Đây cũng là công trình khoa học nhằm đi sâu tìm hiểu chức năng quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực này trong tình hình đất nước đang trong quá trình hội nhập quốc tế, tại tỉnh Đắk Lắk công
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Thầy giáo PGS.TS Bùi Nguyên Khánh đã tận tình hướng dẫn, tạo
điều kiện thuận lợi và những ý kiến quý báu trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Quý Thầy Cô giáo Khoa Luật, Học viện khoa học xã hội và Quý Thầy
Cô giáo, sự quan tâm, động viên của Lãnh đạo Học viện, Cơ sở Học viện Khoa học xã hội tại thành phố Buôn Ma Thuột
Trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tạo điều kiện về thời gian của cơ quan, nhờ sự khích lệ tinh thần, hỗ trợ kinh phí của đồng nghiệp, bạn bè gần xa Đặc biệt nhờ sự tận tình hướng dẫn, động viên giúp đỡ của quý thầy cô giáo đã giúp tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ này,
sự định hướng, hướng dẫn tên đề tài của quý Lãnh đạo, quý Thầy, Cô giáo Học viện đã dạy bảo tôi những kiến thức hết sức quý báu trong suốt hai năm học Đồng thời được sự quan tâm tạo điều kiện thuận lợi của lãnh đạo Sở Thông tin và Truyền thông, Bưu điện Đắk Lắk, Bưu chính Viettel Đắk Lắk, cán bộ, công chức Phòng Bưu chính – Viễn thông Sở Thông tin và Truyền thông đã cung cấp nhiều thông tin, tài liệu rất cần thiết liên quan đến nội dung của đề tài
Gia đình tôi đã hỗ trợ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn này
Trân trọng!
Tác giả
Phạm Đức Nghị
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Phạm Đức Nghị
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.1 Mục đích của luận văn 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 5
7 Kết cấu luận văn 5
Chương 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LĨNH VỰC BƯU CHÍNH 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của bưu chính 6
1.1.1 Khái niệm về bưu chính 6
1.1.2 Đặc điểm và xu hướng phát triển của dịch vụ bưu chính 8
1.2 Chủ thể quản lý Nhà nước về hoạt động bưu chính 11 1.2.1 Bộ Thông tin và Truyền thông 11
1.2.2 Sở Thông tin và Truyền thông 14 1.3 Nội dung quản lý Nhà nước về bưu chính 15 1.3.1 Đặc điểm, yêu cầu quản lý Nhà nước về bưu chính 15
1.1.2 Phương pháp quản lý Nhà nước về hoạt động bưu chính 20
Tiểu kết chương 1 21
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LĨNH VỰC BƯU CHÍNH TẠI ĐẮK LẮK 22 2.1 Thực trạng pháp luật về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bưu chính 22
Trang 51.1.3 2.1.1 Về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Đắk Lắk 22
2.1.2 Cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính 23
2.1.3 Đầu tư kinh doanh dịch vụ bưu chính 25
2.1.4 Quản lý Nhà nước về chất lượng dịch vụ và giá cước dịch vụ 26
2.1.5 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính, người sử dụng dịch vụ bưu chính 27
2.1.6 Quản lý Nhà nước về hoạt động bưu chính công ích 28
2.1.7 Quản lý Nhà nước về tem bưu chính 29
2.1.8 Giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại trong cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính 30
2.2 Thực tiễn quản lý Nhà nước về lĩnh vực bưu chính tại Đắk Lắk 30 2.2.1 Xây dựng và chỉ đạo quy hoạch phát triển bưu chính 32
2.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bưu chính 36
2.2.3 Ban hành và tổ chức các văn bản quy phạm pháp luật 37
2.2.4 Về công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng, tăng cường quản lý Nhà nước trên địa bàn 41
2.2.5 Quản lý an toàn an ninh thông tin hoạt động bưu chính 41
2.2.6 Quản lý giá cước và chất lượng bưu chính 43
2.2.7 Quản lý các công tác liên quan đến việc cấp và đổi giấy phép và thông báo hoạt động bưu chính 44
2.2.8 Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bưu chính 45
2.2.9 Cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực bưu chính tại Đắk Lắk 46
2.3 Đánh giá về thực trạng quản lý Nhà nước về lĩnh vực bưu chính tại Đắk Lắk 53
2.3.1 Những kết quả đạt được 53
2.3.2 Những hạn chế, yếu kém 55
Trang 62.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 56
Tiểu kết chương 2 57
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LĨNH VỰC BƯU CHÍNH TẠI ĐẮK LẮK 58
3.1 Phương hướng hoàn thiện 58
3.1.1 Định hướng phát triển 59
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 60
3.2 Giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước về bưu chính tại Đắk Lắk 61
3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của UBND tỉnh Đắk Lắk đối với công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bưu chính 61
3.2.2 Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý Nhà nước về bưu chính 62
3.2.3 Xây dựng cơ chế và quy chế phối hợp giữa Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh với các sở, ban, ngành và các đơn vị hành chính có liên quan của tỉnh và giám sát việc thực thi các quy chế 62
3.2.4 Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý Nhà nước về bưu chính 62
3.2.5 Sử dụng các biện pháp quản lý tuyên truyền giáo dục, xây dựng các cơ chế chính sách và biện pháp hành chính phù hợp 63
3.2.6 Giải pháp từ phía Bộ Thông tin và Truyền thông, Chính phủ 64
3.2.7 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định hiện hành về bưu chính đối với các doanh nghiệp bưu chính tại Đắk Lắk 67
Tiểu kết chương 3 68
KẾT LUẬN 69
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATM Automated Teller Machine (máy giao dịch tự động) BĐT Bưu điện tỉnh
CBCNV Cán bộ công nhân viên
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
EMS Chuyển phát nhanh
TTTT Thông tin và truyền thông
VNPT Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam
VNPost Tổng công ty Bưu điện Việt Nam
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Doanh thu bưu chính Đắk Lắk từ năm 2014 - 2018 50
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhiệm vụ Quản lý Nhà nước về lĩnh vực bưu chính của ngành thông tin
và truyền thông nói chung và tại tỉnh Đắk Lắk nói riêng đã có nhiều thay đổi
do nền kinh tế Nhà nước chuyển đổi từ quản lý bao cấp tập trung sang quản lý theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế thế giới
Với mục tiêu xây dựng thành phố Buôn Ma Thuột và tỉnh Đắk Lắk trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của khu vực Tây Nguyên và Miền Trung theo Kết luận 60-KL/TW ngày 27/11/2009 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Buôn Ma Thuột thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên giai đoạn 2010-
2020, phương hướng phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 Trong nhiều năm qua, tỉnh Đắk Lắk nhận được sự quan tâm của Nhà nước, Chính phủ, các Bộ, ban, ngành, các nhà đầu tư đã xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó
có lĩnh vực bưu chính Nhờ vậy mà hạ tầng bưu chính của tỉnh ngày càng được cải thiện và có những bước chuyển biến vượt bậc, có quy mô rộng lớn
và hiện đại Bưu chính phát triển theo hướng đa dạng, phong phú với chất lượng cao và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng của tỉnh Đắk Lắk và khu vực Tây Nguyên và hội nhập kinh tế quốc tế
Thành quả đạt được lĩnh vực bưu chính trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và trong thời kỳ xây dựng đất nước và hội nhập kinh tế thế giới đáng được ghi nhận Tuy nhiên, trong những năm gần đây với sự phát triển nhanh chóng về công nghệ thông tin, đòi hỏi công tác quản lý Nhà nước
về lĩnh vực bưu chính cần phải được chú trọng quan tâm cả trước mắt và lâu dài Trong thực tiễn những năm qua, công tác quản lý Nhà nước về lĩnh bưu
Trang 10chính tại tỉnh Đắk Lắk đã được tăng cường và hoàn thiện về cơ chế và chính sách, pháp luật về lĩnh vực bưu chính
