Xuất phát từ những vấn đề như trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: "Trường nghĩa trang phục trong ca dao người Việt" làm đối tượng nghiên cứu với mong muốn làm rõ hơn quan niệm của
Trang 1- -
TRƯỜNG NGHĨA TRANG PHỤC TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Hùng Việt
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
HẢI PHÒNG, NĂM 2014
Trang 2Tìm về với vẻ đẹp văn hóa dân tộc nói chung và vẻ đẹp ngôn từ của nguồn cội nói riêng đó là một trong những vấn đề mà hiện nay chúng ta đã và đang rất quan tâm Ở mỗi giai đoạn phát triển của xã hội chúng ta đều ghi nhận rất rõ sự phản ánh đa chiều của ngôn ngữ Bởi thế thực tế khi nghiên cứu
về ngôn ngữ nói chung và ca dao nói riêng đã có rất nhiều tư liệu khẳng định rằng ca dao là hình thức văn nghệ sơ khai phản ánh phong tục, tập quán, đạo đức, lâm lí, tình cảm, kinh nghiệm sản xuất của người dân lao động Đó là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, được lưu truyền bằng miệng
và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân Ca dao là kết tinh cao nhất của đời sống tâm hồn con người Việt Nam Qua ca dao có thể nhận thấy đầy đủ diện mạo về cuộc sống vật chất và đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam ta ngày hôm qua và cả hôm nay
Trang phục là một trong những yếu tố quan trọng phản ánh nhận thức
thẩm mĩ của con người được ca dao ghi nhận rất tinh tế Nhìn vào dấu hiệu ngôn ngữ trong ca dao người ta có thể đánh giá được văn hóa cũng như sự phát triển của một cá nhân hay một dân tộc, một đất nước.Việt Nam là nước
có nền văn hóa gốc nông nghiệp điển hình Vì thế từ ngàn đời nay cách ăn mặc- trang phục của người Việt Nam có những nét độc đáo rất riêng, nét độc đáo riêng ấy đã được ca dao ghi nhận rất rõ nét Đặc biệt trong sự phát triển của xã hội hôm nay việc chúng ta nhìn nhận nét đẹp văn hóa truyền thống của
Trang 3người Việt rất thú vị Nó phản ánh rõ nét sự tiến bộ của người Việt trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống Đặc biệt là việc nhận thức, sử dụng
trang phục để thích ứng với các mục đích khác nhau của hiện thực
Tìm hiểu về ngôn ngữ trong ca dao là một hướng đi không mới
nhưng cũng không kém phần cuốn hút Đã có nhiều công trình nghiên cứu về
ca dao nhưng vẫn còn nhiều khoảng trống cần tìm hiểu cụ thể hơn, sâu hơn
Hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về trường nghĩa trang phục
trong ca dao người Việt
Xuất phát từ những vấn đề như trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề
tài: "Trường nghĩa trang phục trong ca dao người Việt" làm đối tượng
nghiên cứu với mong muốn làm rõ hơn quan niệm của người Việt về trang phục thể hiện qua loại hình ca dao, đồng thời cũng để góp phần khẳng định giá trị nhiều màu vẻ của ca dao Việt Nam
Trang phục truyền thống và hiện đại là một vấn đề văn hóa đa dạng và
phức tạp Đa dạng ở chỗ mỗi dân tộc trong 54 dân tộc đều có cách thức, kiểu
dáng, chất liệu trang phục riêng; trong từng hệ thống trang phục ấy lại bao gồm nhiều loại: quần, áo, váy, mũ, khăn, nón, giày, dép, guốc… thậm chí cả
đồ trang sức; trang phục ngày thường khác ngày tết, ngày hội, trang phục
cưới khác tang phục, lễ phục khác thường phục…
Phức tạp là bởi trang phục không phải hình thành và biến động chỉ trong
bản thân hệ thống nội tại của nó mà còn gắn bó với hàng loạt bộ phận khác nhau của đời sống văn hóa xã hội loài người: điều kiện hình thành, phong tục tập quán, thị hiếu, thói quen, nghề nghiệp, tuổi tác… của từng đối tượng hay nhóm đối tượng cư dân Nghĩa là, đề cập tới trang phục theo chiều tuyến tính, lịch đại (thời gian: quá khứ – hiện tại – tương lai) hay theo lát cắt đồng đại, chúng ta đều bắt gặp sự phong phú, đa dạng, phức tạp thay đổi thường ngày
của trang phục Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn chúng tôi xin phép chỉ quan tâm tới một vấn đề nhỏ: quan hệ giữa trang phục ( truyền thống ) với thị
Trang 4hiếu thẩm mỹ của con người với tư cách chủ thể Hẹp hơn nữa, luận văn đề
cập chủ yếu tới một số khía cạnh trường nghĩa trang phục trong ca dao người Việt từ góc độ ngôn ngữ
Cách hiểu về trang phục, chúng tôi sẽ bàn và khảo sát, trình bày trong phạm vi của luận văn Tạm coi trang phục là bao gồm tất cả những phục sức
mà con người có thể mặc, khoác, đeo, gắn… lên cơ thể mình với nhiều mục đích: che thân, chống rét, chống nắng, làm đẹp, v v
2 Lịch sử vấn đề
Đã từ rất lâu vấn đề trường nghĩa được các nhà khoa học trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng quan tâm nghiên cứu Nhờ vấn đề trường nghĩa mà biết bao những góc nhìn mới về ngôn ngữ được mở ra Khi tìm hiểu
về lịch sử vấn đề trường nghĩa chúng ta không thể không kể đến những nhà nghiên cứu về trường nghĩa có tên tuổi trên thế giới như W Humboldt, J Trier, W Porzing, L Weisgerber Hay ở Việt Nam Đỗ Hữu Châu được xem
là nhà nghiên cứu hàng đầu với những công trình nghiên cứu chuyên sâu về trường nghĩa
Hầu hết ở phạm trù này các tác giả tập trung nghiên cứu về lí thuyết trường nghĩa, về tính hệ thống của trường, các tiêu chí xác lập trường Trong các lĩnh vực nghiên cứu của ngôn ngữ, xét về ngôn ngữ trong đời sống nói chung và ngôn ngữ của văn chương nói riêng thì ngôn ngữ của ca dao cũng được xem là một nội dung rất hấp dẫn để các nhà nghiên cứu tiến hành khảo cứu Đặc biệt là việc nghiên cứu hệ thống ngữ nghĩa của ngôn ngữ và biểu tượng nghệ thuật trong ca dao Việt Qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy có những phát hiện mới mẻ từ thế giới muôn màu của ngôn từ, của văn chương được tiềm ẩn trong ca dao – một hình thức văn học, văn hóa cổ xưa ý nghĩa về nhiều mặt Những công trình nghiên cứu về ca dao Việt Nam với quy mô lớn như Nguyễn Xuân Kính, Vũ Ngọc Phan, Chu Xuân Diên, Vũ Dung, Vũ Thị
Trang 5nghiên cứu các tác giả đã tìm hiểu ca dao ở nhiều góc độ: Văn hoá dân gian, thi pháp học, văn hoá học, ngôn ngữ học…
- Vũ Ngọc Phan với cuốn “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” đã tìm hiểu
chung về nội dung và hình thức của từng thể loại, và thống kê các câu tục ngữ, ca dao theo các chủ đề khác nhau Với cuối sách này, tác giả là người đầu tiên đề cập trực tiếp đến vấn đề biểu tượng trong ca dao Tác giả cũng đã dành một phần tìm hiểu về biểu tượng áo lụa, yếm đào, khăn mỏ quạ trong
công trình nghiên cứu này, và các tác giả cũng đã nhấn mạnh :Một đặc điểm trong tư duy hình tượng của nhân dân Việt Nam về cái đẹp của cuộc sống, của tình yêu con người phải chăng chính là trang phục áo đỏ, yếm thắm, khăn đội đầu, guốc…
- Hà Công Tài với bài “Biểu tượng trăng trong thơ ca dân gian” Và Bùi Công Hùng với bài “Biểu tượng thơ ca” (1988) đã khai thác rõ hơn về khái
niệm nghệ thuật và đi sâu phân tích một số biểu tượng trong ca dao, trong đó
có biểu tượng trăng
- Trương Thị Nhàn với bài viết in trên tạp chí văn hoá dân gian “Tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật ca dao qua một số tín hiệu thẩm mĩ” (1992) Tác giả đã
