Đề tài đã chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao năng lực cạnh tranh của đơn vị sự nghiệp công: nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật… Đề tài cũng đánh giá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====o0o=====
NGUYỄN THỊ THẮM
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
HÀ NỘI, 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====o0o=====
NGUYỄN THỊ THẮM
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Người hướng dẫn khoa học: ThS Nguyễn Thị Nhung
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi đến quý thầy cô Khoa giáo dục chính trị - Trường Đại Học
sư phạm Hà Nội 2 nhiệt tình“trong việc truyền đạt”vốn“kiến thức”quý báu“giúp”đỡ em rất nhiều“trong thời gian học tập tại”trường Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô giáo Th.S Nguyễn Thị Nhung đã tận tình, giảng dạy, chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.“Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn”cô Trong quá trình nghiên cứu, với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên khóa luận không“tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những”ý kiến“đóng góp”quý báu“của”quý“thầy
cô và”các “bạn” sinh viên để giúp bài khóa luận hoàn thiện hơn
Lời cuối em xin cảm ơn những người thân, bạn bè thân thiết đã bên em, động viên, hỗ trợ tôi hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Thắm
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp“này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của”cô“giáo”Th.S“Nguyễn”Thị Nhung Tôi“xin cam”đoan rằng: Đây“là kết quả nghiên cứu của riêng”tôi Nếu sai“tôi”xin hoàn“toàn”chịu trách nhiệm
Hà Nôi, tháng 4 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thi Thắm
Trang 5“DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT”
“Chữ viết tắt” Chữ viết đầy đủ
CBQL&GV Cán bộ quản lí“và giảng viên”
CTĐT Chương trình“đào tạo”
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
GVĐH Giảng viên đại học
KĐCLGD Kiểm định chất lượng giáo dục THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 7
1.1 Khái niệm cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 7
1.2 Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp nói chung và đơn vị sự nghiệp công lập nói riêng 9
1.3 Các tiêu chí đáng giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sự nghiệp công nói riêng 20
Chương 2 THỰC TRẠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 27
2.1 Sự hình thành, phát triển và nhữngnhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 27
2.2 Đánh giá nâng cao năng lực cạnh tranh của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 39
Chương 3 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦATRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 46
3.1 Cơ hội và thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh đối với trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 46
3.2 Định hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 48
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 65
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cạnh tranh có“vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng,
và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế Sự cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng
và hiệu quả kinh tế Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển.”
Cạnh tranh“là điều bất khả kháng đối với mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Cạnh tranh có thể được coi là cuộc chạy đua khốc liệt mà các doanh nghiệp không thể tránh khỏi mà phải tìm mọi cách vươn lên để chiếm ưu thế và chiến thắng Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, thay đổi kiểu dáng mẫu mã đáp ứng nhu cầu của khách hàng Cạnh tranh khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các công nghệ mới, hiện đại, tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực của mình để giảm giá thành, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, tạo ra các sản phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranh cao Cạnh tranh khốc liệt sẽ làm cho doanh nghiệp thể hiện được khả năng”“bản lĩnh”“của mình trong quá trình kinh doanh.”Đối với doanh nghiệp“để đạt được điều đó, doanh nghiệp phải có những chiến lược cạnh tranh cụ thể và lâu dài mang tính chiến lược ở cả tầm vi mô và vĩ mô.”
Hiện nay, việc bảo đảm chất lượng đào tạo nhân lực có trình độ đại học“đang là mối quan tâm của toàn xã hội.” Nhất là trong bối cảnh có nhiều“sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học”thất nghiệp đòi hỏi quá trình đào
Trang 8tạo phải bảo đảm“chất lượng, đáp ứng”nhu“cầu phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập”quốc tế Tuy nhiên nhiều“trường đại học chưa đáp ứng nhu cầu”xã hội.“Cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc
tế.” Mặt khác, khi“xây dựng nền kinh tế thị trường”đòi hỏi các chủ thể tự do cạnh tranh, vì vậy xuất hiện có sự tham gia của các trường dân lập Vấn đề
xã hội hóa trong giáo dục đòi hỏi các trường đại học phải tự đổi mới, sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm thu hút học sinh, sinh viên đáp ứng yêu cầu thị trường
Trường“Đại học Sư phạm Hà Nội 2 được thành lập”từ năm 1967 Trải qua hơn 50 năm hình thành và phát triển, nhà trường luôn hướng tới mục đích“đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao có trình độ đại học và trên đại học cho hệ thống giáo dục quốc dân và xã hội; nghiên cứu khoa học
cơ bản, khoa học giáo dục và khoa học ứng dụng đạt trình độ tiên tiến phục
vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế; cung cấp cho người học môi trường giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học có tính mô phạm và chuyên nghiệp cao, đảm bảo cho người học sau khi tốt nghiệp có các phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp; có kiến thức và kỹ năng thực hành; có năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học tương xứng với trình độ đào tạo; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm, thích nghi với môi trường làm việc.”Để khẳng định vai trò giáo dục tiên phong của mình và trở thành đơn vị đào tạo uy tín, tin cậy trong cả nước, trường“đã không ngừng phát triển, đổi mới”sáng tạo Tuy nhiên về“những lý do chủ quan và khách quan,”vấn đề chưa được quan tâm thích đáng đó là nâng cao năng lực cạnh tranh Vì vậy,“tác giả lựa chọn đề tài:”“Nâng cao năng lực cạnh tranh của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 trong giai đoạn hiện nay”“làm đề tài”khóa luận cho mình
Trang 9Tác giả Michael E.Porter (1996) Lợi thế cạnh tranh, người dịch là
Nguyễn Ngọc Toàn đã nghiên cứu những lợi thế cạnh tranh trong từng doanh nghiệp, đồng thời giới thiệu một cách thức hoàn toàn mới trong việc tìm hiểu xem một công ty làm những gì để nâng cao năng lực cạnh tranh
Thứ hai, những công trình nghiên cứu liên quan đến cạnh tranh của các trường đại học, “ đại học sư phạm ”
Tác giả K.Thoa (27/05/2016), với bài báo “ Vì sao ngành sư phạm có nguy cơ thừa nhân lực”, trên báo lao động Thủ đô trình bày một cách khái quát thực trạng số cử nhân sư phạm ra trường không xin được việc làm Nguyên nhân của thực trạng trên như:“mạng lưới cơ sở đào tạo giáo viên phát triển trong tình trạng thiếu ổn định do nhiều trường cao đẳng sư phạm yếu cả
về cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên.”Các trường chưa chú ý“đúng mức đến các điều kiện đảm bảo chất lượng, nên phát triển thiếu bền vững, năng lực cạnh tranh về đào tạo sinh viên sư phạm khó có thể cạnh tranh được so với các nước trong khu vực và thế giới.”