Quản lý hoạt động bưu chính tại tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua vẫn chưa mang lại kết quả cao Phân cấp quản lý từ Trung ương đến cấp huyện còn chưa rõ ràng, chồng chéo nhất là việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật, nguồn nhân lực còn thiếu, chưa tinh sâu về chuyên môn nghiệp vụ nhất là cấp
huyện, ngân sách dành cho quản lý bưu chính chưa được bố trí đầy đủ
Do vậy, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh Đắk Lắk luôn quan tâm đến hiệu quả và hiệu lực quản lý Nhà nước về hoạt động bưu chính, định hướng thị trường phát triển theo hướng lành mạnh, bền vững, nhằm mang lại lợi ích cho tỉnh, doanh nghiệp, người dân và đồng thời tạo điều kiện để hoạt động bưu chính phát triển được thống nhất, có sự phối hợp đồng bộ với các ngành liên quan Từ đó thúc đẩy bưu chính phát triển, đáp ứng nhu cầu của xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng trên địa bàn tỉnh xứng đáng là tỉnh trung tâm vùng Tây Nguyên và Miền Trung Từ yêu cầu trên với những kiến thức, nghiên cứu, theo học ở Cơ sở Học viện khoa học xã hội Việt Nam tại thành phố Buôn Ma thuột, đồng thời dựa trên mục tiêu và định hướng để phát triển
nên tác giả chọn đề tài: “Quản lý Nhà nước về bưu chính từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” làm luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trước năm 1986 lĩnh vực bưu chính mang tính chất phục vụ, ở Trung ương thuộc Tổng cục Bưu điện quản lý, ở cấp tỉnh chưa có cơ quan quản lý chuyên ngành, chưa phân cấp, chủ yếu giao nhiệm vụ cho Bưu điện tỉnh thực hiện nhiệm vụ vừa quản lý, vừa kinh doanh dịch vụ Ở nước ta các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này sau năm 1986 cũng còn hạn chế do lĩnh vực này còn mới, công tác quản lý nhà nước mới thực sự khi nền kinh tế chuyển đổi,
có một số luận án, luận văn có nội dung liên quan với đề tài nghiên cứu của
Trang 11Luận văn, cụ thể:
- Luận án tiến sỹ chính trị học công bố năm 2004 của Tiến sỹ Trần Đức
Lai với đề tài “Quyền lực Nhà nước đối với lĩnh vực bưu chính viễn thông trong quá trình hội nhập và phát triển của Việt Nam”
- Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Việt Sơn năm 2015: “Quản lý Nhà nước về lĩnh vực bưu chính từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng ”
Mặc dù đề tài này không nghiên cứu trực tiếp về lĩnh vực quản lý Nhà nước về bưu chính, nhưng đây cũng là một đề tài có nội dung liên quan đến các vấn đề nghiên cứu về phát triển ngành bưu chính tại địa phương Việc tác
giả chọn tên đề tài “Quản lý Nhà nước về bưu chính từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” được thực hiện trong khuôn khổ của một Luận văn thạc sĩ luật học tại
Học Viện khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là có ý nghĩa thời sự và đảm bảo tính mới và tính thực tiễn Đây cũng là công trình khoa học nhằm đi sâu tìm hiểu chức năng quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực này trong tình hình đất nước đang trong quá trình hội nhập quốc tế, tại tỉnh Đắk Lắk công tác quản lý Nhà nước về bưu chính viễn thông nói chung và về bưu chính nói riêng thực sự bắt đầu khi thành lập Sở Bưu chính Viễn thông, nay là Sở thông tin và Truyền thông vào tháng 6 năm 2005 và có hiệu quả khi
có Luật Bưu chính được ban hành vào năm 2010, từ đó có những đề xuất, sự điều chỉnh thay đổi của Nhà nước đối với lĩnh vực bưu chính cho phù hợp với thực tế để hoàn thiện hơn nữa về chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực bưu chính trong những năm tiếp theo
Hiện chưa có đề tài nghiên cứu về Quản lý Nhà nước về bưu chính từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk tại tỉnh Đắk Lắk
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của luận văn
Mục đích của Luận văn là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về
Trang 12quản lý Nhà nước về bưu chính; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn quản lý Nhà nước về bưu chính tại tỉnh Đắk Lắk; trên cơ sở đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước về lĩnh vực bưu chính ở Đắk Lắk trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận quản lý Nhà nước về bưu chính;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật quản lý Nhà nước về bưu chính ở Việt Nam hiện nay;
- Phân tích, đánh giá thực tiễn quản lý Nhà nước về bưu chính tại tỉnh Đắk Lắk;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước về lĩnh vực bưu chính tại Đắk Lắk trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận, luận văn đi sâu nghiên cứu những vấn đề về lý luận
về quản lý Nhà nước đối với hoạt động bưu chính ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, nghiên cứu thực tiễn công tác quản lý Nhà nước về bưu chính trong thời gian qua của Bộ Thông tin Truyền thông và các bộ, ngành, địa phương liên quan
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Quản lý Nhà nước về bưu chính từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk là một vấn đề mới, nên trong quá trình nghiên cứu luận văn tác giả
có tìm hiểu tổng quát về quản lý Nhà nước về lĩnh vực bưu chính trên cả nước
và các doanh nghiệp hoạt động về bưu chính tại tỉnh Đắk Lắk
- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu quản lý Nhà nước về lĩnh vực bưu chính tại tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018
Trang 135 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Lý luận: Dùng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
Lý luận là những luận điểm trong học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các cương lĩnh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới lĩnh vực thông tin và truyền thông
- Các phương pháp: Duy vật biện chứng, trừu tượng hoá, phương pháp phân tích, thống kê kết hợp logic với lịch sử, phân tích với tổng hợp Sử dụng phương pháp kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có, kết hợp với khảo sát đánh giá thực tế, thu thập thông tin, tài liệu để hoàn thiện nội dung luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Cơ bản luận văn đã nêu được những nội dung liên quan đến nhiệm vụ quản lý Nhà nước về lĩnh vực bưu chính Các nhiệm vụ, yêu cầu trong công tác quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực bưu chính Trên cơ sở thực tiễn tác giả
đã đề xuất bổ sung thêm các giải pháp nhằm làm sáng tỏ và hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực bưu chính tại địa phương tỉnh Đắk Lắk
trong giai đoạn các năm tiếp theo
7 Kết cấu luận văn
Bố cục của Luận văn, ngoài các phần như: mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật của quản lý Nhà nước về lĩnh vực bưu chính
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn quản lý Nhà nước về lĩnh vực bưu chính tại Đắk Lắk
Chương 3: Phương hướng, giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước về
lĩnh vực bưu chính tại Đắk Lắk
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ LĨNH VỰC BƯU CHÍNH
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của bưu chính
1.1.1 Khái niệm về bưu chính
Trải qua hơn 70 năm hình thành và phát triển (từ 1945 đến nay) ngành thông tin và truyền thông đã đổi tên nhiều lần Các khái niệm về bưu chính cũng được thay đổi và được bổ sung, về cơ bản theo Luật Bưu chính năm 2010:
- Theo Điều 3, Khoản 1: “Hoạt động bưu chính gồm các hoạt động đầu
tư, kinh doanh, cung ứng, sử dụng dịch vụ bưu chính, dịch vụ bưu chính công ích, tem bưu chính”
- Theo Điều 3, Khoản 2: “Bưu gửi bao gồm thư, gói, kiện hàng hoá được chấp nhận, vận chuyển và phát hợp pháp qua mạng bưu chính”
