1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Tín hiệu thẩm mĩ người nông dân trong truyện ngắn của nhà văn Nam Cao

94 292 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói đó là công trình đầu tiên ở nước ta đề cập một cách khá đầy đủ và có hệ thống về khái niệm, những đặc trưng của THTM cùng cách tiếp cận ngôn ngữ - THTM trong tác phẩm văn học.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

_

TÍN HIỆU THẨM MĨ NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG

TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN NAM CAO

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố

trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích

dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Hải Phòng, ngày 20 tháng 12 năm 2016

Tác giả luận văn

To remove this notice, visit: www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng

dẫn tận tình và tạo điều kiện tốt nhất để chúng tôi sớm hoàn thành luận văn từ

TS Phạm Thị Kim Anh Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô.

Trong quá trình học tập chúng tôi cũng nhận được sự chỉ bảo tận tình

của các quí thầy cô trong việc giảng dạy và định hướng nghiên cứu đề tài.

Một lần nữa chúng tôi xin gửi tới quí thầy cô lời cảm ơn chân thành.

Đồng thời chúng tôi xin cảm ơn các bạn bè và đồng nghiệp đã hỗ trợ và

giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

Hải Phòng, ngày 20 tháng 12 năm 2016

Tác giả luận văn

To remove this notice, visit: www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN … ii

MỤC LỤC …… iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

MỞ ĐẦU …… 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN 10

1.1 Khái quát về lí thuyết tín hiệu thẩm mĩ văn chương 10

1.1.1 Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ văn chương 10

1.1.2 Một số đặc tính cơ bản của tín hiệu thẩm mĩ văn chương 13

1.2 Một số vấn đề lí luận và phương pháp phân tích diễn ngôn 19

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của diễn ngôn, phân biệt diễn ngôn và văn bản …… 19

1.2.2 Một số lí thuyết phân tích diễn ngôn 21

1.3 Vài nét về nhà văn Nam Cao và nhân vật người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao 26

1.3.2 Nhân vật người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao 26

1.3.2 Nhân vật người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao 27

1.4 Tiểu kết chương 1 28

CHƯƠNG 2: HÌNH THỨC NGÔN NGỮ BIỂU ĐẠT TÍN HIỆU THẨM MĨ NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO 29

2.1 Khảo sát các truyện ngắn của nhà văn Nam Cao viết về người nông dân 29

2.1.1 Cách thức khảo sát 29

2.1.2 Kết quả khảo sát 30

2.2 Hình thức ngôn ngữ biểu đạt các biến thể tín hiệu thẩm mĩ người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao 30

2.2.1 Từ ngữ làm tên gọi nhân vật 30

2.2.2 Từ ngữ biểu thị hoàn cảnh sống của nhân vật 33

2.2.3 Từ ngữ miêu tả nhân vật 37

2.2.4 Ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật 48

Trang 5

2.3 Dạng hằng thể của tín hiệu thẩm mĩ người nông dân trong truyện ngắn

Nam Cao 58

2.4 Tiểu kết chương 2 60

CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA TÍN HIỆU THẨM MĨ NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO 61

3.1 Ý nghĩa biểu trưng của một số biến thể tín hiệu thẩm mĩ chỉ người nông dân 61

3.1.1 Ý nghĩa biểu trưng của biến thể tín hiệu thẩm mĩ người nông dân - Lão Hạc 61

3.1.2 Ý nghĩa biểu trưng của biến thể tín hiệu thẩm mĩ người nông dân - Tư cách mõ 63

3.1.3 Ý nghĩa biểu trưng của biến thể tín hiệu thẩm mĩ người nông dân - Chí Phèo 65

3.2 Ý nghĩa biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ hằng thể chỉ người nông dân 67 3.2.1 Cuộc sống lam lũ thiếu đói cùng cực vì bị áp bức của người nông dân 67

3.2.2 Sự tha hóa khốc liệt nhân hình lẫn nhân tính của người nông dân 69

3.2.3 Người nông dân và những cái chết bi thảm 71

3.2.4 Những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân 74

3.3 Tiểu kết chương 3 80

KẾT LUẬN …… 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

NGỮ LIỆU KHẢO SÁT 87

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

Trang 7

2.2 Bảng thống kê tiêu chí đặt tên cho nhân vật là nông dân 30 - 31

2.3 Bảng thống kê, phân loại các yếu tố về hoàn cảnh sống của

2.4 Bảng thống kê những thảm cảnh của người nông dân 34 - 35

2.5 Bảng thống kê ngữ liệu miêu tả ngoại hình của người nông

2.6 Kết quả khảo sát về nguồn gốc xuất thân của nhân vật người

2.7

Kết quả thống kê phân loại lai lịch của nhân vật người nông

2.8 Bảng kết quả khảo sát vai giao tiếp của người nông dân 47

2.9 Khảo sát các cuộc thoại và lời thoại của các nhân vật người

2.10

Bảng kết quả khảo sát nhân vật giao tiếp, tình huống cuộc

thoại và số lượt lời / cuộc thoại trong "Chí Phèo" và "Lão

Hạc"

49 - 50

2.11 Bảng so sánh quan hệ quyền thế, vị thế giao tiếp và hoàn

cảnh giao tiếp giữa hai nhân vật Chí Phèo – Bá Kiến 50

Trang 8

Trần Đình Sử, Đáng chú ý nhất là bài viết Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học của Đỗ Hữu Châu trên Ngôn ngữ số 2/1990 [21] Có thể

nói đó là công trình đầu tiên ở nước ta đề cập một cách khá đầy đủ và có hệ thống về khái niệm, những đặc trưng của THTM cùng cách tiếp cận ngôn ngữ - THTM trong tác phẩm văn học Lĩnh vực này ở giai đoạn về sau đã có nhiều tác giả tiếp tục kế thừa

và phát triển trong các công trình nghiên cứu của mình như Trương Thị Nhàn, Phạm Thị Kim Anh, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Hoàng Kim Ngọc, Trần Văn Sáng…

THTM là một khái niệm có quan hệ mật thiết với nghiên cứu văn học nghệ thuật cũng như lí thuyết ngôn ngữ học Dưới góc độ nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ học - văn hóa - văn học, chúng ta đều thấy rằng, một tín hiệu ngôn ngữ (THNN) thông thường khi đi vào thế giới văn học thì đã được chuyển hóa thành một tín hiệu nghệ thuật, THTM - ngôn ngữ hay còn gọi là tín hiệu văn chương - THVC (Phạm Thị Kim Anh, 1999, 2005) Tín hiệu văn chương nói riêng và THTM nói chung có thể được hiểu là tín hiệu thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của các ngành nghệ thuật bao gồm toàn bộ những yếu tố của hiện thực, tâm trạng, cảm xúc,… được người nghệ

sĩ lựa chọn đưa vào tác phẩm nhằm chuyển tải các thông điệp nghệ thuật - thẩm mĩ

Để cảm hiểu, đánh giá đúng đắn và có cơ sở khoa học một tác phẩm văn học rất cần sự khảo sát, đánh giá hệ thống các THTM - văn chương trong tác phẩm Do đó gần đây vấn đề THTM cả về lí thuyết lẫn ứng dụng thực tiễn đã được nhiều học giả trong nước quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, công việc vận dụng những thành tựu của

lí thuyết này vào nghiên cứu các loại THTM văn chương (THVC) mới chỉ ở giai đoạn ban đầu, mà cũng mới chỉ diễn ra trong lĩnh vực thơ ca Đã có nhiều luận án, luận văn

đề cập đến những THVC trong ca dao, trong thơ Việt Nam hiện đại…, nhưng việc nghiên cứu các THVC trong truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch nói đều không có Ngay

Trang 9

ở những THVC được nghiên cứu, các tác giả cũng mới chỉ tập trung vào các tín hiệu đơn (tín hiệu vi mô) thuộc cấp độ tương đương với từ, hoàn toàn chưa có ai tìm hiểu tín hiệu phức (tín hiệu vĩ mô) ở các cấp độ lớn hơn từ

Bên cạnh đó, gần 30 năm trở lại đây, ngôn ngữ học đã có sự chuyển biến mạnh

mẽ từ khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ ở trạng thái cấu trúc tĩnh sang nghiên cứu trạng thái động, trong sử dụng, gắn liền với những thành tựu to lớn của Dụng học, của Phân tích diễn ngôn Thành tựu của các phân ngành này cùng một lúc tác động sâu rộng đến công cuộc nghiên cứu văn học, lĩnh vực phân tích ngôn ngữ văn chương Có thể nói, chưa bao giờ, giữa ngôn ngữ học và văn học lại có sự gắn kết, bổ sung cho nhau những thế mạnh, những thành quả nghiên cứu chặt chẽ đến như thế Việc vận dụng các thành tựu mới của ngôn ngữ học vào nghiên cứu tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ đã và đang thu được nhiều kết quả tốt đẹp, song mới chỉ là bước đầu, rất cần triển khai sâu rộng công cuộc này hơn nữa

Trong các nhà văn Việt Nam hiện đại, Nam Cao là một cây bút bậc thầy về nghệ thuật viết truyện ngắn Truyện của ông luôn thể hiện một ngòi bút già dặn sắc sảo trong khả năng phản ánh hiện thực, trong việc xây dựng hình tượng nhân vật, đặc biệt là trong sử dụng ngôn ngữ Không thể tính hết được đã có bao nhiêu công trình khoa học nghiên cứu về văn nghiệp Nam Cao, đến mức có nhiều ý kiến cho rằng đã hình thành một “Nam Cao học”- ngành khoa học chuyên nghiên cứu về Nam Cao và tác phẩm của ông (cũng như đã từng có một “Truyện Kiều học” đồ sộ) Tuy vậy, qua tìm hiểu các công trình ấy, chúng tôi đều nhận thấy rằng chưa có ai nghiên cứu các tín hiệu thẩm mĩ - văn chương trong sáng tác của ông Thực tế này cũng đúng với tất cả các sáng tác truyện ngắn, tiểu thuyết của các nhà văn khác

Thế giới nhân vật của Nam Cao tập trung vào hai tầng lớp xã hội cơ bản là người nông dân và người trí thức tiểu tư sản nghèo thời Pháp thuộc Tìm hiểu nghệ thuật xây dựng thế giới các nhân vật này cũng là một trọng tâm được nhiều nhà nghiên cứu lâu nay lưu ý và đã thu được nhiều thành tựu Dưới ánh sáng của lí thuyết THTM, có thể coi đây cũng là hai THTM (thuộc cấp độ vĩ mô) bao trùm lên toàn bộ các tác phẩm của ông Song như trên đã nói, vấn đề này cũng chưa được nhà nghiên cứu nào đề cập đến

Trang 10

Từ những lí do trên, đặc biệt xuất phát từ lòng yêu thích văn chương Nam Cao,

chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình là "THTM người nông dân trong

truyện ngắn của Nam Cao", một THTM trung tâm trong tác phẩm của ông Qua luận văn này, chúng tôi muốn góp thêm một tiếng nói vào đề tài THTM nói chung, đem đến một cách tìm hiểu mới về ngôn ngữ truyện hiện đại Việt Nam dưới ánh sáng của một lí thuyết ngôn ngữ học hiện đại Bên cạnh đó, chúng tôi cũng thấy rằng, việc vận dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn (DN) vào khảo sát ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao sẽ giúp phát hiện thêm những nét độc đáo trong việc xây dựng hình tượng người nông dân, một phương diện làm nên cái hay, cái đẹp, cái tinh tế của ngòi bút đầy chất sống thực tế của nhà văn Kết quả nghiên cứu của đề tài còn góp thêm kinh nghiệm thực tiễn về việc phân tích THTM và DN các tác phẩm văn học thuộc thể loại tự sự nói chung trong dạy học văn chương ở các bậc đào tạo