nêu ý nghĩa biểu tượng của các vật thể như khăn, áo, giường, chiếu,…và đi sâu tìm hiểu tín hiệu thẩm mĩ Ở bài viết này tác giả kết luận : Khả năng biểu trưng hoá nghệ thuật của các vật thể trong ca dao góp phần tạo nên một nét đặc trưng rất cơ bản Trang phục là một yếu tố mang ý nghĩa thẩm mĩ giàu sức khái quát nghệ thuật, tham gia vào hệ thống biểu hiện của ngôn ngữ nghệ thuật ca dao,trang phục có giá trị của một tín hiệu thẩm mĩ, tín hiệu văn hóa
- Nguyễn Xuân Kính với công trình nghiên cứu “Thi pháp ca dao” (1992)
đã dành hẳn một chương để tìm hiểu các biểu tượng như câu trúc, cây mai, hoa nhài, con bống, con cò và so sánh ý nghĩa của một số biểu tượng động vật trong ca dao và văn học viết Tác giả đặt ra một vấn đề cần được quan tâm khi
xác định ý nghĩa biểu tượng: “Tuy cùng viết về một biểu tượng như hai dòng
Trang 6thơ dân gian và bác học đã miêu tả khác nhau, cấp cho nhau những ý nghĩa khác nhau” [Tr.350]
- Cũng Trương Thị Nhàn, với luận án phó tiến sĩ “ Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mĩ không gian trong ca dao” (1995) đã tiếp tục đi sâu
nghiên cứu một loại biểu tượng không gian như rừng, núi, sông, ruộng, bến, đình, chùa…Tác giả đã góp một tiếng nói ở một phương diện mới trong lĩnh vực nghiên cứu biểu tượng ca dao
- Nguyễn Chí Trung (2004), Trường từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thơ Chế Lan Viên, Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học, Trường Đại Học Sư Phạm
Hà Nội
- Phạm Thanh Phúc (2014) Trường nghĩa chỉ quân sự trong thơ Tố Hữu, luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học, trường Đại Học Hải Phòng
- Phạm Thu Yến trong cuốn “Những thế giới nghệ thuật của ca dao”
(1998) đã dành một số trang để khảo sát, nghiên cứu biẻu tượng trong thơ ca trữ tình dân gian Tác giả nghiên cứu biểu tượng theo ba vấn đề: ranh giới giữa biểu tượng và ẩn dụ; biểu tượng thơ ca dân gian; sự hình thành và phát
triển của biểu tượng Theo như như tác giả viết “ Những điều trình bảy trên vẫn mang ý nghĩa mở, ý nghĩa đặt vấn đề chứ chưa phải là sự giải quyết triệt để”
- Nguyễn Thị Ngọc Điệp với bài “ Tìm hiểu nguồn gốc biểu tượng trong
ca dao Việt Nam” (1990) đã phân chia các biểu tượng chủ yếu thành ba nguồn
sau:
+ Những biểu tượng xuất phát từ phong tục tập quán của con người Việt
Nam, từ quan niệm dân gian, tín ngưỡng dân gian: Trầu cau, cây đa, vuông tròn…
+ Những biểu tượng xuất phát từ sự quan sát trực tiếp hàng ngày của nhân dân: áo nâu, áo nhiễu, áo gấm, áo the, quần hồng, quần chéo, yếm thắm
Trang 7+ Những biểu tượng xuất phát từ văn học cổ Việt Nam và Trung Quốc:
Thuý Kiều – Kim Trọng, Ngưu Lang – Chức nữ, dây tơ hồng, ông tơ bà nguyệt…- Hoàng Thị Ái Vân (2008), Trường nghĩa mùi vị và các hình thức ngôn ngữ biểu hiện trong tiếng Việt, Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học, Trường
Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Theo sự phân chia của tác giả, ta nhận thấy biểu tượng trang phục được
hình thành từ nguồn thứ ba tức là từ sự quan sát trực tiếp hàng ngày của nhân dân Cơ sở để tạo nên các biểu tượng chính là hiện thực khách quan Dựa vào các phân loại trên, chúng tôi đã xác định những định hướng để triển khai đề tài này
Gần đây hơn là những bài viết của một số tác giả trẻ như Nguyễn Phương Châm, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Hà Thị Quế Hương, Phan Thị Thuý Hằng…đã đem đến cho người đọc nhiều hiểu biết thú vị, đặc biệt cung cấp cho chúng tôi những thông tin mới để nghiên cứu đề tài
Qua việc tìm hiểu các công trình khoa học đã kể ra ở trên, có thể thấy các tác giả đã tập trung thống kê, tìm hiểu các vấn đề về kho tàng ca dao Việt Nam khá kĩ Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ
thống về từ ngữ của trường trang phục trong ca dao Việt Thực tế này là một
gợi ý cho chúng tôi lựa chọn và bắt tay vào thực hiện đề tài
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Trường nghĩa trang phục trong ca dao người Việt
3.2 Phạm vi tư liệu nghiên cứu
- Luận văn dựa trên công trình Kho tàng ca dao người Việt ( Nxb văn hóa thông tin HN 2001, gồm 2 tập của các tác giả Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật (chủ biên), Vũ Ngọc Phan, Phạn Đăng Tài, Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang
Trang 8- Tư liệu về ca dao trong Ngân hàng dữ liệu từ ngữ tiếng Việt của Viện
Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Qua luận văn chúng tôi nhằm hướng đến xác lập một trường nghĩa trang phục trong ca dao người Việt Từ việc xác lập, tìm hiểu quan hệ ngữ nghĩa và hoạt động ngữ nghĩa trong trường, luận văn nhằm làm rõ hơn lí
thuyết về trường nghĩa và biểu hiện về trường nghĩa trang phục trong ca dao
người Việt
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lí thuyết trường nghĩa trong ngôn ngữ học
- Vận dụng lí thuyết trường nghĩa vào Kho tàng ca dao người Việt để xác lập các tiểu trường thuộc trường nghĩa trang phục
- Phân tích nghĩa biểu trưng của từ ngữ thuộc trường nghĩa trang phục trong ca dao
5 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu trường nghĩa trang phục trong ca dao người Việt,
chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này được sử dụng để khảo sát nguồn tư liệu theo từng vấn
đề cụ thể
5.2 Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được sử dụng để làm sáng tỏ từng luận điểm, từ đó
Trang 95.3 Phương pháp phân tích ngữ cảnh
Phương pháp này được áp dụng để phân tích nghĩa của các từ ngữ
thuộc các tiểu trường của trường trang phục trong những ngữ cảnh khác nhau,
nhằm tìm ra các đặc trưng ngữ nghĩa và giá trị biểu trưng của từ ngữ thuộc trường nghĩa trang phục
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Về lí luận
- Giúp làm rõ thêm lí thuyết về trường nghĩa nói chung và chỉ ra hoạt
động ngữ nghĩa của từ ngữ trong một trường cụ thể là trường trang phục
- Từ đó làm sảng tỏ giá trị văn hóa của trường nghĩa trang phục trong ca
dao người Việt
6.2 Về thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu giúp chúng ta có thêm hiểu biết về trường nghĩa trang phục trong ca dao người Việt Qua đó có thể vận dụng vào việc giảng dạy ngữ văn trong trường phổ thông cũng như các cấp học khác
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
CHƯƠNG 2: XÁC LẬP TRƯỜNG NGHĨA TRANG PHỤC TRONG
CA DAO NGƯỜI VIỆT
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ BIỂU TRƯNG CỦA TRƯỜNG NGHĨA
TRANG PHỤC TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
Trang 10PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 CƠ SỞ NGÔN NGỮ HỌC: LÍ THUYẾT VỀ TRƯỜNG NGHĨA
1.1.1 Khái niệm trường nghĩa
Trường nghĩa còn được gọi là trường ngữ nghĩa, trường từ vựng, trường từ vựng ngữ nghĩa, là một lĩnh vực nghiên cứu từ vựng học được xuất hiện mấy chục năm gần đây Lí thuyết trường nghĩa này bắt đầu từ những tiền