- Theo Điều 3, Khoản 3: “Dịch vụ bưu chính là dịch vụ chấp nhận, vận chuyển và phát bưu gửi bằng các phương thức từ địa điểm của người gửi đến địa điểm của người nhận qua mạng bưu chính, trừ phương thức điện tử”
- Theo Điều 3, Khoản 4: “Dịch vụ bưu chính công ích là dịch vụ bưu chính được cung ứng theo yêu cầu của Nhà nước, gồm dịch vụ bưu chính phổ cập, dịch vụ bưu chính phục vụ quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ đặc thù khác”
- Theo Điều 3, Khoản 5: “Dịch vụ bưu chính phổ cập là dịch vụ bưu chính được cung ứng thường xuyên đến người dân theo các điều kiện về khối lượng, chất lượng và giá cước do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định”
- Theo Điều 3, Khoản 6: ”Thư là thông tin trao đổi dưới dạng văn bản viết tay hoặc bản in, có địa chỉ nhận hoặc không có địa chỉ nhận, trừ ấn phẩm định kỳ, sách, báo, tạp chí”
Trang 15- Theo Điều 3, Khoản 7: “Thư không có địa chỉ nhận là thư không có thông tin liên quan đến người nhận trên thư, trên bao bì của thư, bao gồm cả thư để quảng cáo, tuyên truyền”
- Theo Điều 3, Khoản 8: “Dịch vụ thư cơ bản là dịch vụ thư không có các yếu tố làm tăng thêm giá trị của dịch vụ”
- Theo Điều 3, Khoản 9: “Mạng bưu chính là hệ thống cơ sở khai thác bưu gửi, điểm phục vụ bưu chính được kết nối bằng các tuyến vận chuyển và tuyến phát để cung ứng dịch vụ bưu chính”
- Theo Điều 3, Khoản 10: “Mạng bưu chính công cộng là mạng bưu chính do Nhà nước đầu tư và giao cho doanh nghiệp được chỉ định quản lý, khai thác”
- Theo Điều 3, Khoản 11: “Điểm phục vụ bưu chính là nơi chấp nhận, phát bưu gửi, gồm bưu cục, kiốt, đại lý, thùng thư công cộng và hình thức khác để chấp nhận, phát bưu gửi”
- Theo Điều 3, Khoản 12: “Thùng thư công cộng là điểm phục vụ bưu chính thuộc mạng bưu chính công cộng được dùng để chấp nhận thư cơ bản”
- Theo Điều 3, Khoản 13: “Hộp thư tập trung là tập hợp các hộp thư gia đình được lắp đặt tại vị trí thuận lợi cho việc phát và nhận bưu gửi của chung
cư cao tầng, toà nhà văn phòng có nhiều địa chỉ nhận thư độc lập”
- Theo Điều 3, Khoản 14: “Thời gian toàn trình của bưu gửi là khoảng thời gian tính từ khi bưu gửi được chấp nhận cho đến khi được phát cho người nhận”
- Theo Điều 3, Khoản 15: “Thông tin về sử dụng dịch vụ bưu chính gồm nội dung bưu gửi, thông tin về họ tên, địa chỉ, số điện thoại (nếu có) của người gửi, người nhận và các thông tin có liên quan”
- Theo Điều 3, Khoản 16: “Người sử dụng dịch vụ bưu chính là tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ bưu chính, bao gồm người gửi và người nhận”
Trang 16- Theo Điều 3, Khoản 17: “Người gửi là tổ chức, cá nhân có tên tại phần ghi thông tin về người gửi trên bưu gửi, trên hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính”
- Theo Điều 3, Khoản 18: “Người nhận là tổ chức, cá nhân có tên tại phần ghi thông tin về người nhận trên bưu gửi, trên hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính”
- Theo Điều 3, Khoản 19: “Doanh nghiệp được chỉ định là doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính được Nhà nước chỉ định để thực hiện nghĩa vụ bưu chính công ích và tham gia hoạt động cung ứng dịch vụ bưu chính quốc tế, các dịch vụ khác trong khuôn khổ điều ước quốc tế của Liên minh Bưu chính Thế giới, điều ước quốc tế khác trong lĩnh vực bưu chính mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”
- Theo Điều 3, Khoản 20: “Tem Bưu chính Việt Nam là ấn phẩm do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về bưu chính của Việt Nam quyết định phát hành để thanh toán trước giá cước dịch vụ bưu chính trên mạng bưu chính công cộng và được công nhận trong mạng lưới của Liên minh Bưu chính Thế giới”
- Theo Điều 3, Khoản 21: “Tem bưu chính nước ngoài là ấn phẩm do các nước thành viên của Liên minh Bưu chính Thế giới phát hành để thanh toán trước giá cước dịch vụ bưu chính và được công nhận trong mạng lưới của Liên minh Bưu chính Thế giới”
1.1.2 Đặc điểm và xu hướng phát triển của dịch vụ bưu chính
Bưu chính Việt Nam đã tham gia là thành viên liên minh bưu chính thế
giới (viết tắt là UPU) vào ngày 15/3/1976 do Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam kế thừa quyền thành viên của chế độ Sài Gòn
đã gia nhập UPU ngày 20/10/1951 Ngày 23/8/1976, Nước CHXHCN Việt Nam tuyên bố tham gia các hoạt động của UPU Từ đó cho đến nay, Việt
Trang 17Nam đã tham gia nhiều hoạt động của UPU, đã ký và phê duyệt các Hiệp định sửa đổi và bổ sung của UPU sau Đại hội UPU tổ chức tại Bắc Kinh (Trung Quốc) năm 1999 Việt Nam đã trúng cử vào Hội đồng Điều hành của UPU các nhiệm kỳ 1999-2002, 2005-2008, 2013-2016, 2017-2020 và có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển của UPU nói chung
Qua nghiên cứu, khảo sát lý luận về quản lý Nhà nước về bưu chính và thực tiễn tổ chức quản lý của các quốc gia trên thế giới, thực tiễn tổ chức quản
lý Nhà nước về bưu chính tại Việt Nam đã cho phép khái quát đặc điểm của dịch vụ bưu chính như sau:
- Đặc điểm chung của sản phẩm dịch vụ bưu chính
Dịch vụ bưu chính có sự tham gia của khách hàng vào công đoạn đầu của quá trình cung cấp dịch vụ Ví dụ, khách hàng trả tiền gửi bưu phẩm trước khi bưu phẩm được phát đến người nhận Do đó, không thể đổi lại dịch vụ nếu lần sử dụng đó không đạt yêu cầu Bởi vậy, thái độ phục vụ của nhân viên
và thực hiện cung cấp dịch vụ đúng công bố sẽ ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ lần sau của khách hàng Điều đó đòi hòi lĩnh vực bưu chính phải đặc biệt coi chữ tín với khách hàng là yêu cầu số một để phát triển thị trường Ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển dịch vụ bưu chính Ví dụ: thư cá nhân dễ bị thay thế bằng phương thức liên lạc điện thoại, dịch vụ datapost, dịch vụ chuyển tiền nhanh muốn phát triển được phải có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin… nên bưu điện cần phải đổi mới dịch vụ liên tục, nhằm vào các dịch vụ sử dụng công nghệ thông tin thì mới cạnh tranh được với các đối thủ khác
- Đặc điểm nổi trội của sản phẩm dịch vụ bưu chính công ích
+ Tính phổ cập: tính phổ cập của dịch vụ có nghĩa là nhà cung cấp dịch
vụ bưu chính phải cung cấp dịch vụ trên phạm vi toàn lãnh thổ: vùng đồng bằng, vùng trung du, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa… mà không có quyền
Trang 18lựa chọn khu vực cung cấp dịch vụ;
+ Tính thống nhất của giá cước: Có nghĩa là phải chuyển phát bưu phẩm theo một mức cước nhất định Điều đó có nghĩa nhà cung cấp dịch vụ bưu chính không được phép định giá dịch vụ cho những khu vực có chi phí cao + Tính thống nhất của chất lượng dịch vụ: Dù phải cung cấp dịch vụ trên toàn phạm vi lãnh thổ với một mức giá cước nhất định nhưng nhà cung cấp dịch vụ vẫn phải đảm bảo tiêu chuẩn nhất định về chất lượng dịch vụ Các đặc điểm kể trên dẫn đến khi cung cấp dịch vụ bưu chính công ích sẽ có những vùng doanh nghiệp phải bỏ ra nhiều chi phí để đảm bảo tiêu chuẩn nhưng doanh thu lại rất thấp Nhưng không thể bỏ cung cấp dịch vụ ở những khu vực này được
Đối với các doanh nghiệp vừa phải tự hạch toán kinh doanh, vừa phải đảm bảo cung ứng dịch vụ công ích sẽ buộc phải đẩy mạnh phần kinh doanh
để bù cho lĩnh vực công ích Tuy nhiên, nếu phần công ích quá lớn thì khả năng bù đắp sẽ rất khó thành hiện thực Khó khăn nữa là ở phần kinh doanh
có sự cạnh tranh của các đối thủ trong khi năng lực về con người, tài chính… của doanh nghiệp phải chia sang lĩnh vực công ích nên phần nào giảm sức mạnh của doanh nghiệp trên thị trường
- Đặc điểm nổi trội của sản phẩm dịch vụ phi công ích
Dịch vụ kinh doanh không được bù lỗ chi phí và mang tính cạnh tranh cao, nên khi nghiên cứu dịch vụ đòi hỏi cả một quy trình chặt chẽ về thị trường, giá cả… để đảm bảo việc đưa ra cung cấp dịch vụ đạt được hiệu quả Trong quá trình cung cấp dịch vụ doanh nghiệp cần phải thường xuyên kiểm tra, tổng kết đánh giá xem dịch vụ có hiệu quả hay không từ đó mới có thể quyết định tiếp tục hay dừng cung cấp dịch vụ trên thị trường
