1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 1

147 454 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 3,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi thế trên hết, mọi người trong xã hội nói chung và nhất là đối tượng học sinh HS đang được học tập, rèn luyện về ngôn ngữ, tiếng Việt ở nhà trường phổ thông các cấp cần phải rèn luyện

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

RÈN KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1

TRONG GIỜ DẠY TIẾNG VIỆT Ở MỘT SỐ TRƯỜNG

TIỂU HỌC QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC TIỂU HỌC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố

trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích

dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Hải Phòng, ngày 26 tháng 5 năm 2017

Tác giả

To remove this notice, visit: www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, em đã hoàn thành Luận văn

thạc sĩ chuyên ngành Giáo dục học với Đề tài “Rèn kỹ năng nói cho học sinh

lớp 1 trong giờ dạy tiếng Việt ở một số trường tiểu học quận Kiến An,

thành phố Hải Phòng”.

Bằng tấm lòng và sự biết ơn sâu sắc, em xin trân trọng cảm ơn Ban

Giám hiệu Trường Đại học Hải Phòng; sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình và

trách nhiệm của các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ đã tham gia giảng dạy lớp

Cao học Giáo dục Tiểu học khóa I Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn và bày

tỏ lòng kính trọng đối với Tiến sĩ Nguyễn Thị Hiên, người đã tận tình hướng

dẫn, giúp đỡ em sớm hoàn thành Đề tài nghiên cứu

Trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, tập thể giáo viên Trường Tiểu học

Thực hành và các trường tiểu học trên địa bàn quận Kiến An đã giúp đỡ tôi

trong thời gian học tập, nghiên cứu và khảo sát số liệu của Đề tài./

Hải Phòng, ngày 26 tháng 5 năm 2017

Tác giả

To remove this notice, visit: www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN……… i

LỜI CẢM ƠN……… ii

MỤC LỤC……… iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT……… v

DANH MỤC BẢNG……… vi

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ……… vii

DANH MỤC SƠ ĐỒ……… vii

MỞ ĐẦU……… ……… 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI… 14

1.1 Những vấn đề chung về dạy học phát triển kĩ năng ngôn ngữ cho học sinh lớp 1……… 14

1.1.1 Kĩ năng và kĩ năng ngôn ngữ……… 14

1.1.2 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của học sinh lớp 1……… 20

1.1.3 Vấn đề phát triển kĩ năng nói cho học sinh lớp 1……… 22

1.2 Một số lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu……… 25

1.2.1 Lí thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ và việc vận dụng vào rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1……… 25

1.2.2 Lí thuyết hội thoại và việc vận dụng vào rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1……… 31

1.2.3 Lí thuyết tâm lí học và sự phát triển các kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ……… 36

1.3 Cơ sở thực tiễn……… 39

1.3.1 Một số vấn đề về chương trình, sách giáo khoa dạy học tiếng Việt ở lớp 1 hiện nay……… 39

1.3.2 Thực trạng dạy học rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 1 trong môn Tiếng Việt tiểu học hiện nay……… 46

1.3.3 Đánh giá chung về việc rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 1 trong môn Tiếng Việt……… 53

1.4 Tiểu kết chương 1……… 55

Trang 5

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG NÓI CHO

HỌC SINH LỚP 1 TRONG GIỜ DẠY TIẾNG VIỆT 57

2.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp……… 57

2.1.1 Bám sát mục tiêu, nội dung chương trình……… 57

2.1.2 Đảm bảo phù hợp với đối tượng……….……… 57

2.1.3 Khơi gợi hứng thú học tập cho học sinh……… 58

2.1.4 Phát huy vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh… 58

2.1.5 Đảm bảo tính khả thi, hiệu quả……… 59

2.2 Các biện pháp rèn kỹ năng nói trong giờ dạy tiếng Việt……… 59

2.2.1 Tổ chức cho học sinh nhận diện, ghi nhớ tiếng, thanh, âm, vần 59 2.2.2 Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập thực hành rèn kĩ năng nói cho học sinh trong dạy học tiếng Việt……… 71

