Đứng về mặt ngữ âm thì đó là một âm tiết, đứng về mặt đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thề vận đụng độc lập và có sự hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa, chức năng ngữ pháp thì đó là một từ, đứ
Trang 3^ - MỞ BẦU
I
ĐẶT VẤN B Ề
Nhiều sách trước đây viết về ngữ pháp tiếng Việt đều đề
cập đến, ờ những mức độ khác nhau, vấn đề cấu tạo từ (1)
Ngoài ra, còn có những chuyên luận nghiên cứu về một vài kiều cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại (2) Nhìn chung, qua các tác phầai nói trên, cổ thề tìm thấy hai cách đặt vấn đề khác nhau trong việc nghiẽn cứu này
(1) Ví dụ : G Aubaret, Grammaire de la langue annamite,
Paria.1864; Notions pour servÌT à 1’étude de la langue anntmiie, Tân Định, 1878; P.J,B Trirơng Vĩnh Ký, (ỉrammaire
de ìa langue annamite, Sai-gon, 1883 ; E Diguet, Élểments de granmaire annamừe, 3è édition, 1904; J Berjot, Premières legons cTamamite ou exposé du mềcaniime génỉral de cette langue, Paris, 190"; Trăn,Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỷ, Việt nam văn phạm, tái bản ỉàn thứ ba, Hà Nội, 1940.; Lê vần Lý, Le parltr ỉ ịetnamieìh Paris, 1948 (?) ; K Bulteau, Cours d’annamite, 3è édition, Paris, 1950 ; M.B Emeneau, Studies in Vielnamese granmar, Berkeley and Loa Angeles, 1951 ; Thanh Ba Bùi Đức
Tịnl, Văn phạm Việt Nam, Sài-gòn, 1952 (?): L Cadière, Sỵntaxe
Trang 4Cách đặt vấn đê thứ nhất: Một số tác giả như G ồ-ba rê,
E Đi-ghê, J Béc-giô, Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỳ, R Buyn-tô, L Ca-đi-e quan niệm âm tiết là c a sờ tạo ra từ cùa tiếng Việt, mà âm tiết thì không cố gì cần đi sâu phâQ tích về mặt ngữ pháp cả (không giống như căn tố, phụ
tổ troQg các ngôn ngữ Châu Âu)
Song, cách đặt vấn đề như trên khổng phù hợp với thực
tế tiếng Việt là thứ tiếng có nhiều loại từ cấu tạo rất khác nhau Về mặt lý luận, khuyết điềm của nó là đã đánh đồng âm tiết với yếu tổ cấu tạo từ — hai loại đơn vị thuộc hai cấp độ khác nhau : cấp độ ngữ fim và cấp độ ngữ pháp
Cách đặt vấn đẽ thứ hai : Những tác giả khác quan niệm tiếng Việt có những yếu tố cấu tạo từ với đặc điềm ngữ pháp
riêng của nó, vì vậy cần phải nghiên cứu vị trí, tác dụng và thực chất của những yếu tố ấy Đây cũng là khuynh hướng chung của các nhà ngữ pháp hẹc về tiếng Việt từ sau 1945 đền nay Nói như thế không có nghĩa là trướo^kia hoàn toàn không có ý kiến nào gợi ra sự suy nghĩ về vắn đề này
de la langue Vietnamienne,.?aáfi, 1958; B.M CoyiHiiBB ,K) K.
bản đại học và trung học chuyêa nghiệp, Hà*DỘi, 1975 : Nguyễn
Phú Phong: Le iyntagme verbal en Vietnanũen, Thèse de doctorat
de troiaième cycle, présentée à rUniveraité París, 1973
(2) A.H BaPMHOaa.nOBTOPB COBPèMBHHBM BbPIHaMCKDM a3WKe ,
(luận văn phó tiến B Ĩ), Moclcba, 1964
Hoàng Trọng Phiến, CĩpyKTyPMMB Tjínw o»D)*<Mwv CJOB 60
BbPiHaMCKOM ajwKB,(luận văn phổ tiễn 8Ì), Mockba, 1968
Trang 5Nhưng mãi về sau, những vấn đề này mới đưọrc đần dần nói đến (3) và chl trong vòng mưìri lăm năm nay, các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt mới quan tâm nhiều đến nó.
00*0 vị ngõ’ phấp co* 80'
của tiếng Việt ià gì ?
Về vắn đề này, hiện có bốn ý kiến khác nhau
Ý kiến thứ n h ấ t: Đơn vị ngữ pháp cơ sỏr là đ<m vị nhỏ nhắt có ý nghĩa, từ đó cấu tạo ra toàn bộ những đ an vỊ khác
lớn hơn có ý nghĩa trong một ngôn ngữ « Yếu tố có nghĩa »
có cắu tạo ngữ âm ứùng hgrp với âm tiết là đơn vị ngữ pháp
cơ sở trong tiếng Việt Đây là quan điềm của Lê Văn Lý Theo
Lê Văn Lý, < nếu chủng ta chấp nhận định nghĩa của từ rằng
đó là một yếu tố cổ nghĩa, tức là yếu tổ ngôn ngữ nhổ nhắt [ J làm hình thành một dấu hiệu âm thanh có nội dung 1> thì
« từ trong tiếng Việt biều hiện như là một dấu hiệu &m thanh được tạo thành bỏri một âm vị hoặc nhiều âm vị hợp lại, phát fim ra thành một âm tiết [ .] và chữ viết thì ghi thành một đơn
vị riêng biệt, có ý nghĩa [ .] Song định nghía về từ vừa nêu
ra, và theo đó sự khằng định rằng tiếng Việt là đơn âm tiết chl đúng đối với từ đơn [ .] Nhirog chúng tôi cũng nhận thấy sự tồn tại của những yếu tổ có nghĩa, mà nếu đứng riêng
rẽ thì không thề có chức năng ngữ pháp; chúng chỉ làm được chức năng ấy khi hợp chúng lại Những nhóm yếu tố có nghĩa
kế tiếp nhau, cùng đảm nhiệm một chức năng ngữ pháp chang
íy , chúng tôi gọi là từ ghép; nó luôn luổn gồm 4iơn một âm
tiết (tác ph&m đã dẫn : t 133, 134)
Ý ịịển thứ h a i : < Tín hiệu » hoặc « từ tổ », hoặc « hình vị »
là đơn vị ngữ pháp cơ aờ cùa liếng Việt (quan niệm về đơn
(3) Bùi Đức Tịnh trODg tác phlkn đã dẫn đ€ phftn biệt tiếng
và ngữ tỗ, ngữ tS chính và ngữ tõ phụ, tự ngữ và từ ngữ, nhưng
ý thức về các ván đề trên vẫn chưa thật rõ ràng
Trang 6vị ngữ pháp cơ sờ theo định nghĩa trê n ) ; về mặt ngír âm, nó
thường trùng với âm tiết, song cũng có nhiều trư ờag hợp do nhiều âm tiết tạo thành Đây là ý kiến của Hoàag Tuệ,Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Phú Phong và Đ Tô-mát
Theo Hoàng Tuệ : «Nhìn chung, trong Việt ngữ, có nhiều
tín hiệu như sau : ăn, ngủ, di, thích, n g h ĩ , trắng, xinh, dẹp, vui, bùõn , nhà, ruộng, ao, cây, n ú i Những hình
thức như vậy là từ gốc, hay từ — morphem ; vì mỗi morphem như vậy có một ý nghĩa, và có độc lập tính » Ngoài ra, « trong Việt ngữ có những tín hiệu thuộc vào một loại khác mà đặc điềm là sức hoạt động độc lập bị hạn chế hoặc là không có độc lập tín h »
Ví đụ : Sữn, hỏa, v ũ , quyền, cái, con, nhách trong dai nhách, cộ trong xe c ộ , đã, sẽ, không, chưa, ; « các tín hiệu như từ điền, tiều thuyết [ J đều là gốc Hán, trong
đó mỗi đơn vị âm tiết không có giá trị độc lậ p » (tác phầm đảdẫn, t 191, 193, 194, 198)
Nguyễn Kim Thản quan niệm ; « Đứng về mặt ngữ âm, các từ tổ Việt có thề gồm một âm tiết, mà cũng có thề gồm hai âm tiết Song, các từ tố một âm tiết vẫn chiếm một tỳ lệ tuyệt đối lớn [ ] Vì có khi từ tố và từ trùng nhau, cho
nên có hiện tượng « ba ngôi một thề » Ta lấy ví dụ : ăn Đứng
về mặt ngữ âm thì đó là một âm tiết, đứng về mặt đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thề vận đụng độc lập và có sự hoàn chỉnh
về ngữ âm, ý nghĩa, chức năng ngữ pháp thì đó là một từ, đứng về mật cấu tạo ý nghĩa mà nói, thì đó đbng thòri ià từ
tố Những từ tố tạo thành nhửng từ ghép, hiện nay còn có khâ năng là từ , và có ý nghĩa chân thực, chúng tổi gọi là từ ^ ố thực Còn loại từ tố không bao giòr đÚTig một mình cả I ] , chúng
tôi gọi đó là những /ù- tổ dệni » (tác phằm đã dẫn, t 80, 81).
Tô-mát viết ; « Phằn ii>n hình'vị thưừng đùng trong tiếng Việt là đơn âm tiết, nhưng cũng có một số hình vị đa âm tiết
mà đa số trưỉrng hợp là có nguòn gốc ngoại lai, ví dụ : ô-tô-buýl,
Trang 7ca-vát, xà-phòng, đu-đù f .] Từ*ghép được cấu tạo bửi hai hoặc ba hỉnh vị, chủ yếu là hình vị gốc Hán » (4).