Dịch vụ được cung cấp theo phân khúc thị trường, có nghĩa là cung cấp cho một số đối tượng khách hàng nào đó có nhu cầu về dịch vụ mà không
Trang 19phải cho mọi đối tượng khách hàng Ví dụ như: dịch vụ Datapost chỉ dành cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng các dữ liệu điện tử Hoặc dịch vụ quảng cáo chỉ dành cho các khách hàng có nhu cầu quảng cáo ở nhiều địa điểm khác nhau
- Hoạt động kinh doanh bưu chính mang tính dây chuyền, tải trọng
không đồng đều theo không gian và thời gian
Nhu cầu về truyền đưa tin tức rất đa dạng, nó xuất hiện không đồng đều
về không gian và thời gian, giữa tỉnh này với tỉnh khác, giữa các giờ trong ngày, giữa các ngày trong tuần, giữa các tháng trong năm Tiêu chí của ngành thông tin và truyền thông là phải đảm bảo lưu thoát hết khối lượng nghiệp vụ trong mọi tình huống Vì vậy, để đảm bảo lưu thoát hết mọi nhu cầu về truyền đưa tin tức cần phải bố trí hợp lý về con người và phương tiện
1.2 Chủ thể quản lý Nhà nước về hoạt động bưu chính
- Ở Trung ương: Chính phủ là cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động bưu chính trong phạm vi cả nước Bộ Thông tin và Truyền thông được Chính phủ giao nhiệm vụ thực hiện quản lý Nhà nước về hoạt động bưu chính Các
Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý Nhà nước về hoạt động bưu chính theo phân công của Chính phủ
- Ở địa phương: Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được Chính phủ giao thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về hoạt động bưu chính tại địa phương
1.2.1 Bộ Thông tin và Truyền thông
1.2.1.1 Vị trí và chức năng
Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về báo chí, xuất bản; bưu chính và chuyển phát; bưu chính và internet; truyền dẫn phát sóng; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin, điện tử; phát thanh và truyền hình và cơ sở hạ tầng thông tin truyền
Trang 20thông quốc gia; quản lý Nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi chức năng quản lý Nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông
1.2.1.2 Trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông trong quản lý Nhà nước đối với hoạt động bưu chính
- Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Chính phủ và các dự án, đề án theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, trung hạn, hàng năm, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hành động và các dự án, công trình quan trọng quốc gia, chương trình,
đề án về cung cấp dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực, các quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ
- Được quyền ban hành các thông tư, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác về quản lý ngành thông tin và truyền thông, lĩnh vực thuộc phạm vi quản
lý Nhà nước của Bộ, trong đó có lĩnh vực bưu chính
- Chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
đã được phê duyệt thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ, thông tin, tuyên truyền, phố biến, giáo dục pháp luật về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ
- Trình Chính phủ ban hành quy định cụ thể về điều kiện, hình thức đầu
tư, hoạt động thương mại trong cung ứng dịch vụ bưu chính, điều kiện, thẩm quyền, thủ tục cấp, sửa đổi, bổ sung, cấp lại giấy phép bưu chính, văn bản xác nhận thông báo hoạt động bưu chính, bồi thường thiệt hại trong cung ứng và
Trang 21sử dụng dịch vụ bưu chính, tem bưu chính, xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động bưu chính, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định danh mục dịch vụ bưu chính công ích, cơ chế hỗ trợ dịch vụ bưu chính công ích, mạng bưu chính phục vụ cơ quan Đảng, Nhà nước, quản lý giá cước dịch vụ bưu chính, lộ trình giảm dần và thời điểm kết thúc phạm vi dịch vụ bưu chính dành riêng
- Ban hành những quy định cụ thể về mã bưu chính Quốc gia, dấu ngày (dấu nhật ấn), bưu gửi không phát được, chuyển tiếp, chuyển hoàn bưu gửi, các trường hợp không cần giấy phép bưu chính, văn bản xác nhận thông báo hoạt động, báo cáo thống kê trong hoạt động bưu chính, khiếu nại trong cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ bưu chính
- Quy định danh mục dịch vụ bưu chính, giá cước dịch vụ bưu chính công ích sau khi thống nhất với Bộ Tài chính Phối hợp với Bộ Tài chính quy định về xuất khẩu, nhập khẩu bưu gửi Xử lý bưu gửi không có người nhận miễn, giảm giá cước dịch vụ bưu chính và tổ chức thực hiện việc miễn giảm Xây dựng các danh mục dịch vụ bưu chính phải thực hiện đăng ký giá
- Phối hợp với các bộ khác để thực hiện việc quản lý Nhà nước về bưu chính gồm: Phối hợp với Bộ Công thương quy định về hướng dẫn hoạt động khuyến mãi và giải quyết cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ bưu chính Phối hợp với Bộ Xây dựng quy định về lắp đặt thùng thư công cộng, hộp thư tập trung tại khu đô thị, khu dân cư tập trung, chung cư cao tầng, tòa nhà văn phòng Phối hợp với Bộ Công an quy định về nguyên tắc, điều kiện đình chỉ, tạm đình chỉ vận chuyển, phát bưu gửi, kiểm tra, xử lý bưu gửi và yêu cầu cung cấp thông tin về sử dụng dịch vụ bưu chính; về mạng bưu chính phục vụ
an ninh Phối hợp với Bộ Quốc phòng quy định về mạng bưu chính phục vụ quốc phòng và phối hợp với các bộ, ngành có liên quan hướng dẫn về xử lý hàng lậu, hàng cấm gửi qua đường bưu chính
Trang 22- Phối hợp với UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để hướng dẫn lập quy hoạch và trình tự, thủ tục phê duyệt quy hoạch mạng bưu chính công cộng tại địa phương
1.2.2 Sở Thông tin và Truyền thông
1.2.2.1 Vị trí và chức năng
Sở Thông tin và Truyền thông Đắk Lắk được thành lập theo Quyết định
số 612/QĐ-UBND ngày 16/3/2017 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Thông tin và Truyền thông, là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện quản lý Nhà nước trên địa bàn tỉnh về: báo chí; xuất bản; bưu chính và chuyển phát; viễn thông và internet; truyền dẫn phát sóng; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin, điện tử; phát thanh
và truyền hình; cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông; quảng cáo trên báo chí, mạng thông tin máy tính và xuất bản phẩm; các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Sở; thực hiện một số nhiệm vụ quyền hạn theo sự phân cấp, uỷ quyền của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh và theo quy định của pháp luật
1.2.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn trong hoạt động bưu chính
Trình UBND tỉnh: Dự thảo quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, 05 năm và hàng năm, chương trình, đề án về bưu chính; chương trình, biện pháp
tổ chức thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính Nhà nước, phân cấp quản lý,
xã hội hoá về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý Nhà nước được giao; Dự thảo quyết định, chỉ thị thuộc thẩm quyền ban hành của UBND tỉnh về các lĩnh vực bưu chính
Trình Chủ tịch UBND tỉnh: Dự thảo quyết định, chỉ thị thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch UBND tỉnh về bưu chính Dự thảo quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể các đơn vị thuộc thẩm quyền của Sở theo quy định của pháp luật
Trang 23Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch phát triển, các chương trình, đề án, dự án, tiêu chuẩn quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật về bưu chính đã được phê duyệt;
tổ chức thực hiện công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Sở
Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức việc thực hiện công tác bảo đảm an ninh
an toàn trong hoạt động bưu chính và chuyển phát trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật Phối hợp với cơ quan liên quan như: Công an tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công thương … kiểm tra việc thực hiện các quy định về áp dụng tiêu chuẩn, chất lượng dịch vụ, an ninh, an toàn thông tin trong bưu chính trên địa bàn tỉnh;
Xác nhận thông báo hoạt động kinh doanh dịch vụ chuyển phát bằng văn bản cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ chuyển phát trong phạm vi của tỉnh Cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư theo thẩm quyền Phối hợp triển khai công tác quản lý Nhà nước về tem bưu chính trong địa bàn tỉnh
1.3 Nội dung quản lý Nhà nước về bưu chính
1.3.1 Đặc điểm, yêu cầu quản lý Nhà nước về bưu chính
- Nhà nước có nhiệm vụ xây dựng cơ chế, chính sách, ban hành luật …
để điều chỉnh lĩnh vực bưu chính
- Các cơ quan quản lý của Nhà nước sử dụng pháp luật để quản lý các hoạt động lĩnh vực bưu chính
Những yêu cầu và đặc điểm chính sau:
* Thứ nhất, dịch vụ bưu chính công ích phải do Nhà nước thực hiện
Dịch vụ bưu chính công ích nhằm phục vụ nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân đều có quyền tiếp cận, có quyền thụ hưởng và bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ Nhà
Trang 24nước có trách nhiệm bảo đảm cung ứng các dịch vụ này cho xã hội, thông qua việc Nhà nước tổ chức doanh nghiệp công đảm nhiệm cung cấp, hoặc Nhà nước giao cho một doanh nghiệp đủ điều kiện thực hiện
Để đảm bảo quyền được trao đổi thông tin thiết yếu qua bưu chính, Nhà nước có trách nhiệm cung ứng dịch vụ bưu chính phổ cập công ích một cách liên tục, có chất lượng đến mọi người dân với giá cước phù hợp Loại dịch vụ này mang tính phục vụ cao nên khó có thể thực hiện trong môi trường cạnh tranh, do khó thu hồi vốn và không có lợi nhuận Đây chính là lý do khiến cho các doanh nghiệp không đầu tư kinh doanh vào mảng dịch vụ này Do đó, nếu Nhà nước không thực hiện cung ứng dịch vụ công ích thì không có doanh nghiệp nào làm
Theo Điều 3 của Công ước Liên minh Bưu chính Thế giới mà Việt Nam là thành viên thì các nước thành viên phải đảm bảo để tất cả mọi công dân đều có quyền được hưởng dịch vụ bưu chính phổ cập ở khắp mọi nơi trên lãnh thổ nước mình
* Thứ hai, Nhà nước chỉ giao cho một doanh nghiệp thực hiện nghĩa
vụ cung ứng dịch vụ bưu chính công ích
Để bảo đảm quyền được trao đổi thông tin thiết yếu của người dân về bưu chính và để mọi người dân có thể tiếp cận, sử dụng dịch vụ bưu chính cơ bản ở khắp mọi nơi thì mạng lưới cung ứng dịch vụ phải rộng khắp, đặc biệt
là ở những vùng kinh tế còn nhiều khó khăn Tuy nhiên, do các doanh nghiệp ngại đầu tư cung ứng dịch vụ bưu chính công ích (vì kinh doanh không có lãi
và khó thu hồi vốn) nên rất cần sự đầu tư của Nhà nước Mặt khác, hiện tại, tình hình kinh tế xã hội cũng như bưu chính của Việt Nam nhiều vùng phát triển còn thấp, đặc biệt là những vùng nghèo, Nhà nước cần tập trung đầu tư cho một doanh nghiệp có đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ cung ứng dịch vụ bưu chính công ích để đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư của Nhà nước, tập trung
Trang 25lưu lượng, tận dụng mạng lưới đã đầu tư, giảm bớt gánh nặng chi phí và sự hỗ trợ của Nhà nước
Luật Bưu chính 2010 có quy định cụ thể về trách nhiệm của doanh nghiệp được chỉ định cung ứng dịch vụ bưu chính công ích Trách nhiệm này
hiện nay được giao cho Tổng công ty Bưu chính Việt Nam (là doanh nghiệp
đã được Nhà nước đầu tư và giao cho quản lý mạng bưu chính công cộng để thực hiện nghĩa vụ về bưu chính công ích hơn 70 năm qua, cũng như để thực hiện nghĩa vụ duy trì dịch vụ phổ cập của Việt Nam trong mạng bưu chính quốc tế theo yêu cầu của Liên minh Bưu chính Thế giới)
Hiện nay, đa số các nước thành viên Liên minh Bưu chính Thế giới đều giao duy nhất cho doanh nghiệp bưu chính quốc gia nước mình thực hiện nghĩa vụ công ích trong bưu chính Ở nhiều nước, việc chỉ định doanh nghiệp bưu chính quốc gia cung ứng dịch vụ bưu chính công ích còn được quy định ngay trong Luật Bưu chính (như Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ );
* Thứ ba, Nhà nước duy trì việc cấp giấy phép cung ứng dịch vụ bưu chính
Giấy phép kinh doanh trong lĩnh vực bưu chính là sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà cá nhân, tổ chức phải có để tiến hành một hoặc một số hoạt động kinh doanh nhất định Giấy phép bưu chính cũng như các giấy phép kinh doanh khác nhằm mục đích bảo vệ người tiêu dùng và đảm bảo an ninh quốc gia
Việc cấp phép chuyển phát thư gắn liền với việc bảo vệ bí mật thư tín
và quyền trao đổi thông tin của công dân như đã được đưa ra tại Điều 12 của Bản Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên Hợp quốc năm 1948
"Không ai bị can thiệp một cách độc đoán đối với cuộc sống riêng tư, gia
đình, nơi ở hay thư tín của cá nhân người đó, cũng như không bị xâm phạm
Trang 26tới danh dự và uy tín Mọi người đều được pháp luật bảo vệ chống lại những hành vi can thiệp hoặc xâm phạm"
Quyền được trao đổi thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người và điều này cũng được thể hiện rõ trong Công ước của Liên minh Bưu chính Thế giới thông qua quy định thư có trọng lượng đến 2kg và yêu cầu các nước thành viên phải đảm bảo để tất cả người sử dụng đều có quyền được cung cấp dịch vụ bưu chính cơ bản, có chất lượng, với giá cước hợp lý Ngoài ra, việc đảm bảo bí mật thư tín và quyền thông tin của công dân đã được thể chế hoá trong Hiến pháp 2013 cũng như các quy định khác của pháp luật như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự cũng như các quy định chuyên ngành
Việc đặt ra mục tiêu bảo vệ phạm vi dành riêng được coi là một trong những giải pháp quan trọng nhằm đảm bảo duy trì một cách hiệu quả và lâu dài việc cung ứng dịch vụ phổ cập của Nhà nước Trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập WTO với cam kết đạt được mảng dịch vụ dành riêng là thông tin dạng văn bản có địa chỉ nhận và có khối lượng đến 2 kg, thì
việc bảo vệ phạm vi dành riêng đã có cơ sở pháp lý rõ ràng và mang ý nghĩa
rất tích cực trong việc minh bạch hoá chính sách quản lý thị trường, đồng thời cũng tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý Nhà nước trong quá trình điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính trên thị trường
Cấp phép bưu chính là hình thức quản lý phổ biến nhằm thúc đẩy sự
phát triển của thị trường theo mục tiêu của từng nước Đa phần các nước có
mục tiêu cấp phép là nhằm đảm bảo quyền trao đổi thông tin, bí mật thư tín của công dân Điều này lý giải vì sao thực tế hiện nay đa số các nước đều cấp phép hoặc bằng các hình thức quản lý tương tự khác mặc dù thị trường đã mở
cửa cạnh tranh Theo kết quả điều tra của Liên minh Bưu chính Thế giới các
Trang 27năm gần đầy về hệ thống cấp phép, đa phần các nước đều cấp phép đối với dịch vụ thư
Như vậy, do bưu chính là một trong những ngành nghề kinh doanh có điều kiện nhằm bảo vệ bí mật thư tín, quyền trao đổi thông tin của công dân
và bảo vệ phạm vi dịch vụ dành riêng theo cam kết WTO, thì doanh nghiệp được quyền kinh doanh ngành nghề đó, kể từ khi có đủ điều kiện theo quy định và điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực này được thể hiện dưới hình thức giấy phép kinh doanh là phù hợp để quản lý chặt chẽ và hiệu quả
Thứ tư, về phạm vi dịch vụ bưu chính dành riêng
