1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài khoa học: Nghiên cứu hoàn thiện thống kê dịch vụ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

21 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 171,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung chính của đề tài trình bày khái niệm, nội dung các hoạt động nông, lâm nghiệp và thuỷ sản; nêu ra những thực trạng và các đề xuất hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu và phương pháp thu thập số liệu dịch vụ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.

Trang 1

Nghiên cứu hoàn thiện thống kê dịch vụ nông, lâm

nghiệp và thuỷ sản

1 Cấp đề tài : Tổng cục

2 Thời gian nghiên cứu : 2003

3 Đơn vị chủ trì : Vụ Thống kê Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản

4 Đơn vị quản lý : Tổng cục Thống kê

5 Chủ nhiệm đề tài : CN Phạm Quang Vinh

6 Những người phối hợp nghiên cứu:

Trang 2

I Khái niệm, nội dung các hoạt động dịch vụ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

1 Qui định chung về nội dung, phạm vi các hoạt động dịch vụ nông, lâm nghiệp và thủy sản ở Việt Nam

Dịch vụ nói chung là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất

định của số đông, có tổ chức và được trả công Qua nghiên cứu các tài liệu quốc

tế (ISIC, hướng dẫn của FAO và thực tế thống kê ở một số nước) cho thấy quá trình phát triển của các ngành dịch vụ trong nền kinh tế thị trường nói chung và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nói riêng được hình thành và ngày càng phát triển mạnh khi tổ chức phân công lao động xã hội chuyên môn hoá ngày càng cao, sản xuất hàng hoá kể cả hàng hoá sức lao động có giá trị và giá trị sử dụng, quan hệ thuê mướn tư bản trở thành phổ biến thì dịch vụ xã hội trở thành một trong những yếu tố gắn liền và hỗ trợ cho các ngành sản xuất phát triển Như vậy dịch vụ của bất kỳ một ngành sản xuất nào cũng được hiểu là bất

kể một khâu nào gắn bó với quá trình sản xuất, trước kia do chủ cơ sở tự làm nhưng nay thuê một cơ sở bên ngoài làm và được thanh toán

Đối với hoạt động dịch vụ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, Quyết định 143/TCTK/PPCĐ ngày 22 – 12 – 1993 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê (về việc ban hành hệ thống ngành kinh tế cấp II, cấp III và cấp IV) đã quy định các hoạt động dịch vụ có liên quan là một bộ phận cấu thành của sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Các vấn đề khái niệm, nội dung, phạm vi của hoạt động dịch vụ cũng đã được đề cập đối với từng ngành nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), lâm nghiệp và thủy sản Nội dung, phạm vi hoạt động dịch vụ của từng ngành được qui định cụ thể trong Quyết định của Tổng cục như sau:

1.1 Dịch vụ nông nghiệp gồm các hoạt động được chuyên môn hoá trên cơ sở thuê mướn hoặc hợp đồng phần lớn được thực hiện ở trang trại, bao gồm các hoạt động:

+ Cho thuê máy nông nghiệp, có cả người điều khiển

+ Kích thích tăng trưởng, chống sâu bệnh cho mùa màng

+ Tiêu thụ sản phẩm và các hoạt động có liên quan như làm sạch, phân loại, sơ chế, phơi sấy, cân đong, đóng kiện

Trang 3

+ Ra hạt bông, lúa, bóc vỏ hạt

+ Hoạt động thầu khoán công việc nông nghiệp

+ Hoạt động thủy lợi

+ Hoạt động bảo vệ thực vật, động vật

+ Thụ tinh nhân tạo, kiểm dịch, chăn dắt, thiến hoạn, rửa chuồng,

+ Phân loại và lau sạch trứng gia cầm và các hoạt động có liên quan

+ Các hoạt động của các nhà điều hành một số trang trại đặc biệt

+ Các hoạt động dịch vụ khuyến khích săn bắt và đánh bẫy thú để bán Như vậy, dịch vụ trồng trọt bao gồm gần như toàn bộ các khâu công việc gắn chặt với quá trình sản xuất trồng trọt từ lúc làm đất đến khi thu hoạch sản phẩm (như: làm đất, làm giống, tưới tiêu nước, bảo vệ thực vật, thu hoạch, phơi sấy,…) nếu không do các thành viên trong trang trại, trong gia đình làm mà thuê bên ngoài làm đều tính vào dịch vụ trồng trọt

