1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH đối với dân DI cư tự DO TRÊN địa bàn TỈNH đắk lắk

110 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Liên quan đến vấn đề di cư tự do ở nước ta đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều cấp, nhiều ngành và theo những mục đích khác n

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

TS NGUYỄN DUY THỤY

ĐẮK LẮK, 2019

Trang 3

Đặc biệt cho tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất đến TS Nguyễn Duy Thụy đã dành nhiều thời gian tâm huyết và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, cán bộ, công chức Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đắk Lắk và các đồng nghiệp đã giúp

đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Đắk Lắk, tháng 8 năm 2019

Người thực hiện

Lê Thị Ngọc An

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn “Thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do trên địa bàn

tỉnh Đắk Lắk” là công trình nghiên cứu của tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả được

trình bày trong luận văn là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng

lĩnh vực, trên cùng địa bàn

Tác giả luận văn

Lê Thị Ngọc An

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài luận văn 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

3.1 Mục đích nghiên cứu 4

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

5.1 Phương pháp luận 5

5.2 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 5

7 Kết cấu của luận văn 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI DÂN DI CƯ TỰ DO 7

1.1 Một số khái niệm cơ bản 7

1.1.1 Chính sách công 7

1.1.2 Di cư, di cư tự do, dân di cư tự do 8

1.1.3 Thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do 13

1.2 Sự cần thiết phải thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do 15

1.2.1 Góp phần ổn định và phát triển xã hội 15

1.2.2 Góp phần ổn định và phát triển kinh tế 17

1.2.3 Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của dân di cư tự do 18

1.2.4 Góp phần quản lý dân cư thống nhất, đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội 20

1.3 Nội dung thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do 21

Trang 6

1.3.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, dự án bình ổn dân di cư

tự do 21

1.3.2 Xây dựng hệ thống chính sách đối với dân di cư tự do 21

1.3.3 Xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống văn bản thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do 23

1.3.4 Xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy để thực hiện chính sách về hoạt động di dân 24

1.3.5 Xây dựng đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do 25

1.3.6 Huy động các nguồn lực cho việc thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do 25

1.3.7 Tổng kết, giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do 26

1.4 Kinh nghiệm của một số tỉnh về thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do 27

1.4.1 Kinh nghiệm của tỉnh Lâm Đồng 27

1.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Cà Mau 29

1.4.3 Kinh nghiệm của tỉnh Đắk Nông 30

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI DÂN DI CƯ TỰ DO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 33

2.1 Khái quát chung về tỉnh Đắk Lắk 33

2.1.1 Về vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên 33

2.1.2 Về kinh tế 34

2.1.3 Về văn hóa - xã hội và an ninh quốc phòng 35

2.1.4 Khái quát về thực trạng dân số của tỉnh Đắk Lắk 39

2.1.5 Đặc điểm dân di cư tự do của tỉnh Đắk Lắk 40

2.1.6 Thực trạng đời sống, sản xuất của các hộ dân di cư tự do 43

2.2 Tình hình thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 43

2.3.1 Thực trạng xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đối với dân di cư tự do 47

2.2.2 Thực trạng xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống chính sách đối với dân di cư tự do 49

2.2.3 Thực trạng xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do 52

2.2.4 Thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do 52

2.2.5 Thực trạng huy động các nguồn lực từ 2010 đến 2017 thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do 53

2.2.6 Thực trạng thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong công tác thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do 54

2.3 Nhận xét về thực trạng thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 55

2.3.1 Những kết quả đạt được trong thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do 55

Trang 7

2.3.2 Những hạn chế trong thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do 56

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do 58

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DÂN DI CƯ TỰ DO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 60

3.1 Quan điểm và định hướng ổn định đời sống dân di cư tự do trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 60

3.1.1 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về vấn đề dân di cư tự do 60

3.1.2 Quan điểm phương hướng thực hiện của tỉnh Đắk Lắk 63

3.2 Một số giải pháp thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 66

3.2.1 Tuyên truyền, giáo dục nhằm thuyết phục để người dân thay đổi nhận thức về vấn đề di cư tự do 66

3.2.2 Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách đối với di dân 67

3.2.3 Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng tư vấn cho đội ngũ cán bộ quản lý dân di cư tự do 67

3.2.4 Tăng cường và tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm trong thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do 68

3.2.5 Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể: 68

3.3 Một số kiến nghị 69

3.3.1 Đối với Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương 69

3.3.2 Đối với địa phương có dân di cư đi và đến 73

KẾT LUẬN 78

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

PGS.TS Phó Giáo sư Tiến sỹ

WWF Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên

DCTD Di cư tự do

NSTW Ngân sách Trung ương

NSĐP Ngân sách địa phương

KT3 Sổ tạm trú dài hạn (không xác định thời hạn) ở một tỉnh hoặc thành phố

trực thuộc Trung ương khác với nơi đăng ký thường trú

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Con người sinh ra có nhu cầu tồn tại và phát triển Bởi vậy con người luôn có nhu cầu di chuyển từ địa điểm này đến địa điểm khác với mục đích tìm đến những nơi thích hợp hơn cho sự sinh tồn Di cư là một quy luật phổ biến diễn ra ở tất cả các nước với nhiều phương thức khác nhau, tùy thuộc vào mỗi thời kỳ và đặc điểm địa lý kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Di dân thể hiện sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia trước những thách thức của cuộc sống và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân công lao động trên lãnh thổ [16]

Ở những quốc gia khác nhau, trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, cường

độ và phương thức di dân cũng khác nhau Ở Việt Nam, tính đến cuối thập kỷ 90, theo thống kê chính thức thì số hộ di chuyển nội địa tự phát là 280 nghìn hộ với tổng số 1,33 triệu khẩu, chủ yếu đến vùng Tây Nguyên, Đông Nam bộ Còn ở các tỉnh miền núi phía Bắc ước tính đã có trên 26.000 đồng bào dân tộc tham gia vào quá trình di chuyển tự phát Nhu cầu du canh, du cư của đồng bào dân tộc chủ yếu

là do thiếu đất sản xuất lương thực và khan hiếm nguồn nước So với di dân đến nông thôn, di chuyển dân số ra thành thị đa dạng hơn về thể loại Mặc dù khó ước tính được chính xác quy mô của dòng di cư này song số người di dân ra đô thị đã lên đến hàng triệu khẩu, tập trung ở các thành phố lớn

Đắk Lắk là tỉnh có quỹ đất đỏ bazan chiếm khoảng 36% tổng diện tích tự nhiên, phù hợp để phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp với nhiều loại cây công

nghiệp dài ngày như cà phê, tiêu, cao su có giá trị kinh tế cao Vì vậy, trong thời

gian qua, ngoài việc tiếp nhận hàng chục nghìn hộ dân từ các tỉnh khác đến xây dựng vùng kinh tế mới theo kế hoạch của Nhà nước thì Đắk Lắk cũng là nơi thu hút mạnh mẽ các luồng dân di cư tự do trong toàn quốc đến sinh sống và lập nghiệp tạo nên một địa phương có nhiều biến động trong thời kỳ đổi mới Để thực hiện đồng

bộ các giải pháp bố trí giữ dân, ổn định dân cư, đặc biệt là giải pháp an sinh xã hội nhằm ổn định đời sống của người dân di cư Tiếp nối kết quả nghiên cứu trước đó,

Trang 10

2

xuất phát từ nhu cầu thực tế, tôi chọn đề tài nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp khóa học thạc sĩ chính sách công “Thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do

trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Liên quan đến vấn đề di cư tự do ở nước ta đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều cấp, nhiều ngành và theo những mục đích khác nhau như: Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc Hội; Ủy ban quốc gia Dân số - Kế hoạch hóa gia đình; Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, một số công trình nghiên cứu đã được công bố

và nổi bật:

+ Nhóm nghiên cứu về chính sách đối với dân di cư tự do trong phạm vi cả nước

Đề tài cấp Bộ của nhóm cán bộ nghiên cứu Viện Dân tộc học, Viện Khoa học

xã hội Việt Nam “Di dân tự phát của các dân tộc thiểu số từ miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên” (1990) do PGS TS Khổng Diễn làm chủ nhiệm, trong đó, trên cơ sở

làm sáng tỏ thực trạng kinh tế - xã hội và môi trường của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc ở nơi xuất cư, phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của di dân

tự phát đến kinh tế, xã hội, môi trường Tây Nguyên cùng với đó là những kiến nghị, giải pháp góp phần giải quyết vấn đề di dân ở vùng lãnh thổ này

