1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

103 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận xét về TSXH của hành động nói được thực hiện bằng phát ngôn chứa từ biểu thị tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính.. Thực hiện đề tài này sẽ giúp chúng tôi đi sâu tìm hiểu lớp từ ch

Trang 1

- -

TỪ CHỈ TÂM TRẠNG TRONG THƠ TÌNH NGUYỄN BÍNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thuận

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

HẢI PHÒNG, NĂM 2016

To remove this notice, visit: www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 2

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu

khảo sát, điều tra, kết luận trong luận văn này là trung thực và chưa từng

công bố ở bất kì công trình nào khác

Hải Phòng, ngày 20 tháng 12 năm 2016

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn

nhận được sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè và người thân

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo, tiến sĩ Nguyễn Thị Thuận -

người rất tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Ngôn

ngữ, khoa Ngữ Văn trường đại học Hải Phòng, cùng sự động viên, khích lệ

của bạn bè và người thân trong suốt thời gian vừa qua

Với thời gian và khả năng của bản thân có hạn, những gì làm được ở đề

tài này mới chỉ là bước đầu và không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi

chân thành mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của quý thầy cô và các bạn để

có thể bổ sung cho đề tài được hoàn chỉnh hơn

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1.NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 10 1.1 Khái niệm từ 10

1.2 Khả năng kết hợp của từ 10

1.3 Khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp trong câu. 12

1.4 Từ chỉ tâm trạng trong Tiếng việt 13

1.4.1 Khái niệm tâm trạng 13

1.4.2 Các từ biểu thị tâm trạng trong tiếng Việt 15

1.5 Hành động nói 19

1.5.1 Khái niệm hành động nói 19

1.5.2 Các kiểu hành động nói theo cách phân loại của J Searle 21

1.5.3 Cách sử dụng hành động nói trong giao tiếp 26

1.6 Vài nét về Nguyễn Bính và thơ Nguyễn Bính 26

1.6.1 Vài nét về nhà thơ Nguyễn Bính 26

1.6.2 Thơ và thơ tình Nguyễn Bính 28

1.7 Tiểu kết chương 1 35

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA TỪ CHỈ TÂM TRẠNG TRONG THƠ TÌNH NGUYỄN BÍNH 36

2.1 Xác định các kiểu từ loại của lớp từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính. 36

2.1.1 Kết quả thống kê 36

2.1.2 Từ chỉ tâm trạng là động từ 38

2.1.3 Từ chỉ tâm trạng là tính từ 45

Trang 5

2.1.4 Từ chỉ tâm trạng là danh từ 50

2.2 Khả năng kết hợp của từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính 53

2.2.1 Khả năng kết hợp của động từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính 53

2.2.2 Khả năng kết hợp của tính từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính 60

2.2.3 Khả năng kết hợp của danh từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính 63

2.3 Khả năng đảm nhiệm chức vụ ngữ pháp trong câu của từ biểu thị tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính 63

2.3.1 Khả năng đảm nhiệm chức vụ ngữ pháp của động từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính 64

2.3.2 Khả năng đảm nhiệm chức vụ ngữ pháp của tính từ biểu thị tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính 67

2.3.3 Khả năng đảm nhiệm chức vụ ngữ pháp của danh từ biểu thị tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính 69

2.4 Tiểu kết chương 2 71

CHƯƠNG 3 HÀNH ĐỘNG NÓI ĐƯỢC THỰC HIỆN BẰNG PHÁT NGÔN CHỨA TỪ BIỂU THỊ TÂM TRẠNG TRONG THƠ TÌNH NGUYỄN BÍNH 72

3.1 Nhận xét về TSXH của hành động nói được thực hiện bằng phát ngôn chứa từ biểu thị tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính 72

3.2 Hành động bộc lộ 74

3.3 Hành động biểu hiện 80

3.4 Hành động điều khiển 82

3.5 Hành động kết ước 86

3.6 Tiểu kết chương 3 88

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Giải thích

Trang 7

2.1 Bảng tổng hợp tần suất xuất hiện các kiểu từ loại của từ

chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

37

2.2 Bảng thống kê tần suất xuất hiện của các động từ chỉ

tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

38

2.3 Bảng thống kê tần suất xuất hiện của các tính từ chỉ tâm

trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

46

2.4 Bảng thống kê tần suất xuất hiện của các danh từ chỉ

tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

Bảng thống kê tần suất xuất hiện các hành động nói

trong các phát ngôn có chứa từ biểu thị tâm trạng trong

thơ tình Nguyễn Bính

73

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nghiên cứu văn học đặc biệt là nghiên cứu thơ ca từ góc độ ngôn

ngữ học đã và đang là một hướng đi đúng đắn và đem lại kết quả khả quan Việc lĩnh hội tác phẩm nghệ thuật giờ đây không chỉ dựa vào ấn tượng, cảm xúc chủ quan mà phải căn cứ vào các yếu tố ngôn ngữ được tác giả sử dụng trong tác phẩm Trong đó từ ngữ là một trong những yếu tố được chú ý khai thác hàng đầu Bởi cách chọn lọc và sử dụng ngôn ngữ sẽ cho ta biết được nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong sáng tạo nghệ thuật của mỗi tác giả

1.2 Trong vốn từ ngữ của người Việt có một lớp từ vừa giàu có về số

lượng, vừa phong phú, đa dạng về sắc thái biểu hiện đó là lớp từ chỉ tâm trạng Người Việt có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và sâu sắc, ý nhị trong cách thể hiện tình cảm nên bao nhiêu tâm tư, cảm xúc dồn hết vào ngôn ngữ Vì thế lớp từ miêu tả tâm trạng của người Việt vô cùng đặc sắc Đặc biệt trong thơ ca nhất là thơ tình - địa hạt vô tận của xúc cảm thì lớp từ tâm trạng có vị trí hết sức quan trọng không thể thay thế được Các cung bậc của cảm xúc, các biến thái tinh vi của tâm trạng, những chiều sâu vi diệu của tâm hồn được nhà thơ lột tả hết sức tinh tế và tài hoa thông qua lớp từ chỉ tâm trạng Đôi khi nó khiến ta phải ngỡ ngàng trước sức công phá diệu kì của ngôn từ

1.3 Nguyễn Bính là một nhà thơ nổi tiếng trên thi đàn Thơ Mới 1930 -

1945 nói riêng và trong nền thi ca dân tộc nói chung Ông cùng với Xuân

Diệu, Hàn Mặc Tử làm thành “ba đỉnh cao Thơ Mới” (Chu Văn Sơn) Với tài

năng thiên phú, ý thức nghệ thuật và sức sáng tạo dồi dào, Nguyễn Bính đã

để lại cho đời một văn nghiệp đồ sộ Nhưng người ta biết đến và mến mộ Nguyễn Bính nhiều hơn cả là ở lĩnh vực thơ ca, đặc biệt là thơ tình Tâm hồn Nguyễn Bính mộc mạc, chân chất nên thơ tình của ông rất đỗi đằm thắm, dung dị Điều làm nên nét độc đáo, riêng biệt của hồn thơ Nguyễn Bính chính là cái chất dung dị, thuần phác mà vẫn vô cùng tinh tế ấy Thơ tình

Trang 9

Nguyễn Bính là chuỗi các cung bậc cảm xúc, các giai điệu tâm hồn dạt dào

và sâu sắc Do vậy thơ và thơ tình Nguyễn Bính đã được sự quan tâm rất lớn của các nhà nghiên cứu, phê bình ngay từ khi xuất hiện cho tới tận ngày nay

Vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn “Từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính” làm đối tượng nghiên cứu của đề tài Thực hiện đề tài

này sẽ giúp chúng tôi đi sâu tìm hiểu lớp từ chỉ tâm trạng, để góp thêm một cách nhìn, cách đánh giá đối với phong cách nghệ thuật Nguyễn Bính; đồng thời phát hiện sự độc đáo, tài hoa trong cách sử dụng ngôn ngữ của nhà thơ - một trong những phương diện tạo nên tài năng và sức sống của hồn thơ Nguyễn Bính

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu từ biểu thị tâm trạng

Các từ biểu thị tâm trạng trong tiếng Việt tạo thành một nhóm từ đặc biệt mà hầu hết các nhà ngữ pháp tiếng Việt đều đề cập đến như Diệp Quang Ban, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức, Đỗ Thị Kim Liên,

Lê Biên Khi phân định từ loại tiếng Việt, đa số nhóm từ biểu thị tâm trạng được các tác giả xếp vào động từ, một số tác giả xếp vào loại tính từ

Xếp các từ chỉ tâm trạng vào từ loại động từ là các tác giả Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Anh Quế, Lê A, Diệp Quang Ban, Ủy ban khoa học xã hội, Lê Biên, Đỗ Thị Kim Liên, Tác giả Nguyễn Tài Cẩn khi phân tích trung tâm của động ngữ (cụm động từ) đã dựa vào khả năng kết

hợp thành tố phụ “xong”:“Động từ chỉ sự việc có khả năng kết thúc như ăn,

đọc”; Đối lập với những “động từ không có khả năng kết thúc như biết, hiểu, ghét”; Sau đó dựa vào sự kết hợp với phó từ chỉ mức độ như: hơi, rất, quá, lắm, để phân biệt những “động từ không có khả năng giảm mức độ”

như: yêu, ghét, lo sợ, giận với những “động từ không có khả năng tăng mức

độ” như : đánh, ngồi” [8, tr 255]

