1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong văn bản diễn thuyết

90 235 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, diễn thuyết trước công chúng là một đề tài mới, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu theo các phương diện khác nhau như: tìm hiểu về đặ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

––––––––––––––––

VẤN ĐỀ SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG VĂN BẢN DIỄN THUYẾT

(Nghiên cứu trường hợp các văn bản diễn thuyết tại TP Hải Phòng)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60.22.01.02

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN ĐỨC TỒN

HẢI PHÒNG-2017

www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 2

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kì công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn

đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hải Phòng, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới GS TS Nguyễn Đức Tồn đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ

em hoàn thành tốt luận văn này

Em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô trong Ban giám hiệu, Phòng Quản

lí Sau đại học, Khoa Ngữ văn Trường Đại học Hải Phòng đã tạo mọi điều kiện để em hoàn thành khóa học và thực hiện tốt luận văn tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn

em trong suốt quá trình học tập và giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn này Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và các bạn học viên lớp Cao học Ngôn ngữ Việt Nam khóa 6 và các bạn đồng nghiệp đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian vừa qua

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 9

1.1 Phong cách chức năng ngôn ngữ 9

1.1.1 Khái niệm 9

1.1.2 Các nhân tố hình thành 9

1.1.3 Các phong cách chức năng ngôn ngữ tiếng Việt 11

1.2 Khái quát về diễn thuyết và văn bản diễn thuyết 13

1.2.1 Diễn thuyết 13

1.2.2 Văn bản diễn thuyết 14

1.2.3 Các nhân tố giao tiếp chi phối việc sử dụng ngôn ngữ diễn thuyết 19

1.3 Các yếu tố phi ngôn ngữ đi kèm ngôn ngữ diễn thuyết 21

1.3.1 Yếu tố không gian, thời gian 21

1.3.2 Cử chỉ, điệu bộ và biểu cảm của diễn giả 22

1.4 Tiểu kết chương 1 24

CHƯƠNG 2.ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ TRONG VĂN BẢN DIỄN THUYẾT 26

2.1 Một số đặc điểm chung về từ tiếng Việt liên quan đến nội dung luận văn 26

2.1.1 Khái niệm về từ trong tiếng Việt 26

2.1.2 Những góc độ nghiên cứu cơ bản của từ tiếng Việt 27

2.2 Đặc điểm của từ trong văn bản diễn thuyết 31

2.2.1 Đặc điểm của từ trong các văn bản diễn thuyết xét ở góc độ từ loại 31

2.2.2 Đặc điểm của từ trong các văn bản diễn thuyết xét ở góc độ nguồn gốc 46

2.3 Nhận xét 48

Trang 5

2.4 Tiểu kết chương 2 49

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM VỀ NGỮ ĐIỆU VÀ KHUÔN NGÔN NGỮ TRONG VĂN BẢN DIỄN THUYẾT 51

3.1 Một số lý thuyết về ngữ điệu và khuôn ngôn ngữ trong giao tiếp chung 51

3.1.1 Ngữ điệu 51

3.1.2 Khuôn ngôn ngữ 53

3.2 Đặc điểm về ngữ điệu và khuôn ngôn ngữ trong văn bản diễn thuyết 55

3.2.1 Đặc điểm về ngữ điệu 55

3.2.2 Đặc điểm về khuôn ngôn ngữ 64

3.3 Các yếu tố phi ngôn ngữ ảnh hưởng đến nhịp điệu và khuôn ngôn ngữ trong diễn thuyết 71

3.3.1 Yếu tố không gian, thời gian 71

3.3.2 Cử chỉ, điệu bộ và biểu cảm của người diễn thuyết 73

3.4 Tiểu kết chương 3 74

KẾT LUẬN 76

NGỮ LIỆU KHẢO SÁT 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Diễn thuyết trước công chúng là cách thức (nghệ thuật) trình bày

một vấn đề trước một nhóm người hay đám đông nhằm truyền tải thông tin hoặc thông điệp làm cho người nghe hiểu, tin tưởng, bị thuyết phục và có thể thay đổi hành vi theo định hướng của diễn giả Diễn thuyết cũng giống một số hình thức truyền thông khác, có các yếu tố cơ bản thường được biểu thị như:

ai đang nói điều gì với ai, đang sử dụng phương tiện nào và kết quả mong muốn đạt được là gì? Diễn thuyết trước công chúng khác bài diễn văn hay

buổi nói chuyện đơn thuần vì tính hùng biện, thuyết phục của nó cao hơn

1.2 Muốn thuyết phục người khác, muốn truyền bá tư tưởng, muốn thể hiện tình cảm thì lời nói là lợi khí đắc lực hơn cả Nghệ thuật nói trước công chúng là một nghệ thuật có những quy tắc riêng, phương tiện riêng Để nâng cao hiệu quả ngôn ngữ thì phải sử dụng ngôn ngữ đúng phong cách để đạt được sự hấp dẫn, lôi cuốn bằng những hình thức diễn đạt bóng bẩy, gợi cảm trong những bài diễn giảng từ việc sử dụng từ ngữ, câu văn đến bố cục cả một văn bản diễn thuyết Song bên cạnh đó, diễn thuyết còn đi kèm các yếu tố phi ngôn ngữ để đạt hiệu quả nhất định, thuyết phục người nghe trong quá trình diễn thuyết

1.3 Việc lựa chọn ngôn ngữ diễn thuyết là vô cùng quan trọng đối với các diễn giả (người diễn thuyết trước công chúng), nội dung văn bản có thuyết phục, hấp dẫn hay không phụ thuộc chủ yếu vào việc lựa chọn ngôn ngữ diễn thuyết và kèm theo các yếu tố phi lời (ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ,…) Với mong muốn góp phần làm sáng tỏ lý thuyết về phong cách diễn thuyết đồng thời góp phần nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ trong văn bản diễn thuyết đảm bảo tính thuyết phục, tính hiệu quả trong giao tiếp ngôn ngữ luận văn đã đi

vào nghiên cứu “Vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong văn bản diễn thuyết

(Nghiên cứu trường hợp các văn bản diễn thuyết tại TP Hải Phòng)

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Những nghiên cứu ngoài nước

Trên thế giới, các nhà khoa học đã tìm hiểu và nghiên cứu từ rất sớm nghệ thuật diễn thuyết trước công chúng và nhận thấy những bài diễn thuyết

có một số điểm gần giống với các bài diễn văn, nói như vậy không có nghĩa là diễn thuyết và diễn văn là một Đây là hai thể loại khác nhau chỉ có một số điểm chung về đặc điểm văn bản cũng như những yếu tố chi phối trong quá trình nói trước công chúng

Quyển sách giáo khoa đầu tiên về chủ đề này được viết hơn 2.400 năm trước, những nguyên lý được trình bày cặn kẽ trong đó đã được đem vào ứng dụng qua trải nghiệm của những nhà hùng biện Hy Lạp cổ đại Từ thời Ai Cập cổ đại, người ta đã biết đào luyện nghệ thuật diễn thuyết trước công chúng Trong các môn học kinh điển ở Hy Lạp và La Mã, thuật hùng biện (soạn và trình bày các bài diễn văn) chiếm phần chính và là một kỹ năng quan trọng trong cuộc sống thường nhật, ở nơi công cộng hoặc chỗ riêng

tư Aristotle và Quintilian đều bàn luận về thuật hùng biện và mục tiêu của

nó, với những quy luật và hình thái rõ ràng Thuật hùng biện cũng được xem

là một phần trong giáo dục đại học tổng quan suốt thời Trung Cổ và thời Phục hưng Nghệ thuật diễn thuyết trước công chúng đã được phát triển từ thời Hy Lạp cổ đại Người thời sau biết đến thuật hùng biện Hy Lạp qua những tác phẩm cổ xưa Nhà hùng biện Hy Lạp diễn thuyết với tư cách cá nhân hơn là đại diện cho khách hàng hoặc cho cộng đồng, vì vậy bất cứ ai muốn thành công tại tòa án, trong chính trường, hay trong đời sống xã hội đều phải học để biết kỹ thuật nói chuyện trước đám đông Mặc dù Hy Lạp đánh mất sự thống trị về chính trị, kỹ năng huấn luyện nghệ thuật diễn thuyết trước công chúng của người Hy Lạp đã được người La Mã tiếp nhận rộng rãi Cùng lúc với sự trỗi dậy của nền Cộng hòa La Mã, những nhà hùng biện La Mã sao chép và dung hòa những kỹ năng diễn thuyết trước công chúng của người Hy Lạp

Trang 10

Người La Mã phát triển thuật hùng biện thành một giáo trình đầy đủ với những hướng dẫn về ngữ pháp (nghiên cứu thi ca), thực hành kỹ năng, và phương pháp soạn diễn văn cả trong hai thể loại thảo luận hay tranh luận công khai Cicero đã có ảnh hưởng sâu đậm trên thuật hùng biện theo phong cách Latin, nhấn mạnh đến nền giáo dục tổng quan trong mọi lãnh vực của khoa học nhân văn cũng như kỹ năng khai thác sự hóm hỉnh và óc hài hước nhằm tác động đến cảm xúc của cử tọa, cùng nghệ thuật chuyển chủ đề (thường được dùng để đánh lạc hướng người nghe rồi đột ngột dẫn họ trở lại chủ đề chính) Trong thời Đế quốc La Mã, dù không được xem là trọng tâm trong đời sống chính trị như thời Cộng hòa, thuật hùng biện vẫn là nhân tố quan trọng trong luật pháp, và các hình thức giải trí, với những nhà hùng biện nổi tiếng

có thể đạt nhiều danh lợi nhờ khả năng diễn thuyết của mình Phong cách Latin tiếp tục duy trì ảnh hưởng cho đến đầu thế kỷ 20 Với sự trỗi dậy của phương pháp khoa học và sự nhấn mạnh vào phong cách “đơn giản” trong nghệ thuật viết và nói, ngay cả những bài diễn văn trang trọng ngày nay cũng kém xa những bài diễn văn cổ điển về khía cạnh trau chuốt và bóng bẩy, mặc

dù sự thành bại của các chính trị gia ngày nay có thể phụ thuộc vào hiệu quả của những bài diễn văn Abraham Lincoln, Adolf Hitler, Marcus Garvey, John F Kennedy và Bill Clinton đã thăng tiến trong sự nghiệp phần lớn nhờ vào kỹ năng hùng biện của họ [63]

