này cũng tìm hiểu chi tiết về quy định pháp luật đối với vấn đề quản lý lõi rừngnhư phân loại rừng, quy hoạch, nhượng bộ, cấp phép và quản lý rừng tư nhân.Nghiên cứu kết luận với một số
Trang 1HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ VĂN LUẬN
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ RỪNG THEO PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ VĂN LUẬN
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ RỪNG THEO PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học củariêng tôi Các số liệu, kết quả, dẫn chứng nêu trong luận văn là hoàn toàn trungthực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và dựa vào những nguồn gốc rõ ràngcủa các tài liệu được nghiên cứu
Tác giả
Mai Thanh Bình
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ RỪNG 10
1.1.Quan niệm chung về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng 101.2.Pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng 16
RỪNG VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ RỪNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH QUẢNG NAM 34
2.1 Thực trạng pháp luật bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa vụ củachủ
rừng 342.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng tại tỉnhQuảng Nam 44
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO
THEO PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG 60
3.1 Định hướng hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng theo pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng 60 3.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng theo pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng 63 3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ rừng theo pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng 69
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa môi trường
và sinh vật và đóng vai trò mật thiết đối với sự phát triển của nền kinh tế tại
mọi quốc gia Trong luật Bảo vệ và phát triển rừng nước ta có ghi: “Rừng là
một trong những tài nguyên quý báu mà thiên nhiên ưu ái ban tặng cho nước
ta, rừng có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng với môi trường sinh thái, đóng góp giá trị to lớn với nền kinh tế quốc gia, gắn liền với đời sống của nhân dân và sự sống còn của dân tộc”[47] Rừng là nguồn thu nhập chủ yếu
của đồng bào dân tộc miền núi, là cơ sở quan trọng để phân bổ dân cư, điềutiết lao động trong xã hội giúp xóa đói giảm nghèo cho xã hội
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam thì tính đến ngày31/12/2017, diện tích rừng trên toàn quốc đạt được hơn 14 triệu ha, trong đórừng tự nhiên là hơn 10 triệu ha và rừng trồng hơn 4 triệu ha Diện tích đủ tiêuchuẩn che phủ toàn quốc tương ứng hơn 40% [12] Đồng thời, theo báo cáo của
Bộ Tài nguyên và Môi trường thì độ che phủ rừng có tăng nhưng chủ yếu là rừngtrồng với mức sinh học thấp, trong khi rừng tự nhiên với mức đa sinh học cao thìlại thấp đi đáng kể Hiện trạng mất rừng và suy thoái rừng đã và đang gây ranhưng hậu quả nặng nề đối với môi trường, ảnh hưởng lớn đến đời sống nhândân cũng như sư ổn định nhiều mặt của đất nước Hiện nay quản lý và sử dụngđất rừng và tài nguyên rừng nói chung được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp
lý của Nhà nước trong đó có Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng hiện đang có hiệulực Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 đã thực thi được gần 15 năm thìbên cạnh những kết quả đạt được thì còn tồn tại một số những hạn chế và bất cập
về phương pháp tiếp cận, phạm vi điều chỉnh, cũng như nhiều chính sách vềrừng và nghề rừng của
Trang 6nước ta không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn và chưa tiếp thu được cácthông lệ tốt trên thế giới Việc điều chỉnh lại hệ thống pháp luật về rừng đã thuhút được sự quan tâm của không chỉ các cơ quan có chức năng quản lý nhànước, các cơ quan chuyên ngành pháp luật mà thu hút được sự quan tâm củanhiều tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước, các hiệp hội nghề nghiệp, các
tổ chức xã hội, cũng như cộng đồng giới khoa học, chuyên gia
Quảng Nam là địa phương có diện tích phần lớn rừng núi, đời sống ngườidân còn nhiều khó khăn, chủ yếu sản xuất nương rẫy, nhận thức về công tác bảo
vệ và phát triển rừng còn hạn chế Nhu cầu lấy gỗ làm nhà của người dân miềnnúi là rất lớn, giá gỗ nguyên liệu cao dẫn đến người dân lấn chiếm đất lâmnghiệp, khai thác gỗ trái phép ngày càng gia tăng Chính vì thế, việc đẩy mạnhcông tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức gắn với trách nhiệm quản lý, bảo vệrừng của các cấp ủy đảng, chính quyền, chủ rừng và mọi tầng lớp nhân dân là rấtquan trọng Nhất là đề cao quyền và nghĩa vụ của chủ rừng trong công tác quản
lý, bảo vệ rừng Hiện nay, tỉnh Quảng Nam đang tổ chức rà soát lại quỹ đất lâmnghiệp trên địa bàn, đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng, thuê đất thuê rừngcho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn, các tổ chức cá nhân phát triểnkinh tế lâm nghiệp, phát triển lâm sản ngoài gỗ, cây dược liệu dưới tán rừng.Hiện có 4 tổ chức thuê dịch vụ môi trường rừng để trồng sâm Ngọc Linh vớidiện tích 44,47ha và 2 đơn vị sự nghiệp của địa phương sử dụng dịch vụ môitrường rừng để trồng sâm Ngọc Linh với diện tích 10,9ha [36] Đồng thời, tỉnhQuảng Nam cũng đang quy hoạch phát triển cây quế Trà My với diện tích10.000 ha Đây là tín hiệu tốt để người dân có công ăn việc làm, tạo sinh kế ổnđịnh cho người dân đi đôi với công tác bảo vệ và phát triển rừng [36] Tuy nhiên,diện tích rừng trên địa bàn tỉnh tăng lên đáng kể nhưng những thách thức phảiđối mặt là chất lượng rừng vẫn ngày càng suy giảm do khai thác rừng quá mứccho phép, khai thác bất hợp pháp,
Trang 7chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất rừng Trách nhiệm quản lý nhà nước
về rừng và đất rừng chưa cụ thể, pháp luật chưa tạo ra những “chủ rừng” đíchthực vì quyền hưởng lợi từ rừng của những người làm nghề rừng, chưa giúp họsống được bằng nghề rừng, làm giàu được từ rừng Trong nhiều năm, các ưu đãidành cho người quản lý, bảo vệ rừng chủ yếu là từ khai thác lâm sản hay sử dụngmột phần diện tích đất rừng để phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp mà chưa cóquy định nào khuyến khích họ gìn giữ, bảo vệ tài nguyên rừng Vì vậy, chủ thểnào được giao quản lý, bảo vệ, phát triển rừng cũng tìm cách nhanh chóng khaithác cạn kiệt tài nguyên rừng Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần nghiên cứuhoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng phù hợp với các yếu tốkinh tế, xã hội , truyền thống văn hóa và lịch sử và nâng cao hiệu quả triển khaicác quy định của pháp luật vào thực tiễn cả nước nói chung và tỉnh Quảng Namnói riêng
Chính vì vậy, tôi chọn “Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng theo pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng ở Việt Nam hiện nay từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng được các học giả Việt Nam và nướcngoài nghiên cứu ở nhiều ngành khoa học khác nhau như: lâm nghiệp, kinh tế,môi trường Tuy nhiên, nghiên cứu nội dung này dưới khía cạnh khoa học pháp
lý thì chưa nhiều, tác giả đã tìm hiểu và nghiên cứu một số công trình:
Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (2007), “Forest law and
sustainable development - Addressing Contemporary Challenges Through Legal Reform” (Luật lâm nghiệp và Phát triển bền vững - Giải quyết các thách thức đương đại thông qua cải cách pháp lý) Nghiên cứu này xác định pháp
luật lâm nghiệp trong khuôn khổ pháp lý rộng lớn hơn, khám phá mối liên hệphức tạp của nó với các ngành luật khác và tổng hợp Bên cạnh đó, nghiên cứu
Trang 8này cũng tìm hiểu chi tiết về quy định pháp luật đối với vấn đề quản lý lõi rừngnhư phân loại rừng, quy hoạch, nhượng bộ, cấp phép và quản lý rừng tư nhân.Nghiên cứu kết luận với một số phản ánh về cách tính hiệu quả của pháp luật vềrừng có thể được tăng cường bởi sự chú ý đến các nguyên tắc hướng dẫn quátrình soạn thảo pháp luật [43].
Tác giả Trần Văn Hải (2014), “Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ
rừng ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sỹ cũng đã nghiên cứu một cách khái
quát về những vấn đề cơ bản của pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam như: quản lýnhà nước về bảo vệ rừng; chính sách phát triển rừng; quyền và nghĩa vụ của chủrừng; bảo vệ các loài thực vật, động vật hoang dã, quý, hiếm; nghiên cứu chínhsách bảo vệ rừng ở một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm đối với ViệtNam trong việc xây dựng chính sách pháp luật bảo vệ rừng Từ những phân tíchtrên, tác giả đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ rừngViệt Nam như chính sách pháp luật bảo vệ rừng; chính sách đất đai; tổ chức thựchiện pháp luật bảo vệ rừng; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ rừng Mặc dù,đây cũng là công trình nghiên cứu khá đầy đủ và chi tiết về pháp luật bảo vềrừng Tuy nhiên, nghiên cứu này đã cách đây 8 năm, cho nên so với hiện naynhiều văn bản pháp luật mới ra đời thì tính mới của nghiên cứu không còn nhiều[39]
Tác giả Hà Công Tuấn (2006), “Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong
lĩnh vực bảo vệ rừng”, luận án Tiến sĩ đã phân tích đánh giá nh ững bài học kinh
nghiệm về quản lí rừng qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là thực trạng quản línhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam Quan điểm vàgiải pháp nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo
vệ rừng ở Việt Nam trong những năm tới Công trình này, chủ yếu nghiên cứupháp luật như một công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ rừng mà chưa đề cập đượctoàn bộ hệ thống pháp luật về quản lý và bảo vệ tài
Trang 9nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay [57].