Tác giả Giang Sơn và Mạnh Quân (06/12/2017) với bài báo “Nâng cao chất lượng đào tạo ngành sư phạm” trên Báo Giáo dục và thời đại đã trình bày thực trạng, số lượng các“cơ sở đào tạo”ngành sư phạm, tình trạng thừa“giáo viên”và đề nghị hạn chế tuyển sinh vào sư phạm Vì vậy, trong thời gian tới
Trang 10việc tuyển sinh đầu vào của các trường đào tạo giáo viên sẽ có những“thay đổi trong thời gian tới”nhằm nâng cao chất lượng đào tạo“đội ngũ”nhà giáo“đáp ứng yêu cầu”đổi mới
Các công trình sách, bài báo trên đã trình bày những lí do vì sao các doanh nghiệp, các trường đại học,”ngành“giáo dục”phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, nhưng chưa nêu ra những giải pháp, những“yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp,”một trường đại học cụ thể.“Tác giả”xin“trình bày một”cách cụ thể“các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp”và“Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2”nói riêng, từ đó nêu ra“một số giải pháp cụ thể góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở“nghiên cứu, làm rõ lí luận chung về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và đánh giá nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, từ đó đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 trong thời gian tới.”
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lí luận chung về cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh
Phân tích, đánh giá thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Đề xuất một số biện“pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh”của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: năng lực cạnh tranh của trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2
Phạm vi nội dung: lí luận chung“về cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh.”
Trang 11Phạm vi nghiên cứu về không gian: trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Phạm vi nghiên cứu về thời gian: thực trạng hoạt động của HPU2 trong giai đoạn từ 2010 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa“duy vật biện chứng”và“duy vật lịch sử”của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử dụng các phương pháp tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, diễn giải, quay nạp để“nghiên cứu Bên cạnh đó,”khóa luận này sử dụng tri thức của các môn khoa học kinh tế liên quan, kế thừa và sử dụng có chọn lọc những kết quả của“một số công trình khoa học liên quan đến đề tài.”
6 Dự kiến đóng góp của khóa luận
Đề tài đã góp phần làm rõ“cơ sở lí luận chung về cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh một doanh nghiệp, của một đơn vị sự nghiệp công lập Đề tài đã chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao năng lực cạnh tranh của đơn vị sự nghiệp công: nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất –
kỹ thuật… Đề tài cũng đánh giá năng lực cạnh tranh của đơn vị sự nghiệp công lập ở các tiêu chí sau: chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở vật chất – kỹ thuật, trình độ quản lí và khoa học kỹ thuật, thương hiệu, uy tín của đơn vị sự nghiệp công lập.”
Đề“tài đã phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Cụ thể đề tài đã nêu lên những nhân tố tác động đến nâng cao năng lực cạnh tranh của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 như: nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật, trình độ tổ chức quản lí, các chương trình đào tạo của nhà trường và hoạt động maketing, quảng bá thương hiệu…”
Trên“cơ sở thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 trong thời gian tới.”
Trang 127 Kết cấu nghiên cứu
Đề tài bao gồm: phần mở đầu, kết luận, danh mục ghi tài liệu tham khảo, phần mục lục và phần nội dung gồm có 3 chương
Trang 13Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CẠNH TRANH
VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1 Khái niệm cạnh tranh, năng lực cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm“cạnh tranh, năng lực cạnh tranh”trong doanh nghiệp
Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là“một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực
và có nhiều cách hiểu khác nhau.”Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất” [16, tr.7]
Đối với các doanh nghiệp,“cạnh tranh có thể được hiểu là sự”tranh“đua giữa các doanh nghiệp trong việc”tìm kiếm lợi nhuận và sống sót trên thị trường.“Theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm trong tác phẩm”“Thị trường, chiến lược, cơ cấu” lại cho rằng““cạnh tranh không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn các đối thủ cạnh tranh ” của mình [13, tr.98]
Trong thực tế“hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh.”Trong nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu về cạnh tranh trong
doanh nghiệp cho nên theo tác giả, có thể nói: “Cạnh tranh là nguồn gốc tạo
ra động lực cho sự phát triển Cạnh tranh không phải để diệt trừ đối thủ mà
là để nâng cao chất lượng chính bản thân doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp
có thể tồn tại và phát triển trong môi trường luôn vận động và biến đổi”
Khái niệm năng lực cạnh tranh
Theo“quan điểm truyền thống cổ điển, các nhân tố sản xuất như: đất đai, vốn, lao động là những yếu tố thuộc về tài sản hữu hình được coi là nhân tố
để tạo ra lợi thế cạnh tranh.”
Trang 14Năng lực của“một doanh nghiệp là những nguồn lực cấn thiết để doanh nghiệp có thể vận hành và thực hiện được các chiến lược trong sản xuất, kinh doanh Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là những nguồn lực cần thiết để doanh nghiệp có thể vận hành và thực hiện được các chiến lược cạnh tranh trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.”
Như vậy, nhìn chung“năng lực cạnh tranh có thể hiểu là khả năng khai thác, huy động, quản lí và sử dụng nguồn lực và các điều kiện khách quan có hiệu quả nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh trước đối thủ, đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trên thị trường.”
1.1.2 Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp
Trong“nền kinh tế thị trường, cạnh tranh tồn tại như một quy luật kinh tế khách quan và do vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh để cạnh tranh trên thị trường luôn được đặt ra đối với các doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng như hiện nay.”
Trong lĩnh vực“sản xuất kinh doanh, cạnh tranh luôn diễn ra liên tục và được hiểu như cuộc chạy đua không ngừng giữa các đối thủ Trong bối cảnh nền kinh tế”thị trường, cạnh tranh“hiện nay đang từng bước khẳng định những ưu thế của”quốc gia, doanh nghiệp.“Doanh nghiệp nào hiểu biết đối thủ, biết thoả mãn tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu khách hàng so với đối thủ cạnh tranh, biết giành thế chủ động với người cung cấp các nguồn hàng và tận dụng được lợi thế thì doanh nghiệp đó sẽ tồn tại, ngược lại doanh nghiệp không có năng lực cạnh tranh hoặc không “nuôi dưỡng” năng lực cạnh tranh tất yếu sẽ thất bại.”