2.2.3 Tổ chức các trò chơi học tập để rèn kĩ năng nói cho học sinh… 87

2.3 Tiểu kết chương 2……… 95

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……… 97

3.1 Mục đích thực nghiệm……… 97

3.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm……….… 97

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm……… 97

3.2.2 Thời gian thực nghiệm ……… 98

3.3 Nội dung và cách thức tiến hành thực nghiệm……… 98

3.3.1 Nội dung thực nghiệm……… 98

3.3.2 Cách thức tiến hành thực nghiệm ……… 98

3.4 Kết quả thực nghiệm……….………….… 100

3.4.1 Kết quả các tiết học thực nghiệm……… 100

3.4.2 Kết quả kiểm tra kỹ năng nói của học sinh……… … 100

3.5 Khảo sát về tính khả thi của các biện pháp ……… 107

3.6 Tiểu kết chương 3……… 109

KẾT LUẬN……… 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 113

PHỤ LỤC ………

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Số hiệu

Trang

1.1 Tổng hợp về địa bàn, đối tượng khảo sát 47

1.2 Kết quả khảo sát GV về mức độ sử dụng các biện pháp

1.3 Kết quả khảo sát HS về mức độ thành thạo KNN 51

3.1 Kết quả điểm kiểm tra HS lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng về KN phát âm

101

3.2 Kết quả điểm kiểm tra HS lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng về KN sử dụng nghi thức lời nói

101

3.3 Kết quả điểm kiểm tra HS lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng về KN đặt và trả lời câu hỏi

102

3.4 Kết quả điểm kiểm tra HS lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng về KN thuật việc, kể chuyện

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

3.1 So sánh điểm kiểm tra HS lớp thực nghiệm và lớp đối

3.2 So sánh điểm kiểm tra HS lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng về rèn KN sử dụng nghi thức lời nói 102

3.3 So sánh điểm kiểm tra HS lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng về rèn KN đặt và trả lời câu hỏi 102

3.4 So sánh điểm kiểm tra HS lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng về KN thuật việc, kể chuyện 103

3.5 So sánh điểm kiểm tra HS lớp thực nghiệm và lớp đối

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong xã hội loài người, sự giao tiếp bằng ngôn ngữ là một nhu

cầu không thể thiếu được Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ có thể tiến hành theo hai kênh: giao tiếp bằng lời nói (nói - nghe) và giao tiếp bằng chữ viết (viết - đọc) Trong đó, giao tiếp bằng lời nói là hình thức giao tiếp cơ bản, quan trọng và diễn ra thường xuyên trong đời sống hàng ngày của con người

Có thể nói rằng, trong mọi hoạt động (học tập, lao động, sinh hoạt xã hội, ) của mình, con người chủ yếu giao tiếp ở dạng lời nói miệng, dùng ngôn ngữ

âm thanh để giao tiếp với nhau Bởi thế trên hết, mọi người trong xã hội nói chung và nhất là đối tượng học sinh (HS) đang được học tập, rèn luyện về ngôn ngữ, tiếng Việt ở nhà trường phổ thông các cấp cần phải rèn luyện một cách nghiêm túc, thường xuyên và có ý thức các kĩ năng (KN) giao tiếp miệng, KN sử dụng lời nói để không ngừng phát triển và hoàn thiện năng lực ngôn ngữ của mình Lí thuyết là vậy, song thực tế đời sống giao tiếp cũng như thực tế dạy học tiếng Việt ở các nhà trường lại có phần ít quan tâm, chú ý thậm chí là xem nhẹ việc rèn luyện các KN này mà lại chỉ tập trung vào rèn luyện cho HS cách viết, cách sử dụng lời nói viết: viết câu, viết đoạn văn, văn bản,… Điều này khiến cho, trong các nhà trường hiện nay, có thể thấy một hiện tượng rất phổ biến là lời nói viết với những đặc trưng phong cách của nó ngày càng trở thành nhân tố quyết định đánh giá sự phát triển ngôn ngữ của

HS Và ở một mức độ nào đó thì chính lời nói miệng của các em HS ở các bậc học này cũng bị ảnh hưởng của lời nói viết Rất nhiều dạng lời nói miệng của

HS thật ra là lời nói viết được âm thanh hoá Nếu không kịp thời điều chỉnh, rèn luyện thì HS sẽ không thể tham gia giao tiếp xã hội một cách tự nhiên và chuẩn mực theo yêu cầu của tiếng Việt Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế toàn cầu như hiện nay, các KN giao tiếp miệng (trình bày, đối thoại, thuyết minh, phản biện, tranh luận,… bằng lời nói) đã trở thành những KN mềm, KN sống góp phần quan trọng vào những thành công của mỗi người Do vậy, ở nhà trường phổ thông hiện nay, để góp phần thực hiện mục tiêu phát triển năng lực toàn diện cho người học, hơn bao giờ hết, việc