đề của trường phái W Humboldt và phần nào từ những tư tưởng của F de Saussure vầ tính cấu trúc của ngôn ngữ F de Saussure cho rằng: " Gíá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu tố ở xung quanh quy định [32: 202] và " chính phải xuất phát từ cái toàn thể làm thành một khối để phân tích ra những yếu tố mà nó chứa đựng" [32: 198]
Nhà nghiên cứu ngôn ngữ J Trier đã đưa ra thuật ngữ "trường" vào
ngôn ngữ học sớm nhất, đó là thuật ngữ trường khái niệm và trường từ vựng
Trường khái niệm là một hệ thống gồm những khái niệm có quan hệ với nhau, được tổ chức lại xung quanh khái niệm trung tâm Mỗi trường khái niệm được các từ phủ lên trên, mỗi từ tương ứng với một khái niệm Trường từ vựng là tập hợp các từ phủ lên trên một trường khái niệm J Trier chia toàn bộ từ vựng thành trường cấp cao, trong trường cấp cao lại chia thành trường cấp thấp hơn cho đến những từ rời J Trier cho rằng ngôn ngữ mỗi từ tồn tại trong một trường, "giá trị của nó là do quan hệ với các từu khác trong trường quyết định"
Từ năm 70 của thế kỷ XX lí thuyết trường nghĩa được giới thiệu vào
Việt Nam (từ đây luận văn sử dụng thuật ngữ trường nghĩa được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ nhắc đến như một cơ sở cơ bản nhất) Đặc biệt cho đến
Trang 11cấu trúc miêu tả Nhiều công trình nghiên cứu về trường nghĩa, nghĩa của từ, đối chiếu trường nghĩa của Tiếng Việt với trường nghĩa tương ứng trong ngôn ngữ khác đã được hình thành, như các công trình của các tác giả: Đỗ Hữu Châu [5,6], Đỗ Việt Hùng [8], Nguyễn Thiện Gíap [12,13], Bùi Minh Toán [33], Nguyễn Văn Tu [35], cùng các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ Đỗ Hữu Châu đã vận dụng lí thuyết về trường nghĩa của các tác giả nước ngoài
để hình thành nên quan điểm của mình về lí thuyết trường nghĩa Đỗ Hữu
Châu cho rằng: " Những quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt các từ (nói cho đúng là các ý nghĩa của từ) vào những hệ thống con thích hợp Nói cách khác, tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiêu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng" [5: 169 - 170] Từ đó, Đỗ Hữu Châu định nghĩa: " Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa" [5: 170]
Ở luận văn này, chúng tôi dựa trên cơ sở chính là lí thuyết về trường
nghĩa của Đỗ Hữu Châu Có thể hiểu trường nghĩa là: một nhóm, một tập hợp, một hệ thống các từ có mối quan hệ nào đó với nhau về ngữ nghĩa làm thành một tiểu hệ thống trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ
1.1.2 Tiêu chí xác lập trường nghĩa
Khi nghiên cứu ngôn ngữ, đặc biệt đối với vấn đề tiêu chí xác lập trường, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra những đánh giá về trường nghĩa (trường từ vựng ngữ nghĩa) như sau:
Việc phân lập từ vựng của một ngôn ngữ thành các trường nghĩa là để phát hiện ra tính hệ thống và cấu trúc của hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa
là rất có cơ sở Nhưng đó không phải là một nội dung duy nhất của việc phân lập trường Nói sâu hơn, tìm ra hệ thống, tìm ra cấu trúc là để tìm ra và giải
Trang 12thích các cơ chế đồng loạt chi phối sự sáng tạo nên đơn vị và hoạt động của chúng trong quá trình sử dụng ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp
Vậy thực chất các trường nghĩa là những sự kiện ngôn ngữ cho nên tiêu chí để phân lập chúng phải là tiêu chí ngôn ngữ Không thể bắt đầu sự phân lập bằng các phạm vị sự vật, hiện tượng mà con người có thể biết từ ngoài ngôn ngữ, cũng không thể bắt đầu bằng các vùng khái niệm đã có trong tư duy Nếu như đã phân biệt ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm thì cơ sở để phân lập trường là sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm của các từ Đỗ Hữu Châu cho rằng: có thể phân ra hai loại trường nghĩa lớn: trường biểu vật và trường biểu niệm Hai loại trường nghĩa này không loại trừ lẫn nhau và chúng có liên hệ với nhau nhưng phải phân biệt rõ từng loại trường nghĩa
Thứ nhất: Trường nghĩa biểu vật là một tập hợp những từ có quan hệ
gần gũi về ý nghĩa biểu vật Để có những căn cứ dựa vào đó mà đưa ra các ý nghĩa biểu vật của các từ về trường biểu vật thích hợp, chúng ta chọn ra danh
từ làm gốc Các danh từ này phải có tính khái quát cao, gần như là các tên gọi
của các phạm trù biểu vật, như người, động vật, thực vật, vật thể, chất liệu, trang phục, quần,áo,mũ,giầy, dép Các danh từ này cũng là tên gọi có tác
dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những ý nghĩa cụ thể, thu hẹp
ý nghĩa của từ Với luận văn này, chúng tôi chọn danh từ trang phục là tên gọi
của trường nghĩa được khảo sát
Thứ hai :Trường nghĩa biểu niệm là một "tập hợp các từ có chung một
cấu trúc biểu niệm Để xác lập trường nghĩa biểu niệm ta chọn một cấu trúc biểu niệm làm gốc, rồi trên cơ sở đó thu nhập các từ ngữ có chung cấu trúc biểu niệm gốc đó" (8:230)
Trên thực tế dựa vào ý nghĩa của từ mà chúng ta phân lập được các trường nghĩa nhưng cũng chính nhờ các trường nghĩa, nhờ sự định vị của từng
Trang 13từ Không phải chỉ có mỗi việc hiểu ý nghĩa của từ, các trường biểu vật, biểu niệm cũng như các trường khác (trường nghĩa tuyến tính, trường nghĩa liên tưởng) còn giúp chúng ta phát hiện ra các quy tắc chi phối sự vận động của từ trong lịch sử và trong hoạt động thực hiện chức năng
Trong "Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng", Đỗ Hữu Châu đã đưa ra các tiêu chí xác lập trường nghĩa khá rõ nét:
Tiêu chí đầu tiên: do các trường nghĩa là những sự kiện thuộc phạm trù ngôn ngữ cho nên việc phân lập chúng trước tiên là dựa theo tiêu chí ngôn ngữ - những ý nghĩa ngôn ngữ Ý nghĩa ngôn ngữ chính là ý nghĩa của từ, cơ
nhau nhờ những mối liên tưởng ngữ nghĩa nào đó
1.1.3 Các loại trường nghĩa
Trang 14F de Saussure trong " Giáo trình ngôn ngữ học đại cương" đã chỉ ra hai dạng quan hệ: quan hệ ngang ( quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình) Từ hai dạng quan hệ ngang và quan hệ dọc mà F de Saussure nêu ra, Đỗ Hữu Châu đã phân chia trường nghĩa thành hai loại: trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính) và trường nghĩa dọc (truyền nghĩa trực tuyến) Đồng thời căn cứ vào loại ý nghĩa còn có sự phân biệt trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm
1.1.3.1 Trường nghĩa biểu vật (trường biểu vật)
Về khái niệm trường biểu vật là một tập hợp từ có cùng hạt nhân về ý nghĩa biểu vật Từ điển hình của trường thường là các danh từ có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật Ví dụ: trường nghĩa
trang phục, từ trung tâm khái quát trang phục sẽ tập hợp các từ ngữ có cùng hạt nhân ý nghĩa về trang phục:
- Từ ngữ chỉ các tiểu trường của trang phục: quần ,áo, dầy, dép ,khăn…
- Các từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất, màu sắc của trang phục: trang phục đẹp, trang phục xấu, trang phục tốt, trang phục đắt, trang phục rẻ, trang phục còn lành lặn, trang phục đã rách, trang phục nhàu lát, trang phục nhau nhúm, trang phục phẳng phiu từ ngữ chỉ màu sắc của trang phục: hoa, màu, xanh đỏ, tím, vàng, lục nam, đen, nâu, thâm, hồng,