Việc“nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển Các doanh nghiệp cần phải có các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm vượt trội so với các đối thủ Điều này sẽ giúp quyết định sự
Trang 15sống còn của các doanh nghiệp Để làm được điều đó, đòi hỏi các doanh nghiệp phải phát huy”khả năng sáng tạo, khai thác đầy đủ chất xám của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và các nhà quản lý, nhằm tạo cho đơn vị mình những ưu thế vượt trội trong“cạnh tranh so với đối thủ về chất lượng sản phẩm, kiểu dáng, thương hiệu,”giá cả cũng như sự chủ động về nguồn cung cấp nguyên phụ liệu
1.2 Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp nói chung và đơn vị sự nghiệp công lập nói riêng
1.2.1 Các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp nói chung, đơn vị sự nghiệp công nghiệp nói riêng
Thứ nhất, các yếu tố bên trong tác động đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp nói chung
Nguồn nhân lực
Nguồn lực“con người” hay “nguồn nhân lực”,“là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc
Số lượng nguồn nhân lực“chính là lực lượng lao động và khả năng cung cấp lực lượng lao động được xác định dựa trên quy mô dân số, cơ cấu tuổi
Trang 16giới tính, sự phân bố dân cư theo khu vực và lãnh thổ Nó còn thể hiện tốc độ tăng nguồn nhân lực hàng năm.”
Chất lượng nguồn nhân lực“thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua các tiêu chí: sức khoẻ, trình độ chuyên môn, trình độ học vấn và phẩm chất tâm lý xã hội Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái trí lực, thể lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực do trình độ phát triển kinh tế xã hội và chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực của chính phủ quyết định”[5, tr.55,56]
Nguồn lực tài chính
Nguồn lực tài chính hay còn gọi là vốn.“Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vốn Vốn trong các doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt Mục tiêu của quỹ là để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, tức là mục đích tích luỹ chứ không phải mục đích tiêu dùng như một vài quỹ tiền tệ khác trong các doanh nghiệp Đứng trên các giác độ khác nhau ta có cách nhìn khác nhau
về vốn.”
Bên cạnh nguồn nhân lực,“vốn là một nguồn lực liên quan trực tiếp tới năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh cao là có nguồn vốn dồi dào, luôn đảm bảo huy động được vốn trong những điều kiện cần thiết, có nguồn vốn huy động hợp lý, có kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả để phát triển lợi nhuận và phải hạch toán các chi phí rõ ràng để xác định được hiệu quả chính xác Nếu không có nguồn vốn dồi dào thì hạn chế rất lớn tới kết quả hoạt động cũng như hạn chế việc sử dụng công nghệ hiện đại, hạn chế việc đào tạo nâng cao trình độ cán bộ và nhân viên, hạn chế triển khai nghiên cứu, ứng dụng, nghiên cứu thị trường, hạn chế hiện đại hoá hệ thống tổ chức quản lý…”Vì vậy, điều quan trọng nhất là có kế hoạch huy động vốn phù hợp và phải có chiến lược
đa dạng hóa nguồn cung vốn
Trang 17Nguồn lực về vật chất – kỹ thuật
Nguồn lực này được thể hiện qua các mặt trình độ công nghệ của doanh nghiệp và quy mô năng lực sản xuất Doanh nghiệp có quy mô và năng lực sản xuất lớn sẽ tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, từ đó giảm được giá thành sản phẩm nên có“nhiều cơ hội tiếp cận với khách hàng, giúp doanh nghiệp hiểu rõ khách hàng, từ đó có thể chiếm lĩnh hoặc giữ vững thị trường trên nhiều lĩnh vực khác nhau, tránh sự xâm nhập của đối thủ cạnh tranh.”Nguồn lực vật chất
có thể là:“Tình trạng trình độ máy móc công nghệ, khả năng áp dụng công nghệ mối tác động đến chất lượng, kiểu dáng, hình thức giá thành sản phẩm, mạng lưới phân phối: Phương tiện vận tải, cách thức tiếp cận khách hàng, nguồn cung cấp: ảnh hưởng đến chi phí lâu dài và đầu ra trong việc đảm bảo cho sản xuất được liên tục, ổn định, vị trí địa lý của doanh nghiệp cũng có thể tác động đến chi phí sản xuất, (đất đai, nhà cửa, lao động, ) nguồn nguyên liệu, sự thuận tiện của khách hàng.”
Doanh nghiệp muốn“đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh thì phải
có quy mô sản xuất và mức sử dụng công suất ít nhất phải gần bằng công suất thiết kế, nếu không sẽ gây ra tình trạng lãng phí vì chi phí cố định cao, đẩy giá thành sản phẩm tăng dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.”
Trình độ tổ chức, quản lí
Cơ cấu“tổ chức bộ máy quản lý là những bộ phận có trách nhiệm khác nhau, nhưng quan hệ và phụ thuộc lẫn nhau được bố trí theo từng khâu, từng cấp quản lý để tạo thành một chỉnh thể nhằm thực hiện mục tiêu và chức năng quản lý xác định.”
Các“mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý: mô hình cơ cấu quản lí trực tuyến”và mô hình quản lí theo chức năng, mô hình cơ cấu tổ chức theo trực tuyến –“chức năng, mô hình cơ cấu trực tuyến - tham mưu.”
Trong thời đại ngày nay, trình độ tổ chức - quản lí“là nhân tố tác động trực tiếp, liên tục đến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Có thể nói dù
Trang 18có đầy đủ các nhân tố trên nhưng nhà quản lý, đặc biệt là quản lý sản xuất không tốt sẽ dẫn đến làm giảm hiệu lực của cả ba nhân tố đã nêu trên, làm gián đoạn sản xuất, giảm chất lượng nguyên vật liệu và làm giảm thấp tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm.”
Hoạt động marketing
Năng lực“marketing của doanh nghiệp là khả năng nắm bắt nhu cầu thị trường, khả năng thực hiện chiến lược 4P (Product, Place, Price, Promotion) trong hoạt động marketing Khả năng marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm, nâng cao vị thế của doanh nghiệp Đây là nhóm nhân tố rất quan trọng tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Vì vậy, điều tra cầu thị trường và dựa trên khả năng sẵn có của doanh nghiệp để lựa chọn lĩnh vực kinh doanh phù hợp, tạo ra sản phẩm có thương hiệu được người sử dụng chấp nhận Mặt khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều khâu như tiêu thụ, khuyến mãi, nghiên cứu thị trường… do đó dịch vụ bán hàng và sau bán hàng đóng vai trò quan trọng đến doanh số tiêu thụ - vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp.”
Trên đây là những yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp Việc xác định“điểm mạnh, điểm yếu bên trong doanh nghiệp”sẽ là cơ sở để mỗi doanh nghiệp có thể“tìm ra những lợi thế cơ bản nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.”
Thứ hai, các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp sự nghiệp công lập nói riêng
Do đơn vị sự nghiệp công lập có đặc điểm:“được thành lập bởi cơ quan
có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội Cung
Trang 19cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước Viên chức là lực lượng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị.”Nguồn lực“tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập”quy định theo cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập Sản phẩm của đơn vị sự nghiệp công lập là cung cấp những dịch vụ công thiết thực bảo đảm phục vụ nhu cầu của nhân dân trong lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học và các lĩnh vực khác Do đó, các yếu
tố bên trong“ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp”sự nghiệp công lập nói riêng, bao gồm:
Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực khu vực đơn vị sự nghiệp công lập là những người lao động làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức Nguồn nhân lực khu vực đơn vị sự nghiệp công lập là nhân
tố chủ yếu, hàng đầu và“những người thực thi quyền lực công, cung ứng dịch
vụ công làm việc trong các cơ quan nhà nước, được bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức vụ, chức danh và được hưởng lương từ ngân sách.”