Trang 10

dạy học tiếng Việt cần hướng tới tập trung tổ chức cho HS thực hiện các hoạt động lời nói, rèn luyện KN ngôn ngữ để HS có thể sử dụng tiếng Việt một cách thuần thục và đạt đến mức độ tự động hóa trong mọi hình thức giao tiếp của ngôn ngữ, trong đó có hình thức giao tiếp bằng lời nói

1.2 Ở bậc tiểu học, hầu như các nước đều coi trọng việc dạy học tiếng

mẹ đẻ và dành cho nó vị trí ưu tiên xứng đáng Ở Việt Nam cũng vậy, tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ của người Việt và là công cụ giao tiếp quan trọng bậc nhất trong một cộng đồng dân cư rộng lớn các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam Môn Tiếng Việt là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng ở bậc tiểu học, là phương tiện chủ yếu để HS tiếp thu kiến thức của các môn học khác Mục tiêu và nhiệm vụ của môn học Tiếng Việt là bước đầu dạy cho HS nhận biết được những tri thức sơ giản, cần thiết về tiếng Việt, bao gồm ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp, chính tả Trên cơ sở đó rèn luyện các

KN ngôn ngữ: nghe, nói, đọc, viết nhằm giúp HS sử dụng tiếng Việt có hiệu quả trong suy nghĩ và trong giao tiếp Nói cách khác, hình thành và phát triển toàn diện các KN sử dụng tiếng Việt: nghe - đọc (tiếp nhận văn bản), nói - viết (tạo lập văn bản) là một trong những mục tiêu quan trọng trong dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học Cả bốn KN trên đều có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi người Riêng kĩ năng nói (KNN) đang ngày càng khẳng định vai trò và vị trí của nó, bởi lẽ theo các nhà nghiên cứu tâm sinh lí trẻ em:

“ những trẻ không nhận được sự trợ giúp đầy đủ để phát triển các KN giao tiếp bằng lời thường gặp khó khăn trong giao tiếp xã hội và phát triển cảm xúc khi chúng lớn lên” và “từ 7 tuổi trở đi, trẻ trở nên khó học ngôn ngữ hơn” [39] Chính khả năng sử dụng các hình thức giao tiếp ngôn ngữ của các

em, đặc biệt là khả năng nói đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới cách tương tác xã hội

và ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả trong giao tiếp của các em Năng lực ngôn ngữ tốt là cơ sở giúp trẻ phát triển năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực hợp tác; giúp trẻ tự mình tìm hiểu và khám phá thế giới xung quanh một cách dễ dàng; biết tiếp nhận lời người khác một cách đầy đủ, chính xác; biết chia sẻ ý kiến, thương lượng, quản lí các hoạt động tương tác, biết cách thức giao tiếp với những người khác; biết cách tạo lập lời nói của mình một

Trang 11

cách có văn hóa, lễ phép, phù hợp với những nhân tố khác nhau của hoạt động giao tiếp Chính vì những điều nêu trên, theo chúng tôi, việc rèn KNN cho HS cần được tiến hành ngay từ lớp 1

1.3 Thực tế dạy học tiếng Việt ở trường tiểu học hiện nay, từ nội dung

chương trình, sách giáo khoa (SGK) cho đến chính quá trình tổ chức dạy học cho thấy: vấn đề rèn KNN cho học sinh tiểu học (HSTH) nói chung và HS lớp

1 nói riêng vẫn còn đang là một “khoảng trống”, đòi hỏi cần có những nghiên

cứu sâu hơn để có thể luận giải tầm quan trọng của việc phát triển KNN cũng như đề ra những nội dung và phương pháp, biện pháp dạy học, rèn luyện một cách hợp lí, cụ thể và có tính khả dụng hơn

