Từ khái niệm quyền con người, người bị tạm giữ, tạm giam sẽlàm cơ sở nghiên cứu về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam: - Thứ nhất, biện pháp tạm giữ, tạm giam liên quan đến quyền con n
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4
3.1 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn 5
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5
5.1 Phương pháp luận của luận văn 5
5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 5
7 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TẠM GIỮ, TẠM GIAM 7
1.1 Khái niệm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam 7
1.1.2 Khái niệm quyền con người 14
1.1.2 Đặc điểm quyền con người 16
1.2 Quyền con người trong tạm giữ, tạm giam 17
1.2.1 Nội dung quyền con người trong tạm giữ, tạm giam 17
1.2.3 Sự cần thiết phải bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam 27
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng quyền con người trong tạm giữ, tạm giam 29
1.3.1 Thể chế pháp lý 29
1.3.2 Tổ chức bộ máy 33
1.3.3 Đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán 36
Trang 21.3.4 Cơ sở vật chất và nguồn lực kinh phí 38
Tiểu kết Chương 1 39
Chương 2: THỰC TRẠNG QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TẠM GIỮ, TẠM GIAM Ở TỈNH ĐẮK LẮK 41
2.1 Khái quát về người bị tạm giữ, tạm giam ở tỉnh Đắk Lắk 41
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, cơ sở vật chất tại các cơ sở tạm giữ, tạm giam ở tỉnh Đắk Lắk 41
2.1.2 Tình hình người bị tạm giữ, tạm giam ở tỉnh Đắk Lắk 44
2.2 Thực trạng quyền con người trong tạm giữ, tạm giam ở tỉnh Đắk Lắk 49
2.2.1 Quyền không bị bắt giam tùy tiện 49
2.2.2 Quyền không phân biệt đối xử và đối xử bình đẳng 50
2.2.3 Quyền không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ
nhục 52
2.2.4 Quyền không bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án 53
2.2.5 Quyền được bào chữa 54
2.3 Đánh giá chung thực trạng quyền con người trong tạm giữ, tạm giam ở tình Đắk Lắk 55
2.3.1 Những kết quả đạt được 55
2.3.2 Những hạn chế, yếu kém 57
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém 59
Tiểu kết Chương 2 62
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TẠM GIỮ, TẠM GIAM TỪ THỰC TIỂN TỈNH ĐẮK LẮK 63
3.1 Quan điểm bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam từ thực tiễn tình Đắk Lắk 63
3.2 Giải pháp bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam ở tình Đắk Lắk 65
Trang 33.2.1 Hoàn thiện thể chế pháp lý 65
3.2.2 Kiện toàn tổ chức, bộ máy 68
3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán 70
3.2.4 Bảo đảm cơ sở vật chất và nguồn lực kinh phí 73
3.2.5 Tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm quyền con người 74
Tiểu kết Chương 3 76
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Quyền con người là quyền tự nhiên gắn với mỗi con người từ khi sinh ra cho đếnkhi mất đi, là những mối quan hệ tác động qua lại lẩn nhau, phát huy và củng cố cácmối liên hệ, các phối hợp hành động giữa con người và con người, tránh các mâuthuẫn qua lại giữa họ, trên cơ sở kết hợp tự do cá nhân với tự do của những ngườikhác, với hoạt động của Nhà nước và xã hội Những quyền của con người như quyềnđược sống, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm,được bất khả xâm phạm về thân thể, được tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự dotham gia vào các quá trình chính trị là những điều kiện cần thiết để con người tổ chứcđời sống trong xã hội văn minh và cần phải được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ mộtcách vô điều kiện
Ở Việt Nam, bảo đảm quyền con người là vấn đề quan trọng, luôn được Đảng,Nhà nước và nhân dân quan tâm, bảo vệ bằng nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhưHiến pháp, Bộ Luật Hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, v.v Nhà nước bảo đảm quyềncon người, quyền công dân bằng việ ghi nhận các quyền con người và quyền công dântrong Bộ luật tố tụng hình sự của nước ta Các quy định về bắt người, tạm giữ, tạmgiam là một trong các quy định nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân củanhân dân và của cả bị can, bị cáo, của người bị bắt Những quy định của Hiến pháp,
Bộ Luật tố tụng hình sự, luật tạm giữ tạm giam về bắt, tạm giữ, tạm giam đều gópphần phát huy tính dân chủ , tăng cường hơn nữa hiệu lực của Nhà nước trong việc bảođảm quyền con người, quyền công dân để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ,văn minh và giàu mạnh Khi bị bắt thì người bắt người, tạm giữ, tạm giam bị hạn chếnmột số quyền công dân, quyền con người của người bị bắt Để đảm bảo quyền conngười, quyền công dân trong hoạt động tố tụng cần nâng cao trình độ chuyên mônnghiệp vụ cho điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, phải không ngừng bồi dưỡngnâng cao ý thức pháp luật, ý thức chính trị và đạo đức công vụ cho những cán bộ này;thực hiện tốt chế độ báo cáo đối với cơ quan có thẩm quyền; đảm bảo cơ chế kiểm tra,giám sát của thẩm quyền và nhân dân
Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập kinh tế quốc
tế, nhất là yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền (NNPQ) xã hội chủ nghĩa (XHCN)
5
Trang 6của dân, do dân, vì dân, bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam đã bộc lộnhững yếu kém, bất cập; việc nhận thức không đầy đủ về tính chất, vai trò và tầm quantrọng của hoạt động bắt người, tạm giữ, tạm giam cũng như các quy định của pháp luật
về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án làm cho quá trình vận dụng thiếu chính xác dễ dẫn
đế tùy tiện, trái pháp luật, xâm hại đến quyền con người, lợi ích hợp pháp của côngdân Không ít trường hợp các cơ quan và người tiến hành tố tụng chưa nắm vững cácnội dung, thẩm quyền, thủ tục bắt, tạm giữ, thủ tục đưa vào nhà tạm giữ, trại tạm giamnên vi phạm các quy định pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền công dân khithực thi công vụ Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng bắt người, tạmgiữ, tạm giam không đúng trình tự thủ tục là do nhận trình độ, năng lực, nhận thứcpháp luật và sự hiểu biết về pháp luật của một bộ phận cán bộ trong các cơ quan tốtụng còn hạn chế, ý thức pháp luật trong công việc chưa được đề cao
Trong qua trình hoạt động tố tụng, khi cơ quan tố tụng thực hiện áp dụng cácbiện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm giam cần thực hiện mộ cách khánh quan vàthận trọng, chính xác nhằm bảo vệ các quyền con người, quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân rất dễ tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến quyền con người, quyền vàlợi ích hợp pháp của công dân
Để đảm bảo quyền con người trong tạm giữ, tạm giam đã đặt ra nhiều vấn đề lýluận, pháp lý cần phải được giải đáp thấu đáo, có căn cứ khoa học và thực tiễn Vì vậy,
việc nghiên cứu đề tài “Quyền con người trong tạm giữ, tạm giam từ thực tiễn tỉnh
Đắk Lắk” là yêu cầu khách quan và tất yếu, cấp thiết cả về lý luận, pháp lý và thực
tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài “Quyền con người trong tạm giữ, tạm giam ở tỉnh Đắk Lắk”, chúng tôi thấy các nhà khoa học đã tiếp cận theo
nhiều cách, với những cấp độ khác nhau:
Trong khoa học pháp lý nước ta cũng như quốc tế, vấn đề bảo đảm quyền conngười nói chung, quyền con người trong hoạt động tư pháp và trong tố tụng hình sự đãđược nhiều độc giả nghiên cứu từ những góc độ và cấp độ khác nhau
Từ góc độ nghiên cứu về bảo đảm quyền con người nói chung trong NNPQ có
các công trình của các tác giả sau: Trần Ngọc Đường, "Quyền con người, quyền công
Trang 7dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2004; Đinh Văn Mậu, "Quyền lực Nhà nước và quyền con người", Nhà xuất bản Tư pháp, 2003; Tường Duy Kiên, "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với việc bảo đảm quyền con người", Nhà xuất bản Nghề luật, 2004;…
Quyền con người là một quyền thiên liêng cao cả nên luật quôc tế cũng như Việt
Nam đều quy định một cánh rõ ràng và đầy đủ, cụ thể: "Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay", của Nguyễn Huy Hoàng, Luận án tiến
sĩ Luật học, Hà Nội, 2005; "Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam" do GS.TSKH Lê Văn Cảm, PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí,
PGS.TS Trịnh Quốc Toản đồng chủ biên, Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia, Hà
Nội, 2006; "Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người" - đề tài
nghiên cứu khoa học, chủ trì TS Nguyễn Ngọc Chí - Khoa Luật, Đại học Quốc gia HàNội, 2011; "Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam", của NguyễnQuang Hiền, Luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội, 2008; "Bảo vệ quyền con người trongluật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam", sách chuyên khảo của TS Trần QuangTiệp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2004; Trong các công trình này, các tác giảnghiên cứu việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp nói chung, kể cảhình sự, dân sự Thực tế thì số tác giả củng đã có những đề tài nghiên cứu về quyềncon người nhưng dưới nhiều góc độ khác nhau, người cứu về Bộ luật hình sự và Tốtụng hình sự, các thủ tục tố tụng hình sự, các biện pháp cưỡng chế tố tụng liên quanđến quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam
Cuốn sách về “Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong khu vực Asean " do
Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân thuộc Khoa Luật - Đại họcquốc gia Hà Nội phát hành đã đề cập tới quyền của con người dưới góc nhìn của khuvực; giới thiệu và phân tích khái quát thực tiễn nhân quyền tại các quốc gia trong khuvực, sự hình thành chuẩn mực, các cơ chế khu vực bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền,cũng như vai trò chủ thể khác nhau ở Asean (nhà nước, tổ chức phi chính phủ, cơ sởgiáo dục, nghiên cứu )
Tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy, các công trình khoa học, các bài báo,luận văn, luân án, sách chuyên khảo trong chừng mực nhất định đã góp phần làm sáng
Trang 8tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng về quyền con người trong tạm giữ,tạm giam Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàndiện, chuyên biệt về quyền con người trong tạm giữ, tạm giam ở tỉnh Đắk Lắk, luậnvăn là công trình khoa học đầu tiên, nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên biệt về
“Quyền con người trong tạm giữ, tạm giam từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk”, dưới góc
độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Với kết quả nghiên cứu đề tài của luận văn,chúng tôi hy vọng sẽ cố gắng, tìm hiểu, nghiên cứu để khắc phục tình trạng nêu trên
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn là hướng tới làm sáng tỏ cơ sở lý luận
về quyền con người trong tạm giữ tạm giam và thực trạng bảo đảm quyền con ngườitrong tạm giữ, tạm giam ở tỉnh Đắk Lắk để đưa ra các quan điểm và giải pháp cơ bảnnhằm bảo đảm bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam ở tỉnh Đắk Lắk