Tác giả Nguyễn Kim Thản dựa vào “Sự phân phối của các từ hư phục

vụ động từ” để chia tiếng Việt ra thành 6 nhóm, trong đó nhóm 5 và nhóm 6

Trang 10

phần lớn là các từ chỉ trạng thái tâm lí - tình cảm Tác giả Đỗ Thị Kim Liên khi phân loại động từ đã chia thành 6 nhóm, trong đó nhóm động từ chỉ trạng thái tâm lý thuộc nhóm thứ 6 Diệp Quang Ban xếp từ chỉ tâm trạng vào loại động từ chỉ hiện tượng tâm lí, Lê Biên xếp vào loại động từ cảm nghĩ, nói năng (thuộc nhóm động từ độc lập) Nguyễn Anh Quế xếp từ chỉ tâm trạng

vào động từ chỉ hoạt động tình cảm Lê A trong Giáo trình tiếng Việt 3 (nhà

xuất bản Đại học Sư phạm) xếp vào loại động từ chỉ trạng thái tâm lý, sinh lý

(thuộc nhóm động từ độc lập) Sách Ngữ pháp tiếng Việt của Ủy ban khoa

học xã hội xếp các từ chỉ tâm trạng vào tiểu loại động từ chỉ hoạt động tình cảm

Không đồng thuận với quan điểm trên, tác giả Đinh Văn Đức lại xếp

các từ chỉ tâm trạng vào loại tính từ Tác giả cho rằng: “Tính từ còn bao gồm

những đặc trưng được hình thành theo những chủ quan của con người trong quan hệ với đối tượng - những quan hệ của trạng thái tình cảm (vui, buồn, thương yêu )” [16, tr.150] Nhưng theo tác giả “Những tính từ thiên về trạng thái nên có sắc thái “động” (vui, buồn, thương, yêu, nhớ, mong) Cho nên đấy là những từ mà từ một phương diện khác còn có thể coi là động từ chỉ cảm xúc” [16, tr 160]

Như vậy, lớp từ biểu thị tâm trạng tuy có được các sách ngữ pháp đề cập đến song chưa được nghiên cứu một cách cụ thể mà mới chỉ dừng lại ở việc phân định từ loại, xem xét nó như một tiểu loại của động từ hoặc tính từ

Vận dụng lý thuyết về từ chỉ tâm trạng trong tiếng Việt, theo hiểu biết của chúng tôi đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về từ chỉ tâm trạng trong tác phẩm văn học Đó là các bài viết, khóa luận, luận văn cao học như:

- Lương Thị Bích Nga - Đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của từ biểu thị

tâm trạng trong ca dao tình yêu người Việt - Luận văn cao học ĐH Vinh, 2008

- Trần Thị Kim Chung - Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình

Xuân Diệu - Luận văn cao học ĐH Vinh, 2015

- Thu Hà - Động từ chỉ trạng thái tâm lí trong hai tập “Thơ thơ” và

Trang 11

“Gửi hương cho gió” của Xuân Diệu - đề tài NCKH - ĐH Hải Phòng, 2016

Trong các công trình này, các tác giả đã vận dụng lí thuyết từ chỉ tâm trạng để bước đầu đi vào nghiên cứu, thống kê sự xuất hiện và tìm hiểu ý nghĩa của từ chỉ tâm trạng trong các tác phẩm văn học cụ thể Nhưng nhìn chung sự nghiên cứu về từ chỉ tâm trạng vẫn còn khá thưa vắng và chưa thật

sự đạt được những thành tựu đáng kể

2.2 Lịch sử nghiên cứu thơ tình Nguyễn Bính

Nguyễn Bính là một nhà thơ mà ngay từ khi xuất hiện đã chiếm được cảm tình của rất đông độc giả Thơ tình của ông, trong suốt nhiều thập kỉ qua luôn thu hút sự quan tâm, tìm tòi, nghiên cứu của các nhà phê bình, thẩm định Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu lớn nhỏ viết về cuộc đời và tác phẩm Nguyễn Bính với quy mô và hướng tiếp cận, nghiên cứu khác nhau

Trước hết là những nghiên cứu ở góc độ phê bình văn học Công trình

đầu tiên nghiên cứu về thơ tình Nguyễn Bính là tác phẩm “Thi nhân Việt Nam”

của hai tác giả Hoài Thanh, Hoài Chân (xuất bản năm 1942), tiếp đó là cuốn

“Nhà văn Việt Nam hiện đại” của Vũ Ngọc Phan Sự đánh giá sắc sảo và tinh

tường của hai nhà phê bình Hoài Thanh và Vũ Ngọc Phan có ý nghĩa định hướng, gợi dẫn cho công việc nghiên cứu, tìm hiểu thơ tình Nguyễn Bính sau này

Thơ tình Nguyễn Bính tiếp tục được các nhà phê bình hàng đầu nghiên cứu Nhiều công trình nghiên cứu công phu, có tính khoa học cao đã

được giới thiệu như: Nguyễn Bính - thi sĩ của đồng quê (Hà Minh Đức),

Đường về chân quê của Nguyễn Bính (Đỗ Lai Thúy), Nguyễn Bính - thi sĩ của thương yêu (Hoài Việt), Ba đỉnh cao Thơ Mới Xuân Diệu - Nguyễn Bính

- Hàn Mặc Tử (Chu Văn Sơn), và hàng loạt bài viết, các công trình nghiên

cứu của các nhà văn, các học giả nổi tiếng như Mã Giang Lân, Đỗ Đình Thọ, Nguyễn Huy Thông, Lê Đình Kị, Tô Hoài, Ngô Viết Dinh, Đoàn Đức Phương, Phan Cự Đệ, Vương Trí Nhàn, Võ Tú Uyên…

Trang 12

Đỗ Đình Thọ trong bài viết Nguyễn Bính - nhà thơ của tình yêu đã có

một nhận định mang tính khái quát về nội dung và nghệ thuật thơ tình

Nguyễn Bính: “Nguyễn Bính đến với bạn đọc như một cô gái quê kín đáo,

mặn mà, duyên dáng Người đọc thấy ở thơ ông những nét dung dị, đằm thắm, thiết tha, đậm sắc hồn dân tộc, gần gũi với ca dao Cái tình trong thơ Nguyễn Bính luôn luôn mặn mà, mộc mạc, sâu lắng và tế nhị hợp với phong cách và điệu tâm hồn người Á Đông” [19, tr 316] Điều đặc biệt, Đỗ Đình

Thọ đã thấy được mối quan hệ độc đáo giữa hiện thực cuộc đời và thơ tình

Nguyễn Bính: “Thực ra thơ tình của Nguyễn Bính chính là cuộc tình duyên

lỡ dở của bản thân ông (…) Tiếng nói trong thơ tình Nguyễn Bính là tiếng nói chân thực, nói thay cho những kiếp người bị xã hội đẩy vào chân tường không lối thoát” [19, tr 319]

Đi sâu vào cái độc đáo, tinh tế của thơ tình Nguyễn Bính, Đoàn Đức

Phương trong bài viết: Bản sắc độc đáo của thơ tình Nguyễn Bính nhận định:

“Với Nguyễn Bính, những rung động sâu xa, thầm kín của tình yêu đã được

diễn tả thật mộc mạc mà tinh tế ở nhiều cung bậc khác nhau: từ lúc còn ngây thơ trong sáng mới bước vào tuổi yêu đương cho đến khi phải lòng ai đó rồi nhớ nhung tương tư, từ những nỗi khắc khoải mong chờ giận hờn khi hò hẹn đến những đau đớn xót xa khi cách trở biệt ly” [19, tr 313]

Thanh Việt trong bài viết Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính cũng có chung nhận định với các tác giả khác: “Thế giới thơ tình Nguyễn Bính là một

đóng góp thành công trong việc phát hiện và biểu hiện những ngôn ngữ tình yêu sâu kín, thể hiện mọi cung bậc tình cảm: nhớ nhung, tương tư, mong chờ, giận hờn, trách móc, xót xa, biệt ly, mộng mơ, ước mong hạnh phúc đến thất tình tan vỡ” [19, tr 321]

Đỗ Đình Thọ trong “Đôi lời cuốn sách” đã cảm nhận được vẻ đẹp ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính: “Ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Bính mộc mạc mà

duyên dáng, chân chất mà điêu luyện, đôi lúc xuất thần tạo nên một tứ lạ cuốn hút người đọc đến bất ngờ” [19, tr 301]

Trang 13

Trong chuyên luận “Nguyễn Bính - thi sĩ của đồng quê” Hà Minh Đức cho rằng: “Nguyễn Bính thích những ngôn ngữ nhiều màu sắc trong thơ Nếu

Hàn Mặc Tử nói nhiều đến hương vị trong đời, trong thơ, thì Nguyễn Bính lại chuộng màu sắc” [17, tr 160]

Nguyễn Quốc Túy trong bài viết “Thi Pháp dân gian trong thơ Nguyễn

Bính” khẳng định: “Ngôn ngữ Thơ Mới dân gian Nguyễn Bính trước hết là ngôn ngữ của ca dao của thơ ca dân gian nói chung và rộng hơn nữa là ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày của quảng đại quần chúng nhân dân được nhà nghệ sĩ dân gian Nguyễn Bính chọn lọc mài giũa và tinh luyện” [18 , tr 352]

Nhìn chung qua các thời kỳ khác nhau, thơ tình Nguyễn Bính cũng có những thăng trầm Nhưng những nghiên cứu, đánh giá về thơ tình Nguyễn Bính ít có sự khác biệt hay mâu thuẫn mà khá thống nhất Thơ tình Nguyễn Bính luôn nhận được sự yêu mến, trân trọng của độc giả và bản thân tác giả

ở bất cứ giai đoạn nào vẫn được gọi một cách trìu mến: “Thi sĩ của thương

yêu”, nhà thơ “chân quê”, “hồn quê”

Tiếp đến là những nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học Ở góc độ này, các công trình nghiên cứu về thơ tình Nguyễn Bính chưa nhiều, có thể kể

một số công trình tiêu biểu như: “Mã ngữ nghĩa của vốn từ vựng hay văn

hóa của làng quê trong thơ Nguyễn Bính (Nguyễn Nhã Bản và Hồ Xuân

Bình)

- Trần Đức Hùng - Ngôn ngữ tình yêu trong thơ Nguyễn Bính - Khóa

luận tốt nghiệp, ĐH Vinh, 2005

- Lê Thị Hiền - Ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính - Luận văn thạc sĩ,