Tác giả Nguyễn Hữu Tiến có đề tài nghiên cứu cấp Bộ về “Điều tra cơ bản và xác định các giải pháp giải quyết tình trạng di cư tự do đến Tây Nguyên và một số tỉnh khác” (1996) Đề tài đã đánh giá tổng quan tình hình dân di cư tự do tại 4 tỉnh

có dân đi (Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu và Nghệ An), 6 tỉnh có dân đến (Bình Thuận, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sông Bé (cũ), Lâm đồng, Đắk Lắk (cũ), xác định nguyên nhân di cư tự do và đề xuất các giải pháp giải quyết tình hình dân di cư

tự do vào Tây Nguyên và các tỉnh khác

Nhóm nghiên cứu Nguyễn Mạnh Tiến, Nguyễn Ngọc Quế, Ngụ Văn Hải,

Phạm Minh Trí thuộc Viện Kinh tế nông nghiệp có dự án “Phân tích đa biến các dự

án di dân có tổ chức ở Việt Nam từ năm 1991 đến nay” (Multivariate Analysis of

Trang 11

3

Organized Miggration Projects in Vietnam since 1991) (1996), trong đó đã xác định được mối tương quan tác động của các nhân tố về cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi, đường, điện, trường học, y tế), đất rừng, đất nông nghiệp, số lao động, kinh phí

và lương thực đầu tư hỗ trợ ảnh hưởng đến kết quả di chuyển cư đến các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên trong giai đoạn 1991 - 1996

Đề tài “Nghiên cứu chính sách đối với di dân tự do trong cả nước 1998)” của nhóm nghiên cứu Viện Kinh tế nông nghiệp Nguyễn Hữu Tiến, Ngô

(1997-Văn Hải, Phạm (1997-Văn Khiên, Nguyễn Đình Chính, trong đó phân tích thực trạng dân

di cư tự do, động cơ, lý do của hoạt động di dân tự do đến các địa phương; các mặt tích cực và tiêu cực của di dân tự do Đề xuất các chính sách của Trung ương và địa phương nơi đi, nơi đến áp dụng với số dân di cư tự do nhằm sớm ổn định đời sống, đảm bảo ổn định dân bản địa và dân chuyển đến, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương miền núi và Tây Nguyên

Nhóm nghiên cứu Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) có một nghiên cứu về

“Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng”, trong đó có đề cập đến vấn đề di

cư tự do đến Đắk Lắk, tình hình về đất đai, vốn, sức khoẻ của người nhập cư, sự liên quan giữa di cư tự do với môi trường (2003)

Sách tham khảo của TS Đặng Nguyên Anh “Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi” (2006)

+ Nhóm nghiên cứu về chính sách đối với dân di cư tự do đến Tây Nguyên:

Báo cáo “Di dân tự do nông thôn - nông thôn: Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Quang Huề và báo cáo “Những ảnh hưởng của vấn đề di dân từ nông thôn

ra nông thôn ở Đắk Lắk” của tác giả Huỳnh Thị Xuân tại Hội thảo quốc tế Di dân

trong nước đã đưa ra những khuyến nghị về chính sách di dân ở Việt Nam (1998)

Công trình sách chuyên khảo của tác giả Nguyễn Bá Thủy về “Di dân tự do của các dân tộc Tày, Nùng, H’Mông, Dao từ Cao Bằng, Lạng Sơn vào Đắk Lắk”

(2004), trong đó bước đầu đã làm sáng tỏ một số vấn đề liên quan đến di dân tự do của 4 dân tộc vào Đắk Lắk như đặc điểm kinh tế xã hội của các dân tộc di cư và tại chỗ, nguyên nhân di cư, một số tác động của di cư

Trang 12

4

Nhóm nghiên cứu của Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF) do Huỳnh

Thu Ba và cộng sự đã đưa ra bản báo cáo về “Biến động dân số và sử dụng tài nguyên tại khu vực vùng đệm của Vườn quốc gia Yok Đôn tỉnh Đắk Lắk” (1999)

TS Nguyễn Duy Thụy (2016) Di cư của người DTTS đến Tây Nguyên từ năm

1975 đến năm 2015

Điều tra di cư của Việt Nam năm 2017 của Tổng cục Thống kê, thông tin được thu thập theo các luồng di chuyển khác nhau và phân tích số liệu, gắn di cư với các

mô hình phát triển cấp vùng và cấp quốc gia

Tất cả các công trình nghiên cứu trên đều thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề lý luận về di dân, phân tích thực trạng và đề ra một số giải pháp để giải quyết vấn đề di cư tự do Tuy nhiên mỗi đề tài nghiên cứu lại thực hiện trong những phạm vi không gian khác nhau hoặc nghiên cứu cụ thể một nhóm đối tượng

di cư tự do Vấn đề chính sách di dân trong phạm vi cả nước đã được đề cập phần nào nhưng việc Thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk vẫn còn bỏ ngỏ Đây chính là nội dung luận văn tiến hành nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nội dung thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do trên địa bàn tỉnh Đắk

Lắk

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan lý luận về thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do

- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

- Đề xuất một số giải pháp thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk hiệu quả hơn trong thời gian đến

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện chính sách đối với dân di

cư tự do trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Trang 13

5

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

- Về thời gian: Thu thập số liệu dân di cư tự do giai đoạn từ năm 2005 đến

nay Đây là mốc thời gian sau những cuộc bạo loạn tại Tây nguyên năm 2011 và

năm 2004

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Dựa trên cơ sở phương pháp luận của các quan điểm, đường lối của Đảng;

chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề di dân

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích: Là đánh giá tính toàn vẹn, tính thống nhất, tính khả thi và hiệu quả của chính sách nhằm điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu và thực

- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Luận văn khảo sát văn bản của UBND tỉnh Đắk Lắk một số vấn đề liên quan đến việc thực hiện chính sách đối với dân di cư tự

do để tìm hiểu thực trạng và phân tích kết quả, đưa ra nhận định, đánh giá chung

- Phương pháp so sánh, đối chiếu việc di dân tự do hàng năm tỉnh Đắk Lắk

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn đã khái quát được một số lý luận cơ bản về thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do trên cơ sở tổng quan có chọn lọc các công trình đã nghiên cứu, quy định của pháp luật về di dân

- Luận văn đã phân tích thực trạng và xác định được nguyên nhân hạn chế trong thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm

2005 đến nay

Trang 14

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Chương 3: Định hướng và giải pháp thực hiện chính sách đối với dân di cư tự

do trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới

Trang 15

7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI DÂN DI CƯ TỰ DO

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Chính sách công

Chính sách công được tiếp cận nghiên cứu từ những phương diện khoa học khác nhau Ở các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, có thể nêu ra một

số khái niệm về “Chính sách công” như sau:

- Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền việc lựa chọn các mục tiêu và

các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin, 1978) [13, tr.5]

- Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do chính phủ tiến hành

các quan chức nhà nước đề ra (William N Dunn, 1992) [11, tr9]

- Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân (B Guy Peter,

1990)[11, tr10]

- Thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của chính phủ/chính quyền và những ý định quyết định hành động này; hoặc chính sách công là kết quả của cuộc đấu tranh trong chính quyền để ai giành được cái gì (Clarke E Cochran, et

Trang 16

8

- Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng, được kết hợp với các mục tiêu và cách thức

đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định của các cơ quan

chức năng thực hiện những chương trình (Kraft and Furlong, 2004) [11, tr5]

-Tác giả Lê Thúy Mai: “Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuối các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt

ra trong đời sống kinh tế xã hội theo mục tiêu xác định” [12, tr.38]

Như vậy, có rất nhiều khái niệm về chính sách công tùy theo những góc độ tiếp cận khác nhau Tựu chung lại, có thể hiểu: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo

Theo khái niệm của Liên Hiệp Quốc, di cư là sự di chuyển từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, hoặc là sự di chuyển với khoảng cách tối thiểu quy định Sự di chuyển này diễn ra trong khoảng thời gian di dân xác định và được đặc trưng bởi sự thay đổi nơi cư trú thường xuyên

Nơi xuất cư hay gọi là nơi đưa dân đi (đầu đi): Là địa phương có dân đi đến

các vùng thuộc các tỉnh khác, hoặc trong phạm vi của tỉnh Người dân đi từ địa phương này gọi là dân xuất cư

Nơi nhập cư hay gọi là nơi đón dân (đầu đến): Là địa phương có dân đến

Người dân định cư ở vùng mới gọi là dân nhập cư [17, 7]

Trang 17

9

 Di dân

Di dân là một hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người với những thay đổi của tự nhiên, xã hội và sự phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội giữa các vùng, các quốc gia trên thế giới Quá trình di dân có những nét khác biệt giữa các nước và các vùng về hướng, quy mô cũng như hiệu quả kinh tế của nó Vì vậy, cơ sở lý luận về di dân cũng cần được nghiên cứu kỹ, cần có những đánh giá cụ thể các cuộc di dân quốc tế cũng như trong từng nước, từng khu vực để phát huy hết những ảnh hưởng tích cực, khắc phục những mặt tiêu cực của quá trình này [17, 8]