1.2 Các hoạt động dịch vụ lâm nghiệp gồm:

+ Bảo vệ rừng, đánh giá ước lượng cây trồng, sản lượng cây trồng, phòng cháy và quản lý lâm nghiệp bao gồm nuôi trồng và tái sinh rừng

+ Vận chuyển gỗ trong rừng đến bãi II, kết hợp khai thác gỗ và sơ chế gỗ trong rừng

1.3 Hoạt động dịch vụ thủy sản gồm: Các hoạt động dịch vụ có liên quan

đến đánh bắt thủy sản, hải sản, nuôi trồng và chế biến thủy, hải sản, ươm giồng thủy sản

2 Qui định của Tổ chức nông nghiệp và lương thực của Liên hợp Quốc (FAO)

FAO đưa ra danh mục các hoạt động sản xuất nông nghiệp và qui định khá chi tiết về nội dung, phạm vi các hoạt động dịch vụ Các hoạt động dịch vụ dựa trên cơ sở hợp đồng hoặc trả thù lao trong lĩnh vực nông nghiệp được chia ra 5 nhóm sau:

Trang 4

2.1 Dịch vụ cho sản xuất trồng trọt bao gồm:

- Các hoạt động phát hoang và chuẩn bị mặt bằng (loại trừ hoạt động xây dựng cơ bản): đốn cây, san ủi, đào gốc, thu dọn đá, sỏi, thoát nước,

- Làm đất, bốc xếp phân bón (bao gồm cả vận chuyển), cày bừa, đào hố, rắc phân, vạch ranh giới, đắp luống, vận hành hệ thống tưới tiêu; gieo hạt (sạ hoặc gieo thành hàng, luống), …

- Cuốc xới, vun luống, tỉa thưa, nhổ cỏ, trụ chống cho cây, …

- Phòng trừ sâu bệnh, xử lý phấn hoa, phun thuốc, rắc bụi phấn, diệt các tổ sâu bướm; diệt trừ các vật hại như chuột, châu chấu, …

- Thu hoạch sản phẩm, bao gồm cả thu gom, chất đống, ngắt bông; tuốt,

đập, quạt sạch, bóc vỏ; tỉa hạt bông,…

- Vận chuyển, bảo quản nội đồng

- Phơi, sấy khô các loại sản phẩm, giầm đay, đập lanh các loại cây đay, cói; ép, nén một số sản phẩm, …

- Các công việc phục vụ cho việc chuẩn bị tiêu thụ sản phẩm

- Các dịch vụ cho các nghề làm vườn đặc biệt như chống, làm trụ, che cho cây, hoa, cây cảnh; tỉa xén, tạo dáng các loại cây cảnh, …

2.2 Dịch vụ cho sản xuất và sản phẩm chăn nuôi bao gồm:

- Gây giống, thụ tinh nhân tạo, lai giống, phối giống, sản xuất trứng kén, lót ván chuồng trại, và các dịch vụ duy trì nòi giống,

- Các hoạt động về chăm sóc và nuôi dưỡng các loại súc vật nhỏ, cưa sừng, thiến, rải ổ, lò ấp trứng, nuôi kén tằm,

- Các hoạt động cho ăn, uống bao gồm cả chuẩn bị thức ăn như xay, băm nhỏ, nghiền các loại ngũ cốc, pha trộn, nấu thức ăn,