Tác giả Phạm Văn Nam (2016), “Hoàn thiện pháp luật về quản lý và bảo
vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay”, luận án Tiến sĩ, Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội Luận án của tác giả đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và sựđiều chỉnh của pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiệnnay trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật, nêu bật các yêu cầu đặt ra,cũng như xây dưng hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh đối với pháp luật quản lý
và bảo vệ tài nguyên rừng; làm sáng tỏ vai trò của pháp luật đối với việc quản lý
và bảo vệ tài nguyên rừng Khái quát quá trình hình thành và phát triển của phápluật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở nước ta Nghiên cứu, đánh giá thưctrạng của pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng hiện hành của Việt Nam,chỉ ra nhưng ưu điểm và những mặt còn hạn chế, bất cập cần được khắc phục.Trên cơ sở các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật nêu trên, xác định các địnhhướng và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệuquả thực hiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng của nước ta hiệnnay [40]
Tác giả Lê Thị Lệ Thu (2016), “Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là tổ
chức kinh tế theo Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004”, luận văn thạc sĩ,
Học viện Khoa học xã hội Việt Nam, đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận vàthực tiễn về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là tổ chức kinh tế; từ đó đề xuất,định hướng và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và đảm bảo thực hiệnpháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là các tổ chức kinh tế theo Luật bảo
vệ và phát triển rừng năm 2004 [58]
Bên cạnh đó, còn một số công trình như: Luận án tiến sĩ luật học củatác giả Sofia R.Hirakuri năm 2003 tại Trường Luật, Đại học Washington với
đề tài “Can Law Save the Forests? Lesson from Finland and Brazil” (Liệu
rằng pháp luật có thể bảo vệ được rừng? Những bài học từ Phần Lan và
Trang 10Brazil); Bài báo của tác giả Sofia Hirakuri (2000), “How Finland made forest owners follow the law” (Phần Lan, làm thế nào để các chủ rừng tuân thủ pháp luật); Luận văn thạc sỹ Pháp luật về chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt
Nam hiện nay của tác giả Hồ Vĩnh Phú chuyên ngành Luật kinh tế năm 2014;Luận văn thạc sỹ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng
từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nhàng chuyênngành Luật Hành chính; Luận văn Pháp luật về quản lý và sử dụng rừng phòng
hộ từ thực tiễn huyện Cần Giờ - thành phố Hồ Chí Minh của tác giả NguyễnTiến Hưng chuyên ngành Luật kinh tế
Mặc dù vậy, các công trình này mới dừng lại ở việc nghiên cứu một sốkhía cạnh cơ bản của pháp luật bảo vệ rừng và phát triển rừng hay đánh giá quản
lý nhà nước bằng pháp luật chứ chưa nghiên cứu cụ thể về quyền và nghĩa vụcủa chủ rừng theo pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng ở Việt Nam hiện naycũng như thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Nam Đây là công trình đầu tiênnghiên cứu một cách toàn diện về lĩnh vực này dưới góc độ của một luận vănthạc sĩ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ củachủ rừng, thực trạng các quy định quyền và nghĩa vụ của chủ rừng tại Luật Lâmnghiệp năm 2017 và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Nam, tìm ra những hạnchế, nguyên nhân qua đó đề xuất, định hướng và đưa ra các giải pháp hoàn thiệnpháp luật và đảm bảo thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng nóichung và tại tỉnh Quảng Nam nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
- Phân tích thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
Trang 11theo Luật Lâm nghiệp năm 2017 và thực tiến thực hiện tại tỉnh Quảng Nam.
- Đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm phápluật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng theo pháp luật về bảo vệ và phát triểnrừng ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng theo LuậtLâm nghiệp năm 2017 Thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ củachủ rừng tại tỉnh Quảng Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các quy định của pháp luật theo Luật Lâm nghiệp năm 2017
và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này, so sánh với Luật Bảo vệ và Pháttriển rừng năm 2004
Phạm vi nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là các hộ gia đình,
cá nhân và tổ chức kinh tế từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam Dữ liệu được học viênthu thập từ năm 2014 - 2018
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Để thực hiện mục đích và các nhiệm vụ đặt ra, luận văn được thực hiệndựa trên phương pháp luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước vàpháp luật, đồng thời luận văn vận dụng các tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhànước ta về đổi mới tư duy chính trị pháp lý về cải cách hành chính, cải cách tưpháp trong bảo vệ và phát triển rừng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng chủ yếu khi phân tích cơ
sở lý luận và các quy định nội dung của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủrừng là các hộ gia đình, cá nhân và tổ chức kinh tế trong chương 1,
Trang 12chương 2 của luận văn như: phân tích các khái niệm, vai trò của pháp luật; phântích các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là các hộ giađình, cá nhân và tổ chức kinh tế Phương pháp này còn được sử dụng để kháiquát những nội dung cơ bản của từng vấn đề nghiên cứu trong các chương củaluận án.
Phương pháp thống kê được sử dụng trong quá trình thu thập dữ liệuthông qua các số liệu báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước về rừng và bảo
vệ rừng tỉnh Quảng Nam, Trung ương, của các cơ quan nhà nước khác và số liệu
từ các báo cáo nghiên cứu khoa học của các tác giả khác nhau
Phương pháp so sánh luật học được sử dụng để so sánh các quy định phápluật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là các hộ gia đình, cá nhân và tổ chứckinh tế
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã luận giải nội hàm khái niệm “rừng”, các tiêu xác định rừngtheo quy định của Việt Nam; nêu và phân tích khái niệm, đặc điểm của quyền vànghĩa vụ của chủ rừng; khái niệm, đặc điểm, vài trò, yêu cầu và nguyên tắc thực
hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng Luận văn đưa ra các định
hướng hoàn thiện pháp luật quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, các giải pháp hoànthiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quyền và nghĩa vụ củachủ rừng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho các cơquan hữu quan trong quá trình hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiệnpháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là các hộ gia đình, cá nhân và tổchức kinh tế ở Việt Nam Bên cạnh đó, luận văn cũng giúp những người hoạtđộng trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, các chủ rừng những kiến thức
Trang 13cần thiết trong quá trình thực thi pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng làcác hộ gia đình, cá nhân và tổ chức kinh tế ở Việt Nam hiện nay Luận văn có thểđược sử dụng như nguồn tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu và giảngdạy khoa học luật môi trường, luật lâm nghiệp trong các trường chuyên luật vàcác trường giảng dạy pháp luật lâm nghiệp.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văngồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của chủ rừngChương 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ và phát triển rừng về quyền vànghĩa vụ của chủ rừng và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thựchiện quyền và nghĩa vụ của chủ rừng theo pháp luật bảo vệ và phát triển rừng
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ
CỦA CHỦ RỪNG
1.1 Quan niệm chung về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
1.1.1 Khái niệm rừng, tài nguyên rừng và chủ rừng
1.1.1.1 Khái niệm rừng, chủ rừng
Có nhiều cách định nghĩa rừng khác nhau nhưng hầu hết đều định nghĩadựa vào phạm vi không gian, hệ thống sinh vật và cảnh quan địa lí
Theo tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hiệp Quôc (FAO): “Rừng
là một khu vực đất đai có diện tích lớn hơn 0,5 ha với độ che phủ của tán rừngtrên 10%, độ cao trung bình tối thiểu của cây phải đạt 5 mét, rừng bao gồm rừng