T hea Nguyễn Phú P hong: « Cắu trúc của từ có thề trình bày theo sơ đồ như sau (dựa vào mô hình của p Cơ-ra-tôt-vin):đan hình atỊ ■( từ đ an Ị, đơn âm tiết
đa hình vị < từ ghép đa âm tiết
Căn cứ vào sơ đồ, các từ chia ra thành :
1) từ đơn đơn hình vị đơn âm t iế t: ăn, đi, đ ẹ p .2) tìr đơn đơn hình vị đa âm tiế t: căng-tin, xà-phòng,a-pa-tít (từ mượn) ; thình lình, bSng khuâng, mênh m dng •3) từ đan đa hình vị đa âm tiết : mát mẻ, lạnh lùng,khách khiếc ' '
a) t ừ do các hình vị-không tự do tạo thành : phong phú,
dế quốc, quổc gia
b) từ có một hình vỊ tự d o : thủy quân, vô lý, ái tìn h
c) từ ghép mà tất cả các hình vị đều tự đo một cáchtiềm tàng : bàn ghế, mạnh khỏe, bót máy (tác phằm đã dẫn,
t 22—25)
V.M Xôn-xép và các tác giả quyền « tiếng Việt » v'ê cơ bản cang có ý kiến thuộc loại này Song họ không dùng thuật ngữ hình vị đề chl các yếu tố cấu tạo từ nói chung, mà khi thì dùng từ căn (đề chỉ các yếu tố cấu tạo từ trong từ ghép), khi thì dùng « bán phụ tố 1» đề chl ,một sổ yếu tổ cấu tạo từ có tác
dụng phái sinh như : sự, việc, cuộc . khi thì dùng « tiếng đệmv
đề chl các yếu tố cấu tạo từ khống có nghĩa, (tác phầm đã dỉn, t 44—57)
Ý kiến thứ b a : Cổ đầy đủ tất cả những điềni cùa ý kiến
thứ hai, cộng thêln một điềm khác : hình vị có những trưìrng
(4) David D Thomas, On deíiuing the Word • ÌD Vietnainese,
• Vãn hóa D g a y ệ t san •, tặp 11, quyền 5 , 80 70, Sài-gòn, 5-1962,
t 519-523
Trang 8hợp bé hơn âm tiết Đây là ị kiến của L Tôm-xơn Theo ông,
từ đơn do một hình vị tự do tạo thành, hình vị này có thề
là một âm tiết hoặc nhiều âm tiết Từ phức tạp (complex words) gỈ5m một hoặc nhiều hình vị không tự do và một hình
vị tự do (có thề không có hình vị tự do nào) Từ ghép gÌ5m
hai hoặc ohiều hơn hình vị tự do Có những hình vị nhô han âm tiết, ví dụ : đ- trong đâu, đăy, đ ấ y ; n- trong nào, này, nọ- và thanh điệu như trong anh — ảnh, cõ — cồ, bà — bả
Y kiến thứ tư : Mỗi âm tiết tiếng Việt là một đơn vị
nhỏ nhất có giá trị ngữ pháp M B Ê-mê-nô cho mỗi ẳm tiết
là một từ Theo ông, « Ở trong tiếng Việt, đơn vị âm vị học [ J trùng vó-i đơn vị cơ bản của hình thái học và của cú pháp học f ] ở đây, từ và hình vị trùng nhau » (M B Emeneau, sách đã dẫn, t 2, 3) Ê-mê-nô cũng phân biệt hình
vị tự do và hlnh vị không tự do, nhưng những tồ họrp đa hình
vị (đồng thìri cũng là đa âm tiết), thì Ê-mê-nô nhắt loạt xem
là ngữ đoạn) (6)
p J Hô-nây cho mỗi âm tiết là một đơn vị âm tiết tính
« ík rn vị âm tiết tính (syllabic unit) được sừ dụng như một
yếu tố trong bài bản ỉr cấp phân tích ngữ pháp, tương đương
vdi fim tiết ỏr cấp âin vị [ ] Phần lớn đơn vị âm tỉết tính trong tiếng Việt là, tự do về vị trí [ ] Một số nhỏ đơn vị
âm tiết tính là khững tự do E J Đa số đơn vị không tự do
(5) Xem thêm : L c Thompson, The Problem of the Word
in Vietnamese, Vord l% 3,,tập 19, 80 1, t 39 — 52
Găn đây, 'Nguyễn Bú-C Dương cũng có ý kiẽn tương tự,
xem Nguyễn Điré Dirang, Ve hiện tượng kiều « ồ n g », « ctí »,
• n g o à i Ngôn ngữ », 1974, 80 1, t 51 — 55
(6) Tiẽng Anh : phrase, nhir aubstantive phrase (ngữ đoạn danh từ )/v erb phraae (ngữ đoạn động từ) (Sách đã dín, t 3,
146 - 155)
Trang 9ấy hưỉrng kết hợp với một đơn vị tự do, nhưng trong một
9Ổ t trưòrng hợp cũng kết họT) cả với hai đ ơ n vị tự do hoặc
nhiìu hơn >(7)
Nguyễn Đăng Liêm cũng cho mỗi âm tiết là một từ âra vị học: « Tiếng Việt Nam là ngôn ngữ đan tiết trên bình diện âm
vị, trong đó, âm tiết đồng thời cũng là từ ãm vị học Không có
từ ìm vị học nào được cấu tạo lớn hơn một âm tiết cả Trên bình diệi hình thái học, có những từ đa âm tiết đưgrc cấu tạo bửi hai hoặc nhiều hơn hai từ đơn fim tiế t, hoặc bfri sự lắp láy »(8)
Nguyễn Tài Càn thì cho mỗi âm tiết là mfit tiếng, haỹ hình
vị, và « hình vị là đơn vị nhỏ nhất, đơn gián nhất về mặt tồ chi-c mà lại có giá trị về mặt ngữ pỊiáp » (tác phầm đã dẫn,
t ]1) Về mặt ọgữ âm, hình vị trùng với âm tiết « Trong quan niộn của chúng tôi, mối một tiếng như thế chính là một đơn VỊ gố< — một hình vị — cùa ngữ pháp tiếng Việt : Tiếng là đơn
vị có đù cả hai đặc trưng « đơn giản nhất về cấu trúc » và
« á giá trị về mặt ngữ pháp.» (tác phầm đã dẫn, 1.13) (9) Chú ý : Trong chú thích ở trang 11 tác phàm đã dẫn,
(7) p J Honey, ITord Classes in Vietnamese, • Bulletin of
thí School of Oriental and Alrican Studies *, University oí London,
1956, tệp XVIII, phăn 3, t 534 _ 544
(8) Nguyỉn Đăng Liêm, Phonemic sequraces in Vietnamese,
• 7eitacfaríft fiir Pbonetik Sprachwiti8en8chaỉt und Kommưnika- tioasíorscbung », Âkademie — Verlag-Berlin, tệp 20, 80 4, 1%7,
t 325-3^ ; cùng tác giả, Clause Units in Vietnamese, • tạp chí
Trang 10Nguyễn Tài Cần viết : « định nghĩa hình vị là «' đơn vị nhỏ nhất mà có ý nghĩa » L • • • 1 căn bản là đúng và có thề đùng được Thật ra, định nghĩa này không thề phù hợp với định nghĩa của N ^ y ễ n Tài Cần, bỏri vì theo tác giả, có gỉá trị về mặt ngữ pháp » và có ý nghĩa » là hai khái niệm hoàn,
toàn khác nhau Bằng chứng là Nguyễn Tài Cần cho dằi tn n g
dễ dãi, mà, cả trong mà cả là tiếng không độc lập (một loại
hình vị) nhưng là tiếng vô nghĩa (sách đã dẫn, tr 29) Và lập luận này được quáo triệt trong toàn bộ cuốn sách của tấc ỊÌả
Lưu Vân Lăng cho mỗi âm tiết là tiếng và tiếng là iựĩí
vị ngữ pháp ca s à : « Do đặc điềm tiếng Việt (phân tiết títW ,
khác vó-i ngôn ngữ biến hình, tiếng là yếu tổ nhò nhất, là ể<rn
vị cơ bản thấp nhắt trong cú pháp Căn cứ vào hỉnh thức, vận dụng độc lập và nội diyig ý nghía, có thề có nhiều loại yếu
tố : 1) tiếng có nghĩa dùng độc lập (như : gọn, đẹp, hạ:) ; 2) tiếng có nghĩa không dùng độc lập (n h ư : bất, quóc) ;
3) tiếng không có nghĩa riêng và không dùng độc lập, ih ư
(gọn) gàng, (đẹp) đẽ (10).
Chúng tôi cho rằng ý kiến thứ nhất không hợp lý bỏfi \rì
không phải âm tiết nào trong từ cũng đều có ý nghĩa b cấp độ ngữ pháp cả Những ăm tiết như đu, đủ trong đu dù, láu, táu, tn a g lảu táu không phải là những yếu tổ có nghĩa t> như Lê Văn Lý quan niệm Những âm tiết trong từ mượn ahư x à t phtng trong xà phòng, a, xê, ty, len, trong a-xf-ty-len.i càng khin^
phải là « yếu tố có nghĩa > (Chúng tôi sẻ nói rõ hơn ý kiến
này ở chương < Ý nghĩa là gì ? » trong phần thứ nhất).
