So với nhiều nước trên thế giới việc đầu tư hỗ trợcho giáo dục ở nước ta vẫn còn rất hạn chế do kinh phí chưa có nên nhiềutrường học không có đủ các phương thiết bị học tập điều này cũng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
- -BÀI TẬP GIỮA KÌ Đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam
ĐỀ TÀI
1 Phân tích thực trạng của giáo dục đại học ở VN hiện nay?
2 Sinh viên cần chuẩn bị hành trang gì để khi tốt nghiệp có thể xin được việc làm?
Giảng viên:Lê Thị Hòa
Sinh Viên: Nhóm 9
Lớp ĐL 5_308 GĐ2
Ha Noi, 2013
Trang 2Phần I Phân tích thực trạng hệ thống giáo dục Đại học ở Việt Nam
Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa, làđộng lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầuhết các quốc gia khác trên thế giới, các chính phủ đều coi giáo dục là quốcsách hàng đầu Vậy tại sao giáo dục đào tạo lại có tầm quan trọng đếnchiến lược phát triển đất nước như vây?
- Thứ nhất: Giáo dục đào tạo là điều kiện tiên quyết góp phần pháttriển kinh tế
- Thứ hai: Giáo dục đào tạo góp phần ổn định chính trị xă hội
- Thứ ba: Và trên hết giáo dục đào tạo góp phần nâng cao chỉ sốphát triển con người
Hiểu được điều này, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia rấtcoi trọng sự phát triển của nền giáo dục, đã và đang củng cố xây dựng nềngiáo dục thực sự vững mạnh và có chất lượng Vì vậy mà trong suốt nhữngnăm qua Đảng và nhà nước đã luôn quan tâm và tập trung đầu tư rất nhiềucho nền giáo dục Việt Nam
I. Hệ thống giáo dục Việt Nam
Hệ thống giáo dục này là một sự tiếp nối của hệ thống giáo dục thờiViệt Nam Dân Chủ Cộng hòa và thừa hưởng một phần di sản của nền giáodục Việt Nam Cộng Hòa Khi hai miền Nam và Bắc thống nhất năm 1976thì khuôn mẫu giáo dục ở miền Bắc tiếp cận với hệ thống giáo dục đã đượcthiết lập ở miền Nam; cụ thể nhất là học trình 10 năm tiểu học và trung học
ở miền Bắc phải điều chỉnh cho phù hợp với học trình 12 năm ở trongNam Hai hệ thống này song hành; Miền Bắc tiếp tục hệ 10 năm và miềnNam giữ hệ 12 năm từ năm 1976 đến năm 1989 thì cho áp dụng hệ 12năm cho toàn quốc Năm 1975 cũng là năm giải thể tất cả những cơ sở
Trang 3giáo dục tư thục từng hoạt động ở miền Nam Việt Nam dưới chính thể ViệtNam Cộng hòa.
Giáo dục cấp nhà trẻ - mẫu giáo
Là nơi giữ trẻ không bắt buộc dành cho trẻ dưới độ tuổi đi học chínhthức (dưới 6 tuổi) Nhà trẻ và mẫu giáo dành cho trẻ dưới 6 tuổi (thậm chítrẻ mới sinh vài tháng đã vào nhà trẻ) mục đích hình thành tư duy cho trẻ.Tạo những thói quen, tập tính ngay trong giai đoạn này hay là nơi giúp trẻvui chơi để ba mẹ đi làm
Nơi phổ cập giáo dục cho tất cả các lứa tuổi
Trung học phổ thông chuyên, năng khiếu
Trường Phổ thông dân tộc nội trú
Đây là các trường nội trú dặc biệt, có thể là cấp II hoặc có thể là cấpIII Các trường này dành cho con em các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng
xa, vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế - xã hội nhằm bồi dưỡng nguồn nhân
Trang 4lực, tạo nguồn cán bộ cho các địa phương này Học sinh được ở tại trường
và được cấp kinh phí ăn, ở
Trường giáo dưỡng
Đây là loại hình trường đặc biệt dành cho các thanh thiếu niên hưhỏng, phạm tội Trong trường, các học sinh này được học văn hoá, đượcdạy nghề, giáo dục đạo đức để có thể ra trường, về địa phương sau mộtvài năm Các năm trước, các trường loại này do Bộ Công an Việt Namquản lý, nhưng bây giờ, Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội quản lý
*Giáo dục sau phổ thông
Dự bị đại học Trung cấp, dạy nghề
Cần tốt nghiệp cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông hay tươngđương để có thể học nghề, trung cấp
Đây là chương trình học dạy nghề dành cho người không đủ điềukiện vào đại học hoặc cao đẳng
Cần tốt nghiệp cấp trung cấp phổ thông hay tương đương để có thểtrở thành dự bị đại học
Các học sinh dân tộc ít người nếu không trúng tuyển vào đại học cóthể theo học tại các trường dự bị đại học Sau một năm học tập, các họcsinh này có thể chọn một trong các trường đại học trong cả nước để theohọc (trừ Trường Đại học Ngoại thương và các trường thuộc ngành quânsự)
Trang 5Đại học
Chương trình bậc đại học của Việt Nam kéo dài từ 4 đến 6 năm; 2năm đầu là chương trình đại học đại cương, 2 (hay 4) năm sau là chươngtrình chuyên ngành Dù là ngành gì, sinh viên phải học một số tiết về quốcphòng an ninh