tự nhiên và rừng trồng.” [55, tr.56]
Theo Khoản 3, Điều 2, Luật Lâm nghiệp năm 2017 của Việt Nam thì:Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, visinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính làmột hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác địnhtheo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặctrưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên [52]
Trong phạm vi luận văn, khái niệm rừng được hiểu theo quy định tạo LuậtLâm nghiệp năm 2017 của Việt Nam
Điều kiện để trở thành chủ rừng đối với mỗi loại đối tượng chủ thể cũng
có nhiều điểm không giống nhau Trước hết họ phải thuộc một trong các nhómđối tượng được tại Điều 8 Luật Lâm nghiệp 2017 (trừ Ban quản lý rừng phòng
hộ, rừng đặc dụng được thành lập sau khi giao rừng phòng hộ, rừng đặc dụng).Tiếp theo họ phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét,
Trang 15cấp quyết định giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để trồng rừng căn
cứ trên dự án đầu tư về lâm nghiệp được phê duyệt theo pháp luật về đầu tư (đốivới tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư tại nước ngoài), khuvực sinh sống tại địa phương có rừng (thường áp dụng đối với hộ gia đình, cánhân) hoặc nhu cầu sử dụng vào mục đích kinh doanh (đối với tổ chức kinh tế),nghiên cứu (đối với tổ chức nghiên cứu khoa học), lí do an ninh
- quốc phòng (đối với đơn vị vũ trang nhân dân) Khi hoàn thành các thủ tụccần thiết họ sẽ trở thành chủ rừng và được công nhận quyền sử dụng rừnghoặc quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng [52]
Theo Khoản 9, Điều 2, Luật Lâm nghiệp năm 2017 của Việt Nam thì: Chủrừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao rừng,cho thuê rừng; giao đất, cho thuê đất để trồng rừng; tự phục hồi, phát triển rừng;nhận chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế rừng theo quy định của pháp luật [52]
1.1.1.2 Khái niệm tài nguyên rừng
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai đượchìnhthành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng cácnhucầu trong cuộc sống Tài nguyên thiên nhiên từ rừng được hiểu như là nguồnvậtchất hữu ích có sẵn trong tự nhiên để cung cấp cho nhu cầu kinh tế, xã hộicủaloài người và sinh vật
Tài nguyên thiên nhiên được phân loại thành:
- Tài nguyên không tái tạo là nguồn tài nguyên khi khai thác và sửdụng sẽbị cạn kiệt dần và không khôi phục lại trạng thái ban đầu như tàinguyên khoángsản
- Tài nguyên tái tạo là nguồn tài nguyên sau khi sử dụng có thể tái sinhvàcó thể ngày càng phong phú hơn nếu được sử dụng hợp lý, quản lý tốt nhưtàinguyên đất, rừng, biển và tài nguyên nông nghiệp
Trang 16Có thể hiểu, tài nguyên rừng là một loại tài nguyên thiên nhiên cókhảnăng tái tạo, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá to lớnbaogồm rừng tự nhiên và rừng trồng trên đất lâm nghiệp, gồm có thực vậtrừng,động vật rừng và những yếu tố tự nhiên có quan đến rừng (gọi chung làquần xãsinh vật) Tài nguyên rừng có thể được chia thành các nhóm sau: (1) Tàinguyêngỗ; (2) Tài nguyên phi gỗ; (3) Tài nguyên đa dạng sinh học; (4) Tàinguyên đất; (5) Tài nguyên nước Ngoài ra, rừng còn cung cấp cho con ngườilượng oxy dồidào, rừng điều hòa nước, chống xói mòn, giảm thiểu ô nhiễm, cânbằng khí cacbonic/oxy [37]
Tuy rừng có vai trò vô cùng to lớn và có giá trị đối với cuộc sốngnhưngchúng ta chưa xếp chúng vào loại tài nguyên nào, chưa đánh giá hết nhữngvaitrò của rừng
- Về tài nguyên gỗ, từ trước đến nay, gỗ được con người đánh giá lànguồntài nguyên cơ bản của hệ sinh thái rừng, nó cung cấp nguyên liệu chocác ngànhxây dựng, công nghiệp giấy, sản xuất các đồ gỗ, các loại dụng cụgia đình Các cây gỗ còn một giá trị khác quan trọng hơn nữa là bảo vệ đất,chống xóimòn, điều hòa khí hậu và lưu lượng nước của các dòng chảy lục địa
- Về tài nguyên phi gỗ, trước đây tài nguyên này thường gọi là lâmsảnphụ nhưng ngày nay, thuật ngữ “lâm sản ngoài gỗ” được sử dụng để chỉ tấtcảcác loại tài nguyên rừng trừ tài nguyên gỗ Lâm sản ngoài gỗ bao gồmnhữngsản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng nhưcủi, thangỗ, cành ngọn, gốc cây, những dịch vụ trong rừng như săn bắn, giảitrí, dưỡngbệnh, dịch vụ du lịch sinh thái Giá trị kinh tế do lâm sản ngoài gỗđem lạihàng năm cho con người không thua kém so với gỗ
- Về tài nguyên đa dạng sinh học, đa dạng sinh học có vai trò cực kỳquantrọng trong đời sống con người và môi trường Các loài sinh vật hoangdại là cơsở và nguyên liệu để cải tiến và tạo ra các loại giống cây trồng, vật
Trang 17nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng dịch bệnh Còn rất nhiều loài cây,loài vật hoang dã đã, đang và sẽ cung cấp cho chúng ta nguồn thực phẩm to lớn,nguồndược phẩm quý giá và nguồn gen vô cùng quan trọng trong việc chọngiống,không những chỉ cho con người hiện nay mà còn cho cả các thế hệ tươnglai.
Trước khi dịch AIDS bùng nổ, chúng ta không hề biết rằng cây hạt dẻ gaitạivịnh Moreton của Australia lại có thể cho chúng ta một loại chất thúc đẩyquátrình nghiên cứu phương pháp điều trị bệnh này Hiện nay, có rất nhiều côngtydược phẩm lớn trên thế giới đã đặt hàng hoặc tài trợ cho các viện nghiên cứuđadạng sinh học của các nước nhiệt đới để tìm hiểu, nghiên cứu và khai tháccácloài cây thuốc và con thuốc quý trong rừng của những quốc gia giàu có vềđadạng sinh học này
Như vậy, nếu không quản lý tốt nguồn tài nguyên này thì hàng trăm loàicónhững công dụng khác nhau có thê bị biến mất trước khi chúng ta nhậnthứcđược tầm quan trọng của chúng
- Ngoài ra, có ý kiến cho rằng, tài nguyên đất và nước trong rừng cũnglàmột loại tài nguyên rừng Như chúng ta đã biết, đất và nước là những nguồntàinguyên vô cùng quan trọng đôi với con người Rừng bảo vệ một diện tíchđất đairất lớn tránh khỏi sự xói mòn và bạc màu, rừng còn điều hòa các dòngchảy, giữnước, hạn chế nước đổ ra biển, làm tăng lượng nước ngầm cho cácvùng và làmlượng nước sạch được tái tạo nhanh hơn
Việc thống nhất quản lý tài nguyên đất, trong đó có đất rừng cũngđượcxác định là tài nguyên đặc biệt của Quốc gia, nguồn lực quan trọng pháttriển đấtnước, được quản lý theo pháp luật Nhà nước thực hiện thống nhất quản
lý đốivới tài nguyên rừng bằng việc ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện phápluật vàbảo đảm cho pháp luật được thực thi
Việc quy định tài nguyên rừng thuộc sở hữu toàn dân của Việt Nam có
Trang 18sựtương đồng với Trung Quốc và Liên bang Nga Trung Quốc coi tài nguyênrừngdo Nhà nước thống nhất quản lý và Nhà nước Trung Quốc đã thực thi rấtthànhcông pháp luật lâm nghiệp trong nhiều thập niên vừa qua Trong khi tìnhhình tàinguyên rừng thế giới tiếp tục bị giảm xuống thì diện tích rừng của TrungQuốcđều giữ đà tăng trưởng, được Cơ quan môi trường Liên hợp quốc xếp vàodanhsách một trong 15 nước có diện tích rừng nhiều nhất thế giới [37].
Liên bang Nga có hướng đến tư nhân hóa việc khai thác tài nguyênrừngvà pháp luật lâm nghiệp của Nga chú trọng phát triển ngành Lâm nghiệpthànhmột ngành công nghiệp khai thác, chế biến gỗ vì trữ lượng gỗ của Nga rấtlớn.Trong khi đó, Phần Lan được xem là quốc gia thực thi thành công nhấtviệcbảo vệ rừng và quản lý rừng bền vững lại quy định đất đai, rừng thuộc sở hữu tưnhân Nhà nước chỉ quản lý những diện tích rừng, đất rừng có vai tròquan trọngđối với đa dạng sinh học, còn lại các diện tích rừng đều được giaocho tư nhânquản lý [37, tr.68]
Như vậy, có thể thấy rằng, tài nguyên rừng là một loại tài nguyênthiênnhiên vô cùng quý giá, các nước trên thế giới đều rất coi trọng việc bảo vệ,pháttriển và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên này
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
1.1.2.1 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
Quyền của chủ rừng là khả năng của mỗi chủ rừng được tự do hành động.Khả năng đó được nhà nước ta ghi nhận trong pháp luật và được bảo đảm bằngquyền lực nhà nước Các chủ rừng có quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng,đó
là quyền được chiếm hữu, được sử dụng, định đoạt đối với cây trồng, vật nuôi, tàisản gắn liền với rừng trồng do chủ rừng tự đầu tư trong thời hạn được giao, đượcthuê để trồng rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng vàcác quy định khác của pháp luật có liên quan [37]
Trang 19Nghĩa vụ chủ rừng là sự tất yếu hành động của mỗi chủ rừng vì lợi ích củatoàn thể Nhà nước và xã hội Sự tất yếu đó được Nhà nước quy định trongHiếnpháp và bảo đảm thực hiện bằng mọi biện pháp, kể cả biện pháp cưỡng chế [37].
