1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng chính phủ điện tử ở việt nam hiện nay

79 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 541,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, ứng dụng công nghệ thông tin CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước CQNN, hướng tới mục tiêu xây dựng phát triển Chính phủ điện tử CPĐT là xu thế

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN LỢI QUỐC KHÁNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Hà Nội - 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN LỢI QUỐC KHÁNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là kết quả nghiên cứu riêng của tôi, chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào của người khác

Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm theo danh mục tài liệu tham khảo của Luận văn

HỌC VIÊN

NGUYỄN LỢI QUỐC KHÁNH

Trang 4

MỤC LỤC

Chương 1 9

LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ 9

1.1 Một số khái niệm 9

1.2 Chủ thể chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng Chính phủ điện tử 18

1.3 Thể chế chính sách ứng dụng công nghệ thông tin 19

1.4 Những nhân tố tác động đến chính sách ứng dụng công nghệ thông tin 23

Chương 2 28

THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TRONG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM 28

2.1 Sự hình thành, phát triển của công nghệ thông tin tại Việt Nam 28

2.2 Vấn đề chính sách ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng chính phủ điện tử 32

2.3 Thực tiễn tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng chính phủ điện tử trong các cơ quan nhà nước tại Việt Nam 44

Chương 3 61

CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ 61

3.1 Các giải pháp 61

3.2 Nội dung giải pháp 61

3.3 Kiến nghị đối với các CQNN có thẩm quyền 67

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu Nguyên nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động của

cơ quan nhà nước (CQNN), hướng tới mục tiêu xây dựng phát triển Chính phủ điện tử (CPĐT) là xu thế tất yếu, là mô hình phát triển phổ biến của nhiều quốc gia, xây dựng CPĐT trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của bất cứ Chính phủ nào CPĐT cho phép người dân tương tác, nhận được các dịch vụ

từ Chính phủ 24 giờ một ngày, 07 ngày một tuần, tăng tính minh bạch, giảm chi phí, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Chính phủ, góp phần làm giảm tiêu cực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng Nhận thức được tầm quan trọng của ứng dụng CNTT và CPĐT, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm tạo hành lang pháp lý cũng như tăng cường ứng dụng CNTT, thúc đẩy CPĐT Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách này còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ dẫn đến hiệu quả ứng dụng CNTT còn nhiều hạn chế Do đó, cần đánh giá đúng thực trạng ứng dụng CNTT nói chung, trong đó tập trung vào các ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT; kịp thời phát hiện những bất cập, tồn tại, hạn chế; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác này trong thời gian tới là một đòi hỏi khách quan và hết sức cần thiết Đó chính là lý do em đã lựa chọn nghiên

cứu đề tài “Thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin để xây

dựng chính phủ điện tử ở Việt Nam hiện nay”

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ứng dụng CNTT nói chung, bao gồm các ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT vốn không phải là một vấn đề mới mà trong thực tế đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều cơ quan tìm hiểu, nghiên cứu tại rất nhiều tài liệu Một số tài liệu được tác giả lựa chọn để tham khảo, nghiên cứu bao gồm:

1 Bộ Thông tin và Truyền thông (2015) Khung kiến trúc Chính phủ

điện tử Việt Nam, phiên bản 1.0

Trang 7

2 Đặng Hữu (2001), Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục

vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội

3 Đặng Hữu (2005), Công nghệ thông tin - mũi nhọn đột phá đưa loài người vào thời đại kinh tế tri thức, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội

4 Trần Việt Cường (2014), Một số vấn đề về nghiên cứu xây dựng kiến trúc hệ thống thông tin quốc gia, Tạp chí Công nghệ thông tin và Truyền thông, tháng 9/2014 (kỳ 2), tr.19-20

5 Thu Hà (2015), 6 bài học triển khai thành công tin học hóa trong các CQNN, Tạp chí Công nghệ thông tin và Truyền thông, tháng 01/2015 (kỳ 2), tr.29-32

Các tài liệu này có những ý nghĩa về khoa học và thực tiễn nhất định Tuy nhiên, qua khảo cứu cho thấy các tài liệu này chủ yếu nghiên cứu các vấn

đề về chủ trương, những định hướng lớn của Đảng và Nhà nước hoặc tập trung nghiên cứu, đánh giá vào thực tiễn của một ngành, lĩnh vực cụ thể Trong khi đó, việc thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT

từ thực tiễn của các CQNN tại Việt Nam cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào đề cập đến Những tài liệu nêu trên sẽ giúp ích cho việc tham khảo, đối chứng trong quá trình nghiên cứu đề tài của tác giả

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục tiêu của Luận văn: trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ứng dụng CNTT xây dựng CPĐT, đánh giá việc thực hiện chính sách ứng dụng CNTT thúc đẩy CPĐT tại các CQNN tại Việt Nam

đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin xây dựng CPĐT

Trang 8

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản mà Luận văn cần đặt ra:

- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT trong các CQNN tại Việt Nam;

- Tiến hành thu thập và tổng hợp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc phân tích thực trạng tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT tại các CQNN;

- Phân tích, đánh giá việc thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT từ thực tiễn các CQNN tại Việt Nam;

- Đề xuất giải pháp nâng cao kết quả thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT ở Việt Nam hiện nay

3.3 Giả thiết nghiên cứu

Thứ nhất, chính sách ứng dụng CNTT nói chung, trong đó có những chính sách về xây dựng CPĐT đã được tổ chức thực hiện ở các CQNN tại Việt Nam nhưng chưa mang lại kết quả và hiệu quả như mong muốn của nhà nước cũng như của các đối tượng chính sách Do đó, nếu chính sách ứng dụng CNTT được các CQNN triển khai, tổ chức thực hiện một cách khoa học, hợp

lý và phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam thì sẽ đem lại nhiều kết quả cao hơn so với hiện tại, từ đó, góp phần tạo thêm động lực để xây dựng, phát triển CPĐT

Thứ hai, việc thực hiện những chính sách ứng dụng CNTT chưa thật sự tạo ra động lực mạnh mẽ để thúc đẩy quá trình xây dựng CPĐT Vấn đề này

có thể do quá trình tổ chức thực hiện chính sách chưa thực sự phù hợp phù hợp và nếu có các giải pháp phù hợp thì sẽ nâng cao được kết quả cũng như hiệu quả thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT ở Việt Nam hiện nay Do vậy, nếu các CQNN tại Việt Nam có những cơ chế, giải

Trang 9

pháp ứng dụng CNTT phù hợp trên cơ sở sử dụng nguồn lực hợp lý thì sẽ thu được nhiều kết quả cao và bền vững hơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT, cụ thể là nghiên cứu giải pháp tổ chức thực hiện và công cụ chính sách ứng dụng CNTT từ thực tiễn của các CQNN tại Việt Nam dưới góc độ khoa học chính sách công

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2015 đến nay

- Không gian nghiên cứu: Tại các CQNN tại Việt Nam

- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài này chủ yếu nghiên cứu các chính sách ứng dụng CNTT, trong đó tập trung vào nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách ứng dụng CNTT trong các CQNN để xây dựng CPĐT

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cách tiếp cận của Luận văn mang tính đa ngành, liên ngành xã hội học, vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công với sự tham gia của nhiều chủ thể chính sách Lý thuyết chính sách công được nghiên cứu thông qua thực tiễn và được vận dụng để giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành

5.2 Cơ sở thực tiễn

Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực tiễn triển khai ứng dụng CNTT nói chung, trong đó, tập trung vào các ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT tại Việt Nam thông qua việc tổng hợp, phân tích các số liệu, báo cáo, bài viết nghiên cứu của nhiều tác giả qua các thời kỳ Cùng với đó là kinh nghiệm thực tiễn triển khai của một số quốc gia đã xây dựng thành công CPĐT (như: Estonia, Nga, Pháp, Anh…) cũng được tác giả nghiên cứu, khai thác để đề xuất giải pháp ứng dụng phù hợp cho bối cảnh Việt Nam

Trang 10

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin:

Luận văn sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn tài liệu, báo cáo, văn bản hiện hành liên quan đến đề tài nghiên cứu Bao gồm: các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết của Đảng; văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ (Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn Nghị định…); các công trình nghiên cứu khoa học, báo cáo, thống kê của các tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề thực hiện chính sách ứng dụng CNTT nói chung, trong đó có các chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT

- Phương pháp phân tích so sánh:

Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích so sánh Các đối tượng nghiên cứu được khảo sát, đánh giá trong các bối cảnh thực tế và dựa trên các số liệu báo cáo, thống kê được thu thập từ những tài liệu nghiên cứu,

từ các báo cáo đánh giá, tổng kết tình hình, kết quả ứng dụng CNTT trong các CQNN Từ đó đưa ra các nhận xét, đánh giá sự phù hợp của các chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT trong bối cảnh thực tiễn triển khai tại Việt Nam

Trang 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

- Hoạt động nghiên cứu về chính sách ứng dụng CNTT cũng như tình hình triển khai, thực thi các chính sách ứng dụng CNTT có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ của các ngành khoa học khác nhau Trong Luận văn này, việc nghiên cứu về hoạt động ứng dụng CNTT được tiếp cận dưới góc độ của ngành khoa học chính sách công, vì vậy Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT tại Việt Nam

- Luận văn tập trung hệ thống hóa một cách cơ bản, dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn các khái niệm, nội hàm về CNTT nói chung cũng như tình hình thực hiện chính sách ứng dụng CNTT trong các CQNN tại Việt Nam và làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT

- Luận văn cung cấp thông tin về thực trạng ứng dụng CNTT, trong đó tập trung vào các ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT, đồng thời, tổng hợp quan điểm và yêu cầu của Đảng và Nhà nước về thực hiện chính sách ứng dụng CNTT Trên cơ sở thực trạng và những quan điểm, yêu cầu nêu trên, Luận văn đề xuất những giải pháp nhằm tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT tại các CQNN, Luận văn đề xuất những giải pháp nhằm tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách, bảo đảm phù hợp với những yếu tố đặc thù của các CQNN tại Việt Nam, góp phần thực hiện thành công chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT, phù hợp với

Trang 12

điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu của Luận văn

Luận văn được chia làm 3 chương (bao gồm phần mở đầu, kết luận,

danh mục tài liệu tham khảo), trong đó:

Chương 1: Lý luận về chính sách ứng dụng CNTT, xây dựng CPĐT Chương 2: Thực trạng chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT trong các CQNN tại Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT

Trang 14

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN,

XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin và Chính phủ điện tử

Khái niệm "công nghệ thông tin" được nêu tại rất nhiều nguồn tài liệu, tạp chí khoa học Qua nghiên cứu của tác giả, khái niệm này xuất hiện lần đầu trong một bài viết trên tạp chí Harvard Business Review vào năm 1958 Trong

đó, hai tác giả Leavitt và Whisler đã viết: "Công nghệ mới chưa thiết lập một

tên riêng Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin” Tại Việt Nam, khái niệm

CNTT được nêu tại trong Nghị quyết 49/CP ngày 04/8/1993 của Chính phủ

về phát triển CNTT, như sau: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học,

các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” Khái niệm này được sử dụng rộng rãi và được phát

triển, bổ sung, cập nhật tại Luật CNTT số 67/2006/QH11 ngày 29/06/2006

của Quốc hội, theo đó, “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công

nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số” Như vậy, với những quy định tại Luật CNTT,

khái niệm CNTT đã được quy định một cách hoàn chỉnh và được pháp lý hóa tại một văn bản Luật, tạo cơ sở cho hoạt động triển khai ứng dụng CNTT, sản xuất các sản phẩm ứng dụng CNTT… của các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức, cá nhân có liên quan

Đối với CPĐT, khái niệm CPĐT được Liên hiệp quốc định nghĩa là:

“Chính phủ điện tử là Chính phủ ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của CQNN, tăng cường công khai, minh bạch thông tin,

Trang 15

cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp” [25] Các

dịch vụ của CPĐT thông thường bao gồm: G2G (cung cấp thông tin, các dịch

vụ liên quan giữa các cơ quan của Chính phủ với nhau); G2B (Chính phủ cung cấp thông tin, dịch vụ cho doanh nghiệp); G2C (Chính phủ cung cấp thông tin, dịch vụ cho người dân); G2E (Chính phủ cung cấp các thông tin, dịch vụ cho cán bộ, công chức, viên chức)

Về các giai đoạn phát triển CPĐT, đây là quá trình lâu dài, liên tục, qua các giai đoạn khác nhau Việc phân chia các giai đoạn phát triển CPĐT nhằm xác định mức độ phát triển CPĐT của mỗi cơ quan, cũng như làm cơ sở xác định lộ trình, kế hoạch triển khai CPĐT đúng hướng, phù hợp với điều kiện, nhu cầu thực tế

Các tổ chức khác nhau có cách phân chia các giai đoạn phát triển CPĐT của riêng mình, trong đó nổi bật là cách phân chia của Gartner (một công ty tư vấn, nghiên cứu hàng đầu thế giới về CNTT), bao gồm các giai đoạn sau [2]:

Giai đoạn 1: Hiện diện (Presence)

Sự phát triển CPĐT giai đoạn này được đặc trưng bởi sự hiện diện các

cơ quan chính phủ trên mạng Internet, mục đích chính là cung cấp các thông tin cơ bản về các cơ quan chính phủ như chức năng, nhiệm vụ, địa chỉ liên hệ, thời gian làm việc và có thể cung cấp thêm các văn bản liên quan đến xã hội

Giai đoạn 2: Tương tác (Interaction)

Trong giai đoạn này, các trang thông tin điện tử của các cơ quan chính phủ cung cấp các chức năng tìm kiếm cơ bản, cho phép tải về các biểu mẫu điện tử, các đường liên kết với các trang thông tin điện tử liên quan, cũng như địa chỉ thư điện tử của các cơ quan, cán bộ chính phủ

Giai đoạn 3: Giao dịch (Transaction)

Trang 16

Trong giai đoạn này, các trang tin, Cổng thông tin điện tử của các cơ quan chính phủ cho phép thực hiện hoàn chỉnh các dịch vụ, bao gồm việc nộp

hồ sơ, xử lý hồ sơ, trả phí dịch vụ trực tuyến

Giai đoạn 4: Chuyển đổi (Transformation)