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được nội dung trên, luận văn đặt ra những cách thức, nhiệm vụnghiên cứu cụ thể sau:
Thứ nhất, xây dựng cơ sở lý luận về quyền con người trong tạm giữ, tạm giam
thông qua việc làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung và sự cần thiết phải bảo đảmquyền con người trong tạm giữ, tạm giam; xác định các yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảmquyền con người trong tạm giữ, tạm giam
Thứ hai, phân tích thực trạng bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam
ở tỉnh Đắk Lắk trong thời gian từ 2014 đến nay, qua đó đánh giá về những kết quả đạtđược; những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém này
Thứ ba, đề xuất các quan điểm và giải pháp toàn diện, có hệ thống và tính khả thi
nhằm bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam ở tỉnh Đắk Lắk
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật hiện hành và tổchức thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam ở tỉnhĐắk Lắk
Trang 94.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Dưới góc độ nghiên cứu của Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, quyền conngười trong tạm giữ, tạm giam ở tỉnh Đắk Lắk là vấn đề có nội dung rộng lớn và phứctạp Vì vậy, về không gian luận văn nghiên cứu quyền con người trong tạm giữ, tạmgiam ở tỉnh Đắk Lắk trong thời gian từ 2014 đến nay Về nội dung, luận văn nghiêncứu về các quyền con người trong tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật hiệnhành
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận của luận văn
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin về duyvật biện chứng và duy vật lịch sử; quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách vàpháp luật của Nhà nước Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người vàbảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam
5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Xuất phát từ mục đích và nội dung nghiên cứu, luận văn sử dụng các phươngpháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh pháp luật, dự báo để chọnlọc những tri thức khoa học cũng như kinh nghiệm thực tiễn về bảo đảm quyền conngười trong tạm giữ, tạm giam ở các địa phương có điều kiện tự nhiên, văn hóa pháp
lý tương đồng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận, những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là những bổ sung quantrọng vào lý luận và thực tiễn Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, góp phần hoànthiện hệ thống lý luận về quyền con người và bảo đảm quyền con người trong tạm giữ,tạm giam - một nhóm chủ thể dễ bị tổn thương bị tước bỏ quyền tự do đi lại và một sốquyền khác
Về thực tiễn, những kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn có thể làm tư liệutham khảo cho các nhà nghiên cứu về quyền con người; về hoạt động tố tụng hình sự.Những giải pháp được luận giải thuyết phục từ cơ sở để xuất đến nội dung giải pháp vàcác điều kiện bảo đảm thực hiện từng giải pháp trong luận văn sẽ giúp các nhà quản lýtrong tham mưu, đề xuất hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo đảm quyền con ngườitrong tạm giữ, tạm giam
Trang 107 Kết cấu của luận văn
Bố cục Luận văn được sắp xếp như sau gồm: Lời cảm ơn, lời cảm ơn, phần mởđầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia làm 3chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền con người trong tạm giữ, tạm giam;
Chương 2: Thực trạng quyền con người trong tạm giữ, tạm giam ở tỉnh Đắk Lắk;Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạmgiam ở tỉnh Đắk Lắk
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TẠM GIỮ, TẠM GIAM 1.1 Khái niệm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam
Để làm rõ khái niệm quyền con trong tạm giữ, tạm giam bắt đầu từ khái niệm tốtụng hình sự (TTHS) Bởi lẽ, đây là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của nhà nước vàcũng là lĩnh vực mà quyền con người dễ bị xâm phạm nhất và hậu quả của nó nặng nềnhất, vì nó động chạm đến quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người như quyềnsống, quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm Bên cạnh đó, tạmgiữ, tạm giam cũng là một trong những biện pháp cưỡng chế khá phổ biến trong tốtụng hình sự và tác động trực tiếp nhất đến quyền con người
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thực hiện dưới hành vi cố ý, hoặc vô
ý và có lỗi, xâm phạm đến quyền và lợi ích của các quan hệ xã hội được pháp luật hình
sự bảo vệ Tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực chỉ xuất hiện khi xã hội có giai cấp
và nhà nước Lịch sử nhà nước và pháp luật cho thấy đấu tranh ngăn ngừa tội phạm làmột trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của bất cứ nhà nước nào Muốn phát hiệntội phạm và người phạm tội đưa người này ra xử lý trước pháp luật Mỗi nhà nướcđiều có những cách thức, thủ tục khác nhau Sự khác nhau này phụ thuộc vào nhiềuyếu tố như bản chất nhà nước, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, nhận thức Tuynhiên, thủ
tục đưa người phạm tội ra xử lý được gọi dưới một tên chung là thủ tục tố tụng Nhưvậy, “TTHS là trình tự do pháp luật quy định cách thức hiện các quy định của phápluật để xác minh, kiểm tra, điều tra các vụ việc, phát hiện nhanh chóng, chính xác, đểmọi hành vi vi phạm pháp luật đều được xử lý kịp thời mọi hành vi tội phạm” Nhưvậy, định nghĩa trên cho thấy nhiệm vụ bao trùm nhất TTHS là “phát hiện” và “xử lý”tội phạm Tuy nhiên, trong lĩnh vực TTHS, quyền lực nhà nước rất mạnh Bằng một hệthống cơ quan cưỡng chế tác động đến con người phạm bằng các biện pháp cưỡng chếđặc biệt như bắt, tạm giữ, tạm giam để phát hiện xử lý tội phạm Khi quyền lực nhànước mạnh như thế dẫn đến hệ quả là phía bên kia của TTHS là người bị buộc tội ở vịtrí rất rất yếu Một bên mạnh, một bên yếu dễ dẫn đến quyền của bên yếu sẽ bị xâm
Trang 12phạm Chính vì vậy để “quân bình” lực lượng thì phải tăng quyền cho bên người bịbuộc tội, có phương pháp, có cơ hội bảo vệ quyền của mình, đó là quyền tối thiểu củacon người Nhưng cần lưu ý, vẫn còn đó phía bên kia của vấn đề là số phận của nhữngngười bị tình nghi yếu thế Vừa phát hiện được tội phạm, vừa bảo vệ quyền con người
đó là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn của hoạt động TTHS Nhưng TTHS trong nhà nướcvăn minh và nhân đạo đặt ra đòi hỏi đó
Như vậy, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế như bắt, tạm giữ, tạm giam làmột trong phương tiện để phát hiện và xử lý tội phạm trong TTHS Cũng từ đây, đặt rayêu cầu phải bảo vệ được quyền con người khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế này.Các đối tượng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế tạm giữ, tạm giam được gọi làngười tham gia tố tụng (hay bên bị buộc tội như TTHS một số nước quan niệm) TrongTTHS Việt Nam là người bị tạm giữ và người bị tạm giam Đây là hai đối tượng cầnphải bảo vệ quyền con người đầu tiên và quan trọng nhất trong TTHS
Để làm rõ khái niệm người bị tạm, tạm giữ phải xuất phát từ khái niệm “ buộctội” trong TTHS Bởi lẽ, khi và chỉ khi có sự buộc tội thì mới xuất hiện người bị buộctội (trong đó có người bị tạm giữ, tạm giam) và mới xuất hiện các biện pháp cưỡng chếTTHS Buộc tội là cơ sở pháp lý đầu tiên để áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS
và xuất hiện yêu cầu bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam Người
bị buộc tội là người bị cơ quan điều tra, viện kiểm sát cho rằng đã thực hiện hoặc códấu hiệu thực hiện một tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự
Theo quy định của pháp luật thì cũng chưa có văn bản tố tụng nào trực tiếp buộctội đối với người bị tạm giữ Chúng tôi không nhất trí với quan điểm này, bởi lẽ cơ sở
để áp dụng biện biện pháp tạm giữ, tạm giam và làm xuất hiện người tham gia tố tụng
là người bị tạm giữ, tạm giam chính sự buộc tội Chính vì vậy đặc điểm đầu tiên củangười bị tạm giữ, tạm giam đó chính là họ là người bị buộc tội Mặt khác chỉ khi bịbuộc tội mới có căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm đối với họ và bảo vệ đượcquyền con người của họ, Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo (Điểm d, khoản 1 Điều 4 Bộ luật TTHS 2015).:
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của luật TTHS là phòng ngừa, ngăn chặn
Trang 13tội phạm, xử lý công minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm Để thực hiệnđược nhiệm vụ này Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2015 có nhiều chế định, quy phạmcho phép các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng nhiều biện pháp cụ thể trong quá trìnhphát hiện xử lý người phạm tội Một trong những biện pháp ngăn chăn, các biện phápngăn chặn Việc quy định của pháp luật TTHS và việc áp dụng các biện pháp ngăn
chặn trong thực tế phải đảm bảo các nguyên tắc suy đoán vô tội Về mặt khái niệm: “ Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong TTHS áp dụng đối với bị can bị cáo, người phạm tội quả tang và người cần phải bắt trong trường hợp khẩn cấp để kịp thời ngăn chặn tội phạm của họ, ngăn chặn những người đó gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và tiếp tục phạm tội hoặc trốn [18, tr.12[
Mặc dù xuất hiện trong giai đoạn điều tra và do cơ quan điều tra thực hiện nhưngcác biện pháp cưỡng chế TTHS nêu trên là biện pháp ngăn chặn chứ không phải biệnpháp điều tra Thật nguy hiểm nếu ai đó nhầm lẫn biện pháp ngăn chặn là biện phápđiều tra bởi như vậy sẽ dẫn đến tình trạng để thuận lợi cho việc điều tra các cơ quanđiều tra sẽ lạm dụng các biện pháp tạm giam, bắt khẩn cấp….xâm phạm đến quyềncon người của những người bị tình nghi
Biện pháp ngăn chặn không phải là hình phạt mà nó chỉ là biện pháp cưỡng chếTTHS có tính chất tạm thời trước khi có bản án hiệu lực pháp luật kết tội một người cótội hay không được áp dụng đối với người bị tình nghi, bị cáo, những người bị nghi là
đã thực hiện tội phạm Biện pháp ngăn chặn có thể bị huỷ bỏ, thay thế bằng biện phápngăn chặn khác bởi không chỉ là toà án mà bất kỳ các cơ quan tiến hành tố tụng nàotrong bất kỳ giai đoạn tố tụng nào trước khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật nếu nókhông cần thiết Một trong những biện pháp ngăn chặn cơ quan THTT được áp dụng
đó chính là biện pháp tạm giữ, tạm giam Từ việc áp dụng biện pháp tạm giữ tạm giamnày làm xuất hiện chủ thể bị áp dụng hai biện pháp cưỡng chế này là người bị tạm giữ
và người bị tam giam
Khoản 1 Điều 59 Bộ luật TTHS 2015 quy định: Người bị tạm giữ là người bị giữtrong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theoquyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định
Trang 14tạm giữ Người bị tạm giữ có đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, đã có dấu hiệu cho rằng họ thực một tội phạm quy định trong BLHS.
Theo tính thần của nguyên tắc suy đoán vô tội: không ai bị coi là có tội nếu chưa cóbản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật thì người bị tạm giữ chưa bị khẳng định là cótội mà mới có dấu hiệu thực hiện tội phạm trên thực tế Đối với người bị tạm giữ, cơquan quan có thẩm quyền không buộc phải xác định tội phạm do người tạm giữ thựchiện ở mức chung nhất và có thể chưa đầy đủ các dâu hiệu cấu thành của cấu thành tộiphạm Nhưng để đáp ứng yêu cầu không bỏ lọt tội phạm và yêu cầu phát hiện nhanhchóng, kịp thời mọi hành vi phạm tội thì cần thiết phải tạm giữ người bị tình nghi
Thứ hai, người bị tạm giữ có thể là ngừời chưa bị khởi tố về hình sự, đó là
những ngừời bị bắt trong trường hợp khẩn cấp theo Bộ luật TTHS 2005 và người bịgiữ khẩn cấp theo Bộ luật TTHS 2015, phạm tội quả tang, trừờng hợp phạm tội tự thútrước khi hành vi phạm tội bị phát hiện và khởi tố, và đối với họ đã có quyết định tạmgiữ
Thứ ba, người bị tạm giữ cũng có thể là người đã bị khởi tố về hình sự bao gồm:
bị can, bị cáo, người đã bị kết án nhưng bỏ trốn, người đang chấp hành án bỏ trốnnhưng bị bắt theo quyết định truy nã hoặc ngừời phạm tội ra đầu thú và đã có quyếtđịnh tạm giữ đối với họ Do đó, pháp luật coi người bị tạm giữ là người tham giaTTHS, có các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ theo quy định của pháp luật
Thứ tư, người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp (hoặc bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp theo Bộ luật TTHS 2015), bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắttheo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú thì điều kiện đủ để họ trởthành người bị tạm giữ là đối với họ phải có quyết định tạm giữ Một người bị bắttrong các trường hợp nêu trên hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú mà không có quyếtđịnh tạm giữ thì cũng không phải là người bị tạm giữ
- Họ đã bị buộc tội bằng bản án kết tội chưa có hiệu lực của tòa án, hoặc bản án đã cóhiệu lực pháp luật trong trường hợp chờ thi hành hình phạt tử hình, quyết định khởi tố
bị can của cơ quan điều tra, hoặc quyết định dẫn độ
- Người bị tạm giam bị hạn chế đi một số quyền công dân của người bị tạm giam,
Trang 15nhưng không phải là bị luật pháp tước bỏ hết các quyền con người, quyền công dâncủa người bị tạm giam mà chỉ là hạn chế trong một thời gian nhất định do các cơ quan
và người có thẩm quyền tiến hành theo luật định Khi áp dụng biện pháp tạm giam,mục đích là để ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội và ngăn chặn tội phạm có thể xảy
ra, phục vụ cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả cao
Họ đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quy định của Bộ luậtTTHS Tạm giam là biện pháp tước bỏ tự có thời hạn do cơ quan điều tra, viện kiểmsát, tòa án áp dụng với bị cáo, người bị kết án phạt tù, người bị kết án tử hình mà bản
án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đang chờ thi hành án, người bị tạm giam để thựchiện việc dẫn độ để ngăn chặn, có thể bỏ trốn, gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét
xử, tiếp tục phạm tội hoặc để đảm bảo thi hành bản án hoặc quyết định dẫn độ Đây làbiện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong TTHS nên để đảm bảo yêu cầu bảo vệquyền con người của những người bị tạm giam, Bộ luật TTHS có quy định rất chặt chẽ
và cụ thể về căn cứ, thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp tạm giam
Theo tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội: người bị buộc tội không bị coi là
có tội cho đến khi có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì người bịtam giam chưa phải là người có tội và không được đối xử với họ như người đã có tội(phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù); trại tạm giam khác với nhà tù, chế độ giamgiữ khác với chế độ của tù nhân…
Quyền của người bị tạm giữ, tạm giam là một một lĩnh vực đặc thù của quyềncon người Nó mang đầy đủ đặc điểm của quyền con người nói chung nhưng cũng cónhững dấu hiệu riêng Từ khái niệm quyền con người, người bị tạm giữ, tạm giam sẽlàm cơ sở nghiên cứu về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam:
- Thứ nhất, biện pháp tạm giữ, tạm giam liên quan đến quyền con người được
quy định hoặc thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết mà thiếu nó cơ quan, người tiếnhành tố tụng không thể hoàn thành việc xác định sự thật khách quan của vụ án, ngănchặn tội phạm
Thứ hai, khi biện pháp tạm giữ, tạm giam đã được áp dụng trở nên không cần
thiết nữa thì cần phải được hủy bỏ Ví dụ: bị can bị tạm giam do có căn cứ là nếu
Trang 16không áp dụng tạm giam bị can sẽ gây khó khăn cho việc điều tra (thông cung, muachuộc, khống chế người làm chứng…), khi việc điều tra đã hoàn thành, tội phạm đãđược chứng minh đầy đủ, khách quan thì căn cứ áp dụng tạm giam đã mất đi, do đó cơquan tiến hành tố tụng phải hủy bỏ hoặc thay đổi biện pháp tạm giam đã áp dụng Đểlàm được điều này, đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tốtụng phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp, sự cần thiết của những biện pháp đã
áp dụng (điều 4 BLTTHS)
Thứ ba, các biện pháp tạm giữ, tạm giam là hạn chế quyền con người nên cần
được áp dụng khi cần thiết để đạt được mục đích của TTHS Việc lạm dụng áp dụngbiện pháp cưỡng chế tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
là một trong những biểu hiện phổ biến của vi phạm quyền con người trong hoạt độngTTHS ở nước ta Việc xác định mức độ cần thiết của biện pháp tạm giữ, tạm giamđược thực hiện thường xuất phát từ thực tế hành vi phạm tội được thực hiện, nhân thânđối tượng được áp dụng cũng như căn cứ áp dụng biện pháp đó.Ví dụ: để ngăn chặntội phạm, không để bị can tiếp tục phạm tội thì cần áp dụng biện pháp tạm giam đốivới người đó Còn trong trường hợp căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn là có căn cứchứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho điều tra, truy tố, xét xử thì có thể áp dụngcác biện pháp khác nhau: nếu bị can có khả năng thông cung, hủy bỏ chứng cứ, khốngchế người bị hại, người làm chứng… thì có thể áp dụng biện pháp tạm giam; nhưngnếu chỉ gây khó khăn ở hình thức không có mặt khi được triệu tập thì chỉ cần áp dụngbiện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh là đủ Hoạt động TTHS phải được thực hiệntrên cơ sở coi trọng các yếu tố đó; bỏ qua hoặc coi nhẹ yếu tố này hay yếu tố khác nóitrên đều ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc đạt được mục đích tố tụng Nếu muốnchứng minh tội phạm, xử lý tội phạm bằng bất cứ giá nào thì dễ dẫn đến vi phạmquyền con người; ngược lại nếu quá chú ý đến việc bảo đảm quyền con người thái quá
mà không mạnh dạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng để phát hiện, chứngminh tội phạm thì sẽ làm cho hoạt động tố tụng thiếu hiệu quả, không thể phát hiện, xử
lý kịp thời người phạm tội, thậm chí bỏ lọt tội phạm v.v…
Thứ tư, việc bảo đảm quyền con người trong TTHS được thực hiện thông qua
Trang 17các biện pháp khác nhau, nhưng tập trung ở biện pháp xây dựng và hoàn thiện các quyđịnh của BLTTHS cũng như thực hiện nghiêm chỉnh các quy định đó trong thực tiễnđiều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự và thi hành bản án, quyết định có hiệu lực phápluật của Tòa án Đặc biệt là các đảm bảo cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ việc tạm giữ,tạm giam bởi điều kiện này liên quan trực tiếp, cụ thể đến những quyền tự nhiên, cơbản của bị tạm giữ, tạm giam.
Quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam được thể hiện ở hai khía cạnh:
Một là, xử lý người phạm tội trước pháp luật, qua đó bảo vệ quyền con người nói
chung;
Hai là, khi tiến hành tố tụng các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng phải bảo đảm được quyền của người bị tạm giữ, tạm giam, đồng thời ngăn ngừanguy cơ lạm dụng từ phía những người tiến hành tố tụng
Từ cách tiếp cận đó có thể đưa ra định nghĩa về quyền con người trong tạm giữ,
tạm giam: “Quyền con người trong tạm giữ, tạm giam là những giá trị cơ bản của con người chỉ dành cho con người khi họ bị tạm giữ, tạm giam mà Nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm thực hiện trên thực tế” Có thể
thấy đó là các quyền: quyền được bào chữa, được nhận các quyết định tố tụng theoquy định của pháp luật; quyền được xét xử trong thời gian luật định; quyền không bịtruy bức, nhục hình; quyền bình đẳng trước pháp luật; bình đẳng trước tòa án v.v…Xét riêng ở phương diện quyền con người trong tạm giữ, tạm giam cho thấy, đây
là nơi quyền con người chịu sự tác động rất lớn từ các cơ quan tiến hành tố tụng, ngườitiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự Do vậy, đây cũng là nơi quyền conngười rất dễ bị xâm phạm và hậu quả của việc quyền con người bị xâm phạm thường
để lại hậu quả rất lớn cho xã hội
Quyền con người trong tạm giữ, tạm giam do pháp luật TTHS quy định trên cơ
sở phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, gồm các nhóm quyền vềtính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản v.v… và các nhóm quyền tốtụng với tư cách là những người tham gia tố tụng bị tạm giữ, tạm giam
- Mọi người vi phạm pháp luật đều bị tòa án xét xử công bằng, công khai;
Trang 18- Bộ luật hình sự 2015 đã quy đình rõ về quyền và nguyên tắc suy đoán vô tội;
1.1.2 Khái niệm quyền con người
Mặc dù vấn đề quyền con người, quyền công dân đã được hình thành từ rất sớmtrong lịch sử nhân loại nhưng do nó được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau(triết học, chính trị học, kinh tế học, luật học ), xuất phát từ những mục đích, màu sắc
tư tưởng, lãnh địa chính trị của các quốc gia khác nhau… Nên khái niệm quyền conngười, quyền công dân vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau
Để làm sáng tỏ vấn đề quyền con người trong TTHS nói chung và quyền conngười trong tạm giữ, tạm giam nói riêng cần xuất phát từ khái niệm chung về conngười Bởi lẽ, quyền con người trong tạm giữ, tạm giam là một khía cạnh, một biểuhiện của quyền con người trong một lĩnh vực đặc thù mà ở đó, quyền con người dễ bị
có nguy cơ bị xâm phạm nhất là lĩnh vực tố tụng hình sự
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người, mỗi định nghĩa
là một sự biểu hiện khác nhau về góc độ nhìn nhận về vấn đề nhân quyền Tuy nhiên,tổng hợp lại các quan niệm đó được phân chia thành ba quan niệm chủ yếu, khác nhau
về quyền con người như sau :
- Quan niệm thứ nhất: Bắt nguồn từ chỗ coi con người là một thực thể tự nhiên, nên
quyền con người phải là quyền "bẩm sinh", là "đặc quyền", nghĩa là quyền con người,quyền lợi của con người với tư cách là người, gắn liền với cá nhân con người, khôngthể tách rời
- Về quan niệm thứ hai: Không đồng quan niệm thứ nhất, quan niệm này chỉ đặt con
người và quyền con người trong mối quan hệ xã hội nên nó được chế độ nhà nước,pháp luật điều chỉnh bảo vệ [29, tr.35]
Các tư tưởng ở quan niệm nay coi quyền con người là một khái niệm có tính lịch
sử, đặt con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội
- Quan niệm thứ ba: Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề quyền con người.