Phạm vi dịch vụ dành riêng là một phân đoạn thị trường bưu chính được Nhà nước dành riêng cho doanh nghiệp, được chỉ định cung ứng dịch vụ bưu chính phổ cập nhằm bù đắp chi phí cho việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp dịch vụ phổ cập mà Nhà nước giao Phạm vi dịch vụ bưu chính dành riêng ở các nước được quy định với nấc khối lượng và mức cước khác nhau trên cơ
sở điều kiện đặc thù về thị trường chung cũng như hoàn cảnh của từng quốc gia nhằm mục đích hài hoà các lợi ích của từng quốc gia, đảm bảo quyền lợi chính đáng của các nhà cung cấp dịch vụ bưu chính phổ cập và đảm bảo chất lượng dịch vụ
Thông thường, các nước quy định vùng dịch vụ dành riêng là dịch vụ thư và ngày càng giảm dần theo chính sách mở cửa thị trường của Nhà nước Đối với các nước phát triển, phạm vi dịch vụ dành riêng có lưu lượng rất lớn
và giá cước được quy định cao hơn giá thành, do đó có thể tạo lợi nhuận để
bù đắp chi phí cung cấp dịch vụ phổ cập Tại các nước này, cơ chế hỗ trợ tài chính cho cung cấp dịch vụ, bưu chính phổ cập thông qua dịch vụ dành riêng
là một cơ chế có hiệu quả và được thực hiện tương đối dài Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, sản lượng dịch vụ còn thấp, mức cước thấp hơn giá thành thì cơ chế dịch vụ dành riêng chưa tạo ra lợi nhuận
Trang 28để bù đắp chi phí cung cấp dịch vụ phổ cập mà chỉ có tác dụng tập trung lưu lượng, giảm giá thành dịch vụ, từ đó giảm hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách của Nhà nước
Doanh nghiệp Bưu chính Việt Nam được chỉ định thực hiện nghĩa vụ cung cấp dịch vụ bưu chính công ích, do những đặc thù riêng Và đây là một trong những biện pháp hỗ trợ chính để Nhà nước không phải tài trợ trực tiếp
từ ngân sách mà vẫn bảo đảm trách nhiệm trước xã hội về dịch vụ bưu chính
phổ cập
1.1.2 Phương pháp quản lý Nhà nước về hoạt động bưu chính
Nhà nước dùng các phương pháp như: hành chính, kinh tế, thuyết phục, cưỡng chế… để quản lý các hoạt động xã hội, trong đó có hoạt động bưu chính:
* Phương pháp hành chính:
Là phương thức dùng các quy định của pháp luật để điều chỉnh các tổ chức, cá nhân trong tham gia hoạt động bưu chính Phương pháp này đòi hỏi phải có sự đồng bộ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước để thực thi pháp luật
* Phương pháp kinh tế:
Dùng phương pháp này nhằm khen thưởng hay xử phạt về lợi ích kinh tế đến các đối tượng liên quan
* Phương pháp thuyết phục, giáo dục:
Là phương pháp trong quản lý mà Nhà nước sử dụng các kênh thông tin
để tác động lên các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế trong nước và đối với cộng đồng xã hội Thể hiện bằng những hoạt động như: giải thích, động viên, hướng dẫn, chứng minh… làm cho đối tượng hiểu rõ và tự giác chấp hành các yêu cầu của chủ thể quản lý
* Phương pháp cưỡng chế:
Dùng phương pháp này làm cho các tổ chức, cá nhân liên quan phải chấp
Trang 29hành các quyết định đơn phương của chủ thể quản lý do không chấp hành các quy định của pháp luật
Tiểu kết chương 1
Quản lý Nhà nước về lĩnh vực bưu chính là việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước mà Nhà nước có khả năng tác động vì mục tiêu xây dựng phát triển đất nước và hội nhập kinh tế thế giới Nhà nước quản lý bưu chính bằng các cơ chế, áp dụng pháp luật để phát triển theo một mục tiêu nhất định Trong Chương này, chúng tôi đã khái quát vấn
đề lý luận quản lý Nhà nước về bưu chính gồm những nội dung sau:
- Nêu các đặc điểm, chủ thể quản lý Nhà nước về lĩnh vực bưu chính của các cơ quan từ Trung ương đến địa phương trong quá trình xây dựng ban hành chính sách và phương pháp quản lý bưu chính đảm bảo hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp theo quy định của pháp luật
- Nêu các đặc điểm, yêu cầu phương pháp quản lý Nhà nước về bưu chính trong giai đoạn hiện nay, về xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật
Về xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch Về tổ chức quản lý và xây dựng các doanh nghiệp Về định hướng điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp Về phương pháp quản lý đã phân tích các phương pháp trong giai đoạn phát triển kinh tế đất nước như hiện nay
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LĨNH VỰC BƯU CHÍNH TẠI ĐẮK LẮK
2.1 Thực trạng pháp luật về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bưu chính
1.1.3 2.1.1 Về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Đắk Lắk
Đắk Lắk là tỉnh ở trung tâm vùng Tây Nguyên nằm trong khoảng toạ độ địa lý từ 107o28’57’’ đến 108o59’37’’ độ kinh Đông và từ 12o09’45’’ đến
13o25’06’’ độ vĩ Bắc, nằm cách Thành phố Hà Nội 1.410 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 350km Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp Phú Yên và Khánh Hoà, phía Nam giáp Lâm Đồng và Đắk Nông, phía Tây có biên giới với Campuchia Tỉnh có diện tích tự nhiên khoảng 13.124 km2 Có 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện Vị trí địa lý của tỉnh khá thuận lợi không những cho phát triển kinh tế - xã hội mà còn cho việc giao lưu văn hóa, nghệ thuật với các địa phương trong nước và quốc tế Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho việc thu hút các doanh nghiệp xây dựng hạ tầng mạng viễn thông trên địa bàn tỉnh
Dân số tỉnh năm 2016 đạt gần 1.880.000 người, mật độ dân số trung bình
141 người/km2 Dân số thành thị là 450.600 người chiếm 24,3% dân số toàn tỉnh; dân số nông thôn là 1.403.100 chiếm khoảng 75,7% dân số toàn tỉnh Có
cơ cấu đa dân tộc (khoảng 47 dân tộc anh em) trong đó: dân tộc Kinh chiếm 1.221.533 người, Ê Đê có 301.541 người, Nùng 72.451 người, Tày có 51.285 người Lao động trong độ tuổi năm 2016 của tỉnh Đắk Lắk là 1.128.100 người, chiếm khoảng 60% dân số toàn tỉnh Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, từ ngành nông lâm thủy sản sang ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ
Trang 31Tổng sản phẩm xã hội (giá so sánh năm 2010) năm 2016 đạt 44.571 tỷ đồng, tăng 7,02% so với năm 2015 Trong đó, ngành nông, lâm, ngư nghiệp đạt 18.892 tỷ đồng, tăng 4,25%; công nghiệp - xây dựng đạt 6.829 tỷ đồng, tăng 10,95%; dịch vụ đạt 17.665 tỷ đồng, tăng 9% Cơ cấu kinh tế (theo giá hiện hành): nông - lâm - thủy sản đạt 44,81%; công nghiệp - xây dựng đạt 14,48%; dịch vụ đạt 38,68% Thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt 36,7 triệu đồng Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010) năm
2016 thực hiện 13.750 tỷ đồng, tăng 18,5% so với năm 2015 Công nghiệp cơ khí, luyện kim chủ yếu sản xuất các sản phẩm phục vụ Huy động vốn đầu tư toàn xã hội, tổng huy động năm 2016 thực hiện được 17.009 tỷ đồng, không đạt 85,95% kế hoạch, chiếm 25,5% tổng sản phẩm xã hội Về thu ngân sách năm 2016 đạt 4.100 tỷ đồng, bằng 97,6% kế hoạch do Hội đồng nhân dân tỉnh giao, là năm thứ 5 liên tiếp thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách không đạt
kế hoạch Nghị quyết HĐND tỉnh đề ra Về xây dựng nông thôn mới, đến cuối năm 2016, toàn tỉnh đạt 1.699 tiêu chí/2.888 tiêu chí, bình quân đạt 11,18 tiêu chí/xã, tăng 0,74 tiêu chí so với cuối năm 2015 Số xã đạt chuẩn nông thôn mới trong năm là 20 xã
Kết quả đạt được trong thực hiện nhiệm vụ trong các năm gần đây của tỉnh Đắk Lắk cũng có nhiều kết quả đáng ghi nhận, nền kinh tế của tỉnh tiếp tục có bước phát triển, các lĩnh vực xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được đảm bảo, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững Luật Bưu chính năm 2010 điều chỉnh các hoạt động bưu chính, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong hoạt động bưu chính và quản lý Nhà nước
về hoạt động bưu chính Các nội dung về quản lý Nhà nước được cụ thể hóa
trong Luật Bưu chính bao gồm:
2.1.2 Cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính
Thứ nhất: Quản lý Nhà nước về ký kết hợp đồng cung ứng và sử dụng
Trang 32dịch vụ bưu chính
Hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính bằng văn bản:
- Hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng) sử dụng trong quá trình cung ứng dịch vụ bưu chính phải phù hợp với mẫu hợp đồng đã báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về bưu chính
- Trường hợp doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính và người gửi ký kết những thỏa thuận khác có liên quan đến hợp đồng, các thỏa thuận này
được coi là một phần không tách rời của hợp đồng
Chứng từ xác nhận việc chấp nhận bưu gửi, chứng từ chứng minh việc gửi:
- Chứng từ xác nhận việc chấp nhận bưu gửi giữa doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính và người gửi có giá trị pháp lý như hợp đồng giao kết bằng văn bản giữa các bên khi đáp ứng các quy định Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải được lập thành văn bản và do bên có trách nhiệm bồi thường lập Văn bản xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm các nội dung chính sau: Thông tin về bưu gửi, người gửi, người nhận; Địa điểm, ngày, tháng, năm chấp nhận bưu gửi; Lý do bồi thường thiệt hại; Trách nhiệm bồi thường thiệt hại; Mức bồi thường thiệt hại; Phương thức thực hiện bồi thường thiệt hại; Thời hạn thực hiện bồi thường thiệt hại
Chứng từ chứng minh việc sử dụng dịch vụ phải bao gồm tối thiểu các nội dung sau: Số hiệu, ký hiệu đặc thù của bưu gửi theo quy định của doanh nghiệp cung ứng dịch vụ; Dấu hiệu xác nhận của doanh nghiệp cung ứng dịch vụ; Thời điểm chấp nhận bưu gửi
Thứ hai: Quản lý Nhà nước về nghiệp vụ bưu chính
Nhằm đảm bảo thống nhất trong công tác quản lý nghiệp vụ bưu chính từ Trung ương đến cơ sở trong lĩnh vực bưu chính
Trang 33Thứ ba: Quản lý Nhà nước về mã bưu chính quốc gia
- Đối với người sử dụng dịch vụ bưu chính, việc tra cứu và ghi mã bưu
chính trên bưu gửi sẽ giúp cho quá trình chuyển, phát bưu gửi được nhanh chóng, chính xác, an toàn tới địa chỉ người nhận
- Đối với các doanh nghiệp bưu chính, cùng với việc sử dụng mã bưu chính quốc gia, kết hợp với việc ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng các máy móc, thiết bị tự động giúp cho việc chia chọn, xử lý bưu gửi được nhanh chóng, chính xác, tăng năng suất lao động Đây là tiền đề để doanh nghiệp nâng cao chất lượng dịch vụ bưu chính, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng
Thứ tư: Sử dụng, quản lý mạng bưu chính phục vụ cơ quan Đảng, Nhà nước và đảm bảo quốc an ninh – quốc phòng
Mạng bưu chính phục vụ cơ quan Đảng, Nhà nước được thiết lập và duy trì hoạt động để chấp nhận, vận chuyển, phát các bưu gửi bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành của các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tài liệu mang bí mật nhà nước, theo các nguyên tắc: Bảo đảm bí mật nhà nước Bảo đảm bí mật, an ninh, an toàn, nhanh chóng, chính xác, kịp thời trong mọi tình huống Thống nhất trong tổ chức, quản lý, vận hành và khai thác Không vì mục đích kinh doanh
2.1.3 Đầu tư kinh doanh dịch vụ bưu chính
Mô hình thứ nhất: Nhà nước hoàn toàn làm chủ thị trường bưu chính,
theo đó chỉ có một doanh nghiệp bưu chính duy nhất thực hiện hoạt động khai thác kinh doanh dịch vụ bưu chính;
Mô hình thứ hai: Thực hiện mở cửa thị trường hoàn toàn trong lĩnh vực
bưu chính, theo đó có nhiều doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bưu chính theo quy định của pháp luật, các doanh nghiệp cùng bình đẳng về mặt pháp lý và cạnh tranh một cách
Trang 34lành mạnh, không có bất cứ cơ chế ưu đãi riêng cho một doanh nghiệp nào;
Mô hình thứ ba: Mở cửa một phần thị trường bưu chính, theo đó có
nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh bưu chính nhưng vẫn có một doanh nghiệp của Nhà nước giữ vai trò là doanh nghiệp chủ đạo trong hoạt động khai thác kinh doanh dịch vụ bưu chính
Hoạt động đầu tư kinh doanh dịch vụ bưu chính ở nước ta được quy định:
- Về đầu tư, kinh doanh dịch vụ bưu chính:
Tổ chức, cá nhân đầu tư, kinh doanh dịch vụ bưu chính theo quy định của Luật Bưu chính và các quy định khác của pháp luật liên quan
- Về giấy phép hoạt động bưu chính:
Theo quy định của Luật Bưu chính 2010 và các Nghị định, Thông tư và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan
2.1.4 Quản lý Nhà nước về chất lượng dịch vụ và giá cước dịch vụ
Một là, chất lượng dịch vụ bưu chính:
Việc thực hiện các chỉ tiêu chất lượng theo mức chất lượng doanh nghiệp
đã công bố Việc công khai thông tin của doanh nghiệp về chất lượng dịch vụ
Hai là, giá cước dịch vụ bưu chính:
Nhà nước tôn trọng quyền tự định giá và cạnh tranh về giá của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính theo quy định của pháp luật Việc quản lý
và quy định giá cước phải bảo đảm hài hoà quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng dịch vụ, của doanh nghiệp bưu chính và lợi ích của Nhà nước Thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, đồng thời bảo đảm các hoạt động bưu chính công ích Bình đẳng, không phân biệt trong quản lý và quy định giá cước áp dụng đối với người sử dụng dịch vụ Trong trường hợp cần thiết, Nhà nước có thể áp dụng hình thức quản lý khác nhau đối với giá cước giữa các doanh
Trang 35nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính nhằm khuyến khích doanh nghiệp mới tham gia thị trường
2.1.5 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính, người sử dụng dịch vụ bưu chính
- Về quyền và nghĩa vụ của đơn vị cung ứng dịch vụ bưu chính
Thiết lập mạng bưu chính để cung ứng dịch vụ bưu chính; Được thanh toán
đủ giá cước dịch vụ bưu chính mà mình cung ứng; Kiểm tra nội dung gói, kiện hàng hoá trước khi chấp nhận; Từ chối cung ứng dịch vụ bưu chính nếu phát hiện bưu gửi vi phạm quy định của Luật Bưu chính và các quy định khác của pháp luật liên quan, quy định về điều kiện cung ứng dịch vụ bưu chính của doanh nghiệp; Xử lý bưu gửi không có người nhận quy định; Cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin về dịch vụ bưu chính cho người sử dụng dịch vụ bưu chính; Niêm yết công khai tại điểm phục vụ Danh mục vật phẩm, hàng hoá không được gửi, chấp nhận, vận chuyển qua mạng bưu chính quy định của Luật Bưu chính và các quy định khác của pháp luật liên quan và các quy định về điều kiện cung ứng dịch vụ bưu chính của doanh nghiệp; Bảo đảm an toàn, an ninh trong cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính theo quy định của Luật Bưu chính và các quy định khác của pháp luật liên quan; Chịu trách nhiệm trước pháp luật khi cố ý chấp nhận bưu gửi vi phạm quy định của Luật; Không được tiết lộ thông tin về sử dụng dịch vụ bưu chính của tổ chức, cá nhân, trừ trường hợp quy định tại của Luật; Không được cung ứng dịch vụ bưu chính vi phạm quy định về phạm vi dịch vụ bưu chính dành riêng dưới mọi hình thức; Hưởng thù lao, chi phí hợp lý khi thay mặt người sử dụng dịch
vụ bưu chính thực hiện thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu bưu gửi quốc tế quy định của Luật ; Thực hiện dịch vụ thay đổi họ tên, địa chỉ người nhận, rút lại bưu gửi, chuyển tiếp, chuyển hoàn bưu gửi theo quy định của Luật; Giải quyết khiếu nại, tranh chấp, bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Bưu chính
Trang 36và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ bưu chính
Được doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin về dịch vụ bưu chính mà mình sử dụng; Được bảo đảm an toàn