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Những nghiên cứu về THTM, nhìn tổng thể, cho đến nay vẫn chưa có nhiều công trình có tính chuyên luận nào về THTM, ngoài một số luận án, luận văn được bảo vệ trong các trường đại học và một số bài báo về các vấn đề liên quan được đăng rải rác trên các tạp chí chuyên ngành Mặt khác, THTM là một khái niệm có tính liên ngành, có thể khảo sát từ nhiều góc độ: lý thuyết thông tin - điều khiển học, mỹ học, lý luận văn học, thi pháp học, ngôn ngữ học Ở nước ta, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các hình thức thẩm mỹ cụ thể của văn học như những "mẫu đề" (môtíp), những biểu tượng, biểu trưng, những ẩn dụ, hoán dụ Tuy nhiên, vẫn còn thiếu nhiều công trình nghiên cứu dày dặn ngôn ngữ văn học từ góc nhìn THTM, đặc biệt là từ phía nghiên cứu văn học

Từ phía các nhà ngôn ngữ học, có thể thấy rằng vài thập kỉ gần đây, nhiều vấn

đề của văn học đã được soi rọi dưới cái nhìn của ngôn ngữ, trong đó vấn đề lý thuyết THTM Ở Việt Nam, đó là các tác giả Hoàng Tuệ, Hoàng Trinh, Phan Ngọc, Đái Xuân Ninh, Phạm Thị Kim Anh, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đào Thản, Phan Ngọc, Đỗ Việt Hùng Nhiều luận án khai thác theo hướng nghiên cứu này cũng đã khẳng định được ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu văn học từ góc độ ngôn ngữ Năm 1990 tác giả Lê Thị Tuyết Hạnh đã ứng dụng phương pháp nghiên cứu ngữ nghĩa học vào

Trang 11

việc phát hiện và khẳng định giá trị của một số THTM có tần số xuất hiện cao ở thơ

trong luận văn Một số tín hiệu thẩm mĩ trong thơ tình Xuân Quỳnh [36], từ đó góp cơ

sở cho việc tìm hiểu những đặc sắc và sáng tạo về nội dung cũng như nghệ thuật

của phong cách thơ Xuân Quỳnh Đến năm 1995 luận án Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mĩ - không gian trong ca dao của tác giả Trương Thị Nhàn [59] đã

vận dụng những phương pháp và kiến thức ngôn ngữ học hiện đại vào nghiên cứu một phương diện của văn học – phương diện THTM, phát hiện và phân tích ý nghĩa của các tín hiệu được khảo sát, góp phần đưa ngôn ngữ học vào nghiên cứu văn học

và xử lý THTM trong văn học

Trong khoảng hơn một thập kỷ trở lại đây, các luận văn sau đại học như: Tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Tố Hữu của Nguyễn Bích Khải (2007) [42] và luận văn Khảo sát một số tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa "sông" - "nước" trong ca dao Việt Nam của Kiều Thị Phong [64] Luận án Tiến sỹ của Phạm Thị Kim Anh (2005) đã đề

cập đến Tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa cây trong thơ Việt Nam [7], Ở đó các

tác giả của đã sử dụng phương pháp phân tích ngữ cảnh tu từ để làm rõ giá trị thẩm mĩ của các tín hiệu được khảo sát

Luận án của Nguyễn Thị Ngân Hoa Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam (2005) [39] đã phân loại và phân tích sự

phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong các giai đoạn thơ ca khác nhau

dưới ánh sáng của lý thuyết về biểu tượng Luận văn của Nguyễn Ngọc Bích Tìm hiểu tín hiệu thẩm mĩ hoa trong Truyện Kiều của Nguyễn Du trên ba bình diện: kết học, nghĩa học, dụng học (2008) [17] đã sử dụng phương pháp phân tích ngữ cảnh tu từ để

làm sáng rõ giá trị của các THTM được khảo sát Nhiều công trình đã vận dụng khái niệm “biểu trưng”, “biểu tượng” để nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm văn học, song

thực chất đó cũng là nghiên cứu về THTM Luận văn của Lưu Văn Din (2013) với Đặc điểm ngôn ngữ trơ Hàn Mặc Tử từ góc nhìn THTM [27] Loạt các luận văn về THTM của Đại học Hải Phòng: THTM Trăng trong thơ Việt Nam 1945- 1975 của Nguyễn Thị Hồng Nhung (2011), THTM cây, cỏ, lau trong thơ Chế Lan Viên của Phạm Thu Thưởng (2011), THTM Trường Sơn trong thơ Tố Hữu và thơ Phạm Tiến Duật của Đỗ Mai Hương (2012), THTM em, tiếng hát trong thơ Hoàng Cầm của

Nguyễn Thị Ánh (2013),…Nội dung các luận văn này đều nghiên cứu một

THTM-VC trong thơ dựa theo các lý thuyết của ngôn ngữ học như: lý thuyết về tín hiệu, lý

Trang 12

thuyết về hệ thống, lý thuyết về biểu tượng, trường nghĩa… trong bối cảnh của sự gặp

gỡ, giao thoa giữa hai ngành ngôn ngữ học và văn học

Gần đây, cũng đã có người nghiên cứu THTM trong tác phẩm tự sự là truyện

ngắn Tác giả Lê Thị Thùy Vinh đã hướng dẫn đề tài Tín hiệu thẩm mĩ "nước" trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư (2013), nhằm cung cấp và khẳng định những vấn

đề lý thuyết về phong cách học đồng thời phát hiện ý nghĩa biểu trưng của THTM

nước trong tác phẩm truyện Việc nghiên cứu THTM nước như vậy được coi là bước

đầu tiên của việc ứng dụng lí thuyết THTM vào thể loại truyện ngắn, song ở đây mới

chỉ dừng lại ở THTM đơn (từ nước) Cho đến nay vẫn chưa có ai nghiên cứu loại

THTM phức (THTM cấp độ vĩ mô)

2.2 Những công trình nghiên cứu về sáng tác của Nam Cao: Không ít những nhà văn cùng thời, những nhà phê bình trong giới chuyên môn đã tốn bao nhiêu bút mực để bàn luận về văn chương của con người tài hoa này Có nhiều công trình nghiên cứu về tác giả Nam Cao, từ vi mô đến vĩ mô với những nội dung hết sức đa dạng và phong phú Chúng tôi tạm chia những công trình này thành hai hướng chính: nghiên cứu về nội dung và nghiên cứu về nghệ thuật trong tác phẩm của Nam Cao

Có rất nhiều công trình nghiên cứu về nội dung trong tác phẩm của Nam Cao

Trong đó, tiêu biểu là những công trình: Cái đói và miếng ăn trong truyện Nam Cao, Nguyễn Đăng Mạnh (Chân dung và phong cách, Nxb Trẻ, 2000) [56]; Nam Cao một đời văn, Lê Tiến Dũng (Nxb Trẻ, 2001) [28]; Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, Trần

Đăng Suyền (Nxb Khoa học Xã hội 2002) [68]

Cũng có không ít công trình nghiên cứu nghệ thuật trong tác phẩm của Nam

Cao Các công trình tiêu biểu là: Nam Cao và đôi nét về nghệ thuật sáng tạo tâm lý,

Hà Minh Đức (Tạp chí văn học số 6, 1982) [31]; Qua việc tìm hiểu về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật người nông dân của Nam Cao thì Phong Lê đã phát hiện

được những nét mới trong những sáng tác của nhà văn trong: Văn học Việt Nam hành trình của thế kỉ XX, Phong Lê (Nxb ĐH QGHN, 1997) [49]; Bên cạnh đó còn có: Nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm Nam Cao, Vũ Khắc Chương (Nxb Văn học, 2000) [26]; Một vài đặc điểm thi pháp truyện ngắn Nam Cao, Vũ Thăng (Nxb Quân

đội nhân dân Hà Nội, 2001) [71]

Trang 13

Tóm lại, đã có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về văn nghiệp Nam Cao song chưa có ai nghiên cứu các THTM-VC trong sáng tác của ông Tiếp thu thành tựu của những người đi trước, luận văn của chúng tôi tập trung vào nghiên cứu một THTM cơ bản trong sáng tác của ông chưa được nhà nghiên cứu nào đề cập đến

Đó là: Tín hiệu thẩm mĩ người nông dân trong truyện ngắn của Nam Cao

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu Tín hiệu thẩm mĩ người nông dân trong truyện ngắn của Nam

Cao, chúng tôi nhằm hướng tới những mục đích sau:

- Nắm được sự chuyển hoá từ tín hiệu ngôn ngữ thông thường trở thành tín hiệu thẩm mĩ trong thế giới nghệ thuật truyện Chứng minh được tầm phổ quát của lí thuyết THTM qua kết quả nghiên cứu đề tài, nắm được vai trò hỗ trợ đắc lực cùng cách thức vận dụng lí thuyết này trong việc tiếp nhận nghệ thuật văn chương nói chung, nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao nói riêng

- Có cái nhìn khái quát, nhiều chiều về hình tượng người nông dân trong

những truyện ngắn của nhà văn Nam Cao

- Chúng tôi hi vọng rằng những kết quả đạt được của luận văn này sẽ có những bổ sung đối với bộ môn ngôn ngữ học và giúp ích thiết thực cho việc giảng dạy tác phẩm của Nam Cao trong nhà trường từ góc độ vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học Từ đó làm rõ thêm ý

nghĩa biểu tượng của tín hiệu thẩm mĩ người nông dân trong giảng dạy các tác phẩm truyện,

đồng thời góp tiếng nói khẳng định thêm những thành công của nhà văn Nam Cao trong văn học hiện đại Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn triển khai các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản nhất về lí thuyết THTM, lí thuyết

PTDN để có cơ sở phương pháp luận vận dụng phân tích THTM người nông dân

trong truyện ngắn Nam Cao

- Thống kê, phân loại, miêu tả các đơn vị ngôn ngữ được sử dụng để xây dựng các nhân vật nông dân trong truyện ngắn Nam Cao để đi đến nhận diện các

Trang 14

đặc trưng chung về hình thức biểu đạt của THTM người nông dân

- Từ việc tổng hợp, tiếp cận những vấn đề lí luận, từ kết quả thống kê, phân loại đã thu thập được, chúng tôi tiến hành việc phân tích- miêu tả sự chuyển hoá vượt cấp như thế nào để từ những tín hiệu ngôn ngữ thông thường chỉ người nông dân đã trở thành THVC biểu đạt hình tượng người nông dân trong thế giới nghệ thuật truyện ngắn của Nam Cao Những kết quả này sẽ góp phần soi sáng thêm lý thuyết THTM, lí thuyết PTDN văn chương, đặc biệt là các DN thuộc thể loại truyện ngắn Bên cạnh đó, các kết quả nghiên cứu còn giúp nhận ra được những dụng ý nghệ thuật của nhà văn trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật

người nông dân trong sáng tác của mình, góp thêm tiếng nói khẳng định những

thành công của Nam Cao trong văn học hiện đại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi tư liệu nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “THTM người nông dân trong

truyện ngắn Nam Cao”

4.2 Phạm vi tư liệu nghiên cứu

Để triển khai nhiệm vụ đề tài, chúng tôi tiến hành khảo sát 22 truyện ngắn

của nhà văn Nam Cao trong Tuyển tập Nam Cao, (NXB Văn học, năm 2016)

[81] Những tác phẩm này đều ít nhiều viết về người nông dân Từ 22 truyện ngắn thu thập được, luận văn tập trung khảo sát các phương tiện ngôn ngữ biểu thị hoàn cảnh cuộc đời, hành động, tính cách nhân vật, các cuộc hội thoại… của

các nhân vật là nông dân nhằm đi đến đạt được mục đích đã đặt ra

5 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi đã vận dụng phối hợp các phương pháp sau để nghiên cứu đề tài:

5.1 Phương pháp thống kê

Luận văn thống kê các từ ngữ, câu văn, đoạn văn biểu thị hoàn cảnh, số phận, miêu tả ngoại hình, hành động, nội tâm nhân vật, các cuộc đối thoại trực tiếp, một số cuộc đối thoại, độc thoại nội tâm của nhân vật nông dân… trong 22

Trang 15

truyện ngắn Nam Cao Qua đó, tiến hành phân loại, phân tích đi đến xác định đặc

trưng của THTM người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao

Phương pháp này được sử dụng để tìm ra đầy đủ sự xuất hiện của đối tượng nghiên cứu Sau khi thống kê đầy đủ, phương pháp phân loại được sử dụng

để tìm ra những biểu hiện khác nhau của tín hiệu nghệ thuật người nông dân

trong truyện ngắn của Nam Cao

5.2 Phương pháp miêu tả

Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu để phân tích, miêu tả tất cả các ngữ liệu được khảo sát trong truyện ngắn Nam Cao viết về người nông dân Từ các ngữ liệu, chúng tôi tiến hành miêu tả - phân tích các hình

thức ngôn ngữ biểu đạt THVC người nông dân qua các từ ngữ, các câu văn, đoạn

văn, văn bản biểu thị hoàn cảnh, số phận, khắc họa ngoại hình, tính cách nhân vật, các cuộc đối thoại, độc thoại nội tâm…của các nhân vật nông dân Dựa vào những kết quả về việc phân tích- miêu tả các hình thức ngôn ngữ, chúng tôi tiến hành miêu tả- phân tích nội dung, ý nghĩa của các hình thức ngôn ngữ đó Đây

chính là cách thức chủ yếu để rút ra các YNTM của THVC được xem xét

5.3 Phương pháp phân tích hội thoại và phân tích diễn ngôn

Chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp này để phân tích các hành động nói, phát hiện câu ngôn hành hàm ẩn, các hàm ý…trong các cuộc hội thoại nhằm đi đến xác định được cách nói năng, cách giao tiếp của người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao, một cách thức quan trọng để khám phá tính cách, nội tâm nhân vật Phương pháp chung thường được sử dụng ở đây là phân tích ngữ liệu trong mối quan

hệ chặt chẽ với ngữ cảnh và phân tích ý nghĩa lời nói của nhân vật

Phương pháp PTDN còn được áp dụng khi khảo sát sự xuất hiện của các từ

ngữ chỉ người nông dân đi kèm các từ ngữ chỉ các đối tượng khác ở những bối cảnh

khác nhau với tư cách là những THVC thuộc loại biến thể quan hệ Ở đây, chúng tôi chú ý phân tích các loại biến thể này về hình thức biểu đạt cũng như ý nghĩa của

chúng để đi đến xác định được dạng hằng thể của THVC người nông dân

Trang 16

5.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Vận dụng phương pháp này nhằm tìm ra những điểm khác biệt trong việc sử dụng

THVC người nông dân trong truyện ngắn của Nam Cao qua các biến thể của tín hiệu

Qua đối chiếu so sánh các biến thể cụ thể, luận văn đi đến định hình được dạng hằng thể

của THVC người nông dân trong sáng tác của ông Phương pháp này còn giúp chỉ ra vai

trò của các tín hiệu biến thể, tín hiệu hằng thể trong việc biểu đạt chủ đề tác phẩm, tư

tưởng nghệ thuật của nhà văn

6 Cái mới của luận văn

Luận văn này là một thể nghiệm đầu tiên về việc vận dụng lí thuyết THTM văn chương vào nghiên cứu một hình tượng nhân vật trong truyện ngắn của một tác gia văn học Việt Nam hiện đại như một THTM Lâu nay, việc vận dụng lí thuyết này mới chỉ được triển khai trong lĩnh vực thơ ca, mới chỉ thực hiện ở các THVC thuộc cấp độ vi mô (THTM đơn tương đương với từ) Việc vận dụng vào các thể loại văn chương khác, với các THVC cấp độ vĩ mô (THTM phức hợp tương đương với các đơn vị trên từ) chưa có

ai thực hiện Đề tài luận văn của chúng tôi đi vào hướng nghiên cứu rất mới đó Thực chất, đây là việc tìm hiểu một THTM phức hợp - một hình tượng nhân vật trung tâm trong hệ thống tác phẩm truyện ngắn của một nhà văn lớn Kết quả của luận văn giúp khẳng định tầm phổ quát của lí thuyết THTM, THVC, mặt khác quan trọng hơn, chỉ ra đường hướng vận dụng lí thuyết này vào nghiên cứu các loại THVC khác nhau, nhất là nghiên cứu các THVC thuộc cấp độ phức hợp mang tầm vĩ mô trong các tác phẩm văn xuôi Đây là lĩnh vực chưa được khai phá rất cần đến sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần: Mục lục, Bảng chỉ dẫn viết tắt, Tài liệu tham khảo, phần Chính văn của luận văn gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung, Kết luận Phần Nội dung có ba chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận và một số vấn đề liên quan

Chương 2: Hình thức ngôn ngữ của THTM người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao Chương 3: Ý nghĩa biểu trưng của THTM người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao

Trang 17

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1.1 Khái quát về lí thuyết tín hiệu thẩm mĩ văn chương

1.1.1 Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ văn chương

Khái niệm THTM xuất hiện cùng với khuynh hướng cấu trúc trong nghiên cứu mĩ học và nghệ thuật từ những năm giữa thế kỉ XX và được tiếp nhận vào Việt Nam từ những năm 70 qua những bản dịch các công trình khoa học xuất hiện trong các bài viết của Đỗ Hữu Châu [19], [21], Nguyễn Lai [46], [47], Hoàng Trinh [80], [81],

Trong công trình của mình, các nhà nghiên cứu tuy chưa đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh, thống nhất về tín hiệu thẩm mỹ, song họ đều thừa nhận THTM

là yếu tố thuộc hệ thống phương tiện biểu hiện của nghệ thuật Đó là những phương tiện nghệ thuật được tập trung theo một hệ thống tác động thẩm mĩ, được tiếp nhận như là những tín hiệu đặc biệt, có khả năng kích thích mạnh mẽ thế giới

tinh thần của chúng ta

Trên cơ sở phân tích ý nghĩa thực sự của phương tiện nghệ thuật, tác giả Đỗ Hữu Châu đã giải thích cụ thể hơn về THTM ngôn ngữ như sau: THTM là phương tiện sơ cấp của văn học, ngôn ngữ thực sự của văn học là ngôn ngữ - THTM, cú pháp THTM, TH ngôn ngữ tự nhiên trong văn học chỉ là hình thức CBH của THTM [21] Để trả lời cho câu hỏi: “Thế nào là một THTM?”, Đỗ Hữu Châu chủ trương căn cứ vào sự tương ứng của THTM với các vật quy chiếu thuộc thế giới hiện thực: THTM phải tương ứng với một vật quy chiếu nào đấy trong thế giới hiện

thực Chẳng hạn như một con thuyền, một dòng sông, hay một nỗi buồn nào đó [21]

Từ đó có thể hiểu: THTM chính là toàn bộ những yếu tố hiện thực, những chi tiết, những sự vật, hiện tượng của đời sống được đưa vào tác phẩm vì mục đích biểu hiện ý nghĩa thẩm mĩ nhất định Trong phạm vi luận văn này, để thuận lợi cho việc nghiên cứu, chúng tôi thống nhất quan niệm về THTM của Phạm Thị

Kim Anh: "Tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của các ngành nghệ thuật, bao gồm toàn bộ những yếu tố của hiện thực, của tâm trạng (những chi tiết, những sự vật, hiện tượng, những cảm xúc thuộc đời sống hiện thực và tâm trạng), những yếu tố của chất liệu (các yếu tố của chất liệu ngôn ngữ với văn chương; các yếu tố của chất liệu mầu sắc với hội họa; âm

Trang 18

thanh, nhịp điệu với âm nhạc ) được lựa chọn và sáng tạo trong tác phẩm nghệ

thuật vì mục đích thầm mĩ" [7, tr 24] Cùng với quan niệm về THTM được xây

dựng từ ý kiến của L.Hjelmslev về ngôn ngữ liên hội dựa theo sơ đồ (Dẫn theo

[11])

Từ sơ đồ này, có thể thấy rằng cả cái hợp thể CBH và CĐBH tạo thành TH

ngôn ngữ đã trở thành CBH cho một CĐBH mới là ý nghĩa thẩm mĩ của THTM

trong tác phẩm văn học Chính vì thế, trong văn học không được đồng nhất

phương tiện văn học THTM với TH ngôn ngữ thông thường được sử dụng làm

chất liệu của tác phẩm văn học Chính sự khác biệt có tính vượt cấp này là do vai

trò quyết định của chủ thể sáng tạo Điều đó khiến cho, nói theo Ch bally, giữa

cách dùng ngôn ngữ hàng ngày và ngôn ngữ của nhà văn có một vực thẳm không

vượt qua được

Trong khi đó, cái biểu hiện của THVC là THNN với hai mặt: CBH là âm

thanh ngôn ngữ hoặc chữ viết; CĐBH là ý nghĩa ngôn ngữ Nhưng do THVC

mang tính chất phi vật thể, việc cảm thụ các THVC diễn ra một cách gián tiếp,

mang tính ước lệ, cho nên ý YNTM, hình tượng nghệ thuật chỉ diễn ra trong ý

thức của chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận, chỉ được cảm thấy chứ không hiện

ra bằng chất liệu bản thể Cũng chính từ tính chất phi vật thể này mà THVC có

khả năng khơi gợi ý nghĩa với số lượng phong phú phức tạp THVC cũng mang

đậm sắc thái tinh thần, sắc thái tâm lý, và phụ thuộc vào các nhân tố của ngữ

cảnh giao tiếp nghệ thuật Theo Nguyễn Lai, đó là kết quả của quá trình chuyển

mã ngữ nghĩa hết sức phức tạp theo nguyên tắc cộng hưởng có định hướng của

nhiều vòng đồng tâm [46] CĐBH của THVC: Do tính đa trị của ngôn ngữ nên

thông thường, khó có thể nói được rạch ròi những nội dung thông tin ngữ nghĩa,

thông tin cảm xúc, giá trị văn hóa, tư tưởng trong một THNN cụ thể, mà

thường thường những nội dung này đan lồng vào nhau, hàm chứa trong nhau

Để tạo nên THTM trong văn chương, THNN cần có quá trình chuyển hóa

nhờ sự sáng tạo của nghệ sĩ và sự lĩnh hội, cảm thụ của độc giả IU.M Lotman

CBH (TH thông thường) THTM

CĐBH (Ý nghĩa thẩm mĩ)

CBH CĐBH

Trang 19

viết: “Văn học có tính nghệ thuật nói bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt, thứ ngôn ngữ được xây chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên với tư cách là hệ thống thứ hai Bởi vậy mà người ta xác định nó như là hệ thống mô hình hóa thứ hai… Từ điều

đã nói trên suy ra rằng, nghệ thuật ngôn từ dù cũng dựa vào ngôn ngữ tự nhiên, nhưng lại chỉ với điều kiện là để cải biến nó thành thứ ngôn ngữ của mình - ngôn ngữ thứ sinh, ngôn ngữ của nghệ thuật" [54, tr 49-53] Từ THNN thành THTM