Qua thực tế dự giờ, tham gia sinh hoạt chuyên môn tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, chúng tôi nhận thấy một thực trạng khá phổ biến trong những giờ luyện nói là: Nhiều HS nói không đủ ý, ngôn ngữ diễn đạt còn lủng củng, chưa lôgic Nhiều HS nhút nhát không muốn trình bày, chia sẻ với các bạn những điều mình nghĩ, mình biết hoặc có nói thì cũng nói trống không, không rõ nghĩa Đây là vấn đề khiến giáo viên (GV) gặp khó khăn cần phải có hướng khắc phục Lí do khiến HSTH lúng túng khi nói chính là các em còn hạn chế về vốn sống, vốn hiểu biết và kinh nghiệm giao tiếp dẫn đến việc các em không biết nói gì với các chủ đề luyện nói theo yêu cầu bài học Học sinh lớp 1 là đối tượng mà vốn ngôn ngữ còn nhiều hạn chế, khả năng diễn đạt chưa có, khả năng chú ý lắng nghe chưa cao Trong khi đó GV chưa có các biện pháp phù hợp để giúp HS rèn KNN hiệu quả Hệ thống các bài tập (BT) rèn KNN trong các Chương trình, SGK hiện nay cũng chưa đa dạng, phong phú và chưa thực sự phù hợp với đối tượng HS lớp 1

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 1 trong giờ dạy tiếng Việt ở một số trường tiểu học quận Kiến An, thành phố Hải Phòng” nhằm góp phần làm rõ thêm các

khía cạnh của các biện pháp rèn luyện KNN, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học phát triển KNN trong dạy học tiếng Việt 1

Trang 12

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Vấn đề dạy học tiếng Việt theo hướng phát triển các kỹ năng ngôn ngữ nói chung

Tiếng Việt là một ngôn ngữ Cũng như nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới, tiếng Việt ngày càng hoàn thiện về cấu trúc, phát triển về chức năng và thực sự đã trở thành một công cụ giao tiếp đa chức năng Bởi vậy, trong dạy học tiếng Việt vấn đề phát triển các KN giao tiếp bằng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) luôn được xác định trong mục tiêu giáo dục, mục tiêu dạy học môn học này ở các bậc học từ Tiểu học đến Trung học phổ thông

Hơn nữa, tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ của HS Do vậy, từ trước đến nay, khi nói tới việc dạy tiếng (tiếng mẹ đẻ), nhiều nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng: phương hướng dạy học phải chú ý thích đáng đến thực hành tức là khả năng vận dụng các tri thức về ngôn ngữ và KN sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp Xét từ góc độ tâm lí học và tâm lí - ngôn ngữ học, dạy và học một bản ngữ là dạy và học hoạt động ngôn ngữ bằng tiếng mẹ đẻ nhằm giúp HS phát triển các KN hoạt động ngôn ngữ của mình (tức là các kĩ năng nói, nghe, đọc, viết bằng tiếng mẹ đẻ) Nói một cách khác, trong việc dạy học tiếng, cái quan trọng nhất là dạy HS hình thành và phát triển KN hoạt động giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ của các em Xét cho cùng, học một ngôn ngữ là để sử dụng thành thạo ngôn ngữ đó để giao tiếp có hiệu quả trong mọi tình huống và dạy một ngôn ngữ phải đặt ngôn ngữ đó vào chính môi trường của nó- môi trường giao tiếp Chỉ có thực hiện việc dạy học như vậy, HS mới hình thành được các KN

và kĩ xảo ngôn ngữ một cách nhanh chóng và có hiệu quả

Như vậy, đối với riêng tiếng Việt, dạy học phát triển các KN giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ cho HS cũng có thể xem như là nguyên tắc, phương pháp dạy học quan trọng hàng đầu Nó chẳng những thể hiện được đúng bản chất của tiếng Việt với tư cách là một ngôn ngữ mà còn giúp cho chức năng làm công cụ giao tiếp của tiếng Việt được hiện thực hoá một cách hoàn chỉnh và đầy đủ nhất

Ở Việt Nam, việc dạy học tiếng Việt theo quan điểm phát triển KN, nói rộng hơn là năng lực giao tiếp nói chung cũng được rất nhiều tác giả quan tâm