Giai đoạn này là mục tiêu dài hạn của các cơ quan chính phủ Ngoài việc thực hiện các chức năng trong giai đoạn 3, CPĐT giai đoạn này cung cấp cho người dân một điểm truy cập duy nhất tới các cơ quan chính phủ để thực hiện mọi giao dịch, các hoạt động của cơ quan chính phủ là minh bạch với người dân

Ngoài các khái niệm chính về CNTT và CPĐT mang tính nghiên cứu, học thuật như đã nêu trên, một số khái niệm phổ biến khác đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật của CQNN có thẩm quyền, bao gồm:

Nhóm các quy định về ứng dụng CNTT trong CQNN [9]:

- Ứng dụng CNTT: Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các

hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này

- Ứng dụng CNTT hoạt động của CQNN: là việc sử dụng CNTT vào

các hoạt động của CQNN nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của CQNN và giữa các CQNN, trong giao dịch của CQNN với tổ chức và các nhân, hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính vào bảo đảm công khai, minh bạch

Nhóm các khái niệm về Dịch vụ công trực tuyến, Cổng thông tin điện

tử và Trang thông tin điện tử của CQNN [10]:

- Trang thông tin điện tử: là trang thông tin hoặc một tập hợp trang

thông tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin

Trang 17

- Cổng thông tin điện tử: là điểm truy cập duy nhất của cơ quan trên

môi trường mạng, liên kết, tích hợp các kênh thông tin, các dịch vụ và các ứng dụng mà qua đó người dùng có thể khai thác, sử dụng và cá nhân hóa việc hiển thị thông tin

- Dịch vụ hành chính công: là những dịch vụ liên quan đến hoạt động

thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do CQNN có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà CQNN đó quản lý Mỗi dịch vụ hành chính công gắn liền với một thủ tục hành chính để giải quyết hoàn chỉnh một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân

- Dịch vụ công trực tuyến: là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ

khác của CQNN được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường

Các mức độ dịch vụ công trực tuyến, bao gồm

+ Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: là dịch vụ bảo đảm cung cấp đầy

đủ các thông tin về thủ tục hành chính và các văn bản có liên quan quy định

về thủ tục hành chính đó

+ Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: là dịch vụ công trực tuyến mức

độ 1 và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ

+ Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: là dịch vụ công trực tuyến mức

độ 2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến

cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ

và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ

Trang 18

+ Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là dịch vụ công trực tuyến mức

độ 3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người sử dụng

Có thể thấy, trong đời sống hàng ngày, CNTT dần trở nên phổ biến, có những ảnh hưởng to lớn đến đời sống xã hội và đã trở thành phương tiện không thể thiếu cho con người trong học tập, sinh hoạt, công việc hàng ngày CNTT đã và đang góp phần tạo ra môi trường thông tin thuận lợi, phong phú, phục vụ cho mọi hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội Máy vi tính, các thiết

bị cầm tay thông minh, hệ thống mạng và những cơ sở dữ liệu đã giúp chúng

ta tạo đột phá trong quá trình phát triển Các ứng dụng CNTT ngày càng trở thành phương tiện hiệu quả, quan trọng trong nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước cũng như giúp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng… Thêm vào đó, CNTT còn hỗ trợ dự báo nhu cầu phát triển của toàn

xã hội, khai thác được tối đa các nguồn lực trong xã hội, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người dân… Còn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, ứng dụng CNTT tập trung vào 02 mảng chính là: Ứng dụng CNTT để hiện đại hóa dây chuyền sản xuất và ứng dụng CNTT phục vụ quản lý kinh doanh đã góp phần tạo ra được những thay đổi về chất đối với toàn bộ quy trình sản xuất (từ thiết

kế, lắp đặt dây chuyền sản xuất cho đến tự động hóa nhiều công đoạn trong quy trình sản xuất…) và quản lý kinh doanh (quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thương mại điện tử,…) nên CNTT thực sự trở thành động lực phát

triển của nền kinh tế

Việc một xã hội có thể khai thác, sử dụng một cách sáng tạo năng lực của CNTT để giải quyết các vấn đề đặt ra của xã hội đó là vấn đề quan trọng của kỷ nguyên thông tin hiện nay Ở các quốc gia phát triển, họ chú trọng trước tiên là sử dụng CNTT như là một phương tiện hữu hiệu để hỗ trợ bộ

Trang 19

máy chính quyền điều hành quản lý, xã hội Trong khi đó, tại Việt Nam, ứng dụng CNTT trong các CQNN có tên gọi khác là chương trình xây dựng CPĐT cũng đã được chú trọng triển khai nhiều hơn trong những năm qua, nhất là sau khi Nghị quyết số 36a/NQ-CP được ban hành, đi vào cuộc sống Tuy chưa đạt nhiều kết quả như mong nhưng những gì đã đạt được hoàn toàn khẳng định tính đúng đắn và sự cần thiết việc triển khai ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT

Ngoài những vai trò nêu trên, CNTT còn có nhiều vai trò trong phát triển

kinh tế - xã hội như:

- CNTT là hạ tầng cơ sở cho nền kinh tế tri thức, kinh tế chia sẻ: Khái

niệm kinh tế tri thức, kinh tế chia sẻ là những khái niệm mới hiện nay, trong

đó, kinh tế tri thức được Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) định

nghĩa là: "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế ngày càng phụ thuộc trực tiếp

vào việc sản xuất phân phối và sử dụng tri thức và thông tin" (OECD 1996)

[25] Còn Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC 2000)

thì đưa ra khái niệm: "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó quá

trình sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế" [25] Những khái niệm của các tổ chức quốc tế nêu trên cho thấy, mọi

nỗ lực đều hướng về một điểm chính là “làm thế nào để giàu tri thức?” Câu trả lời mà chúng ta đều có thể biết hoặc nhìn thấy ngay, đó là: “cần phải dựa vào CNTT” vì CNTT vừa là phương tiện giúp con người tập hợp được nhiều thông tin nhất vừa là công cụ xử lý thông tin hiệu quả nhất để có thể tìm ra những cái mới Tương tự như vậy, kinh tế chia sẻ (còn được gọi là sharing economy hoặc tiêu dùng cộng tác) là một mô hình thị trường lai (ở giữa sở hữu và tặng quà) trong đó đề cập đến mạng ngang hàng dựa trên chia sẻ

Trang 20

quyền truy cập vào hàng hóa và dịch vụ (phối hợp thông qua các dịch vụ trực tuyến dựa vào cộng đồng) [25] Cả kinh tế tri thức và kinh tế chia sẻ đều tập trung, nhấn mạnh vào vai trò của CNTT như là nền tảng quan trọng, là hạ

tầng cơ sở của 02 nền kinh tế này

- CNTT trong phát triển kinh tế, quản lý xã hội:

+ CNTT thay đổi cách thức giao tiếp: Tất cả mọi người trên khắp thế giới có thể cùng truy cập vào Internet, tham gia vào những cuộc gặp gỡ trên mạng, đọc tin tức hàng ngày, tiến hành các giao dịch thương mại hoặc trò chuyện với bạn bè, người thân trên khắp thế giới Rào cản ngôn ngữ được giảm thiểu rất nhiều thông qua các công cụ hỗ trợ dịch đa ngôn ngữ, dịch tự động như: Google Translate, Microsoft Translator…