1.1.2.2 Đặc điểm quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, do rừng là tài sản đặc biệt nên việc chủ sở được Nhà nước giao
rừng cho các chủ rừng cũng có những đặc điểm và tính chất riêng Chế độ sởhữu rừng có sự khác biệt nhất định với chế độ sở hữu đất Rừng tự nhiên, là rừngđược phát triển bằng vốn của Nhà nước, động vật hoang dã, các loài vi sinh, cáccảnh quan và môi trường rừng được Nhà nước thống nhất quản lý và định đoạt;rừng sản xuất(rừng sản xuất) là rừng trồng thuộc quyền sở hữu của chủ rừng.Quy định này nhằm giúp phân biệt giữa quyền sở hữu rừng tự nhiên và quyền sởhữu rừng trồng Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 7 Luật Lâm nghiệpnăm 2017 về sở hữu rừng
Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng gắn với chính sách lâm nghiệp
của Nhà nước Khi thực hiện chuyển từ một nền lâm nghiệp chủ yếu dựa vàokhai thác, lợi dụng tài nguyên rừng làm chính sang bảo vệ, nuôi dưỡng, gâytrồng và làm giàu vốn rừng.Chuyển từ một nền lâm nghiệp quảng canh và độccanh cây rừng sang nền lâm nghiệp thâm canh và đa canh cây rừng theo phươngthức lâm - nông kết hợp, kinh doanh lợi dụng tổng hợp tài nguyên rừng
Thứ ba, chủ rừng ngày càng có nhiều quyền lợi hơn và gắn với các nghĩa
vụ cụ thể hơn Từng bước chuyển từ lâm nghiệp lấy quốc doanh làm chính sangnền lâm nghiệp nhân dân có nhiều thành phần kinh tế tham gia (lâm nghiệp xãhội).Từ các quan điểm trên của Đảng mà quyền và nghĩa vụ của chủ rừng cũngđược thể chế hóa, sửa đổi theo, nhất là việc xã hội hóa một
Trang 20bộ phận rừng tự nhiên sẽ tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư bảo vê và phát triểnrừng tự nhiên nghèo kiệt và rừng non đang phục hồi trở thành rừng tốt, có giá trịkinh tế và môi trường.
Thứ tư, quyền và nghĩa vụ có thể được chuyển đổi từ chủ rừng này cho
chủ rừng khác theo hình thức giao khoán và theo quy định của Nhà nước về điềukiện trở thành chủ rừng
1.2 Pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng
Hệ thống pháp luật Việt Nam thường được phân chia thành các ngành luật
để nghiên cứu như: Luật hành chính, Luật dân sự, Luật hình sự, Luật kinh tế…Tuy nhiên, khi nghiên cứu về các lĩnh vực pháp luật cụ thể thì nó có sự liên quanđến nhiều ngành luật khác nhau Các quy định về lĩnh vực pháp luật lại nằm ởnhiều văn bản pháp luật khác nhau Vì vậy, chúng ta có thể hiểu khái niệm phápluật bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng như sau:
Pháp luật bảo vệ và phát triển rừng là một lĩnh vực pháp luật bao gồmtổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh cácquan hệ xã hội phát sinh có liên quan đến hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triểnnguồn tài nguyên rừng
Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng có thể được hiểu cụ thể nhưsau:
Thứ nhất, về đối tượng điều chỉnh của lĩnh vực pháp luật bảo vệ và phát
triển rừng gồm các nhóm quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động quản lý tàinguyên rừng của các chủ thể trong xã hội như: Nhóm quy định pháp luật về quản
lý tài nguyên rừng gồm: quản lý nhà nước và quản lý của chủ rừng đối với tàinguyên rừng; Nhóm quy định pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng
Trang 21gồm: pháp luật về bảo vệ thực vật, động vật hoang dã; pháp luật về ưu đãi củanhà nước đối với chủ thể bảo vệ tài nguyên rừng; pháp luật về vi phạm và xử lý
vi phạm các hành vi xâm hại tài nguyên rừng Nhà nước - với tư cách là chủ thểđặc biệt thực hiện việc quản lý tài nguyên rừng bằng việc ban hành các quy địnhpháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quản lý, bảo vệ, sửdụng và phát triển nguồn tài nguyên rừng; tổ chức thực hiện các quy định phápluật và bảo đảm cho các quy định pháp luật đó được thực thi hiệu quả [37]
Các chủ thể khác được nhà nước giao, cho thuê tài nguyên rừng để thực hiện hoạt động quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng như:
- Các tổ chức sự nghiệp được giao quản lý rừng để thực hiện nhiệm vụcông ích như Ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng
- Các tổ chức kinh tế được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng để thực hiện hoạt động quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng
- Hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng để thực hiện hoạt động quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được giao, thuê rừng sản xuất
là rừng trồng để thực hiện hoạt động quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài được thuê rừng sản xuất là rừng trồng đểthực hiện hoạt động quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng
Thứ hai, về phương pháp điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực quản lý và
bảo vệ tài nguyên rừng là sự kết hợp giữa các phương pháp mệnh lệnh, phươngpháp thoả thuận và phương pháp hướng dẫn
- Phương pháp mệnh lệnh được sử dụng điều chỉnh các quan hệ trongviệc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng, trong việc giao, cho thuê rừng; cấpphépgây nuôi, xuất nhập khẩu thực vật, động vật hoang dã, xử phạt vi phạmpháp luật bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
Trang 22- Phương pháp thỏa thuận được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xãhội trong việc chuyển nhượng, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn, thừa
kế đối với tài nguyên rừng
- Phương pháp hướng dẫn được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xãhội trong việc phòng cháy, chữa cháy rừng, hướng dẫn gây nuôi, trồng cấythực vật, động vật hoang dã
1.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật bảo vệ và phát triển rừng
về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
Các quy định pháp luật về quản lý của chủ rừng đối với tài nguyên rừng
- Quản lý tài nguyên rừng của các chủ thể được xác định rõ quyền vànghĩa vụ của chủ thể này đối với từng loại rừng được giao, được thuê
- Quản lý tài nguyên rừng của các tổ chức được giao rừng, được thuêrừng:
+ Tổ chức trong nước gồm: tổ chức là đơn vịsự nghiệp quản lý rừngđược giao rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; tổ chức kinh tế được giao rừng sảnxuất, khucảnh quan của rừng đặc dụng
+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được phép thuê rừng sản xuất làrừngtrồng hoặc đất rừng sản xuất chưa có rừng để đầu tư kinh doanh phát triểnrừng; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư dự án vào trồng rừng chỉđược giao có thu tiền hoặc thuê rừng sản xuất là rừng trồng, đất trồng rừng sảnxuất chưa có rừng để kinh doanh, phát triển rừng
Chủ rừng có quyền: được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhậnquyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; được sử dụngrừng ổn định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng, cho thuê rừng và thời hạngiao đất, cho thuê đất; được sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư nghiệp kếthợp theo quy chế quản lý rừng; được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tưtrên diện tích được giao, được thuê; bán thành quả lao động,
Trang 23kết quả đầu tư cho người khác; được kết hợp nghiên cứu khoa học, kinh doanhcảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái môi trường theo dự án được cấp cóthẩm quyền phê duyệt; được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư đểbảo vệ và phát triển rừng theo quy định của Luật này và các quy định khác củapháp luật có liên quan khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng; được hướng dẫn
về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của Nhà nước để bảo vệ và phát triểnrừng và được hưởng lợi do các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng manglại; được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp đối với rừng được giao,
được thuê.