đã có sự thay đổi về chất Có thể chia sẻ với ý kiến của L.Hjelmslev mà tác giả

Đỗ Hữu Châu cũng đồng quan niệm khi trích dẫn: “Trong tác phẩm văn học, cả cái hợp thể cái biểu hiện và cái được biểu hiện của ngôn ngữ thông thường trở thành cái biểu hiện cho một cái được biểu hiện mới" [21, tr 15]

Theo ý kiến của Phạm Thị Kim Anh thì "THTM văn chương trước hết cũng là một loại THTM, mang những đặc thù của THTM nói chung nhưng được tạo dựng từ chất liệu ngôn ngữ để xây dựng hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn chương" [11, tr 597 - 608] Theo tác giả, vấn đề cốt lõi cần được quan

tâm nhất là vấn đề cái biểu hiện - các hình thức vật chất nghệ thuật Chính loại chất liệu ngôn ngữ này là một trong những điểm mấu chốt làm nên sự khác biệt giữa THVC so với các loại hình nghệ thuật phi văn chương Đây chính là điều kiện quan trọng nhất của THVC quyết định đến tất cả các điều kiện khác

Điều kiện thứ hai là về CĐBH của THVC, đó là các lớp ý nghĩa thẩm mĩ Cũng theo tác giả, các lớp ý nghĩa này dù đa dạng, phức tạp, xa rộng đến mấy vẫn phải giữ được mối liên hệ, vẫn phải chịu sự chi phối, điều khiển ít nhiều từ nghĩa gốc, từ các ý nghĩa cơ bản, nghĩa trong hệ thống của THNN Độc giả tri nhận, cảm thụ những ý nghĩa này cần phải lần tìm ra được các đầu mối liên hệ ngữ nghĩa đó

Nhân tố thứ ba cần thiết đối với một tín hiệu văn chương là chủ thể sáng tạo Nhân tố này bao gồm thế giới phát ngôn, tạo ngôn là tác giả, nhà văn, người tạo lập văn bản văn chương và thế giới tiếp nhận, thụ ngôn là đông đảo công chúng độc giả các thế hệ, các không gian khác nhau

Điều kiện cuối cùng, tín hiệu đó phải thuộc về một hệ thống THTM văn chương nhất định THVC nào cũng đều thuộc về một hệ thống nhất định, chịu mọi tác động từ các mối quan hệ của hệ thống mà nó là một yếu tố Đó là quan hệ

Trang 20

thứ bậc, quan hệ đồng nhất và đối lập, quan hệ tuyến tính, quan hệ liên tưởng Chúng tôi cho rằng một tác phẩm thực sự có giá trị văn chương là một chỉnh thể nghệ thuật có tính thẩm mĩ, mọi chi tiết của nó đều có giá trị thẩm mĩ, chỉ có điều giá trị đó đạt mức độ cao hay thấp mà thôi, tùy thuộc vào sự gia công của tác giả, sự thẩm nhận của độc giả Chính từ đó cả tác giả và độc giả cần phải nắm rõ bản chất, đặc điểm của THVC để quá trình lĩnh hội tác phẩm văn chương đạt giá trị cao

1.1.2 Một số đặc tính cơ bản của tín hiệu thẩm mĩ văn chương

1.1.2.1 Đặc tính về nguồn gốc

THTM thuộc về tác phẩm nghệ thuật, nhưng nó lại có nguồn gốc từ nhiều phương diện khác nhau trong cuộc sống con người Trước hết, THTM trong văn chương có nguồn gốc từ thế giới hiện thực xung quanh con người: tự nhiên và xã hội

Trong tự nhiên tồn tại các sự vật và hiện tượng Nhà văn khi sáng tác đã quan sát, chiêm nghiệm và nhận ra ý nghĩa thẩm mĩ tiềm tàng ở những sự vật và hiện tượng trong hiện thực xung quanh mình Từ đó, họ căn cứ vào những sự vật hiện tượng đó để xây dựng các THTM thông qua chất liệu là những THNN gọi tên các sự vật hiện tượng tương ứng Thế giới hiện thực rất phong phú và đa dạng

là nguồn gốc, là cơ sở rất sinh động cho các THTM trong văn chương

Nhân vật Chí Phèo và làng Vũ Đại trong truyện ngắn Chí Phèo bất hủ được Nam Cao lấy từ hiện thực ở quê hương ông Đó là một ngôi làng cổ, dân ở đây hễ thấy Chí kêu la, chửi rủa liền ùa đến xem, nhưng về sau lại không ra nữa Chí Phèo sinh ra trong một cái lò gạch cũ kĩ, khi cất tiếng khóc chào đời đã bị rũ

bỏ không thương tiếc Hình ảnh "lò gạch" xuất hiện ở cả đầu và cuối câu chuyện Lúc đầu, cái lò gạch này rất nhiều người qua, nhưng sau khi Chí chết thì nó đã bị

bỏ không, vắng người qua lại

Các sự vật nhân tạo và các hiện tượng xã hội trong cuộc sống của con người cũng là nguồn gốc cho các THTM Đối với văn chương, nhiều sự vật, hiện tượng bình thường trong xã hội loài người đều là nguồn gốc cho các THTM Cũng có thể khẳng định, không một sự vật, hiện tượng nào trong thế giới tự nhiên

và xã hội xung quanh con người không thể là đề tài cho sự sáng tác, là nguồn gốc

Trang 21

cho các THTM trong văn chương, miễn là nhà văn quan sát, phát hiện ra giá trị thẩm mĩ tiềm ẩn của chúng

Nguồn gốc của các THTM trong văn chương còn có thể là những chi tiết,

sự kiện, những điển tích hay những sản phẩm tinh thần thuộc đời sống văn hóa của từng dân tộc hay toàn nhân loại Đây cũng là nguồn vô tận cho cảm hứng sáng tạo, cho các THTM của các nhà văn thuộc thế hệ đi sau

1.1.2.2 Tính cấp độ

Các nhà nghiên cứu có quan điểm về phân chia cấp độ THTM khác nhau Có quan điểm phân biệt THTM với hình tượng thẩm mĩ, khi đó THTM là các yếu tố tạo

nên hình tượng thẩm mĩ Phần đông cho rằng, THTM được phân chia thành hai cấp độ

Cấp cơ sở (TH đơn, TH vi mô) là những THTM ứng với một chi tiết, một

sự vật, hiện tượng thuộc thế giới khách quan Đó là những THTM có chức năng tham gia cấu tạo nên những THTM ở cấp độ cao hơn THTM đơn trong tác phẩm văn chương được tạo nên bằng các từ hay cụm từ, có thể là những từ ngữ, thành ngữ, điển cố hay những hình ảnh đơn lẻ, mang ý nghĩa thẩm mỹ Đỗ Hữu Châu

viết: “Phương tiện sơ cấp của văn học là các tín hiệu thẩm mỹ Rồi cái THTM đó mới được thể hiện bằng các THNN thông thường…” [23, tr 564]

Cấp độ xây dựng (TH phức, TH vĩ mô): THTM ứng với nhiều sự vật, hiện tượng được xây dựng từ những tín hiệu đơn nhưng ý nghĩa không phải là kết quả

của phép cộng đơn giản những THTM đơn F.de Saussure đã chỉ ra rằng: "Thường chúng ta không nói bằng những tín hiệu riêng lẻ mà bằng nhóm những tín hiệu, bằng khối có tổ chức cũng là tín hiệu" [66, tr 153] Nói cụ thể hơn, THTM phức là tổ hợp

của nhiều tín hiệu đơn (mang ý nghĩa thẩm mĩ); đó có thể là những hình tượng văn

học- nhân vật trong tác phẩm kể cả một tác phẩm đồ sộ Theo đó, THTM người nông dân trong hệ thống các truyện ngắn Nam Cao thuộc loại TH phức bởi nó bao hàm

nhiều THTM đơn, THTM phức với nhiều cấp độ lớn nhỏ khác nhau

1.1.2.3 Tính biểu trưng

Là đặc tính của THTM khi xét trong mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện Đây là mối quan hệ có lý do, liên quan đến năng lực biểu trưng hóa của các yếu tố, các chi tiết, các sự vật, hiện tượng được đưa vào làm THTM

Trang 22

trong tác phẩm Theo Đỗ Hữu Châu [19, tr 103] “tính biểu trưng là khả năng gợi ra một đối tượng khác ngoài sự thể hiện cụ thể của dấu hiệu đó và được cộng đồng chấp nhận” Ch.S Pierce cho rằng: “Biểu trưng có quan hệ với đối tượng của nó chỉ qua một nghĩa có tính chất ước lệ mà người ta gán cho nó trong một hoàn cảnh nào đó Nghĩa đó là do con người trong cộng đồng đặt ra mà thôi.”

(Dẫn theo [7, tr 26] Biểu trưng, một mặt có tính hình tượng cụ thể, cái biểu hiện

nó là một đối tượng nào đó được quy chiếu từ hiện thực Mặt khác, đó là ý nghĩa

xã hội nào đó được cả cộng đồng chấp nhận Tính chất ước lệ chung cho cái biểu hiện này chính là tính có lý do trong THTM nói chung Đặc tính này còn cho thấy lối tư duy, quan niệm xã hội gắn với một cộng đồng nào đấy, từ đó hình

thành ý nghĩa xã hội nào đó, được cả cộng đồng chấp nhận THTM Chí Phèo đã

đi vào đời sống và trở thành một cái tên để chỉ những kẻ lưu manh côn đồ hung

dữ Trong ngôn ngữ đời thường và trong văn chương, cái tên Chí Phèo được dùng để gọi về một người nào đó với sự khinh miệt Danh từ Chí Phèo đã thành

một tính từ để chỉ một kiểu người đặc biệt trong xã hội mà người ta đã quen dùng Đó là loại người thô bạo, hay ăn vạ, say rượu triền miên rồi gây sự, chửi

đổng… có nhiều nét giống nhân vật Chí Phèo trong truyện

Khi bàn đến những cách tân nghệ thuật của Nam Cao, người đọc nhận thấy cuộc sống được phản ánh trong thế giới nghệ thuật của ông ảm đạm quá Bước vào đó ta như lạc vào một vườn cây ăn quả già cỗi lúc hết mùa Nhưng Nam Cao

không mất lòng tin vào cuộc sống: Không! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay

Trang 23

vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác [84, tr 256] Cái nghĩa khác mà Nam Cao từng làm nổi bật qua toàn bộ sáng tác của ông là sự đảo lộn

của những giá trị làm nảy sinh muôn vàn sự vô lí và phi lí trong quan hệ giữa người và người Ông cũng không làm mất lòng tin của người đọc vào con người

và cuộc sống Bởi với Nam Cao, sáng tác nghệ thuật cũng có nghĩa là nghiên cứu, khám phá cái lí của mọi sự phi lí, là tìm cách bóc đi cái vỏ phi lí trùm lên cuộc đời để cho con người hiểu biết lẫn nhau và xích lại gần nhau Đó là gì, nếu không phải là chủ nghĩa nhân đạo cao cả và chủ nghĩa hiện thực chân chính tất yếu dẫn tới sự phá vỡ mọi khuôn phép và luật lệ Nam Cao đã tìm tới loại sự kiện

“vô sinh”, “hữu nhân vô quả”, loại “hoa điếc” của đời sống để tổ chức thành truyện kể Ông đem sự kiện mang biến cố thả vào vào dòng chảy của những cái ngẫu nhiên, đưa cái kết cục truyện kể trở về trạng thái cân bằng tiền biến cố Bằng cách ấy, ông dỡ bỏ cái khung “cố sự” của truyện kể, giải phóng việc mô tả con người khỏi những luật lệ khắt khe của mô hình nghệ thuật lí tưởng và chức năng khái quát tính cách thuần túy của nhân vật văn học

Những yếu tố truyền thống mang tính cố định, ổn định khi được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ sẽ có sức khơi gợi thẩm mĩ lớn lao Cái mới trong cách sử dụng THTM có thể được thể hiện ở việc xây dựng một THTM hoàn toàn mới, nhưng chủ yếu vẫn là ở sự cách tân các THTM, ở việc đổi mới các THTM có sẵn mang lại cho chúng những YNTM mới Điều này chỉ có được thông qua sự sáng tạo của người nghệ sĩ Các THTM về người nông dân cụ thể trong truyện của Nam Cao như Chí Phèo, Thị Nở, Lão Hạc, vợ chồng anh đĩ Chuột, Lộ… đều giống nhau, giống với muôn triệu người nông dân Việt xưa ở số phận nghèo hèn cùng cực nhưng mỗi người lại có cảnh ngộ cụ thể rất khác nhau, tính cách rất khác nhau, không ai giống ai Nói các THTM này vừa có tính truyền thống vừa

có tính hiện đại là vì vậy

Trang 24

nhưng ý nghĩa của TH vẫn chỉ là một." (Dẫn theo [81, tr 17])

Đỗ Hữu Châu cũng khẳng định: “Rất nhiều THTM được sử dụng trong văn học, trong hội họa, trong điện ảnh, trong âm nhạc như những tín hiệu đồng nghĩa (có thể là đồng cảm xúc), chỉ khác nhau ở sự thể hiện bằng các chất liệu riêng của từng ngành"

[21] Tính đẳng cấu của THTM không chỉ biểu hiện qua các ngành nghệ thuật khác nhau

mà còn qua từng hệ thống, từng kết cấu, từng lần xuất hiện khác nhau của các TH trong hệ

thống Theo Phạm Thị Kim Anh: “Nghĩa của từng tín hiệu là khác nhau, quan hệ nghĩa giữa các tín hiệu trong từng cặp cũng khác nhau, song nếu cùng đặt vào trong một hệ thống nào đó, chúng lại có quan hệ, ý nghĩa, cảm xúc giống nhau” [1, tr 20] Điều này cho

phép chúng ta đặt các TH trong quan hệ với các yếu tố cấu thành tác phẩm, ở phương diện trực tuyến, lại có thể xem xét trên trục đồng đại hay lịch đại Đó cũng là cơ sở cho quan hệ lựa chọn và quan hệ kết hợp của TH

Có thể nhấn mạnh thêm rằng tính đẳng cấu của THTM còn được thể hiện trong tương quan giữa các hệ thống hoạt động của THTM Tham gia vào một hệ thống, tức là tham gia vào một kết cấu, một mạng quan hệ không giống với các hệ thống khác trong THTM có thể đồng nghĩa trong những hình thức kết cấu khác nhau của các hệ thống Giữa chất liệu hiện thực và THTM cũng có quan hệ đẳng cấu Các THTM thường đi với nhau thành từng cặp, bởi vậy cũng có sự đẳng cấu giữa các cặp tín hiệu thẩm mĩ với nhau

Trong truyện Chí Phèo, cùng chung cảnh ngộ từ con người lao động hiền lành, lương thiện bị áp bức đến tha hóa biến chất trở thành kẻ lưu manh như Chí Phèo còn có Năm Thọ, Binh Chức Các THTM này biểu thị số phận, diện mạo, tính cách… mỗi con người cụ thể là khác nhau song lại đẳng cấu với nhau trong một cái khung YNTM chung,

đó là một bộ phận người nông dân đang bị xã hội tàn bạo đương thời đẩy vào con đường tội lỗi

Trang 25

khối có tổ chức vốn cũng là tín hiệu” (Dẫn theo[82, tr 107]) Khi nói đến vấn

đề tính có tổ chức ở lĩnh vực này, ta không thể không nói đến tính hệ thống -

một đặc tính làm nên bản chất tín hiệu của ngôn ngữ Theo Nguyễn Lai, "Khi nói đến tính hệ thống của ngôn ngữ, bên cạnh cách nhìn theo hướng lịch đại dĩ nhiên ta còn phải nhìn nó theo hướng đồng đại Đối lập trong bản thân nó và đối lập với cái xung quanh nó" [48, tr 35-36]

Nói đến tính hệ thống của THTM, trước hết người ta thường xác định khái niệm hệ thống Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu có thể bao quát các hiện tượng chung và lý giải các hiện tượng riêng lẻ Khi nói đến hệ thống thì cái then chốt là mối quan hệ Bởi hệ thống là một thể thống nhất gồm các yếu tố có quan hệ quy định lẫn nhau Mỗi yếu tố có một giá trị, giá trị ấy do quan hệ với các yếu tố khác quyết định Từ quan hệ mà tìm ra giá trị của yếu tố Trong quan

hệ của các yếu tố thường có hai loại quan hệ thường dùng để xác định giá trị của

nó là quan hệ ngang và quan hệ dọc Ngoài ra còn có các quan hệ đồng nhất và đối lập, quan hệ cấp độ, quan hệ giữa các bình diện

F.De.Saussure đã tuyệt đối hóa tính nội tại của hệ thống Nội tại là khi nghiên cứu một hệ thống chỉ cần biết bản thân hệ thống, xem xét trong lòng hệ thống đó, không cần xem xét môi trường bên ngoài tác động đến hệ thống đó Khi nghiên cứu một tác phẩm văn học, người nghiên cứu chỉ cần nắm được những quan hệ và phát hiện ra cấu trúc nội tại của tác phẩm đó là được

Hiện nay, quan điểm hệ thống đã vượt ra khỏi giới hạn của luận điểm về tính nội tại Hệ thống có mặt nội tại nhưng cũng có tính hướng ngoại Tính hệ thống của THTM được xem xét từ hai khía cạnh: Khía cạnh nội tại (cấu trúc), với những quy luật thuộc cấu trúc tác phẩm Khía cạnh ngoại tại (chức năng) với những quy luật về sự hoạt động thực hiện các chức năng giao tiếp của sáng tạo nghệ thuật

Nghiên cứu THTM thực chất là nghiên cứu những biến thể của nó qua mỗi lần xuất hiện Chính vì vậy, thực chất của việc nghiên cứu hệ thống THTM là nghiên cứu cấu trúc hình thức, mang tính cụ thể, biểu kiến của tác phẩm nghệ

thuật Xem xét THTM người nông dân trong tác phẩm của Nam Cao theo đó,

Trang 26

chính là việc tìm hiểu tất cả những biểu thức ngôn ngữ cụ thể trong các tác phẩm được nhà văn sử dụng để kiến tạo hình tượng nhân vật này Tính hệ thống của THTM này sẽ quy định cả sự tương tác hai chiều giữa tác giả với độc giả trong tư cách đều là các chủ thể sáng tạo Đây cũng là vấn đề hằng thể và biến thể của một THTM sẽ được bàn tiếp kĩ hơn ở mục sau

1.2 Một số vấn đề lí luận và phương pháp phân tích diễn ngôn

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của diễn ngôn, phân biệt diễn ngôn và văn bản

1.2.1.1 Khái niệm diễn ngôn

Một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ có sự tham gia của ba nhân tố lớn là ngữ cảnh và các hợp phần của ngữ cảnh; phương tiện ngôn ngữ; diễn ngôn (DN) Như vậy, DN- thông điệp bằng ngôn ngữ trước hết là một trong ba nhân tố lớn kể trên của một cuộc giao tiếp Tìm hiểu DN do đó cần phải chú trọng tìm hiểu các

chức năng của giao tiếp được thể hiện trong DN

Thuật ngữ diễn ngôn được chuyển dịch từ thuật ngữ discourse (tiếng Anh), discours (tiếng Pháp) Cho đến nay đã có rất nhiều định nghĩa về DN, nhưng

chưa có một định nghĩa nào thực sự hoàn chỉnh Người đầu tiên đưa ra khái niệm này là Z Harris trong công trình “Discourse Analysis” (Phân tích diễn ngôn, 1952) Ở đây, DN được hiểu với tư cách là một văn bản liên kết ở bậc cao hơn câu Công trình này đã góp phần quan trọng cho ngành ngôn ngữ học văn bản non trẻ trong lĩnh vực nghiên cứu chức năng của ngôn ngữ

Có thể lưu ý thêm một số định nghĩa về DN Theo từ điển do R E Asher chủ

biên, Tập 10: “Discourse: Trong lí thuyết phân tích diễn ngôn, một dải ngôn ngữ, chủ yếu là ngôn ngữ nói, lớn hơn một câu; thường là một số các phát ngôn tạo nên một sự kiện lời nói Speech event.” Theo từ điển Longman: “Diễn ngôn là một thuật ngữ chung chỉ cách dùng ngôn ngữ, chỉ những sản phẩm ngôn ngữ được tạo ra do một hành động giao tiếp nào đấy.” Theo Michael Hoey: “Diễn ngôn là bất kì một dải nói

và viết nào của ngôn từ được cảm nhận là tự nó đã hoàn chỉnh.” (Dẫn theo [12])

Diệp Quang Ban là một trong những tác giả tiêu biểu quan tâm và nghiên cứu DN ở Việt Nam Trong tác phẩm [16, tr 200], tác giả đồng tình với định

nghĩa của Cook: “Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là trọn

Trang 27

nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích” Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Diễn ngôn là đơn vị lớn hơn câu, đúng hơn là lớn hơn một phát ngôn, nó có thể là một phát ngôn mà cũng có thể do vô số phát ngôn hợp lại.”; “Nó phải có tính mạch lạc…”

[22, tr 19] Tác giả cũng cho rằng, diễn ngôn có cả hình thức và nội dung nhưng

cả hai đều chịu tác động của ngữ cảnh

1.2.1.2 Đặc điểm của diễn ngôn

Từ những ý kiến trên có thể thấy DN có những đặc điểm cơ bản như: là một hay một số phát ngôn có một hành vi ngôn ngữ làm trung tâm; thường là đơn

vị lớn hơn câu (lớn hơn một phát ngôn); DN bao gồm cả DN nói và DN viết Loại DN viết thường được gọi bằng thuật ngữ văn bản (text) DN có 2 phương

diện là hình thức và nội dung

Hình thức của DN được tạo bởi các yếu tố ngôn ngữ như các đơn vị từ vựng, các quy tắc kết học, các hành vi ngôn ngữ chuyển các câu thành phát ngôn,

các yếu tố kèm lời và phi lời , được dùng khi người nói nói ra phát ngôn, DN

Nội dung của DN có 2 thành phần thống hợp với nhau mật thiết là thành phần thông tin và thành phần liên cá nhân Thành phần nội dung thông tin (còn gọi là thành phần nghĩa sự vật, nghĩa miêu tả) thực hiện chức năng thông tin của giao tiếp, thuộc lĩnh vực nghĩa học của TH học (ngữ nghĩa phi dụng học), bị quy định bởi tính đúng/ sai của logic Thành phần nội dung liên cá nhân tương ứng với các chức năng giao tiếp như bộc lộ, thiết lập quan hệ, hành động, giải trí, thành phần này không bị quy định bởi tính đúng/ sai logic mà thuộc nội dung nghĩa ngữ dụng của DN Bởi vậy, hiểu, thuyết giải đúng nội dung ý nghĩa của một DN là phải hiểu, thuyết giải đúng đồng thời cả hai loại thành phần nội dung của DN Chỉ khi đó mới có thể nói DN đã thực hiện được các chức năng đặc thù như gây ra sự tác động, thuyết phục, truyền cảm, điều khiển hành động ở đối tác

giao tiếp Hiệu quả của một cuộc giao tiếp được đánh giá theo mức độ biến đổi

các trạng thái do các chức năng trên gây nên

1.2.1.3 Phân biệt diễn ngôn và văn bản

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp, sau khi điểm qua một số quan điểm khác

nhau về khái niệm văn bản và diễn ngôn, đã nêu: “Thuật ngữ diễn ngôn và văn

Trang 28

bản thường được coi là đồng nghĩa với nhau để chỉ các sản phẩm của ngôn ngữ, viết hay nói, dài hay ngắn, tạo nên một tổng thể hợp nhất, trong đó diễn ngôn thường được hiểu là bao hàm văn bản, còn văn bản thiên về sản phẩm viết nhiều hơn” [34, tr 169]