+ CNTT thay đổi cách thức chúng ta khai thác, sử dụng thông tin: Ai cũng có thể tiếp cận, yêu cầu tải về hoặc sao chép tài liệu, tạp chí, … được xuất bản bằng bất kỳ ngôn ngữ nào để tham khảo thông qua truy cập Internet

+ CNTT thay đổi cách thức học tập: Mọi người đều có thể tham dự những chương trình học tập trên mạng bất chấp vị trí địa lý, tuổi tác, những hạn chế thể chất hoặc thời gian biểu cá nhân cũng như tiếp cận những kho dữ liệu chung để học tập, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, tri thức một cách dễ dàng

và tiết kiệm

+ CNTT biến đổi phương thức thương mại: Khách hàng có thể tiếp xúc với các sản phẩm mình cần mua sắm một cách dễ dàng thông qua các dịch vụ bán hàng trực tuyến; doanh nghiệp kinh doanh sẽ nhanh chóng điều chỉnh chiến lược tiếp thị hoặc danh mục hàng hóa trên cơ sở phân tích những phản hồi từ phía khách hàng Người tiêu dùng có thể đặt hàng những hàng hóa, lựa chọn dịch vụ cung cấp, giá cả phù hợp một cách thuận lợi từ nhà riêng, văn phòng hay bất cứ đâu chỉ với chiếc điện thoại thông minh có kết nối mạng Internet

Trang 21

+ CNTT giúp thay đổi phương pháp nghiên cứu: Việc nghiên cứu khoa học ngày càng trở nên thuận tiện hơn so với trước đây nhiều nhờ sự trợ giúp các các hệ thống công nghệ thông tin chuyên dụng Những hệ thống này có thể mô phỏng, giả lập hoặc tạo ra các phòng thí nghiệm ảo Thêm vào đó, sự

hỗ trợ mạnh mẽ của thư viện điện tử được cung cấp miễn phí hoặc có thu phí trên Internet cũng đã mang lại cho các nhà nghiên cứu rất nhiều lợi thế so với phương pháp nghiên cứu truyền thống

+ CNTT đổi mới phương thức hoạt động của các CQNN: các CQNN xây dựng những hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành để phục vụ các hoạt động nghiệp vụ, cập nhật thông tin, dữ liệu thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của các Bộ, cơ quan, địa phương Điều này cho phép người dân có nhiều cơ hội tiếp cận với bộ máy chính quyền Họ có thể truy cập để tìm hiểu thông tin hoạt động của các CQNN thông qua các Trang thông tin hoặc Cổng thông tin điện tử của CQNN hoặc đăng ký thực hiện các dịch vụ công trực tuyến thông qua Cổng dịch vụ công trực tuyến của các Bộ, ngành, địa phương Người dân và doanh nghiệp dần sẽ trở thành “người sử dụng trung tâm” của hệ thống CPĐT CNTT giúp CQNN thu thập được nhiều dữ liệu hơn từ các hệ thống đang hoạt động do đó làm tăng chất lượng thông tin phản hồi tới các cơ quan ban hành chính sách, cơ quan quản lý Ngoài ra, CQNN cũng có thể bảo đảm việc cung cấp nhiều thông tin hơn cho công chúng và hỗ trợ thêm những cách thức liên lạc mới thông qua các thiết bị vi tính, di động có khả năng truy cập môi trường mạng giữa các nhà hoạch định chính sách đến từng công dân Thông qua các cách thức này, CNTT giúp nâng cao năng lực điều hành trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước của các CQNN tại Việt Nam

Trang 22

1.1.2 Khái niệm chính sách

Theo tác giả Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được

thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”

Chính sách là những đường hướng hành động, ứng xử cơ bản của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động, phát triển nhằm đạt được mục tiêu nhất định

1.1.3 Chính sách công:

Theo nhà nghiên cứu Thomas R.Dye thì: “Chính sách công là cái mà

Chính phủ lựa chọn làm hay không làm” Chính sách công là những đường

hướng hành động ứng xử cơ bản của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Vận dụng vào thực tế của Việt Nam, chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định

Qua những nghiên cứu nêu trên, ta có thể nhận định: Chính sách ứng

dụng CNTT hoạt động của CQNN là tổng thể những quan điểm, thái độ, quyết định, quy định của Đảng và Nhà nước với các giải pháp, công cụ cụ thể nhằm

sử dụng CNTT vào các hoạt động của CQNN để nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của CQNN và giữa các CQNN, trong giao dịch của CQNN với tổ chức và các nhân, hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính vào bảo đảm công khai, minh bạch

Trang 23

1.2 Chủ thể chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng Chính phủ điện tử

Chính sách ứng dụng CNTT khi được ban hành sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống và có liên quan tới rất nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội Chính vì vậy, trong quá trình tổ chức triển khai thực thi chính sách ứng dụng CNTT, CQNN cần huy động sự tham gia của các bên vào quá trình thực hiện chính sách để bảo đảm tính hiệu quả, đồng bộ

Chủ thể thực thi chính sách ứng dụng CNTT là các CQNN từ trung ương tới địa phương, cùng với đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công vụ Trong quá trình thực thi chính sách, các CQNN giữ vai trò điều tiết, định hướng các hoạt động thực hiện chính sách thông qua những công cụ quản lý của mình để việc thực thi chính sách luôn bám sát mục tiêu mà chính sách đã

đề ra Các CQNN tham gia vào quá trình thực hiện chính sách bao gồm:

Thứ nhất là Chính phủ: Chính phủ vừa là cơ quan, chủ thể ban hành

chính sách nhưng cũng đồng thời là cơ quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách

Thứ hai là Ủy ban Quốc gia Chính phủ điện tử: Ủy ban có chức năng,

nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về chủ trương, chiến lược, cơ chế, chính sách tạo môi trường pháp lý thúc đẩy xây dựng, phát triển CPĐT hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số; tạo thuận lợi cho việc triển khai Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tại Việt Nam

Thứ ba là Bộ Thông tin và Truyền thông: Bộ Thông tin và Truyền

thông là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực thông tin và truyền thông, trong đó có công nghệ thông tin nói chung, xây dựng Chính phủ điện tử nói riêng và quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ

Trang 24

Thứ tư là Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: đây là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, có

trách nhiệm tổ chức triển khai các nhiệm vụ liên quan đến ứng dụng CNTT để xây dựng Chính quyền điện tử trên địa bàn tỉnh, thành phố

1.3 Thể chế chính sách ứng dụng công nghệ thông tin

CNTT và truyền thông luôn được Đảng và Nhà nước xác định là công

cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ứng dụng rộng rãi CNTT và truyền thông là những yếu tố mang ý nghĩa chiến lược, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và tăng năng suất lao động

Ngày 29/06/2006, Quốc hội đã thông qua Luật công nghệ thông tin Đây là văn bản pháp lý vô cùng quan trọng, cụ thể hóa chủ trương của Đảng

đã được nêu tại Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cụ thể, tại Khoản 1 Điều 5, Luật công nghệ thông tin đã quy

định: “Ưu tiên ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong chiến lược

phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Điều này cho thấy tầm quan trọng của ứng dụng và phát triển CNTT,

trong đó có những ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN Ngoài Luật CNTT, một số văn bản quy phạm pháp luật cũng đã được cấp có thẩm quyền ban hành để định hướng ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính nhà nước như sau:

Thứ nhất: Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/04/2007 về ứng dụng

CNTT trong hoạt động của CQNN Nội dung Nghị định không chỉ bao gồm các quy định về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN mà còn cả các điều kiện bảo đảm ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN (bao gồm xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin, cung cấp nội dung thông tin, phát triển và sử

Trang 25

dụng nguồn nhân lực CNTT, đầu tư cho ứng dụng CNTT), quy định về hoạt động của CQNN trên môi trường mạng (bao gồm quy trình công việc, quản lý văn bản điện tử, bảo đảm an toàn thông tin mạng) cùng với những yêu cầu về

tổ chức thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của CQNN

Có thể nói Nghị định 64/2007/NĐ-CP đã tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi hơn rất nhiều để triển khai công tác ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN sau khi Luật Công nghệ thông tin được ban hành

Thứ hai: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 246/2005/QĐ-TTg

ngày 06/10/2005 về việc phê duyệt chiến lược phát triển CNTT và truyền thông Việt Nam đến 2010 và định hướng đến năm 2020, đã chỉ ra một số nội dung mang tính định hướng cho phát triển ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính nhà nước như: Ứng dụng rộng rãi CNTT và truyền thông trong mọi lĩnh vực, khai thác có hiệu quả thông tin và tri thức trong tất cả các ngành Xây dựng

và phát triển Việt Nam điện tử với công dân điện tử, CPĐT, doanh nghiệp điện

tử, giao dịch và thương mại điện tử để Việt Nam đạt trình độ khá trong khu vực ASEAN; hình thành xã hội thông tin Cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông phát triển mạnh mẽ đáp ứng yêu cầu trao đổi thông tin của toàn xã hội Đào tạo về công nghệ thông tin và truyền thông ở các trường đại học đạt trình độ

và chất lượng tiên tiến trong khu vực ASEAN

Thứ ba: Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng

Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của CQNN giai đoạn 2016 - 2020, đưa ra một số mục tiêu chủ yếu [22]: Cung cấp đầy đủ thông tin trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của tất cả các CQNN theo quy định tại Nghị định

số 43/2011/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2011 của Chính phủ về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của CQNN (30% hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý

Trang 26

trực tuyến tại mức độ 4; 95% hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp được nộp qua mạng…); đẩy mạnh việc triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ cơ quan nhà nước (100% văn bản không mật trình Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ dưới dạng điện tử; 80% văn bản trao đổi giữa các CQNN dưới dạng điện tử…); xây dựng và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, xây dựng và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật các cấp, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử đồng bộ, kết nối, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin

Bên cạnh đó, còn nhiều văn bản khác (bao gồm cả văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo điều hành) cũng đã được ban hành, góp phần thúc đẩy ứng dụng CNTT, cụ thể như:

- Luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nước; trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại và các lĩnh vực khác do pháp luật quy định Cùng với Luật công nghệ thông tin, Luật giao dịch điện tử đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho các ứng dụng CNTT, giao dịch điện tử trong hoạt động của CQNN cũng như các giao dịch của người dân, doanh nghiệp trên môi trường mạng;

- Luật Viễn thông số 41/2009/QH12 ngày 23/11/2009 của Quốc hội quy định về hoạt động viễn thông, bao gồm đầu tư, kinh doanh viễn thông; viễn thông công ích; quản lý viễn thông; xây dựng công trình viễn thông; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động viễn thông;

- Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của CQNN và các điều kiện bảo đảm hoạt động cho cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước;

Trang 27

- Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số, trong đó, quy định rõ ràng, cụ thể về chữ ký số và chứng thư số; việc quản lý, cung cấp và sử dụng chữ ký số, chứng thư số và dịch vụ chứng thực chữ ký số nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc cung cấp,

sử dụng chữ ký số của CQNN các cấp cũng như người dân, doanh nghiệp;

- Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15/4/2015 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01 tháng 7 năm 2014 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế

- Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển CPĐT giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025 Đây là văn bản rất quan trọng của Chính phủ, ban hành những chính sách trọng tâm về phát triển CPĐT hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số nhằm tiếp tục hiện thực hóa quyết tâm xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động, phục vụ người dân, doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

- Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020;

- Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg ngày 12/07/2018 của Thủ tướng Chính phủ Về việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước;

- Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 07/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ về về việc tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh mạng nhằm cải thiện chỉ số xếp hạng của Việt Nam

Trang 28

Có thể nói, hệ thống chính sách, văn bản pháp luật về CNTT nói chung

và những văn bản điều chỉnh hoạt động ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT nói riêng được ban hành tương đối đầy đủ, tạo nên khung pháp lý cơ bản cho việc ứng dụng CNTT

1.4 Những nhân tố tác động đến chính sách ứng dụng công nghệ thông tin

* Chủ trương chính sách

Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước là nhân tố quyết định và đóng vai trò quan trọng nhất trong các nhân tố tác động tới quá trình ứng dụng CNTT, bao gồm hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, chỉ đạo điều hành của các CQNN từ trung ương tới địa phương Chủ trương, chính sách được thể hiện từ định hướng chiến lược cho đến các khía cạnh cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể như: Chính sách đảm bảo tính pháp lý cho các văn bản, các thủ tục khi triển khai ứng dụng CNTT (tính pháp lý của văn bản điện tử, chữ ký số, chính sách công nhận các giao dịch qua mạng, thanh toán điện tử, v.v ); chính sách thu hút và khuyến khích các hoạt động CNTT (tăng cường ứng dụng CNTT trong giải quyết thủ tục hành chính, đẩy mạnh gia công, xuất khẩu phần mềm…) Chủ trương, chính sách ứng dụng CNTT cần có sự nhất quán và định hướng rõ ràng, lâu dài, kịp thời cập nhật những biến động nhanh chóng của khoa học, công nghệ Vấn đề này rất quan trọng đối với CQNN vì khi CQNN có sự thay đổi lãnh đạo, người đứng đầu thường dẫn đến việc thay đổi chính sách

* Hạ tầng nhân lực

Bên cạnh chủ trương, chính sách thì hạ tầng nhân lực cũng là yếu tố then chốt của việc triển khai ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT Nhân lực trong hoạt động ứng dụng CNTT bao gồm đội ngũ lãnh đạo, công chức, viên chức các CQNN và các nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học, chuyên gia

Trang 29

CNTT, đội ngũ nhân viên, kỹ thuật viên Trong đó, khả năng nhận thức, khả năng hoạch định chiến lược và đưa ra những quyết sách đúng đắn của nhà lãnh đạo, quản lý là sự hỗ trợ tốt nhất cho công tác ứng dụng CNTT của một

cơ quan, tổ chức CNTT là một lĩnh vực đòi hỏi sự cập nhật liên tục các thông tin, các xu hướng công nghệ mới, do vậy vấn đề tuổi tác, khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ của cán bộ, nhân viên là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tổ chức thực thi các chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT Thêm vào đó, sự tham gia của đội ngũ chuyên gia trong việc triển khai và phát triển các ứng dụng CNTT là hết sức cần thiết Với vốn kiến thức, kinh nghiệm tích lũy trong nhiều năm nghiên cứu, công tác trong lĩnh vực CNTT, các chuyên gia sẽ có nhiều đóng góp cho quá trình triển khai, tổ chức thực thi chính sách ứng dụng CNTT, xây dựng CPĐT