Khi xã hội dịch chuyển và các nền văn hóa biến thiên, những nguyên lý này cũng thay đổi dù vẫn duy trì được tính nhất quán của chúng Kỹ thuật và phương pháp của hình thái này thuộc môn truyền thông học từ lâu vẫn dựa vào cấu trúc hùng biện cũng như sự phụ thuộc vào cử tọa Tuy nhiên, những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật cung ứng cho diễn giả những thiết bị tinh vi hơn, thí dụ như hội nghị trực tuyến và viễn thông Hội nghị trực tuyến là một trong những công nghệ hiện đại đã làm thay đổi cung cách truyền thông giữa diễn giả và đại chúng

Trang 11

Tác giả Isabela và Norman Fairclough đã xuất bản cuốn sách Political

discourse analysis – A method for advanced students (Phân tích thuyết chính

trị - Phương pháp cho sinh viên cao cấp) Bên cạnh công trình của các nhà nghiên cứu tên tuổi như vậy, cũng phải kể đến các bài viết trên tạp chí của một vài nhà nghiên cứu khác Junling Wang - một học giả Trung Quốc đã có

bài viết A critical discourse analysis of Barack Obama’s speeches (Phân tích

các cuộc thảo luận phê bình về những bài phát biểu của Barack Obama), trong đó Junling Wang đã sử dụng lý thuyết Ngữ pháp chức năng hệ thống của M.K.A Halliday nền tảng của CDA để phân tích hai bài diễn văn của Tổng thống Obama (diễn văn chiến thắng 4/11/2008 và diễn văn nhận chức 20/1/2009)…v.v

Còn rất nhiều cuốn sách nói về nghệ thuật diễn thuyết trước công chúng

đã được các tác giả Việt Nam quan tâm và dịch như: Cuốn Nghệ thuật nói

chuyện trước công chúng của tác giả Stephen E Lucas, người dịch: ThS

Trương Thị Huệ - ThS Nguyễn Mạnh Quang (2011), NXB Tổng hợp TP Hồ

Chí Minh; cuốn Nghệ thuật nói trước công chúng của tác giả Dale Cernegie,

người dịch Song Hà (2005), NXB Văn hóa Thông tin;…v.v

Trên thế giới các nhà nghiên cứu rất quan tâm đến nghệ thuật diễn thuyết và cho đó là một trong những thước đo của sự thành công đối với mỗi một con người Diễn thuyết hay, hiệu quả, thuyết phục người khác mang lại cho không chỉ người diễn thuyết mà ngay cả cơ quan, đơn vị sử dụng “anh ta” một hiệu quả nhất định

2.2 Những nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, diễn thuyết trước công chúng là một đề tài mới, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu theo các phương diện khác nhau như: tìm hiểu về đặc về ngôn ngữ diễn thuyết, cấu trúc văn bản diễn thuyết, nghệ thuật khi diễn thuyết trước công chúng…v.v

Trang 12

Trong cuốn Nghệ thuật nói trước công chúng, NXB Văn hóa thông tin

của tác giả Nguyễn Hiến Lê (2009) [40] đã có những nghiên cứu sâu sắc về nghệ thuật diễn thuyết trước công chúng Tác giả đã bàn về những đức phải rèn luyện khi muốn học khoa nói như: kiên tâm, tự tin, hăng hái và đừng quá trọng dư luận Bên cạnh đó, Nguyễn Hiến Lê còn nghiên cứu những qui tắc để soạn một bài diễn thuyết và để thuyết phục thính giả rồi lôi cuốn họ Đặc biệt, tác giả cuốn sách còn chỉ những điều cần biết khi đứng trước thính giả để cho giọng nói và điệu bộ phù hợp với tư tưởng và tình cảm muốn diễn thuyết Trong cuốn sách này, tác giả Nguyễn Hiến Lê còn giới thiệu trên 10 bài kiểu mẫu của văn bản diễn thuyết

Tác giả Phong Liễu (2007) trong cuốn Diễn thuyết trước công chúng

[42] đã cung cấp các kinh nghiệm, các nghệ thuật, kỹ thuật để nâng cao trình độ nói chuyện của bạn từ thấp đến cao Từ việc chỉnh sửa, viết lời thoại,

tổ chức đến những yêu cầu tốc độ ngôn ngữ, giọng nói Từ việc biểu đạt tình cảm khi nói đến kỹ xảo khắc phục những tình huống mất bình tĩnh khi nói Tất cả những ý trên đều vì những độc giả thân yêu Phía sau sách còn có những ví dụ thực tế của các nhà diễn thuyết nổi tiếng Cuốn sách là cẩm nang giúp thành công việc diễn thuyết, nó có vai trò to lớn trong việc truyền đạt tư tưởng, đạo lý, khoa học đến mọi người

Tác giả Vũ Hoài Phương đã có rất nhiều bài viết về lĩnh vực này như:

Vũ Hoài Phương (2013), “Diễn văn chính trị tiếng Việt nhìn từ góc độ lý

thuyết”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Ngôn ngữ học Việt Nam trong bối cảnh đổi

mới và hội nhập quốc tế”, tr.1219-1234; Vũ Hoài Phương (2014), “Quan

điểm của Hồ Chí Minh về tuyên truyền miệng”, Tạp chí Lý luận chính trị &

Truyền thông (7), tr.6-9; Vũ Hoài Phương, Trần Thị Vân Anh (2015), “Phong

cách Hồ Chí Minh qua khảo sát các biện pháp tu từ trong tác phẩm Hồ Chí

Minh toàn tập”, Tạp chí Lý luận chính trị & Truyền thông, tr.50-54; Vũ Hoài

Phương (2016), “Giá trị thời đại diễn ngôn Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu

Trang 13

của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lý luận chính trị & Truyền thông,

tr.20-23; Vũ Hoài Phương (2016), “Từ ngữ xưng hô biểu thị quyền lực trong diễn

văn chính trị tiếng Việt”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Nghiên cứu và giảng dạy

ngôn ngữ học – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, tr.393-403…v.v

Và rất nhiều tác giả khác quan tâm và nghiên cứu văn bản diễn thuyết như: Nguyễn Hòa, Đinh Văn Đức, Phan Văn Hoà, Ngô Thị Thanh Mai, Nguyễn Thị Như Ngọc, Vũ Ngọc Hoa…v.v

Nhận xét: Như vậy, diễn thuyết đã được nhiều tác giả quan tâm, xem

xét nhưng nhìn chung đây cũng là một vấn đề rất mới mẻ ở Việt Nam mà chưa có một công trình nào dành riêng cho việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản diễn thuyết Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các tác giả đi trước, đề tài đi sâu nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản diễn thuyết thông qua 10 văn bản diễn thuyết tại Hải Phòng, khảo sát từ tháng 3 năm 2015 đến tháng 3 năm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài giải quyết các nhiệm vụ sau: 1/ Tổng quan được tình hình nghiên cứu

2/ Trình bày những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

3/ Khảo sát đặc điểm về từ vựng trong của văn bản diễn thuyết

Trang 14

4/ Khảo sát đặc điểm về nhịp điệu và các khuôn ngôn ngữ trong văn bản diễn thuyết

4 Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản diễn thuyết (ở dạng văn bản nói) trên các phương diện: từ vựng, ngữ điệu

và khuôn ngôn ngữ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi khảo sát đặc điểm về ngữ âm, từ vựng và khuôn ngôn ngữ trong 10 văn bản diễn thuyết tại Hải Phòng từ tháng 3 năm

2015 đến tháng 3 năm 2017 với các chủ đề sau:

(1) 3 nghị quyết và 1 kết luận trong Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII - quán triệt tới đối tượng là Đảng Viên (các lãnh đạo, cán bộ, chuyên viên của Huyện ủy - HĐND - UBND huyện An Dương) (06 văn bản);

(2) Vấn đề mở cửa Hội nhập kinh tế quốc tế và những vấn đề đặt ra cho giai đoạn tới - đối tượng diễn thuyết là Đoàn thanh niên (các sinh viên trường Đại học Hải Phòng) (02 văn bản);

(3) Vấn đề giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh - đối tượng diễn thuyết là phụ nữ (phụ nữ xã An Hòa, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng) (02 văn bản)

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được chúng tôi sử dụng chủ yếu trong luận văn gồm:

- Phương pháp miêu tả: để miêu tả đặc điểm của từ ngữ và khuôn ngôn ngữ trong văn bản diễn thuyết được nghiên cứu;

- Phương pháp phân tích diễn ngôn để phân tích cấu trúc của văn bản diễn thuyết

Trang 15

- Thủ pháp thống kê, phân loại để thống kê, phân loại các lớp từ ngữ xét theo từ loại và nguồn gốc trong văn bản diễn thuyết

- Thủ pháp so sánh để chỉ ra đặc điểm sử dụng các phương tiện ngôn ngữ trong văn bản diễn thuyết từ dạng viết chuyển sang dạng nói

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài

Chương 2: Đặc điểm từ vựng trong văn bản diễn thuyết

Chương 3: Đặc điểm về ngữ điệu và khuôn ngôn ngữ trong văn bản diễn thuyết

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Phong cách chức năng ngôn ngữ

1.1.1 Khái niệm

Phong cách chức năng ngôn ngữ (PCCNNN) là một trong những vấn

đề trung tâm và là một phạm trù cơ bản nhất của phong cách học PCCNNN

là một dạng tồn tại của ngôn ngữ dân tộc được định hình thành những dạng nhất định bởi quy luật lựa chọn và sử dụng các phương tiện biểu hiện do các nhân tố ngoài ngôn ngữ chi phối và quy định