Chúng tối cũng không tán đòng ý kiến thứ ba, bửi vì
nhũ-ng phụ âm đằu, vần hoặc thanh điệu mà Tôm-xơn chc là
hình vị thật ra khững đù từ cách làm hình vị Hình vị U tớ c
hết phải là một loại đ a n vị mang ý nghĩa nhất định ờ cấp đ ộ
(10) Lưu Vân LSng, Nghiên cứu ngữ pháp tiẽng Việt rên quan điềm ngữ đoạn íãng bậc có hạt nhăn, « Ngôn ngir •, l ‘-7ữ,
80 3 t 49-ộí
Trang 11ngữ 'pháp Tôm-xơn cho đ trong đâu, dăy, dấy là hình vị
chỉ địa điềm Song, không thề căn cứ vào ý nghla chl địa điềm
của những tìr dâu, dây, đấy, rồi gán cái ý n^hĩa ấy cho phụ âm
đằu tf-, như Tôm-xơn đã làm 'tiếu thế, thì sự gán ghép ý
nghĩa sẽ rất tùy tiện : đ-, theo phương pháp đó, cũng sẽ có
ý nghĩa chl « hành động vũ lực », vì nó tồn tại trong' loạt từ
dập, đánh, đấm, dâm, hoặc sẽ có ý nghĩa chl « động tác của chân », vì nó tồn tại trong loạt từ đi, đứng, dạp, áá, hoặc sẽ
có ý nghĩa chì « tác động cùa công cụ » vì nó tồn tại trong
loạt từ đẽo, đẵn, dạc, dào, v.v
Còn vằn -ău thì Tôm-xơn cho là hình vị « không chì cái
gì nhất định cả » (unspeciíied), vằn -ây là hình vị có ý nghĩa
« kết thúc lòri nói hoặc mỏr đằu một cái gì mới », và vần -ấy
là hình vị biều thị « một cái gì ờ xa hóặc đã được đồng n h ấ t»
Cách gán nghĩa như thế thật m a hb! (Xung quanh vắn đề này, chúng tôi sẽ nói kỹ hơn ỏr mục « Hiện tượng suy phỏng thuộc phần II)
Sự giao hoán thanh điệu trong những tnrừng hợp anh — ảnh, bà — bả , bẽn — bần, ngoài — ngoải cũng không
thề xem là những hình vị, như Tồm-xơn quan niệm Thật ra, đây chĩ là hiện tượng gộp âm Nguyễn Kim Thản có lý khi
cho rằng : « ềng, bả là do ông ấy, b à a y mà ra >>, cũng
như « hai mươi, ba mươi đều có thề (chứ khống phải là bắf
buộc) biến âm thành hăm, băm (hoặc ham, bam) >' (sách đã dẫn,
t 84) Cằn đưa thêm một bằng chứng là đổi với những danh
từ chl ngưừi trong họ hàng có cùng thanh điệu với « ấy » thì việc gộp ẵm khững thề tiến hành được Ví dụ, vẫn phải nói
chú ấy, cháu ấy, thím ấy chứ không thề nói chủ, chảu, thỉm Điều này càng chứng minh những hiện tượng trên
ch! là sự gộp âm thuần túy
Cuối ciing, chúng tôi cũng không hoàn toàn tán thành ý kiến thứ tư bởi vì không phải âm tiết nào trong từ của tiếng Việt cũng đều có giá trị ngữ pháp T rước hết, cần quan niệm thế nào là có giá trị ngữ pháp Trong các tác giả trên, thì Nguyễn
Trang 12Tài Cần là ngưừi cổ ý kiến rõ ràng nhất về vấn đề này «Nói rằng tiếng có giá trị về mặt ngữ pháp là vì trong tiếng Việt, mỏi tiếng bao giừ cũng có tác dụng giúp ta giải thích đL^Ci phân tích được cái*tồ chức bên trong của những đơn vj •.rực tiếp lớn hơn nó [ • ] Tiếng có khả nâng giẳi thích mặt agữ
nghĩa, ví dụ như trường họrp kỳ, quốc trong đảng kỳ, quốt kỳ, quốc ca, và ờ trường hợp dãi, dàng trong dễ dãi, dễ càng
v.v [ ] Tiếng có khả năng giải thích mặt tb chức đơn
thuần hình tháĩ, ví dụ như ò trưừng hợp cà, phê trong eàphi,
và đùng, đĩnh trong dủng đỉnh, ờ đây không còn có thề tìm đứực tác dụng của tiếng về mặt giải thích ngữ nghĩa như ở hai trưừng hgrp trên nữa Cà, phẽ, đùng, dinh tự thân đều vô tụ;hla Nhưng không thề vì thế mà cho rằng cà n- phi, dùng + iỉnh chĩ là những sự kết hợp đơn thuần ngữ âm như ở truòrng hợp ch + a đưgrc ở trường hợp ch + a, đưỉmg ranh giứi giữa
ch và a là một đưòrng ranh giới khống giúp ích gl cho nhà ngữ pháp học [ ] ở trưỉrng hợp cà + phi, dửng + đỉnh
thì tỉnh hỉnh khác h ẳ a thế Nếu chúng ta so ^ n h :
, ^ cà éà phê phê gì
p ị có cà phê cà phiếc gì không ?
* ^ đủng với đinh m ãi!
ị sao cứ đủng đa đủng đinh th ế ! thì chúng ta sẽ thẩỵ là không thề nào cho rằng, ĩr đ iy , tiếng
đằu và tiếng sau gắn chặt với nhau thành một khổi, làm 'hành một đơn vị tối đơn giản — một đơn vị gốc duy nhắt — nhtr
ở irường hợp ch -h a được Muổn trình bày được, giâi thích được qui tắc sử dụng các từ -câ phi, đủng đĩnh b tron{ c&u
nối thì phải cổng nhận rằng giữa cà và phê, giữa đ ủ n g vè đ ìn h
cố một đưừng ranh gi6i đi ngang qua, tách hai tiếng thành hai đơn vị ngữ pháp riêng biệt Loại đơn vị gốc do một tiếig vỗ
nghĩa đảm nhiệm và chl có tác dụng giải thích mặt tố chứĩ ăcm*
thuần hình thái như thế, trong thuật ngữ ngOn ngữ học thròrng gọi là hình vị hình thức > (Nguyễn Tài Cằn, tác phằm đi đẫn,
t 13-15)
Trang 13Thật ra, việc có « một đường ranh giới đi ngang qua » chl
là điều kiện cằa nhưng chưa phải là đù đề tách những tiếng
thành những đơn vị ngữ pháp riêng biệt Ch + a cũng có thÈ nói tírành « chòr a cha », và dùng phương pháp -iếc hóa (mà Nguyễn Tài Cần đã dùng : chờ a chờ iếc ẸÌ, hoặc chờ a cha chờ
a chiếc g}) cố thề vạch một đưừng ranh giới cấu trúc đi ngang qua ch- và -a Song — như Nguyễn Tài Càn thừa nhận — đây
rõ ràng không phải là những đan vị ngữ pháp riêng biệt T rưòng hợp trẽn đây cũng khổng phải là cá biệt Người Việt Nam ta
có thói quen đánh vần ; « Mừ y.m y ngã Mỹ, thờ ua thua » v.v , hoặc ; < thơ u thu u a ua là thua » v.v Trong lối hói lái, cũng có thói quen iách phụ fim ra khỏi vần đề chuyền đồi
lẫn nhau, ví dụ ; mèo cái —► mái kèo, cối d ã —* cá đối (11).Trong
lối chơi chữ, cũng có khi có thề tách phụ âm ra khỏi vần :
« ctức ra > chứ không phải quic giã, < nghị khl '* chứ không
phải lặ nghị j 1 v v
Như vậy, jh eo chúng tôi, phải có một điều kiện nữa — điều kiện ngữ nghĩa — mới đfi đề tách tiếng trong chuỗi lỉri nói ra thành những đơn vị-ngữ pháp riêng biệt Đó là ; bản thần tiếng ấy phải có ý nghĩa ngữ ngôn (ý nghĩa thực, ý nghĩa
n gữ pháp hoặc ý nghĩa tiềm tàng), hoặc tiếng ấy phải c ô khả
năng kết hợp với một tiếng cdv nghĩa trong một cấu trúc ngôn ngữ lớn hơn Nguyễn Tài Cần có nhắc đến trưòrng hợp -o- trong
napvbox Theo chúng tôi, -0- sò đ ĩ là « hình vị hình th ứ c » vì
nó ở giữa hai đơn vị có nghĩa là nap- và -boz.
T6m lại, khOng thề nào tách ngữ pháp ra khỏi ngử nghĩa
vì đó là hai mặt của một vấn đề Không có’đơn vị rtgừ nghĩa nào không quan hệ trực tiếp đến ngữ pháp, và ngược lại, cũng không có đơn vị ngữ pháp nào khõng quan hệ trực tiếp đến ngữ nghĩa cả
(11) Tham khẵo : LÌr Huy Nguyên, Nói lái trong tiếng Việt,
« Ngôn ngữ 1971, 80 3, t 34-40 ; Nguyễn Đức Dân, Ve các kiều nói lái trong tiẽng Việt, Ngôn ngữ •, 1972, 80 2, t 51-54
Trang 14v ề ca bản, chúng tôi tán thành ý kiến thứ hai, với điều kiện phải sửa đồi và bồ sung một số điềm Trước hết, cằn dùng
khái niệm nguyên vị thay cho khái niệm hình vị, bởi vl « hình
v ị », với tư cách là đơn vị hình thức, không th l phản ánh đúng tình hình khỗng biến hình, không có hình thái ngữ pháp cảa tiếng Việt Song, ngruyên vị theo quan niệm của chứng tôi cũng
không giống monème của A Mac-ti-nê, vì monème vừa trùng
với từ , vừa tr&ng với từ tố (ví dụ : khi phân tích từ Ccurons,
courez, Mac-tỉ-nê cho /k ur/, /õ/, A u r/, /e/ là monèmes, hoặc cho từ nous, vous là monèmies (12) còn nguyẽn vị thì thuộc cấp
độ khác h a n cấp độ từ và cấp độ từ t6 Tóm ỉại, theo chúng tôi, nguyên vị là đơn vị ngữ pháp cơ sỏr của tiếng Việt, là đơn
vị có ý nghĩa ngữ ngôn nhô nhắt trong tiếng Việt (Chíng' tôi
sẽ nói kỹ điềm này b chương IV, phần I).
C íc đo*n vỊ n g ữ p h á p c v 8Ỗ- k ế t họ-p vó-i n h a u
nhu* thế nào đ ề cSu tạo từ ?
Nếu xét sự cấu tạo từ theo tiêu chí ngữ âm, thì hiu hết các tác giả đều nhất trí -cho rằ n g : tất cả từ tiếng Việt ỉ í u có
cấu tạo hoặc đơn fim hoặc đa fim (từ đó, chia ra từ đrtt ãm
và từ đa âm ) ; đồng thĩri, trong phạm vi từ đa âm, tếu xét
theo quan hệ ngữ âm giữa các'âm tiết, thỉ có thề chia ra từ lắp láy và từ không lắp láy
Những ỷ kiến kbác nhau giữa các tác giả phằn lứn đều
tệp trung vào vấn đề phân loại Sự cấu tạo từ theo tề u chí
n gữ pháp.
Ý kiến thứ n h ấ t: Phân ra từ tự do (free words) \rà từ
khổng tự do (bound words) Những từ trong hai loại ấy kết hợp với nhau, hoặc những tìr trong từng loại ấy tự kết hợp vốd nhau đều sinh ra ngữ đoạn Đây là ý kiến của M.B Êmê-nô
(12) A Martínet Éléments de linguistique générale, 5è ^itioD,
Paria, 1%5, t 101
Trang 15Ỷ kiến thứ h a i: Phân ra từ đơn và từ ghép íhoặc lừ kép)
T ừ đơn là một tiếng c6 nghĩa dùng độc lập (như : dẹp, di, căng,
sẽ ; từ ghép gbin từ hai tiếng trỏ lên (như : cà phê, bà nhìn, dẹp đẽ, cũ rích, quốc gia, sân bay, Đây là ý kiếncủa Lê Văn Lý, Hô-nây, Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê(13) và Nguyễn Tài Cần (Những tác phầm đã dẫn)
Lễ Vân Lý tiếp tục phân từ ghép ra làm từ ghép láy âm
và từ ghép tề hợp (sách đã dẫn, t 136 — 141).