- Các từ ngữ chỉ chất liệu của trang phục: chất liệu bằng vải thô, chất liệu bằng vải nhung, chất liệu bằng kim tuyến, chất liệu bằng rơm, chất liệu bằng da, chất liệu bằng nhựa, chất liệu bằng cao su, chất liệu lụa tơ tằm,chất vải nhiễu, chất mo cau, chất vải gấm, chất da, chất nhựa…
- Các từ ngữ chỉ hoạt động mua bán của trang phục: tiền, đồng, hào,
Trang 15- Các từ ngữ chỉ cách thức tác động của con người với trang phục: Giặt, rũ, phơi, hong, đập, ngâm…
- Các từ ngữ chỉ chủ thể sử dụng trang phục: Anh, em, chàng, nàng,
cô, thiếp, chị, cậu, mợ, thím…
- Các từ chỉ bộ phận cơ thể “mang’ trang phục: chân, tay, đầu, vai, cổ, lưng, bụng…
1.1.3.2 Trường nghĩa biểu niệm (trường biểu niệm)
Trường biểu niệm là một tập hợp từ có chung cấu trúc biểu niệm là các
ý nghĩa biểu niệm của từ
Cũng như các trường biểu vật, các trường biểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường nhỏ và cũng có những miền, những mật độ khác nhau
Do từ cũng có nhiều nghĩa biểu niệm nên một từ có thể đi vào những trường biểu niệm khác nhau Các trường biểu niệm cũng giao thoa, thẩm thấu vào nhau, cũng có lõi trung tâm là các từ điển hình và các lớp ngoại vi là các từ kém điểm hình
Để xác lập một trường biểu niệm chúng ta dựa vào một cấu trúc nghĩa biểu niệm làm gốc đồng nhất nào đó trong nghĩa biểu niệm Ví dụ: Từ nét
nghĩa: (hoạt động) (tác động đến X) (làm cho X biến dạng) (dùng miệng), có thể xác lập được một trường biểu niệm với các từ như:
- X ở dạng cứng: nhai, cắn, xé, nghiền
- X ở dạng lỏng hoặc khí: mút, liếm, hút, phun
Sự phân lập thành trường nghĩa biểu vật hay trường nghĩa biểu niệm dựa trên sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ Ý nghĩa của từ sẽ được hiểu sâu sắc hơn nhờ sự định vị từng từ trong trường nghĩa thích hợp
Trang 16Trong luận văn này, trường nghĩa trang phục trong ca dao được phân
tích chủ yếu ở phương diện trường nghĩa biểu vật
1.1.3.3 Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang)
Cơ sở xác lập trường là mối quan hệ trên trục ngữ đoạn của các đơn vị ngôn ngữ Trường tuyến tính trước hết xuất phát từ tính hình tuyến của tín hiệu ngôn ngữ, các tín hiệu phải lần lượt kế tiếp thành một chuỗi chứ không thể đồng thời xuất hiện, do đó quan hệ ngữ đoạn còn gọi là quan hệ hàng ngang hay quan hệ tuyến tính Muốn có quan hệ ngữ đoạn với nhau, các yếu
tố phải cùng thực hiện một chức năng về ngôn ngữ hoặc về nội dung giao tiếp Thông qua các kết hợp ngữ đoạn các từ sẽ bộc lộ các ý nghĩa từ vựng - ngữ pháp của chúng
Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ Ví dụ: trường tuyến tính của từ
giọng là: cao, thấp, trầm, bổng, thanh, thé, khàn ; trường tuyến tính của từ bột là: gạo, mì, sắn, ngô, khoai, đậu Cùng với các trường nghĩa dọc, trường
nghĩa ngang (trường tuyến tính) góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ
Ở luận văn này, trường nghĩa tuyến tính thể hiện ở sự kết hợp của
trang phục (hay biến thể của nó) với các từ chỉ trạng thái, màu sắc, chất liệu,
tính chất của trang phục (thể hiện ở chương 2)
1.13.4 Trường nghĩa liên tưởng
Các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bằng từ các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm Các từ trong cùng một trường liên tưởng trước hết là các từ cùng nằm trong trường biểu vật, trường
Trang 17và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm Song trong trường liên tưởng còn có nhiều từ khác được liên tưởng tới do xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đề tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại, điều này làm cho các trường liên tưởng có tính dân tộc, tính thời đại và tính cá nhân
Trường liên tưởng nhất thiết phải dựa trên một mối tương đồng hay một sự giống nhau nào đó, không liên quan đến khả năng chiếm giữ cùng một
vị trí trên một chuỗi lời nói, cũng không liên quan đến khả năng thay thế cho
nhau Ví dụ: Từ trang phục có thể đem đến sự liên tưởng tới các từ như: xấu,
đẹp,hồng tím, xanh, rực rõ, nhã nhặn…hay kiêủ đồng phục của học sinh , trang phục nhà nông, đồng phục của thầy cô giáo, trang phục bác sĩ, trang phục nam, trang phục nữ, trang phục nhà giàu, trang phục nhà nghèo, trang
phục của người miền ngược, trang phục của người miền xuôi những từ này
có nhiều điểm tương đồng, tuy không tương đồng về hình thức âm thanh
nhưng tường đồng về ý nghĩa, chỉ sự tồn tại nội hàm của trang phục Về mặt
ngữ pháp, chúng đều là các danh từ và tính từ, động từ Về khả năng sử dụng, chúng đều có thể thay thế cho nhau mà vẫn đảm bảo sự tương đồng mức độ với những từ đi trước và đi sau
Như vậy, trường liên tưởng là tập hợp những từ xuất hiện khi có một từ kích thích Ví dụ: Nói tới trang phục là ta nghĩ đến áo, quần, dầy, dép, khố,
khăn, thắt lưng… màu sắc, đẹp, xấu, bình dân, quí phái, sang trọng
1.1.4 Hiện tượng chuyển trường
Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất trong giao tiếp và tư duy của con người Ngôn ngữ có quy luật tiết kiệm vô cùng kỳ diệu là dùng cái hữu hạn để biểu hiện cái vô hạn Quy luật này có mặt ở tất cả các mặt: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Về mặt từ vựng, quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ thể hiện ở chỗ: cùng một hình thức âm thanh có thể diễn đạt được nhiều nội dung khác nhau Vì vậy, hiện tượng đa nghĩa của từ là kết quả của sự chuyển biến ý
Trang 18nghĩa của từ, "bản thân quá trình phát triểm thêm ý nghĩa mới của từ lại gắn liền với hiện tượng chuyển nghĩa" [12: 160]
Khi mới xuất hiện, từ đơn hoặc từ phức đều chỉ có một nghĩa biểu vật Trong quá trình sử dụng, từ có thêm nhiều nghĩa biểu vật mới bởi "động lực chủ yếu thúc đẩy sự chuyển biến ý nghĩa vẫn là nhu cầu do giao tiếp đặt ra Ngôn ngữ luôn luôn đứng trước đòi hỏi phải kịp thời sáng tạo ra những phương tiện mới để biểu thị những sự vật, hiện tượng và những nhận thức mới xuất hiện trong xã hội, để thay thế những cách diễn đạt, những tên gọi cũ
đã mòn, không còn khả năng gợi tả bộc lộ cảm xúc và gây ấn tượng sâu sắc ở người nghe nữa"[5: 151]. Thay đổi ý nghĩa vốn có của từ làm cho chúng có thêm nhựa sống chính là làm cho ngôn ngữ thêm đa dạng, phong phú để đáp ứng nhu cầu giao tiếp trong một xã hội xã hội phát triểm không ngừng
Qúa trình chuyển nghĩa không phải là một quá trình tự do mà là sự sáng tạo theo những quy tắc nhất định Từ có thể được chuyển nghĩa theo hai
phương thức phổ biến là ẩn dụ và hoán dụ "Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y (để biểu thị y), nếu như x và y giống nhau Còn hoán dụ là phương thức lấy tên gọi là A của x để gọi y nếu x và y
đi đôi với nhau trong thực tế" [5: 155] Như vậy, xét về bản chất, ẩn dụ và
hoán dụ đều là hiện tượng chuyển tên gọi từ sự vật, hiện tượng hoặc tính chất này sang để gọi tên sự vật, hiện tượng hoặc tính chất khác dựa trên những mối quan hệ nhất định giữa các sự vật, hiện tượng và tính chất ấy Tuy nhiên ẩn dụ
và hoán dụ khác nhau ở chỗ: ẩn dụ dựa trên cơ sở sự giống nhau về một điểm nào đó giữa các sự vật, hiện tượng , tính chất được gọi tên; hoán dụ dựa vào