Chất lượng nguồn nhân lực trong các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm
về số lượng và chất lượng Tỷ lệ viên chức có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ ngày càng tăng, cơ cấu tương đối hợp lý trên các lĩnh vực giáo dục, y tế, dạy nghề, văn hóa - xã hội, du lịch, khoa học - công nghệ từng bước hình thành đội ngũ viên chức có trình độ cao đáp ứng yêu cầu của sự phát triển“kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập, phát triển,”ổn định xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Chất lượng nguồn nhân lực nâng cao thì năng lực cạnh tranh sẽ được nâng cao tạo uy tín“cho các đơn vị sự nghiệp công lập.”
Nguồn lực tài chính
Nguồn lực tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay là chịu
sự chế phân bổ nguồn lực ngân sách nhà nước và tự chủ nguồn lực tài chính
Trang 20Cơ chế phân bổ nguồn lực ngân sách nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công trong thời gian qua đã có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ phân bổ dựa trên các yếu tố đầu vào sang hướng tới phân bổ theo kết quả hoạt động
Các đơn vị khi“được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính đã chủ động sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước giao hiệu quả hơn để thực hiện nhiệm vụ; đồng thời, chủ động sử dụng tài sản, nguồn nhân lực để phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo điều kiện tăng nguồn thu.”
Tuy nhiên hiện nay,“số lượng đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ tài chính chiếm tỷ lệ khá cao, khoảng 90% số đơn vị sự nghiệp đang hoạt động với trên 50 nghìn đơn vị Số thu sự nghiệp của các đơn vị sự nghiệp công lập ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước, chủ yếu nhờ tăng quy mô, mở rộng hoạt động sự nghiệp và đa dạng hóa việc cung cấp dịch
vụ cho xã hội, qua đó thu hút thêm số người tham gia thụ hưởng các hoạt động đơn vị sự nghiệp công lập.”
Cơ sở vật chất – kỹ thuật
Để các“đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công cho xã hội theo nhiệm vụ được giao, Nhà nước đã thực hiện trang bị tài sản, cơ sở vật chất cho các đơn vị thông qua nhiều hình thức khác nhau: giao tài sản bằng hiện vật, giao quyền sử dụng đất; giao ngân sách cho đơn vị để thực hiện đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản; cho phép đơn vị được
sử dụng các nguồn thu được để lại và các nguồn vốn hợp pháp khác để đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản Tài sản, cơ sở vật chất này là điều kiện cần thiết
để các đơn vị sự nghiệp công thực hiện nhiệm vụ chính trị do Nhà nước giao, song đây cũng là một nguồn lực tài chính quan trọng có thể khai thác để phát triển thêm các hoạt động dịch vụ sự nghiệp công phục vụ xã hội.”
Trình độ quản lí của đơn vị sự nghiệp công lập
Hiện nay,“ở nước ta hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến địa
Trang 21phương được tổ chức đa dạng, với nhiều nhiệm vụ và loại hình khác nhau Trong những năm qua các đơn vị sự nghiệp công lập đã được giao quyền tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính; đồng thời chủ động sử dụng tài sản, nguồn nhân lực để phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ Theo đó, nguồn thu sự nghiệp đã tăng lên, thực hiện tiết kiệm chi phí để tăng thu nhập cho người lao động Tuy nhiên các đơn vị sự nghiệp công cũng phải chịu sự gián tiếp hoặc trực tiếp của Nhà nước thông quan pháp luật.”
1.2.2 Các yếu tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp nói chung và đơn vị sự nghiệp công nói riêng
Thứ nhất, các yếu tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp nói chung
Các yếu tố môi trường vĩ mô gồm có:
Các yếu tố môi trường kinh tế
Đây là nhóm các yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến thách thức và ràng“buộc, nhưng đồng thời lại là nguồn khai thác các cơ hội đối với doanh nghiệp Các yếu tố kinh tế chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động doanh nghiệp bao gồm: tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế, lãi suất, tỷ suất hối đoái và tỷ lệ lạm phát, các yếu tố môi trường công nghệ.”
Sự“ảnh hưởng chủ yếu thông qua các sản phẩm, quá trình công nghệ và vật liệu mới Sự thay đổi về công nghệ có thể tác động lên chiều cao của rào cản nhập cuộc và định hình lại cấu trúc ngành.”
Trình độ“khoa học - công nghệ quyết định đến hai yếu tố cơ bản nhất, tạo nên sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường đó là: chất lượng và giá bán Khoa học - công nghệ còn tác động đến chi phí cá biệt của doanh nghiệp, khi trình độ công nghệ thấp thì giá và chất lượng có ý nghĩa ngang bằng nhau trong cạnh tranh.”
Trang 22Các “ yếu tố môi trường văn hoá xã hội - nhân khẩu ”
Các“giá trị văn hoá xã hội tạo nên nền tảng của xã hội, sở thích, thái độ mua sắm của khách hàng Bất kỳ sự thay đổi nào của các giá trị này đều ảnh hưởng đến hiệu quả chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Nhân khẩu bao gồm các yếu tố như: dân số, cấu trúc tuổi, phân bố địa lý, phân phối thu nhập… tạo nên quy mô thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Do vậy, doanh nghiệp cần phải phân tích chúng để tận dụng các cơ hội và giảm các nguy cơ.”
Các “ yếu tố môi trường chính trị - luật pháp
Các yếu tố này có tác động lớn đến mức độ của các cơ hội và đe dọa từ môi trường Sự ổn định chính trị, hệ thống pháp luật rõ ràng, sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp, là cơ sở đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh có hiệu quả Doanh nghiệp cần phải phân tích các triết lý, chính sách mới của nhà nước như: chính sách thuế, luật cạnh tranh, luật lao động, chính sách tín dụng, luật bảo vệ môi trường,…”
Các “ yếu tố môi trường địa lý tự - nhiên
Các yếu tố địa lý tự nhiên có ảnh hưởng đến quyết định của doanh nghiệp Các hoạt động sản xuất, khai thác tài nguyên của con người đã làm thay đổi và khan hiếm nguồn tài nguyên Do vậy, hoạt động của doanh nghiệp cần chú trọng đến việc bảo vệ môi trường, không làm ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái, lãng phí tài nguyên.”