Trương Vẳn Chình, Nguyễn Hiến Lê còn tiếp tực phân từ
kép ra làm : từ kép thuần túy, từ kép đơn ý và từ kép điệp
ý (sách đã dẫn, t 65 — 67)
Nguyễn Tài Cần tiếp tục phân lừ ghép ra là m : từ ghép
nghĩa (gồm có từ ghép phụ nghĩa và từ ghép láy nghĩa), lừ láy
âm và từ ghép ngẫu hợp (sách đã dẫn, t 87 — 108)
Ý kiến thứ ba : Phân ra lừ đơn, từ phức tạp (complex
words) và từ ghép (compounđs) T ừ đơn là từ do một hỉnh vị độc lập tạo thành Từ phức tạp là từ có từ hai hình vị trỏr lên, trong đố có thề cố hình vị có khả năng tách ra đề ỉàm thành
từ đơn, nhưng số lượng không thề nhiều hơn một T ừ phức tạp còn gồm có từ ghép giả và từ phái sinh T ừ ghép là từ gồm hai hình vị đầu cố khả năng tách ra đề dùng độc lệp Nố gbm c6 từ ghép thành ngữ tính, từ ghép cú pháp và từ ghép phi cú pháp Đây là ý kiến của L Tôm-xơn (tác phằm đa dẫn,
t 119 153)
Ỷ kiến thứ tư : Phân ra từ đan, từ lặp và từ ghép Từ
đơn là từ do một hình vị dùng độc lập tạo thành T ừ láy là
từ gồm hai hình vị láy âm với nhau, trong đó có một hình vị
(13) Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến liê tuy khung có ý
kiín rõ ràng về đơn vị ngữ pháp cơ sử, nhirng cách thức phân tích từ tiếng Việt của họ chứng tỏ họ muõn xem tiẽng lẻ là
đơn vị ngữ pháp cơ B Ở của tiếng Việt
- : V ' 0 0 / 2 0 5 5
Trang 16có thề tách ra ả i làm thành tìr đorn (ví d ụ : dim dự/', tôn lốt, bủo biiug ) T ừ ghép là lừ g(Jm từ hai hình vị trỗr lên đều có
khả năng tách ra đề dùng độc lập
Dây là ý kiến của Xôn-xép và các lác giả khác cùa quyền
« Tiếng Việt » (tác phằm đã đẫn, t 43 — 60)
Ý kiến thứ năm ; Phần ra từ đơn (hoặc từ thuần) và từ
ghép T ừ đơn là từ do một «từ lổ ĩ («hình vị») hoặc nhiều ' từ t ổ ( « h ì n h v ị ») lắp láy hợp lại, trong đó chl có nhiều nhất
là một hình vị có khả năng tách ra đề sử dụng độc lập T ừ ghép là từ gồm từ hai hình vị trỏr lên, ngoài những trường họp đã thuộc vào từ đơn.* Đây là ý kiến của Nguyễn Kim Thản (tác phầm đã dẫn, t 80 — 100) và Nguyễn Phú Phong (tác phằm đã dẳn, t 22 — 26)
Ý kiến của Lưu Vân Lăng cũng có thề xếp vào loại này Theo
tác giả, « từ đ ơ n là từ chl có nhiều nhất là một tiếng có nghĩa
[ ] Nó có thề là từ đơn tiết f ] từ đa tiết [ ] (thưĩrng gọi là từ láy), một sổ từ đơn đa tiết chỉ gồm nhiều tiếng vô
nghĩa f j (như : ễnh ương, mặc cả) [ ] Từ kép là từ
gồm từ hai tiếng có nghĩa trỏr lên » (tác phằm đã dẫn, t 50).Đáng tiếc là Lưu Vân Lăng khổng nói rõ nhửng trirờng
hợp như rích trong cũ rích, qué trong gà quí là có nghla hay
không có nghĩa Nếu quan niệm đó là những tiếng có nghĩa thì
sẽ xếp cũ rích, gà qué vào từ ghép, và hoàn toàn phù họrp
với ý kiến thứ năm này
Chúng tôi cho rằng ý kiến thứ nhất không hợp lý, bỏri vì
rõ ràng không nên xếp những đơn vị có cấu trúc rất chặt như
bù nhìn, cà r ố t vào cùng một phạm vi với những tồ hợp
có cấu trúc rất lỏng như cĩr vàng, áo trắ n g
Ý kiến thứ hai cũng không họrp lý, bởi vì việc xếp cà p h i,
bù nhìn vào từ ghép là trên cơ sờ của quan niệm cbo cà, phê,
bù, n h ìn đều là những hình vị Song, thật ra, như chúng lôi
đẵ chứng minh, đó không thề ià những hình vị được Trong cách phân loại của L c Tôm-xơn (ý kiến thứ ba) thl c6 những điềm không nhất quốn Nếu cSn cứ vào tiêu c h í ; trong nộỉ bộ
Trang 17cùa từ, có hay không có những thành phằn cấu lạo là từ tố, thì phải vạch đường ranh giới giữa loại mà Tôm-xcrn gọi là
từ liơn với hai loại mà Tôm-xơn gọi là íứ phức lạp và từ ghép,
chứ không thề đặt ba loại nói trên ngang hàng với nhau được Còn nếu căn cứ vào tiêu chí có một hay nhiều hình vị tự do,
thì phải xếp những từ như rõ rệt, sạch sẽ vào từ đơn chứ
không thề xếp vào lừ phức tạp như Tôm-xơn xử lý Không rõ
vì lẽ gì Tôm-xơn dã nhập chung những từ như quốc gia, tấc giả và những từ như rõ rệt, bàn ghế bàn ghiếc vào
chung một loại và gọi là loại từ phức tạp
Sự khống hợp lý cùa ý kiến thứ tư cũng là ỏr chõ tiêu chí phồn loại không rõ ràng, khfíng nhắt quán Nếu theo tiêu chí
láy âm, thì phải phân ra từ lá y đối lập vớ i f lừ không ỉá y > ;
nếu theo tiêu chí c6 một hay nhiều hình vị tự do, thì phải phân
ra từ đơn và từ ghép Việc tách riêng từ láy và xếp ngang hàng v6i từ đơn, từ ghép là không hợp lý
Chúng tôi cũng không lFieo ý kiến thứ năm, bỏri vì việc tách những từ gồm từ hai hình vị trỏr lên ra thành hai nhóm, một nhóm (gồm từ láy) thì xếp vào từ đơn và nhóili còn lọi,
gồm cả những từ như cũ rích, đòng ảng thì xếp vào từ
ghép là không thỏa đáng
Theo chúng tôi, trước hết cằn phải phân ra từ đơn và từ ghép Từ đơn là từ do một nguyên vị có khả năng dùng độc lập tạo thành T ừ ghép là từ gồm từ hai nguyẽn vị trỏr lên
T ừ ghép chia ra thành : iừ ghép mượn Hán và từ ghép thực
T ừ ghép thực lại chia ra ; từ ghép thực bộ phận (bao gồm từ
ghép thực bộ phận lắp láy, từ ghép thực bộ phận không lắp
láy) và từ ghép thực hoàn toàn (bao gồm từ ghép song song,
từ ghép chính phụ) Về những vấn đề này chung tôi sẽ trình
bày kỹ ò phần thứ hai.
Vấn đẽ q u an hệ n g ữ n ^ h ĩa
g iữ a các yễu to cáu tHO từ ,
Đây là vấn đề còn ít dược nói đến Một sổ ý kiến đáng liru ý là : Đ Tô-mát có nói đến « từ lặp nghĩa » (bài đã đỉn>
Trang 18t 522); Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê có nói đến từ đơn ý và từ điệp ý (tác phầm đã dẫn, t 65) ; và Nguyễn Tài Cằn cổ nói đến từ ghép láy nghĩa và từ ghép phụ nghĩa (tác phầm đã dẫn, t 92—106).
Những vấn đề khác như vấn đề quan hệ ngữ nghĩa trong nội bộ các tiều loại từ ghép (từ ghép thực bộ phận lắp láy, từ ghép thực bộ phận không lắp láy, từ ghép chính phụ, từ ghép song song) đều chưa được nghiên cứu bao nhiêu Đó là nhữag vấn đề chúng tôi định sẽ đề cập đến ỏr phần II
Vẫn đe trong âm của từ tiếng Việt.
Vấn đề này cũng ít được bàn đến Chl có vài tác giả như
L Tôm-xơn và Đoàn Thiện Thuật đề cập tới trong một số trưòrng hợp (14) Chúng tôi quan niệm từ {iếng Việt có trọng
âm (hoặc trọng âm chính, hoặc trọng âm phụ) Ý kiến này sẽ được trình bày kỹ hơn trong các chương của phằn II
vẵn đề vạch ranh gió-i từ.
Hầu hết các tác giả viết về tiếng Việt (trừ Ê-mê-nô) đã
nhắt trí cho rằng những đơn vị như : đẹp, đi, cũng, hù nhìn,‘
cà phê, ô tô, băn 'khoăn, dẹp đẽ, củ rích, gà qué, quốc gia, tư bản đều là từ trong tiếng Việt Mọi ngưòri cũng hầu như
nhắt trí cho rằng những tồ hợp lỏng như con dao sắc ấy, đọc hai quyền sách, dọc và suy nghĩ đều là cụm từ tự do chân
chính Song, đối với những tồ hợp chặt gồm từ hai tiếng trử lên, có nghĩa và có khả năng dùng độc lập, ghép lại thì ý kiến
(14) L Tôm-xơn nêu ra vẫn đè này trong khi nói về từ ghép thành ngữ tính (idiotn compounds) và từ ghép cú pháp (syntatic compounds) (Sách đã dẫn, t 127— 128).
Doàii Thiện Thuật, Đóng góp vào VÌ(‘C giởi dịiUi từ da tiẽt bùng tiêu chí trong ăm tronsỊ tiẽng ViPt, • Thông báo khoa hoo
văn hoc npôn ngữ học’, tập II pại hoc tồng họ-p, 1.124—125
Trang 19về việc xác định ranh giới từ, cụm từ cổ định và cụm từ tự
do vận còn là vấn đề đang bàn cãi
Trước hết cần phân biệt hai loại ý kiến lớn khác nhau :
\) Cho tắt cả những tồ họrp chặt như thế đều là cụm từ cá định
Và vì thế, không đặt ra vấn đề xác định ranh giứi từ trong phạm vi những tồ hợp như vậy Đó là ý kiến của Trương Đông San (15) Cũng có thề lạm xếp ý kiến của Trương Văn Chỉnh và Nguyễn Hiến Lê vào loại này ; họ quan niệm những
tồ hợp chặt ắy là ngữ (đơn vị thuộc cấp cấu tróc cao hơn từ),
chl trừ những trưừng hyp như : nghi ngơi, sức lực, tranh dấu thì cho là từ kép điệp ý (16) 2) Quan niệm rằng trong
phạm vi những tồ hợp cbặt ấy, có cả từ ghép (bao gồm từ ghép song song, từ ghép chính phụ), cụm từ cố đmh (bao gồm thành ngữ, ngạn ngữ) và một sổ cụm từ tự do có kết cấu tương đối chặt Vì thế, vẩn đề đặt ra ià cằn phải tìm những tiêu chí khách quan đề xác định ba kiều tồ hợp khác nhau đố ĐAy là
ý kiến của phần ỉớn các tác giả khác
Theo chúng tôi, ý kiến thứ nhất không bợp lý Bời vì cái bọc « cụm từ cố định » lớn qttá, bao gồm những tồ hợp rất khác nhau cả về cấu tạo hình thức lẫn cấu tạo ngữ nghĩa.' Trên thực
tế, đó là sự né tránh vấn đề vạch ranh giới giữa những tồ hyp
r í t khác nhau ấy Rõ ràng nhừng tồ hợp như ngăn nắp, sân
b a y vừa có cấu tạo hình thức rắt chặt, vừa có cíu tạo ngữ
nghla không thề phãn tích theo trục ngang (trục cú pbáp)
được ỉ trái lại, nhữnV tồ hợp như bần như hủi, lên như d ừ u —
thì không những cấu tạo về hình thức không thật chặt (so sán h ; bần như hủi / bần như đồ hủi / bần như chó / bần như con chó ; lên như diều / lên như diều gặp gió / lên như g ió ) , mà
(15) Trirorng Đôog San, Thành ngữ 30 sánh trong tiêng Việt,
• Ngôn ngữ 1974, eõ 1, t 1 — 5.