và an ninh thông tin; Khiếu nại về dịch vụ bưu chính đã sử dụng; Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; Ghi đúng họ tên, địa chỉ của người gửi và người nhận; Cung cấp thông tin về bưu gửi; Chịu trách nhiệm trước pháp luật về bưu gửi; Thực hiện các quy định về an toàn, an ninh đối với bưu gửi; Thanh toán đủ giá cước dịch vụ bưu chính mà mình sử dụng, trừ trường hợp được miễn, giảm giá cước theo quy định của pháp luật hoặc các bên có thoả thuận khác; Trả thù lao, chi phí hợp lý khi doanh nghiệp thực hiện thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu bưu gửi; Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát bưu gửi đến địa chỉ của mình hoặc lắp đặt hộp thư tại vị trí thuận tiện cho việc phát bưu gửi; Bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính theo quy định của Luật Bưu chính và các quy định khác của pháp luật liên quan
2.1.6 Quản lý Nhà nước về hoạt động bưu chính công ích
Nhà nước thống nhất quản lý về hoạt động bưu chính công ích
Đơn vị cung ứng dịch vụ bưu chính công ích có quyền và nghĩa vụ sau:
- Thiết lập mạng bưu chính công cộng trong phạm vi cả nước; Sử dụng hiệu quả mạng bưu chính công cộng để kinh doanh dịch vụ tài chính, tiết kiệm, chuyển tiền, phát hành báo chí và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật;
- Bảo đảm cung ứng dịch vụ bưu chính công ích và thực hiện các nhiệm
vụ công ích khác do Nhà nước giao; Không được từ chối cung ứng dịch vụ bưu chính công ích khi người sử dụng đã thực hiện các yêu cầu về sử dụng dịch vụ;
Trang 37- Xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền phương án giá cước dịch vụ bưu chính; Không sử dụng doanh thu từ các dịch vụ bưu chính dành riêng trợ cấp cho các khoản lỗ do việc cung ứng các dịch vụ cạnh tranh khác dưới giá thành; Theo dõi và báo cáo kết quả cung ứng các dịch vụ bưu chính công ích cho Bộ Thông tin và Truyền thông; Sản xuất, cung ứng tem Bưu chính Việt Nam
2.1.7 Quản lý Nhà nước về tem bưu chính
- Bộ Thông tin và Truyền thông được Chính phủ giao duy nhất quyết định phát hành tem Bưu chính Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam
- Tem Bưu chính Việt Nam phải thể hiện: Dòng chữ “Việt Nam” Có
Dòng chữ “Bưu chính”
- Giá in trên mặt tem (nếu có) bằng tiền đồng Việt Nam
- Chủ đề và thiết kế của tem Bưu chính Việt Nam không được có các nội dung, hình ảnh, ký hiệu, dấu hiệu gây kích động, thù hằn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo Chống phá Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Không phù hợp với đạo đức xã hội, với thuần phong mỹ tục của Việt Nam
- Tem Bưu chính Việt Nam được gắn mã số của Việt Nam và tham gia
hệ thống mã số của Liên minh Bưu chính Thế giới
- Tem Bưu chính Việt Nam và các tài liệu liên quan phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ
- Tem Bưu chính Việt Nam được sử dụng để thanh toán trước giá cước dịch vụ bưu chính trong nước và dịch vụ bưu chính quốc tế từ Việt Nam đi các nước
- Tem bưu chính nước ngoài không được sử dụng để thanh toán trước giá cước dịch vụ bưu chính trong nước và dịch vụ bưu chính quốc tế từ Việt Nam
đi các nước
- Tổ chức, cá nhân được kinh doanh, sưu tập tem Bưu chính Việt Nam
Trang 38và tem bưu chính nước ngoài, trừ trường hợp quy định của Luật
- Việc nhập khẩu tem bưu chính nước ngoài được thực hiện theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về bưu chính
- Tổ chức, cá nhân không được kinh doanh, trao đổi, trưng bày, tuyên truyền những loại tem sau đây: Tem bưu chính giả; Tem bưu chính có nội dung, hình ảnh, ký hiệu, dấu hiệu gây kích động, thù hằn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; chống phá Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; không phù hợp với đạo đức xã hội, với thuần phong mỹ tục của Việt Nam; Tem bưu chính đã có quyết định thu hồi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Tem bưu chính nước ngoài có nội dung và nguồn gốc xuất xứ không phù hợp theo thông báo của cơ quan bưu chính các nước thành viên Liên minh Bưu chính Thế giới và các hiệp hội sưu tập tem
2.1.8 Giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại trong cung ứng và
sử dụng dịch vụ bưu chính
Các bên khi tham gia giao dịch bưu chính có quyền khiếu nại để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong việc khiếu nại phải được thể hiện bằng văn bản và gửi đến cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết Thời hiệu khiếu nại được quy định trong Luật hiện hành
2.2 Thực tiễn quản lý Nhà nước về lĩnh vực bưu chính tại Đắk Lắk
So với lĩnh vực công nghệ thông tin, thông tin - báo chí - xuất bản, viễn thông thì lĩnh vực bưu chính hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật còn hạn chế về số lượng, cụ thể có các văn bản áp dụng pháp luật sau:
- Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông ngày năm 2002
- Luật Bưu chính năm 2010
- Nghị định số 90/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Bưu chính, Viễn thông
Trang 39- Nghị định số 47/2011/NĐ-CP ngày 17/6/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số nội dung của Luật Bưu chính
- Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, CNTT và tần số vô tuyến điện
- Quyết định số 158/2001/QĐ-TTg ngày 18/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển Bưu chính, Viễn thông Việt Nam đến năm
- Quyết định số 45/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về cung ứng dịch vụ bưu chính công ích và dịch vụ công ích trong hoạt động phát hành báo chí
- Quyết định số 45/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích
- Quyết định số 55/2015/QĐ-TTg về mạng bưu chính phục vụ cơ quan Đảng, Nhà nước
- Trên 20 Thông tư của Bộ Thông tin và Truyền thông và Thông tư liên tịch liên quan còn hiệu lực
Các văn bản do UBND tỉnh ban hành nhằm triển khai pháp luật liên quan đến lĩnh vực bưu chính còn hạn chế:
- Quyết định số 2515/QĐ-UB ngày 28/12/2004 của UBND tỉnh Đắk Lắk
“về việc thành lập Sở Bưu chính, Viễn thông tỉnh Đắk Lắk”
Trang 40- Quyết định số 924/QĐ-UB ngày 27/5/2005 của UBND tỉnh Đắk Lắk về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của Sở Bưu chính, Viễn thông Đắk Lắk, hiện nay là Quyết định số 612/QĐ-UBND ngày 16/3/2017 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk
- Quyết định số 1260/QĐ-UBND ngày 21/6/2006 của UBND tỉnh về phê duyệt đề cương Quy hoạch tổng thể phát triển Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020 Một
số văn bản khác
- Quyết định số 39/2010/QĐ-UBND31/12/2010 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy chế phối hợp phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin…
2.2.1 Xây dựng và chỉ đạo quy hoạch phát triển bưu chính
Nhằm xây dựng tỉnh Đắk Lắk và thành phố Buôn Ma Thuột trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Miền Trung Tây Nguyên theo Kết luận 60-KL/TW ngày 27/11/2009 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Buôn Ma Thuột thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên giai đoạn 2010-2020, phương hướng phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 Xây dựng và phát triển thành phố Buôn Ma Thuột sớm trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đắk Lắk; tập trung đầu tư phát triển lên quy mô cấp vùng trên một số lĩnh vực công nghiệp, khoa học kỹ thuật, giáo dục - đào tạo, y tế, thể dục, thể thao; phấn đấu trước năm 2020 trở thành đô thị trung tâm mang đặc sắc riêng của vùng Tây Nguyên Duy trì tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm tăng nhanh tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, phát triển nông - lâm nghiệp theo xu hướng sản xuất hàng hóa gắn với công nghiệp chế biến và thị trường Đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đô thị, gắn phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư