đâu, ngôn ngữ báo chí vẫn phải có tính biểu cảm Tức là việc sử dụng các từ ngữ, lối nói mới lạ, giàu hình ảnh, in đậm dấu ấn cá nhân, tạo được sự sinh động, hấp dẫn và ấn tượng với người đọc
Người viết có thể sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao, vay mượn các hình ảnh, từ ngữ, lối nói, diễn đạt từ văn học nghệ thuật như trào phúng, ẩn dụ, hoán dụ, chơi chữ, nói lái, v.v cho bài báo thêm tinh tế, sinh động Nhưng cần chú ý tính đại chúng, không nên dùng những lối nói quá xa vời, khó hiểu với người đọc Ví dụ, các nhân vật văn học quá nổi tiếng và quen thuộc như Thúy Kiều, Từ Hải, Thị Nở, Chí Phèo, Tấm, Cám, v.v thường xuyên được mượn danh để ẩn dụ ở các tít báo
như: “Cuộc đời khổ hơn Thúy Kiều của Hoàng tử bolero Quang Hiếu” (Doisongphapluat.com, 30/6/2016), “Thị Nở Đức Lưu gặp rắc rối vì cảnh nóng với Chí Phèo ở vườn chuối” (Vtc.vn, 28/6/2016), v.v
Chính tính biểu cảm trong ngôn ngữ là yếu tố tạo nên sự hấp dẫn cho một tác phẩm báo chí, đặc biệt là những tác phẩm thuộc thể loại phóng sự, bình luận, vốn có dung lượng dài hơn, mất nhiều thời gian để đọc hơn
Trang 221.2 Tiêu đề báo chí
1.2.1 Khái niệm
TĐ (nói chung) còn có các tên gọi khác như: tít (title, titre), đầu đề, tiêu đề, nhan đề, tên bài, v.v Đối với lĩnh vực báo chí thường chỉ dùng thuật ngữ TĐ hoặc tít (từ ngữ nghề nghiệp)
Trước hết ta cần tìm hiểu TĐ văn bản nói chung Ở dạng đầy đủ, văn bản
thường có tiêu đề Tiêu đề văn bản là một bộ phận của văn bản, có chức năng
“đánh dấu đầu vào của văn bản” và thông báo nội dung tóm tắt của văn bản một cách cô đọng, súc tích, ngắn gọn nhất TĐ văn bản thể hiện đề tài được phản ánh (sự việc được nói đến), cũng có thể thể hiện chủ đề (vấn đề chủ yếu) của văn bản
Nhà nghiên cứu người Nga I.R Galperin (1977) trong cuốn Stylistics đã
khẳng định: “TĐ văn bản nói lên ý đồ chủ đạo, tư tưởng, quan điểm của người tạo
ra văn bản khi thì dưới hình thức văn bản rõ ràng cụ thể, khi thì dưới hình thức ẩn ý.” [21, tr 121]
TĐ báo chí (title) không phụ thuộc vào quy mô bài viết TĐ là một bộ phận
của bài báo Có vai trò quan trọng trong việc xác định chủ đề của bài báo
Theo VTV, “Xét về mặt thuật ngữ thì tít báo còn được gọi là nhan đề, đầu
đề, tiêu đề… nhưng thuật ngữ tít được sử dụng rộng rãi bởi đây vừa là thuật ngữ báo chí vừa là một từ nghề nghiệp Ngoài ra, thuật ngữ này còn có khả năng phái sinh cao, nói cách khác nó tiện lợi cho việc gọi tên các thao tác xử lý tít” [79] Như
vậy, tít báo thực chất cũng là tiêu đề, nhưng được dùng riêng cho báo chí để mang tính thuật ngữ cao hơn và phân biệt rõ một bài báo với những tác phẩm thuộc thể loại khác, đồng thời nhấn mạnh vào tính chất nghề nghiệp của người làm báo
Trần Thị Thanh trong bài viết Đặc trưng đặt tít của báo mạng điện tử định nghĩa “Tít (đầu đề) là tên gọi của tác phẩm, là cơ sở để phân biệt bài báo này với bài báo khác, giúp người đọc xác định mức độ quan trọng của thông tin và chọn đọc” [72] Như vậy, tít báo là yếu tố tóm lược những thông tin quan trọng nhất của
một bài báo để gây ấn tượng với người đọc
Đào Minh Trang trong bài viết Báo Mạng điện tử: Tầm quan trọng của việc
Trang 23rút tít đưa ra kết luận “tít là tên gọi của tác phẩm và là cơ sở để phân biệt bài báo này với bài báo khác” [80]
Từ những quan niệm trên đây, chúng tôi xác định: TĐ báo chí (còn gọi là tít báo) là tên gọi, phần mở đầu của một tác phẩm báo chí, giúp phân biệt bài báo này với bài báo khác TĐ báo có nhiệm vụ tóm lược những thông tin quan trọng, hấp dẫn nhất trong một bài báo để thu hút người đọc
Trong báo viết, các mẩu tin thường không cần đặt tiêu đề Bởi vì, các mẩu tin bản thân chúng đã rất vắn tắt, không cần TĐ để giới thiệu và tóm tắt nội dung của chúng Như vậy, đối với các bài báo, TĐ có chức năng định danh và khu biệt So sánh với nhân danh, địa danh, nhãn hiệu thường là là những tín hiệu có tính võ đoán, tách rời và độc lập với đối tượng thì TĐ là một tín hiệu có lý do, mang tính biểu trưng TĐ là yếu tố để gọi tên, để đại diện cho bài báo
Cách đặt TĐ thường được gọi bằng từ nghề nghiệp là “giật tít”
1.2.2 Chức năng của tiêu đề báo chí
Chức năng quan trọng đầu tiên của TĐ báo chí là thu hút sự chú ý, tức là phải
“bắt mắt” Độc giả sẽ quyết định bài báo có đáng đọc hay không ngay từ việc nhìn lướt qua tiêu đề Điều này tác động đến cách thức sử dụng ngôn từ để đặt tiêu đề
Chức năng tiếp theo của TĐ báo chí là chức năng khu biệt: phân biệt bài báo này với bài báo khác Tiêu đề, như đã nói, giúp làm nổi bật chủ đề của bài báo; khái quát thông tin mới nhất và sớm nhất đến độc giả