Ðinh Trọng Lạc có định nghĩa về phong cách chức năng ngôn ngữ: “PCCNNN là những khuôn mẫu (Stereotype) trong hoạt động lời nói, hình thành từ những thói quen sử dụng ngôn ngữ có tính chất truyền thống, tính chất chuẩn mực, trong việc xây dựng các lớp văn bản (phát ngôn) tiêu

biểu” [16]

Hồ Lê lại có định nghĩa khác: “Phong cách ngôn ngữ là tổng thể của tất

cả những biểu hiện về phong độ, phong thái, tính cách mang tính đặc trưng trong quá trình tiến hành các quan hệ ngôn giao và trong quá trình tạo ra các đơn vị ngôn giao”.[41]

Dù có những cách diễn đạt khác nhau song ta thấy, suy cho cùng, các PCCNNN đều được hình thành từ sự tổng hợp hai nhấn tố: Nhân tố ngôn ngữ

và nhân tố ngoài ngôn ngữ

1.1.2 Các nhân tố hình thành

Phong cách chức năng ngôn ngữ được tạo nên bởi hai nhân tố: nhân tố ngôn ngữ và nhân tố ngoài ngôn ngữ, trong đó nhân tố ngôn ngữ gồm các phương tiện như: ngữ âm, từ vựng, cú pháp Các yếu tố này giữ vai trò là phương tiện biểu hiện, tức làm rõ diện mạo, cụ thể hóa diện mạo của PCCNNN Chính nhờ các phương tiện này mà chúng ta có thể khảo sát các đặc trưng diễn đạt và đặc điểm ngôn ngữ của từng phong cách Còn nói về nhân tố ngoài ngôn ngữ thì có rất nhiều nhân tố chi phối việc lựa chọn các

Trang 17

phương tiện ngôn ngữ khi giao tiếp Ví dụ như hoàn cảnh của người nói (viết)

và người đọc (nghe); hoàn cảnh xã hội; nói điều gì cho thích hợp; nói để làm

gì và nhằm mục đích gì; tổ chức nội dung và cách thức nói năng như thế nào cho thích hợp; thời điểm giao tiếp Nói cách khác, khi nói năng, chúng ta phải xử lí hàng loạt các vấn đề như: Phát ngôn cho ai? Tình huống phát ngôn như thế nào? Phát ngôn về cái gì? Phát ngôn để làm gì? Phát ngôn như thế nào? Tuy nhiên, chúng ta thấy có ba nhân tố quan trọng nhất chi phối việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ khi giao tiếp và cũng chính từ ba nhân tố này (tất nhiên cùng cả những nhân tố có liên quan khác) đã góp phần hình thành nên các PCCNNN - đó là: đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và mục đích giao tiếp

* Ðối tượng giao tiếp: Ðối tượng tham gia giao tiếp là nhân tố quan trọng nhất có tác dụng quyết định đến việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ trong giao tiếp Mỗi người trong giao tiếp bao giờ cũng xuất hiện với một

tư cách, một cương vị nhất định mà mối quan hệ gia đình và xã hội đã quy định Nói cho ai nghe ? Viết cho ai đọc ? Người nghe là ai ? Tâm tư tình cảm thế nào, quan hệ với chúng ta ra sao? Trình độ học vấn, nghề nghiệp? Tất cả những điều đó ta cần phải tìm hiểu, xác định rõ trước khi nói (viết) Có như thế mới đạt hiệu quả cao trong giao tiếp

* Hoàn cảnh giao tiếp: Giao tiếp xã hội hiện nay thường được xuất hiện

và tồn tại ở hai dạng: giao tiếp theo nghi thức và giao tiếp không theo nghi thức Hoàn cảnh theo nghi thức là hoàn cảnh xã hội trong đó diễn ra hành vi giao tiếp bằng lời nói mang tính chất đúng đắn, nghiêm túc, hoàn chỉnh Hoàn cảnh không theo nghi thức là hoàn cảnh xã hội trong đó diễn ra hành vi giao tiếp mang tính chất tự nhiên, thoải mái, đôi khi tùy tiện Do hoàn cảnh giao tiếp khác nhau nên có những phương tiện ngôn ngữ phù hợp cho mỗi dạng Giao tiếp có hoàn cảnh không theo nghi thức thì việc vận dụng các phương tiện ngôn ngữ không cần gọt giũa lắm, ít chú ý hay có ý thức hướng tới chuẩn mực, thường tự do thoải mái trong phát âm, ít khi chuẩn bị trước Giao tiếp

Trang 18

thuộc hoàn cảnh theo nghi thức thì việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ có những yêu cầu và đòi hỏi ngược lại

* Mục đích giao tiếp: Mục đích là cái vạch ra làm đích nhằm đạt cho được trong hoạt động có ý thức của con người Mọi hành vi lời nói đều hướng tới một mục đích thực tiễn nhất định, song mặt khác, mọi hành vi lời nói đều cần phải chọn một hình thức diễn đạt thích hợp Cùng một nội dung, nhưng nếu xuất phát từ những mục đích giao tiếp khác nhau như: thông báo, trao đổi, tác động, chứng minh, sai khiến hay thẩm mĩ sẽ dẫn đến cách dùng từ, đặt câu và phương pháp diễn đạt khác nhau

Trong nói năng, dù muốn hay không, mọi người đều nói, viết theo một phong cách ngôn ngữ nhất định Tuy nhiên, việc vận dụng đó còn tuỳ thuộc vào năng lực ngôn ngữ của mỗi người, không phải ai cũng sử dụng phù hợp, đúng đắn, sâu sắc và tinh tế như nhau Lời nói cá nhân là kết quả của việc thực hiện phong cách ngôn ngữ của mỗi cá nhân ở trong thực tế Lời nói cá nhân vừa bao hàm cái chung, phong cách ngôn ngữ, vừa chứa đựng cái riêng,

do cá nhân sử dụng PCCNNN là cái chung, cái trừu tượng tồn tại trong ý thức của mỗi người, còn lời nói cá nhân là cái riêng, cái cụ thể tồn tại trong những phát ngôn cụ thể Mối quan hệ giữa PCCNNN và lời nói cá nhân là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái có tính logic và cái có tính lịch

sử PCCNNN không chỉ quy định lời nói cá nhân mà ngược lại nó còn được lời nói cá nhân nuôi dưỡng Mỗi biến đổi của PCCNNN đều bắt đầu từ lời nói

cá nhân Xét cho cùng, mối quan hệ giữa PCCNNN và lời nói cá nhân được xây dựng và xác định trên cơ sở của mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ

và lời nói

1.1.3 Các phong cách chức năng ngôn ngữ tiếng Việt

Ðứng về mặt ngôn ngữ học thì việc phân loại và miêu tả các phong cách chức năng ngôn ngữ tiếng Việt là yêu cầu lí thuyết đặt ra cho bất kì ngôn ngữ nào đã và đang ở thời kì phát triển Trong giao tiếp, phong cách chức năng ngôn ngữ luôn giữ vai trò môi giới Tất cả những nét phong phú và

Trang 19

sâu sắc, thâm thuý và tinh tế, tất cả những khả năng biến hoá của tiếng Việt đều thể hiện trong phong cách và qua phong cách Tất cả những vấn đề quan trọng như Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, Chuẩn hoá ngôn ngữ, phát triển và nâng cao tiếng Việt văn hoá đều phải được giải quyết trong sự gắn

bó mật thiết với phong cách Mọi sự non kém, thiếu sót về ngôn ngữ đều sẽ

bộc lộ khi sử dụng các phong cách chức năng ngôn ngữ

Việc phân loại các phong cách chức năng là một vấn đề đã được đặt ra

từ thời Mĩ từ pháp cổ đại với lược đồ bánh xe phong cách của Virgile Riêng

ở Việt Nam vấn đề này chỉ mới thực sự quan tâm từ khi có các giáo trình về

phong cách học, cụ thể là trong quyển Giáo trình Việt ngữ tập III của Ðinh

Trọng Lạc xuất bản năm 1964 [32] Từ đó đến nay đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại các phong cách chức năng Thực tế vấn đề này vẫn chưa có tiếng nói chung cả về số lượng các phong cách và cả về thuật ngữ Có thể khảo sát hai quan điểm về cách phân loại qua hai bộ giáo

trình Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của Cù Ðình Tú và Phong

cách học tiếng Việt của Ðinh Trọng Lạc (chủ biên ) và Nguyễn Thái Hoà

Cù Ðình Tú phân loại dựa trên sự đối lập giữa phong cách khẩu ngữ tự nhiên và phong cách ngôn ngữ gọt giũa Sau đó, trên cơ sở chức năng giao tiếp của xã hội mà chia tiếp phong cách ngôn ngữ gọt giũa thành: phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách hành chính, còn phong cách ngôn ngữ văn chương thì được khảo sát riêng không nằm trong phong cách ngôn ngữ gọt giũa

Ðinh Trọng Lạc lại phân loại phong cách chức năng tiếng Việt ra làm 5 loại: phong cách hành chính - công vụ, phong cách khoa học - kỹ thuật, phong cách báo chí - công luận, phong cách chính luận và phong cách sinh hoạt hàng ngày Theo tác giả, lời nói nghệ thuật không tạo ra phong cách chức năng riêng mà chỉ là một kiểu chức năng của ngôn ngữ

Để tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi thống nhất phân chia phong cách chức năng của tiếng Việt ra làm 6 loại đã được nhiều nhà nghiên cứu

Trang 20

công nhận: hành chính công vụ, chính luận, khoa học, nghệ thuật, báo chí, sinh hoạt Trong luận văn này, chúng tôi quan niệm ngôn ngữ diễn thuyết chỉ

là một dạng của phong cách ngôn ngữ chính luận, bởi vì qua kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy các chủ đề cũng như các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng trong các văn bản diễn thuyết đều mang tính chất phong cách chính luận, nghĩa là đều “giải thích các vấn đề chính trị -xã hội” và “ dùng nhiều từ ngữ chính trị - xã hội, dùng nhiều câu khẳng định hoặc phủ định và câu chủ

đề để nêu rõ luận điểm , chính kiến” (Cù Đình Tú [60, 150].)