sự đi đôi với nhau trong thực tế khách quan giữa các sự vật, hiện tượng, tính chất đó
Trong quá trình sử dụng, các đơn vị ngôn ngữ luôn ở trạng thái động, ở
đó diễn ra nhiều chuyển hóa, biến đổi Những biến đổi đó xuất phát từ phạm
Trang 19nhiều nghĩa và sự chuyển biến ý nghĩa của từ cũng gắn liền với vấn đề trường
nghĩa " vì từ có nhiều nghĩa biểu vật, do đó từ có thể nằm trong nhiều trường biểu vật khác nhau hay trong nhiều trường nhỏ khác nhau tùy theo số lượng các ý nghĩa biểu vật của nó" [5: 175] Sự chuyển nghĩa của từ kéo theo sự
chuyển trường nghĩa hiện tượng chuyển trường nghĩa là các từ mang đặc điểm miêu tả sự vật ở trường mới đồng thời kéo theo những nét nghĩa vốn có
ở trường cũ
Những từ cùng một trường có xu hướng chuyển nghĩa giống nhau Nghiên cứu về chuyển nghĩa từ vựng, sự chuyển nghĩa của từ không chỉ đáp ứng được nhu cầu giao tiếp của con người mà còn góp phần tạo nên
sự sống động của ngôn ngữ Đối với hiện tượng chuyển nghĩa của từ, các nhà ngôn ngữ đều cho rằng hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới là ẩn dụ và hoán dụ
1.2 KHÁI QUÁT VỀ CA DAO
1.2.1 Khái niệm ca dao
Văn học dân gian là một bộ phận to lớn trong văn hóa dân tộc, nó là một nền văn hóa rất phát triển Phần thơ là phần phong phú nhất, có giá trị nhất trong văn học dân gian của dân tộc ta mà ca dao chiếm một mảng rất lớn
Thuật ngữ ca dao được các nhà nghiên cứu định nghĩa như sau:
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi): "Ca dao còn gọi là phong dao Thuật ngữ ca dao được dùng với
nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau
Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu
Ca dao là danh từ chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca
Trang 20Từ một thế kỷ nay, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam
đã dùng danh từ ca dao để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi) Với nghĩa này, ca dao là thơ dân gian truyền thống" [14: 31]
Vũ Ngọc Phan quan niệm: "Ca dao là những bài hát thường thường ngắn, hoặc hai, bốn, sáu hay tám câu, âm điệu lưu loát và phong phú Tuy qua nhiều người, nhiều thế hệ sửa chữa, ca dao vẫn giữ được tư tưởng chủ đề và tính chất mộc mạc Ca dao có nhiều thể, mà nhiều hơn cả là thể lục bát (vế sáu chữ và vế tám chữ là một câu câu thống nhất); còn có thể bốn chữ; thể năm chữ và cũng có cả thể song thất lục bát, nhưng không nhiều Nôị dung chủ yếu của ca dao là trữ tình, tức biểu hiện nội tâm của các tác giả là nhân dân lao động" [29: 16 - 17]
Nguyễn Thái Hòa nêu: "Ca dao còn gọi là phong dao, từ ngữ dân gian gọi là câu ca, câu hát, câu ví, câu hò là lời hát gắn với những giai điệu, ca khúc dân gian trong lao động, trong đối đáp trữ tình hoặc lễ hội dân gian" [19: 28]
Trong nghiên cứu văn học dân gian, để hiểu rõ hơn về ca dao các nhà khoa học thường phân định sự khác nhau về hình thức và nội dung giữa ca dao và tục ngữ: "Tục ngữ thiên về lí trí, tục ngữ cung cấp cho người nghe những triết
lý dân gian, tri thức dân gian; ca dao thiên về tình cảm, có nội dung trữ tình dân gian" [23: 72]
1.2.2 Quan hệ giữa ca dao và dân ca
Trong đời sống sinh hoạt văn hóa văn nghệ, ca dao thường được dùng
để hát, để ngâm (sau này được xem bằng mắt ) Căn cứ vào định nghĩa về ca
dao trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử -
Trang 21Nguyễn Khắc Phi) cùng các ý kiến của các nhà khoa học, xét thấy cần phải bàn đến mối quan hệ giữa ca dao và dân ca
Theo các nhà nghiên cứu, thuật ngữ ca dao ra đời từ cuối thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX Thuật ngữ dân ca xuất hiện muộn hơn, phải đến những năm
50 của thế kỷ XX (thuật ngữ dân ca được dùng trong công trình "Tục ngữ và dân ca Việt Nam" do Vũ Ngọc Phan biên soạn, in lần đầu năm 1956) Ca dao
và dân ca có mối quan hệ với nhau như thế nào: ''Dân ca bao gồm phần lời (câu hoặc bài), phần giai điệu (giọng hoặc làn điệu), phương thức diễn xướng
và cả môi trường, khung cảnh ca hát Ca dao được hình thành từ dân ca Khi nói đến ca dao, người ta nghĩ đến lời ca Khi nói đến dân ca, người ta nghĩ đến làn điệu và những thể thức hát nhất định Như vậy không có nghĩa toàn
bộ hệ thống những câu hát của một loại dân ca nào đó tước bớt tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi thì sẽ đều là ca dao và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thứ dân gian" [23: 78 - 79]
Vậy chúng ta có thể hiểu ca dao và dân ca là hai thể loại kho tàng văn học dân gian, nó vừa độc lập vừa có mối quan hệ với nhau "Một mặt, chúng
ta cũng thừa nhận mối quan hệ đặc biệt giữa ca dao và dân ca Mặt khác, chúng ta cũng thừa nhận "ca dao lại có tính độc lập tương đối của nó" [23: 79-80]
Tóm lại, ca dao là thơ dân gian, có nội dung trữ tình phong phú và trào phúng, có thể hát, ngâm, đọc và có sự gắn bó nhất định với dân ca Đó là những cơ sở nhất định để chúng ta tìm hiểu về ca dao, cụ thể là khai thác dưới
góc độ ngôn ngữ trong trường nghĩa trang phục
1.2.3 Nội dung chính của ca dao
Nội dung chủ yếu của ca dao là trữ tình, biểu hiện nội tâm của tác giả
là người dân lao động Đánh giá tổng thể, ca dao có thể chia làm ba nhóm lớn như sau: ca dao nghi lễ, ca dao lao động, ca dao sinh hoạt
Trang 22Ca dao nghi lễ gắn chặt với sinh hoạt tín ngưỡng, với phong tục tập
quán của nhân dân; nó gồm: nghi lễ trong sinh hoạt cộng đồng và nghi lễ trong sinh hoạt gia đình
Ca dao lao động gắn với những hình thức lao động của người dân
Ca dao sinh hoạt: sinh hoạt cộng đồng và sinh hoạt gia đình
+ Bộ phận ca dao phản ánh sinh hoạt cộng đồng biểu hiện những tình cảm với quê hương đất nước, tình yêu lứa đôi, thái độ của người lao động với các vấn đề xã hội
+ Bộ phận ca dao phản ánh sinh hoạt gia đình chiếm số lượng khá lớn
Nó phản ánh mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình với nhau
1.2.4 Vấn đề nghĩa biểu trưng trong ca dao người Việt
Ngôn ngữ có hai chức năng chính, đó là giao tiếp và tư duy Chúng ta
đã biết, ý nghĩa biểu vật là một trong những ý nghĩa của từ Song trong quá trình hành chức có khi ý nghĩa biểu vật, tính trực quan của thông điệp trở nên
mờ đi do một một thông điệp khác tuy có liên quan nhưng rộng lớn hơn, đi xa hơn, đó là ý nghĩa biểu trưng
a Giới thiệu về biểu trưng
Biểu trưng là khái niệm nhằm diễn tả nội dung khác rộng hơn nhưng có mối liên hệ với nội dung chính đang chuyển tải
Theo Từ điển tu từ - phong cách thi pháp học: "Trong tiếng Việt, những thuật ngữ biểu tượng, tượng trưng, biểu trưng là những từ ngữ nghĩa gần dùng để dịch từ symbol, có nghĩa cơ bản là: Một dấu hiệu (tín hiệu, kí hiệu) mang tính quy ước hàm chỉ một đặc trưng, một phẩm chất, một sáng tạo hay hẹp hơn là: có khả năng gợi ra một đối tượng khác, một sự vật khác ngoài
sự thể hiện cụ thể của dấu hiệu đó và được cộng đồng chấp nhận Ví dụ: Lá
cờ đỏ sao vàng là biểu tượng của tổ quốc Việt Nam Trống đồng là biểu
Trang 23phục truyền thống của người Việt.VD “Thoáng thấy áo dài bay trên đường
phố/ Sẽ thấy tâm hồn quê hương ở đó em ơi.”