Chủ rừng có nghĩa vụ: bảo toàn vốn rừng hiện có và phát triển rừng bềnvững theo đúng quy hoạch phát triển; sử dụng rừng đúng mục đích, đúng ranhgiới đã quy định; tổ chức bảo vệ và phát triển rừng; định kỳ báo cáo cơ quan nhànước có thẩm quyền về diễn biến tàinguyên rừng; giao lại rừng khi Nhà nước cóquyết định thu hồi rừng hoặc khi hết thời hạn sử dụng rừng; thực hiện nghĩa vụtài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật; không làm tổn hạiđến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan
1.2.3 Yêu cầu của pháp luật bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
1.2.3.1 Yêu cầu của kinh tế thị trường đối với pháp luật bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
Kinh tế thị trường là cách thức tổ chức nền kinh tế xã hội, trong đó cácquan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua quan hệmua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường và thái độ của cư xử của từng thànhviên chủ thể kinh tế là định hướng vào việc tìm kiếm lợi ích của chính mình theo
sự dẫn dắt của giá cả thị trường
Nhận thức được những ưu điểm của nền kinh tế thị trường nên từ Đại hộiĐảng lần thứ VI, Đảng ta đã chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu,
Trang 24bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế thịtrường luôn tạo ra cơ hội cho mọi người sáng tạo, thúc đẩy họ cải tiến lối làmviệc nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, tạo ra cơ chế đào tạo, tuyển chọn,
sử dụng nhà quản lý kinh doanh năng động, có hiệu quả và đào thải các nhà quản
lý kém hiệu quả và tạo ra môi trường kinh doanh tự do, dân chủ, bảo vệ lợi íchcủa người tiêu dùng [37, tr.69-70]
Đối với hoạt động bảo vệ và phát triển rừng, khi chuyển sang nền kinh tếthị trường đã tạo ra sự đa dạng về hình thức sở hữu, đa dạng về nguồn vốn đầutư Nhà nước thừa nhận có sở hữu tư nhân đối với rừng trồng và quyền sử dụngrừng đối với các chủ rừng, quyền tài sản đối với rừng và đất rừng Nhiều chủ thểtham gia vào việc bảo vệ và phát triển rừng như: nhà nước, doanh nghiệp, hộ giađình, cá nhân, cộng đồng dân cư, thậm chí cả tổ chức, cá nhân nước ngoài…Đây cũng là một lợi thế khi chúng ta tiến tới “xã hội hóa” việc bảo vệ rừng vàthu hút nguồn vốn của nhiều chủ thể đầu tư vào bảo vệ và phát triển rừng
Do đặc điểm của tài nguyên rừng là thời gian sinh trưởng kéo dài, nhu cầuđầu tư lớn và thu hồi vốn chậm, trong khi đó các chính sách khuyến khích bảo
vệ và phát triển rừng của nhà nước lại chưa hấp dẫn nên nhiều chủ rừng chỉ chútrọng khai thác rừng mà chưa thực sự quan tâm đến việc bảo vệ rừng Vì mụctiêu lợi nhuận trước mắt nhiều chủ thể sau khi được nhà nước giao quản lý rừng,đất rừng đã nhanh chóng tìm cách khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên này, thậmchí tìm cách chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, đất rừng
Nhược điểm lớn nữa của kinh tế thị trường là luôn đặt lợi ích lên hàng đầunên cái gì có lãi thì làm, không có lãi thì thôi nên nó không giải quyết cái gọi là
“lợi ích công cộng hay hàng hóa công cộng” như đường xá, y tế, môi trường, đadạng sinh học…Vì vậy, trong những năm qua, tài nguyên rừng của nước ta bịkhai thác cạn kiệt ở nhiều mặt từ gỗ, lâm sản ngoài gỗ đến động vật
Trang 25hoang dã, quý, hiếm… Nhiều diện tích rừng độc canh, thậm chínhiều diện tíchrừng bị chuyển đổi sang trồng cây công nghiệp như cao su, hồ tiêu, cà phê…
1.2.3.2 Yêu cầu của hội nhập quốc tế đối với pháp luật bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
Trong quá trình giao lưu, buôn bán quốc tế, tài nguyên rừng của Việt Nam
bị khai thác quá mức dẫn đến tình trạng suy thoái, cạn kiệt, nhiều loài thực vật,động vật rừng có nguy cơ tuyệt chủng Để gìn giữ, bảo vệ và phát triển nguồntàinguyên rừng, Việt Nam đã tích cực tham gia các công ước quốc tế về bảo vệmôi trường nói chung và bảo vệ rừng nói riêng Việt Nam đã tham gia 23 Côngước quốc tế về môi trường, trong đó các Công ước liên quan đến bảo vệ và pháttriển rừng như:
Nghị định thư bổ sung Công ước này tại Paris năm 1982 Việt Nam thamgia Công ước này ngày 20/9/1988.Công ước về buôn bán quốc tế về các giốngloài động thực vật có nguy cơ bị đe dọa (CITES), 1973, Việt Nam tham gia ngày20/01/1994.Công ước về Ða dạng sinh học (CBD), 1992, Việt Nam tham giangày 16/11/1994.Công ước RAMSAR có hiệu lực vào năm 1975 và tính đếntháng 12/2006 có 153 thành viên, ở mọi nơi trên thế giới Với việc tham giaCông ước RAMSAR đã tác động rất lớn đến hành động của Việt Nam để thựcthi công ước này Như vậy, khi mở rộng hội nhập quốc tế và tham gia các côngước quốc tế trong lĩnh vực này thì yêu cầu đối với pháp luật bảo vệ và phát triểnrừng về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng của Việt Nam cũng phải được ban hành
Trang 26tự nhiên hiện còn của nhân loại, nhất là rừng nhiệt đới tập trung chủ yếu ở cácnước đang phát triển Một trong những biện pháp quan trọng hiện nay được cảcộng đồng quốc tế cũng như từng quốc gia đặc biệt quan tâm, kết hợp với cácgiải pháp truyền thống nêu trên là cần phải thiết lập quản lý rừng bền vững vàchứng chỉ rừng Quản lý rừng bền vững là quản lý rừng ổn định bằng các biệnpháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra như: sản xuất gỗ nguyên liệu, gỗ giadụng, lâm sản ngoài gỗ ; phòng hộ môi trường, bảo vệ đầu nguồn, bảo vệchốngcát bay, chống sạt lở đất ; bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn loài, bảo tồncác hệ sinh thái
Dưới khía cạnh phát triển bền vững, thì quản lý rừng bền vững phải đạtđược sự bình đẳng giữa các thế hệ trong sử dụng tài nguyên rừng Cuộc sống conngười luôn gắn với sử dụng tài nguyên thiên nhiên và để sử dụng nó, chúng tacần phải bảo vệ nó vì tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận
Ngoài ra, quản lý rừng bền vững phải đạt được sự bình đẳng và công bằngtrong sử dụng tài nguyên rừng ở cùng thế hệ Đây là một vấn đề khó, bởi vìtrong khi cố tạo ra sự công bằng cho các thế hệ tương lai thì chúng ta vẫn chưatạo được những cơ hội bình đẳng cho những người sống ở thế hệ hiện tại thểhiện ở những khía cạnh sau:
Sự bất bình đẳng trong xã hội và kinh tế chỉ có thể được tồn tại nếu: (i) sựbất bình đẳng này là có lợi cho nhóm người nghèo trong xã hội và (ii) tất cả mọingười đều có cơ hội tiếp cận nguồn tài nguyên rừng như nhau
Để thực hiện quản lý rừng bền vững, một trong các biện pháp mà nhiềuquốc gia trên thế giới áp dụng là cấp ch ứng chỉ rừng Đây được xem là công cụnhằm hạn chế tối đa tình trạng khai thác trái phép đối với tài nguyên rừng
Chứng chỉ rừng là sự xác nhận bằng giấy chứng chỉ rằng đơn vị quản lýrừng được chứng chỉ đã đạt những tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững do tổchức chứng chỉ hoặc được uỷ quyền chứng chỉ quy định Chứng chỉ rừng
Trang 27được xem như cầu nối giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Khái niệm thươngmại và phát triển bền vững được hình thành trên cơ sở cho rằng có thể sử dụngcác biện pháp thương mại để kiểm soát một cách có hiệu quả các tác hại về môitrường, phát triển một hệ thống thị trường chỉ chấp nhận tiêu thụ các sản phẩm
có chứng chỉ an toàn môi trường Chứng chỉ rừng là cần thiết để xác nhận quản
lý rừng bền vững của chủ rừng, cũng như chứng chỉ ISO để xác nhận quản lýchất lượng sản xuất công nghiệp vì cộng đồng, vì môi trường… đòi hỏi các chủsản xuất kinh doanh rừng phải chứng minh rằng rừng của họ đã được quản lýbền vững Người tiêu dùng sản phẩm từ rừng đòi hỏi các sản phẩm lưu thôngtrên thị trường phải được khai thác từ rừng đã được quản lý bền vững Do đó,nhà sản xuất phải chứng minh rằng các sản phẩm rừng của mình, đặc biệt là gỗ,được khai thác từ rừng được quản lý một cách bền vững bằng cách đã được cấpchứng chỉ rừng.Mục tiêu của chứng chỉ rừng trước hết là thúc đẩy quản lý rừngbền vững Tuy nhiên, chứng chỉ rừng cũng tác động trở lại đối với các hoạt độngquản lý rừng của các chủ rừng, quản lý nhà nước về lâm nghiệp, đến thị trường gỗ
và lâm sản Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng là những tiêu chí quantrọng được các tổ chức quốc tế và các nước trên thế giới cùng hướng tới xây dựng
và thực thi nhằm mục tiêu quản lý rừng bền vững cũng như phát triển bền vững
1.2.3.4 Yêu cầu kế tục truyền thống văn hóa, luật tục đối với pháp luật bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