Trang 13

nghiên cứu Điển hình là các công trình nghiên cứu của các tác giả: Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán, Nguyễn Trí, Nguyễn Hải Đạm, Bùi Tất Tươm, Lê Phương Nga, Cao Đức Tiến, Lê Hữu Tỉnh Có thể thấy, trong các công trình nghiên cứu về lí luận dạy tiếng nêu trên, nguyên tắc phát triển lời nói trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học hay nguyên tắc phát triển năng lực giao tiếp ở bậc Trung học cơ sở và Trung học phổ thông đã dần được xác định như là những nguyên tắc cơ bản, quan trọng nhất và giữ vai trò chỉ đạo trong

dạy học tiếng Việt, ở tất cả các bậc học: “Quan điểm giao tiếp là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình dạy học tiếng Việt” [58, tr.23]; “Nguyên tắc dạy học tiếng Việt hướng vào giao tiếp sẽ chi phối trực tiếp việc lựa chọn và sắp xếp nội dung kiến thức cần dạy Kiến thức về tiếng Việt chỉ có ý nghĩa khi chúng góp phần hình thành các kĩ năng giao tiếp (đọc, nghe, nói, viết) cho

các em học sinh” [1, tr.58]

Quán triệt theo nguyên các nguyên tắc trên, vấn đề dạy học tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực giao tiếp đã được thể chế hoá các trong chương trình, SGK, sách bồi dưỡng GV mới nhất ở các cấp học với nhiều hình thức Chương trình Tiếng Việt tiểu học năm 2000 đã coi việc hình thành các KN ngôn ngữ như một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của việc dạy học môn Tiếng Việt Chương trình khẳng định: Việc dạy tiếng Việt là dạy

HS sử dụng tiếng Việt hiện đại để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động phù hợp với lứa tuổi Ngoài ra, chương trình cũng nhấn mạnh việc rèn các KN sử dụng tiếng Việt nghe, nói, đọc, viết trên cơ sở các tri thức sơ giản về tiếng Việt Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2006

cũng khẳng định: “Chương trình Ngữ văn tạo điều kiện để học sinh hoà nhập với xã hội Do đó, quan trọng nhất là phải rèn luyện cho học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt như một công cụ giao tiếp (nói và viết) không thể thiếu để học tập, tổ chức, điều phối các hoạt động trong nhà trường, trong sản xuất, trong đời sống xã hội Năng lực giao tiếp được thể hiện ở bốn kĩ năng nghe, đọc, nói,

viết và kĩ năng cảm thụ, phân tích, bình giá văn học” [7, tr.7]

Để thực hiện những mục tiêu trên, về mặt lí luận dạy học các giáo trình dạy học tiếng hiện có đều khẳng định: Dạy học phát triển năng lực giao tiếp

Trang 14

vừa là nguyên tắc cơ bản vừa là một trong ba phương pháp quan trọng nhất

trong dạy học tiếng Việt Nguyên tắc này đòi hỏi:

- Việc lựa chọn và sắp xếp nội dung dạy học phải lấy hoạt động giao tiếp làm mục đích, tức là hướng vào việc hình thành các KN nghe, nói, đọc, viết cho HS Trong đó đặc biệt phải chú ý phát triển đầy đủ cả hai dạng giao

tiếp miệng (nói, nghe) và giao tiếp viết (viết, đọc) cho HS

- Phải xem xét các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức, nghĩa

là đưa chúng vào các đơn vị lớn hơn, ví dụ xem xét từ hoạt động trong câu

như thế nào, câu ở trong đoạn, trong bài ra sao

- Phải thông qua việc tổ chức hoạt động nói năng cho HS để dạy học tiếng Việt, nghĩa là phải sử dụng giao tiếp như một phương pháp dạy học chủ đạo trong dạy học tiếng Việt ở trường phổ thông vì: Nếu ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp thì lời nói được coi là bản thân sự giao tiếp bằng ngôn ngữ Dạy tiếng Việt theo phương pháp giao tiếp tức là dạy phát triển lời nói cho từng cá nhân HS Phương pháp giao tiếp coi trọng sự phát triển lời nói còn những kiến thức lý thuyết thì được nghiên cứu trên cơ sở phân tích các hiện tượng đưa ra trong bài dạy Để thực hiện phương pháp giao tiếp cần có

môi trường giao tiếp, các phương tiện ngôn ngữ và các thao tác giao tiếp

Ngoài các giáo trình, chương trình cũng như SGK, sách giáo viên (SGV), trong nhiều bài báo, công trình chuyên khảo của các nhà phương pháp, các GV trực tiếp dạy học cũng đều ít nhiều bàn tới vấn đề phát triển KN giao tiếp ngôn ngữ trong dạy học tiếng Các tác giả Nguyễn Viết Chữ, Phan Phương Dung, Nguyễn Thúy Hồng, Nguyễn Xuân Khoa, Nguyễn Trí, Trương Dĩnh, Đỗ Việt Hùng, trong các chuyên khảo và bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành đã đề cập một cách cụ thể đến các biện pháp rèn luyện từng KN giao tiếp nói, nghe, viết, đọc cho HS Có thể kể đến một số chuyên