ĐH Vinh, 2008

- Võ Thị Kim Thương - So sánh tu từ trong thơ Nguyễn Bính - Khóa

luận tốt nghiệp, ĐH Cần Thơ, 2011

- Nguyễn Thanh Đạt - Khảo sát trường nghĩa trong thơ Nguyễn Bính

trước năm 1945 - Khóa luận tốt nghiệp, ĐH Tây Nguyên, 2014

Trang 14

Nhìn một cách tổng quát, việc nghiên cứu thơ tình Nguyễn Bính đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Thơ tình Nguyễn Bính đã được phân tích đánh giá trên nhiều mặt, nhiều bình diện từ văn học, thi pháp học đến ngôn ngữ học Các tác giả đã có những phát hiện, những kiến giải sâu sắc, tinh tế về thơ tình Nguyễn Bính, từ cái tôi cá nhân độc đáo, riêng biệt của Nguyễn Bính trong làng Thơ Mới cho đến những đặc sắc của tư tưởng và phong cách Nguyễn Bính, nhận diện được về căn bản diện mạo của thế giới nghệ thuật thơ tình Nguyễn Bính, mô tả và bước đầu lí giải nhiều khía cạnh trong ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính…

Tuy nhiên, cho đến nay, theo các tài liệu mà chúng tôi được biết thì chưa có một công trình nào tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính với tư cách là một đối tượng độc lập Vì vậy,

chúng tôi chọn “Từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính” làm đối

tượng nghiên cứu của đề tài, nhằm làm rõ hơn nét độc đáo, tài hoa trong cách sử dụng ngôn ngữ tạo thành phong cách thơ Nguyễn Bính Sự kế thừa những thành quả của những người đi trước sẽ tạo đà cho chúng tôi giải quyết những nhiệm vụ mà luận văn đã đề ra

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Từ chỉ tâm trạng trong thơ tình

Nguyễn Bính

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Từ chỉ tâm trạng chỉ được chúng tôi nghiên cứu ở cả hai phương diện: đặc điểm ngữ pháp và khả năng thực hiện hành động nói

Ngữ liệu khảo sát gồm 153 bài thơ tình Nguyễn Bính in trong 2 ngữ

liệu: Văn bản thơ “Nguyễn Bính, thơ và đời” (Nhà xuất bản văn học) do Hoàng Xuân sưu tầm, tuyển chọn, “Tuyển tập Nguyễn Bính” (Nhà xuất bản

văn học 1986)

Trang 15

4 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này chúng tôi muốn tìm hiểu một cách sâu sắc và hệ thống về từ chỉ tâm trạng nói chung và từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính nói riêng Qua đó thấy được tài năng sử dụng ngôn ngữ của nhà thơ trong việc thể hiện các cung bậc cảm xúc, các trạng thái nội tâm phức tạp và vi diệu Cũng là góp thêm một cách nhìn, cách đánh giá về phong cách thơ Nguyễn Bính, sự tài hoa và độc đáo của một hồn thơ có sức sống lâu bền trong nền thi ca dân tộc

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài cần phải giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa các vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài

- Tìm hiểu đặc điểm ngữ pháp của các từ biểu thị tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

- Tìm hiểu khả năng thực hiện các hành động nói trong các phát ngôn

có chứa từ biểu thị tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

Từ đó rút ra những đặc trưng ngôn ngữ của thơ Nguyễn Bính qua lớp

từ chỉ tâm trạng

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được những nhiệm vụ trên, trong quá trình thực hiện, luận văn đã sử dụng những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp miêu tả: phương pháp này dùng để miêu tả phân tích các từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

- Thủ pháp thống kê, phân loại: Thủ pháp này dùng để thống kê, phân loại các từ chỉ tâm trạng và tần suất xuất hiện (TSXH) của từng từ trong thơ Nguyễn Bính Từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá về vai trò, giá trị của từ chỉ tâm trạng trong thơ Nguyễn Bính

- Thủ pháp so sánh - đối chiếu: Thủ pháp này dùng để so sánh, đối chiếu TSXH của các từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

Trang 16

- Thủ pháp cải biến: Luận văn sử dụng thủ pháp cải biến để phân tích giá trị của những kết hợp bất thường của từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính nhằm làm rõ sự sáng tạo tài hoa của tác giả

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

Chương 3: Hành động nói được thực hiện bằng các phát ngôn có chứa

từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

Trang 17

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

300 định nghĩa khác nhau về từ Nói chung, chưa có định nghĩa nào làm mọi người thỏa mãn

Khái niệm về từ đầu tiên do các nhà ngôn ngữ Ấn Âu đưa ra Chẳng

hạn học phái Alex-xan-dri đã định nghĩa: “Từ là đơn vị nhỏ nhất trong chuỗi

lời nói" (Dẫn theo V.A.Zveghinxep, Lịch sử ngôn ngữ học thế kỉ XIX - XX,

bằng tiếng Nga, M.1960, tr 13)

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu như : Lê Văn Lý, Phan Khôi, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Đỗ Hữu Châu, Đỗ Thị Kim Liên… đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ

Các định nghĩa về từ, nhìn chung ở mặt này hay mặt khác đều đúng, nhưng đều không đủ và không bao hàm hết được tất cả các đặc trưng của từ trong các ngôn ngữ khác nhau Trong luận văn này, chúng tôi xin đưa ra một

định nghĩa về từ của tác giả Đỗ Hữu Châu: Từ của tiếng Việt là một hoặc

một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu [10, tr 16] Lấy

đó làm cơ sở để khảo sát từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

1.2 Khả năng kết hợp của từ

- Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, từ không biến đổi hình thái do đó khả năng kết hợp của từ có một vai trò quan trọng làm bộc lộ ý

Trang 18

nghĩa ngữ pháp của từ Ví dụ cùng là một từ suy nghĩ nhưng kết hợp với các

hư từ khác nhau mang ý nghĩa ngữ pháp khác nhau Chẳng hạn kết hợp với

đang (đang suy nghĩ), suy nghĩ là động từ chỉ hoạt động trí tuệ Nhưng nếu

cho kết hợp với những ở đằng trước, ấy ở đằng sau (những suy nghĩ ấy) thì

suy nghĩ không còn là một động từ nữa mà đã chuyển thành danh từ biểu thị

khái niệm trừu tượng

- Khả năng kết hợp của một từ là năng lực tiềm tại của từ đó xuất hiện trong một tổ hợp từ có nghĩa với tư cách một yếu tố thường trực trong tổ hợp

từ đó Cho đến nay, khả năng kết hợp của từ trong tiếng Việt được hiểu ở ba mức độ như sau:

+ Khả năng kết hợp với hư từ: Khả năng kết hợp với hư từ nói lên được bản tính từ loạị của từ đang xét Những từ có tác dụng làm bộc lộ bản tính từ loại của từ cần xét như vậy được gọi là những chứng tố ( còn gọi là chứng tự, từ chứng, từ kiểm chứng, từ nhân chứng) Chứng tố là những từ có

ý nghĩa khái quát, những ý nghĩa quan hệ hay tình thái, thường chỉ kết hợp với những từ thuộc một loại nhất định Với những chứng tố, thường chỉ xác định được ba lớp từ chính trong tiếng Việt là lớp danh từ, lớp động từ và lớp tính từ (thêm vào đó là lớp động từ chỉ trạng thái tâm lí)

Ví dụ những từ có thể xuất hiện trước các chỉ định từ: này, nọ thì thuộc lớp danh từ; những từ có thể đứng sau đang, vẫn, hãy, đừng,

chớ…thuộc lớp động từ; những từ có thể đứng sau rất phần lớn thuộc lớp

tính từ Những từ vừa có thể đứng sau hãy, đừng, chớ vừa có thể đứng sau

rất là những động từ chỉ các hiện tượng tâm lí

+ Ở mức độ ổn định hơn, khả năng kết hợp của từ được đặt trên cơ sở cách cấu tạo của cụm từ chính phụ So với cách định loại từ bằng chứng tố,

tư tưởng này có bước tiến rõ rệt hơn là bao quát được nhiều lớp từ hơn Chẳng hạn nêu ra được các lớp phó từ của động từ, phân biệt chúng với các lớp con phó từ chuyên đi kèm với danh từ…Tuy nhiên cấu tạo của cụm từ

Trang 19

chính phụ vẫn chưa bao quát được tất cả các từ tồn tại thực trong tiếng Việt, còn để lại những từ chỉ xuất hiện ở bậc câu

+ Bởi lẽ đó, mức độ rộng nhất của sự kết hợp từ với từ, có khả năng bao quát được toàn bộ kho từ tiếng Việt phải tính đến các yếu tố không nằm trong cụm từ

Như vậy, đặc trưng về khả năng kết hợp của các lớp từ là dấu hiệu chủ yếu về ngữ pháp, có tác dụng quyết định trong việc phân định, quy loại các lớp từ tiếng Việt về mặt từ loại

1.3 Khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp trong câu

Mỗi từ loại (nhất là các từ loại cơ bản) có khả năng đảm nhiệm các

chức vụ ngữ pháp khác nhau ở cấu trúc câu Nói cách khác, một chức vụ ngữ pháp cụ thể có thể do những từ thuộc các từ loại khác nhau đảm nhiệm

Ví dụ:

- Sao rất sáng (Chủ ngữ là danh từ)

- Nó cảm thấy rất mệt mỏi (Chủ ngữ là đại từ)

- Thù hận làm con người già đi (Chủ ngữ là động từ)

- Đẹp nết hơn đẹp người (chủ ngữ là cụm tính từ)

Trong các chức năng mà mỗi lớp từ loại có thể đảm nhiệm, cần chú ý tới các chức năng chủ yếu, phổ biến, thường trực ở mỗi từ loại; cần phân biệt chức năng nguyên cấp (chuyên biệt) với chức năng thứ cấp (lâm thời) ở mỗi

từ loại Khái niệm chức năng không nên hiểu một cách bó hẹp, chỉ quan hệ với thành phần câu, với các chức vụ chính của câu, mà có thể chức vụ cú pháp chỉ quan hệ với một từ ở trong một thành phần của câu (trường hợp phụ ngữ của từ trong câu) Từ loại chỉ xem xét chức vụ cú pháp nào có tác dụng làm rõ đặc tính ngữ pháp của từ và giúp cho việc phân biệt phạm trù từ loại này với phạm trù từ loại khác