Quan niệm này đã khắc phục được tính phiến diện, phản khoa học về con người,quyền con người ở các quan niệm trên [29, tr.36]
Xuất phát từ quan niệm coi con người vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm
Trang 19của xã hội, con người mặc dù vẫn là một thực thể tự nhiên như các loài động vật khác,nhưng lại khác với loài động vật khác ở chỗ con người chỉ thực sự tồn tại với tư cách
là một con người khi nó được tồn tại trong cộng đồng xã hội Hai mặt này tồn tại biệnchứng trong một con người Trong cái tự nhiên của con người có mặt xã hội và trongcái xã hội của con người có mặt tự nhiên Mặt này trở thành tiền đề cho mặt kia trongmối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời Xuất phát từ quan niệm này về quyền conngười nên chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng vấn đề quyền con người: "Về bản chất baohàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội":
C.Mác cho rằng, con người là "động vật có khả năng tái sinh ra con người", conngười là động vật cao cấp Do đó, về mặt này, cũng như quan niệm thứ nhất, quyền conngười trước hết là một thuộc tính tự nhiên
Từ quan điểm trên cho thấy, về bản chất, quyền con người bao gồm cả quyền tựnhiên và quyền xã hội Quyền tự nhiên phải được đặt trong tổng hòa các mối quan hệ
xã hội, chịu sự chi phối, ràng buộc của xã hội, gắn liền với quá trình chinh phục tựnhiên và xã hội Quyền con người chỉ được đặt ra khi nó tồn tại trong cộng đồngngười Khái niệm quyền con người chỉ xuất hiện khi con người bị những thực thểngười khác xâm hại đến lợi ích của mình Hoặc ngược lại, nếu con người tồn tại độclập, không có mối liên hệ cộng đồng, không bị các thực thể khác trong cộng đồng tácđộng xâm hại đến lợi ích của mình thì không thể làm xuất hiện khái niệm quyền conngười
Nhận thức khái niệm quyền con người với đầy đủ bản chất, thuộc tính của nó chothấy quyền con người là một phạm trù phức tạp Vì vậy, cần thiết phải đưa ra địnhnghĩa về quyền con người Tuy nhiên, nếu chỉ đưa ra định nghĩa quyền con người với
tư cách là một phạm trù riêng biệt của chính trị học, kinh tế học, triết học, luật học sẽ
là điều phiến diện, không đầy đủ, vì như thế nó mới chỉ thể hiện được quyền con ngườidưới góc độ khoa học, mà không thể hiện được bản chất cũng như tính đa diện của vấn
đề này Hay nói cách khác, nó mới chỉ thể hiện trạng thái tĩnh của quyền con người.Khi bàn về Quyền con người, Ayn Rand định nghĩa rất xác đáng rằng “Quyềncon người là điều kiện mà bản chất con người đòi hỏi để tồn tại một cách thích
đáng”
Trang 20[37] Đây là những như nhu cầu rất tự nhiên (quyền tự nhiên) tối thiểu để mỗi cá nhân
tồn tại trong xã hội với tư cách một con người Quyền con người có những đặc tính cơbản như: tính bất khả xâm phạm (là tính tự nhiên của quyền con người), tính bất khảphân chia; tính bình đẳng của quyền con người Một số nhà nghiên cứu cũng cho rằngquyền con người có tính phổ biến và tính đặc thù
Như vậy, định nghĩa trên về nhân quyền đã được khái quát hóa từ góc độ bảnchất của vấn đề, được xem xét từ các đặc điểm của nó (so sánh giữa con người và độngvật khác), và cũng được xem xét từ góc độ giới hạn, phạm vi của vấn đề Định nghĩanày không chỉ khắc phục được tính phiến diện của các định nghĩa khác, mà nó còn xácđịnh rõ ràng "ranh giới" của vấn đề, hạn chế của việc hiểu và vận dụng lệch lạc vềquyền con người Chúng tôi tán thành với khái niệm này
1.1.2 Đặc điểm quyền con người
Quyền con người có những tính chất cơ bản sau đây:
Tính phổ biến: Quyền con người là quyền chung được áp dụng cho tất cả mọi
người không có phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuấtthân Con người, dù ở trong những chế độ xã hội nào, thuộc dân tộc, văn hóa truyềnthống khác nhau vẫn được công nhận là con người và được hưởng những quyền và sự
Tính không thể bị tước bỏ: Quyền con người là gắn với mỗi con người từ khi sinh
ra cho đến khi chết đi, quyền đó không ai có thể tước bỏ Tuy nhiên, trong một sốtrường hợp nhất định được pháp luật quy định trước, chỉ có những chủ thể đặc biệtmới có thể hạn chế quyền con người Ví dụ: người bị tạm giữ, tạm giam khi bị tìnhnghi thực hiện tội phạm, tù nhân bị giam do thực hiện hành vi phạm tội
Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền: Các quyền con người có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện quyền này sẽ ảnh hưởng đến thực hiện quyền
Trang 21khác Ngược lại, khi có một quyền bị xâm phạm thì sẽ ảnh hưởng đến các quyền khác.
Ví dụ: nếu một người không được làm việc, không có một mức sống đảm bảo cho sựsống cũng của họ và người thân thì người đó sẽ ít chú ý đến các quyền dân chủ nhưquyền bầu cử hoặc quyền tham gia quản lý nhà nước, xã hội
1.2 Quyền con người trong tạm giữ, tạm giam
1.2.1 Nội dung quyền con người trong tạm giữ, tạm giam
Bảo đảm các quyền con người, quyền cơ bản của công dân là bảo đảm các quyền
đã được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác như Luật bầu cử, Bộluật dân sự, luật hôn nhân gia đình, Bộ luật TTHS, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam…
Là con người và chỉ bị tạm thời hạn chế một số quyền con người, quyền công dân nên
bị can, bị cáo có quyền được tôn trọng và bảo đảm các quyền được pháp luật quy định,trừ các trường hợp BLTTHS quy định khác nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ TTHS.Bên cạnh hai nhiệm vụ chính là không làm oan người không có tội và không bỏlọt tội phạm như đã đề cập ở trên, nhiệm vụ của Tòa án còn có mối liên hệ chặt chẽ vớiviệc đảm bảo việc thực hiện các nhóm quyền của bị can, bị cáo được quy định trongBLTTHS, đó là các nhóm quyền: được thông tin, được bảo vệ và trợ giúp pháp lý;nhóm quyền được tham gia tố tụng; nhóm quyền được khiếu nại quyết định, hành vi tốtụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
1.2.2.1 Quyền không bị bắt giam tùy tiện
Quyền tự do thân thể, không bị bắt, giam giữ tùy tiện, trái pháp luật là một trongnhững quyền cơ bản nhất của con người được nhân loại thừa nhận Không ai bị bắthoặc bị giam giữ vô cớ
Quyền tự do thân thể, không bị bắt, giam giữ tùy tiện, trái pháp luật là một trongnhững quyền cơ bản nhất của con người, được cộng đồng thế giới thừa nhận và tôntrọng Quyền này được quy định lần đầu tiên trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyềnnăm 1948, tại Điều 9 Tuyên ngôn đã quy định: “Không ai bị bắt, giam giữ hay lưu đàymột cách tùy tiện”
Cụ thể, Điều 9 của Công ước năm 1966 đã quy định: “Mọi người đều có quyềnhưởng tự do và an toàn cá nhân Không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ Không ai bị
Trang 22tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là có lý do và theo đúng nhữngthủ tục mà luật pháp đã quy định”.