Để xây dựng nền tảng tri thức và nhân lực CNTT đòi hỏi mỗi cơ quan,

tổ chức cần phải có chiến lược đúng đắn để tích lũy, nâng cao tri thức và có

kế hoạch sử dụng, củng cố nguồn nhân lực đó Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực CNTT sẽ dẫn đến việc triển khai, tổ chức thực thi các chính sách ứng dụng CNTT có hiệu quả

* Hạ tầng kỹ thuật

Do yếu tố đặc trưng của ngành CNTT nên các phần mềm, ứng dụng CNTT cần phải có hạ tầng trang thiết bị, cơ sở vật chất (máy vi tính, đường truyền mạng, máy chủ…) để cài đặt, vận hành Hạ tầng kỹ thuật tác động, chi phối các yếu tố liên quan đến quá trình tổ chức, triển khai các ứng dụng CNTT Một hệ thống thông tin tốt, hoạt động hiệu quả phục vụ hoạt động của CQNN cần phải bảo đảm sự đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và các phần mềm ứng dụng Hạ tầng kỹ thuật yếu kém, lạc hậu (trang thiết bị cũ, cấu hình thấp…) thì việc ứng dụng CNTT cũng sẽ không đạt được kết quả như mong muốn của CQNN triển khai ứng dụng CNTT

Trang 30

Tương tự như các ngành, nghề khác, việc triển khai ứng dụng CNTT có quan hệ mật thiết với nguồn kinh phí mà CQNN phải bảo đảm, cân đối để đầu

tư các ứng dụng CNTT Các Bộ, cơ quan, địa phương quan tâm, bố trí đầy đủ nguồn kinh phí cho CNTT sẽ triển khai được nhiều ứng dụng CNTT hơn Trong khi đó, các Bộ, cơ quan, địa phương khác do điều kiện về nguồn vốn không đáp ứng thì việc triển khai các ứng dụng CNTT sẽ rất chậm, trì trệ Các loại chi phí chính mà CQNN phải bảo đảm, cân đối cho hoạt động ứng dụng CNTT bao gồm: Chi phí đầu tư (thuê hoặc mua sắm) trang thiết bị và các phần mềm ứng dụng; chi phí đào tạo, tập huấn cho người sử dụng; chi phí cập nhật dữ liệu vào các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin; chi phí truyền thông; chi phí vận hành, duy trì hạ tầng kỹ thuật, các phần mềm ứng dụng, , v.v Do đặc điểm của hoạt động ứng dụng CNTT là liên tục (các hệ thống CNTT phải bảo đảm khả năng hoạt động liên tục, không ngừng nghỉ) vì vậy việc duy trì nguồn kinh phí, tiến độ đầu tư cho CNTT cũng như đảm bảo và cân đối kinh phí cho phù hợp với quy mô và mục tiêu ứng dụng CNTT là rất quan trọng

Quy mô đầu tư cho các hoạt động CNTT ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của việc ứng dụng CNTT Đây là yếu tố quyết định về tiến độ, sự đồng

bộ, hiệu quả trong quá trình triển khai của các dự án đầu tư ứng dụng CNTT

* Cơ cấu tổ chức

Ngoài các yếu tố nêu trên, cơ cấu tổ chức cũng là một yếu tố tác động khá nhiều đối với quá trình ứng dụng CNTT Tính hiệu quả của cơ cấu tổ chức quyết định đến sự phát triển và kết quả triển khai ứng dụng CNTT Về bản chất, việc triển khai các ứng dụng CNTT phục vụ hoạt động của các CQNN phải đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về quy trình, nghiệp vụ, cơ cấu tổ chức của cơ quan đó Do vậy, trong quá trình tổ chức thực thi các chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT, sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa các thành phần của cơ quan, tổ chức là yếu tố góp phần đơn giản hóa quy

Trang 31

trình ứng dụng CNTT vào hoạt động của mình Những cơ quan, tổ chức có bộ máy tinh giản, gọn nhẹ thì việc triển khai ứng dụng CNTT sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn những cơ quan tổ chức có bộ máy cồng kềnh, phức tạp, đa ngành, đa lĩnh vực Việc CQNN xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của đơn vị trực thuộc, bảo đảm tính thống nhất trong quản lý, điều hành từ trên xuống dưới sẽ tạo ra cách tiếp cận mang tính tổng quát và các quy trình phối hợp chặt chẽ, rõ ràng, gắn trách nhiệm cụ thể cho từng đối tượng (lãnh đạo, công chức, viên chức, người lao động tại các bộ phận khác nhau) giúp cho việc triển khai các hệ thống CNTT mà tổ chức xây dựng trở nên đơn giản, dễ triển khai áp dụng

* Mức độ, khả năng sẵn sàng ứng dụng CNTT của người dân, doanh nghiệp

Những yếu tố như đã nêu trên đều rất quan trọng nhưng vẫn chưa đầy

đủ nếu không đề cập tới yếu tố người sử dụng Cho dù CQNN có xây dựng, cung cấp nhiều ứng dụng CNTT (điển hình là các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4) nhưng người sử dụng là người dân, doanh nghiệp không quan tâm hoặc chưa sẵn sàng hoặc ít sử dụng, khai thác thì việc triển khai của cơ quan đó được đánh giá là không hiệu quả, thậm chí còn gây lãng phí, tốn kém cho ngân sách nhà nước Để việc triển khai có hiệu quả, các ứng dụng CNTT

do CQNN cung cấp phải thực sự thiết yếu đối với người dân, doanh nghiệp; giao diện, chức năng của phần mềm phải bảo đảm tính thân thiện, dễ sử dụng… và phải tính đến khả năng, mức độ sẵn sàng tiếp cận, khai thác, sử dụng ứng dụng CNTT của người dân, doanh nghiệp Như vậy, việc triển khai các chính sách ứng dụng CNTT mới có thể đem lại những hiệu quả như mong đợi

Trang 32

Tiểu kết chương

Có thể thấy vai trò ngày càng quan trọng của CNTT trong cuộc sống hàng ngày của mỗi con người CNTT làm thay đổi thói quen học tập, làm việc, giải trí hay các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong bối cảnh Việt Nam tăng cường hội nhập quốc tế như hiện nay, CQNN các cấp cũng không thể nằm ngoài xu hướng ảnh hưởng của CNTT Thông qua việc tổ chức triển khai các ứng dụng CNTT, CQNN cung cấp cho người dân, doanh nghiệp nhiều dịch vụ hơn (bao gồm các dịch vụ công trực tuyến để tạo thuận lợi cho quá trình thực hiện thủ tục hành chính giữa người dân, doanh nghiệp và CQNN), thu hẹp khoảng cách giữa công dân và chính quyền, từng bước nâng cao tính minh bạch, bình đẳng Việc ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT trong các CQNN do đó đã nhận được sự quan tâm đặt biệt của các cấp, các ngành, sự đồng thuận, hưởng ứng của người dân và doanh nghiệp

Chương 1 nêu khái quát những vấn đề cơ bản mang tính lý luận về chính sách ứng dụng CNTT nói chung, trong đó có ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT, xác định rõ chủ thể, thể chế chính sách ứng dụng CNTT, nhận diện được những nhân tố tác động đến chính sách ứng dụng CNTT trong các CQNN ở Việt Nam hiện nay

Những nghiên cứu, lý luận về chính sách ứng dụng CNTT được trình bày trong Chương này sẽ là cơ sở, nền tảng và điều kiện quan trọng để nghiên cứu, phân tích về thực trạng thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT từ thực tiễn của các CQNN tại Việt Nam ở chương sau

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TRONG CÁC CƠ QUAN

NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM

2.1 Sự hình thành, phát triển của công nghệ thông tin tại Việt Nam

Ứng dụng CNTT được triển khai tương đối sớm tại nước ta Tuy nhiên, cho đến năm 1993, với việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 49/CP ngày 04/8/1993 về phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 90, ngành CNTT mới có những định hướng phát triển rộng rãi trên quy mô toàn quốc Nghị

quyết đã xác định rõ những mục tiêu chính cho việc ứng dụng CNTT là: “Xây

dựng hệ thống các máy tính và phương tiện truyền thông được liên kết với nhau trong các mạng với những công cụ phần mềm đủ mạnh và các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu có khả năng phục vụ các hoạt động quản lý nhà nước và các hoạt động huyết mạch của nền kinh tế Một số hệ thống thông tin trong nước được ghép nối với các mạng thông tin quốc tế; phát triển rộng rãi việc ứng dụng CNTT góp phần tăng năng suất, chất lượng hiệu quả sản xuất, kinh doanh, …” Sau khi ban hành Nghị quyết 49/CP, Thủ tướng Chính phủ

đã phê duyệt Chương trình quốc gia về CNTT - Kế hoạch tổng thể đến năm

2000 (Quyết định số 211/TTg ngày 07 tháng 4 năm 1995) để xác định những nhiệm vụ cụ thể mà các bộ, ngành, địa phương phải thực hiện trong giai đoạn 1995-2000

Tại các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt là vào những năm cuối của thế kỷ XX, ngành CNTT đã những có bước phát triển nhảy vọt làm thay đổi

về cơ bản cách thức mà con người làm việc, học tập và sinh hoạt Để kịp thời nắm bắt xu hướng CNTT thế giới trong giai đoạn phát triển mới, ngày 17/10/2000, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 58-CT/TW về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 34

Trong đó, những mục tiêu chính được xác định là:“CNTT được ứng dụng

rộng rãi trong mọi lĩnh vực, trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng; phát triển mạng thông tin quốc gia phủ trên cả nước, với thông lượng lớn, tốc độ

và chất lượng cao, giá rẻ; tỷ lệ người sử dụng Internet đạt mức trung bình thế giới; công nghiệp công nghệ thông tin trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ phát triển hàng năm cao nhất so với các khu vực khác; có tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP của cả nước ngày càng tăng” Chỉ thị của Bộ

Chính trị sau đó được Chính phủ cụ thể hóa tại 03 văn bản quan trọng: Chương trình hành động triển khai Chỉ thị số 58-CT/TW, Đề án “Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005” và Kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển CNTT ở Việt Nam đến 2005 Với sự vào cuộc chỉ đạo sát sao, đồng bộ từ Bộ Chính trị cũng như từ Chính phủ, đảng bộ, chính quyền các cấp từ trung ương tới địa phương đã triển khai mạnh mẽ các ứng dụng CNTT, trong đó tập trung vào các ứng dụng phục vụ hoạt động của CQNN; các phầm mềm, cơ sở dữ liệu dùng chung được xây dựng, triển khai; mạng thông tin (diện rộng) của Chính phủ được đầu tư xây dựng, phát triển; cán bộ, công chức được đào tạo kỹ năng cơ bản để khai thác, sử dụng CNTT Mặc dù giai đoạn này chính sách ứng dụng CNTT được xây dựng với mục tiêu, tầm nhìn chiến lược, thậm chí rất nhiều chính sách vẫn còn tiếp tục được tổ chức thực thi tới ngày hôm nay (xây dựng các cơ sở dữ liệu dùng chung, cơ sở dữ liệu nền tảng quốc gia như dân cư, đất đai…), việc tổ chức thực thi chính sách lại không hợp lý, tồn tại nhiều hạn chế bất cập, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho các CQNN (điển hình là sự thất bại của Đề án Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2000 hay còn gọi là Đề án 112)

Giai đoạn 2010 - 2015, cùng với việc Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh cải cách hành chính, CNTT đã trở thành công cụ hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động cải cách hành chính Nhiều Bộ, ngành bắt đầu xây

Trang 35

dựng, đưa vào vận hành các cơ sở dữ liệu quốc gia (như Văn bản pháp luật, Thủ tục hành chính, Đăng ký giao dịch bảo đảm, Hộ tịch…) và các Trang/Cổng thông tin điện tử để đăng tải, cung cấp cho người dân, doanh nghiệp thông tin về hoạt động của các CQNN, các văn bản, quy định, cơ chế, chính sách mới ban hành…Thêm vào đó, nhiều ứng dụng CNTT phục vụ giải quyết các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí hoạt động; tăng tính minh bạch trong hoạt động của CQNN, tạo thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp cũng được đưa vào sử dụng (phần mềm một cửa điện tử được đưa vào vận hành tại Bộ phận tiếp nhận và Trả kết quả hiện đại cấp tỉnh, huyện theo Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; hệ thống thông tin hỗ trợ Đăng ký giao dịch bảo đảm do Bộ Tư pháp triển khai…) Khi đánh giá tổng quan về tình hình ứng dụng CNTT thời kỳ này, Nghị quyết số 36a/NQ-CP nhận xét: CNTT đã góp phần không nhỏ vào công tác quản lý nhà nước của các bộ, ngành, địa phương, nhất là trong xử lý

hồ sơ hành chính, quản lý ngân sách, thuế, kho bạc, hải quan, bảo hiểm xã hội, thành lập doanh nghiệp Ngay trong năm 2015, tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện kê khai thuế điện tử đã tăng từ 65% lên 98%; thời gian nộp thuế của doanh nghiệp giảm từ 537 giờ/năm xuống còn 167 giờ/năm Việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử theo Hệ thống thông quan tự động (VNACCS/VCIS) và Cơ chế một cửa quốc gia tại cảng biển quốc tế đã giảm thời gian thông quan hàng hóa bình quân từ 21 ngày xuống còn 14 ngày đối với xuất khẩu, 13 ngày đối với nhập khẩu, giảm được 10 - 20% chi phí và 30% thời gian thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu cho doanh nghiệp Việc đẩy mạnh phát triển và ứng dụng CNTT trên tất cả các lĩnh vực đã góp phần tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và quản trị doanh nghiệp [6]

Trang 36

Mặc dù việc ứng dụng CNTT tại Việt Nam nói chung và ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN được Đảng, Nhà nước và Chính phủ quan tâm, đầu tư từ sớm, tuy nhiên, đến năm 2015, tại Nghị quyết số 36a/NQ-