Trong công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Hòa nhấn mạnh sự phân

biệt hai khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản” Theo ông, “Văn bản như là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể” Trong khi đó “Diễn ngôn như là sự kiện hay là quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không giới hạn được sự dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể” [40, tr 28]

Như vậy theo các tác giả này, thuật ngữ DN với tư cách là “sản phẩm” trong việc sử dụng ngôn ngữ được hiểu rất rộng bao gồm tất cả các dạng tồn tại của nó, có thể là chữ viết dưới mọi hình thức, có thể là âm thanh tự nhiên khi nói hay mọi hình thức ghi âm lời nói Vấn đề đặt ra ở đây là phải phân biệt DN nói

và DN viết Với DN nói, đây là sản phẩm ngôn ngữ không có tính độc lập, do đó tính hoàn chỉnh thấp hơn DN viết Với DN viết, (kể cả DN nói đơn thoại), loại này có tính độc lập, tính liên tục và tính hoàn chỉnh cao hơn DN nói Loại DN viết này thường được gọi bằng thuật ngữ văn bản (text)

Tựu trung, khái niệm DN có phạm vi nội hàm rộng hơn, bao hàm cả khái niệm văn bản, khái niệm văn bản hẹp hơn DN Văn bản cũng là một loại DN, nhưng thuộc loại DN viết nên có tính độc lập, tính hoàn chỉnh trọn vẹn cao nhất Do những đặc tính này nên văn bản luôn tiềm tàng khả năng đặt được tên gọi mà DN không phải bao giờ cũng có khả năng như vậy Cách hiểu về DN như vậy cũng được chúng tôi hoàn toàn tuân thủ khi khảo sát các truyện ngắn của Nam Cao

1.2.2 Một số lí thuyết phân tích diễn ngôn

Trước khi tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi thống nhất nguyên tắc: PTDN là phân tích nội dung DN và cả các yếu tố hình thức của DN, bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ như trên đã nói Về nội dung DN, chúng tôi nhất trí với quan điểm cho rằng bao gồm nội dung thông tin và nội dung liên cá nhân Hai thành tố

Trang 29

nội dung này có thể hiện diện tường minh qua các yếu tố hình thức ngôn ngữ của

DN, hoặc tồn tại khiếm diện trong đích giao tiếp của các đối ngôn

1.2.2.1 Lí thuyết dụng học

a, Khái niệm ngữ dụng học

Ngữ dụng học một lĩnh vực nghiên cứu mới của ngôn ngữ học, nghiên cứu quan hệ giữa ngôn ngữ với ngữ cảnh, đặc biệt với nhân vật, với hoàn cảnh giao tiếp và với các hoạt động giao tiếp thực sự của ngôn ngữ trong xã hội Như vậy, các nhân tố ngữ dụng là một bộ phận không thể tách rời trong cấu trúc hình thức

và nội dung của các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ và của các ngôn bản

Ngữ dụng học quan tâm trước hết đến nội dung liên cá nhân và đến cách thức phản ánh hiện thực được nói tới thành nội dung miêu tả của ngôn bản Các nhân tố ngữ dụng học có mặt khắp nơi trong ngôn ngữ và trong hoạt động ngôn ngữ Không thể hiểu được đầy đủ các yếu tố ngôn ngữ, không thể lý giải thỏa đáng ngôn bản nếu không tính đến các nhân tố ngữ dụng thống hợp với các nhân

tố thuộc cấu trúc của ngôn ngữ Cần nhắc lại: không lý giải được đúng ngôn bản, tức là không ứng xử được thích hợp trong giao tiếp

b, Hành động ngôn ngữ

Cũng như mọi hệ thống xã hội khác, ngôn ngữ tồn tại là để làm công cụ thực hiện các chức năng hướng ngoại - phục vụ xã hội, trước hết là chức năng làm công cụ giao tiếp mà xã hội đã quy định cho nó Khi chúng ta giao tiếp với nhau, ít ra là phải có hai người làm thành vai nói, vai nghe luân phiên nhau nói nghe Như thế giao tiếp là một dạng hành động xã hội của con người bằng ngôn ngữ

Trong các hoạt động xã hội bằng ngôn ngữ đó, vai nói có thể dùng ngôn ngữ để miêu tả, để kể lại một sự việc nào đó, để khẳng định một nhận xét nào đó là những hành động bộ phận nằm trong hoạt động giao tiếp nói chung Khi miêu tả, kể, hỏi, yêu cầu là chúng ta hành động, thực hiện hành động bằng ngôn

từ, nói tổng quát là hành động ngôn ngữ Như vậy, hành động ngôn ngữ là hành

động thực hiện khi tạo ra một phát ngôn trong một cuộc giao tiếp "Hành động ngôn ngữ đòi hỏi phải có điều kiện, thao tác, cách thức tổ chức thao tác và quan

Trang 30

trọng nhất là đích như mọi hành động khác của con người có ý thức" [24, tr 53]

c, Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn

Một phát ngôn (tức một câu hiểu theo cú pháp học thông thường) ngoài cái

ý nghĩa được nói ra trực tiếp nhờ các yếu tố ngôn ngữ (âm, từ, kết cấu câu ) còn

có thể gợi ra rất nhiều ý nghĩa khác mà người nghe phải dùng đến thao tác suy ý

và dựa vào những yếu tố ngoài ngôn ngữ, vào ngôn cảnh, vào các quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, điều khiển lập luận, điều khiển hội thoại mới nắm bắt

được ý nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ đem lại được gọi là ý nghĩa tường minh, có nhà nghiên cứu gọi là hiển ngôn, hay là ý nghĩa theo câu chữ của phát ngôn Các ý nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được, gọi là ý nghĩa hàm ẩn Xét ví dụ:

- "Con chạy ra vườn xem chị Gái làm cỏ, lúc nào chè chín bu gọi về mà ăn chóng ngoan rồi bu thương." (Nam Cao - Nghèo)

Phát ngôn này ngoài ý nghĩa tường minh là: Sai con ra ngoài vườn chơi với chị Gái, còn có những ý nghĩa hàm ẩn sau:có một cuộc thoại đang diễn ra, đây là một

tham thoại của một nhân vật; ở đó, ngoài bu và con, có thêm một người được nói đến:

chị Gái; họ có quan hệ huyết thống (bu – con, chị - em); các con đang háo hức đợi món chè đang nấu; người mẹ đang muốn dỗ dành con (chóng ngoan rồi bu thương) 1.2.2.2 Lí thuyết phân tích hội thoại

Lí thuyết phân tích hội thoại (còn gọi là lí thuyết hội thoại) được dùng để nghiên cứu câu hay lời với tư cách là DN trong cuộc tương tác (cuộc thoại) nhằm khám phá mặt xã hội của hội thoại giúp cho việc giao tiếp ngôn từ đạt hiệu quả Lí thuyết này trình bày những vấn đề: các dạng hội thoại, các vận động hội thoại, các quy tắc hội thoại, cấu trúc hội thoại Sau đây là một số vấn đề cơ bản

a Vận động hội thoại : một cuộc hội thoại thông thường diễn ra các vận động

cơ bản là trao lời, trao đáp, tương tác

* Trao lời: Trao lời là vận động người nói (Sp1) nói ra và hướng lời nói của

mình về phía người nhận (Sp2) Bình thường, Sp1 khác Sp2 trừ trường hợp độc thoại Tuy vậy, ngay cả trong trường hợp độc thoại, ở người nói có sự phân đôi nhân cách: Anh ta vừa là Sp1 vừa là Sp2 và khi hoạt động theo nhân cách Sp1 hay nhân cách Sp2, anh ta là hai nhân vật khác nhau

Trang 31

* Trao đáp: Phát ngôn sẽ trở thành hội thoại khi người nghe Sp2 đáp lời, sẽ

có sự lần lượt thay đổi vai nói – nghe giữa các nhân vật giao tiếp

* Tương tác: Các thoại nhân ảnh hưởng lẫn nhau, tác động đến cách ứng xử

của từng người trong quá trình hội thoại Trước khi hội thoại, giữa các thoại nhân có

sự khác biệt đối lập, thậm chí trái ngược nhau về các mặt Không có sự khác biệt này thì giao tiếp trở nên thừa Bởi tương tác là tác động chủ yếu trong hội thoại cho nên ngữ dụng học hội thoại còn được gọi là ngữ dụng học tương tác bằng lời Ví dụ đoạn thoại:

- Cụ bán rồi?

- Bán rồi! Họ vừa bắt xong (Nam Cao- Lão Hạc)

Đoạn thoại trên thể hiện sự trao đáp giữa lão Hạc và ông giáo Lão Hạc khi thấy ông giáo sang là báo ngay về việc của con chó nhà mình Ông giáo (Sp1) đưa ra

lượt lời bằng phát ngôn hỏi (Cụ bán rồi?) và lão Hạc (Sp2) trao đáp bằng phát ngôn trần thuật- thông báo (Bán rồi! Họ vừa bắt xong.) Ví dụ này đã thể hiện sự giao tiếp

hai chiều (hội thoại song thoại) trên cơ sở tương tác giữa người nói (trao lời) và người nghe (trao đáp), kết hợp sự luân phiên lượt lời, sự đổi vai trong quá trình giao tiếp

b Cấu trúc hội thoại

Khuynh hướng Mĩ coi cấu trúc hội thoại gồm 5 tầng (đơn vị) như sau: Tầng 1 (rank1): cuộc tương tác (cuộc thoại); Tầng 2 (rank2): Phiên giao dịch; Tầng 3 (rank3): Trao đáp; Tầng 4 (rank4): Bước thoại/ Lượt lời; Tầng 5 (rank5): hành động nói

Trong cuộc thoại, hành động nói là đơn vị cơ sở của giao tiếp có tác dụng phân biệt các bộ phận trong một lượt lời Tức là một lượt lời có thể gồm nhiều hành động nói Mỗi hành động nói sẽ tương ứng với khái niệm lời - biến thể của câu (hiện dạng của câu) trong ngôn cảnh [16, tr 132]

c Các nguyên lí và quy tắc hội thoại

Để hội thoại thành công, các thoại nhân phải tuân theo các nguyên lí cộng tác

và quy tắc hội thoại Trước hết là nguyên lí cộng tác Nguyên lí này được H P

Grice phát biểu trong loạt công trình (từ 1967- 1981) về Logic và Hội thoại- Logic

Trang 32

and Conversation Dạng tổng quát của nguyên tắc cộng tác là: Hãy làm cho phần đóng góp của anh/ chị (vào cuộc hội thoại) đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh/ chị đã chấp nhận tham dự [22, tr 229]

Tiếp theo là các quy tắc hội thoại Các quy tắc này được chia thành ba nhóm: nhóm 1 gồm các quy tắc điều hành luân phiên lượt lời Nhóm 2 gồm những quy tắc điều

hành nội dung hội thoại với bốn phương châm: lượng, chất, quan hệ, cách thức Nhóm 3

là những quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại (phép lịch sự) Khái niệm lịch sự được “xác định theo nghĩa rộng, bao gồm cả lịch sự quy ước và lịch sự chiến lược” Lịch sự quy ước được hiểu là những hành động ứng xử ngôn ngữ phù hợp với những chuẩn mực xã hội nhằm mục đích tôn trọng các chuẩn mực xã hội của người đối thoại mà nội dung cơ bản của nó là sự lễ phép, đúng mực, khiêm nhường Lịch sự chiến lược là cách ứng xử ngôn ngữ khôn khéo, tế nhị nhằm tránh xúc phạm hay áp đặt và làm tăng sự vừa lòng đối với người đối thoại để đạt hiệu quả giao tiếp tốt nhất