TĐ ngoài chức năng cung cấp thông tin còn có khả năng định hướng cho người đọc Nó giúp độc giả nắm sơ bộ sự kiện và quyết định thái độ, quan điểm
trước sự kiện Có những trường hợp, người đọc chỉ cần đọc xong TĐ và không còn quan tâm bài báo viết gì nữa Có những TĐ báo điện tử ngày nay mặc dù không làm cho người đọc hứng thú về sự kiện được nêu mà lại làm cho họ quan tâm đến việc đưa lời bình (comment) của mình ở cuối bài báo
Malcolm F Mallette trong cuốn Handbook for Journalists of Central and Europe, đã tổng kết bốn chức năng của TĐ bài báo là: (1) tổng kết thông tin;
(2) phân định mức độ quan trọng của câu chuyện; (3) gây chú ý đối với độc giả; (4)
Trang 24gây cảm tình đối với người xem (giúp họ quyết định trở thành độc giả) [dẫn theo Nguyễn Thị Thanh Hương (2001), tr.32]
1.2.3 Vai trò của tiêu đề báo chí
Vai trò quan trọng của TĐ là giúp người đọc xác định mức độ quan trọng của
thông tin và việc quyết định chọn đọc bài báo của người đọc Vì thế, TĐ có vai trò quyết định số phận bài báo, quyết định mức độ quan tâm của độc giả Nhất là đối với báo điện tử, là kênh báo chí có khối lượng thông tin lớn, khả năng truy cập nhanh, nhiều, nếu TĐ hay, hấp dẫn, nó sẽ mời gọi, gây sự chú ý của độc giả; ngược lại, nếu TĐ dở, sai, khó hiểu sẽ khiến cho độc giả khó chịu và bỏ qua bài báo TĐ tốt là có khả năng gợi sự hứng thú, sự tò mò cho độc giả
Chẳng hạn, TĐ trên Báo Dân trí ngày 04/10/2016: “Thủ tướng: Nếu không giải quyết tốt, miền Nam sẽ thiếu điện nghiêm trọng” gây cho độc giả sự khó chịu vì
đặt câu sai, thiếu thông tin
Một bài báo bao giờ cũng có nội dung và hình thức gắn liền không thể tách
rời với nhau, và “trước khi nhờ nội dung gây được sự hứng thú thực sự ở người đọc thì cần nhờ hình thức để kích thích sự chú ý bước đầu ở họ Hình thức ở đây trước hết là TĐ của bài viết” [21, tr.80] TĐ là yếu tố hình thức đầu tiên và tiếp xúc nhiều
nhất với người đọc
Theo Nguyễn Đức Dân, “TĐ của một bài báo có tầm quan trọng đặc biệt vì
nó mang tính “áp phích” để thu hút người đọc” [21, tr 80] và “nếu bài báo không
có ảnh minh họa, lại chưa đủ dài và đủ tầm cần có sa pô, thì gánh nặng lôi kéo độc giả dồn cả vào tít báo Ấy thế là tít báo thành tấm áp phích quảng cáo bài báo Nó cần bắt mắt để kích thích và kéo bạn đọc đi đến chặng cuối của bài” [58] Sức hút của một bài báo mạnh hay yếu phụ thuộc rất lớn vào tiêu đề, “nó làm nên thành công bước đầu của một bài báo” [21, tr., 80] Đa số người đọc ngày nay có thói
quen đọc lướt TĐ để xem có gì hấp dẫn họ không rồi mới đọc vào nội dung hoặc
quyết định mua báo Theo một kết quả điều tra xã hội học, “những nhà báo được hỏi cho rằng chỉ có khoảng 30% tít đặt hay Đồng thời họ cũng cho rằng đặt tít hay không phải là khâu đơn giản, mặc dù cố gắng nhưng chưa chắc đã có kết quả tốt 100% những nhà báo được hỏi đều công nhận luôn có hứng thú đọc những bài báo
Trang 25có tít hấp dẫn, có 18% số người được hỏi nói họ không thường xuyên cố gắng đặt tít hấp dẫn Cũng theo kết quả này thì có tới 80% số người thích tít báo hấp dẫn về phương diện nội dung và 20% thích tít báo được trình bày hấp dẫn” [79] Bởi vậy, đặt đầu đề là việc làm có tính chất quyết định số phận của bài báo, “bài báo rất hay nhưng đầu đề dở thì có thể làm mất ít nhất một nửa số độc giả” [79]
Với người làm báo, đặt TĐ thường được ví như đặt tên cho “đứa con” tinh
thần của họ Đặt TĐ không hề đơn giản vì “vừa cần nội dung vừa cần hấp dẫn” [21,
tr.81] Phải làm sao để TĐ toát lên toàn bộ nội dung bài báo, nhưng phải thật hấp
dẫn người đọc Vì vậy, “đặt TĐ là công việc cuối cùng khi viết một bài báo” [21, tr.81] Một phóng viên của báo Nhân đạo (Pháp) nói rằng ông ta thường dành cả nửa thời gian viết báo cho việc đặt tiêu đề Còn Dan Shure thì đề nghị, “các biên tập viên tin tức và báo chí nên dành 80% thời gian của họ để suy nghĩ đặt TĐ cho bài viết, thời gian nào còn lại thì dành cho nội dung” [62] Và cũng không ít sự việc
đáng tiếc xảy ra chỉ vì TĐ báo Chẳng hạn, trang 2sao.vn đã từng bị ca sĩ Thu Minh
từ mặt chỉ vì một tít báo “Diva xứ Hàn dạy ca sĩ Việt hát nốt cao” (1/1/2015) Từ
“dạy” trong tít báo khiến Thu Minh cho là “láo” và thiếu tôn trọng cô Bài báo sau
đó đã phải đổi lại tít khác
TĐ vô cùng quan trọng, nên “đặt TĐ là một nghệ thuật, đó là nghệ thuật làm thế nào để ngay cả độc giả lười đọc nhất cũng dừng lại ở bài báo chúng ta viết”
[21, tr 81] Người làm báo phải làm sao để lôi kéo được lực đọc ở độc giả vào tít