Sau khi tốt nghiệp, sinh viên được cấp bằng đại học với các tên gọinhư: cử nhân, kỹ sư, kiến trúc sư, bác sĩ, nhạc sĩ,
Tuyển sinh
Tất cả công dân tốt nghiệp trung học (trung học phổ thông hoặc trunghọc chuyên nghiệp) đều được tham dự kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳnghằng năm, không phân biệt lứa tuổi, thành phần, tôn giáo, dân tộc và cảquốc tịch nữa Điểm thi tuyển sẽ được công bố công khai, rộng rãi trên cácphương tiện thông tin đại chúng Các thí sinh nếu thấy điểm của mình cósai sót so với dự tính được quyền phúc tra xem xét lại bài Các thí sinh nếuđạt từ điểm chuẩn của trường đi ra trở lên được mời làm các thủ tục nhậphọc
Tuy nhiên, để đảm bảo công bằng, có ưu tiên bằng cách cộng vàotổng điểm thi một số điểm nhất định đối với các đối tượng sau: con Anhhùng lao động, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân; của Bà mẹ ViệtNam Anh hùng; con thương binh; học sinh là người dân tộc thiểu số; họcsinh tốt nghiệp trung học tại các cùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơikhó khăn về kinh tế - xã hội; học sinh nông thôn Dưới đây là các đối tượngđược ưu tiên:
• Các đối tượng sau đây được ưu tiên xét tuyển: Học sinh đạtgiải trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia; tốt nghiệp trung học phổ thông loạikhá trở lên và thi phải đạt điểm sàn theo quy định của Bộ giáo dục & Đàotạo Việt Nam
• Các đối tượng sau đây được tuyển thẳng: Anh hùng Lựclượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động đã tốt nghiệp trung học; họcsinh là thành viên đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự các kỳ thi Olympicquốc tế hàng năm
Trang 6*Giáo dục sau đại học
Cao học
Các cá nhân sau khi tốt nghiệp đại học, có nhu cầu học cao học,vượt qua được kỳ thi tuyển sinh cao học hằng năm sẽ được tham dự cáckhoá đào tạo cao học
Nghiên cứu sinh
Đây là bậc đào tạo cao nhất ở Việt Nam hiện nay Tất cả các cánhân tốt nghiệp từ đại học trở lên đều có quyền làm nghiên cứu sinh vớiđiều kiện phải vượt qua kỳ thi tuyển nghiên cứu sinh hàng năm Hiện nay,
Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam có có sự định thay đổi trong cách tuyểnchọn nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu sinh Thời gian làm nghiêncứu sinh thường là 4 năm với người có bằng cử nhân hay kỹ sư và 3 nămvới người có bằng thạc sĩ Tuy nhiên, thời gian làm nghiên cứu sinh cònphụ thuộc vào ngành học và loại hình học (học tập trung hay không tậptrung) Sau khi hoàn thành thời gian và bảo vệ thành công luận án, cácnghiên cứu sinh sẽ được cấp bằng tiến sĩ
II. Tình hình giáo dục Đại học ở Việt Nam hiện nay
Giáo dục có một ý nghĩa như là hướng tới tương lai tốt đẹp hơn,văn minh hơn nên Cụ Hồ đã nhắc nhở: “Vì mục đích mười năm trồng cây,
vì mục đích trăm năm trồng người” Những lo toan về giáo dục có thể tìmthấy hàng ngày hiện nay trên mọi thông phương tiện thông tin đại chúng đủcho thấy vấn đề quan trọng như thế nào
Hiện nay ngồi đâu, xem báo chí nào chúng ta cũng thấy sự phànnàn cũng như các sáng kiến về đổi mới, cải cách về giáo dục Điều đókhông phủ nhận giáo dục Việt nam đã có những thành tựu đáng ghi nhận,
mà chỉ là phản ảnh sự lo toan đáng trân trọng trước những hiện tượng phigiáo dục hiện nay
Một vài ví dụ có thể minh chứng cho những thành tựu mà giáo dụcViêt nam đạt được trong 20 năm đổi mới Chưa bao giờ tỷ lệ người việtnam biết ngoại ngữ cũng như sử dụng thành thạo máy tính cao như hiệnnay Đối với thế hệ những người dưới 30 tuổi, việc hội nhập kinh tế không
Trang 7làm cho họ gặp khó khăn về ngoại ngữ cũng như máy tính nếu tính theomức bình quân chung trong khu vực Dù có nhiều vấn đề còn cần đượcbàn thêm về cách thức, chất lượng…, người Việt nam đã tự tổ chức đàotạo sau đại học và người nước ngoài từ nhiều quốc gia đã tham gia giảngdạy cũng như học tập Sự bùng nổ của các hoạt động xuất bản, sách Việtcũng như sách dịch mà cách đây 20 năm hầu hết chúng ta không giám mơtới cho thấy nhu cầu học tập của người Việt nam ngày càng tăng như thếnào Có rất nhiều những thành tựu mà giáo dục Việt Nam đạt được tronggiáo dục trên thế giới :các cuộc thi quốc tế Việt Nam luôn được đánh giácao,có rất nhiều giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ , kĩ sư giỏi…góp phần vào pháttriển đất nước.
Bên cạnh đấy giáo dục Việt Nam vẫn còn tồn tại những điều bấtcập Chính sách giáo dục hiện nay hầu như không tập trung vào hai vấn đề
cơ bản là giáo viên và giáo trình, mà chủ yếu chuyển gánh nặng vào vaihọc trò Chính sách đó không đúng nguyên lý được áp dụng khá phổ biếnhiện nay là điều chỉnh sự bất cân xứng thông tin để cân bằng các quan hệ
xã hội Theo chính sách giáo dục hiện nay, người thầy có quá nhiều quyềntrong dạy học Người thầy có quyền áp đặt sự học đối với người học bằngcách bắt thuộc bài theo một giáo trình hay một bài giảng duy nhất Đó lànguyên nhân của tình trạng chữ thầy trả thầy, đồng thời cũng là nguyênnhân chủ yếu đẫn đến sự lạm quyền, sự lười biếng, phi giáo dục của một
số giáo viên hiện nay So với nhiều nước trên thế giới việc đầu tư hỗ trợcho giáo dục ở nước ta vẫn còn rất hạn chế do kinh phí chưa có nên nhiềutrường học không có đủ các phương thiết bị học tập điều này cũng ảnhhưởng không nhỏ đối với chất lượng học sinh, sinh viên hiện nay….Ngoài
ra còn rất nhiều tiêu cực như việc bằng giả, quay cop trong thi cử, hối lộhay vấn đề bạo lực trong học đường …đã có nhiều những khoảng tối trongnền giáo dục hiện nay của nước ta
Thông qua việc tìm hiểu hệ thống giáo dục và tình hình giáo dụcnước ta nói chung ta có thể hiểu được rõ hơn nền giáo dục của nướcta.Qua đó đưa ra những cách nhìn nhận đúng đắn về giáo dục Việt Nam
Trang 8III. Số lượng các Trường Đại học –Cao đẳng ở Việt Nam hiện
nay
Nhiều người cho rằng tình trạng tuyển sinh khó khăn là hậu quả củaviệc mở trường tràn lan 412 trường ĐH, CĐ cho 90 triệu dân Việt Nam lànhiều hay là ít? So với Trung Quốc có hơn 4.000 trường ĐH, CĐ trên 1,3 tỉdân, so với Singapore có khoảng 68 trường ĐH, CĐ trên 3 triệu dân (baogồm cả các trường nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Singapore, cáctrường liên kết quốc tế, các viện nghiên cứu đào tạo cấp bằng cử nhân vàsau ĐH); so với Hoa Kỳ có 4.495 trường ĐH, CĐ trên 314 triệu dân thì sốtrường ĐH, CĐ mà Việt Nam đang có không phải là nhiều
*Phân loại trường:
-Hiện nay ở nhiều trường , khu vực học tập của sinh viên hầu hếttrong tình trạng lạc hậu và xuống cấp nghiêm trọng Nhiều trường Đại họcvẫn phải thuê cơ sở bên ngoài làm nơi học tập hoặc bắt sinh viên học tăng
ca do thiếu giảng đường
Trang 9-Hầu hết các thiết bị thực hành , thí nghiệm đều đã lạc hậu vàxuống cấp Tài liệu phục vụ cho nghiên cứu ,giảng dạy cũng thiếu thốn rấtnhiều.
*Quy mô đào tạo:
-Quy mô đào tạo đang được mở rộng quá sức khiến chất lượnggiảng dạy giảm sút
*Giảng viên:
-Hiện nay có khoảng 84000 giảng viên ,bình quân mỗi năm tăng
3000 giảng viên Tuy nhiên tỷ lệ sinh viên / giảng viên vẫn cao hơn so vscác nước khác( 26 sinh viên/ giảng viên)
- Việc mở rộng quá sức quy mô đào tạo cũng khiến các giảng viênphải giảng dạy quá nhiều, không đủ thời gian cho việc tự học, tự bồidưỡng, tham gia nghiên cứu và triển khai hoạt động khoa học & công nghệ
- Việc chuẩn bị về trình độ chuyên môn và ngoại ngữ của giảng viêncác trường đại học, cao đẳng còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được cácyêu cầu tuyển chọn của các đề án đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật ởnước ngoài
*Sinh viên:
-Số lượng đông, khoảng 2 204 000 sinh viên
-Nhiều sinh viên kĩ năng chuyên môn , kĩ năng mềm còn kém, chưađáp ứng được cho thị trường
*Chương trình giảng dạy:
- Quá dài: thời gian học 4 năm trên lớp là khoảng 2183h, nhiều hơn60% so với chương trình giảng dạy của Mỹ
-Tất cả các môn đều mang tính bắt buộc,sinh viên không đượcquyền lựa chọn
- Còn mang tính lí thuyết, chưa bám sát thực tế
IV Thực trạng hệ thống giáo dục Đại học ở Việt Nam hiện
nay
1 Hình thức giáo dục Đại học:
Trang 10a/ Đào tạo trình độ cao đẳng: gồm các loại hình đào tạo cao đẳng(kỹ thuật-công nghệ, nghiệp vụ, nghề) đào tạo nhân lực thực hành nghềnghiệp đa dạng ở trình độ cao đẳng được thực hiện từ 1 đến 3 năm học tuỳtheo ngành nghề đào tạo Đào tạo sau trung học lĩnh vực kỹ thuật, côngnghệ và dạy nghề ở trình độ cao đẳng được tách khỏi giáo dục đại học và
là trình độ cao nhất trong hệ thống dạy nghề;
b/ Đào tạo trình độ đại học: gồm các loại hình đào tạo cử nhân đạihọc theo các chuyên ngành được thực hiện từ 1 đến 6 năm, tuỳ theongành nghề đào tạo và bằng tốt nghiệp của người học;
c/ Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ 1 đến 2 năm học đối vớingười có bằng tốt nghiệp đại học;
d/ Đào tạo trình độ tiến sĩ: Thực hiện từ 4 đến 5 năm đối với người
có bằng tốt nghiệp đại học và từ 2 đến 3 năm đối với người có bằng thạcsĩ;
e/ Đào tạo sau tiến sĩ: các khóa đào tạo-nghiên cứu sau tiến sĩ( Post-Doctor) cấp các chứng chỉ chuyên sâu cao cấp theo các lĩnh vựckhoa học và kỹ thuật, công nghệ và có giá trị trong quá trình lấy các chứngnhận, chức danh nghề nghiệp như: Trợ lý giáo sư, Phó giáo sư, nghiêncứu viên cao cấp v.v Về công tác quản lý giáo dục đại học, với cáctrường đại học, cao đẳng công lập trực thuộc các Bộ, tỉnh, thành phố trướcmắt Bộ chủ quản, tỉnh, thành phố vẫn phối hợp vối Bộ Giáo dục và Đào tạoquản lý nhà nước như hiện nay Tuy nhiên cần phân cấp quản lý triệt đểcho nhà trường theo đúng sứ mệnh, chức năng và nhiệm vụ Đảm bảo chocác trường này có quyền tự chủ và thực hiện được trách nhiệm xã hội củamình; Với các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập cần giao cho cáctỉnh, thành phố (trực thuộc địa phương) quản lý.Tỉnh và thành phố có tráchnhiệm phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo để quản lý nhà nước như hiệnnay Tuy nhiên cần phân cấp quản lý triệt để cho nhà trường theo đúng sứmệnh, chức năng và nhiệm vụ Đảm bảo cho các trường này có quyền tựchủ và thực hiện được trách nhiệm xã hội của mình
2 Quy mô và Phân loại
Trang 11Hiện nay trong cả nước có 146 trường đại học và cao đẳng (2);trong đó, có 15 trường dân lập (do tư nhân quản lý), và ba trường báncông Số trường này được tổ chức theo 11 khối như sau: đại học quốc gia
và đại học vùng; khối kỹ thuật & xây dựng; khối y dược khoa; khối sưphạm; khoa học tự nhiên; nông lâm nghiệp & thủy sản; kinh tế, tài chính vàluật; văn hóa nghệ thuật và thể thao; quân sự và công an; ngoại giao; vàcác trường dân lập
2.1 Các Đại học quốc gia
Việt Nam có 2 đại học quốc gia, nằm ở 2 thành phố lớn là Hà Nội vàThành phố Hồ Chí Minh; hai đại học này cũng là đại học trọng điểm quốcgia Người đứng đầu của đại học quốc gia gọi là Giám đốc, người đứngđầu của một trường đại học thành viên gọi là Hiệu trưởng Mỗi đại họcquốc gia có các khoa và trường đại học thành viên phân chia theo lĩnh vực
5 Trường Đại học Công nghệ
6 Trường Đại học Giáo dục
7 Trường Đại học Kinh tế
8 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
9 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
10.Trường Đại học Ngoại ngữ
• Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, các trường, khoatrực thuộc:
1 Khoa Y
2 Trường Đại học Kinh tế - Luật
3 Trường Đại học Bách khoa
Trang 124 Trường Đại học Công nghệ Thông tin
5 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
6 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
7 Trường Đại học Quốc tế
Các đại học và trường đại học cấp vùng
Các đại học và trường đại học cấp vùng cũng có các thành viên trựcthuộc là các khoa và/hoặc các trường đại học (3 đại học vùng được giaoquyền tự chủ như các đại học quốc gia).Người đứng đầu của một đại họcvùng gọi là giám đốc; trong khi người đứng đầu của một trường đại họccấp vùng gọi là hiệu trưởng.Các (trường) đại học cấp vùng này thườngnằm tại các khu vực kinh tế động lực của một vùng có nhiều các khu côngnghiệp, đô thị Lưu ý: Các tên in đậm là đại học trọng điểm quốc gia
• Trường Đại học Tây Bắc: Trường đại học cấp vùng, ở miềnnúi Tây Bắc Việt Nam
• Đại học Thái Nguyên: Đại học vùng, ở Vùng trung du và miềnnúi phía Bắc Việt Nam, có trụ sở chính tại Thái Nguyên, gồm các thànhviên:
1 Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông
2 Trường Đại học Khoa học
3 Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh
4 Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp
5 Trường Đại học Nông Lâm
6 Trường Đại học Sư phạm
7 Trường Đại học Y Dược
Trang 132 Khoa Du lịch
3 Khoa Giáo dục thể chất
4 Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị
5 Trường Đại học Khoa học
6 Trường Đại học Kinh tế
7 Trường Đại học Nghệ thuật
8 Trường Đại học Ngoại ngữ
9 Trường Đại học Nông Lâm…
• Đại học Đà Nẵng: Đại học vùng duyên hải Nam Trung bộ vàTây Nguyên, có trụ sở chính tại Đà Nẵng, đại học trọng điểm quốc gia, gồmcác trường, khoa trực thuộc sau:
1 Khoa Y Dược
2 Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum
3 Trường Đại học Bách khoa
4 Trường Đại học Kinh tế
5 Trường Đại học Ngoại ngữ
6 Trường Đại học Sư phạm
7 Trường Cao đẳng Công nghệ Đà Nẵng
8 Trường Cao đẳng Công nghệ Thông tin
• Trường Đại học Quy Nhơn: Trường đại học (cấp) vùng duyênhải Nam Trung bộ, Việt Nam
• Trường Đại học Tây Nguyên: Trường đại học (cấp) vùng TâyNguyên, Việt Nam
• Trường Đại học Cần Thơ: Trường đại học (cấp) vùng TâyNam bộ, Việt Nam
2.2 Các trường đại học và học viện quân sự
Hiện nay ở Việt Nam có tất cả 22 trường đại học quân sự đào tạo sĩquan cho tất cả các ngành, cơ quan, đơn vị trong Bộ Quốc phòng ViệtNam Trong đó có 20 trường tuyển học sinh phổ thông và hạ sĩ quan, binhsĩ.Học viện Quốc phòng ở Hà Nội chỉ tuyển sinh các sĩ quan đã tốt nghiệpcác trường, học viện quân sự cấp trung Học Viện Lục quân Đà Lạt chỉ
Trang 14tuyển sinh các sĩ quan đã tốt nghiệp các trường Đại học Trần Quốc Tuấn,Đại học Nguyễn Huệ, tăng - thiết giáp, công binh, pháo binh, phòng hóa,thông tin, đặc công.
Các trường quân sự do Bộ Quốc Phòng phối hợp với Bộ Giáo dục vàĐào tạo quản lý, chỉ đạo về mặt nội dung chương trình đào tạo Sinh viênmuốn dự thi vào các trường này cần phải đạt các tiêu chuẩn về sức khoẻ,
lý lịch.Ngoài ra, một số học viện có đào tạo hệ dân sự, phục vụ quá trìnhphát triển của đất nước.Các sinh viên hệ dân sự phải đóng tiền học vàkhông phải đạt các tiêu chuẩn về sức khoẻ, chính trị
2.3 Các trường đại học và học viện công an
Các trường công an đào tạo sỹ quan công an Các trường này cũngmang tính chất đào tạo đặc thù riêng để phù hợp với ngành Công an Cáctrường công an do Bộ công an, mà trực tiếp là Tổng cục Xây dựng Lựclượng Công an Nhân dân quản lý Muốn được theo học tại các trườngcông an, thí sinh cũng phải đạt được những tiêu chuẩn về thể chất vàphẩm chất chính trị Hiện nay, mới chỉ có Trường Đại học Phòng cháyChữa cháy đào tạo hệ dân sự ngành Kỹ sư An toàn Phòng cháy Chữacháy
1 Học viện An ninh Nhân dân
2 Học viện Cảnh sát Nhân dân
3 Trường Đại học An ninh Nhân dân
4 Trường Đại học Cảnh sát Nhân dân
5 Trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy
6 Trường Đại học Kỹ thuật - Hậu cần Công an Nhân dân
Các trường đại học theo ngành dân sự
Gồm các trường đại học, học viện trực thuộc cùng lúc bộ giáo dục và
bộ ngành đào tạo, hoặc tổ chức, đoàn thể
2.4 Các trường đại học công lập
1 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Trang 152 Trường Đại học Công đoàn
3 Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải
4 Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
5 Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh
6 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
7 Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ ChíMinh
8 Trường Đại học Công nghiệp Việt Hung
9 Trường Đại học Công nghiệp Việt Trì
10 Trường Đại học Dược Hà Nội……
2.5 Các học viện
1 Học viện Âm nhạc Huế
2 Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam
3 Học viện Báo chí và Tuyên truyền
4 Học viện Chính sách và phát triển
5 Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
6 Học viện Xây dựng Đảng
7 Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị
8 Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
9 Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông cơ sở 2, Thànhphố Hồ Chí Minh
10 Học viện Hàng không Việt Nam
11 Học viện Hành chính
12 Học viện Hành chính cơ sở 2, Thành phố Hồ Chí Minh
13 Học viện Khoa học xã hội
14 Học viện Kỹ thuật Mật mã
15 Học viện Ngân hàng
16 Học viện Ngoại giao Việt Nam
17 Học viện Phụ nữ Việt Nam
18 Học viện Quản lý Giáo dục
19 Học viện Tài chính
Trang 1620 Học viện Thanh thiếu niên
21 Học viện Tư Pháp
22 Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam
23 Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh
V. So sánh giáo dục Đại học ở Việt Nam so với các nước có
nền giáo dục tiên tiến
Trong một nền kinh tế toàn cầu có tính cạnh tranh cao trong Thế kỷ
21, trí tuệ là một nguồn nội lực cực kỳ quan trọng Vì thế, ngày nay, người
ta thường hay nói nhiều đến một cuộc chạy đua về tri thức, bởi vì nướcnào không huy động được nguồn nội lực trí tuệ, nước đó sẽ bị lệ thuộc vàotrí tuệ của người khác và lại rơi vào tình trạng tụt hậu, nô lệ tri thức
Các nước Tây phương, mà đặc biệt là Mỹ đang dẫn đầu cuộc chạyđua về tri thức này Các nước Tây phương đã sớm nhận ra vai trò của giáodục và đào tạo trong nền kinh tế và đã dày công xây dựng hệ thống giáodục đại học từ mấy trăm năm qua Và cho đến nay, mặc dù đã đạt đượcmột vị thế hàng đầu, họ vẫn không ngừng tìm cách phát triển giáo dục đạihọc Nhưng khác với các nước đang phát triển nhìn giáo dục như là mộtđòn bẩy phát triển kinh tế và xã hội, họ thấy giáo dục là một phương tiệnchiến lược để duy trì sự thống trị của họ trên trường quốc tế
Ðối với nước Mỹ, sau cuộc khủng hoảng dầu hỏa và sự cạnh tranhcông nghiệp gay gắt tiếp theo đó, các nhà lãnh đạo chính trị và kinh tế đãnhận ra rằng họ đang bị mất dần sự độc quyền về công nghiệp nặng và kỹnghệ xe hơi; do đó, muốn duy trì uy thế tối cao của họ trước đây, họ cầnphải nắm độc quyền những "kỹ nghệ tri thức" (knowledge-based industries)như kỹ nghệ máy tính, điện tử, không gian, thông tin viễn liên, và côngnghệ sinh học Những kỹ nghệ này đặt trọng tâm vào nguồn vốn trí tuệ, màđại học là nguồn cung cấp chính Ðại học, từ đó, trở thành một bộ phận củaguồng máy kinh tế mà trước đây họ chưa bao giờ nghĩ tới
Trang 17Không chỉ có Mỹ mà Pháp cũng rất chú trọng tới giáo dục Đại học.Dưới đây là sự cụ thể hóa cho hệ thống giáo dục của Việt Nam với cácnước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới: Việt Nam với Mỹ và Pháp.