Thứ hai, môi trường vi mô
Nguy cơ xâm nhập từ các đối thủ tiềm năng
Nguy cơ xâm nhập vào một ngành phụ thuộc vào các rào cản xâm nhập“thể hiện qua các phản ứng của các đối thủ cạnh tranh hiện thời mà các đối thủ mới có thể dự đoán Nếu các rào cản hay có sự trả đũa quyết liệt của
Trang 23các nhà cạnh tranh hiện hữu đang quyết tâm phòng thủ thì khả năng xâm nhập của các đối thủ mới rất thấp.”
Theo“Michael Porter, có 6 nguồn rào cản xâm nhập chủ yếu, đó là lợi thế kinh tế theo quy mô, sự khác biệt của sản phẩm, các đòi hỏi về vốn, chi phí chuyển đổi, khả năng tiếp cận với kênh phân phối và những bất lợi về chi phí không liên quan đến quy mô.”
Áp lực “ cạnh tranh của các đối thủ hiện tại trong ngành ”
Tính chất“và cường độ của cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện tại trong ngành phụ thuộc vào các yếu tố sau: Số lượng các đối thủ cạnh tranh đông đúc, tốc độ tăng trưởng của ngành, chi phí cố định và chi phí lưu kho cao, sự nghèo nàn về tính khác biệt của sản phẩm và các chi phí chuyển đổi, ngành có năng lực dư thừa, tính đa dạng của ngành, sự tham gia vào ngành cao, các rào cản rút lui.”
Áp lực “ từ các sản phẩm thay thế ”
Các“sản phẩm thay thế hạn chế mức lợi nhuận tiềm năng của một ngành bằng cách đặt một ngưỡng tối đa cho mức giá mà các doanh nghiệp trong ngành có thể kinh doanh có lãi Do các loại sản phẩm có tính thay thế cho nhau nên sẽ dẫn đến sự canh tranh trên thị trường Khi giá của sản phẩm chính tăng thì sẽ khuyến khích xu hướng sử dụng sản phẩm thay thế và ngược lại Do đó, việc phân biệt sản phẩm là chính hay là sản phẩm thay thế chỉ mang tính tương đối.”
Áp lực “ từ phía khách hàng ”
Áp lực“từ phía khách hàng chủ yếu có hai dạng là đòi hỏi giảm giá hay mặc cả để có chất lượng phục vụ tốt hơn Chính điều này làm cho các đối thủ chống lại nhau, dẫn tới làm tổn hao mức lợi nhuận của ngành Áp lực từ khách hàng xuất phát từ các điều kiện sau: Khi số lượng người mua là nhỏ, khi người mua mua một lượng lớn sản phẩm và tập trung Khi người mua
Trang 24chiếm một tỷ trọng lớn trong sản lượng của người bán, các sản phẩm không
có tính khác biệt và là các sản phẩm cơ bản
Khách hàng đe dọa hội nhập về phía sau, sản phẩm ngành là không quan trọng đối với chất lượng sản phẩm của người mua, khách hàng có đầy đủ thông tin.”
Áp lực “ của nhà cung ứng ”
Nhà cung ứng“có thể khẳng định quyền lực của họ bằng cách đe dọa tăng giá hay giảm chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung ứng Do đó, nhà cung ứng có thể chèn ép lợi nhuận của một ngành khi ngành đó không có khả năng
bù đắp chi phí tăng lên trong giá thành sản xuất
Những điều kiện làm tăng áp lực từ nhà cung ứng có xu hướng ngược với các điều kiện làm tăng quyền lực của người mua Áp lực từ nhà cung ứng
sẽ tăng lên nếu: Chỉ có một số ít các nhà cung ứng, khi sản phẩm thay thế không có sẵn, khi sản phẩm của nhà cung ứng là yếu tố đầu vào quan trọng đối với hoạt động của khách hang, khi sản phẩm của nhà cung ứng có tính khác biệt và được đánh giá cao bởi các đối thủ của người mua, khi người mua phải gánh chịu một chi phí cao do thay đổi nhà cung ứng, khi các nhà cung ứng đe dọa hội nhập về phía trước.”
Thứ ba, các yếu tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của đơn
vị sự nghiệp công nói riêng
Đơn vị“sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội Thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước (Khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức) Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị thuộc sở hữu nhà nước Được nhà nước cấp kinh phí khi mới thành lập, lãnh đạo của các đơn vị này do cơ quan chức năng của nhà nước bổ nhiệm hoặc bãi miễn Do đó ngoài chịu tác động của những yếu tố bên trong, thì các yếu tố bên ngoài cũng ảnh hưởng đến các đơn vị sự nghiệp công Các yếu tố đó bao gồm:”
Trang 25Các yếu tố môi trường kinh tế
Trên“cơ chế mở cửa của nền kinh tế thị trường hiện nay, các đơn vị sự nghiệp công lập được tăng cường giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp Cơ chế, chính sách này nhận được sự đồng thuận cao của các cấp, các ngành khi “cởi trói” cho các đơn vị sự nghiệp công phát triển, giảm áp lực tài chính cho ngân sách nhà nước,…”
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, việc triển khai giao“quyền tự chủ tài chính cho đã mang lại một số kết quả tích cực, như các đơn vị sự nghiệp công lập đã chủ động sử dụng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước giao để thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả; đồng thời chủ động sử dụng tài sản, nguồn nhân lực để phát triển và nâng cao số lượng, chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ
sự nghiệp công, từ đó phát triển nguồn thu.”
Các yếu tố “ môi trường văn hóa xã hội - nhân khẩu ”
Các yếu tố“văn hóa xã hội tạo nên nền tảng xã hội,”làm cho“nhận thức của người dân ngày càng được nâng cao”hơn Khi trình độ nhận thức của nhân dân trong xã hội nâng cao giúp người dân nắm bắt được thông tin và từ
đó nhân dân sẽ có được những sự chọn lựa“các sản phẩm, dịch vụ phục vụ cuộc sống Nhân khẩu học tạo nên quy mô thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm,”dịch vụ của đơn vị sự nghiệp công lập
Các yếu tố chính trị - pháp luật
Các đơn vị sự nghiệp công“chịu sự quản lí trực tiếp hoặc gián tiếp của pháp luật Sự ổn định chính trị, hệ thống pháp luật rõ ràng, sẽ tạo môi trường thuận lợi cho các sản phẩm, dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp công lập”ngày càng phất triển, nâng cao hiệu quả phục vụ và đảm bảo công bằng bình đằng cho sự tham gia của cả các doanh nghiệp ngoài công lập
Các yếu tố môi trường địa lý - tự nhiên
Các yếu tố địa lý tự nhiên có tác động to lớn đến các đơn vị sự nghiệp công lập Nơi được chọn làm nơi xây dựng các cơ sở đơn vị sự nghiệp công lập là nơi có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, gần những trung tâm
Trang 26dân cư đông đúc, có“hệ thống giao thông thuận lợi,…”để đạt hiệu quả chất lượng sản phẩm, dịch vụ tốt nhất phục vụ cho các tầng lớp trong xã hội
Sự tham gia của các đơn vị khác trong cùng một lĩnh vực
Trong nền“kinh tế thị trường tự do cạnh tranh và nhiều chủ thể tham gia hoạt động kinh tế - xã hội là một tất yếu Vì vậy sự nghiệp xã hội hóa đã dẫn đến một số lĩnh vực trước đây chỉ có đơn vị sự nghiệp công thì ngày nay đã
có sự xuất hiện của các đơn vị công lập Các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập đang được tổ chức và hoạt động chủ yếu theo mô hình doanh nghiệp; việc tuyển dụng, quản lý, sử dụng lao động trong các đơn vị này cơ bản dựa trên quan hệ lao động theo quy định của Bộ luật lao động Việc ra đời của các đơn
vị ngoài công lập nhằm tăng tính cạnh tranh, hoạt động có hiệu quả hơn trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như: y tế, giáo dục… Nhưng cũng đang đe dọa đến sự tồn tại và phát triển của các đơn vị sự nghiệp công lập.”