báo, từ đó mới tìm đến nội dung Nói như tác giả Nguyễn Bùi Khiêm là “viết TĐ là một nghệ thuật Bạn có thể có bài viết thú vị nhất từng được viết, nhưng nếu nó không có một TĐ được sự chú ý để mọi người đọc nó, thì sức thu hút của bài viết đó cũng là vô nghĩa? Chức năng của một TĐ là tạo ra sự chú ý Một TĐ tốt làm cho người đọc muốn tìm hiểu thêm bằng cách đọc các bài viết, tài liệu, hay quảng cáo” [88] Chẳng hạn, trên trang 2sao.vn có tít báo “Dân mạng xôn xao với giọng ca xuất sắc không kém Thu Minh” (10/12/2015) Thực chất nội dung của bài báo này chỉ là
giới thiệu giọng hát ca sĩ Mỹ Như Nhưng vì Mỹ Như không nổi tiếng nên người viết báo đã cho thêm tên Thu Minh (ca sĩ đang rất nổi tiếng, nhiều fan) vào tít báo
để kéo người đọc Thậm chí, người viết báo còn mượn “cư dân mạng xôn xao” để giật tít cho “hot” hơn và giấu tên ca sĩ Mỹ Như đi khiến người đọc tò mò mà nhấn
Trang 26vào nội dung Kết quả, bài báo có rất nhiều lượt view dù nhân vật trong bài không
hề “hot” Đây là một nghệ thuật làm tít
Với báo điện tử, TĐ càng trở nên quan trọng hơn Bởi vì nó gần như thay thế
nội dung bài báo để quyết định sự đọc của độc giả Sở dĩ có điều này vì ở báo điện
tử có hai đặc điểm riêng biệt:
- Nếu ở báo in, đề dẫn hoặc một phần nhỏ nội dung vẫn được đưa lên trang bìa cùng TĐ thì rất nhiều báo mạng, trang thông tin hiện nay chỉ đưa duy nhất TĐ kèm ảnh bìa của bài báo lên mục bài đính ở trang chủ Nên người đọc khi nhấn vào trang báo thường chỉ thấy tít báo
- Khác với báo in, báo điện tử tích hợp siêu liên kết cùng các công cụ tìm kiếm Tức là người đọc có thể tìm thấy bài báo thông qua việc tìm kiếm từ khóa trên các trang mạng xã hội khác Rất nhiều người đọc đọc báo theo kiểu này chứ không vào hẳn trang báo để đọc Chẳng hạn, một người đọc muốn đọc tin về sự kiện, nhân vật này, chỉ cần gõ tên sự kiện, nhân vật đó lên Google.com là hiện ra hàng loạt bài báo Nhưng tất cả những bài báo đó chỉ được hiện duy nhất tiêu đề, không có đề dẫn hay nội dung
Vì vậy, TĐ gần như quyết định việc đọc hay không đọc ở độc giả báo mạng
Nói như Dan Shure, “nếu như trang web của bạn là cửa hàng nằm trên đường cao tốc, thì TĐ là bảng chỉ dẫn để lôi kéo sự chú ý của càng nhiều người phù hợp càng tốt Có thể nhiều người bỏ qua liên kết, email, bài viết của bạn, nhưng một số người
sẽ muốn dừng lại để xem xét” [62]
Theo Võ Thị Hồng Nhung, “Con người truy cập Internet để đọc tin tức Tuy nhiên, không ít những trang tin tức trên mạng được mở ra, và ở mỗi trang cũng có không ít tin tức được đăng tải Chúng ta không có đủ thời gian để nhẫn nại click vào từng tin để đọc chúng Thói quen của cư dân mạng khi tìm kiếm thông tin là chỉ click vào những tin nào có Tít ấn tượng, hàm chứa tính nóng sốt, gay cấn Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc đặt Tít trên báo mạng là như thế nào, và làm sao
để có một cái tít hấp dẫn nhưng không mang tính “giật gân”, “câu khách” [74]
Tức là môi trường công nghệ thông tin trên mạng internet ngày nay diễn ra với tốc
độ vũ bão, mà mỗi người truy cập là một siêu xe trên đường cao tốc, còn báo chí
Trang 27như hằng hà sa số các cửa hàng bên đường Tốc độ lướt web nhanh, thời gian đọc báo hạn chế khiến họ không thể ngồi đọc tất cả các bài báo mà chỉ đọc những bài có
TĐ họ thấy ấn tượng nhất, hấp dẫn họ nhất Nên TĐ sẽ quyết định sự sống còn của một trang báo
1.2.4 Đặc trưng của tiêu đề báo chí
Chức năng và vai trò trên đây quy định một số đặc trưng cơ bản của TĐ báo chí dưới đây:
Một là, số lượng TĐ bài báo thường rất lớn Trong mỗi giao diện của báo
điện tử, có tới hàng trăm TĐ bài báo cũng xuất hiện Theo thời gian, số lượng TĐ bài báo của một tờ báo điện tử là rất lớn Do vậy, việc đặt TĐ bài báo dễ bị lặp lại, nhàm chán
Hai là, chính vì số lượng TĐ bài báo lướt qua mắt độc giả lớn như vậy nên
người ta cũng dễ quên nội dung bài báo nếu không nhớ tiêu đề Vì vậy, ngoài tiêu
đề, bài báo điện tử thường có các từ khóa, tức là các TĐ phụ để tiện tra tìm
Ba là, “đời sống” của TĐ báo chí thường là ngắn ngủi so với các loại hình
văn bản khác Với báo điện tử, việc cập nhật tin tức là thường xuyên, tính từng giây, phút thì “tuổi thọ” của TĐ bài báo càng ngắn Nó có thể bị các bài báo mới chèn lên, đẩy ra khỏi mặt báo và dễ bị lãng quên trong trí nhớ độc giả
Bốn là, về mặt ngôn ngữ, TĐ báo chí có tính hấp dẫn, tính chau chuốt về
ngôn từ Chọn lựa phương án tối ưu để có được một TĐ báo chí tốt không phải việc làm đơn giản Bài báo có thể chết yểu hoặc không được biết đến nếu như TĐ dở Do
đó, việc đặt TĐ bài báo ở nhiều trường hợp không phải do tác giả bài báo thực hiện
Ở các tờ báo, thường có đội ngũ biên tập viên làm công việc “rút tít” (đặt TĐ bài báo) Như vậy, việc đặt TĐ bài báo đã được chuyên môn hóa
Năm là, TĐ bài báo thể hiện rất rõ phong cách cá tính của người làm báo,
của tờ báo Ngoài việc phụ thuộc vào chủ đề, nội dung của bài báo; hình thức, thể loại của bài báo (tin tức, bình luận, xã luận, phóng sự, v.v.); TĐ bài báo thể hiện rất
rõ phong cách, tôn chỉ của tờ báo nói chung và phong cách, bút pháp, văn hóa, trình
độ, nhận thức của người làm báo Chẳng hạn, những TĐ bài báo được cải biến từ
Trang 28thành ngữ, tục ngữ, ca dao thể hiện cá tính, khả năng ngôn ngữ và những hiểu biết
về văn hóa, điển tích, điển cố văn học Một TĐ bài báo hay, tốt được quyết định bởi yếu tố cá nhân TĐ bài báo mang dấu ấn cá nhân
1.2.5 Cấu trúc tiêu đề báo chí
TĐ bài báo có những đặc điểm khác biệt với TĐ văn bản thông thường TĐ bài báo thường có cấu trúc phức tạp hơn
Theo ví trí trình bày trên trang báo, có thể chia TĐ bài báo (tít báo) thành các loại: tít đầu trang, tít chính, tít phụ, tít phụ trên, tít phụ dưới, tít lớn, tít nhỏ
Một TĐ bài báo ở dạng đầy đủ bao gồm: thượng đề (super-headline), đề (main-headline), Hạ đề (sub-headline) và có thể có các TĐ bộ phận/ trung đề (inter
– headline)
Thượng đề (super-headline/ surtitre) hay còn có các tên gọi khác là nhập đề,
gợi đề, siêu đề, mở đề, v.v là kết cấu ngôn ngữ nằm phía trên TĐ chính Nó có thể nêu lên một cách khái quát về cảnh huống, lĩnh vực hay một sự kiện lớn đã và đang tiếp diễn Sự kiện này đã được chính tờ báo đó hoặc các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin, tức là độc giả thường là đã biết đến Thượng đề đề cập đến cái chung, quan hệ giữa thượng đề với TĐ chính là mối quan hệ giữa cái khái quát với cái cụ thể Ví dụ:
- Thượng đề: “Vụ Trịnh Xuân Thanh:”
Đề: cựu Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng chịu trách nhiệm gì?”
- Thượng đề: “Vụ hành hung nhân viên hàng không:
Đề: Xử nghiêm, bất kể “con ông cháu cha”!”
Đề (main-headline) chính là TĐ chính, thường nằm phía dưới thượng đề,
mang thông tin hạt nhân Đề là thành phần quan trọng và không thể thiếu trong hệ thống tiêu đề Nó là tên gọi của văn bản, một bộ phận hợp thành của văn bản, là một tín hiệu đại diện, liên quan đến toàn VB, “là một biểu thức khả dĩ của chủ đề” [Brown G., Yule G., tr.221] Theo truyền thống, người ta gọi thành phần này bằng thuật ngữ có tính phổ quát là TĐ (headline / titre)
Trang 29Hạ đề hay phụ đề (sub-headline/ soustitre) là kết cấu ngôn ngữ nằm dưới đề,
có chức năng cung cấp thêm thông tin bổ sung để làm rõ đề hoặc khẳng định thêm
quan điểm của người viết về sự kiện được đề cập đến Hạ đề cũng có thể là một chi tiết đặc biệt cần được nhấn mạnh trong bài báo, hoặc có thể là một nội dung quan trọng hay bộ phận quan trọng trong một bài báo nhiều kì Hạ đề cũng có thể đảm nhiệm việc bình luận, thường là lời bình luận sơ bộ đầu tiên
Tuy nhiên, báo chí hiện nay, đặc biệt là báo điện tử hiếm khi sử dụng TĐ với đầy đủ ba phần như trên Thường chỉ có tít chính hoặc tít chính kèm tít dẫn
Trung đề (inter-titres) còn gọi là tít xen, là các TĐ nhỏ có thể xen vào giữa
các phần nội dung trong trong một bài báo dài, có bố cục nội dung nhiều phần Các tít xen làm nhiệm vụ đánh dấu trọng tâm thông tin hay chủ đề ở từng phần để lôi cuốn hứng thú và sự tập trung chú ý của độc giả vào những yếu tố có ý nghĩa nhất, hấp dẫn nhất của bài viết
1.2.6 Phân loại tiêu đề báo chí
Theo thể loại bài báo (nội dung), có thể phân loại TĐ thành các dạng: tin (thường không có tiêu đề, TĐ zero), tít phóng sự, tít tiểu phẩm, tít ký, tít bài bình luận Dưới đây là một số loại TĐ phổ biến trên báo chí hiện nay
-TĐ bình luận: là loại tít chuyên dành cho bài bình luận, chuyên luận, xã luận
- TĐ nhận định: là loại tít cho bài phân tích sự kiện, nhận định nói chung
- TĐ tường thuật: là loại tít cho bài tường thuật lại cả quá trình của sự kiện
- TĐ thông báo: thông báo một cách rõ ràng, chính xác những sự kiện sẽ diễn
ra, đang thay đổi hoặc đã kết thúc
- TĐ khẳng định: được đặt như một phát ngôn khẳng định về một sự kiện
- TĐ tuyên bố: thường lấy một câu điển hình trong tuyên bố của nhân vật
chính trong bài viết làm tiêu đề
- TĐ về các sự kiện: phản ánh một phương diện, đặc thù của sự kiện chứ
không thông báo toàn bộ sự kiện đó
- TĐ cho loại bài chuyên mục: như thời sự, kinh tế, văn hóa, thể thao, v.v
- TĐ tường thuật, điểm sách báo, sân khấu
Trang 301.2.7 Yêu cầu về đặt tiêu đề báo chí
TĐ càng ngắn gọn, cô đúc càng tốt Không nên đặt những TĐ dài sẽ gây rối mắt người đọc và khó tiếp nhận được thông điệp Báo mạng hiện nay còn cài đặt giới hạn về số chữ trong tiêu đề, nếu quá sẽ không được xuất bản Một nhà báo giỏi phải làm sao để có được tít thật ngắn nhưng vẫn đầy đủ nội dung và hấp dẫn người đọc Nếu tít quá dài có thể chia nhỏ làm ba phần như trên Khi cần thiết, nên tận dụng các từ Hán Việt đã quen thuộc để rút gọn tiêu đề
TĐ cần có sức gợi, cần tăng cường sức biểu cảm nên có thể sử dụng ẩn dụ, hoán dụ, chơi chữ, sử dụng lối nói quen thuộc cũng là những biện pháp thường được sử dụng để tạo sự hấp dẫn cho tiêu đề
TĐ đôi khi cần tận dụng sự mơ hồ để gây tò mò, kích thích sự quan tâm ở độc giả Tuy nhiên, không được gây khó hiểu cho người đọc
Cần sử đúng các dấu câu trong tiêu đề Dấu câu rất quan trọng trong việc biểu đạt nội dung, sắc thái, thái độ ở tiêu đề Các dấu hỏi, dấu ngoặc kép, dấu chấm than, dấu chấm lửng được sử dụng trong TĐ đề có mục đích, dụng ý của nó
Cần tạo sự hấp dẫn về mặt ngôn ngữ cho tiêu đề TĐ có thể hấp dẫn nhờ sự đối lập qua ngôn từ, con số hay qua bất tương hợp ngữ nghĩa
Tránh đặt TĐ ăn theo, dập khuôn, sáo mòn dễ gây nhàm chán đối với độc giả TĐ thường có tính khuôn mẫu Tức là một TĐ hay có thể trở thành khuôn ngôn
Trang 31các thể loại:
- Thông tấn: tin, tường thuật, phỏng vấn, ghi nhanh, điều tra, phóng sự
- Chính luận: bình luận, xã hội, chuyên luận
- Nghệ thuật: bút kí, kí sự, nhật kí phóng viên, tiểu phẩm
b Nếu lấy căn cứ là phương tiện, kĩ thuật truyền tải thông tin, có các thể loại,
mà người ta thường gọi là các loại hình báo chí như sau:
- Báo viết (báo in, báo giấy): phương tiện là chữ viết kết hợp hình ảnh
- Báo nói (đài radio, loa phát thanh): phương tiện là tiếng nói, âm thanh,
tiếng động
- Báo hình: phương tiện là truyền hình cả tiếng nói, hình ảnh, âm thanh trên
phông nền
- Báo điện tử: phương tiện truyền tải là mạng lưới thiết bị công nghệ đồ sộ
(máy tính, điện thoại, máy tính bảng) cho phép trao đổi thông tin có hệ thống tìm kiếm, được xây dựng trên cơ sở sử dụng các siêu văn bản
Trong 4 thể loại (loại hình) báo chí trên, báo điện tử ra đời muộn nhất (khoảng hơn 10 năm trở lại đây) nhưng lại phát triển nhanh nhất, với tốc độ vượt bậc, ngày càng lớn mạnh và thu hút đông đảo người đọc Sở dĩ báo mạng làm được điều này vì nó là loại hình báo chí năng động, sử dụng được siêu văn bản (chữ viết, hình ảnh, âm thanh, đồ họa, 3D, siêu liên kết) và luôn biến đổi từng ngày, từng giờ Cùng với điều này, ngôn ngữ báo mạng, đặc biệt là ngôn ngữ TĐ cũng thay đổi liên tục, cập nhật nhiều yếu tố mới mà các loại hình báo chí khác không có
1.3.2 Diện mạo báo chí ở Việt Nam
Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam cho biết: tính đến ngày 25/12/2014,
cả nước Việt Nam có 838 cơ quan báo chí in với 1.111 ấn phẩm báo chí (trong đó các cơ quan Trung ương có 86 báo in và 507 tạp chí; địa phương có 113 báo in và
132 tạp chí); 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương; trong đó có
02 đài quốc gia, 01 đài truyền hình kỹ thuật số, 64 đài phát thanh, truyền hình địa
Trang 32phương; 90 báo và tạp chí điện tử, 215 trang tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí
Tại Việt Nam, tờ báo điện tử (còn gọi là báo trực tuyến, báo mạng) đầu tiên
là tờ tạp chí Quê hương điện tử ra đời vào năm 1997 Đây là tờ tạp chí của Ủy ban
về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam, phát hành số đầu tiên vào ngày 6/2/1997 và khai trương ngày 3/12/1997 Năm 1998, báo điện
tử Vietnamnet ra đời; một năm sau, các báo Lao động, báo Nhân dân điện tử cũng
lần lượt ra đời, đánh dấu sự khởi đầu của hệ thống báo điện tử ở Việt Nam
Sau hai mươi năm hình thành và phát triển, báo điện tử ở Việt Nam đã phát triển nhanh về số lượng tờ báo và số lượng người truy cập Một số báo điện tử mới hình thành nhưng đã trở thành những báo thông dụng nhất ở Việt Nam hiện nay là: Vietnamnet, Dân trí, Vnexpress Một số báo điện tử được hình thành từ báo giấy truyền thống như: Đại đoàn kết, Hà Nội mới, Nhân dân, Tuổi trẻ, Sài Gòn giải phóng, Người lao động, Tiền Phong, Công an nhân dân, Thể thao Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, v.v
Tiểu kết chương 1
Ngôn ngữ báo chí có phong cách riêng do những đặc trưng về chức năng thông tin chi phối Trước khi nghiên cứu ngôn ngữ của TĐ bài báo, cần khái quát những đặc điểm về mặt phong cách của ngôn ngữ báo chí Những đặc trưng phong cách của ngôn ngữ báo chí bao gồm: tính thời sự; tính phổ cập; tính đại chúng; tính