1.2 Khái quát về diễn thuyết và văn bản diễn thuyết

1.2.1 Diễn thuyết

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy, có nhiều đề tài nghiên cứu về nghệ thuật diễn thuyết nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu có hệ thống về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản diễn thuyết nên khái niệm diễn thuyết xuất hiện nhiều còn khái niệm về văn bản diễn thuyết ít được đề cập và đưa thành khái niệm cụ thể

Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (1995), diễn thuyết là: “nói

trước công chúng một vấn đề gì đó, thường nhằm mục đích tuyên truyền, thuyết phục” [44]

Theo wikipedia.org “Diễn thuyết là nghệ thuật nói chuyện với một nhóm người theo một phương cách được chuẩn bị kỹ nhằm cung cấp thông tin, gây ảnh hưởng hoặc gây cười cho thính giả Trong diễn thuyết, cũng giống bất cứ hình thức truyền thông nào khác, có năm yếu tố căn bản thường được biểu thị như sau, “ai đang nói điều gì với ai và đang sử dụng phương tiện nào để gây ra kết quả gì?”.[63]

Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi thống nhất và đưa ra khái niệm về diễn thuyết như sau: Diễn thuyết trước công chúng là cách thức (nghệ thuật) trình bày một vấn đề trước một nhóm người, hay đám đông nhằm truyền tải thông tin, hoặc thông điệp làm cho người nghe hiểu, tin tưởng, bị thuyết phục và có thể thay đổi hành vi theo định hướng của diễn giả

Trang 21

Khi tìm hiểu về diễn thuyết, có một điều đáng lưu ý đó là diễn thuyết

và báo cáo đều là những phương cách trao đổi ý tưởng và thông tin trong nhóm Nhưng khác với báo cáo, diễn thuyết chứa đựng trong đó cả cá tính của người nói và cho phép các thành viên trong nhóm có thể tương tác trực tiếp với nhau Và như đã nói ở phần đầu, diễn thuyết cũng có một số nét giống với diễn văn nhưng diễn văn thì diễn giả gần như đọc lại toàn bộ văn bản đã được soạn thảo còn diễn thuyết có sự linh hoạt hơn trong quá trình nói trước công chúng, hầu hết khi nói các văn bản diễn thuyết không còn được đảm bảo 100% sự chính xác về từ, câu… trong văn bản đã được soạn thảo, chuẩn bị Thậm chí có diễn giả có tầm trí tuệ uyên bác không cần sử dụng văn bản đã được soạn thảo trước mà vẫn có thể diễn thuyết trước công chúng một cách tự nhiên, hấp dẫn và thuyết phục

Nội dung diễn thuyết là những thông tin cần thiết cho nhóm Nhưng không giống báo cáo, được đọc lên với nhịp điệu của chính người đọc, diễn thuyết phải tính đến việc người nghe sẽ thu nhận được bao nhiêu thông tin trong khi nghe Ví dụ như: diễn thuyết về đề tài chính trị, diễn thuyết về vấn

đề lao động và việc làm, diễn thuyết về môi trường và con người…v.v Nhìn chung đề tài diễn thuyết tương đối phong phú, nội dung sẽ hay hơn nếu như người diễn thuyết hiểu sâu sắc về nó và người nghe muốn tiếp nhận thông tin

đó (theo hai chiều qua lại) Bên cạnh đó, để nội dung gần gũi, sâu sắc, dễ hiểu còn phụ thuộc vào trình độ của người diễn thuyết

Về hình thức, một bài diễn thuyết phải đảm bảo có một trình tự mở đề, diễn giải và kết luận hợp lý Bài diễn thuyết phải được sắp xếp theo trình tự

và nhịp điệu phù hợp để người nghe có thể hiểu được Luôn phải có các phần phụ lục và chú thích để định hướng người nghe Người diễn thuyết cũng phải cẩn thận không để người nghe xao nhãng khi chính mình nói dông dài ra khỏi chủ đề chính của bài diễn thuyết

1.2.2 Văn bản diễn thuyết

Văn bản diễn thuyết hầu hết tồn tại ở hai dạng đó là dạng nói và dạng

Trang 22

viết nhưng có một số trường hợp đặc biệt như đã nói ở phần trên, có những diễn giả không cần có văn bản đã được soạn thảo, chuẩn bị sẵn mà vẫn có thể diễn thuyết trước công chúng một cách tự nhiên, hấp dẫn và thuyết phục

1.2.2.1 Văn bản diễn thuyết ở dạng viết

Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ viết là thứ ngôn ngữ được thể hiện

bằng chữ viết trong văn bản và được tiếp nhận bằng thị giác Trước khi diễn thuyết, diễn giả thông thường soạn thảo văn bản, chuẩn bị trước những nội dung trong quá trình diễn thuyết với các ý đã được nghiên cứu, chắt lọc, được suy nghĩ, nghiền ngẫm và gọt giũa kĩ càng, tổ chức mạch lạc, chặt chẽ nhờ các quan hệ từ và sự sắp xếp các thành phần phù hợp Đó có thể là một văn bản hoàn chỉnh, chính xác từng câu, từng chữ, đảm bảo những ý, những mục cần truyền tải thông tin đến thính giả, các văn bản đó hoàn thiện cả về mặt hình thức và nội dung, văn bản có mở bài, thân bài và kết luận, song cũng có những diễn giả soạn thảo một văn bản để chuẩn bị cho cuộc diễn thuyết của mình rất ngắn gọn chỉ là các ý cơ bản, những gạch đầu dòng những định hướng cho quá trình triển khai còn tất cả những nội dung cụ thể, chi tiết, tỉ mỉ thì đã “có sẵn trong bộ nhớ” mà diễn giả không cần phải soạn thảo ra giấy Như vậy, văn bản diễn thuyết ở dạng viết bản thân nó đã có rất nhiều hình thức tồn tại có thể ngắn, có thể dài phụ thuộc nhiều vào người diễn thuyết

Để có một văn bản diễn thuyết hoàn hảo, người diễn thuyết phải nghiên cứu rất nhiều tài liệu để chắt lọc, xây dựng đề cương, v.v Nói như vậy, khi nghiên cứu đặc điểm văn bản diễn thuyết ta cần tập trung sâu hơn vào các văn bản nói (dạng ghi âm) bởi lẽ khi diễn thuyết trước công chúng có rất nhiều yếu tố chi phối, ảnh hưởng trực tiếp đến người diễn thuyết và buộc họ phải linh hoạt trong việc lựa chọn từ ngữ phù hợp với hoàn cảnh và lúc này, văn bản diễn thuyết trước công chúng có phần “lệch” đi so với văn bản mà diễn giả đã soạn thảo trước đó, nhưng nhìn chung quan điểm, tư tưởng trong văn bản vẫn được đảm bảo Đối tượng luận văn nghiên cứu chính ở đây là những văn bản diễn thuyết ở dạng nói đã được ghi âm lại để khảo sát, tìm hiểu

Trang 23

1.2.2.2 Văn bản diễn thuyết trước công chúng (dạng nói)

Diễn giả sử dụng ngôn ngữ âm thanh để truyền tải nội dung thông tin cần diễn thuyết; trong đó người nói người nghe tiếp xúc trực tiếp với nhau Mỗi diễn giả có một phong cách khác nhau, phong cách ấy được hiện lên ngay cả khi soạn thảo văn bản chuẩn bị diễn thuyết và càng thể hiện rõ ràng hơn khi trực tiếp dùng ngôn ngữ âm thanh để truyền tải nội dung Bởi lẽ ngôn ngữ nói rất đa dạng về ngữ điệu: Giọng nói có thể cao hay thấp, nhanh hay chậm, mạnh hay yếu, liên tục hay ngắt quãng Trong ngôn ngữ nói, ngữ điệu

là yếu tố quan trọng góp phần bộc lộ và bổ sung thông tin, ngoài sự kết hợp giữa âm thanh và giọng điệu còn có các phương tiện bổ trợ ngôn ngữ khác như: nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ,… của người nói Bên cạnh đó, từ ngữ trong ngôn ngữ nói được sử dụng khá đa dạng: có những lớp từ mang tính khẩu ngữ, có những từ ngữ địa phương, các tiếng lóng, các biệt ngữ, các trợ

từ, thán từ, các từ ngữ đưa đẩy,… Ngôn ngữ nói hay dùng những câu tỉnh lược (có khi lược chỉ còn có một từ) nhưng cũng có khi câu nói rườm rà, có nhiều yếu tố dư, hoặc lặp đi lặp lại (để nhấn mạnh hoặc để người nghe có điều kiện tiếp nhận, lĩnh hội, thấu đáo nội dung giao tiếp) Trong qua trình diễn thuyết, ngôn ngữ diễn thuyết đôi lúc được sản sinh nhanh chóng, tức thời, không có sự gọt giũa, suy ngẫm hay lựa chọn và đây chính là phần “lệch” hẳn

đi so với văn bản mà diễn giả đã soạn thảo trước đó

Văn bản diễn thuyết trước công chúng (dạng nói) là đối tượng nghiên cứu chính của luận văn (văn bản diễn thuyết ở dạng viết cũng được đề cập tới

để có sự nhận xét, đánh giá, so sánh)

1.2.2.3 Mối quan hệ giữa văn bản viết và văn bản nói trong diễn thuyết

Văn bản viết và văn bản nói luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, quyết định và bổ sung hoàn thiện cho nhau Đặc biệt, bài diễn thuyết (văn bản nói)

để đảm bảo nội dung, chặt chẽ về bố cục và thuyết phục được người nghe chỉ khi có sự chuẩn bị chu đáo, chỉn chu từ một văn bản viết Và khi bài diễn thuyết thành công sẽ bổ sung trở lại văn bản viết thêm sâu sắc về nội dung và