1.3 Các tiêu chí đáng giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sự nghiệp công nói riêng
1.3.1 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung
Các tiêu chí định lượng:
Một là, doanh thu
Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp thu được khi bán hàng hoá hoặc“dịch vụ Bởi vậy mà doanh thu có thể được coi là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh Hơn khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và tăng thêm lợi nhuận Căn cứ vào chỉ tiêu doanh thu qua từng thời
kỳ hoặc qua các năm ta có thể đánh giá được kết quả hoạt động kinh doanh là tăng hay giảm, theo chiều hướng tốt hay xấu Nhưng để đánh giá được hoạt động kinh doanh đó có mang lại được hiệu quả hay không ta phải xét đến những chi phí đã hình thành nên doanh thu đó Nếu doanh thu và chi phí của doanh nghiệp đều tăng lên qua các năm nhưng tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được
Trang 27đánh giá là tốt, doanh nghiệp đã biết phân bổ và sử dụng hợp lý yếu tố chi phí, bởi một phần chi phí tăng thêm đó được doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh, đầu tư mua sắm trang thiết bị và xây dựng cơ sở hạ tầng,…”
Hai là, thị phần của doanh nghiệp
Thị phần“được hiểu là phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm giữ trong tổng dung lượng thị trường Do đó thị phần của doanh nghiệp được xác định: Chỉ tiêu này càng lớn nói lên sự chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp càng rộng Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức động hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả hay không bởi nếu doanh nghiệp có một mảng thị trường lớn thì chỉ số trên đạt mức cao nhất và ấn định cho doanh nghiệp một vị trí ưu thế trên thị trường Nếu doanh nghiệp có một phạm vi thị trường nhỏ hẹp thì chỉ số trên ở mức thấp, phản ánh tình trạng doanh nghiệp đang bị chèn ép bởi các đối thủ cạnh tranh Bằng chỉ tiêu thị phần, doanh nghiệp có thể đánh giá sơ bộ khả năng chiếm lĩnh thị trường so với toàn ngành.”
Để“đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ ta dùng chỉ tiêu thị phần tương đối: đó là tỷ lệ so sánh về doanh thu của công ty so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất để từ đó có thể biết được những mặt mạnh hay những điểm còn hạn chế so với đối thủ Ưu điểm của chỉ tiêu này là đơn giản, dễ hiểu nhưng nhược điểm của nó là khó nắm bắt được chính xác số liệu cụ thể và sát thực của đối thủ.”
Ba là, trình độ công nghệ
Trong bối cảnh“hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay tại Việt Nam nói riêng
và tại các nước đang phát triển nói chung, công nghệ đang trở thành một động lực của phát triển kinh tế trong nước, cải thiện năng lực cạnh tranh trên thị trường, tham gia vào mậu dịch quốc tế và nâng cao mức sống của dân cư Mặc dù nắm công nghệ trong tay nhưng việc quản lý công nghệ không chỉ là vấn đề riêng của doanh nghiệp Chính sách của nhà nước sẽ giúp các doanh
Trang 28nghiệp nâng cao trình độ công nghệ thông qua chuyển giao công nghệ hoặc tự mình phát triển để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.”
Bốn là, trình độ quản lý
Trình độ quản lý“của doanh nghiệp được thể hiện thông qua năng lực của nhà quản trị , cụ thể là thể hiện ở việc đưa ra các chiến lược, hoạch định hướng đi cho doanh nghiệp Nhà quản trị giỏi phải là người giỏi về trình độ, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có khả năng giao tiếp, biết nhìn nhận và giải quyết các công việc mộ cách linh hoạt và nhạy bén, có khả năng thuyết phục
để người khác phục tùng mệnh lệnh của mình một cách tự nguyện và nhiệt tình Biết quan tâm, động viên, khuyến khích cấp dưới làm việc có tinh thần trách nhiệm Điều đó sẽ tạo nên sự đoàn kết giữa các thành viên trong doanh nghiệp Nhà quản trị chính là người cầm lái con tàu doanh nghiệp, họ là nhứng người đứng mũi chịu sào trong mỗi bước đi của doanh nghiệp Họ là những người có quyền lực cao nhất và trách nhiệm thuộc về họ cũng là nặng
nề nhất Họ chính là nhứng người xác định hướng đi và mục tiêu cho doanh nghiệp Vì vậy mà nhà quản trị đóng một vai trò chủ chốt trong sự phát triển của doanh nghiệp,…”
Năm là, thương hiệu, “ uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh ”
Uy tín“của doanh nghiệp là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp nào có uy tín sẽ có nhiều bạn hàng, nhiều đối tác làm ăn và nhất là có một lượng khách hàng rất lớn Mục tiêu của các doanh nghiệp là doanh thu, thị phần
và lợi nhuận v.v Nhưng để đạt được các mục tiêu đó doanh nghiệp phải tạo được uy tín của mình trên thị trường, phải tạo được vị thế của mình trong con mắt của khách hàng.”
Trang 291.3.2 Các tiêu chí đáng“giá năng lực của các doanh nghiệp”sự nghiệp công công nói riêng
Theo Khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức cho rằng“đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội Thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước (Khoản 1 Điều
9 Luật Viên chức) Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị thuộc sở hữu nhà nước Được nhà nước cấp kinh phí khi mới thành lập, lãnh đạo của các đơn vị này do cơ quan chức năng của nhà nước bổ nhiệm hoặc bãi miễn.”
Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập:“Không mang quyền lực nhà nước, không có chức năng quản lý nhà nước như: Xây dựng thể chế, thanh tra, xử lý vi phạm hành chính… Các đơn vị sự nghiệp công lập bình đẳng với các tổ chức, cá nhân trong quan hệ cung cấp dịch vụ công Được thành lập bởi
cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Có tư cách pháp nhân, Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước; Viên chức là lực lượng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị.”
Vì thế các tiêu chí để xác định tính cạnh tranh của một“đơn vị sự nghiệp công lập như sau:”
Chất lượng nguồn nhân lực
Lối sống,tác phong và lề lối làm việc Đánh giá lối sống của công chức
cũng thể hiện nhận thức, thái độ của họ đối với công việc, đối với nhân dân, đối với cấp trên, cấp dưới, đồng nghiệp và đối với chính bản thân Tác phong
và lề lối làm việc cũng phản ánh một phần, giúp nhận biết về lối sống, bởi tác phong thể hiện qua cử chỉ, hành động (nhanh nhẹn, chậm chạp, không chỉnh
Trang 30chu, thiếu ngăn nắp, vội vàng, hấp tấp…); lề lối làm việc thể hiện qua lời nói, hành động, tác phong như: giữ theo nếp cũ, cải tiến, tìm tòi cái mới, sáng tạo, bảo thủ, cổ hủ, trì trệ,…
Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ Trình độ chuyên môn nghiệp
vụ thể hiện trước hết qua bằng cấp chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm tác nghiệp các hoạt động chuyên môn Năng lực thể hiện một phần qua trình độ chuyên môn nghiệp vụ, một phần phụ thuộc vào tố chất, các chỉ số như: IQ - chỉ số thông minh, EQ - chỉ số cảm xúc, SQ - thông minh xã hội, CQ - thông minh sáng tạo, PQ - chỉ số đam mê, AQ - chỉ số vượt khó, SQ - trình độ biểu đạt ngôn ngữ
Tiến độ, kết quả thực hiện nhiệm vụ Tiến độ là nhịp độ tiến hành công
việc đảm bảo, vượt hoặc chậm hơn so với thời gian yêu cầu Kết quả thực hiện nhiệm vụ thể hiện chủ yếu ở các sản phẩm cụ thể theo mỗi loại công việc trên hai phương diện: hình thức và chất lượng sản phẩm Đánh giá tiến độ là đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu về thời gian; đánh giá chất lượng thực hiện nhiệm vụ, công việc của công chức cần dựa trên tiến độ và sản phẩm, kết quả thực hiện nhiệm vụ
Ý thức tổ chức kỷ luật Mặc dù được sử dụng phổ biến trong đời sống xã
hội cũng như trong các quy định pháp luật nhưng cho đến nay chưa có định nghĩa chính thức về “ý thức tổ chức kỷ luật” “Ý thức tổ chức kỷ luật” thường được đề cập đến từ một số khía cạnh như: chấp hành pháp luật; chấp hành các quy định của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi cán bộ, công chức đang công tác; chấp hành các quy định của Đảng nếu cán bộ, công chức là đảng viên; chấp hành kỷ luật về thời gian lao động…
Nguồn nhân lực không chỉ là nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh
mà còn là nhân tố để khẳng định đơn vị sự nghiệp công lập đó hoạt động có hiệu quả hay không Nguồn nhân lực cao sẽ giúp hoạt động của đơn vị theo định hướng đã có tốt hơn
Trang 31Cơ sở vật chất – kỹ thuật
Tại các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp việc quản lý cơ sở vật chất
và thiết bị là một công việc hết sức nặng nhọc, khó khăn và mất nhiều thời gian do tài sản thường có giá trị lớn, được bố trí và sắp xếp ở nhiều nơi, nhiều phòng khác nhau, số lượng người sử dụng lớn, được quy định sử dụng trong nhiều năm Mỗi khi có yêu cầu từ các cơ quan quản lý thì nhân viên kế toán phải mất rất nhiều thời gian để kiểm kê sổ sách, cơ sở vật chất và trang thiết
bị, đối chiếu tổng hợp để lập các báo cáo Với mong muốn góp phần làm đơn giản hoá công việc trên
Trình độ quản lí và khoa học – kỹ thuật
Để nâng cao hiệu quả quản lí của các đơn vị sự nghiệp công lập Nhà nước đã có Đề án sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ, ngành, địa phương nhằm giảm mạnh đầu mối, nâng cao hiệu quả hoạt động các đơn vị sự nghiệp, khắc phục chồng chéo, dàn trải, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, trong đó xác định chỉ tiêu giảm đầu mối đơn vị sự nghiệp công lập cho từng năm theo nguyên tắc: Một đơn vị sự nghiệp công lập có thể cung ứng nhiều dịch vụ sự nghiệp công cùng loại; cơ cấu lại hoặc giải thể các đơn
vị sự nghiệp công lập hoạt động không hiệu quả hoặc không đáp ứng đủ tiêu chí, điều kiện thành lập; đẩy mạnh xã hội hóa, chuyển các đơn vị sự nghiệp công lập có đủ điều kiện thành công ty cổ phần (trừ các bệnh viện và trường học); trường hợp cần thiết phải thành lập mới đơn vị sự nghiệp công lập, thì đơn vị đó phải tự bảo đảm toàn bộ về tài chính (trừ trường hợp phải thành lập mới để cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu), hoàn thành trong quý I năm 2019 và áp dụng tiến bộ của khoa học và công nghệ vào quản lí, sử dụng nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người dân, nhằm thỏa mãn các nhu cầu và lợi ích cơ bản, thiết yếu của người dân
Thương hiệu, uy tín của đơn vị sự nghiệp công lập
Mặc dù thương hiệu, uy tín của các đơn vị sự nghiệp công ít được quan tâm phát triển Tuy nhiên, uy tín và thương hiệu sẽ tạo niềm tin cho người dân
Trang 32tham gia, sử dụng các dịch vụ, sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp công lập
Uy tín và thương hiệu của các đơn vị sự nghiệp công được nâng cao thì đơn
vị sự nghiệp công ngày càng phát triển, khơi dậy tính năng động sáng tạo của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Sự gia tăng về doanh thu ( nguồn lực tài chính)
Hiện nay năng lực tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập là do nhà nước phổ hoặc tự chịu trách nhiệm Do vậy việc tự chịu trách nhiệm sử dụng nguồn tài chính là nhiệm vụ quan trọng Ngoài ra, các đơn vị sự nghiệp công lập phải có những chiến lược, chính sách để mở rộng nguồn lực tài chính của mình Vì vậy sự gia tăng của nguồn lực tài chính sẽ cũng
là tiêu chí để đánh giá năng lực cạnh tranh của đơn vị sự nghiệp công lập
có được nâng cao hay không
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 2.1 Sự hình thành, phát triển và những“nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2”
2.1.1 Sự hình thành và phát triển của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Trường“được thành lập theo quyết định số 128/CP, ngày 14/8/1967 của Hội đồng Chính phủ Trường có nhiệm vụ đào tạo giáo viên khoa học tự nhiên cho các trường phổ thông và được đặt ở Cầu Giấy, Từ Liêm, Hà Nội Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Cảnh Toàn là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường.”