Theo nghĩa rộng: Di dân được hiểu là sự chuyển động cơ học của dân cư Như vậy, bất cứ sự chuyển động nào của con người trong không gian gắn với sự thay đổi theo vị trí địa lý lãnh thổ đều được coi là di dân

Theo nghĩa hẹp: Di dân được hiểu là sự chuyển dịch của dân cư theo lãnh thổ,

sự phân bố lại dân cư Tuy nhiên không phải bất kỳ sự dịch chuyển nào của dân cũng là di dân, mà di dân là sự di chuyển của dân cư ra khỏi biên giới đất nước hay

ra khỏi lãnh thổ hành chính mà họ đang cư trú gắn với việc thay đổi chỗ ở của họ [17, 8-9]

Các nhà dân số học coi di dân là một trong ba bộ phận cấu thành của quá trình dân số và phân biệt với quá trình sinh, tử bởi những đặc điểm sau:

- Di dân không phải là quá trình sinh học nên không bị giới hạn độ tuổi hay giới tính mà chỉ giới hạn về mặt xã hội

- Di dân không có hạn định tối đa, sự di chuyển giữa các vùng, khu vực chỉ có ảnh hưởng về mặt xã hội hay sự phát triển từ trong khu vực

- Quá trình di dân không đồng nhất, có sự khác biệt giữa các loại và đặc điểm của các loại về mặt xã hội

Dưới góc độ quản lý, di dân là sự dịch chuyển dân cư theo không gian và thời gian từ nơi này đến nơi khác

Có ba tiêu chí để xác định di dân:

Trang 18

10

- Đây là sự dịch chuyển địa điểm từ đơn vị hành chính này đến đơn vị hành chính khác

- Vì mục đích kinh tế - xã hội, gắn với điều kiện kinh tế, phát triển đời sống

- Thời gian đến nơi ở mới phải lâu dài [17, 11]

Qua nghiên cứu khái niệm di dân và di cư cho thấy, các thuật ngữ “di dân” và

“di cư” được dùng khá phổ biến và thường không có sự khác nhau vì cùng nói về sự

di chuyển của con người

 Di dân được phân loại theo các góc độ khác nhau, tùy thuộc vào mục đích

biên giới Di dân nội địa là di dân giữa các vùng miền, các đơn vị hành chính trong

một nước Trong hình thức di dân này, thông thường có các nhóm di dân sau: Di dân nông thôn - đô thị; di dân nông thôn - nông thôn; di dân đô thị - nông thôn; di dân đô thị - đô thị

- Theo độ dài thời gian cư trú, thường có các hình thức: Di chuyển lâu dài bao

gồm các hình thức thay đổi nơi cư trú thường xuyên và nơi làm việc, với mục đích định cư sinh sống lâu dài tại nơi mới; phần lớn người di cư là do điều động công tác, người tìm cơ hội việc làm và thoát ly gia đình, những đối tượng này thường

không quay trở về sống tại quê hương cũ Di dân tạm thời là loại hình diễn ra

thường xuyên hoặc không thường xuyên trong đó di dân mùa vụ là trường hợp đặc biệt; sự vắng mặt tại đầu đi diễn ra không lâu, và khả năng quay trở về của người di chuyển là chắc chắn Di dân tạm thời bao gồm các hình thức di chuyển làm việc theo mùa vụ, đi công tác dài ngày, hoặc như trường hợp ra nước ngoài học tập rồi

về nước Hình thái di chuyển này thường không được phản ánh trong các con số

Trang 19

11

thống kê về di biến động dân số, và do đó khó có thể biết được chính xác quy mô

của nó Di dân mùa vụ: Loại hình này diễn ra chủ yếu trong các xã hội nông nghiệp

mặc dù thuật ngữ “mùa vụ” không nhất thiết hàm ý vụ mùa sản xuất nông nghiệp Thuật ngữ này còn bao gồm những hoạt động mùa vụ khác như mùa xây dựng, mùa

du lịch, hội làng nghề và thậm chí cả loại hình đi làm ăn xa ở khu vực nông thôn nước ta hiện nay Ngoài ra, di dân còn bao gồm loại hình di chuyển con lắc là dòng

di chuyển của cư dân nông thôn vào thành phố trong thời kỳ những dịp nông nhàn, hoặc trong điều kiện thiếu việc làm thường xuyên, việc làm có thu nhập Hình thái

di cư này có xu hướng gia tăng trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đang phát triển

Ngoài những hình thái nêu trên, tùy theo mục đích nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu còn phân loại di dân của cá nhân (chủ hộ, con cái, lao động chính trong gia đình) hay của nhóm (di dân phụ nữ, trẻ em, hộ gia đình, sinh viên đại học, lao động làng nghề)

- Theo hình thái di dân, gồm di dân có tổ chức và di dân tự phát Di dân có tổ chức: Là hình thái di chuyển dân cư theo kế hoạch và các chương trình dự án do

Nhà nước, chính quyền các cấp vạch ra, tổ chức và chỉ đạo thực hiện, với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội Về nguyên tắc, người di chuyển có tổ chức được Nhà nước và chính quyền địa phương nơi nhập cư giúp đỡ Thông qua các hỗ trợ ban đầu về tài chính hay lương thực, nhà ở, di dân có tổ chức có thể giảm bớt khó khăn cho những người di cư, tăng nguồn lực sức lao động địa phương, có thể tránh được việc khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái Các chương trình di dân có tổ chức thường bao gồm việc di

chuyển nơi thường trú của hộ gia đình hay cộng đồng Di dân tự phát: Là hình thái

di chuyển do cá nhân người di chuyển hoặc bộ phận gia đình quyết định, di dân tự phát không có và không phụ thuộc vào kế hoạch và sự hỗ trợ của Nhà nước và các cấp chính quyền Người di dân chịu trách nhiệm và tự trang trải các phí tổn có liên quan đến sự di chuyển và lựa chọn nơi đến Di dân tự phát tuy được thừa nhận song không được khuyến khích hay hỗ trợ [5, 140-145]

Trang 20

12

Khái niệm

Có nhiều quan điểm khác nhau về di cư tự do Theo quy định tại Thông tư số 05/NN/ĐCĐC-KTM, ngày 26 tháng 3 năm 1996 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì “di dân tự do (di cư tự do) là đồng bào chuyển cư ngoài kế hoạch di dân hàng năm của Nhà nước” [9] Quan niệm phổ biến được các nhà nghiên cứu công nhận: Di dân tự do cũng có đủ các tiêu chí như di dân nhưng trong trường hợp này một cá nhân, một gia đình, một nhóm người tự quyết định hành vi đi hay ở mà không chịu sự tác động từ phía Nhà nước hoặc bên ngoài

Đặc điểm

Di cư tự do có một số đặc điểm sau:

- Sự chọn lọc về tuổi: Dù là di chuyển theo hình thức nào, những người ở tuổi trưởng thành và những người mới lớn di cư nhiều hơn Thanh niên dễ thích nghi và

hòa nhập với cuộc sống mới, họ là lực lượng lao động mới, họ dễ dàng thay đổi hơn

- Tình trạng hôn nhân cũng có mối quan hệ với tính lựa chọn của di cư Ở những nước đang phát triển trên thế giới, thường người trẻ, chưa lập gia đình di cư nhiều hơn Điều này cũng giống như các nước phát triển những thời kỳ trước Tuy nhiên ngày nay ở những nước phát triển những người có gia đình cũng có khả năng

di cư như những người chưa có gia đình

- Nghề nghiệp và trình độ học vấn cũng là những biến số của tính chọn lọc trong di cư Những lao động lành nghề thường di cư nhiều hơn Những người có chuyên môn có tỷ lệ cao hơn Có một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa trình độ học vấn và sự chọn lọc của di cư Những nghiên cứu này tập trung vào sự giống nhau và khác nhau giữa những người có trình độ học vấn cao và những người ít học liên quan đến khoảng cách di cư, tỷ lệ và hướng di cư Đồng thời cũng có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến trình độ học vấn ở những nơi đến và nơi đi của

người di cư [17, 24-25]

Khái niệm

- Dân di cư (người di cư): Hiện không có một định nghĩa thống nhất về “người

di cư” Liên Hợp Quốc định nghĩa người di cư là một cá nhân đã cư trú tại một nước