Hầu hết diện tích rừng của Việt Nam nằm ở các vùng đồi núi trải dài từbắc vào nam, đây là nơi cư trú chủ yếu của đồng bào các dân tộc thiểu số Trongsuốt chiều dài lịch sử, bên cạnh các quy định pháp luật của nhà nước, các dântộc, làng bản đều có luật tục riêng ghi lại các quy tắc ứng xử hợp lý của cộngđồng đối với các vấn đề trong xã hội, trong đó có các quy tắc ứng xử nhằm bảo
vệ và phát triển rừng Ví dụ, Luật tục của người Thái quy
Trang 28định:Rừng phòng hộ ở đầu nguồn nước, tuyệt đối cấm khai thác Rừng dành choviệc khai thác tre, gỗ để dựng nhà, phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống thìtuyệt đối không được chặt đốt làm nương Nhiều bản còn có những khu rừng tre,rừng vầu cấm chặt phá gọi là “rừng măng cấm” Sau những trận mưa đầu mùa,măng mọc rộ, dân bản nô nức vào rừng hái măng như nấm Sau đó, bản lại
“đóng cửa rừng” đợi đến mùa măng sau Những khu rừng thiêng, là rừng củathần linh trú ngụ, rừng chôn cất người chết, thì lại càng không bao giờ có ai dámtàn phá
Luật tục của người Ê Đê với 236 điều, trong đó có khá nhiều điều quyđịnh trực tiếp về việc bảo vệ tài nguyên rừng bao gồm các nội dung: bảo vệ câyđầu nguồn, bảo vệ cây rừng bên bờ suối, bảo vệ cây rừng ở bến nước, bảo vệ câyrừng ở khu rừng già, bảo vệ cây rừng ở khu rừng non Bởi cây rừng là mái nhàcủa cộng đồng, mất cây rừng đất sẽ xói mòn, nguồn nước sẽ cạn kiệt, con người
và muôn loài sẽ bị huỷ diệt Do đó bảo vệ cây rừng là bảo vệ môi trường sinhthái của cộng đồng [12]
Qua phân tích một số luật tục của các đồng bào dân tộc trên đây, có thể thấy,đồng bào các dân tộc rất xem trọng việc bảo vệ và phát triển rừng và có quy định
đề cao ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững cho các đờisau Trong thời đại ngày nay, những luật tục của các dân tộc đối với việc bảo vệ vàphát triển rừng vẫn còn nguyên giá trị Vì vậy, bên cạnh việc ban hành pháp luật,chúng ta cần có quy định khuyến khích các dân tộc phát huy những giá trị tốt đẹpcủa luật tục để phát triển bền vững tài nguyên rừng
1.2.4 Nguyên tắc của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng trong nền kinh tế thị trườnghiện nay cần được xây dựng dựa trên hệ thống các nguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc 1: Nguyên tắc phát triển bền vững của chủ rừng đối với tài
nguyên rừng
Trang 29Nguyên tắc phát triển bền vững cũng được Luật bảo vệ và phát triển rừngnăm 2004 của Việt Nam quy định thành nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch bảo
vệ và phát triển rừng tại Điều 13 và Luật Lâm nghiệp năm 2017 thì quy định tạiĐiều 10, đó là: hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phảibảo đảm phát triển bềnvững về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng an ninh; phù hợp với chiến lượcphát triển kinh tế xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kếhoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương.Trong Luật Đất đainăm 2013 cũng quy định về đất trồng rừng được xếp trong mục đất nông nghiệp
và phân chia thành các loại đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng và đất rừngsản xuất Nguyên tắc sử dụng đất, có quy định: việc sử dụng đất phải tôn trọngcác nguyên tắc tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hạiđến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh [47] [52]
Trong Luật Môi trường năm 2014, vấn đề quản lý rừng bền vững được đềcập đến ở các khía cạnh cụ thể như: tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ cácgiống, loài thực vật, động vật hoang dã, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo vệrừng, biển và các hệ sinh thái Việc khai thác các nguồn lợi sinh vật phải theođúng thời vụ, địa bàn, phương pháp và bằng công cụ, phương tiện đã được quyđịnh, bảo đảm sự khôi phục về mật độ và giống, loài sinh vật; không làm mấtcân bằng sinh thái [50]
Cùng với những yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với ngành lâmnghiệp như quản lý, sử dụng hiệu quả rừng và đất rừng; đóng góp tương xứngvới tiềm năng cho nền kinh tế quốc dân; phù hợp với nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập đầy đủ, hài hòa với xu hướng quản trị rừngtrong điều kiện biến đổi khí hậu, góp phần phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môitrường, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng phát triểnngành lâm nghiệp như tại các Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng
Trang 30toàn quốc lần thứ X, XI và XII, nhất là Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng
8 năm 2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X (2008) về nôngnghiệp, nông dân, nông thôn xác định “Để xây dựng nền nông nghiệp toàn diệncần phát triển toàn diện từ quản lý, bảo vệ, trồng, cải tạo, làm giàu rừng đến khaithác, chế biến lâm sản, bảo vệ môi trường cho du lịch sinh thái, lấy nguồn thu từrừng để bảo vệ, phát triển rừng và làm giàu từ rừng” [3]
Ngày 15/11/2017, tại kỳ họp thứ 4, Quốc Hội khóa XIV đã thông qua LuậtLâm nghiệp gồm 12 chương, 108 điều So với Luật Bảo vệ và Phát triển rừng
2004 thì Luật Lâm nghiệp bổ sung 4 chương mới, phù hợp với sự vận động củathực tiễn gồm: chế biến, thương mại lâm sản; khoa học và công nghệ, hợp tácquốc tế về lâm nghiệp; định giá rừng, đầu tư, tài chính trong lâm nghiệp; quản lýnhà nước về lâm nghiệp và kiểm lâm Điểm đối mới quan trọng nhất của LuậtLâm nghiệp là việc coi lâm nghiệp là ngành kinh tế - xã hội liên kết theo chuỗigiá trị sản phẩm lâm nghiệp, từ quản lý, bảo vệ, phát triển đến sử dụng rừng, chếbiến và thương mại lâm sản Việc mở rộng phạm vi điều chỉnh theo hướng liênkết theo chuỗi các hoạt động lâm nghiệp nhằm tạo ra rừng, sản xuất và cung ứnglâm sản đáp ứng cho nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội, đảm bảo chế biến
và xuất khẩu lâm sản có trách nhiệm Luật Lâm nghiệp sẽ chính thức đi vào cuộcsống từ 01/01/2019, tạo hành lang pháp lý và thời cơ, vận hội mới cho lâmnghiệp Việt Nam [52]
Nguyên tắc 2: Nguyên tắc xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản
lý nhà nước đối với vấn đề quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
“…Muốn quản lý rừng tốt phải có chủ rừng cụ thể ở từng khu rừng và chủrừng phải có lợi ích xứng đáng từ rừng đưa lại” [42] Xác định chủ thể quản lý,bảo vệ rừng hay chủ rừng, đảm bảo “mỗi khu rừng phải có chủ thực sự”, do đó,
đã trở thành một vấn đề căn bản gắn liền với tiến trình phát triển và cải cáchngành lâm nghiệp Việt Nam trong 30 năm qua [45] Một loạt các
Trang 31chính sách như giao đất, giao rừng, khoán quản lý bảo vệ rừng, cho thuê rừng vàmôi trường rừng,… lần lượt ra đời, thúc đẩy quá trình trao quyền, khuyến khích
sự tham gia của các chủ thể, đặc biệt chủ thể ngoài ra nước (hộ gia đình, cộngđồng, cá nhân) vào hoạt động quản lý, bảo vệ rừng, hướng tới mục tiêu nâng caochất lượng quản lý, bảo vệ rừng và góp phần xóa đói giảm nghèo vùng cao Dùluật BV&PTR ban hành năm 2004 đã đánh dấu một bước tiến lớn khi thể chếhóa “quyền sở hữu rừng” cho chủ rừng sản xuất là rừng trồng; nhưng nhìn tổngthể, quyền sở hữu rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên, ở Việt Nam vẫn chưa đượcthừa nhận một cách đầy đủ, “tư duy lý luận về quyền sở hữu rừng, quyền kinhdoanh rừng, quyền hưởng từ các nguồn lợi từ rừng… lại chưa rõ ràng, minhbạch… khi phần lớn diện tích rừng và đất rừng vẫn do các tổ chức nhà nướcquản lý và sử dụng” [44] Với khung pháp lý hiện nay, các chủ rừng chỉ cóquyền chiếm hữu và sử dụng rừng, đất rừng; trong khi quyền định đoạt vẫnthuộc về Nhà nước Các chủ rừng đặc dụng, phòng hộ không có quyền định đoạtđối với rừng mà chỉ thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triểnrừng dưới sự giám sát của các cơ quan chức năng về lâm nghiệp Các quyềnchuyển nhượng, trao đổi, cầm cố hay góp vốn quyền sử dụng rừng cũng khôngđược cho phép hoặc thừa nhận, kể cả khi ban quản lý rừng được nhà nước cấpgiấy chứng nhận sử dụng đất Các chủ rừng sản xuất là rừng tự nhiên cũng chỉđược trao quyền thế chấp, bảo lãnh phần giá trị gia tăng của trữ lượng gỗ đã tạothành do công sức đầu tư của họ Nhưng trên thực tế, hầu như không có khảnăng xác định được phần giá trị gia tăng này trong trữ lượng gỗ tăng trưởng tựnhiên của rừng vì vào thời điểm giao rừng giá trị của rừng không được xác định[41] Nói cách khác, những quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thểquản lý rừng hay chủ rừng chưa tường minh, cơ hội thực hành quyền trong thực
tế rất hạn chế; từ đó ảnh hưởng đến động lực tham gia BV&PTR của các chủthể liên quan,
Trang 32trong đó có các hộ gia đình, cộng đồng – những người đã và đang có sinh kế dựavào rừng.