mô phạm, chuẩn mực; tính ngắn gọn, chính xác; tính cụ thể; tính khuôn mẫu; tính định lượng và tính biểu cảm
TĐ là bộ phận quan trọng của mỗi bài báo Đối với chức năng thông tin, TĐ
có vai trò thể hiện chủ đề của bài báo; TĐ còn có chức năng khu biệt, giúp phân biệt
và ghi nhớ bài báo này với bài báo khác Đối với độc giả, TĐ có chức năng định hướng cho độc giả, thu hút sự chú ý và quyết định sự quan tâm của độc giả với bài báo; cũng như quyết định số phận của bài báo Vì thế, người ta nói: “đặt TĐ là một nghệ thuật”
Trang 33Đối với báo điện tử, vai trò của TĐ càng quan trọng hơn, do sự tích hợp các công cụ tìm kiếm trong TĐ Số lượng bài báo xuất bản trên báo điện tử hàng ngày là rất lớn, nếu không có sức hấp dẫn nhất định, TĐ bài báo không được độc giả quan tâm Thậm chí, trong thời đại công nghệ, con người rất thiếu thời gian, độc giả nhiều khi chỉ đọc TĐ mà không đọc nội dung bài báo
Tương ứng với các thể loại báo chí mà có các kiểu TĐ như: TĐ bình luận, nhận định; tường thuật; thông báo; khẳng định, tuyên bố, v.v
Sau gần 20 năm, kể từ khi tờ báo điện tử đầu tiên ra đời, đến nay ở Việt Nam
đã có hàng trăm báo điện tử Các báo điện tử phát triển nhanh về số lượng và chất lượng, có lượng độc giả truy cập lớn, trở thành một kênh thông tin vô cùng quan trọng và không thể thiếu đối với đời sống văn hóa – xã hội
Trang 34CHƯƠNG 2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TIÊU ĐỀ BÁO ĐIỆN TỬ VỀ MẶT CẤU
TRÚC HÌNH THỨC
Để có cơ sở nghiên cứu đề tài, chúng tôi tiến hành lựa chọn 5000 TĐ là ngữ liệu khảo sát Đó là các TĐ thuộc các thể loại: tin tức, phỏng vấn, phóng sự và bình luận báo chí, thuộc các lĩnh vực nội dung như kinh tế, quân sự, khoa học, chính trị,
xã hội, pháp luật, giáo dục, thể thao trên các báo điện tử: Dân trí, Vnexpress,Tuổi trẻ, Người lao động, v.v trong thời gian từ 2014 - tháng 11/2016
2.1 Một số đặc điểm về cấu trúc ngữ pháp
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, TĐ bài báo có thể là một từ, cụm từ, câu Trong số 5000 TĐ mà chúng tôi nghiên cứu, không có TĐ là một từ, có 3646 TĐ báo là cụm từ; 1354 TĐ là câu Chúng tôi tổng hợp lại trong bảng sau:
Câu ghép, câu phức
2.1.1 Tiêu đề bài báo là một cụm từ
Theo Diệp Quang Ban, “cụm từ là kết quả của sự mở rộng một từ để bổ sung
ý nghĩa cho nó, và những yếu tố dùng để mở rộng có thể là thực từ hoặc hư từ” [9, tr.408] Cũng theo tác giả, “căn cứ vào bản tính từ loại của yếu tố đứng ở phần
Trang 35chính, các cụm từ lớn trong tiếng Việt gồm có cụm danh từ, cụm động từ và cụm tính từ, ngoài ra cũng có cụm số từ và cụm đại từ” [1, tr.408]
TĐ có cấu tạo là cụm từ chiếm phần lớn: 3646/5000, tỷ lệ 72,2% Điều này cho thấy TĐ là cụm từ rất được ưa dùng, chúng đảm bảo tính ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu mà vẫn đầy đủ nội dung Đại đa số các TĐ văn bản thuộc mọi thể loại báo chí
có cấu tạo là một cụm từ, và TĐ báo điện tử cũng không ngoại lệ TĐ bài báo điện
tử sử dụng cả ba loại cụm từ: cụm động từ, cụm tính từ và cụm danh từ
2.1.1.1 Tiêu đề bài báo là một cụm động từ
Phong cách ngôn ngữ báo chí là phong cách thiên về cách diễn tả trực tiếp
“Nó không phải là thứ ngôn ngữ miêu tả những trạng thái, cảm xúc, thứ ngôn ngữ
về cái tĩnh tại, đưa cái tôi tác giả vào bài viết” [5, 30] “So với ngôn ngữ thường, ngôn ngữ báo chí thường nhiều động từ hơn, ít tính từ và trạng từ hơn” [5,30] Bởi
vậy, TĐ có cấu tạo là một cụm động từ xuất hiện khá nhiều ở báo điện tử, vốn chú trọng sự miêu tả trực tiếp và ngắn gọn
Về mặt sử dụng và tác động giao tiếp đối với người đọc, TĐ cấu tạo cụm động từ có tác dụng lớn trong việc tạo ra hiệu lực ở lời gián tiếp giúp lôi kéo độc giả vào hoạt động báo chí, kích thích sự tìm đọc ở họ Nói cách khác, TĐ cụm động từ
có tác dụng quy chiếu hành động báo chí (nằm trực tiếp trong TĐ) sang người đọc, khiến họ có cảm giác như chính mình đang thực hiện hoặc chịu tác động từ hành động đó, từ đó cảm thấy hứng thú, tò mò muốn nhấn vào trang báo để đọc Đây chính là hành động mượn lời gián tiếp mà TĐ báo điện tử muốn hướng tới người đọc Vì thế, khác với báo in, TĐ báo điện tử xuất hiện rất nhiều kiểu TĐ có cấu tạo
là cụm động từ
Đặc trưng của loại TĐ này ở báo điện tử là bắt đầu trực tiếp bằng một động
từ chính và động từ đó sẽ chi phối cả cụm Về cơ bản, đây cũng là một loại câu đặc biệt, khuyết chủ ngữ, vị tố chính là cụm từ
2.1.1.2 Tiêu đề bài báo là một cụm tính từ