Trang 24

chặt chẽ hơn về mặt hình thức Chính vì lẽ đó, để có kết quả cho văn bản nói hấp dẫn, chuẩn mực, người diễn thuyết cần thực hiện tốt những nội dung sau:

Lựa chọn, thu thập tài liệu từ các văn bản viết khác nhau Đây là một nhiệm vụ quan trọng vì nó là cơ sở quyết định sự thành công trong việc thực hiện văn bản nói, yếu tố tạo ra chất lượng cho một buổi diễn thuyết Trong thực tiễn, nguồn tài liệu, văn bản viết cung cấp rất phong phú nên người diễn thuyết trước công chúng phải lựa chọn, xử lý các thông tin, sử dụng ngôn ngữ phù hợp, đạt hiệu quả Đặc biệt, các diễn giả phải là những người có kiến thức vững chắc về nội dung diễn thuyết Người diễn thuyết trước công chúng cần

quan tâm đến các nguồn tài liệu, như: các loại từ điển (Từ điển tiếng Việt, Từ

điển triết học,Từ điển kinh tế…), tài liệu thống kê là nguồn tài liệu chủ yếu

để tra cứu các khái niệm, khai thác số liệu cho bài nói; các sách chuyên khảo phù hợp là nguồn tài liệu rất quan trọng Qua các tài liệu này có thể thu thập khối lượng lớn kiến thức hệ thống, sâu sắc về nội dung diễn thuyết, đặc biệt là khi diễn thuyết về chủ đề chính trị - xã hội Trong quá trình diễn thuyết có thể

sử dụng các băng ghi âm, các băng hình phù hợp, các tác phẩm văn học để khai thác hình tượng văn học, câu nói, câu thơ liên quan, làm nổi bật ý của bài nói chuyện

Người diễn thuyết cần thực hiện tốt các thao tác xử lý tài liệu khi được tiếp xúc Cụ thể, đó là: đọc tài liệu, thoạt đầu nên đọc lướt qua mục lục, lời chú giải (nếu có) của từng tài liệu cũng như của tất cả các tài liệu đã thu nhận được

để trên cơ sở đó hình thành quan niệm về nội dung, kết cấu bài nói Sau đó đọc

kỹ, tìm cái mới có phân tích, suy nghĩ, lựa chọn Có thể đọc cả tài liệu phản diện để hiểu nội dung và cách xuyên tạc của các thế lực xấu, xây dựng lập luận phê phán sát với nội dung, có hiệu quả Trong lúc đọc tài liệu, có thể ghi được rất nhiều nhưng nói chung chỉ nên ghi lại nhũng chỗ hay nhất, những khái niệm, những tư liệu chính xác, cần thiết nhất, tư liệu mới có liên quan đến chủ

đề đưa vào bài diễn thuyết Có thể ghi vào sổ tay hoặc ghi trên phích Khi ghi nên ghi trên một mặt giấy, hoặc trang ghi chừa lề rộng để lấy chỗ ghi thêm

Trang 25

những vấn đề mới, thông tin mới hoặc ý kiến bình luận của mình Khi cần giữ lại ý kiến của tác giả một cách hoàn chỉnh, có thể trích nguyên văn từng câu, từng đoạn và chú giải xuất xứ của đoạn trích (ghi rõ tên tác giả, tác phẩm, nơi xuất bản, năm xuất bản, lần xuất bản, số trang)

Đặc biệt là việc sử dụng tài liệu: Sau khi đọc, ghi chép, cần tiến hành lựa chọn những tư liệu mới nhất, có giá trị nhất, dự kiến có khả năng thu hút người nghe nhất để đưa vào đề cương bài nói; Chọn và sắp xếp tư liệu theo trình tự lôgíc để hình thành đề cương; Chỉ sử dụng những tư liệu rõ ràng, chính xác Không dùng những tư liệu chưa rõ về quan điểm tư tưởng, thiếu chính xác về mặt khoa học Cần tuân thủ nguyên tắc về chất lượng thông tin trong giao tiếp: Không nói điều mà mình chưa tin là đúng và những điều không đủ bằng chứng; Trước khi sử dụng bất kỳ tư liệu nào đều phải xem xét

nó bằng “lăng kính” của người cán bộ tư tưởng Khi sử dụng các tài liệu mật, thông tin nội bộ cần xác định rõ vấn đề nào không được nói, hoặc chỉ được nói đến đối tượng nào Trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, cần thiết phải định hướng những bài diễn thuyết theo thông tin theo quan điểm của Đảng Sử dụng tài liệu là một kỹ năng, phụ thuộc vào năng lực, kinh nghiệm của các diễn giả Cùng một lượng tài liệu như nhau, ai dày công và sáng tạo hơn sẽ có bài nói chuyện chất lượng cao hơn

Bên cạnh đó kỹ năng xây dựng đề cương trước khi diễn thuyết là văn bản mà dựa vào đó người diễn thuyết tiến hành buổi nói chuyện trước công chúng Đề cương diễn thuyết cần đạt tới các yêu cầu sau: Phải thể hiện mục đích của cuộc diễn thuyết Đề cương là sự cụ thể hoá các phần, các mục, các luận điểm, luận cứ, luận chứng của bài nói Phải chứa đựng, bao hàm nội dung một cách lôgíc Cần xây dựng nhiều phương án của đề cương, từ đó chọn phương án tối ưu Phương án tối ưu là phương án đạt mục đích và phù hợp với một đối tượng công chúng cụ thể, xác định Quá trình xây dựng đề cương có thể thay đổi, bổ sung, hoàn thiện dần từ thấp lên cao, từ đề cương sơ

bộ đến đề cương chi tiết Đối với những vấn đề quan trọng, phát biểu trước

Trang 26

những đối tượng có trình độ cao, có sự hiểu biết và giàu kinh nghiệm thực tiễn, đề cương cần được chuẩn bị với các số liệu thật chính xác, có giá trị cao Càng chi tiết càng tốt Tuy nhiên như đã nói ở trên, một số diễn giả chuẩn bị văn bản diễn thuyết chỉ là các ý chính, thậm chí có những nhà diễn thuyết đạt tới trình độ cao không cần sử dụng các văn bản soạn thảo trước khi diễn thuyết, nói như vậy không có nghĩa là tự bản thân họ có thể đứng trước công chúng để diễn thuyết mà thực tế người diễn thuyết đó đã phải trải qua giai đoạn tìm hiểu, đọc và ngấm các nội dung của một cuộc diễn thuyết mang tính chuyên nghiệp

1.2.3 Các nhân tố giao tiếp chi phối việc sử dụng ngôn ngữ diễn thuyết

Như đã dẫn ở phần mở đầu, diễn thuyết trước công chúng là cách thức (nghệ thuật) trình bày một vấn đề trước một nhóm người hay đám đông nhằm truyền tải thông tin hoặc thông điệp làm cho người nghe hiểu, tin tưởng, bị thuyết phục và có thể thay đổi hành vi theo định hướng của diễn giả Chính vì vậy nó chịu sự chi phối bởi các nhân tố của một cuộc giao tiếp ở tầm cao: có nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, đề tài giao tiếp, mục đích giao tiếp

Nhân vật giao tiếp: Nhân vật giao tiếp trong diễn thuyết rất đa dạng trong nó phụ thuộc vào từng nội dung diễn thuyết để lựa chọn người diễn thuyết và đối tượng diễn thuyết Trong đó, người diễn thuyết giữ vị trí rất quan trọng, bài diễn thuyết có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào nhân vật này, họ cần phải nắm vững đối tượng công chúng (người nghe) về các mặt như: số lượng tham dự; độ tuổi; trình độ học vấn, chuyên môn; địa vị

xã hội; kinh nghiệm sống; thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo; cơ cấu giới tính… để lựa chọn cách diễn thuyết phù hợp Việc nắm vững đối tượng còn đòi hỏi nhà diễn thuyết phải biết rõ công chúng kỳ vọng gì ở mình để tìm cách đáp ứng những kỳ vọng đó Việc xác định đúng và nắm vững đối tượng giúp cho nhà diễn thuyết xác định được tâm thế, chủ động trong việc xác định mục tiêu và nội dung của bài diễn thuyết; đồng thời chủ động trong việc lựa chọn phương pháp và phương tiện để trực quan hoá cho phù hợp với đối tượng

Trang 27

Nhiều trường hợp cho thấy, do không nắm vững đối tượng nên người diễn thuyết (kể cả những những người giàu kinh nghiệm trong diễn thuyết) vẫn thất bại Do vậy, việc tìm hiểu và nắm vững đối tượng là một trong những yếu

tố dẫn đến thành công

Hoàn cảnh giao tiếp: Tùy thuộc vào từng thời điểm diễn thuyết, đặc biệt là những bài diễn thuyết liên quan đến nội dung chính trị - xã hội… thì hoàn cảnh giao tiếp ảnh hưởng rất lớn đến nội dung của bài diễn thuyết Đây

là một nhân tố vô cùng quan trọng, tác động không nhỏ đến quá trình diễn thuyết Bởi lẽ, trong quá trình diễn thuyết trước công chúng, diễn giả không chỉ xác định hoàn cảnh bao trùm, xuyên suốt mà còn có những tình huống phát sinh đưa diễn giả vào những hoàn cảnh đặc biệt buộc diễn giả phải có cách lựa chọn ngôn ngữ thuyết trình phù hợp với hoàn cảnh phát sinh ấy Chính vì vậy, trước khi tiến hành diễn thuyết, cần nắm vững tổng lượng thời gian được phép diễn thuyết Trên cơ sở mục tiêu, nội dung và phương pháp,

sẽ phân bố thời gian thích hợp cho từng phần một cách chi tiết để tránh tình trạng “cháy giáo án” Khi diễn thuyết, cố gắng tuân thủ thời gian đã phân bố cho từng phần, nhạy cảm, tinh tế, linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ để