Theo đó, quy định trên được áp dụng đối với mọi đối tượng bị tước tự do, baogồm cả người bị giữ, giam vì hành vi phạm tội, do tâm thần, nghiện ma túy hay phục
vụ mục đích giáo dục, kiểm soát nhập cư
Khi bắt giữ người đều phải được thông báo vào lúc bị bắt những lý do vì sao họ
bị bắt và phải được thông báo về sự buộc tội đối với họ”
Quy định này nhằm tạo điều kiện cho người bị bắt giữ biết được mình có bị bắt
vì tội danh nào, lý do gì mình bị bắt, đảm bảo quyền được biết và quyền không bị bắttùy tiện bởi một cơ quan có thẩm quyền xét xử
Các biện pháp tạm giữ, tạm giam được sử dụng với tính chất là biện pháp ngănchặn, thì việc giam, giữ này phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định và phảibảo đảm quyền được thông tin cho bị can, quyền được tòa án quyết định tính hợp phápcủa việc giam giữ Trong đó, việc bắt giữ, giam người chỉ trong những trường hợp,điều kiện, trình tự thủ luật định và việc áp dụng các chế tài tước tự do đối với ngườiphạm tội là cần thiết nhằm bảo đảm hiệu quả phòng, chống tội phạm, duy trì trật tự xãhội, bảo vệ lợi ích xã hội, quyền và lợi ích của cá nhân, đồng thời tăng cường giáo dụcngười phạm tội
Những nội dung trên nhằm bảo vệ quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện, độcđoán của mỗi người dân, buộc các cơ quan xét xử phải công tâm, làm việc khách quan
và đúng pháp luật, tránh tình trạng lạm quyền, vi phạm luật pháp dẫn đến oan sai, truy
tố người vô tội
Hiến pháp năm 2013 và BLTTHS 2015 của Việt Nam đã thể hiện khá đầy đủ nộidung của quyền không bị bắt giữ tùy tiện của Luật quốc tế Nên các cơ quan tiến hành
tố tụng đựơc áp dụng các biện pháp ngăn chặn sau đây: Bắt tạm giữ, tạm giam, bảolãnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo Khi áp dụngcác biện pháp ngăn chặn cơ quan có thẩm quyền phải dựa vào các căn cứ sau đây:
- Để kịp thời ngăn chặn tội phạm: Dưới góc độ luật hình sự thì tội phạm bao giờcũng gây thiệt hại, đe doạ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
Trang 23vệ Do vậy việc ngăn chặn tội phạm gây thiệt hại cho xã hôi, làm giảm thiệt hại cho xãhội do phạm tội gây ra là việc làm cần thiết và là nhiệm vụ của nhà nước nói chung và
cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng Tuy nhiên, áp dụng các biện pháp ngăn chặn cònphải dựa vào căn cứ khi có căn cứ cho thấy bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho quátrình điều tra,truy tố, xét xử Khi một người đã bị nghi thực hiện tội phạm (tức là phảidựa vào một số chứng cứ để nghi) thì theo quy luật chung họ thường có những hành
vi, thủ đoạn gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng Bởi vì nếu không chứngminh đựơc một người phạm tội thì theo nguyên tắc suy đoán vô tội họ được coi làkhông phạm tội Hành vi, thủ đoạn gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố,xét xử đượcthực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như xoá dấu viết tội phạm, tiêu huỷ chứng
cứ, mua chuộc, đe doạ người làm chứng….Do đó việc áo dụng biện pháp ngăn chặnđối với họ là cần thiết Tuy nhiên, còn phải nhận thức rằng: Bị can, bị cáo không cónghĩa vụ chứng minh tội phạm và sự vô tội của mình, ngăn chăn họ không gây khókhăn cho quá trình làm sáng tỏ vụ án là việc làm cần thiết Làm sáng tỏ bản chất của
vụ án được thể hiện dưới hai mặt: Xác định có tội phạm hay không Do đó, việc ápdụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo không chỉ nhằm mục đích chứng minh
họ không phải là người thực hiện hành vi tội phạm tức là làm rõ bản chất của vụ án.Nhận thức được như vậy mới thấy rõ được mục đích của TTHS là phát hiện xử lý kịpthời mọi tội phạm đồng thời không làm oan người vô tội Bởi vì trong thực tế cókhông ít những trường hợp bị can, bị cáo do nhận thức hạn chế, do sức ép từ nhiềuphía không phạm tội nhưng vẫn cố tình gây khó khăn cho hoạt động tố tụng như bỏtrốn, tiêu huỷ chứng cứ nhằm che dấu tội phạm cho người khác
Căn cứ thứ hai để áp dụng biện pháp ngăn chặn là: Khi có căn cứ chứng tỏ bịcan, bị cáo tiếp tục phạm tội và căn cứ cuối cùng là để đảm bảo thi hành án ViệcTTHS quy định các biện pháp ngăn chặn là cần thiết để thực hiện nhiệm vụ của luậtTTHS Tuy nhiên việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn là một trong các biện phápcưỡng chế nhà nước trong TTHS thực chất là hạn chế một, một số quyền của người bịtình nghi đụng chạm đến quyền tự nhiên, quyền của công dân của bị cáo như quyền tự
do thân thể, quyền tự do đi lại…Do đó việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn phải tôn
Trang 24trọng nguyên tắc suy đoán vô tội thể hiện ở chỗ: Không được áp dụng biện pháp ngănchặn một cách tuỳ tiện, vô căn cứ Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn dựa vào cáccăn cứ nhất định Tức là nếu không có các căn cứ quy định tại điều 79 BLTHS 2003thì không được áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị tình nghi, bị can, bị cáo.Các căn cứ này không được áp dụng tuỳ tiện theo suy luận chủ quan của các cơ quanTHTT mà phải dựa trên cơ sở các tài liệu chứng cứ và việc đánh giá các tài liệu chứng
cứ này Ví dụ để sử dụng căn cứ: Bị can, bị cáo gây khó khăn cho hoạt động điều tra,truy tố, xét xử các cơ quan tiến hành tố tụng phải nghiên cứu các tình tiết của vụ ánnghề nghiệp, nhân thân của bị can, bị cáo Bởi vì trong thực tế không phải bị can nàocũng gây khó khăn cho hoạt động tố tụng và không phải bị can, bị cáo nào cũng muốngây khó khăn, cản trở hoạt động tố tụng Hoặc khi sử dụng căn cứ: Bị can, bị cáo tiếptục phạm tội để áp dụng biện pháp ngăn chặn thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải cónhững chứng cứ ban đầu hoặc các chứng cứ đã được kiểm tra, đánh giá cho thấy việc
bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội là có thể xảy ra chứ không phải dựa vào suy luận chủquan về nhân thân của bị cáo mà kết luận
1.2.2.2 Quyền không phân biệt đối xử và đối xử bình đẳng
Bình đẳng trong TTHS là ngang bằng về cơ hội và quyền lợi giữa bên buộc tội(trong đó có người bị tạm giữ, tạm giam) và bên bị buộc tội
Do đó, khi tham gia tố tụng các bên phải có cơ hội ngang nhau để phản bác các ýkiến của bên đối tụng, nói cách khác phải đảm bảo sự bình đẳng cho các bên tham giatranh tụng trong
Trong TTHS luôn luôn có sự đối lập về lợi ích Do đó, cần đối xử với người bịbuộc tội một cách công bằng và công minh khi phán quyết, cần đề cao giá trị quyềncon người về mặt hình thức trong việc bảo vệ lợi ích của các bên Để đạt được điều đótrong hệ tố tụng cần có những nguyên tắc nhất định như thẩm tra chéo, bình đẳngtrước tòa án, tranh luận dân chủ
Trong tư pháp hình sự, một khía cạnh quan trọng đó là sự công bằng, để đạt đượcđiều đó các bên có lợi ích đối lập nhau (bên buộc tội và bên gỡ tội) phải có sự “Bìnhđẳng vũ khí” bảo vệ quyền lợi trong tố tụng Vì vậy khi tiến hành tố tụng người tiến
Trang 25hành tố tụng phải xem xét một cách khách quan toàn diệnxử lý một cách bình đẳnggiũa người tố cáo và người bị tố cáo vì vậy cần có sự tham gia của trợ giúp viên pháp
lý, luật sư Bình đẳng phải được coi như một nguyên tắc của TTHS không những trongkhi xét xử mà ngay cả trước khi xét xử [10, tr.36]
Tư tưởng về bình đẳng trong tư pháp hình sự không còn trong khuôn khổ mộtnước mà được phát triển dưới góc độ toàn khu vực (nhiều quốc gia) Như tư tưởngbình đẳng, không phân biệt đối xử của các cá nhân thuộc các quốc gia trong khu vựcchung châu Âu khi bị bắt giữ
Thể hiện tư tưởng bình đẳng trong tư pháp hình sự vượt khỏi biên giới quốc gianhằm thúc đẩy phát triển nhân quyền Có quan điểm cho rằng, một số quốc gia sẽ tiếnhành những phiên tòa TTHS mẫu, theo đó nếu ĐƯQT mà các nước thành viên thamgia ký kết trong một số phiên tòa hình sự của các nước này sẽ có thể có quan sát viên,quan sát đối chiếu với hệ thống các tiêu chuẩn xét xử để đảm bảo quyền bình đẳng vàxét xử công bằng trong TTHS
Để bảo đảm quyền bình đẳng thì TTHS không những chỉ bảo vệ quyền cho bịcáo, bị can mà còn phải bảo vệ cả các quyền cho người bị tình nghi, người bị tố giác
Tư tưởng này cũng chỉ ra sự đối lập giữa truy tố tội ác và bảo vệ quyền của bị can, bịcáo, người bị tình nghi và cần có các giải pháp nhằm khắc phục có hiệu quả vi phạmcác quyền của bị can, bị cáo, người bị tình nghi đã được pháp luật ghi nhận[8] với cáctiêu chuẩn của xét xử công bằng, phải bảo vệ các quyền cần của bị can, người bị tìnhnghi trước khi xét xử, bình đẳng trong tiếp cận chứng cứ, cung cấp chứng cứ và bìnhđẳng trước Tòa án Tất cả những người bị tình nghi phải được bảo đảm về quyền của
họ trong suốt quá trình tố tụng
Khi giải quyết các vụ án hình sự có người bị hại là người đã bị tội phạm gây thiệthại về vật chất, thể chất hoặc tinh thần Để đạt tới sự công bằng thì quyền bình đẳngcủa người bị hại hoặc những người bảo vệ quyền lợi cho họ cũng phải bình đẳng đốivới bảo vệ quyền lợi cho bị can, bị cáo, người bị tình nghi Có như vậy thì người bị hạimới không bị "gây thiệt hại" một lần nữa do sự chậm chễ, kéo dài của tố tụng hoặcchính tố tụng lại tạo ra sự bất bình đẳng trong bảo vệ quyền của người bị hại
Trang 26Trong các tác phẩm của mình, mặc dù Các - Mác không luận giải bình đẳng là gì,nguồn gốc của bình đẳng từ đâu nhưng ông lại cho ta thấy được tính hiện thực củabình đẳng bằng cách chỉ ra bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội; chỉ
ra thực chất mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể là quan hệ lợi ích; sự thống nhất giữa
cá nhân và tập thể là điều kiện cơ bản đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhâncũng như của tập thể; khái niệm xã hội được biểu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, caonhất là xã hội loài người (toàn thể nhân loại), thấp hơn là những hệ thống xã hội nhưquốc gia, dân tộc, giai cấp, chủng tộc Như vậy, có thể thấy các lĩnh vực mà pháp luậtđiều chỉnh trong đó có tư pháp hình sự thì bình đẳng chỉ có được khi chú ý đến việctừng cá nhân có giá trị và được đối xử bình đẳng với các cá nhân khác trong xã hội
1.2.2.3 Quyền không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ
nhục
Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạohoặc hạ nhục được đề cập trước hết trong Điều 5 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền(UDHR), trong đó nêu rằng, không ai bị tra tấn hay bị đối xử, trừng phạt tàn bạo, vônhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm
Tra tấn được hiểu là: Các hành vi cố ý gây đau đớn hoặc đau khổ nghiêm trọng
về thể xác hay tinh thần cho người khác, nhằm mục đích như lấy thông tin hoặc lời thútội từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng phạt người đó vì một hành vi màngười đó hay người thứ ba thực hiện hay bị nghi ngờ đã thực hiện, hoặc để đe doạ hay
ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc vì bất kỳ một lý do nào khác dựa trên sựphân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi đau đớn và đau khổ đó do một công chứchay người nào khác hành động với tư cách chính thức gây ra, hay với sự xúi giục,đồng tình hay ưng thuận của một công chức Tuy nhiên, Điều này cũng nêu rõ, kháiniệm tra tấn không bao gồm những đau đớn hoặc đau khổ xuất phát từ, gắn liền vớihoặc có liên quan đến các biện pháp trừng phạt hợp pháp
Định nghĩa về tra tấn trong Điều 1 CAT hiện được sử dụng như một quy địnhtham chiếu chung trong luật quốc tế về quyền con người và luật hình sự quốc tế[1] khi
đề cập đến vấn đề tra tấn, tuy nó bị phê phán là đã loại trừ những đối tượng và hoàn
Trang 27cảnh mà hành động tra tấn được thực hiện bởi những thủ phạm phi công chức (ví dụ,việc một nhóm phiến quân bắt cóc con tin và tra tấn họ hay việc một người chồngđánh đập vợ mình sẽ không thuộc nội hàm của hành động tra tấn theo định nghĩa này).Bên cạnh những khía cạnh đã được nêu cụ thể, một số khía cạnh khác liên quanđến nội dung Điều 7 ICCPR đã được HRC phân tích, đầu tiên là trong Bình luậnchung số 7 (thông qua tại phiên họp lần thứ 16 năm 1982 của Ủy ban), và sau đó đượcsửa đổi và bổ sung trong Bình luật chung số 20 (thông qua tại phiên họp lần thứ 44năm 1992 của Ủy ban) Sau đây là những nội dung tóm tắt của Bình luận chung số 20.