a Việt Nam và Mỹ
-Chương trình học ở Việt Nam quá dài :
Thời gian học 4 năm ở lớp tại Việt Nam là 2183 giờ so với 1380 giờ
ở Mỹ Như vậy chương trình ở Việt Nam dài hơn gần 60% Điều này có thể
là do thiếu sách vở nên thầy phải vào lớp đọc cho trò chép hoặc là quántính từ quá khứ để lại Với thời gian ngồi lớp như vậy, học sinh sẽ còn ít thìgiờ để tự học, nghiên cứu
- Chương trình ở Việt Nam không phải là dậy nghề cũng không phải
là đào tạo một người có kiến thức sâu và tính sáng tạo:
Chương trình học kinh tế đòi hỏi 1451 giờ học kinh tế so với ở Mỹ chỉđòi hỏi tối thiểu là 480 giờ (tức là 1/3 chương trình đại học), như vậy đòi hỏihọc các môn kinh tế gấp 3 lần số giờ ở đại học Mỹ Nhìn chương trìnhgiảng dậy ở Đại học kinh tế thành phố HồChíMinh ta thấy, học sinh trong 4năm phải học gần như tất cả mọi thứ trên đời về kinh tế mà nhà trường cóthể nghĩ ra được, từ các môn cơ bản như kinh tế vi mô và vĩ mô, đến cácmôn như kinh tế lao động, quản trị xí nghiệp, kế toán, địa lý kinh tế, luậtkinh tế, dân số họ, chính sách thương mại, kinh tế tài nguyên và môitrường, phân tích dự án kinh tế, thị trường chứng khoán, v.v Đây là nhữngmôn ít khi dậy ở cấp đại học 4 năm và có dậy thì chỉ là những môn để họcsinh có thể chọn lựa, và đây cũng là những môn mà trường đại học có thầy
đã và đang nghiên cứu chuyên sâu Đòi hỏi mỗi thứ một tí, học sinh không
có khả năng hoặc thì giờ đi sâu vào bất cứ vấn đề gì và chắc chắn là thầycũng chỉđọc sách nói lại mà không hiểu thầy có hiểu không nữa Theo cáctài liệu giáo khoa của trường thì nội dung rất là rất nặng lý thuyết mà nhiềuphần học sinh ở Mỹ chỉ học trong chương trình sau cử nhân Như vậytrường chỉ nhằm nhồi sọ kiến thức lý thuyết kinh tếnhưng sự phân chia chi
li các lớp học thì lại có vẻ thực dụng như dậy nghề
Trang 18- Chương trình ở Việt Nam không trang bị cho học sinh những kiếnthức cơ bản và toàn diện khoa học tự nhiên, nhân văn, văn chương vànghệ thuật; không có một lớp nào về phương pháp nghiên cứu và viết luậnvăn Chương trình ở Mỹ (ở các đại học danh tiếng) đòi hỏi học sinh phảihọc một chương trình cơ bản dù là học ngành gì từ khoa học cơ bản, khoahọc ứng dụng, xã hội hoặc nhân văn Đây chính là chương trình thể hiệnmục đích đào tạo những cá nhân có tri thức cơ bản, có phương phát suynghĩ và phân tích các vấn đề, có khả năng viết luận văn nghiên cứu.Chương trình cơ bản bắt buộc này cũng chiếm 1/3 thời gian học 4 nămnhư thời gian tối thiểu dành cho ngành học chính
-Ở Đại học Việt Nam tất cả các môn có tính bắt buộc, học sinh không
có quyền tự chọn, ngược lại ở Mỹ học sinh có quyền tự chọn đến 1/3 thờigian học dù học bất cứ ngành chính nào (như toán, vật lý, hoá học, kinh tế,tâm lý, văn chương):
Việc tự chọn là rất quan trọng để học sinh mở mang kiến thức vềnhiều ngành học khác nhau Việc hiểu biết liên ngành này cho phép họcsinh hợp tác nghiên cứu liên ngành, phân tích và nhìn vấn đề không bị cụcdiện, bó hẹp vào chuyên môn của mình Học sinh Đại học với quyền tựchọn có thể chọn hai ngành chuyên môn, hoặc một ngành chính và mộtngành phụ Sau khi ra trường, họ có thể làm việc ở nhiều chuyên môn khácnhau chứ không bị bó vào ngành chuyên môn duy nhất mà mình học ởtrường, kể cả thay đổi hoàn toàn để theo một ngành khác Triết lý giáo dục
ở Mỹ cho phép và trang bị cho sinh viên thực hiện việc đổi ngành mà không
Trang 19thì số giờ có thể cắt bớt Nếu giả thử nhà nước không muốn cắt thì việccanh tân chương trình vẫn có thể thực hiện được.
b.Việt Nam và Pháp
-Giáo dục đại học ở Pháp được đặc trưng bởi sự đa dang và chấtlượng của các chương trình đào tạo Uy tín bằng cấp của Pháp được xâydựng trên một mạng lưới các cơ sở đào tạo và trung tâm nghiên cứu nổitiếng thế giới: trên 3000 cơ sở đào tạo trên khắp nước Pháp Giáo dụcnước Pháp được đánh giá là nền giáo duc theo hướng tinh hoa chọn lọc vìhọc sinh đang học phổ thông đã có ngã rẽ cho con đường học tập
-GDĐH Pháp là nền giáo dục có từ lâu đời, là nền giáo dục có uy tíntrên thế giới Trong khi giáo dục nước tar a đời cũng không phải là quámuộn so với các nước khác nhưng đó là một sự chắp vá, sự kế thừa củanhiều hệ thống giáo dục khác như Pháp, Mỹ, Liên Xô và cho đến nay hệthống đó không còn phù hợp nữa
- Về mục tiêu đào tạo ĐH ở Pháp đặt ra cao hơn một bậc so với mụctiêu đào tạo của nước ta Mục tiêu của Pháp không chỉ dừng ở chỗ chỉ nămvững kiến thức như của ta mà là phát triển nghiên cứu, và ứng dụng vào
để phát triển kinh tế, và phải làm sao cho mọi người phải tiếp cận được với
sự phát triển của văn hóa và của khoa học công nghệ
-Phải nói rằng hệ thống bằng cấp của đào tạo đại học của Pháp rất
đa dạng và phức tạp, có nhiều giai đoạn học khác nhau, mỗi giai đoạn lại
có nhiều hướng khác nhau Điều này đôi khi gây khó khăn cho sinh viênmới chọn vào nghành muốn học Nhưng nó đem lại những lợi ích chonhững người sử dụng lao động; những sinh viên có định hướng đi chocuộc đời của mình; góp phần Vào tiết kiệm chi phí đào tạo vì nếu sinh viênchỉ muốn học ra để đi làm thì họ đăng ký vào những hướng để ra đi làm họ
sẽ không phải bỏ nhiều thời gian và tiền bạc để học những phần lý thuyết
Ở nước ta hệ thống văn bằng tương đối đơn giản hơn Do đó sinh viênkhông có nhiều lựa chọn nghề nghiệp theo hướng nghiên cứu hay làhướng thực hành điều đó cũng một phần ảnh hưởng đến chất lượng laođộng của nước ta
Trang 20- Về trình độ giảng viên của nước ta còn quá thấp so với trình độgiảng viên của Pháp Điều này đã làm cho chất lượng đào tạo ở nước takhông thể đạt chuẩn so với khu vực và thế giới Điều này đã chứng minhqua việc bằng cấp mà nước ta đào tạo không được công nhận ở nhiềunước trên thế giới.