Trong khái niệm về biểu trưng của Từ điển bách khoa toàn thư có đoạn viết " Theo nhà kí hiệu học Jungơ: Biểu trưng là cái nhìn thấy được, là một kí hiệu dẫn ta đến một cái không nhìn thấy được Lá quốc kì ( cái nhìn thấy) dẫn
ta đến một cái không nhìn thấy là ý niệm về quốc gia, tổ quốc " [ http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn]
Mở rộng khái niệm, Từ điển thuật ngữ văn học nêu: " Trong triết học
và tâm lí học, biểu tượng là một khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vạt vào giác quan ta đã chấm dứt" [14: 23] Nhìn nhận biểu tượng theo nhiều chiều sẽ hiểu rõ hơn về khái niệm này Biểu
tượng "còn được gọi là biểu trưng, nó có nghĩa rộng hơn và nghĩa hẹp trong
nghĩa rộng, biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng của văn học nghệ thuật Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loạt những hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn Là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói, biểu tượng có quan hệ gần gũi với ẩn dụ và hoán dụ"[14: 24]
Nghĩa biểu trưng trong ca dao rất phong phú : Biểu trưng cho vẻ đẹp, tình yêu quê hương đất nước Biểu trưng cho tình cảm gia đình, tình yêu ông
bà cha mẹ, anh chị em Biểu trưng cho, giá trị, nét truyền thống văn hóa dân tộc Biểu trưng cho tình yêu đôi lứa, tình yêu vợ chồng Biểu trưng cho sinh hoạt trong đời sống thừơng nhật của người dân quê nơi thôn dã…
Với tất cả những biểu trưng có trong ca dao nói chung như vậy thì
trường trang phục cũng có những nghĩa biểu trưng dựa trên cơ sở ấy của ca
dao Những nghĩa biểu trưng này sẽ được chúng tôi xem xét cụ thể ở chương
3 của luận văn
b Quan hệ giữa biểu trưng với ẩn dụ và hoán dụ
Trang 24Sự giống nhau: Ba khái niệm trên đều được hình thành trên cơ sở của đối chiếu, so sánh về các hiện tượng, sự vật, đối tượng có những khía cạnh, những điểm gần gũi nhằm làm nổi bật bản chất, tạo ra một ý nghĩa cụ thể về hiện tượng sự vật đó ví dụ: hoa ( biểu tượng cho vẻ đẹp của người con gái),
bồ câu (biểu tượng của hòa bình)
VD
Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau
Miệng cười như thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
( 42:lời 156 tr 246 tập 2)
Sự khác nhau:
Ẩn dụ đều mang ít nhiều ý nghĩa biểu tượng nhưng biểu tượng không phải bao giờ cũng là ẩn dụ, hoán dụ Ví dụ: màu vàng (biểu tượng cho sự quyền quý, vương giả), màu tím (biểu tượng của lòng chung thủy)
Biểu tượng không làm mất đi ý nghĩa cụ thể, cảm tính của vật tượng trưng hoặc hình tượng nghệ thuật Trái lại, ẩn dụ và hoán dụ lại có khuynh hướng làm lu mờ ý nghĩa biểu vật của lời nói
Một ẩn dụ có thể được dùng cho nhiều đối tượng hay một đối tượng cũng có thể được biểu đạt bằng nhiều ẩn dụ, hoán dụ khác nhau (mận - đào, rồng -mây ) cho nên để hiểu được ý nghĩa của chúng ta phải đặt vào trong ngữ cảnh riêng của từng văn bản Biểu tượng khác ẩn dụ, ý nghĩa của nó tồn tại cả ở ngoài văn bản đang tiếp xúc bởi quá trình kiến tạo mỗi biểu tượng có lịch sử rất dài, thậm chí gắn với quá trình hình thành quan niệm về thế giới
của cổ nhân Ví dụ: biểu tượng con cò gợi tới hình ảnh người nông dân vất vả
Trang 25Biểu tượng áo,khăn trong ca dao gợi sự nhớ mong khăng khít trong tình bạn,
tình yêu, sự xa cách nhớ mong của lứa đôi tuổi trẻ
Từ những nét lớn về thuật ngữ biểu trưng, định giá mối tương đồng, liên quan giữa biểu tượng, ẩn dụ, hoán dụ, chúng tôi lấy đó làm xuất phát
điểm tìm hiểu giá trị của trường nghĩa trang phục trong ca dao của người
Việt
1.3 TIỂU KẾT
Với vấn đề cơ sở lí luận của trường nghĩa trang phục trong ca dao người Việt, chúng tôi tập trung vào hai khía cạnh: cơ sở ngôn ngữ và cơ sở văn hóa
Cơ sở ngôn ngữ gồm các nội dung cơ bản sau:
- Lí thuyết về trường nghĩa
- Hiện tượng chuyển trường nghĩa
- Các biến thể trong trường nghĩa
Đối với lí thuyết về trường nghĩa, luận văn sử dụng quan niệm về trường nghĩa của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở lí luận chính
Trong các loại trường nghĩa thuộc lí thuyết trường nghĩa ( trường nghĩa biểu vật , trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa tuyến tính, trường nghĩa
liên tưởng), luận văn khai thác trường nghĩa trang phục trong ca dao người
Việt chủ yếu ở phương diện trường nghĩa biểu vật, sau đó là trường nghĩa tuyến tính
Những nét lớn về hiện tượng chuyển trường nghĩa của từ; khái niệm hằng thể, biến thể của từ ngữ đóng góp vào cơ sở lí luận để chúng tôi đi đến
xác lập các tiểu trường nghĩa trang phục trong ca dao Khai thác sự chuyển
trường nghĩa trong ngôn ngữ nói chung cũng như của từ ngữ thuộc trường
nghĩa trang phục
Trang 26Cơ sở văn hóa: Luận văn đi vào cơ sở văn hóa vật chất và cơ sở văn
hóa tinh thần
- Cơ sở văn hóa vật chất: người viết đưa ra các thông số khoa học về
trang phục cùng các đặc điểm về các tiểu trường, giá trị biểu trưng của các tiểu trường, nhằm nêu bật tầm quan trọng của trường trang phục đối với đời
sống vật chất của con người nói chung cũng như của người Việt nói riêng
- Cơ sở văn hóa tinh thần: Với các nét lớn về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa và vấn đề nghĩa biểu trưng của ngôn từ, tác giả nhằm tạo tiền
đề cho quá trình giải quyết việc phân lập các tiểu trường nghĩa trang phục và đánh giá giá trị biểu trưng của trường nghĩa trang phục trong ca dao người
Việt
Trang 27CHƯƠNG 2
XÁC LẬP TRƯỜNG NGHĨA TRANG PHỤC
TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
2.1 XÁC LẬP CÁC TIỂU TRƯỜNG NGHĨA TRANG PHỤC
TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
2.1.1 Các tiểu trường nghĩa trong trường trang phục
Dựa vào lí thuyết về trường nghĩa, căn cứ vào ý nghĩa của từ trang phục, cùng các kết hợp của từ ngữ chỉ trang phục, qua quá trình khảo sát chúng tôi xác lập các tiểu trường nghĩa trang phục như sau:
- Tiểu trường nghĩa 1: Áo 1 (dt) đồ mặc ở phần trên của thân thể.[40: 15]
Áo còn có nhiều chất liệu khác nhau: chất liệu thổ cẩm, vải bông, vải sợi, lụa tơ tằm, len, dạ, ca ki, cốt tông, vải thô…
Màu sắc của áo: Xanh, đỏ, vàng, da cam, hông, cam, nâu, hồng cam, hồng nhạt, phớt hồng,…
Tính chất và công dụng của áo: áo mặc đi làm, áo mặc đi chơi, áo tắm,
áo dạ hội, áo thể dục thể thao, áo mùa đông, áo màu hè, áo đi ngủ, áo mưa,
áo gió, áo cưới, áo lót, áo lính ( áo bồ đội), áo lao công, áo công an
Kiểu dáng của áo: áo ngắn tay, áo dài tay, áo tay lửng, áo sơ mi, áo dài truyền thống, áo com lê, áo cổ tròn, áo cổ sen, áo cổ đức, áo cổ tim, áo cổ tàu, áo tay bèo, áo sát lách
Áo trong một số trường hợp còn là một bộ phận cơ thể cây cối, đồ vật như áo cây măng, áo cây tre, áo vó, áo lưới - dụng cụ đánh bắt cá … không thuộc diện khảo sát của luận văn.Trong khuôn khổ của luận văn chúng tôi chỉ
chú ý xét áo của trường trang phục
- Tiểu trường nghĩa 2: Quần (dt) đồ mặc phần dưới của thân thể
Trang 28Chất liệu thổ cẩm, vải bông, vải sợi, lụa tơ tằm, len, dạ, ca ki, cốt tông, vải thô…
Màu sắc của quần: Đen, xanh, đỏ, vàng, da cam, hồng, cam, nâu, hồng cam, hồng nhạt, phớt hồng, trắng, tím,
Tính chất và công dụng của quần: quần mặc đi làm, quần mặc đi chơi, quần tắm, quần dạ hội, quần thể dục thể thao, quần mùa đông, quần màu hè, quần đi ngủ, quần đi mưa, quần gió, quần lót, quần bò, quần âu, quần đùi, quần soóc
Kiều dáng của quần: quần ngắn, quần dài, quần lửng, quần sơ mi, quần
âu, quần ống loe, quần ống típ, quần côn
- Tiểu trường nghĩa 3: khăn (dt) là vật dụng dùng chủ yếu để đội đầu hoặc giữ ấm cho cổ, người
Chất liệu thổ cẩm, vải bông, vải sợi, lụa tơ tằm, len, dạ, ca ki, cốt tông, vải thô…
+ Màu sắc của khăn: Xanh, đỏ, vàng, da cam, hông, cam, nâu, hồng cam, hồng nhạt, phớt hồng,…
Tính chất và công dụng, kiểu dáng của khăn: Khăn quàng cổ giữ ấm cho cơ thể, khăn đội đầu, khăn tang( khi gia đình dòng họ có người mất), khăn
quàng của học sinh
- Tiểu trường nghĩa 4: khố (dt) Vật dụng dùng che, phủ cơ thể phần phía dưới của con người, từ rốn xuống( thường dùng cho nam giới)
Chất liệu thổ cẩm, vải bông, vải sợi, lụa tơ tằm, len, dạ, ca ki, cốt tông, vải thô…
Màu sắc của áo: Xanh, đỏ, vàng, da cam, hông, cam, nâu, hồng cam, hồng nhạt, phớt hồng,…
Trang 29Tính chất và công dụng của khố: khố mặc đi làm nương dẫy, khố mặc thường ngày của một số dân tộc thiểu số,
Kiều dáng của khố: khố dài, khố ngắn, khố hình chữ nhật, khố hình cái
Kiểu dáng của yếm: áo yếm cổ tròn, áo yếm cổ tim, áo yếm cổ buộc
dây
- Tiểu trường nghĩa 6: Thắt lưng ( dt) Đồ vật bằng nhựa hay vải màu dùng để đeo ngang lưng giữ cho quần không bị lỏng phía phần trên và phần dưới của cơ thể người ( thường dùng cho cả nam và nữ giới)
- Tiểu trường nghĩa 7: giầy, dép, hài (dt) Đồ vật dùng để bảo vệ bàn chân
Chất liệu của giầy làm bằng da, nhựa, cao su, vải thô
Màu sắc của áo: Xanh, đỏ, vàng, da cam, hông, cam, nâu, hồng cam, hồng nhạt, phớt hồng
Tính chất và công dụng của giầy: giầy đi mùa đông, giầy – dép mùa
hè, dép quai hậu, giầy thể thao, giầy múa, ủng nội ruộng ( hiện nay nông dân thường dùng ủng nhựa để nội ruộng làm đồng.)
Trang 30Kiều dáng của giầy- dép: giầy thấp, giầy cao gót, dép cao su, dép nhựa,
dép lê, dép quai hậu
2.1.2 Các nhóm từ kết hợp với các từ chỉ trang phục
Xét theo chiều ngang (trường tuyến tính), có thể thấy các từ chỉ trang phục trong ca dao có khả năng kết hợp khá phong phú với nhiều lớp từ khác nhau Trên cơ sở phân tích ngữ liệu, chúng tôi tháy có 7 nhóm từ sau thường
đi với các từ chỉ trang phục trong ca dao:
- Nhóm từ chỉ tính chất, mức độ, màu sắc của trang phục
- Nhóm từ chỉ công dụng của trang phục và hoạt động của con người
hướng tới trường trang phục
- Nhóm từ chỉ hoạt động sản xuất ra trang phục
- Nhóm từ chỉ hoạt động trao đổi mua bán trang phục
- Nhóm từ chỉ chủ thể của trang phục
- Nhóm từ chỉ phần cơ thể mang trang phục
- Nhóm từ chỉ chất liệu của trang phục
Trang 31Sơ đồ phân lập trường trang phục
và các nhóm từ đi với tiểu trường trang phục
Tiểu trường 3.khăn ,,mũ
Tiểu trường
4 khố
Tiểu trường
5 yếm
Tiểu trường 6.thắt lưng
Tiểu trường 7.giầy-dép guốc(hài)
Các nhóm từ đi với tiểu trường trang phục
Nhóm
từ chỉ
bộ phận
cơ thể mang trang phục
Nhóm
từ chỉ chủ thể mang trang phục
Nhóm
từ chỉ hoạt đông trao đổi mua bán trang phục
Nhóm
từ chỉ hoạt động sản xuât ra trang phục
phục
Trang 322.2 SỰ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TIỂU TRƯỜNG THUỘC TRƯỜNG NGHĨA TRANG PHỤC
2.2.1 Sự xuất hiện của các tiểu trường
- Tiểu trường 1: Áo
Từ áo xuất hiện 351 lần, ví dụ:
Em là con gái nhà nghèo Cha mẹ thách cưới ra điều xênh xang
Xin chàng chín tấm gấm đào
Một trăm hạt ngọc chín mươi chín ngôi sao trên trời
Nể lời mà chẳng nói ra
Quần lĩnh áo vóc chất nhà năm gian
Áo vóc đơm những khuy vàng
Còn như lợn gạo mặc chàng đưa sang Chàng về sắm sưa đường ngang Ruột non nấu với ruột già ô long
Lá đa mặt nguyệt hôm rằm Vẩy lươn nấu với râu cằm Thiên lôi Gan rồng, trứng muỗi cho tươi Lông lách con ếch nấu với nông đuôi bạch xà
Xin chàng trăm trứng ba ba Chín chục sừng gà chọn lấy cho tinh Xin chàng trăm rễ cột đình Kiến trắng chín gánh gan cá kình nghìn ba
Trang 33[42: lời 113, trang 1045, tập 2)
- Tiểu trường 2: quần
- Từ quần: xuất hiện 62 lần, ví dụ:
Nẫu giàu, nay lụa mai hàng Còn anh với em nghèo khổ, nay củi mai than
Quần áo rách rưới phải mang đùm chài
[42: lời 113, trang 1615, tập 2)
- Tiểu trường 3: yếm
Từ yếm : xuất hiện 51 lần VD
Con cò lặn lội bờ ao
Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng?
