1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

SKKN giúp học sinh học tốt chương quang học vật lý 7

18 637 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 741,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN giúp học sinh học tốt chương quang học vật lý 7 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Trong thời đại khoa học công nghệ ngày nay, lượng tri thức mà học sinh phải tiếp nhận khi ngồi trên ghế nhà trường tăng lên rất nhiều. Từ đó đòi hỏi học sinh phải tiếp thu kiến thức một cách tích cực và sáng tạo, có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu của nền giáo dục trong thời đại mới. Chương trình Vật lí ở trường THCS thì môn Vật lí ở lớp 7 là một môn học tự nhiên với nhiều hiện tượng, khái niệm, định luật khó hiểu và cũng dễ gây nhàm chán đối với học sinh, từ đó dẫn đến học sinh không hứng thú học tập môn khoa học tự nhiên này. Mục tiêu của môn vật lí ở trường THCS là giúp học sinh nắm vững kiến thức vật lí để bước đầu hình thành những kiến thức phổ thông cơ bản, giúp học sinh có thói quen làm việc khoa học, đồng thời góp phần hình thành năng lực nhận thức, phẩm chất nhân cách theo đúng mục tiêu giáo dục. Bên cạnh đó, môn vật lí học còn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại với các môn học khác như: Toán học, sinh học, địa lí, công nghệ … Thực trạng của học sinh hiện nay là ý thức học tập của một số em chưa cao còn lơ là trong việc học tập và kĩ năng giải bài tập còn hạn chế dẫn đến học lực của các em trong một lớp học không đồng đều, học sinh có học lực yếu, kém còn chiếm tỉ lệ cao trong một lớp. Mặt khác do địa bàn nông thôn, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên các bậc phụ huynh chủ yếu làm kinh tế gia đình hay làm kinh tế xa, việc cải cách sách giáo khoa so với trước đây nhiều phụ huynh muốn hướng dẫn cho con cũng không giúp được…, nên việc học tập của các em ít được các bậc phụ huynh quan tâm đúng mức để động viên giúp đỡ kịp thời. Thực tế phần quang học mặc dù chiếm một phần nhỏ trong chương trình vật lý 7, nhưng đây là kiến thức hoàn toàn mới nên các em thường lúng túng khi tìm hiểu các kiến thức liên quan đến chương này và vận dụng các kiến thức đó để làm bài tập. Từ những lý do trên, để giúp học sinh lớp 7 có một phương pháp học chương quang học một cách hiệu quả, nên tôi đã chọn đề tài: “Giúp học sinh học tốt chương quang học vật lý 7” II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn vật lý, giúp học sinh yêu thích và học tập tốt môn học. Qua đó bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức để giải bài tập, vận dụng kiến thức vào thực tế, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. III. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Phạm vi nghiên cứu: chương I: Quang học 7. IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: Khái quát nội dung kiến thức trong chương. Một số cách hướng dẫn học sinh rèn luyện các kỹ năng nhằm học tốt chương quang học. Để học tốt chương quang học học sinh phải làm gì? Hướng dẫn giải một số dạng bài tập cơ bản để giúp học sinh củng cố và khắc sâu kiến thức.

Trang 1

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trong thời đại khoa học công nghệ ngày nay, lượng tri thức mà học sinh phải tiếp nhận khi ngồi trên ghế nhà trường tăng lên rất nhiều Từ đó đòi hỏi học sinh phải tiếp thu kiến thức một cách tích cực và sáng tạo, có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu của nền giáo dục trong thời đại mới Chương trình Vật lí ở trường THCS thì môn Vật lí ở lớp 7 là một môn học tự nhiên với nhiều hiện tượng, khái niệm, định luật khó hiểu và cũng dễ gây nhàm chán đối với học sinh, từ đó dẫn đến học sinh không hứng thú học tập môn khoa học tự nhiên này Mục tiêu của môn vật

lí ở trường THCS là giúp học sinh nắm vững kiến thức vật lí để bước đầu hình thành những kiến thức phổ thông cơ bản, giúp học sinh có thói quen làm việc khoa học, đồng thời góp phần hình thành năng lực nhận thức, phẩm chất nhân cách theo đúng mục tiêu giáo dục Bên cạnh đó, môn vật lí học còn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại với các môn học khác như: Toán học, sinh học, địa lí, công nghệ …

Thực trạng của học sinh hiện nay là ý thức học tập của một số em chưa cao còn lơ là trong việc học tập và kĩ năng giải bài tập còn hạn chế dẫn đến học lực của các em trong một lớp học không đồng đều, học sinh có học lực yếu, kém còn chiếm tỉ lệ cao trong một lớp Mặt khác do địa bàn nông thôn, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên các bậc phụ huynh chủ yếu làm kinh tế gia đình hay làm kinh tế xa, việc cải cách sách giáo khoa so với trước đây nhiều phụ huynh muốn hướng dẫn cho con cũng không giúp được…, nên việc học tập của các em ít được các bậc phụ huynh quan tâm đúng mức để động viên giúp đỡ kịp thời

Thực tế phần quang học mặc dù chiếm một phần nhỏ trong chương trình vật

lý 7, nhưng đây là kiến thức hoàn toàn mới nên các em thường lúng túng khi tìm hiểu các kiến thức liên quan đến chương này và vận dụng các kiến thức đó để làm bài tập Từ những lý do trên, để giúp học sinh lớp 7 có một phương pháp học chương quang học một cách hiệu quả, nên tôi đã chọn đề tài: “Giúp học sinh học tốt chương quang học vật lý 7”

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn vật lý, giúp học sinh yêu thích

và học tập tốt môn học Qua đó bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức để giải bài tập, vận dụng kiến thức vào thực tế, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

III PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

- Phạm vi nghiên cứu: chương I: Quang học 7

- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 7 trường THCS Võ Duy Linh

Trang 2

IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

- Khái quát nội dung kiến thức trong chương

- Một số cách hướng dẫn học sinh rèn luyện các kỹ năng nhằm học tốt chương quang học

- Để học tốt chương quang học học sinh phải làm gì?

- Hướng dẫn giải một số dạng bài tập cơ bản để giúp học sinh củng cố và khắc sâu kiến thức

V TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU:

08/2014 Chọn đề tài

09/2014 Lập kế hoạch

10/2014 Tìm và đọc tài liệu tham khảo

11/2014 Xây dựng đề cương

12/2014 Thực hiện viết đề tài

01/2015 Hoàn tất và nộp đề tài

Trang 4

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Cấu tạo chương trình đòi hỏi hoạt động của người dạy cũng như người học phải có sự đổi mới cho phù hợp và đạt hiệu quả cao Cụ thể là: Thay cho phương pháp dạy học thụ động như trước đây là phương pháp dạy học tích cực Trong đó thầy chỉ giữ vai trò là người tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động lĩnh hội tri thức và kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động của các em Còn học sinh với vai trò

là chủ thể của hoạt động lĩnh hội Các em hoàn toàn chủ động, tích cực trong việc

tự nghiên cứu, thảo luận, phát hiện kiến thức và thể hiện, đồng thời tự kiểm tra kết quả hoạt động của mình trên cơ sở hướng dẫn của giáo viên

Muốn làm tốt được điều đó, trong mỗi giờ học, giáo viên cùng học sinh phải thực hiện hài hoà các khâu, các bước; đặc biệt là để tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức một cách có hiệu quả, người giáo viên phải sử dụng linh hoạt và phù hợp các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học

Giúp học sinh học tốt môn vật lý là một vấn đề rất cần thiết, nếu xem nhẹ vấn đề này dễ dẫn đến kiến thức bị hỏng, từ đó làm cho học sinh chán học Thông qua việc khai thác và mở rông các kiến thức về quang học qiáo viên sẽ giúp học sinh nắm vững phương pháp, hiểu thêm về ứng dụng của chương trong thực tế

CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

I ĐẶC ĐIỂM CHUNG

Trong chương trình Vật lý có những bài liên hệ từ thực tế rất nhiều Nếu chỉ dạy suôn theo SGK học sinh cảm thấy rất nhàm chán, đòi hỏi người thầy phải linh hoạt vận dụng phương pháp dạy học sao cho làm sáng tỏ vấn đề, khám phá những tri thức mới có liên quan, tạo sự tích cực trong học sinh, tiết học trở nên hứng thú hơn

Thực tế kết quả các tiết dạy chỉ khoảng 50% học sinh là hứng thú học tập và khoảng 30% là học sinh có khả năng thực hành tốt vào thực tế, số học sinh còn lại chưa có ý thức học tập dẫn đến kết quả học tập môn vật lí khối lớp 7 còn rất thấp Nhiều em học sinh chưa tự giác học tập, chưa có động cơ học tập nên học không tốt Các em học yếu thường không có sự cố gắng, trong giờ học thường thiếu sự tập trung, không chú ý, hay tìm cách vắng học vào những giờ tăng tiết, có thái độ rất thụ động và thờ ơ với việc học tập

Bài tập giao về nhà các em chỉ làm đối phó Tệ hơn có em còn chép nguyên văn trong sách giải hay của bạn bè mà không hiểu gì, thậm chí có những học sinh cá biệt không bao giờ làm bài tập ở nhà, thái độ thiếu hợp tác trong giờ học, không mang sách vở đầy đủ, có khi còn không chịu ghi bài

Trang 5

II THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN

1 Thuận lợi:

- Được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp và sự hỗ trợ, hướng dẫn của các bộ phận chuyên môn trong nhà trường

- Cơ sở vật chất của nhà trường được trang bị tương đối đầy đủ, phòng học thoáng mát

- Học sinh chấp hành tốt nội quy của trường, lớp, kính trọng thầy cô, giúp đỡ bạn bè khi gặp khó khăn

- Đồ dùng dạy học khá đầy đủ

2 Khó khăn:

- Là địa bàn nông thôn, đời sống kinh tế khó khăn nên các bậc phụ huynh chủ yếu làm kinh tế gia đình hay làm ăn xa, các em ở nhà với anh, chị hoặc ông, bà nên việc quản lý học tập của các em còn hạn chế, các em phải phu giúp công việc trong gia đình

- Chưa được sự quan tâm hỗ trợ đúng mức của các bậc phụ huynh nên ý thức học tập của học sinh còn chưa cao, cơ sở vật chất còn thiếu thốn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học mới

- Đa số Giáo viên có nhà ở xa, khó khăn trong việc đi lại

- Do tâm lý lứa tuổi nên nhiều học sinh rất năng động trong các hoạt động nhưng chủ yếu tập trung ở học sinh khá giỏi Bên cạnh đó, nhiều em còn ỷ lại, thụ động, chờ kết quả của bạn đưa ra; dạng này tập trung vào học sinh trung bình yếu

- Học sinh mất kiến thức cơ bản thụ động

CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Môn Vật lý ở trường THCS cung cấp cho học sinh một khối lượng kiến thức ở mức độ cơ sở làm nền tảng cho học sinh có khả năng tiếp cận với những kiến thức sâu hơn, cao hơn ở trường THPT và các lĩnh vực khác Nhiệm vụ vủa môn vật lí 7

là bước đầu hình thành cho học sinh những kiến thức cơ bản về các lĩnh vực như: quang học, âm học, Điện học nghiêng về mặt định tính, là giai đoạn cung cấp cho các em có những kiến thức cơ bản về giải thích các hiện tượng vật lý xảy ra trong cuộc sống hàng ngày mà các em thấy được, đây cũng là những kiến thức cơ bản để giúp cho các em tìm hiểu sâu hơn, rộng hơn ở chương trình Vật lý lớp 9 sau này

Để đạt được các yêu cầu này trước hết cần nói đến sự chuẩn bị của giáo viên và học sinh, điều này ảnh hưởng đến sự thành công của từng tiết dạy và hệ thống kiến thức cả chương

 Đối với giáo viên:

- Chuẩn bị tốt nội dung bài giảng từng bài, hệ thống, tóm tắt kiến thức chung

- Đồ dùng dạy học: hình vẽ, dụng cụ thí nghiệm phải đầy đủ

- Hệ thống câu hỏi, bài tập vừa sức đi từ cơ bản đến nâng cao, đa dạng, phù

Trang 6

hợp với từng đối tượng học sinh.

- Có các câu hỏi liên hệ với thực tế nhằm phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh

- Động viên học sinh tìm những hiện tượng, quy luật tương tự để tự mình giải thích, có thể thông tin lại cho giáo viên và các bạn khác trong lớp những hiện tượng, quy luật tương tự mà mình đã giải thích được để giáo viên và các bạn cùng nhau tham khảo đưa ra nhận xét đúng cho các hiện tượng, quy luật để tiết học thêm hào hứng hơn

- Có tài liệu, sách tham khảo có liên quan đến các bài học trong chương

 Đối với học sinh:

- Đọc và nghiên cứu bài ở nhà

- Nắm vững các kiến thức cơ bản trong chương để vận dụng trả lời câu hỏi và các bài tập liên quan đến nội dung trong chương

- Quan sát, tiến hành thí nghiệm để đưa ra kết luận về những kiến thức cơ bản

có trong chương

- Tích cực tham gia thảo luận nhóm, thảo luận đôi bạn

- Có ý kiến và thắc mắc khi giáo viên giảng dạy nhằm tránh sự gò bó, thụ động, áp đặt cho học sinh

- Tìm hiểu thêm phần “Có thể em chưa biết” ở cuối bài (nếu có)

Để giúp học sinh học tốt chương quang học tôi đã thực hiện các bước sau:

Trang 7

I KHÁI QUÁT NỘI DUNG KIẾN THỨC TRONG CHƯƠNG:

II MỘT SỐ CÁCH HƯỚNG DẪN HỌC SINH RÈN LUYỆN CÁC KỸ NĂNG NHẰM HỌC TỐT CHƯƠNG QUANG HỌC:

1 Quan sát hình ảnh, dụng cụ thí nghiệm, đọc và tìm hiểu nội dung bài học theo Sách giáo khoa:

Ngoài việc làm bài tập, học thuộc bài cũ giáo viên yêu cầu học sinh phải xem trước bài mới ở nhà Xem trước bài mới ở nhà để xem tiết sau mình sẽ học bài gì? bài này có mấy phần, có nội dung gì? có liên quan đến bài cũ hay không, nếu có thì liên quan đến phần nào của bài cũ để các em có sự chuẩn bị ôn lại kiến thức Điều này hết sức quan trọng vì nó phần nào quyết định đến tiết học có sinh động hay không, cũng như việc tiếp thu tri thức mới ở học sinh, mà điều này đa

số giáo viên cũng như ở học sinh thường không quan tâm đến

*Ví dụ: Khi học bài 3: “ Ứng dụng định luật truyền thẳng của ánh sáng” ở

phần đầu bài “Ban ngày trời nắng, không có mây, ta nhìn thấy bóng của một cột đèn in rõ trên mặt đất Khi có một đám mây mỏng che khuất Mặt trời thì bóng đó

bị nhoè đi Vì sao có sự biến đổi đó?” Học sinh đọc sách giáo khoa trước ở nhà

và qua kinh nghiệm cuộc sống hàng ngày cùng với sự gợi ý của giáo viên, học sinh có thể nêu những giả thuyết theo những hiểu biết mà các em đã học ở bài 1,

Trang 8

bài 2 hoặc thầy và trò có thể thực hiện các thí nghiệm để xác nhận hay bác bỏ từng giả thuyết và cuối cùng sẽ đưa ra một đáp án đúng cho nội dung mà các em đang tìm hiểu

2 Tiến hành thí nghiệm, mô tả, giải thích hiện tượng:

Một trong những biện pháp phát huy tính tích cực hoạt động đồng thời gây hứng thú và tăng cường rèn luyện kĩ năng thực hành của học sinh trong giờ học

là phải có thí nghiệm, có thể dùng thí nghiệm minh hoạ hay dùng thí nghiệm kiểm chứng để phát triển tư duy của học sinh trong giờ học Phương pháp minh hoạ chiếm ưu thế trong việc tổ chức thí nghiệm Ở đây học sinh là người nghiên cứu các hiện tượng vật lí, từ quan sát thí nghiệm phải phân tích tìm hiểu tại sao trong những điều kiện đã cho thì hiện tượng lại diễn ra như vậy

* Ví dụ : Khi dạy bài 2: Sự truyền ánh sáng.

Để đưa ra được kết luận về đường truyền của ánh sáng, giáo viên tiến hành như sau:

- Phát các dụng cụ của bài học kèm theo phiếu học tập (nếu có) cho trưởng nhóm lên nhận (trưởng nhóm giữ dụng cụ và phiếu học chỉ phát ra khi nào giáo viên yêu cầu làm thí nghiệm)

- Yêu cầu học sinh tiến hành làm thí nghiệm và rút ra kết luận về đường truyền của ánh sáng

- Nhóm trưởng phát dụng cụ và giao việc cụ thể cho các thành viên trong nhóm (có nhiệm vụ bao quát chung nhóm mình):

+ Phó nhóm giữ trật tự và quan sát các thành viên tiến hành thí nghiệm bạn nào không chú ý thì nhắc nhở hoặc báo cho giáo viên nếu các bạn không nghe + Thư kí nhóm: Đọc nội dung và ghi lại các kết quả khi tiến hành thí nghiệm hoặc ghi vào phiếu học tập, nêu kết luận khi giáo viên yêu cầu

+ Giao việc cho từng cặp thành viên trong nhóm lần lượt tiến hành các thí nghiệm ở hình 2.1, hình 2.2 như sách giáo khoa và báo lại kết quả cho thư kí nhóm

- Sau khi đã làm thí nghiệm và rút ra kết luận về đường truyền của ánh sáng thì nhóm trưởng thu lại dụng cụ, đồng thời kiểm tra các dụng cụ và cất vào học bàn để tránh sự tò mò làm hỏng dụng cụ, không chú ý vào nội dung bài học

- Kế tiếp yêu cầu học sinh tiến hành làm thí nghiệm và rút ra kết luận định luật truyền thẳng của ánh sáng

- Nhóm trưởng tiếp tục phát dụng cụ và tiến hành công việc tương tự như trên Cứ như vậy giáo viên lần lượt tiến hành cho học sinh tìm hiểu toàn bộ nội dung của bài học

Trang 9

3 Trong quá trình dạy giáo viên tạo ra tình huống có vấn đề:

- Để tạo sự chú ý của học sinh thì Giáo viên cần phải đưa ra cái mới, lạ Mọi cái mới chưa biết đều tạo được sự hấp dẫn cần thiết Vì vậy, muốn kích thích hứng thú học tập cho học sinh cần làm sáng tỏ và phân biệt những điều đã học và chưa học

- Tạo tình huống có vấn đề trong dạy học có nghĩa là đặt học sinh trước một vấn đề sao cho các em thấy rõ được lợi ích về mặt nhận thức hay về mặt thực tế của việc giải quyết nó nhưng đồng thời cảm thấy khó khăn về mặt trí tuệ do thiếu kiến thức

- Thông thường, cơ sở của tình huống có vấn đề là những hiện tượng, sự kiện vật lí và những mối liên hệ giữa chúng mà ta phải nghiên cứu trong dạy – học Chúng xuất hiện trước học sinh sao cho tạo ra những cảm giác ngạc nhiên vì tính chất bất thường, tính có vẻ không thể xảy ra, tính chất bí ẩn mà chúng có được

- Có thể tạo ra tình huống có vần đề trong dạy- học vật lí 7 bằng cách sử dụng phương pháp đàm thoại mở đầu đặt biệt, bằng hệ thống câu hỏi tình huống, bằng những thí nghiệm vui, bằng hình vẽ, bằng một trò chơi hoặc bằng các phương tiện khác mà giáo viên có thể sử dụng

* Ví dụ 1: Khi giới thiệu bài 7: Gương cầu lồi.

Giáo viên có thể tạo tình huống có vấn đề bằng mô hình đan xen với hệ thống câu hỏi đàm thoại như sau:

- Giáo viên giới thiệu dụng cụ gồm 2 chiếc thìa, hai cái ly một cái chứa nước còn cái còn lại thì không, sau đó cho học sinh quan sát hiện tượng vật lí được giáo viên biểu diễn trong hai trường hợp:

+ Trường hợp 1: Chiếc thìa bỏ vào cái ly không chứa nước

+ Trường hợp 2: Chiếc thìa bỏ vào cái ly chứa nước

- Hệ thống câu hỏi:

+ Trong hai trường hợp trên các em quan sát được điều gì xảy ra?

Học sinh trả lời quan sát thấy ở trường hợp 2, chiếc thìa lớn hơn lúc bỏ vào cái ly không chứa nước

+ Căn cứ nào cho ta biết trường hợp 2 nhìn thấy chiếc thìa lớn hơn lúc bỏ vào cái ly không chứa nước, còn trường hợp 1 thì không xảy ra hiện tượng gì? Học sinh nhận biết bằng mắt hai hiện tượng trên nhưng căn cứ vào yếu tố nào để nhận biết thì học sinh không trả lời được

* Ví dụ 2: Khi dạy bài 1: Nhận biết ánh sáng – Nguồn sáng và vật sáng

Giáo viên có thể tạo tình huống có vấn đề bằng mô hình hoặc các dụng cụ xen với hệ thống câu hỏi đàm thoại như sau:

- Giáo viên giới thiệu dụng cụ gồm một hộp kín bên trong có lắp sẵn đèn và

Trang 10

mảnh giấy trắng, sau đó cho học sinh quan sát hiện tượng vật lí được giáo viên biểu diễn trong hai trường hợp:

+ Trường hợp 1: Đèn tắt

+ Trường hợp 2: Đèn sáng

- Hệ thống câu hỏi:

+ Trong hai trường hợp trên em quan sát được gì trong chiếc hộp?

Học sinh trả lời quan sát thấy ở trường hợp 2 thấy mảnh giấy trắng

+ Căn cứ nào ta biết trường hợp 2 nhìn thấy mảnh giấy trắng, còn trường hợp 1 thì nhìn không thấy gì cả

Học sinh nhận biết bằng mắt hiện tượng khi có ánh sáng mới nhìn thấy vật nhưng căn cứ vào yếu tố nào để nhận biết thì học sinh không trả lời được

Như vậy hiện tượng nhìn thấy một vật khi có ánh sáng và không nhìn thấy vật khi không có ánh sáng mà học sinh gặp rất nhiều trong thực tế nhưng để trả lời được câu hỏi trên thì lại thiếu kiến thức để trả lời

Với tình huống trên sẽ gây thắc mắc, kích thích sự tò mò tìm hiểu của học sinh, các em sẽ chú ý nhiều hơn vào bài học để tham gia tìm hiểu và trả lời vấn

đề thắc mắc trên

Tuỳ theo kiến thức cần nghiên cứu trong bài học, người giáo viên linh động lựa chọn tình huống nêu vấn đề một cách phù hợp nhất Qua nội dung bài học mà học sinh tự tìm hiểu tri thức mà chắc rằng đa số học sinh sẽ hiểu rõ hơn nội dung bài học, từ đó giáo viên có thể rèn luyện kĩ năng vận dụng thực hành bằng cách

mở rộng qua các ví dụ có liên hệ thực tế hoặc kiểm tra đánh giá kiến thức lĩnh hội của học sinh trong giờ học bằng hệ thống các câu hỏi mà các em thường bắt gặp trong đời sống hàng ngày, hàng giờ

4 Liên hệ thực tế:

Vật lý là một ngành khoa học bắt nguồn từ cuộc sống Vì vậy việc giảng dạy vật lí gắn liền với cuộc sống thực tế là hết sức cần thiết, giúp cho học sinh thấy môn học trở nên gần gũi, dễ hiểu và có nhiều vận dụng trong thực tiễn cuộc sống

Để thực hiện được như vậy, đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức thực tế dồi dào, phong phú Đồng thời người giáo viên cũng cần phải biết vận dụng một cách sáng tạo và hợp lí nội dung kiến thức của bài học Đây được xem là một trong những con đường giúp học sinh nâng cao nhận thức, quyết định tính vững chắc kiến thức, đáp ứng mục tiêu bài học, môn học

*Ví dụ 1: Bài 1: Nhận biết ánh sáng – Nguồn sáng và vật sáng.

Hiện tượng 1: Ban đêm, trời đầy sương mù, nếu ta đi trên đường ta sẽ nhìn thấy một vệt sáng từ đèn của những chiếc xe phát ra xuyên qua lớp sương mù

Ngày đăng: 03/01/2020, 21:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w