- Quản lý, chăm sóc, vệ sinh chuồng trại: quét dọn chuồng trại, bãi quây súc vật, duy trì nhiệt độ ở các lò ấp trứng, quản lý trại nuôi,

- Chăm sóc sức khoẻ vật nuôi, hoạt động của các trung tâm chăm sóc vật nuôi, vệ sinh, kiểm soát dịch bệnh, tiêm chủng, kiểm tra giun sán,

Trang 5

- Huấn luyện súc vật cho mục đích nông nghiệp như hãm ngựa, huấn luyện nhóm súc vật kéo, huấn luyện chó, voi,

- Thu hoạch sản phẩm chăn nuôi: vắt sữa, xén lông cừu,

- Các công việc phục vụ cho tiêu thụ sản phẩm, kiểm tra vật nuôi và các sản phẩm chăn nuôi, phân loại, các dịch vụ đóng gói, đóng hàng

2.3 Duy trì và bảo tồn nguồn lợi tự nhiên

- Các hoạt động duy trì chất đất, đắp cao nền, xây dựng hàng rào, đập ngăn nước, chăm sóc và phục hồi những diện tích cằn cỗi,

- Duy trì, bảo dưỡng và vận hành hệ thống thủy lợi (tưới, tiêu) các cấp phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, duy trì các kênh tạo nguồn nước, …

- Duy trì các vành đai chống gió, các loại cây phòng hộ cho sản xuất nông nghiệp, các tường rào và sửa sang, tạo dáng các phong cảnh,…

2.4 Cho thuê máy móc, phương tiện (kèm người điều khiển) để duy trì và cải thiện đất như cho thuê máy ủi đất, máy xúc, các phương tiện nạo vét, máy kéo, máy liên hợp, các loại máy móc dùng để thu hoạch nông sản

2.5 Các loại hoạt động dịch vụ khác trên cơ sở trả thù lao hoặc hợp đồng

Như vậy, theo hướng dẫn của FAO thì các hoạt động dịch vụ nông nghiệp là các hoạt động phát sinh trên cơ sở có trả thù lao hoặc hợp đồng Các hoạt động này không hạn chế ở những loại công việc nhất định mà có thể nảy sinh ở mọi khâu công việc Nội dung, phạm vi hoạt động dịch vụ nông nghiệp trong hướng dẫn của FAO được đề cập toàn diện và cụ thể hơn so với qui định hiện nay ở Việt Nam

Qua những qui định của Việt Nam và FAO, chúng ta có thể rút ra khái niệm để sử dụng thống nhất như sau: Hoạt động dịch vụ nông, lâm nghiệp và thủy sản là hoạt động kinh tế đồng thời đáp ứng được hai điều kiện:

Thứ nhất, Đó phải là hoạt động kinh tế thuộc ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản;

Thứ hai, được thực hiện trên cơ sở trả thù lao hoặc hợp đồng

Khái niệm này sẽ đảm bảo không trùng lắp giữa hoạt động dịch vụ nông, lâm nghiệp và thủy sản với hoạt động thuộc các ngành khác (công nghiệp,

Trang 6

thương mại,…) đồng thời cũng giới hạn rõ về phạm vi của các hoạt động dịch vụ này Về bản chất đây là các hoạt động nông, lâm nghiệp và thủy sản mà các đơn

vị, cá nhân không tự làm phải thuê hoặc hợp đồng để các cá nhân, đơn vị khác làm Đó có thể là các cá nhân, đơn vị chuyên hoặc kiêm hoạt động dịch vụ

II Thực trạng thống kê dịch vụ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ở Việt Nam

1 Hệ thống chỉ tiêu dịch vụ nông, lâm nghiệp và thủy sản

1.1 Hệ thống chỉ tiêu dịch vụ nông nghiệp hiện nay bao gồm:

- Giá trị các hoạt động dịch vụ nông nghiệp: Giá trị dịch vụ nông nghiệp

được thu thập và tính toán cho từng loại hình kinh tế theo giá cố định (1994) và giá thực tế của các khâu công việc: Làm đất; Tưới, tiêu nước; Phòng trừ sâu bệnh; Giống cây trồng, gia súc; Ra hạt, sơ chế sản phẩm; Vận chuyển vật tư sản phẩm; Dịch vụ khác