Chú tôi hay tửu hay tăm Hay nước chè đặc hay nằm ngủ trưa Ngày thì muốn những ngày mưa Đêm thì muốn những đêm thừa trống canh
Chào mào đội mũ làm thầy đọc văn
Chiền chiện vừa khóc vừa lăn
Trang 34Một bầy se sẻ bịt khăn cho cò [42:lời 1495, trang 646, tập 1 (24))
- Tiểu trường 5: khăn
Từ khăn xuất hiện 132 lần VD
Em là con gái kẻ Ngâu
Em đi buôn chỉ dãi dầu sớm hôm Cái khăn vuông thâm, nửa đội nửa cầm Khăn đội rồi mất khăn thâm lập lờ Anh ơi nhặt giúp em nhờ
Công anh nhặt giúp bao giờ cho quên Anh quên em chẳng cho quên
Anh nhớ, em nhớ, mới nên vợ chồng
[42: lời 1001, trang 1039, tập 1)
- Tiểu trường 6: thắt lưng
Từ thắt lưng xuất hiện 12 lầnVD
Cây sú cò quăm, cây sú cò queo
Thắt lưng cho chặt mà theo anh về [42:lời 350, trang 424, tập 1)
- Tiểu trường 7: giầy dép, hài
Từ giầy dép, guốc, hài xuất hiện 15 lần Trong đó từ giầy xuất hiện 2 lần, từ dép xuất hiện 9 lần, từ guốc xuất hiện 3 lần, từ hài xuất hiện 1 lần
VD1
Tiền gạo em xếp đã đầy
Trang 35Đồ nai, áo nịt,quần, giầy, thắt lưng
Đồn rằng chàng trẩy hay đừng
Ở nhà công việc nửa mừng nửa lo
(42: 126)
VD2 Để con theo hát làm đầu mẹ coi
Làm đầu được mặc áo đôi Được mang giầy đỏ được ngồi chiếu hoa
Thấy em đẹp nói đẹp cười
Đẹp quần đẹp áo lại tươi răng vàng Chân em đi dép quai ngang
Mặt vuông chữ điền liền vành cá trôi
Ta thương mình lắm mình ơi
(42:179 tập 2)
VD3 Còn duyên đi dép hai hàng
Hết duyên đi guốc xỏ quai bằng thừng
(43:5) VD4 Nghe lời chú nói thất kinh
Bông sen tàn, ai cắm lục bình bát xưa!
Con cóc mà mang guốc ai ưa!
Đỉa đeo chân hạc sao cho vừa chú mong
Chú đừng mong, đừng tưởng, đừng hòng
(43:3)
VD5
Trang 36Còn duyên đi dép hai hàng Hết duyên đi guốc xỏ quai bằng thừng
(43:2)
Bảng thống kê
Các tiểu trường của trường trang phục
Tỉ lệ xuất hiện của các tiểu trường
Stt Tỉ lệ xuất hiện của các tiểu trường trang phục
trong Kho tàng ca dao người Việt
Trang phục và tiểu trường trong
ca dao Việt
Tên tiêu trường Số lần xuất
hiện của tiểu trường
% Tổng số % của các tiểu trường trang phục
: 627/11825= 0.53%
Trang 372.2.2 Nhận xét
Như vậy, so sánh số lần các tiểu trường trang phục trong tiếng Việt xuất hiện ở ca dao người Việt, tiểu trường áo xuất hiện nhiều nhất chiếm tỉ lệ 56% Bên cạnh tiểu trường áo còn có tiểu trường khăn cũng chiếm tỉ lệ khá
cao 21% ngoài ra còn một số tiểu trường khác của trang phục xuất hiện trong kho tàng ca giao người Việt tạo nên sự linh hoạt trong việc biểu đạt sắc thái ý nghĩa của tiếng Việt nói chung cũng như màu sắc trong cách thể hiện của ngôn từ trong ca dao
Đó cũng chính là nét đặc trưng của không gian làng quê thân thuộc; không gian ấy là nơi diễn ra, chứng kiến mọi sinh hoạt của cuộc sống cộng đồng, khu tự trị của người nông dân Việt Nam xưa trong nền văn hóa nông
nghiệp lúa nước Vì vậy trang phục của những người nông dân xưa kia vô
cùng mộc mạc, thuần khiết với những chiếc áo bà ba nâu, chiếc khăn mỏ quạ
và cái quần thâm đen đã được tạo ra từ các sản phẩm tơ lụa của nhà nông - ca dao đã ghi nhận vô cùng giản dị đằm thắm mang đậm nét văn hóa dân tộc Đồng thời chúng ta cũng nhận thấy rất rõ ngày xưa trong ca dao trang phục quần bò, áo phông không thấy xuất hiện Chính những trang phục đó càng giúp cho chúng ta cảm nhận tinh tế vẻ đẹp của những cô thôn nữ quê mùa năm xưa:
VD Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
[42: lời 1752, trang 43, tập1]
VD
Thương anh áo cộc vá vai hai lần
Cái áo tứ thân, cái quần năm lá
Em hỏi anh rằng ai vá cho anh
Trang 38( 43:46)
Trên thực tế nghiên cứu chúng tôi có thể khẳng định các từ quần, áo, khăn là những từ trung tâm của trường nghĩa Trang phục.Còn tiểu trường
guốc, hài, mũ có tần số xuất hiện thấp
2.3 SỰ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHÓM TỪ KẾT HỢP VỚI CÁC TIỂU TRƯỜNG THUỘC TRƯỜNG NGHĨA TRANG PHỤC
2.3.1 Nhóm từ chỉ tính chất, mức độ, màu sắc của trường trang phục:
- Từ mới: xuất hiện 04 lần, ví dụ:
Thương em thủa áo mới may Bây giờ áo rách thay tay vá quàng
( 43:29 )
- Từ rách: xuất hiện 06 lần, ví dụ:
Em là con gái kẻ Mơ
Em đi bán rượu tình cờ gặp anh
Rượu ngon chẳng quản bẻ sành
Áo rách khéo vá hơn lành vụng may
Rượu lạt uống lắm cũng say
Áo rách có mụn vá may lại lành
[42: lời 99, trang 1038, tập1]
VD
Nẫu giàu, nay lụa mai hàng Còn anh với em nghèo khổ, nay củi mai than
Trang 39Ba năm mưa lũ, gió hoài Nhưng dù xa đi nữa, nhớ hoài không nguôi
[42:lời 113, trang 1615, tập 2]
- Từ xinh: xuất hiện 6 lần, ví dụ:
Tôi buôn chẳng được, lạc đường về chợ Đồng Xuân
Thấy người đẹp áo xinh quần
Lòng tôi muốn kết duyên phần gia cư
( 43:88)
VD Ai đi bờ đỗ một mình
Cha chả là xinh Bận áo màu đinh Quần thao cánh kiến
Tay đeo bông giếng Lại có xuyến vàng
Bít khăn màu ngại Chân lại mang giầy
Anh tưởng là em thục nữ đồng trinh Hay đâu em bậu lại góa chồng Trời xui đất khiến đem lòng anh thương
[42: lời 21, trang 56, tập 1]
- Từ xanh xuất hiện 5 lần, ví dụ
Đêm nay hoa nở nhụy vàng Sáng ngày thiếp thấy bóng chàng aó xanh
Trang 40- Từ vàng xuất hiện 6 lần ví dụ
Chẳng phải duyên áo nhiễu nút vàng không ham
(42:158)
- Từ đẹp xuất hiện 6 lần, ví dụ
Thấy em đẹp nói đẹp cười
Đẹp quần, đẹp áo lại tươi răng vàng
( 43: 244)
- Từ trắng xuất hiện 5 lần, VD
Em tiếc má hồng dầm mưa dãi nắng
Em tiếc áo trắng mà giặt nước ao
- Từ thâm xuất hiện lần: 4 lần VD
Sao anh không bảo mẹ già nhuộm thâm
Ước gì áo ấy em cầm
Để em nhuộm đỏ, nhuôm thâm, nhuộm vàng
( 43: 162)
- Từ hoa xuất hiện lần: 5 lần VD