-Về chế độ chính sách cho sinh viên ở nước ta chưa thể cao bằnghính sách mà nhà nước Pháp dành cho sinh viên của họ Vì do kinh tếnước ta chưa thể phát triển bằng Pháp nên ta cũng chưa có thể có ngânsách để miễn học phí cho tất cả các sinh viên học trường công lập Ở nước
ta sinh viên cũng có thể vay tiền để theo học đại học nhưng con số này rấtkhiêm tốn trong khi chính sách này đối với sinh viên nước ngoài thoánghơn
- Tỉ lệ ngân sách đầu tư cho giáo dục nước ta không phải là thấp.Nhưng do tổng thu nhập nước ta chưa cao nên số tiền đầu tư cho giáo dụcchưa thể sánh bằng một nước phát triển như Pháp Nhưng một thực trạngđáng buồn ở nước ta là nhà trường chưa thể tận dụng tối ưu kinh phí donhà nước cấp
VI. Nguyên nhân và giải pháp cho những vấn đề còn tồn tại
tiêu cực trong nền giáo dục Đại học Việt Nam
(*) Nguyên nhân
-Một là các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng trong giáo dục ĐH chưa
cụ thể và không rõ ràng, chưa có qui định cụ thể về kiến thức, kỹ năngcũng như thái độ cần thiết cho từng trình độ đào tạo
-Hai là hoạt động đánh giá và kiểm định các điều kiện đảm bảo chấtlượng vẫn đang ở giai đoạn đầu còn gặp nhiều khó khăn do thiếu đội ngũchuyên gia có kinh nghiệm
-Ba là chưa chú trọng đến nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trong cáctrường ĐH, nguồn lực dành cho đào tạo sau ĐH và nghiên cứu khoa họcquá ít ỏi, sử dụng thiếu hiệu quả, phân bổ theo chỉ tiêu đầu vào Nhiều đềtài khoa học và công nghệ chỉ dừng lại ở kết quả nghiên cứu lý thuyết,không có điều kiện chế tạo thử và đưa vào sản xuất
Trang 21-Bốn là thiếu các nhà khoa học đầu ngành trong các trường ĐH.Nhiều nhà khoa học hàng đầu đã đến tuổi nghỉ hưu, số còn lại đang làmviệc thì quá bận với hoạt động giảng dạy và quản lý, giảng viên trẻ thiếuđộng lực trong nghiên cứu khoa học.
-Năm là hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học tronggiáo dục ĐH còn nhiều hạn chế, chưa xây dựng được các chương trìnhnghiên cứu với sự tham gia hợp tác của các nhà khoa học nước ngoài
-Sáu là các điều kiện đảm bảo chất lượng còn nhiều hạn chế Độingũ nhà giáo và cán bộ quản lý còn thiếu về số lượng, hạn chế về trình độ
và chưa đồng bộ về cơ cấu Chương trình đào tạo, nội dung giảng dạychưa được đổi mới và cập nhật thường xuyên Phương pháp giảng dạy vàhọc tập chưa phù hợp với điều kiện giảng dạy ĐH
-Và cuối cùng: cơ chế tài chính, đầu tư cơ sở vật chất và chế độ họcphí còn bất cập Hệ thống giảng đường, phòng thí nghiệm và trang thiết bịphục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học của các trường còn thiếu, nghèonàn và lạc hậu Hệ thống thư viện nhà trường nhỏ bé, không cung cấp đủthông tin, sách báo, tạp chí, tài liệu tham khảo cho nhu cầu ngày càng caocủa giảng viên,sinh viên
(*) giải pháp
Thứ nhất, xây dựng một chiến lược và triết lý giáo dục riêng Hiệnnay, trên thế giới có ba mô hình giáo dục đại học lớn cần phải tham khảotrong quá trình xây dựng chiến lược giáo dục đại học ở Việt Nam: một là,
mô hình kiểu Đức là nơi tạo dựng và phổ biến tri thức; hai là, mô hình kiểuPháp là nơi đào tạo người lao động có chất lượng cao đáp ứng nhu cầucủa phát triển và sử dụng nguồn nhân lực; ba là, mô hình kiểu Mỹ là tôiluyện bản lĩnh sống cho tầng lớp trẻ, tôn trọng sự phát triển nhân cách cánhân, trung thực, không ngừng đổi mới Theo chúng tôi, mỗi một mô hìnhtrên đều có những mặt tích cực có thể áp dụng, nhưng hoàn toàn khôngthể rập khuôn máy móc khi tạo dựng triết lý cho giáo dục đại học hiện nay.Nên chăng, nền giáo dục đại học ở Việt Nam cần hướng tới việc phổ biến,
Trang 22ứng dụng và hiện thực hóa các tri thức khoa học, rút ngắn khoảng cách “độchênh về chất lượng”.