Để tránh trùng lặp, mục 2.2.4.4 Ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật ở chương 2

của luận văn, chúng tôi sẽ làm rõ các vấn đề trên qua việc phân tích thống hợp một số DN

cuộc thoại trích trong truyện ngắn Nghèo của Nam Cao từ góc độ vận dụng lí thuyết dụng

học và lí thuyết phân tích hội thoại Ở những DN này, chúng tôi tập trung làm rõ một số vấn đề về vai giao tiếp, các quy tắc hội thoại, hành động ngôn ngữ, nghĩa hàm ý, … được nhà văn sử dụng để xây dựng nhân vật Trong những cuộc thoại này có sự kết hợp giữa lời kể của tác giả với lời thoại của các nhân vật nhưng lời thoại là chủ yếu Tìm hiểu những cuộc thoại, lời thoại (được đánh số) này sẽ giúp chúng ta hiểu được cảnh ngộ cùng tính cách của các nhân vật Tên gọi các cuộc thoại do chúng tôi đặt ra cốt để thuận lợi cho việc nghiên cứu Những kiến giải, phân tích ví dụ trong phần này được chúng tôi trích dẫn từ “Những bài nghiên cứu tham khảo, mở rộng về ngôn ngữ học”- Tài liệu cá nhân của tác giả Phạm Thị Kim Anh [12] Cũng cần nhấn mạnh rằng, tất cả những cuộc thoại, lời thoại này đều là những hình thức ngôn ngữ biểu đạt cho các THTM phức chỉ người nông dân đang được xem xét Những thuật ngữ, dẫn giải về THTM có liên quan chỉ được nhắc đến khi chúng tôi thấy thật cần thiết

Một số ví dụ được tìm hiểu đã cho thấy ích dụng của lí thuyết PTDN mà cụ thể ở đây là các lí thuyết phân tích hội thoại, lý thuyết hành động ngôn ngữ, lí thuyết nghĩa hàm ẩn có vai trò hỗ trợ to lớn trong việc nghiên cứu các THVC vĩ mô trong

Trang 33

văn xuôi- truyện ngắn Nhà văn xây dựng các THTM-VC cấp độ vĩ mô là các nhân vật trong truyện ngắn đều phải đặt nhân vật vào các hoàn cảnh giao tiếp gắn với các cuộc thoại, các hành động ngôn ngữ… Thông qua đó nhằm lột tả tính cách nhân vật một cách khác quan, sinh động tạo nên sức cuốn hút mạnh mẽ Tìm hiểu các THVC loại này không thể không cần đến sự soi sáng của các lí thuyết nói trên

1.3 Vài nét về nhà văn Nam Cao và nhân vật người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao

1.3.1 Nhà văn Nam Cao

Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1917 tại làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Chính những năm tháng sống vất vả đã giúp Nam Cao nhìn thấy và hiểu rõ đời sống cùng cực của những người lao động Năm

1938, Nam Cao thi lại và đậu thành chung Ông được mời lên dạy học cho trường tư thục Công Thanh ở Thụy Khê, Hà Nội Năm 1941, Phát xít Nhật xâm chiếm Đông Dương, trường bị đóng cửa, Nam Cao phải sống chật vật bằng nghề viết văn, có khi thất nghiệp phải về quê nhờ gia đình Năm 1943, Nam Cao gia nhập nhóm văn hoá cứu quốc bí mật Sau đó bị đàn áp, ông trở về quê và tham gia phong trào Việt Minh

ở địa phương Năm 1945, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân, và được bầu làm chủ tịch xã Một thời gian sau, ông lên làm báo ở tỉnh Hà Nam Sau đó Nam Cao được điều lên Hà Nội và công tác ở đội Văn hoá cứu quốc Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, năm 1947 Nam Cao lên Việt Bắc Trong những năm tháng chống Pháp đầy gian khổ, Nam Cao đã sống và chiến đấu hết mình vì quê hương,

Tổ quốc Ông đã để lại những tác phẩm có giá trị hiện thực phản ánh đúng bản chất cuộc chiến mà dân tộc Việt Nam đang đấu tranh chống thực dân pháp Năm 1948, Nam Cao được gia nhập Đảng Cộng Sản Đông Dương Sau chiến dịch Biên giới năm 1950, Nam Cao về công tác ở Hội Văn nghệ Tháng 11 năm 1951, trên đường vào công tác vùng địch hậu Liên khu Ba, Nam Cao bị địch phục kích và bắn chết gần bốt Hoàng Đan (Ninh Bình) Nam Cao ngã xuống giữa lúc ông đang ấp ủ cuốn tiểu thuyết lớn về quê hương

Nam Cao luôn chất chứa tâm sự của người nghệ sĩ“Tài cao phận thấp chí khí uất” (Tản Đà), nhưng con người có vẻ bề ngoài lạnh lùng ấy lại có một tâm hồn

chứa chan yêu thương Trong tác phẩm của ông luôn hiện lên cái làng Đại Hoàng

Trang 34

thân thiết, hình ảnh quê hương đã nâng đỡ nhà văn những lúc bi quan, bế tắc và tuyệt vọng Ở thời trưởng thành, ngòi bút Nam Cao tìm đến sự thật với tấm lòng yêu thương cuộc sống, đến với những lớp người đau khổ Với những rung động xót xa đến cháy lòng trước bao ngang trái, bất công của chế độ cũ, Nam Cao muốn phơi bày tất cả sự thật của cuộc đời và của lòng người Nam Cao hi sinh giữa lúc ngòi bút đang ở giai đoạn trưởng thành và chín muồi để chuyển hướng từ chủ nghĩa hiện thực phê phán sang chủ nghĩa hiện thực XHCN Ông đã để lại khoảng 100 tác phẩm, trong đó có trên 60 truyện ngắn và 2 tập truyện dài

Nhìn chung ở cả hai thời kì trước và sau cách mạng, Nam Cao đã để lại những trang viết mang nhiều giá trị độc đáo Ông được xem là nhà văn xuất sắc nhất trong trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930- 1945

1.3.2 Nhân vật người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao

Hình tượng người nông dân đã xuất hiện khá nhiều trong tác phẩm văn học Những người dân quê lam lũ, hiền lành, chất phác ấy đã khiến không ít người cầm bút phải băn khoăn, thương cảm, chính vì vậy mà họ đã trở thành hình tượng nghệ thuật độc đáo xuyên suốt các chặng đường văn học

Các nhà văn Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ trọng Phụng… đều thành công trên mảng hiện thực viết về người nông dân Dưới ngòi bút của họ, hình ảnh người nông dân hiện lên một cách chân thực và cụ thể Với Nam Cao, hình tượng người nông dân được thể hiện một cách hết sức chân thực, sâu sắc qua một ngòi bút độc đáo Nam Cao là thế hệ nối tiếp của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,

Vũ Trọng Phụng nên ông nêu cao tinh thần chủ nghĩa hiện thực, luôn đòi hỏi văn chương nghệ thuật phải trở về đời sống hiện thực Ông đi vào miêu tả cuộc sống thường nhật đang diễn ra ở làng quê Việt Nam, những nỗi khổ sở vụn vặt, những lo

toan tủn mủn đang gặm nhấm và làm băng hoại nhân cách con người Khi viết về đề

tài người nông dân, Nam Cao lấy tư liệu chủ yếu từ hiện thực cuộc sống những kiếp người bất hạnh của quê hương ông, nơi diễn ra bao cảnh tủi nhục, bần cùng, tha hóa

Đó là một quá trình vật lộn với đói nghèo, bế tắc của người nông dân trong cuộc sống khốn khổ

Nhìn lại những tác phẩm văn học viết về người nông dân có thể nói không

quá rằng, với mỗi nhà văn, tác phẩm “để đời” được nhớ đến nhất cũng như đóng góp

Trang 35

lớn nhất cho nền văn học nước nhà đều là tác phẩm viết về người nông dân Họ viết

về người nghèo, người nông dân như một lẽ tự nhiên, thân thuộc từ bản thân mình, bởi cuộc sống của người nông dân đã ăn sâu vào máu thịt của họ Ngòi bút đứng về phía người nghèo, người nông dân là đứng về lương tri Bởi hơn ai hết, đó là những người “thấp cổ bé họng” cần được bênh vực, cảm thông và thấu hiểu nhiều nhất

1.4 Tiểu kết chương 1

Ở chương 1, chúng tôi đã trình bày một số vấn đề cơ bản cho giải quyết các nhiệm vụ của đề tài Trong phần lý thuyết chung, chúng tôi trình bày khái niệm và một số đặc tính cơ bản của THTM- VC, một số vấn đề lí luận và phương pháp phân tích diễn ngôn Cuối chương 1, chúng tôi giới thiệu vài nét về nhà văn Nam Cao và nhân vật người nông dân trong truyện ngắn của ông Từ những điều

đã trình bày, chúng tôi rút ra một số điểm cơ bản như sau:

Một là: THTM văn chương trước hết cũng là một loại THTM mang những đặc thù của THTM nói chung nhưng được tạo dựng từ chất liệu ngôn ngữ để xây dựng hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn chương Bên cạnh THTM đơn, các THTM phức được hình thành từ cả một tập hợp hay tất cả những từ ngữ trong một văn bản nghệ thuật Trong các tác phẩm văn chương, THTM ở tầng vĩ

mô thường được gọi là hình tượng nghệ thuật THTM vĩ mô này là kết quả của sự tổng hợp, kết tinh của nhiều THTM đơn Theo đó, hình tượng người nông dân, nhân vật Chí Phèo…cũng được coi là những THTM và thuộc loại THTM vĩ mô (THTM phức)

Hai là: Phân tích DN là phân tích cả các yếu tố hình thức của DN, bao gồm các yếu tố ngôn ngữ ở tất cả các cấp độ từ đơn vị bậc thấp nhất đến đơn vị bậc cao nhất, phân tích các quy tắc kết học, các hành vi ngôn ngữ tạo nên DN, các quy tắc hội thoại

Những vấn đề lí thuyết được trình bày ở chương 1 sẽ được lấy làm cơ sở, nền tảng cho việc xem xét cụ thể các hình thức ngôn ngữ và YNTM- YNBT của

THTM người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao Đó cũng là một cách khám

phá những thông điệp của nhà văn sẽ được trình bày ở các chương tiếp theo

Trang 36

CHƯƠNG 2: HÌNH THỨC NGÔN NGỮ CỦA TÍN HIỆU THẨM

MĨ NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO

2.1 Khảo sát các truyện ngắn của nhà văn Nam Cao viết về người nông dân

2.1.1 Cách thức khảo sát

Nam Cao viết chủ yếu về hai loại nhân vật cơ bản là người nông dân và người trí thức tiểu tư sản nghèo Trong 60 DN tác phẩm của ông, chúng tôi đã thống kê

được 22 DN truyện ngắn ít nhiều có viết về THTM người nông dân Mọi nhiệm vụ

của chương 2 sẽ là khảo sát những phương tiện ngôn ngữ được nhà văn sử dụng để tạo lập nên bình diện hình thức- CBH cho THVC này trong các ngữ liệu được lựa chọn Những phương tiện- biểu thức ngôn ngữ này đều phải nhất quán ở chỗ đều

thuộc về trường từ vựng ngữ nghĩa có chung hạt nhân ý nghĩa là chỉ người nông dân Hạt nhân ý nghĩa này chi phối toàn diện tất cả các đơn vị về cách kiến tạo ngữ

nghĩa trong hệ thống lẫn trong hoạt động hành chức văn chương là trong các truyện ngắn của Nam Cao viết về nông dân