Trang 21

13

hơn một năm, bất kể người đó di cư tự nguyện hay không, hay theo cách được phép hay trái phép Với một định nghĩa như vậy, những người đi lại với thời gian ngắn hơn như khách du lịch, thương nhân không được coi là người di cư Tuy nhiên cách

sử dụng chung bao gồm cả những nhóm nhất định chỉ những người di cư ngắn hạn, như người lao động nông nghiệp theo thời vụ, những người đi lại trong những thời gian ngắn để trồng trọt và thu hoạch sản phẩm nông nghiệp

- Dân di cư tự do là khái niệm dùng để chỉ những người chuyển cư ngoài kế hoạch di dân của Nhà nước

Dân di cư tự do có một số đặc điểm chung như sau:

- Đại đa số thuộc đối tượng đói nghèo, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thiếu vốn

sản xuất, tỷ lệ hộ nghèo chiếm cao trong tổng số dân di cư tự do

- Về địa bàn cư trú, dân di cư tự do là đồng bào dân tộc thiểu số thường sống theo từng nhóm nhỏ, sâu ở trong rừng, không có cơ sở hạ tầng phúc lợi xã hội

- Hình thức di chuyển đa dạng, hoặc là đi tập trung cả bản, cả dòng họ hoặc là

đi phân tán, xé lẻ số hộ, số người trong bản, trong hộ; hiện nay chủ yếu đi phân tán nên càng khó kiểm soát

- Trình độ dân trí thấp, người mù chữ chiếm tỷ lệ cao, các cháu đến tuổi không

có điều kiện đến lớp

1.1.3 Thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do

Thực hiện là sự tác động có ý thức của chủ thể thực hiện lên đối tượng thực hiện nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan Thực hiện chính sách là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực nhà nước thông qua các văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện có hiệu lực và hiệu quả các chính sách đối với dân di cư tự do nhằm đạt được mục tiêu quản lý của Nhà nước

Trang 22

14

Như trên đã nói, di cư là quy luật phổ biến của xã hội loài người Con người di chuyển để tìm đến một nơi mới có điều kiện sống tốt hơn nơi ở cũ Di cư tự do cũng vậy, người dân cũng muốn tìm một nơi mới để làm ăn sinh sống tốt hơn nơi ở cũ, chỉ có điều việc di chuyển này của họ mang tính tự phát, không có sự điều tiết của Nhà nước Chính vì không có sự kiểm soát của Nhà nước nên những người di cư tự

do tạo nên mặt tiêu cực và tích cực cho xã hội:

- Mặt tiêu cực: Di cư tự do đến các vùng đất mới cùng với việc tăng dân số tự nhiên làm tăng đột biến nhu cầu các dịch vụ xã hội, quá tải sử dụng các công trình hạ tầng cơ sở, vượt khả năng đáp ứng hiện có ở địa phương, cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh vốn đã thiếu lại càng thiếu thêm Một bộ phận những người di cư tự do không có đất dựng nhà nên đã phá rừng, đốt rẫy, lấy gỗ để dựng nhà khiến cho diện tích rừng

bị thu hẹp, nhiều vùng đất đai bị xói mòn và thoái hóa nghiêm trọng cũng như làm cạn kiệt nguồn nước tự nhiên Di cư tự do ngoài kế hoạch làm đời sống nhân dân ở nhiều vùng định cư gặp nhiều khó khăn, còn tạo thêm gánh nặng cho địa phương (nơi nhập cư) trong việc đầu tư thêm cơ sở hạ tầng ở các vùng đất mới Di cư tự do còn làm nảy sinh một số vấn đề xã hội phức tạp như mất trật tự an ninh, an toàn xã hội, xung đột giữa người di cư và người địa phương; nạn cờ bạc, nghiện hút, mại dâm, Đa số những người di cư tự do không đăng ký hộ khẩu, kể cả hộ khẩu tạm trú nên địa phương nơi cư trú khó nắm bắt được hoạt động của họ khi có những vi phạm về trật tự, an ninh xảy ra

- Mặt tích cực: Tuy có một số hệ lụy kinh tế - xã hội nhất định song di cư tự

do thể hiện tính năng động, vai trò độc lập của các cá nhân và hộ gia đình trong việc giải quyết khó khăn trong đời sống, tìm công ăn việc làm và một cuộc sống tốt đẹp hơn cho gia đình và bản thân Mặt tích cực của dân di cư tự do có thể được ghi nhận: làm giảm sức ép về việc làm và đời sống khó khăn nơi xuất cư; Góp phần vào việc bổ sung nhanh chóng nguồn lao động, đáp ứng nhu cầu khai thác tài nguyên ở nơi mới định cư Người di cư tự do thường khá sẵn sàng chịu đựng khó khăn để phát triển sản xuất, ổn định đời sống, xây dựng quê hương mới; Góp phần nâng cao

Trang 23

15

thu nhập, xóa đói giảm nghèo ở đầu đi Thể hiện quyền tự do đi lại, tự do cư trú và tìm việc làm của công dân như đã được quy định trong Hiến pháp và pháp luật Chính những mặt tích cực và tiêu cực như trên, đòi hỏi Nhà nước cần phải thực hiện chính sách đối với đối tượng này, đưa họ vào “quỹ đạo” phát triển chung của xã hội, tạo điều kiện cho đất nước phát triển toàn diện mọi mặt

1.2 Sự cần thiết phải thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do

Đời sống kinh tế - xã hội luôn vận động và phát triển hàng ngày, hàng giờ Nhà nước phải giải quyết những vấn đề thực tiễn, những bài toán thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Di cư tự do là vấn đề nóng bỏng, diễn biến rất phức tạp, đó không phải

là mục đích tự thân mà là phương tiện để thực hiện các nhu cầu khác Động lực dẫn đến di cư bị chi phối bởi yếu tố xã hội ở những cấp độ khác nhau Ở cấp độ vi mô, người di cư ra đi với hy vọng có được một cuộc sống tốt đẹp hơn tại nơi ở mới Mặc

dù thu nhập và việc làm là hai yếu tố chủ đạo đối với động lực di cư song các nguyên nhân xã hội như hôn nhân, học hành, gia đình, sức khỏe, quan hệ gia đình, cộng đồng, khác biệt ngôn ngữ, lối sống không mang tính chất kinh tế cũng có ảnh hưởng độc lập đến quyết định di cư Những nguyên nhân xã hội dẫn đến di cư có ảnh hưởng đến phân bố lại dân cư và phân bố lại lao động theo lãnh thổ Nếu phân

bố dân cư, lao động hợp lý sẽ cung cấp đầy đủ nhu cầu nguồn nhân lực cho sự phát

Trang 24

16

triển kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của cả vùng và cả nước trên

cơ sở tận dụng tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện xã hội

Dân số cũng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến di cư tự do Cơ cấu dân số chịu ảnh hưởng nhiều nhất của của dân di cư tự do là cơ cấu tuổi, cơ cấu giới tính và cơ cấu theo trình độ học vấn Tỷ số giới tính có thể biến đổi với sự có mặt của dân nhập cư Quy mô và cơ cấu dân số của dân di cư tự do có tác động đến quy mô và cơ cấu dân số ở cả nơi đi và nơi đến, cụ thể: Sự ra đi của một bộ phận dân cư sẽ làm cho quy mô dân số và sức ép dân số tại nơi đó giảm và ngược lại, số người nhập cư nhiều làm cho quy mô dân số tăng nhanh Bên cạnh việc làm thay đổi quy mô và cơ cấu dân số, dân di cư tự do còn gián tiếp tác động đến quá trình sinh, chết và hôn nhân Khi có biến động, dân số có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực

đến sự phát triển chung của cả nước, cụ thể: Mặt tích cực: Dân số trẻ sẽ đóng góp

vào nguồn lao động có trình độ kĩ thuật cao; là nguồn lao động quan trọng cho tất cả mọi ngành kinh tế, nếu không có nguồn lao động thì tất cả mọi ngành kinh tế đều ngừng tồn tại; dân số sẽ thể hiện được tình hình kinh tế xã hội của quốc gia, thúc

đẩy việc khai thác, tận dụng thế mạnh của từng quốc gia Mặt tiêu cực: Việc gia

tăng dân số quá nhanh sẽ ảnh hưởng tới tình hình chính trị, kinh tế xã hội của quốc gia: Tệ nạn xã hội gia tăng, khó đáp ứng được vấn đề lao động, tỉ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm luôn là một bài toán khó cho các nhà chức trách; dân số già ảnh hưởng tới việc chăm sóc, xây dựng nhiều nơi an dưỡng, tốn kém nguồn lực tài chính quốc gia

Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển bởi lẽ, văn hóa do con người sáng tạo ra, chi phối toàn bộ hoạt động của con người, là hoạt động sản xuất nhằm cung cấp năng lượng tinh thần cho con người, làm cho con người ngày càng hoàn thiện Do đó, văn hóa bao giờ cũng gắn liền với một phạm vi không gian - xã hội nhất định, nơi các cá nhân và cộng đồng người tổ chức các hoạt động sống, lao động, sinh hoạt Mỗi người dân hay một nhóm dân cư, một cộng đồng đều có phong cách sống chứa đựng những yếu tố văn hóa, tinh thần, tôn giáo,

Trang 25

17

dân tộc riêng Vì vậy, nếu một cộng đồng người có sự thích ứng, hòa nhập được với một nền văn hóa nào đó mà họ cảm thấy tốt thì khả năng họ chuyển đổi nơi sinh sống là rất cao Mặt khác, văn hóa hình thành qua một quá trình lâu dài nên thái độ, hành vi, phong tục tập quán, thói quen của con người không thể thay đổi ngay mà được bảo lưu mang theo đến nơi ở mới, phát huy tác dụng trong một thời gian dài

Sự hiện diện của những người mới đến sinh sống với nền văn hóa và đặc điểm sắc tộc khác nhau có thể gây nên sự xung đột, phân biệt đối xử trong cộng đồng nơi đến Nó đặt ra cho Nhà nước yêu cầu phải thực hiện chính sách đối với dân di cư tự

do nhưng phải đảm bảo phát triển văn hoá, xã hội hài hoà với phát triển kinh tế, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội

Chính những yếu tố trên có tác động mạnh mẽ đến quyết định di cư của người dân, ảnh hưởng đến phát triển ổn định xã hội của đại phương, cả quốc gia nên cần thiết phải thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do nhằm góp phần ổn định và phát triển xã hội

1.2.2 Góp phần ổn định và phát triển kinh tế

Yếu tố kinh tế bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, hệ thống các chính sách kinh tế và triển khai thực hiện, áp dụng chúng trong thực tế xã hội Nền kinh tế phát triển năng động, bền vững, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân ổn định cuộc sống, định cư lâu dài Ngược lại nền kinh tế chậm phát triển, kém năng động thì người dân buộc phải chủ động di cư lựa chọn nền kinh tế khác tốt hơn

để đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình

“Trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa khu vực nông thôn - thành thị và giữa các vùng khác nhau dẫn đến hiện tượng di dân nói chung và di dân tự do nói riêng” [17] Như vậy kinh tế là nguyên nhân chủ yếu, quan trọng nhất tác động đến thực hiện chính sách đối với dân di cư biểu hiện ở các mặt: Sức ép về tăng dân số; thiếu công ăn việc làm; thu nhập thấp; ruộng đất có hạn; ngành nghề chưa phát triển; công nghiệp chưa có khả năng thu hút nhiều lao động; điều kiện sản xuất khó khăn;

hạ tầng yếu kém là nguyên nhân những “cuộc ra đi” của người dân Điều đó đòi hỏi Nhà nước phải hoạch định hệ thống chính sách về kinh tế để tạo điều kiện phát triển

Trang 26

18

kinh tế đồng đều giữa các địa phương trên cơ sở tận dụng thế mạnh, tiềm năng riêng của từng vùng nhằm hạn chế thấp nhất dân di cư tự do Chính sách kinh tế phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Tính khách quan: Việc ban hành chính sách phải dựa trên yêu cầu chung của toàn xã hội không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của một người hay một nhóm người có quyền lực nhất định trong xã hội Nội dung phải phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, không đi chậm mà cũng không yêu cầu quá xa so với trình độ thực tế, tính “thời sự”, tính cấp thiết của vấn đề mà chính sách đưa ra để giải quyết

- Tính chính trị: Mỗi chính sách kinh tế do một Nhà nước nhất định ban hành mang ý chí đại diện cho chế độ chính trị, cho lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc Mọi chính sách kinh tế được ban hành phải kết hợp hài hòa lợi ích của đất nước và lợi ích cao nhất của toàn thể nhân dân

- Tính đồng bộ và hệ thống: Thể hiện sự thống nhất trong quá trình thực hiện, thống nhất giữa các giai đoạn và các cơ quan có liên quan Đặc trưng của hệ thống không phải chỉ là các mối liên hệ và quan hệ giữa các yếu tố, các bộ phận cấu thành,

mà còn là sự thống nhất với môi trường, thông qua những mối quan hệ qua lại giữa

nó với môi trường

- Tính thực tiễn: Một chính sách đưa ra phải đáp ứng được nhu cầu hiện tại của nền kinh tế, có tính khả thi và đem lại hiệu quả nhất định Trước khi áp dụng cần xem xét khi đưa vào thực tiễn sẽ vận hành ra sao, vấp phải những khó khăn, trở ngại như thế nào? Bên cạnh đó cần cân nhắc trước hoàn cảnh thực tế của đất nước

và bối cảnh quốc tế

1.2.3 Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của dân di cư tự do

Hiện nay, tập quán du canh du cư, đặc biệt là du canh, canh tác nương rẫy vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của các dân tộc miền núi trong cả nước nói chung Việc thiếu đất sản xuất, mất đất, mất rừng đã đẩy nhiều hộ người dân tộc vào sâu trong núi để du canh, tạo thêm sức ép môi trường Tập quán du canh gây tác động mạnh mẽ đến hai nguồn tài nguyên chính đó là rừng và đất Rừng là nguồn

Trang 27

19

cung cấp các chất dinh dưỡng cho đất thông qua nhiều cơ chế: Cành lá rụng, khối lượng rễ để lại cho đất sau khi phân hủy bởi vi sinh vật sẽ biến thành các nguyên tố dinh dưỡng khoáng nuôi sống cây trồng Nhưng khi đốt rừng làm rẫy, thảm thực vật không còn, các chất dinh dưỡng bề mặt nghèo kiệt, đất trở nên chai cứng, mất hoàn toàn tính năng sản xuất, thoái hóa, gây xói mòn, rửa trôi, sạt lỡ Hàng năm các vụ cháy rừng do đốt nương làm rẫy của đồng bào dân tộc thiểu số chiếm một tỷ lệ khá cao trong tổng số các vụ cháy rừng [4, 141-143]

Những địa phương có nguồn tài nguyên rừng phong phú, đất đai màu mỡ, thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, dân cư thưa thớt, là địa bàn thu hút số lượng lớn các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc di cư tự do đến để làm ăn sinh sống Đa số dân di cư tự do là những người không có việc làm ổn định, sống chủ yếu dựa vào hoạt động khoa học tự nhiên hoặc sản xuất nông nghiệp với phương thức và tập quán canh tác lạc hậu, vì vậy rừng là nguồn sống chủ yếu của họ Do tập quán canh tác và cư trú trong các khu rừng nên điều kiện sống gặp rất nhiều khó khăn, thiếu nước sinh hoạt, dịch bệnh diễn biến phức tạp, trẻ em không được đi học, các tệ nạn xã hội ngày càng phát triển như trộm cắp, nghiện hút, các hoạt động mê tín dị đoan, truyền đạo trái pháp luật Đặc biệt, một số tổ chức, cá nhân đã lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, lợi dụng những khó khăn trước mắt của đồng bào để lôi kéo, kích động, đã gây ra nhiều vấn đề bất ổn cho an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở những vùng có dân di cư tự do sinh sống Giải quyết những vấn đề này không có tổ chức, cá nhân nào có thể thay thế Nhà nước làm được bởi các lý do sau:

- Hoạt động di dân, di dân tự do liên quan đến con người (cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư), những mặt tác động đến đời sống toàn diện của con người, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương cụ thể Nhà nước phải quản lý nhằm đảm bảo thực hiện chương trình có kết quả, hiệu quả

- Hoạt động di dân, di dân tự do không chỉ liên quan đến một địa phương mà cần có sự tham gia của nhiều địa phương và phối hợp của các ban, ngành hữu quan; mang tính tổ chức có kế hoạch của Nhà nước

Trang 28

đó sức mạnh quân sự làm nòng cốt, nhằm giữ vững hòa bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, mọi quy mô

Mục tiêu của quốc phòng, an ninh là giữ vững môi trường hoà bình cho sự nghiệp phát triển đất nước Với tính chất, mục tiêu đó, nền quốc phòng và an ninh được xây dựng theo hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường và ngày càng hiện đại Vì vậy, lực lượng quốc phòng là lực lượng toàn dân, được xây dựng

và huy động toàn diện, đủ sức mạnh ngăn ngừa và đối phó hiệu quả với mọi tình huống, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa trong thời bình và chuyển hóa thành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện để đập tan các cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù

Lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh sẽ là chỗ dựa vững chắc để các ngành, các lĩnh vực xây dựng kế hoạch, quy hoạch, chính sách giải quyết mối quan hệ giữa phát triển nhanh và bền vững, ổn định đời sống của nhân dân Nơi nào có quốc phòng vững mạnh, an ninh trật tự được bảo đảm, người dân có điều kiện phát triển kinh tế tốt sẽ thu hút dân di cư đến để sinh sống, làm ăn

Di dân tạo ra sự phân công lao động xã hội mới, hình thành các điểm dân cư mới, làm thay đổi cấu trúc dân số, dân tộc Bởi vậy, di dân có tác động, ảnh hưởng rất lớn đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội Chiến lược phân bố lại lao động

Trang 29

và thủ đoạn mới của các thế lực phản động hiện nay, chúng ta luôn nâng cao cảnh giác cách mạng, phải dựa vào dân để bảo vệ tốt chủ quyền, đảm bảo yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế ổn định đời sống nhân dân, trong đó có phương án dân di cư

tự do với thực hiện tốt nhiệm vụ về an ninh, quốc phòng

1.3 Nội dung thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do

1.3.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, dự án bình ổn dân di cư tự do

Chiến lược phát triển phát triển hoạt động di dân giữ một vị trí quan trọng Nhà nước là người duy nhất có khả năng thực hiện hoạt động di dân trên phạm vi toàn quốc gia Bằng chức năng hoạch định chiến lược và thực hiện kế hoạch, nhà nước thực hiện vai trò bằng chương trình dự án cụ thể

1.3.2 Xây dựng hệ thống chính sách đối với dân di cư tự do

Trên thực tế, hoạt động di dân có tổ chức, di dân tự do; mục đích, tính chất vận động có những điểm giống, khác nhau đó là:

Tuy di dân tự do, nhưng người di cư cũng phải tuân thủ những quy định, chính sách của Nhà nước tại nơi xuất, nhập cư Nhà nước đã có một số văn bản điều chỉnh hiện tượng di dân tự do Nhà nước quản lý bằng công cụ pháp luật ở đây còn thể hiện ở việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật các lĩnh vực nói chung và lĩnh vực liên quan, sử dụng pháp luật Ngoài công cụ pháp luật, Nhà nước còn sử dụng các chính sách như: Chính sách cho đối tượng di dân (những chế độ, chính sách hỗ trợ cho người di dân, hộ gia đình và được bổ sung, điều chỉnh theo từng giai đoạn phù hợp với điều kiện thực tiễn hoạt động); Chính sách cho cán bộ đi phía trước (thể hiện sự quan tâm đối với cán bộ công tác tại các vùng khó khăn, công việc đòi hỏi phải xa

Trang 30

22

gia đình, môi trường mới có nhiều thử thách); Chính sách về đầu tư (nhà nước phải tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng, những công trình phục vụ dân sinh và chỉ Nhà nước mới đủ điều kiện để thực hiện nhằm thực hiện việc đưa dân); Chính sách về đất đai (di dân gắn liền với sử dụng đất, cấp đất cho sản xuất, đất thổ cư, đất sử dụng cho công trình phúc lợi); Chính sách hỗ trợ vốn (nhà nước hỗ trợ, hướng dẫn cho người dân tiếp cận các nguồn vốn phục vụ cho sản xuất đầu tư; tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống)

Bên cạnh các chính sách áp dụng đối với các địa phương cả nước, đối với dân

di cư tự do Trong giai đoạn hiện nay Nhà nước thực hiện một số chính sách sau:

- Chính sách đất đai: Căn cứ theo quy định của Luật Đất đai hiện hành, các địa phương có biện pháp thu hồi diện tích đất đai chưa sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả của các tổ chức, các nông, lâm trường hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt để giao cho hộ gia đình, cá nhân thuộc các dự án bố trí dân cư

- Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vùng dự án ổn định dân di cư: Ngân sách Nhà nước hỗ trợ từ nguồn vốn đầu tư phát triển để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng tại địa bàn bố trí dân cư, bao gồm: Bồi thường, giải phóng mặt bằng; san gạt đất ở tại điểm tái định cư; khai hoang đất sản xuất; giao thông; thuỷ lợi nhỏ; nhà trẻ, mẫu giáo, trường, lớp học bậc tiểu học và trung học cơ sở; trạm y tế; hệ thống nước sinh hoạt và một số công trình thiết yếu khác theo yêu cầu thực tế

- Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho hộ gia đình: Nguồn vốn hỗ trợ trực tiếp cho

hộ gia đình được sử dụng từ nguồn vốn sự nghiệp kinh tế Mức hỗ trợ cụ thể tùy theo đối tượng và thực hiện theo các quy định của Nhà nước như: Đối với hộ phải

di dân vì điều kiện sản xuất và đời sống quá khó khăn, bao gồm hộ du canh du cư;

hộ mất đất ở, đất sản xuất do thiên tai; hộ sống ở nơi đặc biệt khó khăn thiếu đất sản xuất, thiếu nước sinh hoạt; hộ di dân đến khu kinh tế - quốc phòng và hộ dân cần phải đưa ra khỏi các khu rừng đặc dụng; hộ di dân đến các xã biên giới, hải đảo; cán

bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang, thanh niên xung phong, trí thức trẻ đang làm nhiệm vụ ở các vùng dự án di dân, có nhu cầu đưa gia đình (bố, mẹ, vợ hoặc chồng,

Trang 31

23

con) đến định cư lâu dài hoặc lập gia đình mới và tự nguyện định cư lâu dài tại vùng

dự án thì được hỗ trợ Đối với hộ di dân tự do đang ở trong các khu rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ cần phải chuyển ra khỏi các khu rừng nếu hộ tự nguyện chấp hành theo bố trí của chính quyền các cấp ở địa phương nơi đến thì được xem xét giao đất ở, đất sản xuất theo mức và điều kiện giao đất do Chủ tịch

Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định Trường hợp là hộ dân tộc thiểu số, đời sống quá khó khăn thì được xem xét hỗ trợ thêm kinh phí để di chuyển, mua lương thực trong thời gian đầu, mua giống cây lương thực, phân bón và giải quyết nước sinh hoạt Đối với hộ không chấp hành định cư theo bố trí của chính quyền các cấp ở địa phương thì Ủy ban nhân dân tỉnh nơi có dân đến tiến hành cưỡng chế ra khỏi các khu rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và thông báo cho chính quyền địa phương nơi có dân đi tự bố trí kinh phí, tổ chức đón họ trở lại nơi ở cũ (nơi có đăng

ký hộ khẩu thường trú) và tạo điều kiện cho người dân sớm ổn định lại đời sống và sản xuất

- Chính sách đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ chương trình bố trí dân cư: Ngân sách Nhà nước hỗ trợ để xây dựng nội dung chương trình và tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng về quản lý tổ chức thực hiện chương trình cho các cán

bộ làm công tác bố trí dân cư các cấp

1.3.3 Xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống văn bản thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do

Trong hoạt động thực hiện chính sách, trong giao dịch giữa các cơ quan nhà nước với nhau, cơ quan nhà nước với tổ chức và người dân, văn bản là phương tiện thông tin cơ bản, là sợi dây liên lạc chính, là một trong những yếu tố rất quan trọng, nhất thiết để kiến tạo thể chế của nền hành chính nhà nước Có thể thấy văn bản thực hiện chính sách chính là phương tiện để xác định và vận dụng các chuẩn mực pháp lý vào quá trình thực hiện chính sách Các văn bản thực hiện chính sách luôn luôn có tính pháp lý chung Tuy nhiên, biểu hiện của tính chất pháp lý của văn bản không giống nhau Có những văn bản chỉ mang tính thông tin quản lý thông thường, trong khi có những văn bản lại mang tính cưỡng chế thực hiện

Trang 32

24

Văn bản thực hiện chính sách là những quyết định và thông tin quản lý thành văn (được văn bản hóa) do các cơ quan thực hiện chính sách ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định và được Nhà nước đảm bảo thi hành bằng những biện pháp khác nhau nhằm điều chỉnh các mối quan hệ quản lý nội bộ Nhà nước hoặc giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức và công dân

Đối với lĩnh vực dân di cư tự do, văn bản Nhà nước ban hành cũng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định và được Nhà nước đảm bảo thi hành bằng những biện pháp khác nhau nhưng đối tượng điều chỉnh chỉ là những người di

cư tự do Như vậy, cũng là văn bản thực hiện chính sách nhưng phạm vi đối tượng điều chỉnh của những văn bản thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do hẹp hơn

so với các văn bản thực hiện các chính sách thông thường

Văn bản có vai trò quan trọng trong thực hiện chính sách nói chung và thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do, bởi các lý do sau:

- Văn bản thực hiện chính sách đảm bảo thông tin cho hoạt động thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do Đó là các thông tin về: Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến dân di cư tự do

- Văn bản là phương tiện truyền đạt các quyết định thực hiện chính sách của Nhà nước đối với dân di cư tự do

- Văn bản là phương tiện kiểm tra, theo dõi hoạt động của bộ máy lãnh đạo và quản lý trong việc thực hiện chính sách công đối với người di dân tự do

- Văn bản là công cụ xây dựng hệ thống pháp luật

1.3.4 Xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy để thực hiện chính sách về hoạt động di dân

Thông qua tổ chức bộ máy, Nhà nước quản lý hoạt động di dân và ổn định đời sống dân di cư tự do Hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước với đặc trưng là quyền lực công, biểu hiện ở chính những tác động có ý thức vào quá trình phát triển của xã hội, vào nhận thức của con người, buộc mọi người phải suy nghĩ và hành động theo một hướng và mục tiêu nhất định Việc thực hiện chính sách của Nhà nước về hoạt động di dân như trên được thể hiện thông qua các cơ quan có thẩm quyền theo thứ

Trang 33

25

bậc chính sách, từ Chính phủ đến các Bộ, ngành và đến chính quyền các cấp Hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước thực hiện chính sách vĩ mô việc phân bố lao động dân cư, lực lượng sản xuất trên phạm vi cả nước, hình thành các chính sách và hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách Nhà nước có vai trò tạo hành lang pháp lý và tổ chức thực hiện chính sách về hoạt động di dân và ổn định

đời sống dân di cư tự do thông qua hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước

1.3.5 Xây dựng đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do

Đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do có vai trò đặc biệt quan trọng Thực tiễn cho thấy, nơi nào có đội ngũ cán bộ cơ sở thực hiện chính sách vững mạnh thì nơi đó tình hình chính trị, xã hội ổn định; kinh tế, văn hóa phát triển; quốc phòng, an ninh được giữ vững Ngược lại, cơ sở nào đội ngũ cán bộ không đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, thì cơ sở đó, địa phương đó sẽ gặp khó khăn, kinh tế -

xã hội chậm phát triển, thậm chí tạo sơ hở cho các phần tử cơ hội, chống đối ở trong

và ngoài nước lợi dụng gây “điểm nóng” về chính trị Với đặc thù đối tượng thực hiện nhiệm vụ là dân di cư tự do, một đối tượng rất khó quản lý nên nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có phẩm chất đạo đức, năng động, phương pháp, phong cách làm việc tốt cần phải được chú trọng để quản lý toàn diện tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của địa phương nơi có dân di cư tự do đến

1.3.6 Huy động các nguồn lực cho việc thực hiện chính sách đối với dân di cư

Thông qua các dự án thực hiện, các công trình hoàn thành, các đơn vị phải thực hiện các thủ tục quy định về báo cáo, thanh quyết toán, về trình tự đầu tư xây

Trang 34

26

dựng cơ bản, về thẩm định Nhà nước bằng công cụ tài chính kiểm tra, giám sát các công việc, dự án, và cả hoạt động di dân Các cấp có thẩm quyền có trách nhiệm trong từng lĩnh vực thực hiện chức năng bằng các công cụ Nhà nước cho phép Bằng các công cụ tài chính khác như thuế, lãi suất, tín dụng Nhà nước có thể thu hút mọi nguồn lực xã hội tham gia vào các dự án Nhà nước chỉ tập trung đầu tư vốn vào các dự án, địa bàn mà chỉ có Nhà nước mới đảm trách được, còn lại phải kêu gọi đầu tư, và có chính sách về tài chính phù hợp để có sự chia sẽ và đầu tư từ

tư nhân, tập thể, các tổ chức kinh tế - xã hội ở trong và ngoài nước [17,80-81]

1.3.7 Tổng kết, giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do

Nhà nước bằng công cụ kiểm tra để thực hiện chính sách đối với dân di cư tự

do Các cấp quản lý, cơ quan có thẩm quyền thực hiện chính sách về lĩnh vực của mình bằng công cụ kiểm tra, sử dụng công cụ này đạt hiệu quả Phải tránh tình trạng thực hiện kiểm tra mang tính chiếu lệ, hoặc không có chính kiến rõ ràng trước những sai sót, khiếm khuyết và nhất là phải kiên quyết với các vi phạm pháp luật, công cụ này nếu sử dụng không đúng bản chất của nó thì có tác dụng sai lệch

Nhà nước thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do thông qua báo cáo, hội nghị sơ kết, tổng kết Các hình thức này cũng giúp cho việc đánh giá được hoạt động trong một thời gian nhất định, nhận diện được mặt mạnh cũng như những thiếu sót của các đơn vị Qua tổng kết, cho thấy kết quả việc thực hiện chương trình,

dự án; từ chủ trương đưa vào thực tiễn cuộc sống, thực tiễn kiểm tra lý luận, lý luận được củng cố, điều chỉnh cho phù hợp và có cơ sở chỉ đạo tiếp chương trình, phải

bổ sung, điều chỉnh hoặc phải dừng chương trình

Quá trình hội nhập, giao lưu kinh tế, chính trị, văn hóa với các nước trên thế giới tác động không nhỏ đến sự vận động bên trong của cơ cấu kinh tế và chiến lược phân bố lao động dân cư, đòi hỏi nâng cao vai trò, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, đánh giá của Nhà nước Hơn nữa bằng công cụ kiểm tra, Nhà nước định hướng, hoàn thiện các chính sách đối với dân di cư tự do đáp ứng yêu cầu và thực

Trang 35

1.4.1 Kinh nghiệm của tỉnh Lâm Đồng

Lâm Đồng, một tỉnh miền núi thuộc phía Nam Tây Nguyên, diện tích tự nhiên 9.773,5 km2 Toàn tỉnh có 12 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm 10 huyện và 2 thành phố) 147 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 116 xã và 31 phường, thị trấn), dân

số gần 1,3 triệu người với 43 dân tộc anh em cùng sinh sống; trong đó dân số thành thị là 37,5%, dân số nông thôn là 62,5% Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 24%, riêng đồng bào dân tộc thiểu số tại chổ chiếm gần 17% dân số Trong giai đoạn 2005-2017, số lượng dân di cư tự do đến Lâm Đồng là 2.195 hộ/7.183 khẩu, phần lớn sinh sống trong rừng, ven rừng và sống xen ghép tại các thôn, bản trên địa bàn các huyện Dân di cư tự do đến nhiều nhất là huyện Di Linh 1.552 hộ/4.656 khẩu Đặc biệt, huyện Đam Rông có 319 hộ/1.638 khẩu và đang sống trong các vùng lõi của rừng thuộc xã Liêng S’rônh, chủ yếu là người dân tộc H’Mông di cư đến từ những năm trước và sau khi thành lập huyện Nơi đi của dân di cư tự do đến Lâm Đồng chủ yếu từ các tỉnh miền núi phía Bắc như Lạng Sơn, Lai Châu, Sơn La, Bắc Kạn, Cao Bằng, Hưng Yên, Hòa Bình, Nghệ An Giai đoạn 2017-2020 tỉnh Lâm Đồng đầu tư xây dựng mới 22 dự án, trong đó: 07 dự án bố trí ổn định dân cư vùng

bị thiên tai để sắp xếp, ổn định cho 775 hộ; 06 dự án bố trí sắp xếp dân cư vùng đặc biệt khó khăn để sắp xếp, ổn định cho 1.001 hộ và 09 dự án bố trí sắp xếp dân di cư

tự do còn nhiều khó khăn và sinh sống trong rừng đặc dụng để sắp xếp, ổn định cho 1.452 hộ Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã triển khai các nhiệm vụ:

- Có kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, tạo việc làm để cuộc sống của đồng bào không phải phụ thuộc quá lớn vào sản xuất nông nghiệp; nâng cao chất lượng các chương trình khuyến nông, khuyến lâm nâng cao trình độ canh tác cho người dân, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị

Trang 36

- Tổ chức rà soát, đẩy nhanh tiến độ xem xét công nhận quyền sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân Xử lý dứt điểm các trường hợp lấn chiếm đất đai trong những năm trước đây theo đúng quy định của Luật Đất đai năm 2013, Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai

- Thực hiện nghiêm túc chủ trương Nhà nước chỉ thu hồi đất để triển khai các

dự án phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh vì lợi ích quốc gia, công cộng Đối với các dự án đầu tư ngoài ngân sách thì phải thực hiện thỏa thuận với người có đất bị thu hồi; nhà đầu tư phải có phương án cụ thể, thiết thực, khả thi về các vấn đề: tái định canh, tái định cư, giải quyết việc làm, hỗ trợ phát triển văn hóa, giáo dục; kiên quyết không để người dân không có việc làm, không có đất sản xuất dẫn đến phá rừng, lấn chiếm đất rừng