khảo, bài viết tiêu biểu cơ bản như: “Rèn luyện và phát triển kỹ năng nói cho học sinh trung học cơ sở” của tác giả Nguyễn Thúy Hồng [35]; “Phát triển ngôn ngữ cho học sinh phổ thông” của tác giả Trương Dĩnh [18]; “Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh trong việc dạy học tiếng” của tác giả Đỗ Việt Hùng [36]; “Phát triển năng lực hoạt động lời nói trong việc dạy Tiếng Việt

Trang 15

trong nhà trường” của tác giả Nguyễn Xuân Khoa [37];… Riêng trong cuốn

“Phát triển ngôn ngữ cho học sinh phổ thông” [18], tác giả Trương Dĩnh đề

cập đến những vấn đề chung của công tác phát triển ngôn ngữ nói chung cho

HS, các cấp độ phát triển ngôn ngữ và đánh giá kết quả phát triển ngôn ngữ trong dạy học tiếng Việt ở nhà trường phổ thông hiện nay Đối với ngôn ngữ nói, tác giả có nêu ra sự phân biệt ngôn ngữ nói với ngôn ngữ viết, những KNN cần rèn luyện và các hình thức luyện nói

Nhìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đưa ra được những định hướng, phân tích cơ bản cho phương pháp dạy học tiếng Việt theo hướng phát triển KN, năng lực giao tiếp nói chung Tuy nhiên, cũng cần khẳng định các tài liệu trên chưa bao quát hết toàn bộ việc dạy học, rèn luyện các KN giao tiếp ngôn ngữ ở tất cả các dạng nghe, nói, đọc, viết cho HS

ở từng bậc học

2.2 Vấn đề dạy học phát triển kĩ năng nói ở Tiểu học

Cùng với yêu cầu đổi mới giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học nói riêng, vấn đề tổ chức dạy học, rèn luyện các KN giao tiếp bằng ngôn ngữ, trong đó có KNN cũng được nhiều nhà sư phạm, nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và tích cực đưa

ra những giải pháp, đề xuất nhằm góp phần giúp cho việc dạy học tiếng Việt

đạt mục tiêu phát triển các KN nghe, nói, đọc, viết tiếng mẹ đẻ cho HS

Trong công trình chuyên khảo “Một số vấn đề dạy học ngôn bản nói và viết ở tiểu học theo hướng giao tiếp” [50] và cuốn “Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em” [51], PGS.TS Nguyễn Quang Ninh cùng

các cộng sự đã trình bày chi tiết, hệ thống vai trò, mục tiêu, nội dung, biện pháp và hình thức rèn luyện từng KN theo định hướng dạy bằng giao tiếp và

để giao tiếp Với các KN giao tiếp miệng, đặc biệt là KNN, từ lý thuyết hội thoại, tác giả đã rút ra một số vấn đề quan trọng Theo đó, để HS làm một BT làm văn nói tốt, người GV cần phải chú ý tới một số điểm sau: phải chuẩn bị tốt nội dung bài nói, phải tạo được nhu cầu về hội thoại cho HS và phải tạo được hoàn cảnh giao tiếp tốt

Trang 16

Trong đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ “Một số biện pháp nâng

cao hiệu quả rèn kĩ năng nói cho học sinh tiểu học ở môn Tiếng Việt” [39] của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (mã số V2007-06), chủ nhiệm đề

tài - tác giả Trần Thị Hiền Lương đã xác định được các biện pháp dạy học rèn KNN cho HS xuất phát từ đặc điểm lứa tuổi HSTH, từ lý luận dạy học hiện đại, theo hướng tăng cường thực hành, luyện tập Trong đề tài này, tác giả đã

đề xuất được một số biện pháp rèn luyện KNN cho HSTH nói chung như rèn

KN phát âm, rèn KNN độc thoại, nói hội thoại

Trong cuốn sách “Một số vấn đề về dạy hội thoại cho học sinh tiểu

học” [60], tác giả Nguyễn Trí đã chọn lọc những kiến thức cơ bản, tối thiểu

về hội thoại dựa theo chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học ban hành năm