Trường“đào tạo cử nhân khoa học các ngành sư phạm: Toán, Vật lý, Kỹ thuật, Sinh học, Hoá học, Ngữ Văn, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Công dân, Giáo dục Mầm non, Thể dục Thể thao và Giáo dục Quốc phòng, Kỹ thuật Nông nghiệp (kết hợp sư phạm kỹ thuật công nghiệp và sư phạm Kinh tế gia đình); Cử nhân khoa học các ngành: Tin học, Tiếng Anh, Việt Nam học, Toán học, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Văn học, Lịch sử; các chuyên ngành đào tạo Thực sĩ khoa học: Toán Giải tích; Vật lí chất rắn, Lí luận và phương pháp dạy học Vật lí, Sinh học thực nghiệm.”
Trường“tiếp tục liên kết, hợp tác đào tạo với Học viện quản lí Giáo dục (tiền thân là Trường Cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo) các cơ sở đào tạo khác Trường tham gia tổ chức thành công các Hội giao lưu Cụm Sư phạm Trung - Bắc lần 6, Phú Thọ, 2006 Nhiều cán bộ đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Nhiều cán bộ được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dụ và Đào tạo tặng Bằng khen Nhiều đơn vị được công nhận "Tập thể lao động xuất sắc" Nhiều cán bộ được trao tặng danh hiệu”"Chiến sĩ thi đua cấp Bộ"
và "Giảng viên giỏi cấp Bộ"
Đến“8/2007, đào tạo được hơn 20 nghìn cử nhân khoa học hệ chính qui,
trong đó 95% làm giáo viên, 4500 chuyên gia cốt cán giáo dục, 550 thạc sĩ;
Trang 34đào tạo nâng chuẩn và bồi dưỡng cho gần 6000 giáo viên các trường phổ
thông Hoạt động khoa học công nghệ: 3 chương trình quốc gia; các đề tài KHCN: cấp Nhà nước: 5, cấp bộ: 87, cấp trường: 230; xây dựng chương
trình, viết giáo trình đáp ứng đào tạo Hơn 90 cán bộ bảo vệ thành công luận
vị cao cũng với tuổi đời còn trẻ (đa số dưới 50 tuổi) có nhiều năm kinh nghiệm ở các vị trí cao cấp trong các cơ sở giáo dục đã cho thấy trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 dồi dào tiềm năng để phát triển, nắm bắt nhanh các chủ trương, đường lối phát triển của nhà nước và Bộ GD&ĐT, đề ra các chiến lược phù hợp để năng cao năng lực cạnh tranh của“trường Đại học sư phạm Hà Nội 2.”
Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố then chốt để khẳng định năng lực của trường đại học Tại trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 luôn có
Trang 35chính sách thu hút các giảng viên có năng lực giỏi, các chuyên gia đầu ngành nhằm mang lại cho mình một sức mạnh cạnh tranh trong quá trình đào tạo sinh viên Số lượng giảng viên có học hàm Phó giáo sư hay Tiến sỹ, thạc sỹ (ThS) luôn tăng theo từng năm, đây là tín hiệu đáng mừng cho trường đại học
sư phạm Hà Nội 2 trong quá trình khẳng định vị thế của mình trong thời đại đổi mới xu thế giáo dục hiện nay
Bảng 3.1 Số lượng giảng viên cơ hữu từ 2015 - 2018 (người )
(Nguồn: Sổ tay sinh viên năm 2015 và 2018 trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2)
Qua bảng 3.1 trên cho thấy nguồn nhân lực được về chất được tăng lên Cụ thể giảng viên cao cấp năm 2015 chỉ là 3 người đến năm 2018 tăng
lên là 18 người, phó giáo sư năm 2015 là 14 người đến năm 2018 là 17 người, tiến sĩ năm 2015 là 15 người đến năm 2018 là 109 người, thạc sĩ năm 2015 là
263 người đến năm 2018 là 184 người, giảng viên chính năm 2015 là 71 người đến năm 2018 là 65 người
Với nguồn nhân lực không ngừng được nâng cao về cả số lượng lẫn chất lượng sẽ giúp cho quá trình“nâng cao năng lực cạnh tranh của trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2 ngày càng tốt hơn.”
Nguồn lực tài chính
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 là đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên Nhà trường là đơn vị dự toán cấp hai“chịu sự quản lí của Bộ Giáo dục và Đào tạo Nhà trường đã có nhiều giải
Trang 36pháp tích cực để công tác tài chính của nhà trường của nhà trường đi vào nề nếp, đảm bảo đáp ứng việc thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ cơ bản trong kế hoạch của nhà trường về công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và các nhiệm
vụ chuyên môn khác Nhà trường đã hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán theo các hướng dẫn thi hành Luật kế toán, thực hiện đúng quy trình lập kế hoạch, thanh toán quyết kinh phí cho các hoạt động của Nhà trường Việc phân bổ và
sử dụng tài chính của nhà trường hằng năm được thực hiên công khai, dân chủ
và minh bạch.”
Việc sử dụng nguồn lực tài chính tốt sẽ giúp cho việc phục vụ các hoạt động của“trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 được tốt hơn, đồng thời”nâng cao năng lực cạnh tranh cũng tốt hơn
Cơ sở vật chất
Trường“Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã quy hoạch và xây dựng được một
hệ thống cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu đào tạo của trường:”
Hệ thống“phòng học đủ và đáp ứng tiêu chuẩn với bốn giảng đường A,
B, C, D phục vụ cho hoạt động dạy học, trong đó có các phòng học chuyên dụng cho các hoạt động dạy học đặc thù như: tin học, ngoại ngữ, nhạc… Phòng học được trang bị máy chiếu Projector, bảng thông minh và các thiết bị hiện đại khác ứng đầy đủ việc học tập, thực hành và nghiên cứu khao học của người học Ngoài ra, nhà trường còn hợp tác với nhiều cơ sở nghiên cứu trong
và ngoài nước để đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu của người học.”
Thư viện“gồm đầy đủ các phòng chức năng với các thiết bị chuyên dụng,
có đủ giáo trình và đa dạng về tài liệu tham khảo phục vụ cho hoạt động học tập và nghiên cứu Phòng tra cứu với thiết bị hiện đại cùng với hệ thống hướng dẫn tỉ mỉ, internet băng thông rộng Hệ thống thư viện điện tử liên kết với năm thư viện điện tử ngoài trường Đặc biệt nhà trường đã mua cổng thông tin điện tử Spinger cho phép giáo viên và người học truy cập nhiều tạp chí khao học uy tín trên thế giới.”