Thứ hai, cơ cấu lại ngành học cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễnphát triển của đất nước Hiện nay, cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơcấu vùng miền đang có sự mất cân đối Việc tăng quy mô đào tạo hiện vẫnchủ yếu diễn ra ở bậc đại học; số học sinh, sinh viên theo học các ngành kỹthuật, công nghệ ở bậc cao đẳng và trung học chuyên nghiệp còn thấp vàtăng chậm Dường như trong những năm qua chúng ta chỉ chú trọng vàonhững ngành học có vốn đầu tư ít, thu lợi nhuận cao, chẳng hạn Luật, Kinh
tế, Ngoại ngữ, Công nghệ thông tin…, mà chưa thực sự đầu tư thích đángvào nhóm các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật công nghệ cao Để hướngtới một nền giáo dục bền vững, chúng ta phải có một chiến lược dài hạn,đầu tư có trọng điểm vào những ngành khoa học, công nghệ mũi nhọn,đồng thời phải biết lựa chọn và thu hút được những sinh viên ưu tú, ápdụng những chương trình tiên tiến của thế giới vào giảng dạy để đạt hiệuquả cao Chỉ có như vậy, chúng ta mới thực sự “đi tắt, đón đầu” và theo kịpđược với sự phát triển của khoa học – công nghệ tiên tiến hiện nay
Thứ ba, cải cách hành chính và trao quyền tự chủ cho các trường đạihọc Đổi mới tư duy giáo dục đại học trong quản lý nhà nước để tiến đếntrao quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm cao của các trường đại họcchính là động lực của phát triển Đó là yêu cầu tất yếu từ chính các trườngđại học trong cả nước hiện nay, như quyền tự chủ tài chính, nhân sự, côngtác tuyển sinh và nhất là xây dựng chương trình Bởi, với chủ trương “đàotạo theo nhu cầu” thì việc xây dựng chương trình phải xuất phát từ nhu cầucủa xã hội Chỉ có như vậy, các trường đại học mới có thể tự quyết địnhtrong đầu tư cơ sở vật chất và chuyên môn hoá sâu về lĩnh vực đào tạocủa mình Chế độ tuyển dụng, đãi ngộ, đề bạt của các cơ sở đào tạo đạihọc phải dựa trên năng lực và hiệu quả công việc của từng cá nhân Chấtlượng đào tạo của các trường đại học là một tiêu chí đáng tin cậy cho mức
độ phát triển của nền kinh tế Hiện nay, các trường đại học của Việt Namchưa đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao và chưa
Trang 23có một trường đại học nào được các tổ chức kiểm định quốc tế thừa nhận.Nếu như không có các biện pháp cấp thiết để cải cách giáo dục đại học thìnước ta khó có thể đạt được các mục tiêu đã đề ra cho sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Thứ tư, thực hiện đồng bộ và nghiêm chỉnh công tác kiểm định chấtlượng đại học Đã gần 3 năm qua, từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo có chủtrương buộc các cơ sở đào tạo bậc đại học, cao đẳng phải công bố chuẩnđầu ra, như người học hiểu biết gì, có kỹ năng gì, có năng lực hành vi nhưthế nào, có thể đảm đương được công việc gì trong xã hội?… Nhưng chođến nay vẫn chưa có một trường đại học, cao đẳng nào thỏa mãn được bộtiêu chí trên Vì vậy, chúng ta chưa có đủ cơ sở để đánh giá chất lượnggiáo dục của các trường một cách khách quan, toàn diện
Từ thực tế trên cho thấy, việc thiết lập bộ tiêu chuẩn chất lượngtrường đại học và thực hiện nó là một yêu cầu bắt buộc đối với giáo dục đạihọc Việt Nam hiện nay Bởi nó chính là cơ sở để đánh giá kiểm định chấtlượng của một trường đại học hiện đại Có được một bộ tiêu chuẩn chấtlượng minh bạch để quản lý các trường đại học thực sự là một bước độtphá trong tiến trình phát triển của giáo dục đại học Việt Nam
Thứ năm, kiên quyết ngừng các cơ sở đào tạo đại học không đạtchuẩn Trong những năm gần đây, do xuất phát từ mong muốn chủ quan làphát triển đại học nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, song sự mở rộng quá nhanh quy mô đàotạo lại không đi liền với việc đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực Cónhững trường đại học khi có quyết định thành lập và bắt đầu đi vào đào tạonhưng cơ sở vật chất lại chưa đáp ứng yêu cầu tối thiểu của một cơ sởđào tạo đại học như báo chí đã nêu trong thời gian vừa qua Như vậy, hiệntượng mở trường tràn lan, những điều kiện vật chất không được đảm bảo,đội ngũ giảng viên vừa thiếu, vừa yếu cũng là một nguyên nhân khiến chấtlượng đào tạo đại học ở nước ta ngày càng giảm sút
Sự phát triển và thịnh vượng của mỗi quốc gia hiện nay phụ thuộctrực tiếp vào quy mô và chất lượng của giáo dục đại học Hầu hết các quốc
Trang 24gia có thu nhập thấp và đang phát triển hiện nay đang đứng trước rất nhiềunguy cơ, trong đó có nguy cơ tụt hậu xa hơn về giáo dục đại học so vớinhóm các nước phát triển Trách nhiệm này đặt trên vai các nhà hoạchđịnh chiến lược giáo dục đại học Giáo dục đại học Việt Nam phải thực sựgóp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh
Tóm lại, Giáo dục đã, đang, và sẽ là một chỉ tiêu quyết định sựkhác biệt giữa các quốc gia, và giữa cá nhân Ba chức năng chính của giáodục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực có trình độ chuyên môn cao, vànuôi dưỡng nhân tài Hiện nay, nền giáo dục và đào tạo ở Việt Nam chỉmới làm được chức năng số một, còn hai chức năng sau thì còn rất hạnchế Việt Nam là một nước tương đối "trẻ", vì hơn 50% dân số dưới 25tuổi Nền giáo dục phải làm sao trang bị cho lực lượng lao động này nhữngkiến thức chuyên môn cần thiết để tạo ra một nền kinh tế có tính cạnh tranhcao, để có cơ sánh vai với các nước tiên tiến trong vùng và trên thế giới
Mặc dù, đã có nhiều tiến bộ, nhưng nói chung, trình độ dân trí củanước ta còn rất thấp so với các nước đã phát triển trên thế giới và một sốnước đang phát triển trong vùng Do đó, để tránh tình trạng bị nô lệ về trithức, Việt Nam cần phải có một chiến lược giáo dục khả thi nhằm trang bịnhững tri thức hiện đại và nâng cao trình độ học vấn của dân chúng để ViệtNam có thể chuẩn bị cho công cuộc công nghiệp hóa trong vòng vài thậpniên tới Thiết nghĩ không có cách gì khác là Việt Nam phải, dùng chữ củamột nhà giáo trong nước, "chấn hưng toàn diện, cải cách mạnh mẽ, hiệnđại hóa" nền giáo dục
Ở các nước Tây phương, những vấn đề này được coi là một sựkhủng hoảng Ở Việt Nam, có thể nói một cách ngắn gọn và dứt khoátrằng: thực trạng giáo dục là một trong những vấn đề lớn nhất, nghiêm trọngnhất của xã hội hiện nay Trong khi trên thế giới người ta không ngừng cảitiến và hoàn thiện hệ thống giáo dục, ở nước ta hệ thống giáo dục vừa lạc