Thứ nhất, mục đích của Điều 7 ICCPR là để bảo vệ cả phẩm giá và sự bất khả
xâm phạm về thể chất và tinh thần của các cá nhân (đoạn 1)
Thứ hai, việc cấm tra tấn và các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân
đạo và hạ nhục phải được duy trì trong mọi tình huống, kể cả trong hoàn cảnh khẩncấp của quốc gia như quy định ở Điều 4 ICCPR Không chấp nhận bất cứ lý do nào, kể
cả về tình trạng khẩn cấp của quốc gia và mệnh lệnh cấp trên đưa ra để biện minh chocác hành động tra tấn, đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục (đoạn 3)
Thứ ba, sự phân biệt giữa các hành động tra tấn và hành động đối xử, trừng phạt
tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục phụ thuộc vào bản chất, mục đích và tính chấtnghiêm trọng của hành vi Ủy ban không thấy cần thiết phải đưa ra các ví dụ hay tiêuchí cụ thể để phân biệt giữa các hành động đó (đoạn 4)
Thứ tư, về dấu hiệu khách quan, hành vi tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn bạo, vô
nhân đạo hoặc hạ nhục nêu trong Điều 7 không chỉ là những hành động gây ra nhữngđau đớn về thể xác, mà còn bao gồm những hành động gây đau khổ về tinh thần vớinạn nhân Những hành động đó không chỉ nhằm mục đích để trừng phạt, mà còn nhằmmục đích để giáo dục, rèn luyện một đối tượng nào đó Như vậy, Điều 7 còn có tácdụng bảo vệ trẻ em, học sinh và các bệnh nhân trong môi trường giáo dục và y tế(đoạn 5)
Thứ năm, việc kéo dài thời gian biệt giam hoặc tù giam một người, kể cả những
người đã bị kết án tử hình, mà không có lý do chính đáng cũng bị coi là hành động tratấn, đối xử hay trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo (đoạn 6)
Trang 28Thứ sáu, các quốc gia không được trục xuất hay dẫn độ một người sang nước
khác trong trường hợp người đó có khả năng bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn bạo,
vô nhân đạo sau khi bị trục xuất hay dẫn độ (đoạn 9), đồng thời phải thực hiện cácbiện pháp để ngăn chặn và xử lý các hành động bị nghiêm cấm trong Điều 7, bất kể dochủ thể nào gây ra, kể cả đó là các viên chức nhà nước hay dân thường, thực hiện khithi hành công vụ hay trong những hoàn cảnh khác (đoạn 2)
Tương tự nhưng chi tiết hơn so với Bình luận chung số 20, CAT cũng bao gồmnhững quy định về các biện pháp các quốc gia thành viên cần áp dụng để ngăn chặn vàtrừng trị các hành động tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, đồng thời
đề cập đến một số khía cạnh mới như yêu cầu về bảo vệ nhân chứng (Điều 13), yêucầu bồi thường cho nạn nhân (Điều 14), cấm sử dụng thông tin thu được do tra tấn làmchứng cử trong tố tụng (Điều 15)
1.2.2.4 Quyền không bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp
luật của Tòa án
Cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại tuyên bố trên của Tuyên ngôn dânquyền và nhân quyền 1789 đã được coi là nguyên tắc chung của nhân loại và sau nàyđược thể hiện trong bản tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948: “Mỗi người bị buộctội được có quyền coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo luậtpháp tại một phiên tòa xét xử công khai với mọi sự đảm bảo biện hộ cần thiết” Nguyêntắc suy đoán vô tội được thể hiện trong hiến pháp và pháp luật TTHS của nhiều nướctrên thế giới với cách thể hiện khác nhau, mức độ khác nhau Điều 5 Hiến pháp Hoa
Kỳ ấn định “Không một người nào phải trả lời về một trọng tội hay tội xấu xa khác,nếu không có cáo tội trạng hay tố cáo trạng do một đại bồi thẩm đoàn đưa ra Khôngmột người nào bị bắt buộc phải tự làm nhân chứng cho chủ mình trong một vụ án hìnhsự” Điều 34 Hiến pháp Nhật bản quy định: “Không ai bị giam giữ nếu không cóchứng cứ xác đáng”
Điều 14 BLTTHS Liên Bang Nga quy định rõ suy đoán vô tội là một nguyên tắccủa luật TTHS với nội dung:
1 Bị can được coi là không có tội, chừng nào tội của họ không được chứng
Trang 29minh theo đúng trình tự, thủ tục bộ luật này quy định và không bị tòa án tuyên phạtbằng bản án đã có hiệu lực pháp luật.
2 Những người bị tình nghi hoặc bị can không có nghĩa vụ phải chứng minh sự
vô tội của mình Vấn đề chứng minh tội phạm và bác bỏ những chứng cứnhằm bảo vệ cho người bị tình nghi hoặc bị can thuộc trách nhiệm của bênbuộc tội
3 Mọi nghi ngờ về tội phạm của bị can nếu không được loại trừ theo trình tựthủ tục do Bộ luật quy định thì phải giải thích có lợi cho bị can
4 Bản án kết tội không được dựa trên căn cứ giả định
Trong pháp luật Việt Nam suy đoán vô tội cũng được thể hiện không chỉ trongHiến pháp 1992 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt nếu chưa
có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của tòa án”
Luật TTHS Việt Nam hiện hành quy định tại Điều 9 và Điều 10 nguyên tắc này.Hiến pháp 2013 đã cụ thể hóa quyền suy đoán vô tội tại Điều 31:
Người bị buộc tội chi có tội khi được chứng minh theo trình tự luật định và cóbản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Trong khoa học pháp lý vẫn có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nội dung củanguyên tắc suy đoán vô tội Có quan điểm cho rằng: Nội dung của nguyên tắc suyđoán chỉ là “Không ai bị coi là có tội nếu không cóp bản án kết tội đã có hiệu lực phápluật của Tòa án” Có quan điểm cho rằng nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tộikhông chỉ dừng lại ở đó mà cần phải hiểu rộng ra như quy định của BLHS Liên BangNga, Chúng tôi đồng ý quan điểm này, bởi lẽ nguyên tắc suy đoán vô tội trước hết lànguyên tắc hiến định Xuất phát từ đặc điểm của hiến pháp là đạo luật gốc các luậtkhác chỉ là sự cụ thể hóa hiến pháp Do đó, nguyên tắc suy đoán vô tội của luật TTHSngoài việc thể hiện nội dung chủ yếu của nguyên tắc hiến pháp cần có sự bổ xungnhững nội dung mới phù hợp với tính chất đặc thù của luật TTHS Nói như GS.TSKHĐào Trí Úc: Quan hệ giữa nguyên tắc của pháp luật là mối quan hệ giữa cái chung vàriêng Do vậy, nguyên tắc của Hiến pháp khi áp dụng vào luật TTHS cũng phải đươc cábiệt hóa Bộ luật TTHS Việt Nam 2003 không quy định cụ thể về “ Nguyên tắc suyđoán vô tội”
Trang 30Như vậy, nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật TTHS Việt Nam làchưa đầy đủ Chúng tôi đồng tình với Thạc Sĩ Trịnh Quốc Toản là cần phải quy địnhnguyên tắc suy đoán vô tội trong cùng một điều luật với đầy đủ nội dung sau: Trongtất cả các giai đoạn TTHS bị can, bị cáo không bị coi là có tội Bị cáo chỉ bị coi là cótội sau khi có bản án của tòa án độc lập và không thiên vị theo đúng trình tự thủ tụcluật TTHS quy định: Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiếnhành tố tụng Mọi nghi ngờ về tội phạm của bị can, bị cáo nếu không được loại trừtheo thủ tục trình tự luật TTHS quy định phải được giải thích có lợi cho bị can, bị cáo,bản án kết tội không được dựa trên những chứng cứ giả định Bộ luật TTHS 2015 đãghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội với đầy đủ nội dung của nguyên tắc này.