“đối phó” với những tình huống phát sinh

Đề tài giao tiếp: Đề tài của diễn thuyết là những thông tin cần thiết cho nhóm (đối tượng nghe) Nhưng không giống báo cáo, được đọc lên với nhịp điệu của chính người đọc, diễn thuyết phải tính đến việc người nghe sẽ thu nhận được bao nhiêu thông tin trong khi nghe Nói chung diễn thuyết không

có đề tài về tình cảm riêng tư hay những cách giải quyết công việc theo tình cảm cá nhân, chủ quan, cảm tính

Mục đích giao tiếp: Mục đích bài diễn thuyết là kết quả mà người nghe cần thu nhận được sau buổi diễn thuyết Mỗi đối tượng có khả năng nhận thức khác nhau Vì vậy, khi xác định mục tiêu bài diễn thuyết, cần phải nắm vững đối tượng người nghe để xác định mục tiêu và nội dung cho phù hợp Điều này giúp cho diễn giả chủ động trong việc xác định phương hướng và những

Trang 28

nội dung trọng tâm của bài diễn thuyết Trên cơ sở đó, diễn giả có thể chủ động phân bố thời gian cho từng nội dung và chủ động trong việc lựa chọn phương pháp, phương tiện một cách hiệu quả Cần loại bỏ những nội dung không cần thiết để tập trung vào những vấn đề chính, trọng tâm theo mục tiêu

đã xác định Thông thường, mục tiêu mà diễn giả cần đạt được sau khi kết thúc bài diễn thuyết là người nghe phải nắm được ba yêu cầu sau:

Thứ nhất, lượng tri thức cơ bản liên quan đến chủ đề trình bày Việc nắm được lượng tri thức này bao gồm cả việc hiểu đúng và tổng hợp tri thức theo hệ thống khoa học

Thứ hai, kỹ năng ứng dụng tri thức đó vào thực tiễn cuộc sống Việc thu nhận kỹ năng bao hàm cả nội dung lý thuyết (hiểu được cách làm) và sự thành thạo ở mức độ nhất định qua quá trình thực hành

Thứ ba, tạo niềm tin và sự ham muốn ứng dụng những tri thức thu được vào thực tế cuộc sống Nghĩa là diễn giả không chỉ cung cấp tri thức và rèn kỹ năng cho người nghe, mà qua đó còn làm cho người nghe thay đổi cảm xúc và mong muốn vận dụng những tri thức mà mình đã thu nhận được vào thực tiễn cuộc sống hàng ngày

1.3 Các yếu tố phi ngôn ngữ đi kèm ngôn ngữ diễn thuyết

1.3.1 Yếu tố không gian, thời gian

1.3.1.1 Yếu tố không gian

Không gian diễn ra buổi nói chuyện Đây là một vấn đề người diễn thuyết phải quan tâm bởi nó có ảnh hưởng đến hiệu quả của cuộc diễn thuyết trước công chúng Có thể có những trường hợp sau đây:

- Nói trong phòng họp với vài ba chục người nghe

- Nói ở ngoài trời

Ngoài ra, cách bài trí trong phòng họp, trong hội trường, các yếu tố ngoại cảnh khác cũng tác động đến tâm lý người nghe Diễn giả cần chủ động nắm những thông tin cơ bản về không gian buổi nói chuyện Ví dụ: nói ở đâu,

Trang 29

khoảng bao nhiêu người nghe, có micrô không, có bảng không Ngoài ra, khi bước vào hội trường, khi Ban Tổ chức còn chuẩn bị và giới thiệu, diễn giả cần tranh thủ quan sát để có sự điều chỉnh kịp thời

1.3.1.2 Yếu tố thời gian

Buổi diễn thuyết diễn ra vào sáng, chiều hay tối cũng tạo nên những thuận lợi hoặc khó khăn cho việc nhận thông tin của người nghe Thông thường vào buổi sáng người nghe tỉnh táo, tiếp thu thông tin tốt hơn; đầu giờ chiều người nghe thường mệt mỏi, buổi tối hay bị phân tán Trong mỗi hoàn cảnh đòi hỏi người diễn thuyết phải quan tâm đến việc sắp xếp nội dung bài nói và phương pháp diễn đạt sinh động để phát huy hoặc khắc phục trạng thái tinh thần, tâm lý trên của đối tượng Ngoài ra, thời gian diễn thuyết dễ bị điều chỉnh, thay đổi theo yêu cầu của người tổ chức Ví dụ, khi đến nói hoặc đang nói người tổ chức mới đề nghị cho nghỉ sớm, không nghỉ giải lao, gắn thêm các công việc của cơ quan Các diễn giả cũng cần nắm được các thông tin này sớm để chủ động điều chỉnh

1.3.2 Cử chỉ, điệu bộ và biểu cảm của diễn giả

Trong quá trình diễn thuyết, diễn giả thực hiện sự tác động đến người nghe chủ yếu thông qua hai kênh: Kênh ngôn ngữ và kênh phi ngôn ngữ Mối quan hệ giữa thính giả - diễn giả cũng được thực hiện bằng hai kênh này Kênh

phi ngôn ngữ (có tài liệu gọi là kênh tiếp xúc cơ học hay các yếu tố về hành vi)

được xem là những hành vi hỗ trợ, tăng cường hiệu quả cho kênh ngôn ngữ Sự kết hợp đồng bộ giữa hai kênh này sẽ tạo được hiệu quả cao nhất

Thuộc về kênh phi ngôn ngữ có các yếu tố như tư thế sự vận động và

cử chỉ, nét mặt và nụ cười Chúng là những yếu tố được quy định bởi phong cách và thói quen cá nhân Hình thành kỹ năng này đòi hỏi phải có sự tập

luyện công phu và kiên trì Đứng trước công chúng phải tự nhiên linh hoạt

Trong suốt buổi nói chuyện nên có vài lần thay đổi tư thế, vị trí để người nghe không cảm thấy mệt mỏi nhưng cũng không nên thay đổi tư thế quá nhiều

Trang 30

Cử chỉ và diện mạo phải phù hợp với ngữ điệu của lời nói và cảm xúc, với sự vận động của tư duy và tình cảm Nét mặt, nụ cười, ánh mắt có thể truyền đạt hàng loạt các cảm xúc, niềm vui hay nỗi buồn, sự kiên quyết hay nhân nhượng, sự khẳng định hay nghi vấn mà nhờ nó người nói thể hiện được thái độ tình cảm của mình về vấn đề đang nói và qua đó tạo được lòng tin và sự lôi cuốn người nghe

Các yếu tố trên đây tác động lên thị giác của người nghe và có tác dụng nâng cao hiệu quả tri giác thông tin của họ Chúng còn được kết hợp phù hợp với tính chất, nội dung thông tin và với các yếu tố ngôn ngữ để nâng cao chất lượng bài diễn thuyết

Ưu thế đặc trưng của diễn thuyết là diễn giả có thể sử dụng kênh phi ngôn ngữ trong hoạt động của mình Nếu diễn giả biết sử dụng một cách nhuần nhuyễn kênh phi ngôn ngữ trong bài diễn thuyết nó không chỉ là sự bổ sung mà còn góp phần làm nhân lên gấp nhiều lần hiệu quả của bài diễn thuyết

Kênh phi ngôn ngữ là các hoạt động không dùng ngôn ngữ lời nói của diễn giả trong buổi diễn thuyết Đó chính là tư thế, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười, thái độ, hành vi của diễn giả khi tiến hành một bài diễn thuyết

Chính vì vậy, trong quá trình diễn thuyết, các diễn giả luôn luôn chú ý khi sử dụng kênh phi ngôn ngữ, cần chú ý đảm bảo các yêu cầu như: Phải tự nhiên, hợp lý, gắn với nội dung và hợp lý với từng loại đối tượng, bối cảnh ; Cần tránh “biểu diễn”, “diễn kịch” khi diễn thuyết, làm cho tác dụng truyền đạt thông tin hạn chế, thậm chí phản cảm Việc kể chuyện vui gây hưng phấn, làm cho buổi nói chuyện đỡ căng thẳng là cần thiết, nhưng tránh gượng gạo, tếu táo, thô thiển ; Trong quá trình trình bày, do những nguyên nhân nào đó, sự chú ý của người nghe có thể bị giảm Trong trường hợp đó, diễn giả phải biết phát hiện nhờ việc quan sát thái độ và cử chỉ của người nghe và chủ động tìm cách khắc phục; Dựa trên những quy luật tâm sinh lý, người ta đưa ra một số

kỹ xảo, thủ thuật sau mà người diễn thuyết có thể áp dụng để khôi phục và tăng cường sự chú ý: Cử chỉ, vận động và sự kết hợp chúng với các thủ thuật

Trang 31

khác Chẳng hạn, có thể rời bục giảng tiến gần về phía người nghe hoặc đi vào giữa hội trường tiếp tục nói; Thủ thuật âm thanh: Nói to lên hoặc ngược lại, nói nhỏ đi, gần như nói thầm; Sử dụng các phương tiện trực quan như sơ

đồ, bản đồ, biểu bảng, băng ghi hình và kết hợp sử dụng các phượng tiện đó với phương tiện ngôn ngữ; Thay đổi trạng thái giao tiếp từ độc thoại sang đối thoại bằng cách đặt cậu hỏi và đề nghị người nghe trả lời Khi chuyển trạng thái giao tiếp, có thể nói bằng giọng hài hước, sử dụng biện pháp gây cười như: Chơi chữ, nói lái, kỹ thuật tương phản hoặc kể một câu chuyện cười phù hợp để giảm bớt sự căng thẳng, khôi phục trở lại sự chú ý

1.4 Tiểu kết chương 1

Ở chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu và đưa ra những khái niệm lí thuyết nền tảng về: Phong cách ngôn ngữ chức năng; Khái quát về diễn thuyết và văn bản diễn thuyết; Các yếu tố phi ngôn ngữ đi kèm ngôn ngữ diễn thuyết