2001 và 2006, đồng thời lựa chọn cách trình bày các kiến thức dựa trên sự phân tích một số dẫn chứng cụ thể để người mới tiếp cận lí thuyết hội thoại dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng Bên cạnh đó, cuốn sách còn giới thiệu các kiểu BT dạy học luyện nói trong bộ SGK Tiếng Việt ở tiểu học

Đặc biệt, luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Hiền Tuyên với đề tài “Rèn kĩ

năng nghe - nói cho học sinh lớp 1 trong dạy học môn Tiếng Việt” [63] đã

dành sự quan tâm nghiên cứu về vấn đề tổ chức dạy học, rèn luyện KN nghe - nói cho một đối tượng HS cụ thể là HS lớp 1 ở bậc tiểu học Theo đó, trên cơ

sở hệ thống hóa, phân tích một cách chi tiết, cặn kẽ những cơ sở lí luận khoa học về tâm lí học, ngôn ngữ học, tâm lí học hoạt động của việc rèn KN nghe - nói cho HS đầu cấp tiểu học; khảo sát chương trình, hệ thống BT rèn KN nghe - nói trong SGK Tiếng Việt 1 cũng như khảo sát tình hình rèn KN nghe - nói cho HS lớp 1 trong thực tiễn dạy học, luận án đã đạt được những kết quả nghiên cứu mới, có thể vận dụng vào thực tiễn dạy học môn Tiếng Việt 1 cho

HS Một là, luận án đã đưa ra được những định hướng về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức rèn KN nghe - nói cho HS lớp 1 nhằm giúp GV tháo gỡ những khó khăn trong quá trình tổ chức hoạt động dạy tiếng Việt theo định hướng giao tiếp Hai là, từ các định hướng đó, luận án xác lập được quy trình rèn KN nghe - nói phù hợp thông qua hệ thống BT tương ứng nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Việt nói chung đồng thời giúp HS nâng cao

Trang 17

năng lực ngôn ngữ, đặc biệt biết cách sử dụng ngôn ngữ nói như một công cụ trong hoạt động giao tiếp cũng như các hoạt động học tập và vui chơi khác

Cùng quan điểm và định hướng phát triển năng lực ngôn ngữ với các

KN ngôn ngữ nghe, nói, đọc, viết cho HS nêu trên, tác giả Hồ Ngọc Đại đã

biên soạn các cuốn SGK: “Tiếng Việt lớp 1, Công nghệ giáo dục” (3 tập),

“Thiết kế Tiếng Việt lớp 1, Công nghệ giáo dục” (3 tập), “Tài liệu tập huấn giáo viên dạy Tiếng Việt lớp 1, Công nghệ giáo dục” dựa trên những phân

tích, lựa chọn khoa học ngôn ngữ về tiếng Việt hiện đại Cuốn sách đã lấy những tri thức khoa học về ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại làm tiền đề và diễn đạt nó dưới hình thức một môn học - môn Tiếng Việt ở trường tiểu học theo những nguyên tắc mới: nguyên tắc phát triển, nguyên tắc chuẩn mực, nguyên tắc tối thiểu Dựa vào những nguyên tắc này, Chương trình Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục (CGD) đã xác lập một quy trình dạy học tường minh: Thông qua hệ thống việc làm mà bản thân HS phải thực hiện, HS sẽ chiếm lĩnh được các tri thức khoa học cùng với các KN ngôn ngữ tương ứng

Ngoài ra, còn có một số bài viết, một số luận văn, luận án khác cũng đề cập đến vấn đề rèn luyện các KN ngôn ngữ, đặc biệt là KNN từ các phương

diện khác nhau như: “Dạy các kỹ năng nghe, nói cho học sinh tiểu học” [61] của tác giả Nguyễn Trí; “Một số vấn đề chung về kỹ năng nghe- nói cho học sinh lớp 1” [64] và “Một số biện pháp luyện kỹ năng nghe- nói cho học sinh đầu bậc tiểu học” [65] của tác giả Ngô Hiền Tuyên; “Về vấn đề dạy lời nói văn hoá trong giao tiếp ngôn ngữ cho học sinh qua môn Tiếng Việt” [19] của tác giả Phan Phương Dung; “Dạy học hội thoại cho học sinh tiểu học” [62] của tác giả Nguyễn Trí và Phan Phương Dung; “Về dạy học nói cho học sinh lớp 1 qua môn Tiếng Việt” [71], “Xây dựng bài tập dạy học hội thoại cho học sinh đầu bậc tiểu học” [72] và “Quy trình tổ chức thực hành các bài tập giao tiếp trong dạy học hội thoại cho học sinh tiểu học” [73] của tác giả Nguyễn Thị Xuân Yến; “Phương pháp dạy học Tập làm văn nói theo hướng giao tiếp cho học sinh lớp 2” [29] của tác giả Lê Thị Thanh Hà; “Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng hội thoại cho học sinh lớp 4” [56] của tác