- Số lượng hộ, lao động nông nghiệp chuyên làm thuê năm 2001;

- Diện tích đất trồng cây hàng năm được tưới tiêu từng vụ và cả năm;

- Số hợp tác xã nông nghiệp chia theo số khâu thực hiện dịch vụ;

- Số HTX nông nghiệp chia theo nội dung dịch vụ;

- Số xã viên, lao động, vốn, máy móc thiết bị chủ yếu, các khâu hoạt động dịch vụ và kết quả sản xuất kinh doanh (tổng thu, lỗ, lãi) năm 2000 của các HTX nông nghiệp mới thành lập và đã chuyển đổi

- Số lao động thuê ngoài thường xuyên và thời vụ năm 2000 của trang trại trồng trọt và chăn nuôi

- Số lượng, công suất và năng lực thiết kế của các công trình thủy lợi;

- Kết quả hoạt động dịch vụ thủy nông của các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2000 (diện tích tưới và tiêu nước từng vụ)

1.2 Hệ thống chỉ tiêu dịch vụ Lâm nghiệp:

Trước năm 1996, các chỉ tiêu về dịch vụ lâm nghiệp chưa được đề cập trong chế độ báo cáo và điều tra

Trang 7

Từ năm 1996 đến năm 2000: Chế độ báo cáo thống kê nông lâm, thuỷ sản ban hành cho cục thống kê các tỉnh, thành phố theo quyết định số 300 TCTK thì chỉ tiêu dịch vụ lâm nghiệp được chính thức đưa vào chế độ báo cáo Tuy vậy cho đến lúc này khái niệm thế nào là những hoạt động được coi là dịch vụ vẫn chưa rõ ràng, chưa xác định rõ dịch vụ lâm nghiệp gồm những nội dung gì Trong biểu báo cáo về giá trị sản xuất lâm nghiệp, phần các chỉ tiêu dịch vụ như sau (trích trong biểu mẫu báo cáo):

IV – Các hoạt động dịch vụ lâm nghiệp

định cụ thể hơn Phần dịch vụ lâm nghiệp gồm 3 nội dung lớn sau đây:

1- Chi phí quản lý bảo vệ rừng

2- Chi phí điều tra qui hoạch rừng

3- Chi phí quản lý lâm nghiệp

So với các chế độ báo cáo trước, chế độ báo cáo hiện hành đã nêu ra những nội dung chính của dịch vụ lâm nghiệp

1.3 Hệ thống chỉ tiêu dịch vụ Thuỷ sản:

Từ nhiều năm qua trong công tác thống kê thuỷ sản đã tập trung chú trọng nhiều vào việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê điều kiện sản xuất, quá trình sản xuất và kết quả sản xuất nuôi trồng, và khai thác thuỷ sản Tuy nhiên, nhận thức về vai trò, tác dụng của dịch vụ thuỷ sản trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất thuỷ sản cũng như xây dựng hệ thống chỉ tiêu dịch vụ thuỷ sản rất sơ sài, chưa đồng bộ, cân đối Có thể nhận thấy: từ năm 1996 đến nay, trong Chế độ báo cáo và điều tra thống kê nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ban hành theo Quyết định