Người bị buộc tội được coi là có tội khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục
do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.Khi không căn cứ để buộc tội, kết tội thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải làm thủ tục theo đúng quy định và kết luận người bị buộc tội không
có tội
1.2.2.5 Quyền được bào chữa
Quyền bào chữa chỉ xuất hiện khi có một cáo buộc trong TTHS là cáo buộc từphía nhà nước Chính vì vậy, quyền bào chữa trong TTHS của người bị buộc tội là mộttrong những quyền con người được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế nhưTuyên ngôn nhân quyền 1948, Công ước quốc tế về quền dân sự và chính trị 1966 vàđược hiến pháp và pháp luật nhiều Quốc gia trong đó có Việt Nam ghi nhận và đảmbảo thực hiện theo quy định trong Hiến pháp, cụ thể Hiến pháp năm 1992 của Việt
Nam quy định: “ Quyền bào chữa của bị cáo được đảm bảo Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình”.Hiến pháp 2013 quy định cụ thể hơn: Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa
GS, TS Hoàng Thị Minh Sơn đưa ra quan điểm của mình về quyền bào chữa như
sau: Quyền bào chữa bị can, bị cáo là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định bị can, bị cáo có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội hoặc giảm
Trang 31nhẹ trách nhiệm cho họ”[28, tr.10] Như vậy, quyền được bào chữa được hiểu là quyền
của người bị buộc tội trong việc đưa ra lý lẽ, chứng cứ, để bảo vệ quyền lợi cho mình.Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa là việc kiểm tra, xác minh, điều tra phảixem xét một cách toàn diện trên hai phương diện bảo vệ quyền con người trong TTHS
và bảo đảm cho việc xác định sự thật của vụ án Việc thực hiện nguyên tắc này trênthực tế đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo; giúp cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án giảiquyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ
1.2.3 Sự cần thiết phải bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam
Chúng ta đang xây dựng NNPQ của dân, do dân và vì dân Một trong những đặcđiểm của NNPQ đó là quyền con người trong đó coa quyền con người trong các lĩnhvực cụ thể như tạm giữ, tạm giam được ghi nhận và bảo vệ Chính vì vậy ý nghia đầutiên của việc bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam là thể hiện và
cụ thể hóa đặc điể của NNPQ mà chúng ta đang xây dựng Pháp luật TTHS có vị tríquan trọng trong việc bảo vệ quyền con người thông qua việc “chủ động phòng ngừa,ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thờimọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội” hướng tớimục đích “góp phần bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợiích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN, đồng thời giáodục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”
-Bảo đảm quyền của người trong tạm giữ, tạm giam thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc cải cách tư pháp vì quyền con người, là sự thể hiện trách
nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng và các chủ thể khác đối với quyền của củangười bị tạm giữ, tạm giam bảo vệ quyền con người trong tạm giữ, tạm giam còn thểhiện trách nhiệm của Nhà nước, xã hội trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyềncon người, quyền công dân nói chung, quyền của người bị tạm giữ, tạm giam nóiriêng Bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, tạm gia cũng là cách thức nhằm đạt tớimục đích của TTHS
Trang 32-Bảo đảm quyền con người trong tạm giữu, tạm giam nhằmhướng tới một nền tư pháp hiện đại, tôn trọng và bảo vệ các quyền con người: Trong quan hệ tạm giữ, tạm giam
trong TTHS thể hiện tính chất bất bình đẳng và vì thế luôn đặt ra nhu cầu cần phải bảo
vệ những người bị “yếu thế” là người bị tạm giữ, tạm giam Tức là các quyền của họthường dễ bị xâm phạm nếu không có các biện pháp bảo đảm từ phía Nhà nước Trênphương diện lý luận cũng như thực tiễn, trong quá trình tạm giữ, tạm giam đều có thểdẫn đến những nguy cơ xâm hại các quyền của người bị tạm giữ, tạm giam nhưngTTHS trong NNPQ đòi hỏi tiêu chí về bảo vệ các quyền luôn được đề cao Bên cạnh
đó hoạt động TTHS bảo đảm quyền “được coi là trục xoay của toàn bộ các hoạt độngTTHS, là tâm điểm chú ý của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, của cải cách tưpháp” [141, tr.197] Do vậy, bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam được đặt
ra như một nhiệm vụ cấp thiết
- Bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam góp phần bảo đảm tính minh bạch, dân chủ, công khai trong hoạt động TTHS Bảo đảm quyền của người bị
tạm giữ, tạm giam đáp ứng yêu cầu xác định tội phạm một cách khách quan, toàn diện,
xử lý công minh không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, góp phần bảođảm tính minh bạch, dân chủ, công khai trong hoạt động TTHS, đảm bảo nguyên tắccông bằng trong luật hình sự, góp phần duy trì và đảm bảo trật tự pháp luật, trật tự antoàn xã hội; thể hiện sự dân chủ và phản ánh giá trị của cộng đồng để tạo niềm tin chongười dân rằng trình tự cũng như kết quả của việc tố tụng là công bằng
- Bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam góp phần thực hiện đúng đắn nội dung các quy định và thực hiện các nguyên tắc trong TTHS Trong TTHS yêu cầu đặt
ra là phải tuân thủ các nguyên tắc trong TTHS Đó là nguyên tắc tôn trọng và bảo vệcác quyền cơ bản của công dân; nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi côngdân trước pháp luật; nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo; nguyên tắc suy đoán vô tội; Những nguyên tắc trong TTHS là những quanđiểm, tư tưởng chỉ đạo, làm nền tảng cho hoạt động xét xử Trên cơ sơ thực hiện tốtcác nguyên tắc trong tố tụng các cơ quan THTT mới có đủ điều kiện để xác định sựthật khách quan của vụ án
Trang 33- Bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam nhằm hạn chế sự vi phạm trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người bị tạm giữ, tạm giam Trong
quan hệ pháp luật TTHS, bị cáo được coi là người có vị trí trung tâm và cũng có đủcác quyền của con người với tư cách là cá nhân, công dân Tuy nhiên, để thực hiệnchức năng đấu tranh, phòng chống tội phạm có hiệu quả và căn cứ trên các dấu hiệucấu thành tội phạm, pháp luật quy định cần thiết phải áp dụng những biện pháp cưỡngchế tố tụng đối với người bị buộc tội Điều này đồng nghĩa với việc họ có thể bị hạnchế một số quyền Không chỉ là việc bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong TTHS,
mà trước đó, trong giai đoạn khởi tố, điều tra, với tư cách là người bị tạm giữ, bị can,các quyền của bị cáo có thể đã có “nguy cơ” bị xâm phạm nhiều nhất Do vậy, cần phải
có những biện pháp bảo vệ vừa phòng ngừa những vi phạm pháp luật từ các cơ quan tốtụng và những người tiến hành tố tụng vừa bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền củahọ
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng quyền con người trong tạm giữ, tạm giam
vệ quyền của người bị tạm giữ, tạm giam nói riêng
Pháp luật là yếu tố tiên quyết, cơ bản cho bảo đảm quyền con người, quyền côngdân là vì:
- Thứ nhất, pháp luật hướng dẫn, điều chỉnh hành vi của cá nhân, cho phép cá nhân hoạt
động trong phạm vi nhất định một cách tự giác, không sai lầm trên cơ sở nhận biết về
sự tồn tại của quyền chủ thể, từ đó mà sử dụng quyền theo nhu cầu và lợi ích cá nhâncủa mình
- Thứ hai, thông qua pháp luật, nội dung của quyền, phương thức thực hiện quyền,
phạm vi cụ thể của quyền mới được xác định
Trang 34- Thứ ba, cũng thông qua pháp luật nghĩa vụ tôn trọng và bảo đảm quyền con người,
quyền công dân và các chủ thể khác như Nhà nước, các tổ chức trong xã hội mới đượcxác định
- Thứ tư, qua pháp luật, những giới hạn về quyền mới được chấp nhận từ đó mà xác
định rõ trách nhiệm pháp lý của công dân khi lợi dụng, lạm dụng quyền cũng như xácđịnh các nghĩa vụ công dân mà việc thực hiện chúng là tiền đề để công dân thực hiệnquyền
- Thứ năm, chỉ thông qua pháp luật, hành vi xâm hại quyền của công dân bị xử lý, quyền
công dân mới được khôi phục lại, tức là công dân mới có thể yêu cầu về việc bồithường thiệt hại do lỗi của các chủ thể khác
Pháp luật càng phát triển thì quyền của con người càng phát triển và pháp luậtbảo vệ cho công dân khi tham gia vào các quan hệ xã hội và để Nhà nước nhận biếtđúng về giới hạn của việc thực hiện quyền lực của mình
Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã công bố Bộ luật hình sự 2015 và cóhiệu lực từ 1/7/2016 đã cơ bản khắc phục những tồn tại, hạn chế của BLTTH 2003.Trong đó quy định những “Nguyên tắc cơ bản” trong TTHS mà khi thực hiện việc tạmgiữ, tạm giam các cơ quan THTT và cơ quan quản lý giam giữ dựa trên tinh thần đóthể thực hiện nhệm vụ của mình Đây là những những nguyên tắc mà mọi chủ thể thểtham gia và TTHS, mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phải quán triệt, tuân thủnghiêm ngặt để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của BLTTHS trong đó có nhiệm vụ phảibảo đảm được quyền con người trong tạm, tạm giam
Thứ nhất đã đưa ra nguyên tắc “Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền vàlợi ích hợp pháp của cá nhân” Nguyên tắc này thể hiện các cơ quan có thẩm quyềntiến hành tố tụng phải đảm bảo các quyền này trong quá trình giải quyết vụ án hình sự;Thứ hai: Nguyên tắc “Suy đoán vô tội” Là trong những nguyên tắc cơ bản khitham gia tiến hành tố tụng trách oan sai và bổ sung đầy đủ nội dung là: “Người bị buộctội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộluật này quy định và có bản án đã có hiệu lực pháp luật Khi không đủ và không thểlàm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì
Trang 35cơ quan, người có thẩm quyền phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.
Bên cạnh đó, còn có các nguyên tắc khác là: “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự” Theo đó,
người bị buộc tội không chỉ bao gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo như hiện hành,
mà còn gồm cả người bị bắt;
Như vậy có thể thấy rằng những quy định pháp luật chặt chẽ hay bất cập trongTTHS và trong mô hình tổ chức Tòa án đều có tác động tích cực hoặc tiêu cực đếnviệc bảo vệ quyền con người của bị can, bị cáo tùy từng trường hợp cụ thể
Ngoài Hiến pháp và Bộ luật TTHS, hiện nay chúng ta có một đạo luật chuyênngành trực tiếp điều chỉnh hoạt động tạm giữ, tạm giam đó là Luật Thi hành Tạm giữ,tạm giam năm 2015 Trong đạo luật này đã cụ thể hóa các quyền của người bị tạm giữ,tạm giam của Hiến pháp 2013 và BLTTHS năm 2015 Cụ thể:
Luật Thi hành Tạm giữ, tạm giam đã quy định những nguyên tắc của tạm giữ tạmgiam trong đó có nguyên tắc như: Bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền con người,quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; Bảo đảm nhân đạo; không tra tấn, truybức, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm quyền và lợi íchhợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam; bảo đảm cho người bị tạm giữ,người bị tạm giam thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân nếukhông bị hạn chế bởi Luật này và luật khác có liên quan; áp dụng các biện pháp quản
lý giam giữ phải căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, độ tuổi, giới tính,sức khỏe; bảo đảm bình đẳng giới, quyền, lợi chính đáng của phụ nữ, trẻ em và các đặcđiểm nhân thân khác của người bị tạm giữ, người bị tạm giam
Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền con người, quyền côngdân, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam trongquản lý giam giữ, Luật Thi hành tạm giưc, tạm giam đã nghiêm cấm các hành vi xâmphạm đến quyền con người của người tạm giữ, tạm giam như nghiêm cấm tra tấn, truybức, dùng nhục hình; các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhụccon người hoặc bất kỳ hình thức nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp củangười bị tạm giữ, người bị tạm giam; giam giữ người trái pháp luật; cản trở người bị
Trang 36tạm giữ, người bị tạm giam thực hiện quyền thăm gặp thân nhân, quyền bào chữa,được trợ giúp pháp lý, tiếp xúc lãnh sự, khiếu nại, tố cáo, quyền con người, quyền vànghĩa vụ khác của công dân theo quy định của Luật này và luật khác có liên quanBên cạnh những nguyên tắc cơ bản Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam đã quy định
có nhưng quy định rất cụ thể về những quyền cơ bản nhất của người bị tạm giữ, người
bị tạm giam như: được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình (điểm a khoản 1);Được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ người bàochữa, trợ giúp pháp lý (điểm đ khoản 1); Được gặp người đại diện hợp pháp để thựchiện giao dịch dân sự” (điểm e khoản 1); Được yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạmgiữ, thời hạn tạm giam (điểm g khoản 1)
Quy định quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong Luậtthi hành tạm giữ, tạm giam đã có sự phân biệt với người chấp hành án phạt tù, chẳnghạn như: người chấp hành án phạt tù phải lao động, học tập…; còn người bị tạm giữ,người bị tạm giam không có các nghĩa vụ này Người bị tạm giữ, người bị tạm giam cóquyền bầu cử; người chấp hành án phạt tù không có quyền này
Luật thi hành tạm giữ, tạm giam quy định cụ thể trường hợp: “Người bào chữađược gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam để thực hiện bào chữa theo quy địnhcủa Bộ luật TTHS và Luật này tại buồng làm việc của cơ sở giam giữ hoặc nơi người
bị tạm giữ, tạm giam đang khám bệnh, chữa bệnh; phải xuất trình giấy tờ tùy thân,giấy tờ về việc bào chữa” (khoản 3 Điều 22) Việc thăm gặp người bị tạm giữ, người
bị tạm giam là người nước ngoài được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và
4 Điều này (khoản 5 Điều 22)
Luật thi hành tạm giữ, tạm giam kế thừa quy định hiện hành và quy định mangtính khái quát như người bị tạm giữ, người bị tạm giam được bảo đảm tiêu chuẩn địnhlượng về gạo, rau, thịt, cá, đường, muối, nước chấm, bột ngọt, chất đốt, điện, nướcsinh hoạt; được sử dụng quần áo, chăn, chiếu, màn và các đồ dùng cần thiết cho sinhhoạt của cá nhân (trong đó bổ sung kem đánh răng là tiêu chuẩn mới), nếu thiếu thì cơ
sở giam giữ cho mượn… (Điều 28) và giao cho Chính phủ quy định chi tiết Điều này.Như vậy, trong quá trình bị tạm giữ, tạm giam, người bị tạm giữ, người bị tạm giam
Trang 37được mặc quần áo của cá nhân.
Luật thi hành tạm giữ, tạm giam bổ sung quy định người bị tạm giữ, người bị tạm
giam chỉ được gửi hoặc nhận sách, báo và tài liệu khi cơ quan đang thụ lý vụ án đồng
ý (Điều 29) Người bị tạm giữ, người bị tạm giam khi bị bệnh nặng hoặc thương tíchvượt quá khả năng của cơ sở giam giữ chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấphuyện, cấp tỉnh, bệnh viện quân đội hoặc bệnh viện trung ương khám, điều trị thì cơ sởgiam giữ phải thông báo cho thân nhân hoặc đại diện hợp pháp của người đó biết đểphối hợp chăm sóc, điều trị; người bị tạm giữ, người bị tạm giam được nhận thuốcchữa bệnh từ thân nhân và phải có đơn thuốc của thầy thuốc, chịu sự kiểm tra của cơ
sở giam giữ Trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam có chế độ bảo hiểm y tếthì được hưởng chế độ khám chữa bệnh theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế
Để thể hiện tính nhân đạo, bảo đảm sức khỏe của người mẹ và bảo đảm sự pháttriển bình thường của thai nhi, trẻ em và người dưới 18 tuổi, Luật thi hành tạm giữ,tạm giam quy định rõ việc tạm giữ, tạm giam đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ cóthai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi được thực hiện theo quy định tại Chương này vàcác quy định khác của Luật này Khi người bị tạm giữ, người bị tạm giam đủ 18 tuổihoặc phụ nữ có con đủ 36 tháng tuổi trở lên thì chế độ tạm giữ, tạm giam được thựchiện theo quy định chung
Như vậy, việc bảo vệ quyền con người bằng hệ thống cơ quan tòa án quốc gia(hay cơ quan tài phán quốc gia) là nghĩa vụ của nhà nước và là quyền của người dân.Đối với Tòa án, việc đảm bảo cho Tòa án được xem là vấn đề đầu tiên và cơ bản nhất.Tòa án là biểu tượng của công lý là thành lũy cuối cùng trong vấn đề bảo vệ các giá trịcủa con người hay nói chính xác hơn là quyền của con người Các thẩm phán và thành
Trang 38viên của Hội đồng xét xử phải có vai trò độc lập với nhau và độc lập với bên ngoài.Các quốc gia trên thế giới đa số đều dành cho thẩm phán quyền quyết định áp dụngcác biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam và quyết định hình phạt Cácthẩm phán phải hoàn toàn độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Chánh án chỉ có vai tròtrong quản lý hành chính đối với cơ quan tòa án và chứ không có quyền can thiệp vàohoạt động chuyên môn Tất cả sự can thiệp khác từ bên ngoài đối với hoạt động xét xửcũng bị loại bỏ hoặc giảm thiểu sự tác động đối với thẩm phán cũng như Hội đồng xétxử.
Đối với việc Viện Kiểm sát, việc bảo vệ quyền con người trong tạm giữ, tạmgiam thể hiện ở chức năng Kiểm sát tạm giữ, tạm giam Khi thực hiện công tác kiểmsát việc tuân theo pháp luật trong tạm giữ, tạm giam, Viện kiểm sát nhân dân thực hiệncác quyền và các biện pháp sau:
Một là, thường kỳ trực tiếp kiểm sát tại nhà tạm giữ, trại tạm giam Nếu có dấuhiệu vi phạm pháp luật xảy ra ở nhà tạm giữ, trại tạm giam thì Viện kiểm sát có thểtrực tiếp tiến hành kiểm sát nhà tạm giữ, trại tạm giam vào bất kỳ thời gian nào, không
kể là ngày hay đêm Nếu phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật gây ra thì Viện kiểmsát có quyền yêu cầu Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam, nơi đã kiểm sát, cóbiện pháp chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm pháp luật.Hai là, kiểm tra hồ sơ, tài liệu của cơ quan cùng cấp và cấp dưới có trách nhiệmtạm giữ, tạm giam; gặp, hỏi người bị tạm giữ, tạm giam về việc thực hiện các quyđịnh của pháp luật trong tạm giữ, tạm giam, đảm bảo cho việc tạm giữ, tạm giamđược thực hiện khách quan, toàn diện, đúng quy định pháp luật
Ba là, thực hiện chức năng kiểm sát việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo
về việc tạm giữ, tạm giam của Cơ quan thì hành án, cụ thể
Sau khi tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, nếu xét thấy cần thiết Kiểm sát viên có thểtrực tiếp gặp gỡ, đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người tố cáo, người
bị tố cáo và những người có liên quan để xác minh nội dung những khiếu nại, tố cáo;trực tiếp giải quyết những khiếu nại, tố cáo có liên quan đến việc chấp hành các quyđịnh của pháp luật về tạm giữ, tạm giam; kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu xử lý những
Trang 39hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và chế độ đốivới người bị tạm giữ, tạm giam và người chấp hành án phạt tù, chuyển đến cơ quan,đơn vị có thẩm quyền giải quyết những khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và theo dõikết quả giải quyết của cơ quan, đơn vị đó.
Bốn là, hằng ngay phải trực tiếp kiểm tra Nhà tạm giữ, Trại tạm giam và thườngxuyên quàn triệt, yêu cầu cơ quan cùng cấp và cấp dưới trong việc quản lý nơi tạm giữ,tạm giam kiểm tra những nơi đó và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân.Năm là, tiến hành kiểm sát hoặc yêu cầu cơ quan cùng cấp, cấp dưới và người cótrách nhiệm thông báo tình hình tạm giữ, tạm giam trả lời về quyết định, biện pháphoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam
Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền kháng nghị với cơ quan cùng cấp và cấpdưới, yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luậttrong việc tạm giữ, tạm giam; chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lýngười vi phạm pháp luật trong trường hợp quyết định của Trưởng nhà tạm giữ, Giámthị trại tạm giam về việc tạm giữ, tạm giam, trái pháp luật
Khi xác định được nguyên nhân, điều kiện dẫn đến vi phạm pháp luật hoặcnhững việc nếu không có biện pháp khắc phục sẽ dẫn đến vi phạm pháp luật, Việnkiểm sát kiến nghị cơ quan có thẩm quyền và người có trách nhiệm có biện pháp tíchcực để khắc phục, phòng ngừa vi phạm pháp luật
Trong quá trình kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, Viện kiểm sát có trách nhiệmtiếp nhận kịp thời các trường hợp có dấu hiệu oan, tiến hành xác minh, thu thập tàiliệu và chuyển việc khiếu oan, sai đó đến cơ quan có trách nhiệm xem xét giải quyếttheo thẩm quyền
Khi kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, khi phát hiện có căn cứ để không tiếp tụctạm giữ, tạm giam thì Viện kiểm sát ra quyết định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ,tạm giam Đó là các trường hợp: Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp màmột người vẫn bị tạm giữ; người bị tạm giữ không có quyết định của cơ quan và người
có thẩm quyền; người bị tạm giữ đã được Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định tạm giữnhưng vẫn bị tạm giữ, người bị tạm giữ đã có quyết định trả tự do; người mà Viện
Trang 40kiểm sát nhân dân không phê chuẩn gia hạn tạm giữ, người đã hết thời hạn tạm giữ màkhông có quyết định hợp pháp nào khác nhưng vẫn bị giữ; người bị tạm giam nhưngkhông có lệnh hoặc lệnh không có phê chuẩn của Viện kiểm sát; người bị tạm giam màViện kiểm sát nhân dân quyết định không gia hạn tạm giam; người đã có quyết địnhhuỷ bỏ việc tạm giam; người đã có quyết định trả tự do hoặc áp dụng biện pháp ngănchặn khác; người đã có quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án màkhông bị giam giữ về hành vi phạm tội khác.
Khi thực hiện công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, nếu phát hiện có dấuhiệu tội phạm trong việc quản lý giam giữ thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra
có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự để tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật.Trong qua trình điều tra, truy tố và xét xử thì giai đoạn đầu tiên và giữ vai tròquan trọng trong toàn bộ quá trình đi tìm sự thật khách quan của vụ án Thực tiễn đãchỉ ra rằng: “Những kết quả khả quan cũng như những sai lầm tư pháp nghiêm trọngnhất bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội…thường bắt nguồn từ giai đoạn điều tra”.Giai đoạn điều tra nhận đảm đương công việc thực chất về điều tra sự thật phạm tội.Thành công hay thất bại của việc đấu tranh phòng, chống tội phạm ở một mức độ nào
đó là do việc điều tra quyết định.Cơ quan điều tra là Cơ quan trực tiếp kiểm tra, xácminh và điều tra vụ án, xác định có tội phạm hay không Trong quá trình điều tra xáclập cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự và thực hiện nội dung quyền công tố Trongquá trình điều tra, Cơ quan điều tra có quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn hạn chế
tự do hay một số biện pháp liên quan, ảnh hưởng đến quyền con người Nếu hoạt độngđiều tra đúng pháp luật, sẽ bảo vệ được quyền con người, nếu hoạt động này có bất
kỳ sai lầm nào dù to hay nhỏ, nhiều hay ít đều dẫn tới hệ quả tiêu cực xâmphạm quyền con người
1.3.3 Đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán
Trước sự gia tăng về số lượng các vụ phạm tội và người phạm tội kéo theo sốlượng những người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam cao đòi hỏi cầnđảm bảo về chất lượng của cán bộ tức là cán bộ tiến hành tố tụng trước hết là đội ngũđiều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán Đòi hỏi cán bộ tiến hành tố tụng phải chủ