Điều quan trọng bậc nhất là cần nhận rõ mối quan hệ giữa bản chất từ loại với chức vụ ngữ pháp Bản chất từ loại bao gồm nhiều đặc trưng, trong

đó có chức vụ cú pháp Nó là cái chính, ổn định, quyết định chức vụ cú pháp

Trang 20

của từ Chức vụ cú pháp của từ chỉ là biểu hiện cụ thể một đặc tính ngữ pháp của từ loại (nó không phải là cái duy nhất và càng không phải là toàn bộ đặc tính ngữ pháp của từ) Chức vụ cú pháp chỉ là cái lâm thời, khả biến, phụ thuộc vào bản chất từ loại của từ Khi nghiên cứu từ loại, chức vụ cú pháp của từ là cần thiết, giúp cho việc phát hiện đầy đủ hơn các đặc trưng hoạt động ngữ pháp của từ

1.4 Từ chỉ tâm trạng trong Tiếng việt

1.4.1 Khái niệm tâm trạng

Theo nhà văn Pháp Victor HuGo: “cái rộng lớn nhất trên thế giới này

là biển cả, cái rộng lớn hơn biển cả là bầu trời, còn rộng lớn hơn cả bầu

trời là tâm hồn con người” Thật vậy, thế giới tâm hồn của con người vô

cùng phong phú và kì diệu Con người là động vật cao cấp nhất, cũng là động vật có trạng thái tâm lý, tình cảm, cảm xúc cực kì phức tạp và đa dạng Loài người đã cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, lí giải, cắt nghĩa hiện tượng tâm

lý của chính mình Khoa học tâm lý học đã ra đời từ rất sớm, có thể nói là song hành với sự hình thành, phát triển của loài người và ngày càng gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng

Từ những tư tưởng đầu tiên sơ khai về hiện tượng tâm lý, trải qua một thời gian dài nghiên cứu thử nghiệm, loài người đã chứng kiến biết bao cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các khuynh hướng, tư tưởng khác nhau Trong đó

có sự khác biệt giữa quan điểm của các nhà chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa

duy vật Các nhà chủ nghĩa duy tâm cho rằng: “Hiện tượng tâm lý là bản

chất siêu hình đặc biệt của sinh vật và được gọi là linh hồn” [21, tr 15]

Còn các nhà chủ nghĩa duy vật lại cho rằng: “Tâm lý là biểu hiện của vật

chất, là sản phẩm dưới dạng đặc biệt của vật chất, có tổ chức cao là não bộ của con người”.[ 21, tr 16]

Các khuynh hướng trên vẫn còn nhiều tranh luận và hiện nay vẫn còn

chưa ngã ngũ Nhưng chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất: Tâm lý là

sự phản ảnh chủ quan thế giới khách quan, có cơ sở tự nhiên là hoạt động

Trang 21

thần kinh và hoạt động nội tiết, được nảy sinh bằng hoạt động sống của từng người và gắn bó với các quan hệ xã hội lịch sử Tâm lý của con người là kết

quả của quá trình xã hội hóa Con người sống trong xã hội do đó chịu sự tác động của xã hội, mang những đặc trưng của xã hội đó Xã hội - trong từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử khác nhau sẽ có những đặc trưng và đặc điểm tâm lý riêng biệt

Hiện tượng tâm lý là những hiện tượng phức tạp nằm ngay trong thực thể diễn biến theo các cung bậc tình cảm và ý thức khác nhau khi chủ thể cảm nhận, tự giác nhận thức hoặc bị tác động bởi đối tượng nào đó Phân loại theo thời gian tồn tại và quá trình diễn biến, các nhà nghiên cứu chia hiện tượng tâm lý ra làm ba loại: Quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý (hay còn gọi là tâm trạng) và thuộc tính tâm lý Các quá trình tâm lý là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, có bắt đầu, diễn biến và kết thúc Ví dụ: các quá trình nhận thức như cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, các quá trình giao tiếp Các trạng thái tâm lý là các hiện tượng tâm

lý diễn ra trong thời gian tương đối dài và đóng vai trò làm nền cho các quá trình tâm lý và các thuộc tính tâm lý biểu hiện ra một cách nhất định Với các trạng thái tâm lý chúng ta thường chỉ biết đến khi nó đã xuất hiện ở bản thân, tuy nhiên thường không biết được thời điểm bắt đầu và kết thúc của chúng Ví dụ: Trạng thái tập trung, trạng thái mệt mỏi, trạng thái giận hờn, trạng thái buồn tủi,

Các thuộc tính tâm lý là những hiện tượng tâm lý đã trở nên ổn định, bền vững ở mỗi người tạo nên nét riêng về mặt nội dung của người đó Thuộc tính tâm lý diễn ra trong thời gian dài và kéo dài rất lâu có khi gắn bó với cả cuộc đời một người Ví dụ: tính khí, tính cách, quan điểm, niềm tin, năng lực, quan điểm, lý tưởng, thế giới quan Các quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý và thuộc tính tâm lý không hề tách rời mà luôn ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau

Trang 22

Như vậy, tâm trạng chính là một hiện tượng tâm lý Theo cuốn “Từ

điển Hán Việt” (2002) thì khái niệm “tâm trạng” được giải thích: “Tâm là lòng, tình cảm Trạng là trạng thái Tâm trạng là trạng thái tâm lý, cảm xúc”

[45, tr 435] Ví dụ: Tâm trạng buồn rầu Tâm trạng hoài nghi

“Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê (chủ biên) (2006) định nghĩa:

“Tâm trạng là trạng thái tâm lý, tình cảm” [39, tr 897] Ví dụ: Tâm trạng

buồn đau, tâm trạng vui vẻ, tâm trạng lo âu, tâm trạng sung sướng

Như vậy, tâm trạng là trạng thái tâm hồn Tâm trạng của con người vô cùng phức tạp, với những biến thái hết sức tinh vi: tâm trạng đau khổ, tâm trạng chán chường, tâm trạng vui tươi, tâm trạng sầu tủi, Tâm trạng thuộc

về một cá nhân cụ thể, trong một thời gian, không gian cụ thể và trước một đối tượng nhất định

1.4.2 Các từ biểu thị tâm trạng trong tiếng Việt

Những từ tiếng Việt biểu thị trạng thái tâm lý, tình cảm của con người được gọi là từ ngữ chỉ tâm trạng Ví dụ như: buồn, vui, giận, thương, oán, trách Nhóm từ này có số lượng khá lớn Tác giả Nguyễn Ngọc Trâm trong

“Đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ pháp của nhóm từ biểu thị tâm lí – tình cảm

trong tiếng Việt” [25, tr 32] đã dựa vào từ điển tiếng Việt thống kê sơ bộ

được 300 từ chỉ tâm trạng Nếu thu thập đầy đủ những từ phái sinh và các tổ

hợp, thành ngữ biểu thị tâm trạng (như hết hồn, méo mặt, tím ruột bầm gan,

chín nhớ mười thương, ) thì số lượng từ ngữ này chiếm trên 1% tổng số đơn

vị thu thập của từ điển tiếng Việt (gồm 36.000 mục từ)

Từ chỉ tâm trạng trong tiếng Việt thuộc lớp từ vựng cơ bản, biểu thị một trong những hoạt động cơ bản của con người đó là hoạt động tâm lý Tâm lý con người càng phức tạp, tinh vi thì càng đòi hỏi phương tiện biểu hiện - lớp từ chỉ tâm trạng phong phú và màu sắc Thu Tứ trong bài viết

“Tương lai từ vựng tiếng Việt” (in trên trang web chimviet.free.fr) cho rằng:

“Tiếng Việt quả rất nghèo từ trừu tượng khái niệm Nhưng nó có lẽ giàu từ

trừu tượng cảm xúc (từ tâm trạng) hơn bất cứ thứ ngôn ngữ nào trên thế

Trang 23

giới ” Thật vậy, các từ chỉ trạng thái tâm lí - tình cảm trong tiếng Việt có

tần số sử dụng cao Chẳng hạn, Lương Thị Bích Nga [23, tr 67] khảo sát

5054 bài ca dao viết về tình yêu đôi lứa trong “Kho tàng ca dao người Việt”,

phát hiện được 180 từ ngữ chỉ tâm trạng với 5502 lượt dùng, trong đó

“thương” xuất hiện 945 lần, “nhớ” 649 lần, “sầu” 238 lần, “chờ” 223 lần, “

buồn” 202 lần, “yêu” 195 lần Trong 1627 câu thơ lục bát của Truyện Kiều

thì từ “thương” được dùng 44 lần, “nhớ” 33 lần, “sợ” – 11 lần, “buồn” 10 lần, “ngờ” 9 lần, “yêu” 8 lần, “mong” 8 lần Điều này cho thấy từ chỉ tâm

trạng là lớp từ có ý nghĩa quan trọng và xuất hiện phổ biến trong văn học Việt Nam từ xưa tới nay

Như phần lịch sử vấn đề đã đề cập các từ biểu thị tâm trạng trong tiếng Việt tạo thành một nhóm từ đặc biệt mà hầu hết các nhà ngữ pháp tiếng Việt đều đề cập đến như Diệp Quang Ban, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức, Đỗ Thị Kim Liên, Lê Biên Khi phân định từ loại tiếng Việt, đa số nhóm từ biểu thị tâm trạng được các tác giả xếp vào động

từ, một số tác giả xếp vào loại tính từ

Xếp các từ chỉ tâm trạng như buồn, vui, yêu, ghét vào từ loại động

từ là các tác giả Nguyễn Tài Cẩn, Diệp Quang Ban, Lê Biên, Đỗ Thị Kim Liên, Tác giả Nguyễn Tài Cẩn khi phân tích trung tâm của động ngữ (cụm