Trang 8

số: 300 TCTK/NLTS ngày 19/7/1996 và Chế độ báo cáo thống kê cải tiến mới

đây ban hành theo Quyết định số: 657/QĐ-TCTK ngày 2/10/2002 của Tổng cục trưởng TCTK dịch vụ thuỷ sản chỉ sơ sài với chỉ tiêu: “Giá trị dịch vụ thuỷ sản; trong đó sản xuất giống thuỷ sản”, coi đây là một trong 3 nội dung cấu thành chỉ tiêu giá trị sản xuất trong ngành thuỷ sản Thậm chí trong chế độ báo cáo thống

kê định kỳ doanh nghiệp nhà nước ban hành theo quyết định số: 62/2003/BKH ngày 27/1/2003 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Quyết định số: 156/2003/QĐ-TCTK ngày 13/3/2003 của Tổng cục trưởng TCTK chỉ tiêu giá trị dịch vụ thuỷ sản không được xây dựng trong chế độ báo cáo này

2 Phương pháp thu thập số liệu dịch vụ nông, lâm nghiệp và thủy sản:

2.1 Phương pháp thu thập số liệu dịch vụ nông nghiệp:

- Đối với các doanh nghiệp: dựa vào thông tin từ Tổng điều tra nông nghiệp Trong phiếu điều tra doanh nghiệp có một số chỉ tiêu về hoạt động dịch

vụ như diện tích tưới tiêu và cày bừa do doanh nghiệp thực hiện

Những năm không tổ chức Tổng điều tra các cục Thống kê phải dựa vào báo cáo tài chính và các nguồn thông tin khác để tổng hợp và báo cáo các chỉ tiêu giá trị các hoạt động dịch vụ của các doanh nghiệp

- Đối với các HTX:

+ Thu thập thông tin từ Tổng điều tra nông nghiệp: Một loại phiếu điều tra riêng đã được thiết kế để thu thập thông tin chi tiết của các HTX, bao gồm các chỉ tiêu như số xã viên, lao động, nội dung hoạt động dịch vụ, vốn, máy móc thiết bị, kết quả sản xuất kinh doanh (doanh thu, tình hình công nợ, lỗ lãi), trình

độ văn hoá và chuyên môn của một số chức danh chính HTX

+ Điều tra định kỳ: tiến hành 2-3 năm 1 lần với nội dung đơn giản và gọn nhẹ hơn so với Tổng điều tra Cuộc điều tra này tiến hành thu thập thông tin của các HTX nông nghiệp chuyển đổi và mới thành lập, bao gồm một số chỉ tiêu cơ bản về hợp tác xã và một số nội dung dịch vụ như thuỷ nông, dịch vụ bảo vệ thực vật, dịch vụ giống, dịch vụ làm đất

+ Đối với những năm không tiến hành Tổng điều tra và điều tra định kỳ thì cơ quan thống kê cấp huyện và tỉnh phải dựa vào kết quả của những năm điều tra và các nguồn thông tin khác từ các cơ quan liên quan để lập báo cáo về Tổng

Trang 9

cục Thống kê Nội dung báo cáo tập trung vào số lượng HTX và các khâu dịch

vụ mà HTX thực hiện

- Đối với khu vực hộ:

+ Cho đến nay chưa có thông tin về hoạt động dịch vụ của khu vực hộ từ các cuộc điều tra thường xuyên Một số địa phương có báo cáo là dựa vào đánh giá chủ quan để ước tính phần giá trị dịch vụ nông nghiệp của các hộ

+ Tổng điều tra nông nghiệp: đã thu thập một số thông tin về hoạt động dịch vụ của hộ, nhưng mới giới hạn ở các chỉ tiêu về số hộ và lao động chuyên làm thuê trong nông nghiệp (thực chất là số hộ và lao động làm dịch vụ nông nghiệp)

2.2 Phương pháp thu thập số liệu dịch vụ lâm nghiệp và thủy sản:

Cho đến nay, ngành Thống kê chưa có một hướng dẫn cụ thể nào về phương pháp thu thập và tính toán chỉ tiêu dịch vụ lâm nghiệp và thủy sản Trên thực tế, không có cuộc điều tra, tổng điều tra và các chế độ báo cáo nào đề cập đến các chỉ tiêu và phương pháp thu thập số liệu dịch vụ lâm nghiệp và thủy sản Do vậy, các