- Các đơn vị chủ rừng cần tăng cường công tác phối hợp tuần tra, kiểm tra, truy quét trên diện tích được giao quản lý Nhằm kịp thời phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp, đặc biệt tại các khu vực trọng điểm thường xảy ra vi phạm, tránh để xảy ra điểm nóng về công tác quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp

- Các đơn vị chủ rừng cần nâng cao trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp trên diện tích đã được Nhà nước giao, cho thuê theo quy định; đẩy mạnh công tác phối hợp kịp thời, chặt chẽ giữa các ngành chức năng Sau khi lập biên bản kiểm tra cần tiếp tục theo dõi, quản lý vị trí, diện tích vi phạm để

có biện pháp, giải pháp trồng lại rừng, phục hồi tái sinh rừng tự nhiên

Trang 37

1.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Cà Mau

Tỉnh Cà Mau với 3 mặt giáp biển, có tổng chiều dài bờ biển 254 km, từ rạch Tiểu Dừa giáp tỉnh Kiên Giang đến cửa biển Gành Hào giáp tỉnh Bạc Liêu, là tỉnh duy nhất của Việt Nam có cả biển Đông 107 km và biển Tây 147 km, chiếm 7,8% chiều dài bờ biển cả nước, có 08 huyện và 01 thành phố trực thuộc tỉnh

Giai đoạn 2005-2018 toàn tỉnh đã bố trí được 795 hộ/ 2081 hộ dân di cư tự do (đạt 38%), cùng với bố trí ổn định được 812 hộ ở các nhóm đối tượng vùng thiên tai, vùng đặc biệt khó khăn (thực hiện lồng ghép trên 15 dự án được đầu tư xây dựng thuộc chương trình bố trí dân cư theo Quyết định số 1776/QĐ-TTg ngày 21/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Bố trí dân cư các vùng: Thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng giai đoạn 2013 – 2015 và định hướng đến năm 2020)

Trong giai đoạn 2018-2020 và lộ trình tới năm 2025, tỉnh Cà Mau xây dựng chương trình tài chính khoảng 1.500 tỷ đồng để di dời thêm gần 6.900 hộ, trong đó

có khoảng 700 hộ dân di cư tự do vào sinh sống ổn định ở các cụm tuyến dân cư mới Xây dựng 29 dự án 34 khu dân cư theo quy hoạch đến năm 2025

- Tăng cường công tác quản lý hộ tịch hộ khẩu: UBND các xã tăng cường công tác quản lý hộ tịch hộ khẩu, quản lý xây dựng trên địa bàn, phối hợp với Ban quản lý rừng nhất là rừng phòng hộ, ngăn chặn kịp thời tình trạng cất nhà trái phép, hạn chế thấp nhất tình trạng dân di cư tự do đến địa bàn đơn vị quản lý

- Thường xuyên tuyên truyền vận động nhân dân trên địa bàn dân cư để hiểu

rõ chính sách, pháp luật của nhà nước, cùng với chính quyền phát hiện đấu tranh để

Trang 38

30

ngăn chặng dân di cư tự do đến, đồng thời phối hợp cùng với địa phương hỗ trợ các

hộ vào vùng dự án sớm ổn định sản xuất và đời sống

- Trước mắt tập trung nguồn lực đầu tư các khu dân ven biển để có mặt bằng

bố trí dân cư ven biển thuộc đối tượng nguy cơ thiên tai cao theo kế hoạch, đảm bảo

an toàn tính mạng và tài sản cho bà con, giúp bà con sớm ổn định cuộc sống, thích ứng với biến đổi khí hậu

1.4.3 Kinh nghiệm của tỉnh Đắk Nông

Tính đến cuối năm 2017, dân số toàn tỉnh là 157.376 hộ/646.330 nhân khẩu, trong đó dân di cư đến rải rác trong rừng là 38.191/173.973 khẩu Số hộ đã ổn định đời sống là 26.680 hộ/122.220 khẩu Hiện nay còn 11.511 hộ/51.173 khẩu chưa được bố trí, sắp xếp ổn định

Cùng với việc thực hiện các chính sách đối với dân di cư tự do của Trung ương, tỉnh Đắk Lắk tập trung thực hiện một số nọi dung sau:

- Quy hoạch, bố trí sắp xếp ổn định dân di cư tự do; tập trung lồng ghép các nguồn vốn để đầu tư dứt điểm các dự án đã được phê duyệt, đến năm 2020 cơ bản

bố trí ổn định cho 11.511 hộ/51.753 khẩu dân di cư tự do đã đến, trong đó hoàn thành đầu tư 12 dự án đã được phê duyệt để bố trí, sắp xếp cho 7.124 hộ nằm trong vùng quy hoạch; lập thêm một số dự án tập trung, dự án xen ghép để bố trí, sắp xếp cho 4.387 hộ đang sinh sống rải rác ngoài vùng dự án

- Lồng ghép các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ dân di cư

tự do đã được bố trí, sắp xếp, nhập khẩu tại địa phương, giúp người dân nhanh chóng ổn định cuọc sống, phát triển sản xuất và được hưởng các phúc lợi xã hội

- Thu hồi diện đất sử dụng không hiệu quả của các tổ chức, cá nhân, giao cho địa phương quản lý để thực hiện dự án đầu tư được bố trí, sắp xếp vào vùng dự án

- Tăng cường các công tác tuyên truyền, vận động người dân chấp hành các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước và các quy định của địa phương Thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo, đảm bảo cho nhan dân được sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng theo quy định và có sự quản lý của chính quyền địa

Trang 39

31

phương Tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc sinh sống sinh sống trên địa bàn tỉnh phát huy tinh thần đoàn kết, chia sẽ kinh nghiệm, cùng nhau xây dựng quê hương mới; không để xây ra tình trạng phân biệt dân tộc, tôn giáo gây mất tình hìn an ninh, trật tự trên địa bàn

- Phối hợp với các tỉnh có dân di cư tự do dến tỉnh Đắk Nông có những giải pháp bố trí sắp xếp ổn định các hộ đã đến từ các năm trước Kiên quyết không chấp nhận, bàn giao, trả lại nơi đi đối với các hộ dân mới đến

- Ưu tiên bố trí kế hoạch vốn đầu tư phát triển cho các dự án:

+ Các dự án vùng biên giới; dự án tiềm ẩn nguy cơ mất an ninh chính trị trên địa bàn tỉnh;

+ Các dự án đầu tư bố trí dân cư đã hoàn thành các hạng mục thiết yếu nhưng chưa có vốn hỗ trợ di chuyển hỗ trợ dân vùng dự án;

+ Hỗ trợ di dời khẩn cấp các hộ dân ở các vùng có nguy cơ cao về thiên tai (sạt lở đất bờ sông, sạt lở đất núi, luc ống, lũ quét, ngập lũ sâu) đến nơi an toàn; + Hỗ trợ, bố trí sắp xếp ổn định dân di cư tự do ở các khu vực trọng điểm; + Lập thêm một số dự án tập trung, xen ghép để bố trí, sắp xếp ổn định dân di

cư tự do tại các “điểm nóng” trên địa bàn tỉnh

Trang 40

32

Tiểu kết chương 1

Trong Chương 1, tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về di

cư, dân di cư tự do, thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do đã làm rõ được một số khái niệm: Di cư là hiện tượng người dân dịch chuyển từ nơi này đến nơi khác để sinh sống; Di cư tự do là đồng bào chuyển cư ngoài kế hoạch

di dân của Nhà nước Dân di cư hiện không có một định nghĩa thống nhất; Theo Liên Hợp Quốc định nghĩa người di cư là một cá nhân đã cư trú tại một nước hơn một năm, bất kể người đó di cư tự nguyện hay không, hay theo cách được phép hay trái phép; Thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện có hiệu lực và hiệu quả các chính sách đối với dân di cư tự do nhằm đạt được mục tiêu quản lý của Đảng và Nhà nước Tiếp theo, tác giả đưa ra cơ sở lý luận về nội dung thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do, trong đó, tập trung đi sâu vào khái niệm, mục đích và nội dung thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do như: Nhóm chính sách tác động đến di dân có tổ chức và di dân tự do Và cuối cùng, tác giả đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách đối với dân di cư tự

do như: Điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, điều kiện kinh tế Ngoài ra tác giả còn đề cập đến việc thực hiện chính sách đối với dân di cư tự do của một

số tỉnh trong nước và kinh nghiệm cho Việt Nam

Ngày đăng: 04/01/2020, 11:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w