Chúng tôi đưa ra khái niệm về phong cách chức năng, cách phân chia phong cách chức năng trong tiếng Việt Bởi lẽ, mục tiêu của đề tài là định vị phong cách ngôn ngữ diễn thuyết nên đưa ra những lý thuyết này để so sánh, đối chiếu các phong cách ngôn ngữ với nhau, nó hội tụ nhiều đặc điểm của các loại phong cách chức năng khác trong tiếng Việt Như khi diễn thuyết về các đề tài về văn học nó vừa mang đặc điểm phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, vừa có đặc điểm ngôn ngữ văn chương hay khi diễn thuyết, tuyên truyền về các vấn đề chính trị - xã hội (đặc biệt là các đường lối, chủ trương của Đảng ) thì nó vừa mang phong cách sinh hoạt vừa mang phong cách báo chí v.v

Vì văn bản diễn thuyết tồn tại cả ở dạng viết (tức là những văn bản được soạn thảo chuẩn bị trước khi diễn thuyết) và ở dạng nói (sử dụng âm thanh ngôn ngữ) cho nên ở Chương 1 chúng tôi đi vào làm rõ những vấn đề lý thuyết về văn bản diễn thuyết ở dạng nói; văn bản diễn thuyết ở dạng viết; mối quan hệ giữa văn bản viết và văn bản nói trong diễn thuyết để từ đó có sự

Trang 32

đối chiếu, so sánh và đánh giá chính xác về đặc điểm ngôn ngữ loại văn bản này

Diễn thuyết không giống giao tiếp thông thường, khi diễn thuyết người nói bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố phi ngôn ngữ đi kèm, điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến ngữ điệu, âm lượng khi diễn thuyết và việc lựa chọn các khuôn ngôn ngữ trong quá trình diễn thuyết Chính vì vậy, ở chương này chúng tôi

đã đưa ra các yếu tố phi ngôn ngữ đi kèm ngôn ngữ diễn thuyết như: yếu tố không gian, thời gian; cử chỉ, điệu bộ, cảm xúc, thái độc của diễn giả v.v

Dựa vào những cơ sở lý thuyết nền tảng đó, chúng tôi đi vào mô tả, phân tích, nhận xét những đặc điểm cơ bản về từ, ngữ điệu và khuôn ngôn ngữ trong các văn bản diễn thuyết; để từ đó bước đầu xây dựng một cái nhìn chung nhất về phong cách ngôn ngữ diễn thuyết, góp phần nâng cao hiệu quả

sử dụng ngôn ngữ trong quá trình diễn thuyết của các diễn giả

Trang 33

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ TRONG VĂN BẢN DIỄN THUYẾT

2.1 Một số đặc điểm chung về từ tiếng Việt liên quan đến nội dung luận văn

2.1.1 Khái niệm về từ trong tiếng Việt

Theo Nguyễn Thiện Giáp - Đoàn Thiện Thuật - Nguyễn Minh Thuyết, hiện nay có tới trên 300 định nghĩa khác nhau về từ nhưng không có định nghĩa nào về từ làm cho mọi người thỏa mãn Các tác giả đã chấp nhận định nghĩa về từ như sau: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa

và hình thức” [22, 61]

Theo Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu” [15]

Trong cuốn Đại cương Ngôn ngữ học (tập 1) của các tác giả Đỗ Hữu

Châu, Bùi Minh Toán có định nghĩa về từ như sau: “Đó là những đơn vị hai mặt, có hình thức âm thanh, có ý nghĩa và có khả năng trực tiếp kết hợp với nhau để tạo thành các câu cụ thể, gặp trong khi nói và viết” [14, 8]

Theo wikipedia.org “từ là đơn vị sẵn có trong ngôn ngữ, là đơn vị nhỏ nhất, cấu tạo ổn định, mang nghĩa hoàn chỉnh, được dùng để cấu thành nên câu Từ có thể làm tên gọi của sự vật (danh từ), chỉ các hoạt động (động từ), trạng thái, tính chất (tính từ), Từ là công cụ biểu thị khái niệm của con người đối với hiện thực” [63 ]

Để tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi thống nhất đi theo quan điểm về

từ của Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học (như quan hệ về

số, về giống,…) và cú pháp trong câu, nằm trong một kiểu cấu tạo nhất định, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, ứng với những nghĩa nhất định,

Trang 34

sẵn có đối với mọi thành viên của xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ thống tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [13, 30]

2.1.2 Những góc độ nghiên cứu cơ bản của từ tiếng Việt

2.1.2.1 Đặc điểm về từ loại

Từ loại là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp được phân chia theo ý nghĩa khái quát, theo khả năng kết hợp trong đoản ngữ (cụm từ), trong câu để thực hiện chức năng ngữ pháp giống nhau Theo Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung, hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm, bao gồm những từ loại sau đây: Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ; số từ; đại từ Nhóm 2: phụ từ (định từ, phó từ); kết từ; tiểu từ (trợ từ và tình thái từ) [4, 77]

Danh từ: ý nghĩa khái quát danh từ là những từ mang ý nghĩa chỉ thực thể Danh từ có khả năng làm thành tố chính trong cụm danh từ; có khả năng

kết hợp với các đại từ chỉ định: này, kia, ấy, nọ, ; có khả năng kết hợp trực

tiếp hay gián tiếp với số từ Chức năng cú pháp chính của nó là làm chủ ngữ trong câu Trong đó có: danh từ riêng là tên riêng của từng người, từng sự vật

cụ thể,… và danh từ chung là tên chung của một chủng loại sự vật, có tính khái quát, trừu tượng, không có mối liên hệ đơn nhất giữa tên gọi và vật cụ thể được gọi tên

Động từ: biểu thị ý nghĩa hoạt động, quá trình, trạng thái của đối tượng Động từ làm trung tâm trong cụm động từ Các từ chứng tiêu biểu của động từ

là: hãy, đừng, chớ, đã, đang, sẽ, đều, vẫn, cũng, xong, rồi, nữa, Chức năng

cú pháp chính của động từ là làm vị ngữ trong câu Dựa vào bản chất nghĩa - ngữ pháp của động từ, ta có thể chia động từ thành hai loại lớn: Những động

từ độc lập và những động từ không độc lập Động từ độc lập là những động từ

tự thân có nghĩa, chúng có thể dùng độc lập, không cần một động từ khác đi kèm, còn nhóm động từ không độc lập là những động từ biểu thị tình thái vận động, quá trình nhưng tự thân chưa mang nghĩa trọn vẹn

Tính từ: là lớp từ chỉ ý nghĩa đặc trưng (đặc trưng của thực thể hay đặc trưng của quá trình) Tính từ thường làm thành tố trung tâm trong cụm tính từ

Trang 35

Từ chứng cho tính từ là các phó từ như: rất, hơi, quá, lắm, Tính từ thường

làm vị ngữ trong câu Dựa vào nghĩa và khả năng kết hợp của tính từ (về ngữ pháp) có thể chia tính từ thành các tiểu loại: Những tính từ chỉ đặc trưng, tính

chất tuyệt đối (không được đánh giá theo thang độ) Ví dụ: riêng, chung,

công, tư, chính, phụ, công cộng, đỏ lòm, trắng phau, đen sì, xanh mượt, ;

Những tính từ chủ đặc trưng thuộc về phẩm chất (được đánh giá theo thang

độ) Tính từ chỉ đặc trưng về màu sắc, mùi vị Ví dụ: xanh, đỏ, vàng, đậm,

nhạt, thơm, thối, cay, ngọt, nhạt, Tính từ chỉ tính chất, phẩm chất Ví dụ: tốt, đẹp, xấu, khéo, vụng, tầm thường, quan trọng, phải, trái, hèn, mạnh, dũng cảm, Tính từ chỉ đặc trưng về kích thước, số lượng Ví dụ: to, nhỏ, nặng, nhẹ, nhiều, ít, rậm, thưa, ngắn, dài, cao, thấp, Tính từ chỉ đặc trưng về

cường độ Ví dụ: mạnh, yếu, nóng, lạnh, Tính từ chỉ đặc trưng về hình thể

Ví dụ: vuông, tròn, thẳng, gãy, cong, méo, gầy, béo, Tính từ chỉ đặc trưng

về âm thanh Ví dụ: ồn, im, ồn ào, im lìm, Tính từ chỉ đặc trưng mô phỏng (thường là từ láy) Ví dụ: ào ào, đùng đùng, chênh vênh, gập ghềnh,…

Số từ: so với đại từ, số từ gần với thực từ hơn vì nó còn có những nét nghĩa chân thực Số từ gồm những từ biểu thị ý nghĩa số Ý nghĩa số vừa có tính chất thực, vừa có tính chất hư Số từ phổ biến là được dùng kèm với danh

từ để biểu thị số lượng sự vật nêu ở danh từ Số từ có thể có từ kèm bổ nghĩa

cho nó (nhưng hạn chế) như: độ, chừng, khoảng, hơn, ngót, Có thể đảm

nhiệm một số chức năng cú pháp như chủ ngữ, vị ngữ nhưng không nhiều Số

từ xác định: gồm những từ chỉ ý nghĩa số lượng chính xác, có thể dùng để

đếm, để tính toán về số lượng của sự vật như: một, hai, ba, năm, trăm, hai

phần ba, bốn phần năm, Số từ không xác định: biểu thị số không chính xác

Loại này có số lượng không nhiều lắm Ví dụ: vài, dăm, mươi, vài ba, đôi ba,

dăm ba, một vài, một hai, ba bảy, hai ba, năm sáu, mấy,

Đại từ: là lớp từ dùng để thay thế và chỉ trỏ Nghĩa của đại từ là biểu thị các quan hệ định vị bao hàm cả nghĩa trỏ và thay thế Ý nghĩa thay thế ở đây

là thay thế cái đã được gọi tên, cái đã được nói tới và được biết tới trước đó

Trang 36

Ý nghĩa thay thế là thay thế về mặt cú pháp chứ không thay thế về từ loại Đại

từ có khả năng kết hợp rất hạn chế Chức năng cú pháp Đại từ nói chung có thể đảm nhận được các chức năng cú pháp của thực từ được thay thế