(16) Theo hai tac giả, ‘ từ kép điệp ý là tiếng đôi gòm có hai từ đ(rn đ ồ D g nghĩa hay nghĩa gần giỗng nhau*.(Sách đả dỉn>
t 67)
Trang 20cấu tạo về ngữ nghĩa cũng khổng phải là cái gì khác hơn là sự kết hgrp theo trục ngang nghĩa của các yếu tố trong tồ hợp Chính
vì cái quan niệm quá rộng rãi ắy về « cụm từ cố định » raà Trương Đông San đã vi phạm ngay cái nguyên tắc mà bản thân tấc giả nêu ra : « Về mặt khổl ỉượng, giữa các đơn vị của các cấp độ,
có quan hệ bao gồm, tức là đơn vị của cấp độ trên chứa đựng các đơn vị của cấp độ dưó’i : cụm từ cố định chứa đựng các từ
vị, hỉnh vị và âm vị ; từ chứa đựng các hình vị và âm v ị ; hình
vị chứa đựng các âm v ị » (bài đã dẫn, t 1) Trong hàng loạt cụm
từ cổ định mà tác giả nêu ra làtn v í dụ trong bài báo nói trSn,
không phải chỉ chứa đựng cố từ vị, mà còn chứa đựng cả cụm
từ tự do nữa ! Chằng hạn : trong trắng như trứng gà bóc, như
mẹ chùSng với nàng d â u (bài đă dẫn, t.' 3), thì trứng gà, trứng gà bóc, mẹ cKSng với nàng dâu không phải là c từ v ị »
Chúng tôi sẽ trỏr lại vấn đề này ỏ r ^ ư ơ n g IV, phần I
Giải quyết các vấn đề nêu ra trên đây sẽ là nội dung chủ yếu của quyền sách này T ừ đố, sẽ toát ra những đặc điềm nối chung và những đặc điềm cơ bản nói riCng càa sự cấii tạo
từ tiếng Việt hiện đại
Đặc điềm cơ bản, theo chúng tôi, là nhân tổ có tác dụng chi phối đến các đặc điỀtn khác và là nhân tố quyết định sự hình thành toàn bộ bộ mặt của sự cấu tạo từ tiếng Việt Qua
Trang 21những đặc điềm cơ bản, có ihề giải thích được vấn đề tại sao
từ trong tiếng Việt lại cấu tạo theo cách như chúng tôi sẽ miêu tả, chứ không phải theo cách nào khác
' 11
P H ir ư N O P H Ấ P NGHIÊN c ứ u
Từ là một bộ phận của ngôn ngữ, chịu sự chi phối của qui luật vận động nói chung của ngôn ngữ Do đó, khỏng nên hoàn toàn tách từ ra khỏi ngổn ngữ đề chĩ làm công việc miêu
tả một cách hình thức ; nghla là không nên quên những mổi
quan hệ chi phổi — bị chi phối giữa ngôn ngữ là cái chung với từ là cái riêng, và những ảnh hưỏrng qua lại giữa từ với nltững bộ phận khác trong ngỗn ngữ Đồng thỉri, p hii quan
niệm từ là một đối tưọmg thưỉrng xuyên vận động và phát triền,
bởi vì ngữn ngữ chỉ oó thề tồn tại trong sự vận động : cụ thề
là trong việc tồ chức thành lời nói đề thực hiện chức năng thững bắo nhằm thỏa mãn yêu cầu thông báo của xã hội không ngừng phát triền và đồi mới
Trong nghiên cứu, cố thề và cằn phải hạn định đổi tượng trong một phạm vi nhất định (cả về thòri gian và khổng gian), nhưng như thế không có nghĩa là ngưòri nghiên cứu có quyền tách ròri đối tượng khỏi cái chung và khỏi sự vận động của
cái chung đề xem xét nố và đề rút ra những kết luận về nố.
Nguyẽn nhân tồn tại, nguyên nhSn vận động của bất kỳ
đối tượng nào cũng chỉ có thề tìm thấy trong sự đấu tranh
giữa những mặt mâu thu&n cơ bản của chính bản thãn đối tưọrng
ấy E)ổi tượng khững thề được giải thích bằng lối tư b iệ n ; đối tưọrng được giải thích cũng khỗng phẳi chỉ b&ng những tác dộng bên ngoài nó, mà quan trọng nhất và thực chất nhắt là
bằng sự dấu tranh giữa những mặt mâu thuẫn cơ bản trong
chính bản thân đối tượng ấy Chúng tôi quan niệm rằ n g : mặt hình ihức của ngôn ngữ và mặt nội dung thông báo của ngôn
ngữ là hai mặt mâu thuẫn cơ bản trong bản thán ngdn ngữ.
Trang 22Trong khi nghiên cứu về sự cấu lạo từ, chúng tôi sẽ 'cổ
gắng xem xét mối quan hệ giữa từ với các bộ phận khác trong
bộ máy ngôn ngữ, xem xét tác động của sự thực hiện chức năng thông báo đến tình hình cấu tạo từ, và xác định từ như
là một bộ phận tất yếu trong cái chỉnh thề ngôn ngữ Chúng
tôi quan niệm rằng, sự cấu tạo của'từ trong tiếng V iệt vừa góp
phằn tạo ra sự cấu tạo của toàn bộ tiếng Việt, vừa chịu sự chi phối của những qui luật chung của tiếng Việt
Chúng tỡi cho đó là những nguyên tắc cơ bản của phướng pháp nghiên cứu về sự cấu tạo từ
Về trình tự nghiên cứu, chúng tôi sẽ bắt đầu từ những vấn đề cơ bản (quan niệm vẾ nội dung íủa môn cấu tạo từ, về đơn vỊ ngôn ngữ, về ý nghĩa, về từ, về các mẫu cấu tạo từ)
đi đến sự phân tích các kiều từ trong tiếng Việt hiện đại
IIINỘI DUNG CỦA MỒN CẤU TẠO TÙ*
Theo ngôn ngữ học đại cương hiện nay, sự cấu tạo từ được phân biệt với sự biến hình của từ Nghiên cứu sự cấu tạo
từ theo quan niệm này là nghiên cứu tồ chức nội bộ của từ
theo trục ngang, còn gọi là trục- tuyến tính Ví dụ, nếu phân tích từ nep.e/ieyiaTb (tiếng Nga, có nghĩa là làm lại) theo trục
ngang, thì sẽ Um ra tồ chức nội bộ của nó như sau : tiền tố
n ep e + căn tố ASA + v ĩ tố aTt> Cằn lưu ý là các bộ phận nepe
A SA , aib đều là những bộ phận có nghĩa (nói đúng hơ n , là
những bộ phận có ý nghĩa ngữ ngôn, về ý nghĩa ngữ ngôn, xem phần I, chương IV) Nghiên cứu sự cấu tạo từ sẽ không tính đến những bộ phận không có nghĩa trong nội bộ của từ Những bộ phận có nghĩa trong nội bộ của từ gọi là từ tổ, tức
là yếu tố cấu tạo từ Trong ngôn ngữ học đại cương hiện nay, chưa có thuật ngữ hoàn toàn tương đưang với từ tố Thuật ngữ morphème (dịch là hình vị) khững hoàn toàn giống từ tổ Hình vị chl là một loại từ lố mà thôi — từ tố trong các ngữn
Trang 23ngữ biên dạng — ; nó phản ánh những đặc trưng cùa các bộ phận của từ trong ngôn ngữ biến dạng Trong phạm vi hình
vị, có sự đối lập giữa những hình vị biến hình và những hình
vỊ không biến hình Từ tố trong các ngồn ngữ khác (như ngổn
ngữ chắp dính ; ngôn ngữ đơn lập (17a)) không phải là hình
vị, bời vì b đây không có sự dồi lập giữa từ” tổ biến hình và
từ tố không biến hình
Nghiên cứu sự biến hình của từ theo quan niệm trên là
nghiên cứu các hình thức của từ (trong dó chủ yếu là các hình thức của hình vị biến hình và tác dụng ngữ pháp của nó), theo trục dọc, còn gọi là trục biến tính (17b)
Môn học nghiên cú-u sự cấu tạo từ chiếm một vị trí như thế nào trong ngữ pháp ? Đối với ngôn ngữ biến dạng, nhiều nhà ngôn ngữ học quan niệm nó là một bộ phận trong hình thái học (18) Nhirng cũng cố tác giả tách nó ra khỏi hình thái
học, đặt ngang hàng vớ i hình thái học, và quan niệm nội dung
chù yếu của hình thái học chl là nghiên cứu sự biến hình của
từ (19)
Đối với ngôn ngữ đơn lập (như tiếng Việt, tiếng Hán,
tiếng Thái V V )• các nhà ngôn ngữ học đều quan niệm môn
học nghiên cứu sự cấu tạo từ là một bộ phận rất quan trọng
(17a) tiSng Pháp : langue agglutinante, langue isolante.(17b) tiỄng Pháp : axe paradigmatique
(18) Hình thái học thường đurợc quan niệm là gom có DQÔn học nghiên cứu 8ự cẫu tạo từ và môn học nghiên cứu 8ự biến hình cùa từ Có những tác giả quán niệm từ loại là v&n đề oủa hình thái học Song, trong từ loại ngoài những đặc điềm vè hình thái còn có cả những đặc điềm vê cú pháp và vè ý nghĩa cỉa tìr Vì vậy, theo chúng tôi, hình thái học không nghiên cứu vẵn
đê từ loại
(19) Ví dụ ; ÁH CCC HHrrnTyT si3WKU3HaHMa ,rPdMM3rMKa
COBPEMeHHorD/iiirEPaTypHDm p yrck o ro aỉMKa ,M a t.x c tf-v a , 1 5 7 0
Trang 24trong từ pháp hay hình thái học (20) Chưa có tác giả nào đặt
nổ ra ngoài phạm vi từ pháp, bòi vì trong thực tế, đối với ngôn ngữ đơn lập, nếu đặt sự nghiên cứu về cấu tạo từ ra ngoài phạm vi từ pháp, thì nội (iung của từ pháp sẽ hằu nhu- không còn có gì đấng kề nửa
1X> đó, muốn xác định vị trí của sự nghiên cứu về cắu tạo
từ thì cằn phải làm rõ khái niệm về hình thái học và khái niệm về từ pháp Hình thái học và từ pháp có phải là một khÔDg ? Có thề có một mOn học chung nghiên cứu cái mà ử các ngôn ngữ biến dạng gọi là hình thái học và ờ các ngôn
ngữ đơn lập gọi là từ pháp khỗng ? Và nếu có thề có, thì môn
học chung đố là gì ? Quan hẹ giữa sự nghiên cứu về cấu tạo
từ với môn học đó là quan hệ như thế nào ?
Hình thái học gốc ò tiếng Hy lạp morphslogos cố nghĩa là
khoa nghiên cứu về hình thức (morphê : hình thức ; logos : sự- nói về, sự nghiên cứu về ) Dĩ nhiẽn, hình thức ỏr đây khOng phải là hình thức nói chung, mà chĩ là hình thức trong ngdn ngữ, và cụ thề hon, chỉ là hình thức của từ Có thề nói, từ thừi
cồ Hy lạp, đã tồn tại khoa học nghiên cứu về hình thức của
từ T rưóc hết, khoa học này xuất phát từ thực tế tiếng Hy lạp — một ngôn ngữ biến dọng; đại đa số từ trong tiếng Hy lạp đều có khả năng biến đồi hình thức Sự biến hình của từ
(20) Trirác đây, một fõ nhà ngỏn ngữ học Trung quSc đã dịch morphologie là hình thái hoc, và muốn dùng thuật Dgữ ãỵ
đề chỉ 8ự nghiên ciru về cẫu tạo từ, về nhirog hình thức ngữ pháp của từ trong tiếng Hán Nhưng sau đó, vì nhận thấy khái niệm hình thái học không phù hựp với tiếng Hán — một ngôn ngữ không biễn hình —, nên đã thay bằDg thuật ngữ từ pháp
Trang 25thường khổng phải là sự thay đõi toàn bộ hình thức của từ (21)
mà chỉ là sự thay đồi hình thức của một bộ phận của từ mà thôi Biến đòi hay không biến đồi hình thức, đó là căn cứ đề phân biệt hai loại bộ phận trong t ừ ; loại có khả năng biến đôi
hình thi'rc (ví d ụ : -8Tb , .10 , ,eujb , e ĩ v.v trong HHTaTb ,
: -er Ị e /, -e / 8 -ons / 0 /, -crai I are / -erư / ara / v.v trong travailler ), và loại không c6 khả năng biến
đồi hình thức (o£ d ụ : HMT , tra v a iỉ - trong những từ trên)
Dù là có khả năng hay không có khả năng biến đòi hình thức,
đó cũng đều là những bộ phận tạo ra hỉnh thức toàn vẹn của
từ, nên có tên gọi là hình vị (nghĩa đen là đơn vị hình thức)
Từ đó, nhiều nhà ngôn ngữ học phân biệt sự kết hợp giữa những hình vị trong nội bộ của từ (tức là sự cấu tạo từ) v<5fi sự biến đồi hình thức của từ được tạo ra chủ yếu do sự biến đồi hình thức của những hình vị biến hình (tức là sợ biến hình của từ), ở đ£y, chúng ta cố quyền đặt cỉu hỏi : việc phân biệt sự cấu tạo từ vdi sự biến hình của từ c6 đằy đủ cơ sỏr khoa học hay khỏng ? Ranh giới xủa chúng ẹó rõ ràng không ? Hãy lấy một từ, chầng hạn từ HkiraTb trong tiếng Nga làm ví dụ
Nó có những hình thức khác nhau hay là những biến thề khác nhau như sa u : HMTaxb ,MMTaw,WMTaeiub(22)
Trong ngOn ngữ biến dạng, mỗi từ có khả năng biến hình
là tồng hợp của t í t cả những biến thề khác nhau cùa từ ấy, Mà
sự tạo ra những biến thề khác nhau íy thưỉrng là kết quả của
sự biến đồỉ hỉnh thức cũa những hỉnh vị có khả Hăng biến
hình Đứng ở góc' độ cấu tạo từ mà xét, sự biến hình của từ
(21) Ch! có một BÕ rSt ít từ Diái thay đồi toàn bộ hình thức
Ví dụ ; bien — meiUeur, mauvais — pire (trong tiếng Pháp),
v.v Hiện tư ^ng này đirợc gọi bằng thu&t ngữ hình thái bo sung (supplétivieme).
(22) Chúng tôi chl lãy làm ví dụ những bicn thề của từ
HMTâTb ở thức tư òn g thuệt và th òi hiện tai mà thôi, c h ứ không
kè đẽn những thứ c và những thỉri khác.
Trang 26lù nhằm phục vụ cho sự tạo ra những biến thề của từ, và nó
là một bộ phận nằm trong sự cẩu tạo từ nói chung Có thề nào
nói sự cẩu tạo từ là ứiuộc cấp độ « bộ iTiáy ngôn ngữ » còn
sự biến hlnh của từ ỉà thuộc cấp độ « lời nói » đề từ đó tách riêng sự biến hình của từ ra khỏi sự cấu tạo từ hay không ? Không ! Tuy mới nhìn, vì các biến thề cua từ chl có khả năng xuất hiện trong lỉri nói nên hình như chúng thuộc vào diện lỉri nói, nhưng thực ra, chúng thuộc vào diện bộ máy ngôn ngữ Bỏri vì chúng khống phải là sự sáng tạo trong lỉri nói cùa cá nhân, mà chính là những điều qui ước chung mà toàn
xã hội phải tuân theo Cá nhân 6hĩ có thề sfr đụng những biến thề ,«sẵn có » của từ — những biến thề đã được xã hội qui định từ bao đỉxi —, chứ không thề nào «sáng tạo» ra đưực những biến thề ấy Nói biến thề là nói những hình' thức cụ thề của một hằng thề Mổi quan hệ giữa biến thề và hằng thÈ là : hằng thề
là một cái chung được trừu tượng hóa từ các biến thề có
ý nghĩa từ vựng giổng nhau, xuãt hiện trong lời nói ò
những thế phân bố bồ sung Hằng thề chĩ tồn tại trong
bộ máy ngôn ngữ, chứ không thề xuất hiện trong lời nói Biến thế không những là cái của bộ máy ngôn ngữ mà còn là cái cố khả năng xuất hiện trong lòri nói nữa Cái của bộ máy ngôn ngữ có khả năng xuất hiện trong lời nói chung qui vẫn là cái ihuộc vào bộ máy ngôn ngữ Có hay khồng có khả năng xuất hiện trong lỉri nói không phải là tiêu chuần đề đánh giá một hiện tượng nào đó là thuộc vào diện lừi oói hay không thuộc vào diện lời nói Trong thực tế, có những cái thuộc vào
bộ máy ngổn ngữ (như từ đối với ngôn ngữ đơn lập)» hoặc biến thề cùa từ (đối với ngôn ngữ biến dạng) đều c6 khả năng xuất hiện trong lừi nói cả Bởi vì lời nói là kết quả của
sự vận dụng những cái thuộc vào bộ máy ngồn ngữ Có thề nói, biến thề và hằng thề của từ đều thuộc vào diện bộ máy ngốn ngữ Trong những ngữn ngữ khổng biến hình, ví dụ ngồn ngữ đơn lập, vì từ không biếh hình nẽn không cố vấn đề biến thề
và hằng thề ; mỗi từ chỉ cổ một hình thức, và chính hình thức
ấy vừa tồn tại trong bộ máy ngôn ngữ, vừa hoạt động trong
Trang 27lỉri nối Trong các ngôn ngữ biến dạng, cần phân biệt tên gội hay là nhãn hiệu (étiquette) của hằng thề với hằng thề chân chính Cũng cần phân biệt tên gọi hay là nhẵn hiệu của hằng thề với một biến thề trong hằng thề Chẳng hỊin, trong thực tế tồn tại một hình thức KMTaTb với tư cách là một biến thề ở
thức bắt định cùa từ được gọi tên là HMTaĩb Còn HMTaTb
được ghi vào từ điỀn với tư cách là từ không phải là biến thề
HMTaTb ờ thức bất định, mà đó là tên gọi hay là nhãn hiệu
của hằng thề của từ, đưọrc gọi bằng cái tên gọi đó — từ
MMT3Tb Chọn biến thề nào làm tên gọi của hằng thề, đó
ià vấn đề qui ước của những ngưỉri nghiên cứu ngổn ngữ Ví
dụ, đối với động từ, các nhà ngôn ngữ học thời cồ Hy lạp
chọn biến thề ở thức bất định làm tên gọi của hằng thề, đối
với danh từ thì chọn biến thề ở « cách m ột» làm tên gọi của hằng thề, , , và về sau, điều đó đã trỏr thành thói quen, của giới ngôn ngữ học nói chung
Trong các ngốn nìgữ biến dạng, nói đến sự cấu tạo của những từ có khả năng biến hình là phải nói đến 6ự cấu tạo cùa những biến thề của từ Khõng thề có sự cấu tạo nói chung của hằng thề, hoặc của một từ chung chung ngoài các biến thề Đây lại thêm một bằng chứng về việc không thề tách riêng sự biến hình của từ ra khỏi sự cấu tạo từ Vì vậy, theo chúng tôi, suy cho cùng, toàn bộ nội dung của «hình thái liọc» là nghiên cứu sự cấu tạo của từ
Từ pháp, nếu giải thích theo phép « chiết tự » là phép cùa
từ Song thế nào là « phép của từ »? Có thề hiều đó là qui tắc
về từ nói chung ; qui tắc về sự cấu tạo của từ, qui tắc về sự hoạt động của từ trong lòfi nói, qui tắc về nghĩa cùa tìr Thế nhưng trong thực tế, nội dung của từ pháp không phải rộng như vậy Trong thực tế, từ pháp, nếu không kề đến sự nghiên cứu về từ loại, ihì chl nghiên cứu về sự cắu tạo lừ mà thôi.Như vậy, về thực chất, nội dung cùa hình thái học và của
từ pháp đều là nghiên cứu về sự cấu tạo từ Nhirng thuật ngử hình thái học khống phản ánh được một cách khái quát nội dung
Trang 28đó, mà chì phản ánh đặc trưng cùa sự cấu tạo từ bằng hinh
vị trong các hgôn ngừ biến dạng Còn thuật ngữ từ pháp thì
có một ngoại diện khái niệm rộng quá, không phản ánh trực tiếp nội dung nghiên cứu nói trên Do đó, chúng tôi đề nghị, trong phạm vi của ngôn ngữ học đại cương, nên dùng thuật ngữ khoa cấu tạo từ (tức là khoa học về sự cấu tạo từ ) đề thay thế cho thuật ngữ hình thái học và thuật ngữ từ pháp(23) Dĩ nhiên, kliái niêm thuật ngữ « khoa cấu tạo từ » mà chúng tôi đề nghị rộng han là khái niệm hiện có trong ngốn ngữ học đại cương về cấu tạo từ C ó , thề có người không đbng tình vó-i thuật ngữ chúng tôi đề nghị, viện cớ rằng bản
thân sự nghiẽn cứu về cấu tạo từ không thề nào bao g'ổm yêu cầu nghién cứu chức nâng ngữ pháp của những biến thề của
từ, mà đây là một điềm quan trọng trong nội dung nghiÊn cứu của hình thái học (24) Nhưng thật ra, khoa cấu tạo từ — vói nội dung nghiẽn cứu sự cấu tạo cùa từ — không thề vỉ một-lẽ gì lại không nghiên cứu vấn đề chức năng ngữ pháp của những biến thề của từ tức là vấn đề cắch góp phằn thực
(23) F Ẵng-ghen cũng từng nhãĩi mạnh : • càn phải thayđòi tên gọi cũ » nễu « nó trở thành vật chướng ngại của nhận thức Ăog-ghen, Phép biện chứng tự nhiên (bản tiẽng
Nga), Mat-xc<r-va, 1952, tr 237
(24) VĨ dụ : N.s Tru-bet.xkoi cho rằng : • Lý thuyết hình thái học đày đủ nhát gòm có ba môn : 1) lý thuyết về cỉu trúc fim >ị học của hình vị 2) lý thuyết v£ những 8ự biến đ&i ngữ
âm của hình vị trong khi kết họrp với các hình vị khác 3) lý thuyết về sự luân phiên ngũ- âm học nhằm thực hiện chức nâng hình thái học •; V Ska-lich-ka cho rằng ; nội dung cùa hình thái học gòm có : 1 Học thuyết v% cỉu trúc ẵm vị học của nghĩa
vị (semcs) 2 Học thuyết vè tính bẵt định của cẵu trúc fim vị học của chúng 3 Học thuyễt vS Bự dụng chức năng của tính bỉt định của nghĩa vỊ *; B Trnka cho rỉng : < một mạt, hình thái học két cỉa phải xác định nhirag 8ự đSi lập bình thái học,
và sự ttrvng quan cùa chúng troDg hệ thõng ngôn ngữ ; mặt
Trang 29hiện chức năng thững báo bằng những biển thề cùa từ Bỏri vì mục đích của sự nghiên cứu về cấu tạo từ khổng phải chl đề biết từ được cấu tạo như thế nào, mà chủ yếu là đề biết sự cấu tạo như thế này hoặc như thế khác cùa từ hoặc cùa những biến thề của từ (trong các ngổn ngữ biến dạng) dã phục vụ gì cho việc (hực hiện chức năng thông báo của ngôn ngừ Tắt cả nhừng môn khoa học khác trong phạm vi ngôn ngữ học nói chung (như âm vị học, ngữ nghĩa học, cú pháp học, tu từ học ) cũng đều phải như vậy, nghĩa là cũng đều phải hướng
về phía tìm hiều sự thực hiện chức năng thững báọ cùa ngôn ngữ Do đó, khi phân tích một biến thề của từ, chằng hạn HMTaK) , không những phải thấy những điềm khác nhau
về mặt cấu tạo giữa nó với những biến thề khác như HMTaeiUk, MHTđer V V mà còn phải thấy cả hiệu q u ỉ khách quan về
mặt chức năng thông báo do những điềm khác nhau ấy g ỉy ra
nữa Hiệu quả khách quan về mặt chức năng thống báo ấy chính là chức năng ngữ pháp của những biến thề cũa từ.Tóm lại, theo chúng tôi, về thực chất sự cắu tạo từ phối bao gbm c ỉ sự cấu tạo theo chiều ngang và sự cẩu tạo theo chiều dọc Sự cấu tạo của từ theo chiều dọc là sự cấu tfO của những biến thề của từ Trong các ngdn ngữ không biến hình như tiếng Việt, sự cấu tạo từ là sự cấu tỹO theo chiều ngang Trong các ngôn ngữ biến hình như tiếng Nga, sự cấu tạo từ bao gồm cả sự cấu tạo nh&ng biến thề của từ
khác, hình thái học két cíu có nhựm yụ xác định những phưcrng thức đề những B ự đõi iỉp hình thái học Sy áirợc thực
hiện ờ diện âm vị học* (X : H.C.TpyeeyKOM, HeKornPHB C006.
OTHOCHTGýlbMO AÍDPlỊìtMOrMM ; B Cxa/iMMKa,0 TpaMMaTMKB
BeHrepcKOro SibtKa ,đ ế u ở-trong q u y en « ripa*CKMÌi4MHrB«CTMHecKMĨ(
KPy)KOKi^ M ocKBa, 1 9 6 7 , tr 116.117 ựò 118 > 5.TPHK3 ,KAMCKyccm<
no 6onpocaM CTpyKTYW/iM5Ma trong « B il >■>,1957,56 5
Trang 31"Ì-PHẦN T H Ứ N H Ấ T
TỪ LÀ GÌ?
Trang 33Có tác giả cho rằng chl có thề xác định từ trong từng ngôn ngữ cụ th ỉ, chứ không cổ thề khái quát được thành định nghĩa chung về từ (1) Nhưng phần 'lớn tác giả thì lại mong muốn tìm đirợc Ihột định nghĩa chung về từ.
Nhiều tác giả đã nhận thấy rằng : môi từ phải có một hình thức ngữ âm nhắt định hoặc một tập hợp những hình thức ngữ âm nhất định, một hình thức ngữ pháp nhất định
(1) Xem :Ắ.B.lU,eP&a.Ũ4EPBflHHBnPDBjfEMWÍIJMKD3HaMlt5t, chuyền
đăng trong«Kcropi»a si3«)<03HaHnaxixM xxeeKDB BDMePKax MM3EueMBHH3ix»
tập 11, Mockba, 1%5, trang 314 — 315.
Trang 34hoặc một tập hợp những hình thức ngữ pháp nhất định, một ý nghĩa nhất định hoặc một tập hợp những ý nghĩa nhất định (2), và phải có khả năng hoạt động tự do trong lài nói ờ những ngôn ngữ khác nhau, tình hình về hình thức ngữ âtn, hình thức ngữ pháp của từ có thề rất khác nhau (chẳng hạn, so sánh từ giữa ngôn ngữ đcm lập và ngỗn ngữ biến dạng thĩ sẽ thấy sự khấc nhau này rất xa) Làm thế nào đề cố thề khái quát tất cả những tinh hình khác nhau
ấy vào một định nghĩa chung về từ ? Đây chính là chỗ khó khăn nhất
Có những tác giả muốn nêu rõ rằng những điềm chung
về ngữ âm, về ý Dghla và về ngữ pháp (bao gồm cả hình thức ngữ pháp và chức năng ngữ pháp) cùa từ vào trong định nghĩạ của mình Ví dụ : A Mầy-yê cho rằng : « T ừ là sự kết
hợp giữa một ý nghĩa nhất định \ớ'\ một tồ hợp âm nhất định,
cổ khả năng đ&m nhận một chức năng ngữ pháp nhất định } (3) Nhưng như thế nào là « ý nghĩa » ? Thế nào là một < tồ họp
ãm nhất định > ? Thế nào là một t chức năng ngữ pháp nhất định »? Những < tồ hgrp âm » như -er / e /-erai /a re /-era/ara /
trong trấvaUler, travaillerai, travaillera khỡng phải cũng
có « ý nghĩa » và cũng có « một chức năng ngữ pháp nhất địBh » hay sao ? Nhưng rõ ràng không ai quan niệm chúng là từ cả
(2) Có những tác giẫ dựa vào từng tiêu chí Dgữ ẵm, ngữ pháp, ngữ nghĩa đề phân biệt ba loại từ : từ âm vị (mot phono'
ỉogique), từ ngữ pháp (mot grammatical) và từ ngũ’ nghĩa (m ot
sémautique) Ví d ụ ; Ch Bally, Traité de styỉistique ỉranỊ;aÌ8e, second volume, Heidelberg, 1909, tr 77 — 9 6 ; A.A.3a/M3HaK^ pyccKoe HMeHHoec/ioBDH3MeHeHwMat-xcor.va, 1967, tr 1 9 — 20, Dĩ nhiên,
trong những tnrirng họrp cần làm nồi rõ từng tiêu chí Sy tbĩ có
th è phân loại n h ư vậy, n h ư o g đó khÔDg phải là cách xác đ ịn h
t ừ nói chung.