Từ điển tiếng thông dụng [83, tr 761] định nghĩa: "nông dân" là người lao

động sản xuất nông nghiệp Căn cứ vào không gian sống, lai lịch xuất thân, nghề nghiệp, hoạt động sinh sống… của người nông dân, chúng tôi lựa chọn được 43 nhân vật để khảo sát Để vấn đề trình bày được tập trung, sáng rõ, trong 22 truyện ngắn, chúng tôi lựa chọn 3 tác phẩm điển hình với những nhân vật nông dân tiêu

biểu như: Chí Phèo, Thị Nở trong Chí Phèo; Lão Hạc trong Lão Hạc; Lộ trong Tư cách mõ để làm ví dụ minh họa thường xuyên trong luận văn Còn những nhân vật

nông dân khác do sự xuất hiện mờ nhạt nên chỉ được đưa ra khi cần thiết

Để làm rõ bình diện CBH của THTM người nông dân, chúng tôi tập trung

vào thống kê, phân loại các ngữ liệu như: Số lượng tác phẩm, số lượng nhân vật, hoàn cảnh sống, tên gọi, từ ngữ miêu tả ngoại hình, tính cách, ngôn ngữ, cử chỉ, hành động của các nhân vật nông dân Ngữ liệu lựa chọn khảo sát bao gồm những THTM đơn, THTM phức nhằm dựng lên được bức tranh toàn cảnh về các biểu thức ngôn ngữ được nhà văn lựa chọn, kiến tạo nên THVC- hình tượng người nông dân trong các tác phẩm của mình

Trang 37

2.1.2 Kết quả khảo sát

Bảng 2.1 Bảng thống kê kết quả khảo sát ngữ liệu về THTM người nông dân

Stt Các phương diện được lựa chọn khảo sát Số liệu Ghi chú

Mục 2.2 sau đây là những kết quả phân tích cụ thể các số liệu trong bảng trên

2.2 Hình thức ngôn ngữ biểu đạt các biến thể THTM người nông dân trong

truyện ngắn Nam Cao

2.2.1 Từ ngữ làm tên gọi nhân vật

Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là

số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của nhân vật được thể hiện Vì vậy, Tô Hoài đã

có lí khi cho rằng nhân "vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác" Việc đặt tên cho "đứa con tinh thần" ấy đều thể hiện suy tưởng

của nhà văn, thể hiện chủ đề tác phẩm, gợi ra phong cách, trào lưu văn học của thời đại Tên nhân vật còn là dấu hiệu định hướng nội dung tư tưởng của tác phẩm để thu hút người đọc và hơn thế nữa nó là dấu hiệu chỉ dẫn mỗi độc giả hiểu sát, hiểu đúng

những ý đồ, tư tưởng mà tác giả muốn bộc lộ, gửi gắm qua sáng tác của mình

Bảng 2.2 Bảng thống kê tiêu chí đặt tên cho nhân vật là nông dân

Stt Tiêu chí đặt tên Nhân vật lượng Số Tỉ lệ

%

1 Tên nhân vật thể hiện đặc điểm

tính cách nhân vật Chí Phèo, Bịch, thị Nở 3 9,09

2 Tên nhân vật thể hiện số phận,

nghề nghiệp, cuộc đời nhân vật Lão Hạc, Binh Chức, Lộ 3 9,09

3 Tên nhân vật thể hiện chủ đề, tư

4 Tên nhân vật đặt bằng đại từ, từ

chỉ giới tính hắn, thị, anh cu, chị cu, thằng cu, cái Gái 6 18,18

Trang 38

5 Tên nhân vật đặt theo tuổi tác bà lão, ông thanh niên 2 6,06

6 Tên nhân vật đặt theo hoàn cảnh,

số phận kẻ bán nhà, người thiếu phụ, tên vô gia cư 3 9,09

7 Tên gọi nhân vật đặt theo tên vật (con vật, đồ vật, thực vật) anh đĩ Chuột, chị đĩ Chuột, Dần, Tơ 4 12,12

8

Tên nhân vật đặt theo tên người

thân (con cái, vợ chồng ), thứ tự

tiêu chí được đặt tên cho nhân vật, chúng tôi nhận thấy có những nhân vật được gọi

bằng những cái tên cụ thể: Chí Phèo; Bịch; lão Hạc; Lộ; Đức; Phúc; dì Hảo; Tơ; thị

Nở, nhưng cũng có những cái tên lại được đặt theo cách đặc biệt khác

Các tiêu chí ở mức trung bình như: Tên nhân vật đặt bằng các từ phân biệt giới tính, gắn với tuổi tác, gắn với hoàn cảnh, số phận, tên nhân vật đặt bằng tên vật

Số liệu trên cho thấy, thế giới nhân vật của Nam Cao qua các danh từ làm tên gọi thật đa dạng, phong phú biểu thị rõ thân phận con người trong muôn vàn cảnh ngộ

Đôi khi tên gọi nhân vật đã phần nào dự đoán trước số phận cuộc đời của nhân vật chỉ bằng những hình ảnh biểu trưng như con hạc, con chuột, con rận như Lão Hạc,

đĩ Chuột, Lang Rận…

Tên nhân vật thể hiện đặc điểm tính cách nhân vật chỉ chiếm 9,09% nhưng lại

là tên những nhân vật để lại nhiều ấn tượng nhất Nhắc đến Chí Phèo là nhắc đến

quá trình lưu manh hóa, từ con người biến thành quỷ dữ Nỗi thống khổ tột cùng

trong Chí Phèo không phải là không nhà, không cửa, không cha không mẹ, không

họ hàng thân thích mà chính là: Chí Phèo bị xã hội vằm nát cả một mặt người, cướp

đi linh hồn người, phải sống kiếp tối tăm của con vật lạ Đó chính là nỗi thống khổ của kẻ sinh ra là người nhưng lại không được làm người và bị xã hội từ chối, ghẻ

lạnh xua đuổi như loài ác ma, như loài quỷ dữ Đến mức không ai thèm để ý đến lời

chửi rủa của hắn, ai cũng cho rằng chắc nó chừa mình ra, khi ấy Chí Phèo trở thành

kẻ cặn bã của xã hội, xấu xa, đáng khinh bỉ, đáng bỏ đi như chính cái đoạn phèo của con lợn vậy

Việc lựa chọn tên nhân vật của Nam Cao rõ ràng là có sự cân nhắc, lựa chọn trong định hướng giao tiếp và làm rõ chủ đề, tư tưởng mà tác giả gửi gắm trong tác

Trang 39

phẩm Ở tiêu chí tên nhân vật thể hiện số phận và cuộc đời chiếm: 9,09% Ví dụ tên

nhân vật Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên

Tên gọi Lão Hạc là một cách đặt tên theo kiểu ẩn dụ về tính cách kết hợp với

đặc điểm ngoại hình nhân vật Hạc vốn là một loài chim lớn, tượng trưng cho sự sống lâu bền, thanh sạch Ca dao dùng hình ảnh chim hạc để nói về cuộc đời phiêu

bạt và những cố gắng vô vọng của người nông dân trong xã hội cũ "Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi" Nam Cao đặt tên nhân vật Lão Hạc cũng là một cách để thông báo với người đọc về số phận và cuộc đời lão,

mẫu số chung của bao người nông dân trong xã hội thực dân Truyện kết thúc bằng cái chết của lão Hạc một số phận hẩm hiu và nghiệt ngã Lão chết để giữ sự thanh cao trong sạch của lương tri, của tâm hồn Như vậy, tên nhân vật đã thể hiện cuộc đời, số phận nhân vật như một con vật trong trắng mà yếu đuối mang trên mình bao gánh nặng khổ đau Số phận những con người ấy cũng nhỏ bé, bất hạnh không hơn

gì con vật Qua tên gọi, Nam Cao gửi gắm vào đó niềm xót thương chân thành và

cảm phục sâu sắc

Tên Lộ trong Tư cách mõ thì lại khác Nếu Lão Hạc là con người có lương tri, nhân phẩm trong sạch thì Lộ lại là kẻ bị tha hóa, biến chất Sự thay đổi đó diễn ra theo quá trình như được vạch sẵn Lộ dần thích nghi, rồi thành thạo, sành sỏi và thành thằng mõ thực thụ Nghĩa Hán - Việt của từ Lộ là con đường nhưng còn mang nghĩa: lộ liễu, phơi bày, phô hết ra Vấn đề được đặt ra là: Lộ chọn cho mình con

đường nào để đi? Rõ ràng, chỉ vì miếng ăn mà Lộ không còn ý thức được phẩm giá của bản thân Hắn lấy làm tự hào, vênh váo, xấc láo đối với tất cả mọi người, khiến

mọi người khinh ghét, bỏ rơi hắn Như vậy, Lộ không chỉ còn là cái tên mà Nam Cao chọn dùng để gọi tên cho nhân vật mà Lộ còn cho ta thấy được cả một quá trình

tha hóa của một con người từ hiền lương đến xấu xa nhất

Khi phân tích tên nhân vật, chúng tôi nhận thấy nhiều tên gọi mang nghĩa ẩn

dụ Những tên gọi như vậy thường hàm ẩn khái quát quy luật cuộc sống, những suy nghĩ, kì vọng… mà tác giả muốn thể hiện Thông qua tên gọi 33 nhân vật đã liệt kê,

chúng tôi nhận thấy hầu hết các tên được đặt đều có nghĩa ẩn dụ như: Lộ, Thị Nở, Lão Hạc, Chí Phèo, Chuột, Tơ, Đức, Phúc, Hảo, Bịch Có những tên gọi nhân vật

đã mang tính điển hình như: Chí Phèo, Thị Nở, Lão Hạc ., nhắc đến họ ta nghĩ

Trang 40

ngay đến nhà văn Nam Cao Ông muốn từ những cái bình dị thường nhật, vượt ra

khỏi sự khô cứng, gò bó để phát hiện và thể hiện cái mới Dưới ngòi bút tài hoa, ông khiến truyện khi kết thúc rồi vẫn dội mạnh vào tâm trí người đọc một tiếng nấc nghẹn nước mắt xót thương những người nông dân quá khổ cực trong cái xã hội thực dân bấy giờ

2.2.2 Từ ngữ biểu thị hoàn cảnh sống của nhân vật

Khi tiến hành khảo sát hoàn cảnh sống của người nông dân, chúng tôi tập

trung vào hai hoàn cảnh tiêu biểu: hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội được Nam Cao chú trọng xây dựng Những hoàn cảnh này giúp tái hiện một cách sinh động nhất hiện thực xã hội vào giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945 với những số phận và tính cách chân thực Các ngữ liệu được thu thập lại tiếp tục chia nhỏ theo từng phương diện: hoàn cảnh tự nhiên bao gồm thiên tai, bệnh tật, đói

kém ; hoàn cảnh xã hội bao gồm chính sách thực dân, tệ nạn xã hội, định kiến xã hội, những tập tục lạc hậu Tất cả những nhân tố đó đã tạo nên một hoàn cảnh điển

hình, tiêu biểu của người nông dân trong sáng tác của Nam Cao Cụ thể như sau:

Bảng 2.3 Bảng thống kê, phân loại các yếu tố về hoàn cảnh sống của người nông dân

Ngữ liệu giới thiệu hoàn cảnh cụ thể

của người nông dân

Ngày đăng: 04/01/2020, 12:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w