động từ) đã dựa vào khả năng kết hợp thành tố phụ “xong”: “Động từ chỉ sự

việc có khả năng kết thúc” như ăn, đọc; Đối lập với những “động từ không

có khả năng kết thúc như biết, hiểu, ghét; Sau đó dựa vào sự kết hợp với phó

từ chỉ mức độ như: hơi, rất, quá, lắm, Để phân biệt những “động từ không

có khả năng giảm mức độ” như: yêu, ghét, lo sợ, giận với những “động từ không có khả năng tăng mức độ như : đánh, ngồi” [7, tr 255]

Tác giả Nguyễn Kim Thản dựa vào “Sự phân phối của các từ hư phục

vụ động từ” để chia động từ trong tiếng Việt ra thành 6 nhóm, trong đó nhóm

5 và nhóm 6 phần lớn là các từ chỉ trạng thái tâm lí - tình cảm Tác giả đã sử dụng 3 nhóm tiêu chí trong việc phân loại động từ: phụ từ biểu thị sự lặp lại

Trang 24

của hoạt động đi lại; phụ từ biểu thị phương hướng của hoạt động ra, vào,

lên, xuống; phụ từ biểu thị mức độ rất, hơi, khí Theo tác giả, nhóm từ biểu

thị trạng thái tâm lí - tình cảm có đặc trưng không thể kết hợp được với cặp phụ từ biểu thị sự lặp lại của hoạt động, những phó từ phương hướng và chỉ

kết hợp được với những phó từ biểu thị mức độ, như áy náy, băn khoăn, bứt

rứt, hối hận, lo sợ, lo ngại, mơ ước, luyến tiếc [46, tr 123] Tác giả Đỗ Thị

Kim Liên khi phân loại động từ đã chia thành 6 nhóm, trong đó nhóm động

từ chỉ trạng thái tâm lý thuộc nhóm thứ 6 Đó là các từ như : lo lắng, bồn

chồn, thoi thóp, Diệp Quang Ban xếp từ chỉ tâm trạng vào loại động từ chỉ

hiện tượng tâm lí, Lê Biên xếp vào loại động từ cảm nghĩ, nói năng (thuộc nhóm động từ độc lập) Nguyễn Anh Quế xếp vào động từ chỉ hoạt động tình

cảm Lê A trong Giáo trình tiếng Việt 3 (nhà xuất bản đại học sư phạm) xếp

vào loại động từ chỉ trạng thái tâm lý, sinh lý (thuộc nhóm động từ độc lập)

Sách Ngữ pháp tiếng Việt của Ủy ban khoa học xã hội xếp các từ chỉ tâm

trạng vào tiểu loại động từ chỉ hoạt động tình cảm

Ngược lại với quan điểm trên, tác giả Đinh Văn Đức lại xếp các từ chỉ

tâm trạng vào loại tính từ Tác giả cho rằng: “Tính từ còn bao gồm những

đặc trung được hình thành theo những chủ quan của con người trong quan

hệ với đối tượng - những quan hệ của trạng thái tình cảm (vui, buồn, thương yêu )” [16, tr 150] Nhưng theo tác giả “Những tính từ thiên về trạng thái nên có sắc thái “động” (vui, buồn, thương, yêu, nhớ, mong) Cho nên đấy là những từ mà từ một phương diện khác còn có thể coi là động từ chỉ cảm xúc” [15, tr 160]

Như vậy ta có thể thấy, một bộ phận lớn từ chỉ tâm trạng tiếng Việt

vừa giống tính từ vừa giống động từ, như: yêu, nhớ, mong, buồn, thương

Chúng có những đặc điểm ngữ pháp của động từ (kết hợp về phía trước với

phó từ hãy, đừng, chớ) và cũng có những đặc điểm ngữ pháp của tính từ (kết hợp về phía trước với phó từ rất, quá, khí) Vì vậy việc phân định rạch ròi

chúng là động từ hay tính từ quả không phải dễ dàng Luận văn chúng tôi

Trang 25

theo quan điểm của tác giả Diệp Quang Ban, dựa vào đối tượng chỉ tâm

trạng để xác định từ loại của từ chỉ tâm trạng: “Trong số các từ chỉ hiện

tượng tâm lí có những từ gắn với chủ thể người hoặc giống như người như biết, giận, hờn, phấn khởi, yêu , mà cũng có những từ có thể gắn với chủ thể là người hoặc giống như người và có thể gắn với chủ thể không phải người như vui, buồn Với loại thứ hai có thể phân biệt như sau: Những từ chỉ hiện tượng tâm lí nào gắn với chủ thể là người hoặc giống như người thì thuộc loại động từ, vì chúng có thể xuất hiện sau các phó từ “hãy, đừng,

chớ”, như chớ vội vui, đừng buồn mà, hôm nay nó vui thế Những từ nào gắn với chủ thể khác người thì thuộc loại tính từ, như ngày hội rất vui, cảnh vật buồn quá ”[5, tr 504]

Trong một số trường hợp, nếu đối tượng chỉ trạng thái là bất động vật nhưng được nhân hóa mang cảm xúc như con người thì từ chỉ tâm trạng vẫn được coi là động từ

Ví dụ: Nàng đi, Hà Nội buồn như chết

Hà Nội buồn như một nhỡ nhàng

[57, tr 13]

Hay: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào

[57, tr 23]

Trong tiếng Việt còn một số lượng rất lớn từ chỉ tâm trạng có 2 âm tiết trở lên thuộc lớp từ tượng thanh, tượng hình như: say đắm, tha thiết, bâng khuâng, dào dạt, âm thầm Bộ phận từ này vô cùng phong phú và diễn đạt tinh tế chiều sâu cảm xúc, nội tâm của con người Việc phân loại chúng vào động từ hay tính từ cũng còn nhiều tranh cãi, chưa thống nhất Lê Biên, Đinh Văn Đức xếp chúng vào tính từ Diệp Quang Ban, Vũ Thế Thạch xếp vào

động từ Chúng tôi đồng ý với quan điểm của Diệp Quang Ban: “Nhìn một

cách tổng quát, từ tượng thanh, tượng hình thiên hơn về phía động từ Tính chất động từ cao nhất là những từ tượng hình diễn đạt hiện tượng tâm lý,

Trang 26

chúng được dùng làm động từ và không có động từ gọi tên hiện tượng thay thế được chúng (như bâng khuâng, hậm hực, xốn xang ) Những trường hợp các từ này kết hợp với động từ thì chúng mang tính chất của từ loại tính từ,

và được dùng để chỉ cách thức của hoạt động, trạng thái nêu ở động từ (như

nhớ da diết, yêu say đắm, thương dạt dào ) Khi những từ này kết hợp được

với danh từ thì chúng có tính chất của từ loại tính từ Khi những từ này đứng sau loại từ thì chúng cùng với loại từ mang tính chất của danh từ, như nỗi

băn khoăn, niềm luyến tiếc.” [5, tr 516]

Như vậy, hiện tượng tâm lý - tình cảm được biểu thị trong tiếng Việt chủ yếu bằng từ loại động từ, tính từ Ngoài ra trong hoạt động ngữ pháp, các từ chỉ tâm trạng có thể kết hợp với các loại từ như nỗi, niềm, sự tạo thành danh từ như: niềm vui, nỗi buồn, sự cô đơn

Từ những ý kiến của các tác giả đi trước và căn cứ vào hoạt động ngữ pháp của từ chỉ tâm trạng trong ngữ cảnh cụ thể, chúng tôi cho rằng từ chỉ tâm trạng trong tiếng Việt gồm 3 loại: Động từ, tính từ và danh từ

1.5 Hành động nói

Hành động nói (speech act, cũng dịch là hành vi ngôn ngữ, hành động

ngôn ngữ) là một thuật ngữ nằm trong hệ thống lí thuyết tương ứng có tên là

lí thuyết hành động nói do John L.Austin, nhà triết học người Anh đề xướng

Hành động nói xuất hiện rõ nhất là trong hội thoại, khi người này giao tiếp với người kia Mỗi một lần mà một người nói nói ra được gọi là một “lượt lời”, và theo các nhà nghiên cứu về Dụng học thì chính hành động nói là đơn

vị cơ sở của lượt lời

1.5.1 Khái niệm hành động nói

Hành động nói được các nhà nghiên cứu Dụng học nước ngoài định

nghĩa là “một hành động được thực hiện trong việc nói ra một cái gì đó, như tạo

một lời hứa, nêu một câu hỏi, đặt một cái tên” [6, tr 89] Cụ thể như có ai đó nói

“Tuần sau tôi sẽ gặp lại các bạn”, lời nói này mang chở một “hành động hứa”, thầy giáo nêu một câu hỏi cho học sinh trong lớp về nội dung của một bài học là

Trang 27

một “hành động hỏi”, một chú chó con xinh xắn được sinh ra người ta có thể gán cho nó một tên gọi nào đó, làm như vậy gọi là “hành động đặt tên”

Ngoài ra còn có thể gặp nhiều hành động nói khác trong giao tiếp hằng ngày, như “chào”, “cảm ơn”, “xin lỗi”, “đề nghị” (nhờ người nghe giúp cho một việc gì đó), v.v

Như trên đã xác định, hành động nói là hành động thực hiện trong khi nói ra một cái gì, nhưng từ “nói” ở đây được hiểu khá rộng, không phải bao giờ nó cũng bắt buộc phải được thể hiện ra bằng âm thanh Rõ nhất là nó được xác định trong một cuộc giao tiếp bằng đối thoại (hay một cuộc trao đáp) Nhìn tổng quát, các cách thực hiện hành động nói thường gặp gồm bốn trường hợp sau đây

Trường hợp 1: Thực hiện hành động nói bằng phương tiện ngôn ngữ tường minh

Ví dụ: SP1(viết tắt của từ speaker tiếng Anh là Sp1) nói với SP2:

– Tôi hứa tuần sau sẽ ghé lại thăm anh

Sau khi nghe câu đó SP2 đáp:

– (Tôi) Cảm ơn sự quan tâm của anh

Đây là hai hành động nói “hứa” và “cảm ơn” tường minh, bởi trong

mỗi lời đó có từ hứa và từ cảm ơn do chính SP1 và SP2 đưa ra, và quan

trọng hơn là do chính họ thực hiện hành động “hứa” và “cảm ơn” đó

Trường hợp 2: Thực hiện hành động nói bằng các phương tiện kèm ngôn ngữ như gật đầu thể hiện sự đồng ý, lắc đầu thể hiện sự phủ định, mở

to mắt thể hiện sự ngạc nhiên Việc dùng các phương tiện này liên quan đến nếp văn hoá (thói quen) của từng dân tộc, không phải dân tộc nào cũng hoàn toàn giống dân tộc nào

Trường hợp 3: Một quãng im lặng mà người nghe dùng để đáp lại lời người khác nói với người đó cũng có giá trị như một hành động nói Chẳng hạn, người nói thứ nhất (Sp1) nói lời chào người nói thứ hai (Sp2 - tức người nghe), và người nghe có nghe thấy lời chào đó, nhưng người nghe im lặng

Trang 28

Quãng im lặng này nói lên rằng người nghe đó đang có phản ứng như thế nào đó đối với người nói Sp1 (chẳng hạn như vẫn còn giận người đó, hay tỏ

ý coi thường người đó )

Những hiện tượng sau đây cần xem xét riêng Trong quá trình giao tiếp, một bên nào đó có thể có những ý nghĩ thầm kín, như ngầm đánh giá, ngầm kết luận về điều người kia nói, nhưng không cần nói những ý nghĩ đó

ra, cũng tức là không cần đến hành động nói Còn khi một người đang suy

nghĩ xây dựng kế hoạch phân loại các đồ vật nào đó, thì người đó có tư duy,

nhưng những ý nghĩ đó không phải là hành động nói

1.5.2 Các kiểu hành động nói theo cách phân loại của J Searle

1.5.2.1 Tiêu chí phân loại của J Searle

Searle bắt đầu sự phân loại của mình bằng cách xác định các tiêu chuẩn để làm căn cứ Trong quá trình làm việc, Searle hai lần bàn về vấn đề

này Lần đầu (1969), ông nêu ra bốn điều kiện chung; lần thứ 2 (1975)

Searle cho rằng điều hạn chế trong cách phân loại của Austin là chưa định ra tiêu chuẩn phân loại do đó kết quả phân loại có khi dẫm đạp lên nhau Searle

đã đưa ra 12 chiều đo làm cơ sở cho sự phân loại, nhưng ông cho rằng quan trọng nhất là bốn chiều đo sau đây

a Đích ở lời

Mỗi kiểu hành động nói có đích (point) hay mục đích (purpose) khác nhau Ví dụ: Mục đích của hành động nói thỉnh cầu hướng tới việc đưa Sp2 (= người nói thứ 2, tức người nhận lời của người nói thứ nhất – SP1) đến việc thực hiện cái gì đó; mục đích của hành động trình bày là người nói giới thiệu một tình trạng của sự việc, có thể giới thiệu đúng hoặc không đúng, chính xác hoặc không chính xác; mục đích của hành động hứa hẹn nhằm ràng buộc người nói (Sp1) vào việc thực hiện cái gì đó

b Hướng khớp ghép lời với hiện thực mà lời đề cập đến Một số hành động ngôn trung có kiểu quan hệ giữa từ ngữ với thế giới hiện thực như là một bộ phận trong đích ngôn trung của chúng Ví dụ hành động trần thuật có

Trang 29

hướng khớp ghép "lời vào hiện thực" vì giá trị đúng sai mà nó nêu ra được xác minh trên cơ sở lời (phát ngôn) miêu tả có phù hợp hay không với sự vật được nói tới trong thế giới hiện thực; hành động điều khiển có hướng ghép

"hiện thực vào lời" bởi vì thế giới hiện thực phải thay đổi để thực hiện điều

mà người nói (Sp1) yêu cầu

c Trạng thái tâm lý được thể hiện

Ví dụ: Một lời (phát ngôn) trần thuật tỏ ra là Sp1 tin vào (p) (tức nội dung mệnh đề được đưa ra); hứa hẹn thể hiện ý định của Sp1 thực hiện cái gì đó; thỉnh cầu thể hiện mong muốn của Sp1 rằng Sp2 thực hiện cái gì đó

d Nội dung mệnh đề, ví dụ: Sp2 thực hiện A (tức làm một hành động nào đó) là đặc trưng của nội dung mệnh đề sai bảo, còn Sp1 thực hiện A là đặc trưng của nội dung mệnh đề hứa hẹn

1.5.2.2 Các hành động nói theo cách phân loại của J Searle

Searle chỉ sử dụng 4 tiêu chí (ông gọi là “chiều đo”) trên vào việc

phân loại các hành động nói Đó là : Đích ở lời, Hướng khớp ghép, Trạng

thái tâm lí được biểu hiện và Nội dung mệnh đề

Với 4 tiêu chí trên, Searle phân lập được 5 loại hành động nói sau:

a Các hành động tái hiện

Hành động tái hiện là hành động nói trình bày những gì mà người nói tin là đúng Các hành động tái hiện thường gặp là kể chuyện (được nghe thấy), báo tin, trình bày sự việc (như trong dạy học) Chẳng hạn, một người nghe tin qua đài truyền thanh và báo cho bạn của anh ta:

- Đài báo tối nay có thể có mưa đấy

Người này đã nói với bạn một việc anh tin là có thật bởi anh ta đã nghe đúng như vậy (Việc tối đó trời có mưa hay không đã có từ “có thể” báo trước)

Đó là một ví dụ cho biết đích, hay mục đích, của các hành động tái hiện là ở mức độ cam kết của người nói đối với việc thông báo tình hình của sự việc, đối với

Trang 30

tính chân thực của phán đoán được nêu ra Tất cả các yếu tố của lớp hành động tái hiện đều có thể đánh giá theo tính chân thực và tính giả dối

Phép thử đơn giản nhất đối với hành động tái hiện là liệu có thể đánh giá phát ngôn được đưa ra đó (không tính những cái khác) là chân thực hay giả dối hay không; nhưng đây không phải là điều kiện cần mà cũng không phải là điều kiện đủ, vì người nói có trường hợp buộc phải nói không đúng

sự thật khi cần thiết (thường thấy trong việc báo tin buồn) Nói cách khác, người nghe có thể đánh giá về phát ngôn người nói đưa ra, nhưng không bao gồm việc người nói nhất định phải nói đúng sự thật mới gọi là “hành động biểu hiện”

Hướng khớp ghép của các hành động biểu hiện là "từ ngữ vào hiện thực", tức là dùng từ ngữ để trình bày các sự việc có trong hiện thực Ví dụ: Một em bé nhìn thấy một con thỏ và dùng từ ngữ “con thỏ (kìa)” để báo cho bạn biết (hành động thông báo), như thế là em bé đó đã ghép từ ngữ vào con vật mà em nhìn thấy trên thực tế

b Các hành động điều khiển

Hành động điều khiển là hành động nói mà người nói dùng để làm cho người nghe làm một việc gì đó Các hành động điều khiển thường gặp là sai

khiến (kể cả trong các dịch vụ), khuyên nhủ, bảo ban (như trong việc dạy con)

Ví dụ: chúng ta thường nghe hoặc từng thực hiện những lời nói như sau:

- Cho đây hai cà phê đen!

- Làm ơn cho tôi mượn tờ báo một lát

- Im lặng nào!

Đích ở lời của hành động điều khiển là đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành động trong tương lai (hành động này được đưa ra bằng từ ngữ trong lời của người ra lệnh)

Hướng khớp ghép của hành động điều khiển là "hiện thực vào từ ngữ", được hiểu là hành động trong hiện thực được thực hiện căn cứ vào từ ngữ đã

Trang 31

cho trong hành động điều khiển Ví dụ: Trong một cửa hàng đồng hồ, khách vào và chủ hàng hỏi:

- Chị mua gì ạ?

Khách hàng:

- Chị đưa tôi xem chiếc đồng hồ kia

Chủ hàng lấy chiếc đồng hồ được chỉ định trao cho khách hàng Như

vậy, hành động “trao (đồng hồ)” của chủ hàng khớp với từ đưa trong lời của

khách hàng, rõ ràng hướng khớp ghép của hành động điều khiển trên là "hiện thực ghép vào từ ngữ” Ta nhớ rằng định nghĩa của hành động điều khiển là

“người nói muốn người nghe thực hiện một hành động nào đó trong tương lai” (Chú ý để khỏi lầm lẫn: trong hành động này, chủ điểm là hành động (việc làm), chứ không phải vật)

Cũng vậy, trong các ví dụ trên kia, việc “đưa (cà phê” của người phục

vụ là hành động làm cho "hiện thực khớp với từ ngữ “cho đây” trong lệnh của khách hàng; việc “đưa (tờ báo)” của người nghe là hành động làm cho hiện thực khớp với từ ngữ “cho mượn” trong đề nghị của người nói; sự “im lặng” có ở người nghe là hành động hiện thực khớp với từ ngữ “im lặng nào” trong yêu cầu của người nói

Hành động “hỏi” được coi là một trường hợp riêng của hành động điều khiển, vì nó cũng giống như hành động điều khiển là những cố gắng từ phía người nói làm cho người nghe làm một việc gì đó trong tương lai, chỉ

có điều việc đó trong trường hợp này là “cung cấp tin” (chứ không phải là việc làm khác)

c Các hành động kết ước

Hành động kết ước là hành động nói mà người nói dùng để ràng buộc chính mình vào việc thực hiện một hành động nào đó trong tương lai Các hành động kết ước thường gặp là hứa, cam đoan, cam kết (như trong làm hợp đồng)

Ví dụ:

- Tôi sẽ cho anh mượn quyển sách này khi đọc xong

Trang 32

- Tôi sẽ dịch tài liệu này giúp anh

- Chúng tôi không đi chuyến này đâu

Hướng khớp ghép của hành động cam kết cũng là “thế giới vào từ ngữ”, chỗ riêng của hành động kết ước là hành động trong tương lai cũng

chính là hành động của người đưa ra lời hứa, lời cam kết

d Các hành động bộc lộ

Hành động bộc lộ là hành động nói trình bày trạng thái tâm lí của người nói do sự cảm nhận về vật, sự việc nào đó Các hành động bộc lộ thường gặp gồm có: chào, cảm ơn, xin lỗi, than vãn, chúc tụng

Ví dụ :

- Tôi xin lỗi vì tôi làm sai (Nội dung mệnh đề gán cho người nói)

- Chúc mừng bạn vừa được phong Phó giáo sư.(Nội dung mệnh đề

gán cho người nghe)

Đích ở lời trong hành động bộc lộ là bày tỏ trạng thái tâm lí phù hợp với hành động nói

Về hướng khớp ghép, Searle cho rằng hành động bộc lộ không có hướng khớp ghép, nhưng người khác, như G Yule, lại cho rằng hướng khớp ghép của hành động bộc lộ là “từ ngữ vào thế giới”, thế giới ở đây là thế giới nội tâm của sự cảm nhận, thuộc về tâm lí Trạng thái tâm lí thay đổi tùy theo từng kiểu hành động bộc lộ cụ thể

e Các hành động tuyên bố

Hành động tuyên bố là hành động nói làm thay đổi thế giới thông qua

từ ngữ trong nội dung mệnh đề Hành động tuyên bố đòi hỏi những điều kiện thuộc về thiết chế xã hội, cụ thể người nói phải có cương vị chuyên biệt do thiết chế quy định và có ngữ cảnh riêng biệt thuộc thiết chế để làm cơ sở cho một sự tuyên bố thích hợp

Ví dụ :

- Linh mục (trong cương vị do tín ngưỡng này quy định) tuyên bố:

“Nay tôi xin tuyên bố hai người là vợ chồng”

Trang 33

- Trọng tài cuộc thi đấu tuyên bố với một đấu thủ có lỗi nặng: “Anh ra

khỏi sân”

Hướng khớp ghép của hành động tuyên bố là cùng một lúc là “từ ngữ vào thế giới” và “thế giới vào từ ngữ” Vì một hành động tuyên bố thành công khi nội dung mệnh đề làm thay đổi thế giới (từ ngữ vào thế giới) được thực hiện, và ngay trong sự thực hiện đó thế giới khớp với từ ngữ trong nội dung mệnh đề Trong hành động tuyên bố không có điều kiện chân thành, vì người tuyên bố nhân danh một thiết chế xã hội, không phải tuỳ tâm của người đó Mặt khác, nội dung mệnh đề của hành động tuyên bố cũng phải phù hợp với các quy định đã trở thành cơ sở cho tính chấp nhận được của hành động tuyên bố

1.5.3 Cách sử dụng hành động nói trong giao tiếp

Có hai cách sử dụng hành động nói trong giao tiếp đó là sử dụng hành động nói trực tiếp hoặc hành động nói gián tiếp

Căn cứ vào mặt cấu trúc hình thức của bốn kiểu câu phân loại theo mục đích nói truyền thống để nhận diện ra hành động nói trực tiếp hay gián tiếp

Theo G Yule 1996: “Chừng nào có mối liên hệ trực tiếp giữa một cấu

trúc và một chức năng, thì ta có một hành động nói trực tiếp Chừng nào có

một mối liên hệ gián tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng, thì ta có một

hành động nói gián tiếp”

Hiểu như vậy thì một câu trình bày (tường thuật) được dùng để tạo ra việc trình bày là một hành động tái hiện (biểu hiện) trực tiếp, nhưng một câu trình bày được dùng để tạo ra việc yêu cầu lại là một hành động điều khiển gián tiếp

1.6 Vài nét về Nguyễn Bính và thơ Nguyễn Bính

1.6.1 Vài nét về nhà thơ Nguyễn Bính

Bắt đầu từ những năm 30 của thế kỉ XX, trên thi đàn văn học Việt Nam hiện đại xuất hiện một nền Thơ Mới với rất nhiều tên tuổi tài danh Trong số đó nổi lên một gương mặt “quê mùa”, một giọng điệu “quen nhất”

Trang 34

nhưng cũng vô cùng đặc sắc, khó trộn lẫn, đương thời và hậu thế đều không

có ai sánh được Đó là nhà thơ Nguyễn Bính

Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh năm Mậu Ngọ (1918) trong một nhà nho nghèo tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Thuở bé, Nguyễn Bính không được đi học ở trường mà chỉ học ở nhà với cha là ông đồ Nguyễn Đạo Bình, sau được cậu ruột là ông Bùi Trình Khiêm nuôi dạy Thân sinh của Nguyễn Bính là người có tính tình điềm đạm, hiền lành, hiếu học, rất trọng chữ nghĩa Thân mẫu là cụ Bùi Thị Miện nổi tiếng xinh đẹp, đoan trang, con một gia đình khá giả có truyền thống yêu nước Bất hạnh thay, bà đã qua đời khi ở tuổi 24, lúc đó Nguyễn Bính chưa đầy 1 tuổi

Vợ mất sớm, gia cảnh lại túng thiếu, cụ đồ Nguyễn Đạo Bình tục huyền với bà Phạm Thị Duyên, nên từ khi mới hơn 10 tuổi (cuối năm 1932) Nguyễn Bính đã phải theo người anh cả là Nguyễn Mạnh Phác (tức Trúc Đường) ra Hà Đông, Hà Nội sinh sống Nguyễn Bính vốn đã được cậu Khiêm dạy chữ quốc ngữ, chữ Hán, hiểu biết ít nhiều thơ Đường và vốn sống dân gian, nay lại được Trúc Đường dạy thêm tiếng Pháp, văn học Pháp nên Nguyễn Bính có vốn văn hóa sâu rộng Ông cũng rất có năng khiếu thơ

ca, bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi Ông được giải khuyến khích của Tự Lực

Văn Đoàn với tập thơ “Tâm hồn tôi” (1940) Năm 1943 Nguyễn Bính được giải nhất văn học Nam Xuyên ở Sài Gòn với truyện thơ Cây đàn tỳ bà

Năm 1947 Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, nhà thơ hăng hái tham gia mọi công tác và được giữ những trách nhiệm trọng yếu như phụ trách Hội văn hóa cứu quốc tỉnh Rạch Giá, phó chủ nhiệm tỉnh bộ Việt Minh ở tỉnh Rạch Giá, sau làm ở ban văn nghệ thuộc phòng tuyên huấn quân khu Tám Thời gian này Nguyễn Bính sáng tác khá kịp thời

và đều đặn, cổ động tinh thần yêu nước quyết chiến quyết thắng giết giặc lập công Tháng 11 - 1954, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, công tác ở Hội nhà văn

Trang 35

Việt Nam Năm 1956 ông làm chủ bút tuần báo “Trăm hoa” đặt ở gần phố

Hòa Mã

Năm 1958, Nguyễn Bính về cư trú ở Nam Định và công tác tại Ty văn hóa thông tin Nam Định Ông đã góp phần vào sự trưởng thành của phong trào sáng tác văn nghệ của quê hương và thơ ông vẫn bám sát yêu cầu, nhiệm

vụ chính trị của địa phương cũng như của cả nước

Mùa thu năm 1965, Nguyễn Bính theo cơ quan văn hóa Nam Định sơ tán vào huyện Lý Nhân Nguyễn Bính mất đột ngột vào sáng 30 tết năm Ất

Tỵ (20 - 1 - 1966) lúc đến thăm một người bạn ở xã Hòa Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Nam Định, khi ông chưa kịp sang tuổi 49 Lúc này Nguyễn Bính vừa

hoàn thành và cho in bài thơ Quê hương, một bài thơ có những nét báo hiệu

của một giai đoạn mới trong đời thơ ông Nguyễn Bính ra đi để lại một sự nuối tiếc, thương nhớ xót xa trong lòng người hâm mộ

1.6.2 Thơ và thơ tình Nguyễn Bính

1.6.2.1 Thơ Nguyễn Bính

Sự hiện diện của Nguyễn Bính trong nền văn học dân tộc như là sự giao thoa giữa cái cũ và cái mới, giữa xưa và nay, giữa truyền thống và hiện đại Cái “điều quý vô ngần” ở Nguyễn Bính chính là “cái hồn đất nước” thể hiện ở

“tính cách ca dao” và chất “chân quê” mộc mạc (Hoài Thanh, Hoài Chân)

Không phải ngẫu nhiên mà Tô Hoài trong lời giới thiệu “Tuyển tập Nguyễn

Bính” đã viết: “Trên chặng đường ngót nửa thế kỉ đời thơ, mỗi khi những gắn

bó mồ hôi, nước mắt kia đằm lên ngây ngất nhớ thương, day dứt không thể yên, khi ấy xuất hiện những bài thơ tình quê tuyệt vời của Nguyễn Bính”

Nguyễn Bính vốn làm thơ từ nhỏ “Thần đồng thơ” có thơ từ tuổi 13 nhưng đến năm 18 tuổi mới có thơ “trình làng” Thơ Nguyễn Bính có phong

vị riêng biệt không trộn lẫn vào đâu được Đó là những câu thơ mang phong

vị đồng quê đậm đà, thân thuộc, lay gợi, cảm động làm xao xuyến trong lòng

người tình cảm quê hương xứ sở Bài thơ trình làng đầu tiên - Mưa xuân - đã

nhanh chóng chiếm được cảm tình của độc giả:

Trang 36

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy

Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ

Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay

[57, tr 7]

Dần dần, tài năng của Nguyễn Bính càng được nở rộ qua những sáng

tác: Chân quê, Cô lái đò, Tương tư, Hoa và rượu, Lỡ bước sang ngang

Ngót ba thập kỉ sáng tác thơ ca và khép lại khi tuổi đời chỉ mới 48 tuổi, Nguyễn Bính đã để lại cho văn học dân tộc một tài sản thi ca quý giá, gồm:

Các tác phẩm chính:

- Lỡ bước sang ngang (thơ), NXB Lê Cường, 1940

- Tâm hồn tôi (thơ), NXB Lê Cường, 1940

- Hương cố nhân (thơ) NXB Asiatie, 1941

- Mười hai bến nước (thơ), NXB Mộng Hàn, 1942

- Người con gái ở lầu hoa (thơ), NXB Hương Sơn, 1942

- Không trông nhan sắc (truyện), NXB Hương Sơn, 1942

- Trả ta về (thơ), NXB Văn Nghệ, 1955

- Đồng Tháp Mười (thơ) NXB Văn Nghệ, 1955

- Đêm sao sáng (thơ), NXB Văn học, 1962

Các tác phẩm khác:

Các tập thơ: Một nghìn cửa sổ (1941), Mây Tần (1942), Tập thơ yêu nước

(1947), Sóng biển cỏ (1947), Ông lão mài gươm (1947), Trăng kia đã đứng ngang đầu (1953), Những dòng tâm huyết (1953), Mừng Đảng ra đời (1953), Gửi người

vợ miền Nam (1955), Nước giếng thơi (1957), Tình nghĩa đôi ta (1960)

Truyện thơ: Cô gái Ba Tư (1943), Cây đàn tỳ bà (1944), Trông bóng

cờ bay (1957), Tiếng trống đêm xuân (1958)

Nhìn chung, cuộc đời Nguyễn Bính tuy ngắn ngủi nhưng sự nghệp sáng tác vô cùng phong phú và đa dạng Mỗi chặng đường sáng tác của ông đều có vẻ riêng song sức mạnh và tâm huyết có lẽ dồn vào giai đoạn trước

Trang 37

cách mạng Đặc biệt, thành công ở thể loại thơ ca đã khẳng định tài năng, phong cách Nguyễn Bính Độc giả biết và yêu mến Nguyễn Bính chính bởi các sáng tác thơ dung dị, đằm thắm yêu thương của ông Thơ ca là lĩnh vực hội tụ tất cả tinh khí, đam mê, tâm huyết của người thi sĩ này Chỉ với tòa lâu đài thơ, Người đã tạo dựng cho mình được một phong cách riêng, một vị trí riêng không ai thay thế được trên thi đàn dân tộc Với những đóng góp nghệ thuật của mình, năm 2000 Nguyễn Bính được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

1.6.2.2 Thơ tình Nguyễn Bính

Phong trào Thơ Mới 1932 - 1945 ra đời mang theo một cái tôi cá nhân, một cái tôi cá thể hóa trong cảm thụ thẩm mĩ Cái tôi trong Thơ Mới, ở một chừng mực nào đó, đã nói lên được một nhu cầu lớn về mặt giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã và tự do cá nhân Nó làm cho thế giới tâm hồn của con người ngày càng được

mở rộng và phong phú Và cái mới của Thơ Mới chính là đã coi cái tôi cá nhân như là một quan điểm, một tư cách để nhìn đời và phát ngôn với mọi người Sự ý thức cá nhân ấy đã lấy cái tôi cá nhân làm đề tài, thậm chí là đề tài trung tâm, và biểu hiện cao nhất của ý thức cá nhân ấy chính là trong đề tài tình yêu lứa đôi

Đề tài tình yêu có một sức hút kì lạ và đã quy tụ quanh nó đầy đủ các gương mặt anh tài của Thơ Mới: Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính Mỗi người một phong cách làm nên một vườn hoa tình ái đa sắc màu và vô cùng quyến rũ

Nếu như Xuân Diệu luôn rạo rực, tha thiết, đắm say và vồ vập trong tình yêu, Hàn Mặc Tử điên cuồng, khao khát nhưng tuyệt vọng và cô độc, thì Nguyễn Bính lại hoàn toàn khác Thơ tình của Nguyễn Bính chủ yếu gắn với mảng thơ chân quê nên hết sức nhẹ nhàng, đôn hậu, đầy yêu thương Có lẽ vì thế mà thơ Nguyễn Bính rất dễ đi vào lòng người và đã đến rồi thì đọng mãi, vấn vương mãi khôn nguôi

Sinh thời, chính Nguyễn Bính đã tự thừa nhận:

Tôi là thi sĩ của thương yêu

Trang 38

Lấy đâu áo cưới ngời hoa trắng

Với những mâm cau phủ lụa điều

[57, tr 107]

Trong thơ tình Nguyễn Bính hiện rõ một tâm hồn khao khát yêu đương, khao khát sự sẻ chia, đồng vọng Chính nhà văn Trúc Đường - anh trai Nguyễn

Bính đã từng nói: “Bính như người khát nước mùa hè, yêu nhiều thất bại không

ít, có lúc thất tình nhưng chỉ trong mơ thôi Vì người trong mộng, trong thơ, đến người ngoài đời là một khoảng cách khó khăn.” [24, tr 42]

Đôn hậu và giàu tình yêu thương, Nguyễn Bính đã thể hiện những rung động sâu xa và thầm kín của tình yêu thật mộc mạc mà tinh tế ở nhiều cung bậc, trạng thái khác nhau: Từ lúc còn ngây thơ trong sáng mới bước vào tuổi yêu đương:

Năm đã qua rồi trong lớp học Tôi ngồi nghe Uyển đọc bài thi

Hai ta trẻ lắm tình thơ dại

Chẳng biết yêu nhau phải những gì?

[57, tr 101]

Cho đến khi phải lòng ai đó rồi nhớ mong tương tư:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

[57, tr 28]

Từ những nỗi khắc khoải mong chờ giận hờn khi hò hẹn:

Chờ mãi anh sang anh chẳng sang

Trang 39

Đêm nay giăng rụng về bên ấy

Gác trọ còn nguyên gió thất tình

[57, tr 110]

Thực ra thơ tình của Nguyễn Bính chính là cuộc tình duyên lỡ dở của bản thân ông Tiếng nói trong thơ tình Nguyễn Bính là tiếng nói chân thực, nói thay cho những kiếp người bị xã hội đẩy vào chân tường không lối thoát Dẫu vậy, người thi nhân ấy vẫn yêu, vẫn đắm say cho dù tình yêu luôn lỡ dở, cay đắng

Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính mang đậm tính chất truyền thống Những khát vọng tình yêu đẹp đẽ của người “chân quê” mọi thời đại luôn được nhà thơ trân trọng, nâng niu Ông luôn ca ngợi những mối tình thủy chung, những người con gái chung tình và cuộc sống đoàn viên hạnh phúc

Có thể nói, trên thi đàn Thơ Mới, Nguyễn Bính là một trong số những cây bút sung sức nhất đặc biệt là ở mảng thơ tình Trong thời kì trước năm

1945, thơ tình Nguyễn Bính chiếm 7/10 tập thơ của ông Nhìn chung thơ Nguyễn Bính thể hiện một tình yêu trong sáng, ban sơ, nhẹ nhàng, kín đáo và

ý nhị Cũng có khi tình yêu ấy gặp phải những đổ vỡ, cay đắng, bi kịch nhưng không hề thác loạn hay sa vào bi lụy Thơ tình của ông trong bất cứ hoàn cảnh nào đều thể hiện sự đằm thắm, sâu sắc, tinh tế, phù hợp với truyền thống đạo

lí của dân tộc Nguyễn Bính đã tự tạo ra cho mình một mạch nguồn riêng, một lối đi riêng, một điệu hồn riêng trong thế giới thơ tình phong phú, rợn ngợp của Thơ Mới

Nhưng nếu chỉ có như vậy thì chưa đủ làm nên tài năng Nguyễn Bính Một nội dung hay, một cảm xúc đẹp đòi hỏi phải được thể hiện bằng một hình thức nghệ thuật độc đáo và điêu luyện mới tạo tác được những thi phẩm sống mãi với thời gian Không phải ngẫu nhiên mà nhà phê bình Chu Văn Sơn, trong

số rất nhiều gương mặt tài hoa của Thơ Mới đã lựa chọn Nguyễn Bính là một tronng 3 đỉnh cao của trào lưu này, cùng với Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử Điều đó

đã khẳng định tài năng nghệ thuật độc đáo của nhà thơ “chân quê” này

Trang 40

Thành công trước hết không thể không kể đến ở thơ Nguyễn Bính là thành công trên phương diện thể loại Trong lúc các nhà Thơ Mới say sưa với thơ tự do, thơ hiện đại thì Nguyễn Bính lặng lẽ quay về với thể thơ lục bát dân

dã, mộc mạc của dân tộc và trở nên đỉnh cao của thể loại này mà không một ai

sánh kịp “Đọc Nguyễn Bính, người sành lục bát nào cũng phải ngả mũ thán

phục trước những thành công tuyệt diệu của thi sĩ”[41,tr 175] Chu Văn Sơn

gọi đây là “bản năng lục bát” tiềm tàng trong tâm hồn Nguyễn Bính, bởi thế thơ Nguyễn Bính là sự cất lời của một “bản năng lục bát vô tận” Thơ lục bát

của Nguyễn Bính không ép vần, vần điệu đến tự nhiên như dòng trôi của từ ngữ Những câu thơ mang màu sắc ca dao, chứa chan phong vị đồng quê:

Hồn anh như hoa cỏ may

Một chiều cả gió bám đầy áo em

[57, tr 42]

Thơ lục bát của Nguyễn Bính vừa tuân thủ cách ngắt nhịp truyền thống của lục bát cổ vừa có sự phá cách linh động, sáng tạo phù hợp với việc diễn đạt tâm trạng của nhân vật trữ tình với những biến thái nội tâm tinh vi và phức tạp

Dở dang đã dở dang gì

Dở dang / cho đến thế thì / dở dang

[57, tr 54]

Hay:

Rồi / rồi / chị nói sao đây

Em ơi / nói nhỏ / câu này / với em

[57, tr 16]

Góp phần làm nên nhạc tính tiềm ẩn cho thơ tình Nguyễn Bính không thể không kể đến yếu tố thanh điệu Nguyễn Bính đã khéo léo phối hợp các yếu tố ngữ âm đặc biệt trong câu thơ, bài thơ để tạo ra âm hưởng và tính nhạc cho thi phẩm

Tóc tơ minh liễn da ngã

Một người càng nhớ càng xa một người

Ngày đăng: 04/01/2020, 12:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w