(3) A Meillet, Linguistique hÌBtorique et iinguistique générale Paris, 1921, trang 30
Trang 35Hoặc E Xê-pia cho rằng : « T ừ là một đoạn nhỏ nhất có
ý nghĩa, hoàn toàn có khả năng độc lập và bản thân có thề làm thành câu tối giản » (4)
Nhưng như thế thì hóa ra NMTató ,HMTaeujb.HMĩaeT .là ba từ hay MO ? Và tại sao chúng không phải là những biến thề của
từ ? Bó là điều Xê-pia chira nói rõ
Có tác giẳ muổn dùng thụật ngữ « hình thức tự do » đề khái quát những đặc trưng của từ Ví dụ : L Blum-phin cho rằng < từ
là hình thửc tự đo nhô n h |t » (5) hoặc : « hình thức tự do
nhỏ nhất là từ t> (6), và « mỗi bình thức ngôn ngữ là một tố
họ^p vững chắc của âm vị — những đơn vị có tính chắt dấu hiệu > (7) Nhưng nếu thế thỉ mỗi biến thề của từ cũng cổ thề được xem là từ Đó là chỗ chưa thôa đáng
Có những tác giả muốn dùng thuật ngữ «đơn vị nhỏ nhất >, < đơn vị ngữ p h á p «đơn vị cơ b ả n » đề khái quát những đặc trưng của từ Ví dụ : B Trơ-nơ-ka và một sổ tác giả khác cho rằng : « từ là đơn vị nhỏ nhắt có ý nghỉa, đưgrc cấu tạo bằng âm vị và có khả năng thay đôi vị trí và thay thế lẫn nhau trong câu» (8) Lục Chí Vỹ cho rằng : « T ừ là đơn vỊ
(4)-E Sapir, Ngôa ngữ (bản dich tiễng Nga), Mat-xcơ-va— Lê-nin-grad, 1934, trang 28
(5) Bloomíield, NgÔD ngữ (bản dịch tiẽng Nga), Mat-xcơ-va,
1968, trang 187, 165
(6) L Bloomíield, Loạt công thức cho khoa học về ngôn
ngữ (bin dịch tiếng Nga), trong <• Maopnsi si3biK03HaHM>i XIX M XX
eeicũB BonePKax M M5!weHeHMjỉx tập II, Mockba, 1960, trang 146.(7) Bloomỉield, Ngôn ngữ (bản dịch tiếng Nga), Mat-xcơ-va, 1%8, trang 187, 165
(8) B.TpHKa và một 80 tác giả khác K AHtKyccMM no, 90
nPOCBM cTpy^Typa^M3M a , t r o n g « B S Ỉ >»r1 9 5 7 , s ô ' 3
Trang 36nhỏ nhất có thề vận đụng tự do trong câu » (9) Một số tác gỉả
khác của Trung quổc cho rằng : «tĩr là đơn vị từ vựng, là'
đan vị của vật liệu kiền trục cùa ngôn ngữ, và cũng là đơn vị
nhỏ nhất có 4chả năng vận đụng tự do trong lời nói» (iO) ( ♦ )
V.G Admoni quan niệm rằng : «từ là đơn vị ngữ pháp, do
hình vị cấu tạo nên, dùng đề biều thị đối tượng, quá trình,
tính chất và những mối quan hệ trong hiện thực , có tính ‘đậc
thù rô rệt và có khả năag kiến lập nhiều mối quán hệ đa dạng
với nhau > (11) Và Nguyễn Kim Thản thì quan niệm rằ n g : « từ
là đơn vị cơ bản của ngôn ngŨỊ, có thề tách khỏi các đơn vị
khác của lời nói đề vận d ụ n ỹ một cách độc lập và Jà một
khối hoàn chĩnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp),
và chức năng ngữ pháp » (12)
♦Nhưng thế nào là đơn vị ? Thế nào là đơn vị nhỏ nhất,
đơn vị ngữ pháp, đơn vị cơ bản ? Mỗi biến thề của từ là một
đơn vị hay toàn bộ các biến thề của từ hợp lại mới làm thành
một đơn vị ? Những vắn đ'ẽ này vẫa chưa được giải đáp rõ
ràng trong ngôn ngữ học hiện đại
Trong thực tế của sự phân định ranh giới từ, các tác giả
phát biều những định nghía khác nhau về từ đều thỐQg nhất
với nhau ở những điềm như sau : 1) từ là Ỹĩiột khối cả về cấu
(9) Lục Chí \^ỹ, Hán ngữ đích cẵu từ pháp, Bắc Kinh,
1957, tr 5
(10) Ngôn ngử học danh từ giải thích (Bỗc Kinh đại học
ngôn ngír học giáo nghiên thãt biêiỉ), Bẵc Kinh, 1960, trang 9
(♦) Đây cũng là đinh nghĩa đirực dùng phồ biến nhát or
Trung quỗc trong ihời gian 1955— 1%3
(11)B.r.AíiMO>iM,OcHOBWTeDPMMr«MMírm(H, Mat-xcơ-va — Lê-riin-grad,
1%4, trang 7 - 8
tệp I, Hà nội, 1963, trang 64
Trang 37tạo lẫn ngữ nghía ; do đó, những cụm lừ tự do — những tồ hợp rõ ràng không kết thành một khối — đều bị gạt ra khỏi phạm vi của từ 2) từ phải có ý nghĩa ; do đó, những đan vị ngữ âm rõ ràng không có ý nghĩa cũng đều bị gạt ra khôi phạm vi cua từ 3) từ có khả năng hoạt động tự do trong việckết hợp với nhau đề trực tiếp tạo ra lời n ó i; do đó những
đ an vị ngữ âm, rõ ràng không có khả nâng ấy như dè trọng đẹp
dẽ, khoắn trong khỏe khoắn cũng đều bị gạt ra khỏi phạm
vi của từ
Tuy nhiên, về mặt lý luận, đề tìm ra một định nghĩa thỏa đáng vẾ từ, phải giải quyết những vấn đề như :
— Thế nào là ý nghĩa ?
— Thế nào là đơn vỊ ? là một khối vẾ cấu tạo và ngư
n gh ĩa ? (Đ ây là cái mà có tác giả gọi là tính chính thề của từ,
ví dụ : A.I Xmi-nit-xki)’ (13)
— T hế nào là khả năng hoạt động tự dó ? (Đây là cái mà c6 tác giả gọi là tính tách biệt của từ, ví d ụ : A.L Xmi-nit-xki) Ơ4)
Còn trong thực tế, đề xác định, được ranh giới của từ
phải giải quyết vấn đề : làm thế.nào đề phân biệt từ ghép với
cụm từ có cấu tạo tương đổi chặt chẽ, vó’i thành ngữ, ngạn
ngữ, tục ngữ cùng các loại đoản ngữ (còn gọi là cụm từ
cố định) khác ?
Dĩ nhiên, lý luận phải thống nhất với thực tế,'d o đó, giải
quyết những vấn đề lý luận là đề tạo ra những cơ sờ hợp lý
cho việc giải quyết vấn đề trong thực tế
(1;ì) (14; : A.M.Cmmphmi;kmm,K BDHPOcy 0 c-(OBe,trong«BonPDcw
TPOPMM H MCTOPMM a s b iK a B C B P ie TPyja.DB M B C T 3;1MHa n0SlỉWK03HaH«»O>^ MocKBa, 1 9 5 2 , t r 1 8 2 - 2 0 3 .
Trang 38CHƯƠNG II
Ý NGHĨA LÀ GÌ ?
Đây là vấn đề đã và đang được thảo luận sôi n ồ i trong vòng mấy chục păm nay Có thề nói một cách khái quát rằng, những sự khấc nhau chỉi yếu giữa các nhà ngổn ngữ học đều tập trung vào vấn đề xác định mối liên quan giữa ý nghía với hiện thực và g iia ý nghĩa với mặt vật chất của dấu hiệu (trong trưĩrng hợp này cũng thưừng đưực gọi là hình thức của
từ, hoặc là tên gọi của đối tưọrng trong hiện thực), về thực chất, có thề mình họa đó là những dấu hỏi đặt ra trên những hình tam giác có hai đinh đã được xác định :
Trang 39biều tượng, được thề hiện b&ng sự phát flm của từ mang biều tượng ấy »(1).
2 Đỉnh trẽn của hình tam giác chính là ý niệm, và ý nghĩa ỉà mổi quan hệ giữa hình thức của dấu hiệu và ý niệm
Ví dụ : s Un-man cho rằ n g : < ý nghla của từ là mổi quan
hệ qua lại giữa tên gọi và ý niệm (tận gọi là cái biều đạt và
ý niệm là cái được biều đạt) ỉ (2)
3 Ỹ nghĩa cố ỉiẽn quan một phần vổ^i đỉnh trẽn của hình tam giác Ý nghía n&m trong giá trị, vỉra là « cái được biầu đạt » (3), vừa là cái do quan hệ giữa các dấu hiệu trong
hệ thổng (tĩnh) xác định Theo F đơ Xổt-xuya giá trị xét về mặt khái niệm của nó, quả nhiên là một yếu tổ c&a ý nghía,
và rắt khó biết rõ ý nghĩa khác giá trị như thế nào trong khi vẫn lệ thuộc vào giá trị» «Khỉ nói rằng những giá trị tươDg
ứng vớ i những khái niệm, ngưỉri ta muốn nói rằng những khái
niệm này có tính chất phẵn biệt thuần túy, được xác địhh khống phải một cách tích cực do nội dung của nó, mà là một cách tiêu cực do những mổi quan hệ giữa nó vóì những yếu
tố khác của hẹ thống » (4)
4 Ý nghĩa không liên quan gi vớ i đinh cùa hình tam giác
Ỷ nghĩa là do vị trí (hay ỉà sự phân bố), của 'một dấu hi$u trong chuối ỉòri nói xác định Ví dụ, E.A Nai-đa ; « Biện pháp duy nhất đề ỉ xấc định > ý nghĩa / / là phải miêu tả sự phfin
bố càa nố » (5) Những nhà ngốn ngữ bọc miêu tả ờ Mỹ, nói
chtmg theo quan điềm này
(1) } Marouxeaa, Lexique de la terminoỉogie lÌDguiatiqoe, Pranẹais, Allemand, Anglais, Italien, 3è éditíon, ParÌB, Ỉ95Ỉ
« Word volume 9,- No.3, 1953, tráng 225,
(3), (4) F de SauBsure, sách đã dẫn, trang 121, 199, 204.(5) E.A Nida, Analysis of Meaning and Dictionary Making,
* International Journal of American L in g u ÌB tic s 1958, tệp 24,
80 4, trang 82
Trang 405 Ý nghía là một cái ngoài hình thức ngôn ngữ áược
xác định bằng sự tương ứng giữa người nói và người nghe, thông qua iHỘt chuỗi âm thanh (thuộc về ngốn ngữ) V'í dụ,
L Blung-phin, e Fri-zơ V V
Sơ đồ về ý nghĩa của họ là ;
s - -R ( ♦ )
N gườ i nói Ngôn ngữ Phản ứng của
Ý nghĩa do sự tương ứng giữa (I) và (II) xác định (6)
6 Ý nghĩa là sự phản ánh đổi vứi hiện thực, và nó ở trên
đĩnh của hình tam giác Quan điềm này tương đối phồ biến
Ví dụ, A.I Xmi-nit-xki cho rằng : < ý nghĩa của từ là sự phản ánh đỐỊ tượng, hiện tượng hay là quan hệ vào ý thức ( ) »(7) Một số tác giả khác như Yu X Xtê-pa-nov, A x Tri-cô- ba-va, V.A A-chua-mov, V.M Xôn-xép v,v cũng cổ quan điềm này (8)