Việc Nhà nước trực tiếp nắm giữ tài nguyên rừng nhằm bảo vệ, duy trì vàgia tăng lợi ích của rừng đối với quốc gia trên tất cả các mặt môi trường, kinh tế
và xã hội là lẽ tất yếu Nhưng trên thực tế, người dân sống ở khu vực rừng, đặcbiệt là đồng bào dân tộc thiểu số dưới áp lực giảm nghèo, dân số gia tăng thìnhu cầu được khai thác, sử dụng các sản phẩm, nguồn lợi từ rừng để đáp ứngnhu cầu sinh kế hàng ngày càng nhiều hơn Xung đột lợi ích, mục đích sử dụng
và chưa có nhận thức chung về bảo vệ tài nguyên rừng dẫn đến tình trạng ngườidân tìm cách khai thác rừng “của nhà nước” làm nguồn lợi cho riêng mình [41].Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ rõ, giao đất giao rừng có thể cung cấp lợi íchthực sự cho người dân địa phương, nhưng dưới ảnh hưởng của các thể chế địaphương, mà các lợi ích này có thể bị phân bổ một cách thiếu minh bạch vàkhông công bằng giữa các hộ gia đình, cộng đồng; từ đó làm nảy sinh nhữngmâu thuẫn không đáng có và giảm hiệu quả thực tế của chính sách này Nhữngvấn đề nêu trên đặt ra các thách thức về các lựa chọn trong phân bổ tài nguyênrừng và thực hiện quá trình chuyển giao quyền như thế nào để quản lý, bảo vệrừng một cách hiệu quả nhất Nói cách khác, minh định rõ ràng hơn về quyềnđối với tài nguyên rừng, đất rừng đối với từng chủ thể liên quan, đặc biệt là hộgia đình và cộng đồng, sẽ là chìa khóa quan trọng để giải quyết các vướng mắchiện nay
Trong quá trình thực hiện các chương trình, dự án phủ xanh đất trống, đồinúi trọc trong suốt thời gian vừa qua, nhà nước cũng đã quy định về tráchnhiệmcủa các chủ thể bảo vệ rừng, đặc biệt là trách nhiệm của các cơ quan quản
lý nhà nước từ trung ương đến địa phương ởnhiều văn bản khác nhau như: Luậtbảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật Đất đai năm 2013, Luật Đa sạng Sinhhọc năm 2012, Luật Môi trường năm 2014, Luật Lâm nghiệp
Trang 33năm 2017 cũng như các văn bản hướng dẫn dưới luật khác Tuy nhiên, khi giảiquyết các vụ việc cụ thể thì trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, cá nhân cụ thểlại không xác định được và xảy ra tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các bộ,ngành, cơ quan như kiểm lâm, cơ quan hải quan, UBND địa phương Ví dụ, việcxác định trách nhiệm cho thuê rừng đối v ới các tổ chức, cá nhân nước ngoàitrong thời gian vừa qua Việc thay đổi quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng ở cácđịa phương Do vậy , nguyên tắc này cần được xây dựng theo một nguyên tắcthống nhất trong hệ thống các văn bản có liên quan đến vấn đề quyền và nghĩa vụcủa chủ rừng.
Nguyên tắc 3: Nguyên tắc kỹ thuật
Thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ rừng cần phải đảm bảo các nguyêntắc kỹ thuật của ngành lâm nghiệp và các quy chuẩn quốc tế như: nguyên tắc xácđịnh các tiêu chí phân loại rừng, đất rừng theo mục đích sử dụng Diện tíchrừng, đất rừng nào phải được xây dựng nhằm mục đích phòng hộ, diện tích rừng,đất rừng nào xây dựng thành vườn quốc gia, khu bảo tồn… và tiêu chí cụ thể đểxây dựng các khu rừng đó Ngoài ra, chúng ta còn phải dựa vào các nguyên tắc
về an ninh, quốc phòng để xác định các diện tích đất, rừng nào thuộc vùng trọngyếu về an ninh quốc phòng… Dựa trên nguyên tắc này, chúng ta xây dựng quyhoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, bảo vệ rừng hợp lý và kế hoạch phát triển kinh
tế trung và dài hạn cho các chủ rừng…Tránh tình trạng quy hoạch sử dụng đất vàbảo vệ rừng của accs chủ rừng liên tục bị thay đổi bởi các mục tiêu phát triển kinh
tế của các địa phương Hệ thống các nguyên tắc kỹ thuật cần được xây dựng chitiết và cụ thể làm cốt lõi cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát riển rừngchứ không phải là các văn bản hướng dẫn chi tiết sau khi có luật
1.2.5 Vai trò của pháp luật bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
Trang 34Hệ thống pháp luật về rừng và nghề rừng luôn đóng vai trò rất quan trọngtrong phát triển bềnvững trong giai đoạn hiện nay, trong đó rừng thể hiện cả vaitrò kinh tế trong phát triển; cả vaitrò xã hội trong xóa đói, giảm nghèo tại vùngcao, vùng sâu, vùng xa; và cả vai trò bảo vệ môitrường và ứng phó với biến đổikhí hậu Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 đã thực thiđược hơn 10 năm
và được thay thế bằng Luật Lâm nghiệp năm 2017, cái được cũng nhiều và cáichưa được cũng không ít, kể cả từ tên luật,phương pháp tiếp cận, phạm vi điềuchỉnh, cũng như nhiều chính sách về rừng và nghề rừng củanước ta không cònphù hợp với yêu cầu thực tiễn và chưa tiếp thu được các thông lệ tốt trên thếgiới
- Pháp luật bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa vụ của chủrừng là cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo vệ và phát triển rừng Tất cả các hoạtđộng bảo vệ và phát triển rừng phải dựa trên các quy định của pháp luật.Trong lịch sử, nhà cầm quyền đều sử dụng pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất
để quản lý xã hội, trong đó có vấn đề quản lý tài nguyên rừng Từ thời phongkiến đến thời thuộc Pháp, nhà cầm quyền đều quy định về cách thức quản lý,bảo vệ rừng từ việc xáclập quyền sở hữu đối với rừng, việc xác lập các khurừng cấm Khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, pháp luật cũngđược xem là công cụ quan trọng nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội nóichung và bảo vệ và phát triển rừng nói riêng Pháp luật xác lập quyền sở hữuđối với tài nguyên rừng
- Pháp luật là cơ sở pháp lý cho việc xác định thẩm quyền của các chủthểbảo vệ và phát triển rừng Pháp luật quy định thẩm quyền cụ thể của các cơquan nhà nước ở trung ương, địa phương trong việc bảo vệ và phát triển rừngđặc biệt là vai trò của các chủ rừng Từng cơ quan có thẩm quyền cụ thể như:thẩm quyền trong việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng; thẩm quyềntrong việc giao rừng, cho thuê rừng; thẩm quyền trong việc chuyển đổi mục
Trang 35đích sử dụng rừng; thẩm quyền trong việc xử phạt vi phạm đối với các hành vixâm hại tài nguyên rừng; thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền sử dụngrừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng
- Pháp luật xác định thẩm quyền của các chủ thể được nhà nước giaorừng, cho thuê rừng Tùy thuộc chủ thể thực hiện mục đích công ích hay mụcđích kinh doanh mà pháp luật quy định các quyền và nghĩa vụ khác nhau Đốivới các chủ thể thực hiện nhiệm vụ công ích thì quy định trách nhiệm nhiềuhơn quyền lợi, đối với các chủ thể có mục đích kinh doanh, pháp luật xác lậpquyền hưởng lợi tương ứng với nghĩa vụ phải thực hiện, đảm bảo phát triểnkinh tế đồng thời với phát triển tài nguyên rừng một cách bền vững
- Pháp luật là cơ sở cho việc quản lý rừng bền vững Chủ rừng hoặcngười quản lý rừng tổ chức các hoạt động của một khu rừng xác định luôn thuđược lợi ích về gỗ, lâm sản và giá trị dịch vụ tối đa mà không làm thay đổidiện tích, trữ lượng và năng suất lâm sản trong đó và không làm ảnh hưởngtới lợi ích lâu dài của khu rừng Như vậy, để quản lý rừng bền vững thì công
cụ quản lý không thể thiếu đó là pháp luật Pháp luật xác định mức độ khaithác, tiêu chuẩn rừng được khai thác để đảm bảo phát triển rừng bền vững cả
ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường Tùy thuộc loại rừng khác nhau, địa hìnhkhác nhau mà pháp luật quy định mức độ khai thác phù hợp, thậm chíđối vớicác diện tích rừng phòng hộ rất xung yếu, các diện tích rừng bảo tồn nhưvườn quốc gia, khu bảo tồn thiênnhiên, pháp luật cấm khai thác gỗ, lâm sảnngoài gỗ, các chủ thể chỉđược hưởng lợi ích từ việc cung cấp các giá trịdịch
vụ môi trường rừng, khai thác tận thu các cây gãy, đổ, sâu bệnh Như vậy,pháp luật chính là cơ sở pháp lý quan trọng để quản lý rừng bền vững
- Pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc cấp chứng chỉ rừng Để đạt đượcmức độ quản lý rừng bền vững, các tổ chức quốc tế hoặc các nhóm sáng kiếnthường đề xuất các bộ tiêu chuẩn gồm ba mặt: kinh tế, môi trường và xã hội