địa phương chủ yếu dựa vào phương pháp chuyên gia để ước tính hoặc tự khai thác thêm thông tin từ các ngành liên quan để tính toán và lập báo cáo

3 Ưu điểm và tồn tại trong hệ thống chỉ tiêu và phương pháp thu thập số liệu dịch vụ nông, lâm nghiệp và thủy sản

3.1 Ưu điểm:

- Đã hình thành được những chỉ tiêu phản ánh kết quả tổng hợp nhất các hoạt động dịch vụ (thông qua các chỉ tiêu giá trị) đồng thời cũng đã tập trung vào một số vấn đề cơ bản về điều kiện thực hiện dịch vụ của các doanh nghiệp (công trình thủy lợi) cũng như số lượng các hợp tác xã thực hiện dịch vụ theo từng khâu công việc chính Đã bổ sung thêm những nội dung cơ bản về hoạt động dịch vụ đối với một số ngành như trồng trọt, lâm nghiệp Do vậy đã bước đầu tính toán và đưa ra những thông tin đánh giá kết quả hoạt động dịch vụ của toàn khu vực cũng như từng ngành

- Về thu thập số liệu, đã kết hợp, bổ sung giữa các nguồn thông tin khác nhau (tổng điều tra, điều tra thường xuyên và các nguồn thông tin khác) Việc tổ

Trang 10

đề cập đến như: dịch vụ làm đất bằng máy thuê ngoài, dịch vụ hạt giống, cây trồng, túi bầu, thuốc trừ sâu, vận chuyển gỗ khai thác đến bãi II (đối với lâm nghiệp); dịch vụ gieo sạ, thu hoạch, vắt sữa,… (đối với nông nghiệp); dịch vụ thăm dò, đánh giá trữ lượng thuỷ sản,… (đối với thủy sản)

(2) Nhiều chỉ tiêu còn chung chung, nhất là đối với dịch vụ thủy sản, chưa tách bóc kết quả của từng tiểu ngành (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, đánh bắt), do vậy chưa đưa ra được kết quả cụ thể của từng ngành và từng khâu công việc của từng ngành là bao nhiêu

(3) Phương pháp thu thập và tính toán phần lớn các chỉ tiêu chưa cụ thể Nhiều lĩnh vực như thủy sản, lâm nghiệp,… mới đưa vào chế độ báo cáo tổng hợp một số chỉ tiêu giá trị nhưng không có hướng dẫn để thu thập hoặc tính toán các chỉ tiêu đó như thế nào Trong chế độ báo cáo cơ sở các chỉ tiêu dịch vụ nông, lâm nghiệp và thủy sản chưa được đề cập đến Chỉ đạo điều tra, tính toán không thống nhất, thiếu chặt chẽ, khoa học nên cho đến nay, giữa Tổng cục với các Cục Thống kê, giữa các tỉnh với nhau vẫn chưa có sự thống nhất cả về nội dung và kỹ thuật tính toán cụ thể Không có thông tin để đánh giá kết quả và vai trò hoạt động dịch vụ của từng loại hình kinh tế (doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại và hộ) Phương pháp sử dụng hiện nay chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của các chuyên gia, tham khảo các tài liệu có liên quan để từ đó ước lượng giá trị từng hoạt động dịch vụ chủ yếu cho cả địa bàn và từng loại hình kinh tế

Từ những tồn tại, hạn chế trên nên độ tin cậy của số liệu dịch vụ nông, lâm nghiệp và thủy sản cả Tổng cục và các Cục Thống kê tỉnh, thành phố, Phòng Thống kê các huyện, thị xã vẫn còn rất thấp và hạn chế về nhiều mặt Kết quả tính toán chưa phản ánh hết kết quả hoạt động dịch vụ trên phạm vi cả nước,

Ngày đăng: 04/01/2020, 11:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w