Về mặt sử dụng và tác động giao tiếp đối với người đọc, cũng giống như cụm động từ, TĐ cấu tạo cụm tính từ có tác dụng lớn trong việc tạo ra hiệu lực
Trang 36mượn lời gián tiếp giúp lôi kéo độc giả vào hoạt động báo chí, kích thích lực đọc ở
họ Nói cách khác, thông qua việc biểu đạt cảm xúc, thái độ, trạng thái một cách trực tiếp trên TĐ, nhà báo sẽ ngầm quy chiếu trạng thái, cảm xúc đó về phía người đọc, khiến họ cảm giác được một trạng thái cảm xúc tương tự để muốn nhấn vào tin báo Không những vậy, đa số những TĐ dạng này đều sử dụng các tính từ mang sắc thái mạnh, để làm nổi bật lên toàn bộ TĐ, kích thích người đọc ngay khi những từ đầu tiên đập vào mắt họ Khác với báo in, báo điện tử sử dụng rộng rãi và phổ biến loại TĐ này
Đặc trưng của loại TĐ này ở báo điện tử là bắt đầu trực tiếp bằng một tính từ chính và tính từ đó sẽ chi phối cả cụm Về cơ bản, đây cũng là một loại câu đặc biệt, khuyết chủ ngữ và vị tố chính là cụm từ
2.1.1.3 Tiêu đề bài báo là một cụm danh từ
So với cụm động từ và cụm tính từ, cụm danh từ ít được báo điện tử sử dụng
để giật tít do sắc thái biểu cảm, biểu thái của nó thấp hơn, tác động tới người đọc cũng không mạnh và trực tiếp Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, báo điện tử cũng tận dụng cụm danh từ để giật tít
Một trong những chiêu thức phổ biến của báo điện tử là thêm các thành tố phụ trước vào trước động từ hoặc tính từ chính để biến chúng thành danh từ chính đứng đầu tố, từ đó khiến cả TĐ trở thành một cụm danh từ Và chính những động
từ, tính từ mạnh, gợi sắc thái mà chúng tôi đã liệt kê ở 2 phần trên sẽ được sử dụng lại để trở thành cụm danh từ
Chẳng hạn, với động từ, sẽ có các cách chuyển như sau:
-“Xuất hiện + X” => “Sự xuất hiện + X” Ví dụ “Sự xuất hiện loa thứ 2 trên Iphone7” (Vnexpress.net)
-“Lộ hàng + X” => “(Những) sự cố lộ hàng + X” Ví dụ “Những sự cố lộ hàng trên sóng trực tiếp của sao Việt” (Emdep.vn)
-“Lộ… + X” => “Những vụ lộ… + X” Ví dụ “Những vụ lộ clip nóng gây chấn động showbiz thế giới” (News.zing.vn)
Trang 37-“Rò rỉ + X” => “(Những) vụ/sự cố rò rỉ + X” Ví dụ “Vụ rò rỉ thông tin tham nhũng lớn nhất lịch sử” (Antoanthongtin.vn); “Ba vụ rò rỉ thông tin mật rúng động thế giới thời gian gần đây” (Baotintuc.vn)
-“Truy tìm + X” => “…truy tìm + X” Ví dụ “49 ngày truy tìm nữ hung thủ giết thầy bói bằng nhát đâm tàn độc” (Vnexpress.vn)
-“Khám phá + X” => “Hành trình khám phá + X” Ví dụ “Hành trình khám phá thức quà cổ truyền” (Baotintuc.vn)
-“Phiêu lưu + X” => “Cuộc/Chuyến phiêu lưu…” Ví dụ “Chuyến phiêu lưu của triệu phú ổ chuột ở Ấn Độ” (Tienphong.vn)
-“Đột nhập + X” => “(Những) cuộc đột nhập…” Ví dụ “Những cuộc đột nhập xuất thần” (Vietnamnet.vn)
-“So sánh + X” => “…so sánh + X” Ví dụ “Đoạn clip chế so sánh sự giống nhau của "Chúng ta không thuộc về nhau" với hàng loạt MV nước ngoài” (Kenh14.vn)
-“So tài + X” => “Cuộc so tài + X” Ví dụ “Cuộc so tài giữa Messi và Ronaldo trong năm qua” (Dantri.com)
-“Đọ sức + X” => “Cuộc đọ sức + X” Ví dụ “Cuộc đọ sức giữa AK47 và M16” (Vietnamnet.vn)
Hay với cụm tính từ, cũng có các cách chuyển như sau:
-“Xót xa + X” => “…xót xa + X” Ví dụ “Tâm sự xót xa của người mang thân phận tử tù oan suốt 43 năm” (Soha.vn)
-“Đắng lòng + X” => “…đắng lòng + X” Ví dụ “Tâm sự đắng lòng nỗi đau của người đàn ông bị phản bội” (Dantri.com)
-“Đau… + X” => “Nỗi đau… + X” Ví dụ “Nỗi đau người mẹ tại phiên xử
em sát hại anh trai” (Eva.vn); “Nỗi đau đớn của người mẹ có con là hung thủ vụ thảm án ở Thái Bình” (Phunutoday.vn)
-“Cay đắng + X” => “Nỗi cay đắng + X” Ví dụ “Nỗi cay đắng sau cơn mưa tiền thưởng của xạ thủ Hoàng Xuân Vinh” (Soha.vn)
Trang 38-“Bất ngờ + X” => “…bất ngờ + X” Ví dụ “Sự thật bất ngờ của người mới yêu và yêu lâu” (Eva.vn)
-“Kinh hãi + X” => “…kinh hãi + X” Ví dụ “Sự thật kinh hãi về bạo chúa tàn ác nhất mọi thời đại” (Kienthuc.net.vn)
-“Kinh hoàng + X” => “…kinh hoàng + X” Ví dụ “Nỗi sợ kinh hoàng đến
từ chuyện tắt đèn của Light out” (News.zing.vn); “Cuộc sống kinh hoàng tại Manbij, Syria dưới thời phiến quân IS” (Vtv.vn)
-“Kinh khủng + X” => “Điều kinh khủng + X” Ví dụ “Điều kinh khủng ở 1'25 trong clip của cô gái xinh xắn có sở thích đi du lịch này” (Kenh14.vn)
-“Sốc + X” => “…sốc + X” Ví dụ “Điều đáng sợ và gây sốc về nước ngọt” (Vtc.vn)
-“Vỡ òa + X” => “…vỡ òa + X” Ví dụ “Tâm sự vỡ òa của người thầy Hoàng Xuân Vinh sau tấm huy chương vàng Olympic lịch sử” (Vtv.vn)
-“Ám ảnh + X” => “Nỗi ám ảnh + X” Ví dụ “Nỗi ám ảnh tai nạn giao thông đường sắt” (Antv.gov.vn)