Trang 36Mỗi mặt gồm một số tiêu chí phải đánh giá, mỗi tiêu chí có nhiều chỉ số biểu thị
dễ định lượng, rồi đến các mức độ cuối cùng là nguồn kiểm chứng…
Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng Bộ tiêu chuẩn chứng chỉ rừng ViệtNam theo tiêu chuẩn của Hội đồng quản trịrừng (FSC) Bộ chứng chỉ rừng ViệtNam khi được thông qua chính là cơ sở pháp lý quan trọng để kiểm chứng việcthực thi đúng và đầy đủ pháp luật bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa
vụ của chủ rừng Chỉ khi các chủ rừng tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của
Bộ tiêu chuẩn chứng chỉ rừng thì mới được cấp chứng chỉ mà yêu cầu đầu tiên làphải thực thi đúng các quy định pháp luật Chứng chỉ rừng được cấp cho nhữngdiện tích rừng khai thác chính là minh chứng cho hoạt động quản lý rừng bềnvững của chủ rừng
Việc tuân thủ các quy định pháp luật về quản lý rừng bền vững ở ba mặtkinh tế, xã hội, môi trường chính là cơ sở để cấp chứng chỉ rừng
Qua sự phân tích trên, có thể thấy, pháp luật có vai trò quan trọng đối vớihoạt động quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng - một đối tượng không thểthiếu trong sự duy trì và phát triển cuộc sống trên hành tinh của chúng ta
Trang 37KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật bảo vệ và phát triển rừng
về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, đề tài rút ra một số kết luận như sau:
Thứ nhất, rừng là một hệ sinh thái có vai trò vô cùng to lớn đối với sự
phát triển của con người, có thể xem rừng như là cái nôi nuôi dưỡng sự sống,không còn rừng nghĩa là sự sống trên hành tinh của chúng ta chấm dứt Vai tròcủa rừng không chỉ đối với từng cộng đồng, từng địa phương hay từng quốc gia
mà nó phải được quan tâm, bảo vệ trên phạm vi toàn cầu Bảo vệ rừng là tráchnhiệm của tất cả chúng ta
Thứ hai,pháp luật bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa vụ của chủ
rừng phải được điều chỉnh dựa trên hệ thống các nguyên tắc phù hợp và xác định
rõ nội dung điều chỉnh làm cơ sở để phân tích thực trạng pháp luật, đưa ra cácđánh giá phù hợp trong chương 2 và đề xuất các giải pháp hoàn thiện trongchương 3
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ RỪNG VÀ THỰC TIỄN THỰC
HIỆN TẠI TỈNH QUẢNG NAM
2.1 Thực trạng pháp luật bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
2.1.1 Quyền và nghĩa vụ chung của chủ rừng
Điều kiện để trở thành chủ rừng đối với mỗi loại đối tượng chủ thể cũng
có nhiều điểm không giống nhau Trước hết họ phải thuộc một trong các nhómđối tượng được nêu như trên (trừ Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụngđược thành lập sau khi giao rừng phòng hộ, rừng đặc dụng) Tiếp theo họ phảiđược cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, cấp quyết định giao rừng, chothuê rừng, giao đất, cho thuê đất để trồng rừng căn cứ trên dự án đầu tư về lâmnghiệp được phê duyệt theo pháp luật về đầu tư (đối với tổ chức, cá nhân nướcngoài, người Việt Nam định cư tại nước ngoài), khu vực sinh sống tại địaphương có rừng (thường áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân) hoặc nhu cầu sửdụng vào mục đích kinh doanh (đối với tổ chức kinh tế), nghiên cứu (đối với tổchức nghiên cứu khoa học), lí do an ninh - quốc phòng (đối với đơn vị vũ trangnhân dân) Khi hoàn thành các thủ tục cần thiết họ sẽ trở thành chủ rừng vàđược công nhận quyền sử dụng rừng hoặc quyền sở hữu rừng sản xuất là rừngtrồng [37, tr.54]
Luật Lâm nghiệp năm 2017 đã bổ sung cộng đồng dân cư là chủ rừng,theo đó, chủ rừng bao gồm: (1) Ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừngphòng hộ; (2) Tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợptác xã và tổ chức kinh tế khác được thành lập và hoạt động theo quy định củapháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều này; (3) Đơn vị thuộc
Trang 39lực lượng vũ trang nhân dân được giao rừng (sau đây gọi là đơn vị vũ trang);(4) Tổ chức khoa học và công nghệ, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp về lâmnghiệp; (5) Hộ gia đình, cá nhân trong nước; (6) Cộng đồng dân cư; (7)Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho thuê đất để trồngrừng sản xuất [52].
- Quyền chung của chủ rừng quy định tại Điều 73 Luật Lâm nghiệpnăm 2017, gồm: (1) Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền
sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định củapháp luật; (2) Được hưởng lâm sản tăng thêm từ rừng do tự đầu tư vào rừng
tự nhiên, rừng trồng là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; (3) Sử dụng rừng phùhợp với thời hạn giao rừng, cho thuê rừng và thời hạn giao đất, cho thuê đấttrồng rừng theo quy định của Luật này và pháp luật về đất đai; (4) Được cungứng dịch vụ môi trường rừng và hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng; (5)Được hướng dẫn về kỹ thuật và hỗ trợ khác theo quy định để bảo vệ và pháttriển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học rừng; được hưởng lợi từ công trình hạtầng phục vụ bảo vệ và phát triển rừng do Nhà nước đầu tư; (6) Được Nhànước bồi thường giá trị rừng, tài sản do chủ rừng đầu tư, xây dựng hợp pháptại thời điểm quyết định thu hồi rừng; (7) Được Nhà nước hỗ trợ kinh phí đốivới chủ rừng phát triển rừng sản xuất khi bị thiệt hại do thiên tai; (8) Hợp tác,liên kết với tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài để bảo vệ và phát triểnrừng; (9) Được bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp khác [52]
- Nghĩa vụ chung của chủ rừng quy định tại Điều 74 Luật Lâm nghiệpnăm 2017, gồm: (1) Quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng bền vững theoQuy chế quản lý rừng, quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật
có liên quan; (2) Thực hiện quy định về theo dõi diễn biến rừng; (3) Trả lạirừng khi Nhà nước thu hồi rừng theo quy định của Luật này; (4) Bảo tồn đadạng sinh học rừng, thực vật rừng, động vật rừng; (5) Phòng cháy và chữa
Trang 40cháy rừng; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng; (6) Chấp hành sự quản lý, thanhtra, kiểm tra, xử lý vi phạm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (7) Thựchiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật [52].Bên cạnh quyền và nghĩa vụ chung của chủ rừng nêu trên, Luật cũng quyđịnh cụ thể về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là ban quản lý rừng đặc dụng,ban quản lý rừng phòng hộ (Mục 2); chủ rừng là tổ chức kinh tế (Mục 3); chủrừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư (Mục 4); chủ rừng là đơn vị vũtrang; tổ chức khoa họa và công nghệ, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp; doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Mục 5) [52].
2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân
Nhà nước phát triển rừng theo hướng “Người làm nghề rừng phải sống vàlàm giàu được từ rừng” [12] Theo quy định của pháp luật hiện hành, hộ giađình, cá nhân được nhà nước giao đất rừng, giao rừng (rừng phòng hộ, rừng sảnxuất) không thu tiền sử dụng đất, sử dụng rừng Nhà nước khuyến khích những
hộ gia đình, cá nhân có khả năng quản lý, bảo vệ, phát triển kinh doanh rừng cóthể được nhà nước cho thuê đất, rừng, nhận khoán bảo vệ rừng từ các tổ chứckhác được nhà nước giao đất như các Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lýrừng đặc dụng, các đơn vị lực lượng vũ trang, các tổ chức kinh tế… Tuy nhiên,cho dù hộ gia đình, cá nhân được giao, hay được thuê hoặc nhậnkhoán bảo vệrừng thì trách nhiệm đầu tiên trong quản lý rừng là phải bảo toàn vốn rừng vàphát triển rừng bền vững, sử dụng rừng đúng mục đích, đúng ranh giới đã quyđịnh trong quyết định giao, cho thuê rừng và theo quy chế quản lý rừng Hộ giađình, cá nhân có trách nhiệm tổ chức bảo vệ và phát triển rừng theo quy hoạch,
kế hoạch, dự án, phương án đã được phê duyệt; định kỳ báo cáo cơ quan nhànước có thẩm quyền về diễn biến tài nguyên rừng và các hoạt động liên quan đếnkhu rừng như kiểm kê rừng, thống kê rừng, theo dõi diễn biến khu rừng Chủthể này cũng phải giao lại