CP ngày 14 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về CPĐT, Chính phủ mới có những chỉ đạo cụ thể, giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh triển khai ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT Với sự quyết tâm của các cấp các, ngành, trong giai đoạn từ 2015 – 2017, việc ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT đã đạt được một số kết quả nổi bật như: vị trí của Việt Nam về CPĐT theo xếp hạng của Liên hợp quốc được nâng cao (năm 2016, Việt Nam xếp thứ 89/193 quốc gia được thực hiện đánh giá, tăng 10 bậc so với năm 2014) [25]; cơ chế, chính sách cho triển khai, xây dựng CPĐT được xây dựng, hoàn thiện Nhiều văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và bộ, ngành liên quan ban hành điều chỉnh việc thiết lập, ứng dụng CNTT trong phục vụ nhân dân và trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, quy định về công tác bảo đảm an toàn, an ninh thông tin; về Cổng dịch vụ công quốc gia, hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh và kết nối, liên thông các hệ thống thông tin này; về gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước; về chữ

ký số cho văn bản điện tử; về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng; về quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật như: Luật An toàn thông tin mạng; Luật Tiếp cận thông tin, Luật An ninh mạng và các văn bản hướng dẫn; Thông tư số 10/2016/TT-BTTTT ngày 01/4/ 2016 của Bộ Thông tin và Truyền thông; Thông tư số 39/2017/TT-BTTTT ngày 15/12/2017 của

Bộ Thông tin và Truyền thông; Thông tư số 41/2017/TT-BTTTT ngày 19/12/2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông; Thông tư số 45/2017/TT-BTTTT ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông…

Trang 37

Các văn bản pháp luật này đã góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc triển khai, xây dựng CPĐT

Tiếp tục phát huy những thành tựu đạt được trong giai đoạn 2015-2017, ngày 17/3/2019, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 17/NQ-CP về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển CPĐTgiai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025 với mục tiêu: Hoàn thiện nền tảng CPĐT nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp; phát triển CPĐT dựa trên dữ liệu và dữ liệu

mở hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số; bảo đảm an toàn thông tin và an ninh mạng; nâng xếp hạng CPĐT theo đánh giá của Liên hợp quốc tăng từ 10 đến 15 bậc năm 2020, đưa Việt Nam vào nhóm 4 nước dẫn đầu ASEAN trong xếp hạng CPĐT theo đánh giá của Liên hợp quốc đến năm 2025

2.2 Vấn đề chính sách ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng chính phủ điện tử

2.2.1 Thực trạng chính sách

Theo đánh giá tại Nghị quyết số 17/NQ-CP của Chính phủ, trong những năm qua, Đảng, Chính phủ luôn quan tâm, coi trọng phát triển ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng CPĐT trong hoạt động của các CQNN và phục vụ người dân, doanh nghiệp Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương

đã có nhiều cố gắng và đạt được những kết quả bước đầu quan trọng làm nền tảng trong triển khai xây dựng CPĐT, như: ban hành theo thẩm quyền, trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy định, hướng dẫn để hoàn thiện hành lang pháp lý, thúc đẩy việc xây dựng CPĐT; xây dựng và đưa vào vận hành một số cơ sở dữ liệu như Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm; đang triển khai xây dựng Cơ sở

dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia; đã cung cấp một số

Trang 38

dịch vụ công trực tuyến thiết yếu cho doanh nghiệp và người dân như: đăng

ký doanh nghiệp, kê khai thuế, nộp thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội…; một số

bộ, ngành đã xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng; tại một số địa phương, hệ thống thông tin một cửa điện tử được đưa vào vận hành, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của đội ngũ công chức; chất lượng nhân lực về công nghệ thông tin của Việt Nam cũng được nâng cao Theo Báo cáo đánh giá về CPĐT của Liên hợp quốc, năm 2016, Chỉ số phát triển CPĐT (EGDI) của Việt Nam xếp hạng thứ 89/193 quốc gia, tăng 10 bậc, trong đó chỉ số thành phần về dịch vụ công trực tuyến (OSI) tăng 8 bậc, lên thứ hạng 74/193 quốc gia (so với năm 2014); đến năm 2018, Chỉ số phát triển CPĐT của Việt Nam xếp hạng thứ 88/193 quốc gia, tăng 01 bậc, trong đó chỉ số thành phần

về dịch vụ công trực tuyến tăng 15 bậc, lên thứ hạng 59/193 quốc gia, riêng chỉ số hạ tầng viễn thông (TII) giảm 10 bậc, xuống thứ hạng thứ 100/193 quốc gia (so với năm 2016)

Bên cạnh đó, nhiều nội dung triển khai CPĐT chưa được như mong đợi, như: còn rào cản trong cơ chế đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin; việc triển khai ở một số nơi còn mang tính hình thức; việc xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, hạ tầng công nghệ thông tin nền tảng phục vụ phát triển CPĐT còn chậm; chưa có kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin; nhiều

hệ thống thông tin chưa bảo đảm an toàn, an ninh thông tin; việc giải quyết thủ tục hành chính và xử lý hồ sơ công việc còn mang nặng tính thủ công, giấy tờ; tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến còn rất thấp; chỉ số tuân thủ thủ tục hành chính (APCI) ở một số thủ tục hành chính như đất đai, đầu tư, môi trường và xây dựng còn thấp

Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề trên là do nhiều ngành, nhiều cấp chưa xác định rõ lộ trình và các nhiệm vụ cụ thể trong triển khai; còn thiếu gắn kết, đồng bộ giữa ứng dụng công nghệ thông tin với cải cách hành chính

Trang 39

và đổi mới lề lối, phương thức làm việc, nhất là trong quan hệ với người dân, doanh nghiệp; chưa phát huy vai trò của người đứng đầu trong chỉ đạo thực hiện; chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của một số nhóm thủ tục hành chính còn cao gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp; nền tảng tích hợp, chia sẻ

dữ liệu giữa các hệ thống thông tin của cơ quan hành chính nhà nước chậm được triển khai; tình trạng cát cứ thông tin, dữ liệu còn phổ biến dẫn đến nhiều số liệu trùng lặp, không thống nhất; việc bảo đảm an toàn, an ninh cho các hệ thống thông tin của các CQNN còn chưa được quan tâm đúng mức; còn thiếu khung pháp lý đồng bộ về xây dựng CPĐT; thiếu cơ chế tài chính

và đầu tư phù hợp với đặc thù dự án công nghệ thông tin; thiếu quy định cụ thể về định danh cá nhân, tổ chức trong các giao dịch điện tử; thiếu các quy định pháp lý về văn thư, lưu trữ điện tử; cơ chế bảo đảm thực thi nhiệm vụ xây dựng CPĐT chưa đủ mạnh; chưa huy động tối đa nguồn lực xã hội trong xây dựng và phát triển CPĐT

2.2.2 Mục tiêu chính sách

Từ những thực trạng kể trên, Nghị quyết số 17/NQ-CP của Chính phủ

đã xác định rõ quan điểm: Xây dựng, phát triển CPĐT, hướng tới Chính phủ

số, nền kinh tế số và xã hội số trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới thống nhất trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo sau:

- Kế thừa, phát triển các chương trình ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng CPĐT theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phù hợp với bối cảnh hiện nay và xu hướng phát triển của thế giới

- Phát huy vai trò, trách nhiệm của từng thành viên Chính phủ, người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, thành viên Ủy ban Quốc gia về CPĐT, tập trung chỉ đạo xây dựng và phát triển thành công CPĐT Việt Nam

Ủy ban Quốc gia về CPĐT không làm thay nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,

Ngày đăng: 04/01/2020, 11:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w