-“Bí ẩn + X” => “…bí ẩn + X” Ví dụ “Cuộc đời bí ẩn của nhà tiên tri Vanga” (Vietnamnet.vn)
-“Rùng rợn + X” => “…rùng rợn + X” Ví dụ “Loạt ảnh rùng rợn chứng minh tự nhiên đáng sợ hơn bạn nghĩ” (Blogtamsu.vn); “13 bức ảnh rùng rợn 'không thể giải thích' của thế giới” (Soha.vn)
Tuy nhiên, có thể thấy tất cả các cách chuyển sang cụm danh từ này đều không gây ấn tượng lớn với người đọc như cách dùng cụm động từ và cụm tính từ nên ít được sử dụng hơn
Ngoài ra, báo điện tử cũng thường sử dụng hai loại TĐ cụm danh từ sau để giật tít
+ TĐ dùng cụm danh từ thống kê cụ thể
Đây là dạng TĐ đặc trưng, được báo điện tử thường xuyên sử dụng, xuất hiện với tần số lớn và chưa bao giờ “lỗi mốt” Nó sử dụng các cụm danh từ có con
số đứng đầu
Trang 39Cũng giống như TĐ dùng cụm động từ liệt kê, đặc trưng của loại TĐ này là lợi dụng một vài nét về đặc điểm chung để thông báo gợi mở về một nhóm đối tượng nào đó thông qua việc nhấn mạnh vào một tính chất kì lạ, đặc biệt của chúng
để gây kích thích người đọc Tuy nhiên, TĐ cụm danh từ khác ở chỗ, nó còn dựa vào cái cụ thể, xác định rõ ràng để kích thích người đọc Trên TĐ sẽ đưa ra con số chính xác về số lượng đối tượng được thống kê trong bài báo Tâm lí của một người đọc báo điện tử, phải tiếp xúc với cả “biển” thông tin trên mạng, thì những con số
cụ thể bao giờ cũng dễ gây ấn tượng hơn Đó cũng chính là lí do vì sao các con số ở loại TĐ này luôn xuất hiện dưới dạng kí tự la mã (5, 6, 7, 8…) chứ không phải bằng chữ viết (năm, sáu, bảy, tám…)
Một phóng viên từng nói với chúng tôi rằng, bài báo “5 giọng nữ cao xuất sắc của nhạc nhẹ Việt” (2sao.vn) ban đầu được đặt là “Những giọng nữ cao xuất sắc của nhạc nhẹ Việt”, nhưng khi gửi lên bị người biên tập đổi lại Người biên tập cho rằng, chuyển từ “những” thành con số cụ thể sẽ kích thích người đọc hơn Quả nhiên, bài báo đó được rất nhiều lượt view
Về mặt ngữ pháp, đôi khi kiểu TĐ này tương đương với một câu đầy đủ chủ
- vị, nhưng chúng tôi vẫn thấy nó nghiêng về cụm từ hơn nếu xét theo chức năng thông báo ở TĐ
Một số ví dụ về kiểu TĐ này như sau:
-“Top (con số cụ thể)… + X”:“Top 4 loại gia vị nên ăn nếu muốn giảm cân” (Kenh14.vn); “Top 5 tổng thống giàu nhất nước Mỹ” (Soha.vn); “Top 6 smartphone có pin “trâu” nhất thị trường” (Eva.vn); “Top 7 game kết hợp tuyệt vời giữa chơi và rèn luyện sức khỏe” (Vietnamnet.vn); “Top 8 loại kem bôi đặc trị giúp làm xẹp mụn chỉ trong 1, 2 ngày” (Afamily.vn)
- Cụm danh từ có số từ đứng đầu: “4 món xào đậm đà giúp cơm thêm ngon” (Eva.vn); “5 giọng nữ cao xuất sắc của nhạc nhẹ Việt” (2sao.vn); “6 sao Hàn vụt sáng nhờ đóng phim thần tượng” (2sao.vn); “7 địa điểm không thể bỏ qua khi đến
Hà Tĩnh” (Phunutoday.vn); “8 hòn đảo mới nổi được khách Việt mê đắm” (News.zing.vn)
Trang 40+ TĐ dùng cụm danh từ tiết lộ
Đây là dạng TĐ sử dụng các cụm danh từ có từ chính đứng đầu là các danh
từ mang tính gợi mở, tiết lộ về đối tượng
Tâm lí con người thường rất tò mò, chú ý và muốn biết được nguyên nhân của một sự kiện, đối tượng nào đó có đặc điểm đặc biệt hoặc đang gây xôn xao trong dư luận Lợi dụng điều này, báo mạng đã sử dụng triệt để loại tiêu đề dùng cụm danh từ tiết lộ để kích thích, lôi kéo người đọc
Mô típ tiêu biểu của dạng tiêu đề này trên báo điện tử hiện nay là: “Danh từ tiết lộ + X” VD:
-“Sự thật + X”: “Sự thật sư trụ trì “sa tình” bị tống tiền” (Tienphong.vn);
“Sự thật chuyện các người đẹp không mặc nội y trên thảm đỏ” (News.zing.vn); “Sự thật tin đồn Formusa chuyển chất thải vào Đà Nẵng” (Baogiaothong.vn); “Sự thật đen tối sau thành công của Trung Quốc tại Olympic” (Xaluan.com)
-“Nguyên nhân + X”: “Nguyên nhân bất ngờ khiến não bộ chúng ta phát triển lớn như bây giờ” (Genk.vn); “Nguyên nhân Aguero đá hỏng hai quả phạt đền” (Nld.com.vn); “Nguyên nhân cử tạ Việt Nam thất bại tại Olympic 2016” (Vtv.vn); “Nguyên nhân các ứng viên hoa hậu phải rút lui trước giờ G” (Tintuc.vn)
2.1.2 Cấu trúc ngữ pháp của tiêu đề bài báo là câu
TĐ có kết cấu ngữ pháp là câu chiếm tỷ lệ 27,8% Thông thường TĐ câu là những TĐ dài, dùng trong những trường hợp cần làm rõ thông tin hoặc cần đưa thông tin cụ thể ở ngay TĐ bài báo Có 982 TĐ là câu đơn (một cụm chủ - vị) Có
372 TĐ là câu ghép (hơn một cụm chủ - vị); câu phức
2.1.2.1 Phân loại câu tiêu đề theo hình thức cấu tạo
a Tiêu dề là câu đơn
Câu đơn là loại câu được sử dụng nhiều nhất ở TĐ bài báo điện tử, để thông báo sự kiện một cách ngắn gọn Những đặc trưng giật tít ở kiểu câu này, chúng tôi
đã trình bày đầy đủ ở các phần trên, như sử dụng các cách thức chiếu vật đặc biệt ở