Phụ từ (bao gồm định từ và phó từ):

- Định từ: là những từ biểu thị quan hệ về số lượng với sự vật được nêu

ở danh từ, chuyên dùng kèm với danh từ, với chức năng làm thành tố phụ trong kết hợp từ có trung tâm ngữ nghĩa - ngữ pháp là danh từ (cụm danh từ) [4, 121]

- Phó từ: là hư từ thường dùng kèm với thực từ (động từ, tính từ) Chúng biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa quá trình và đặc trưng với thực tại, đồng thời cũng biểu hiện ý nghĩa về cách thức nhận thức và phản ánh các quá trình và đặc trưng trong hiện thực Phó từ không có khả năng làm trung tâm ngữ nghĩa - ngữ pháp trong kết hợp thực từ và trong cấu tạo thành phần câu Nói chung, có thể dùng phó từ làm từ chứng để phân loại động từ và tính từ [4, 124,125]

Kết từ: là những từ biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái niệm và đối tượng được phản ánh Kết từ là dấu hiệu biểu thị các quan hệ cú pháp giữa các thực từ (và hư từ) một cách tường minh Kết từ được dùng nối kết các từ, các kết hợp từ, các câu và đoạn văn có quan hệ cú pháp Dựa vào các kiểu ý nghĩa quan hệ (quan hệ cú pháp) được thể hiện bằng kết từ, có thể chia thành hai lớp: lớp kết từ chính phụ và lớp kết từ đẳng lập [4, 132, 133]

- Kết từ chính phụ: chỉ ý nghĩa quan hệ chính phụ, nối thành tố phụ vào thành tố chính (nối kết từ phụ với từ chính, thành phần phụ với thành phần chính của câu,…)

- Kết từ đẳng lập: chỉ ý nghĩa quan hệ đẳng lập, dùng để nối kết các từ, các kết hợp từ (ở bậc cụm từ hay ở bậc câu, đoạn văn)

Tiểu từ: là những từ biểu thị ý nghĩa quan hệ giữa chủ thể phát ngôn với nội dung phản ánh; hoặc biểu thị quan hệ giữa phát ngôn với nội dung phản ánh; ý nghĩa quan hệ của tiểu từ là ý nghĩa quan hệ có tính tình thái

Trang 37

Tiểu từ không có khả năng kết hợp như thực từ và phần lớn các từ loại hư từ Chúng được dùng trong câu với chức năng biểu thị các ý nghĩa quan hệ có tính tình thái ở bậc câu và ở văn bản Chúng được chia ra làm hai loại: trợ từ

và tình thái từ [4, 144]

- Trợ từ: là từ loại biểu thị ý nghĩa tình thái bằng cách nhấn mạnh vào từ, kết hợp từ,…có nội dung phản ánh liên quan đến thực tại mà người nói muốn lưu ý người nghe Chúng được dùng để nhấn mạnh vào một chi tiết nào đó hoặc để biểu thị sự đánh giá của người nói đối với một sự tình trong câu Trợ từ không có khả năng làm trung tâm trong cụm từ Nó có thể đứng trước từ mà nó

bổ sung ý nghĩa tình thái Không có khả năng làm thành phần câu.Ví dụ: chính,

tự, ngay, cả, những, hàng, đích, đích thị, chỉ, chỉ là, đến, đến cả, đến nỗi, thật

ra, thì, là, mà, cái, ngay cả, ngay như, ngay những, đúng, đúng là,

- Tình thái từ: là từ loại biểu thị ý nghĩa tình thái trong quan hệ của chủ thể phát ngôn với người nghe hay với nội dung được phản ánh, hoặc ý nghĩa tình thái gắn với mục đích phát ngôn Tuy tình thái từ có số lượng không nhiều nhưng nó mang những sắc thái khá đa dạng Nhờ nó mà người nói (người viết) có thể bày tỏ được những sắc thái tình cảm và thái độ tế nhị đối với người nghe, hoặc đối với nội dung câu nói Tình thái từ không có mối liên

hệ hình thức với từ đứng trước hoặc sau chúng Tình thái từ thường làm dấu

hiệu chỉ rõ mục đích phát ngôn của câu Tình thái từ nghi vấn: à, ư, nhỉ, nhé,

chứ, chăng, hử, hả, không, phỏng,…; Tình thái từ cầu khiến: đi, thôi, nào, với, kia, chứ…; Tình thái từ thể hiện thái độ ngạc nhiên: nhỉ, ư,…; Tình thái từ

cảm thán: thay, sao,…; Tình thái từ biểu hiện cảm xúc: a, á, ạ, vậy, mà, cơ,

hử, nhé, đấy,…

2.1.2.2 Đặc điểm từ xét theo nguồn gốc

Theo Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến: “trên thực

tế, hầu như không có từ vựng của ngôn ngữ nào lại chỉ hình thành, xây dựng bằng con đường “tự nó” Trong những ngôn ngữ được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới như tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp, người ta vẫn có thể thấy

Trang 38

hàng loạt từ ngữ mà chúng vay mượn, hoặc vốn có nguồn gốc từ ngôn ngữ khác” [15, 213 - 219]

Tiếng Việt của chúng ta cũng vậy, điều mà người ta có thể dễ thấy nhất

ở đây là nổi lên đường phân giới giữa hai lớp từ ngữ: Lớp từ bản ngữ (còn gọi

là lớp từ thuần Việt) và Lớp từ có nguồn gốc khác, xa lạ (còn gọi là lớp từ ngoại lai) Ở từ vựng tiếng Việt, lớp từ ngoại lai được phân thành hai lớp nhỏ hơn: Lớp các từ ngữ gốc Hán và lớp các từ ngữ gốc Ấn-Âu (chủ yếu là gốc Anh và gốc Pháp)

2.2 Đặc điểm của từ trong văn bản diễn thuyết

2.2.1 Đặc điểm của từ trong các văn bản diễn thuyết xét ở góc độ từ loại

Khi đi vào khảo sát từ trong các văn bản diễn thuyết xét ở góc độ từ loại chúng tôi thấy rằng: diễn thuyết là cuộc nói chuyện nghệ thuật trước đám đông, trong cuộc nói chuyện đó có rất nhiều yếu tố đi kèm, có các tình huống phát sinh và người diễn thuyết phải sử dụng nhiều từ ngữ đưa đẩy, các trợ từ,

từ cảm thán, các từ mang tính khẩu ngữ… nên khác với việc khảo sát các văn bản viết, tình thái từ cảm thán xuất hiện nhiều trong các văn bản diễn thuyết ở dạng nói Chúng tôi đã ghi âm lại, khảo sát và có kết quả như sau:

Bảng 2.1 Kết quả khảo sát từ trong các văn bản diễn thuyết

Trang 39

Số liệu trên cho thấy danh từ trong các văn bản diễn thuyết chiếm gần một nửa số lượng từ loại mà chúng tôi khảo sát Nội dung của các văn bản diễn thuyết được phân chia rất rõ ràng - đó là:

(1) 3 nghị quyết và 1 kết luận trong Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII - quán triệt tới đối tượng là Đảng Viên (các Lãnh đạo, cán bộ, chuyên viên của Huyện ủy - HĐND - UBND huyện An Dương);

(2) Vấn đề mở cửa Hội nhập kinh tế quốc tế và những vấn đề đặt ra cho giai đoạn tới - đối tượng diễn thuyết lại là Đoàn thanh niên - cụ thể là các sinh viên trẻ trung và năng động của trường Đại học Hải Phòng;

(3) Vấn đề giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh - đối tượng diễn thuyết là phụ nữ (phụ nữ xã An Hòa, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng)

Chính vì lựa chọn khảo sát các lĩnh vực diễn thuyết khác nhau nên chúng tôi có kết quả rất phong phú Ở mảng đề tài (1), xuất hiện rất nhiều các

Trang 40

danh từ như: Đảng (513 lần), Đảng viên (356 lần), Nhà nước (119 lần), Đại

hội (215 lần)…v.v Ví dụ như chỉ qua một đoạn văn bản trong bài diễn thuyết

“Quán triệt Nghị quyết số 04-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng khoá XII

về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về

tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự

chuyển hóa” trong nội bộ” có tới 13 từ Đảng, Đại hội xuất hiện:

- Đại hội XII của Đảng đã dành nhiều công sức và trí tuệ cho tổng kết

về công tác xây dựng Đảng Báo cáo chính trị của Đại hội đã đề cập đến hai

nhiệm vụ và ba chủ đề lớn về xây công tác dựng Đảng Việc xây dựng Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng một lần nữa cho

thấy tầm quan trọng đặc biệt, xuất phát từ 5 lý do sau đây:

Thứ nhất, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là đòi hỏi khách quan, là nhiệm

vụ thường xuyên để củng cố, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền Vai trò lãnh đạo của Đảng và công tác xây dựng Đảng luôn có ý nghĩa cực

kỳ quan trọng đối vói sự nghiệp cách mạng của nước ta Đây là bài học lớn,

sâu sắc được rút ra sau hơn 86 năm hoạt động của Đảng Đó cũng là cơ sở lý

luận khoa học, kinh nghiệm, thực tiễn của các chính đảng trên thế giới, là vấn

đề có tính nguyên tắc, tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa Nhất là trong tình hình hiện nay, khi đất nước đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ngày càng sâu

rộng, Đảng muốn giữ được vai trò cầm quyền càng phải đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng

…v.v

Ở mảng đề tài số 2, vấn đề diễn thuyết ở đây là “Hội nhập kinh tế quốc

tế và những vấn đề đặt ra cho giai đoạn tới” nên các danh từ Đảng, Nhà nước,

Đại hội, Đảng viên… không xuất hiện nhiều như ở mảng đề tài diễn thuyết số

1 mà xuất hiện nhiều các danh từ như: kinh tế (256 lần), quốc tế (193 lần), thế

giới (101 lần), thương mại (93 lần), tài chính (52 lần),…v.v Ví dụ như:

Ngày đăng: 04/01/2020, 13:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w