giả Nguyễn Hồng Thúy;

Trang 18

Có thể khẳng định rằng, xét về phạm vi tìm hiểu, các công trình nghiên cứu của các tác giả kể trên đều đã ít nhiều bàn đến mục tiêu, nội dung, biện pháp phát triển KNN - một trong những KN ngôn ngữ quan trọng để tạo thành năng lực giao tiếp ngôn ngữ chung cho HS Tuy nhiên, có thể thấy các nội dung và biện pháp rèn luyện được đề xuất về cơ bản vẫn mang tính định hướng chung hoặc chỉ được đề cập có giới hạn về một vài quy trình, hình thức rèn luyện mà chưa được đặt ra những vấn đề cụ thể, có tính hệ thống cho việc bồi dưỡng, phát triển năng lực giao tiếp cho HS ở từng lớp học thuộc mỗi bậc học Do vậy, việc tiếp tục nghiên cứu để tìm ra những quy trình, biện pháp rèn luyện từng KN ngôn ngữ sao cho phù hợp với từng đối tượng HS ở từng bậc học nhằm nâng cao khả năng và hiệu quả sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội của các em là một việc làm cần thiết Hơn nữa, hướng nghiên cứu của đề

tài “Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 1 trong giờ dạy tiếng Việt ở một số trường tiểu học quận Kiến An, thành phố Hải Phòng” trong giai đoạn hiện

nay cũng có ý nghĩa thiết thực trong việc hỗ trợ cho GV trong dạy học môn Tiếng Việt 1 - CGD, đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục nước nhà

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng việc rèn KNN trong giờ dạy tiếng Việt, luận văn đề xuất một số biện pháp rèn KNN cho HS lớp 1 ở một số trường tiểu học thuộc quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói chung ở tiểu học

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Hệ thống hóa, phân tích những cơ sở lí luận về tâm lí học, ngôn ngữ học, tâm lí học hoạt động liên quan đến việc rèn KNN cho HS lớp 1 trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt

- Khảo sát chương trình, hệ thống BT rèn KNN trong SGK Tiếng Việt

1 - CGD; khảo sát, đánh giá thực trạng rèn KNN trong dạy học môn Tiếng

Trang 19

Việt cho HS lớp 1 ở một số trường tiểu học thuộc quận Kiến An, thành phố Hải Phòng

- Xây dựng nội dung và biện pháp tổ chức các hoạt động rèn KNN cho

HS lớp 1 thông qua dạy học môn Tiếng Việt 1 - CGD

- Thiết kế và tổ chức dạy thực nghiệm sư phạm các biện pháp rèn KNN cho HS lớp 1 đã được đề xuất và đưa ra kết luận, kiến nghị cần thiết

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn chính là nội dung và cách thức tổ chức rèn KNN cho HS lớp 1 trong dạy học môn Tiếng Việt 1 - CGD

Đề tài cũng giới hạn ở việc xác định nội dung, biện pháp và cách thức

tổ chức rèn KNN cho HS lớp 1 ở một số trường tiểu học trên địa bàn quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, hiện đang học theo Chương trình, SGK môn Tiếng Việt 1 - CGD

5 Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp khảo sát, thống kê

Phương pháp này được sử dụng trong việc khảo sát, thống kê thực trạng rèn KNN cho HS lớp 1 thông qua dạy học môn Tiếng Việt bằng việc dùng phiếu khảo sát, trao đổi trực tiếp với GV và HS, dự giờ các tiết học để tìm hiểu phương pháp dạy học của GV

5.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp này được sử dụng để:

- Hệ thống hóa tư liệu, tài liệu nghiên cứu để xác định được những vấn

đề lí luận cơ bản làm cơ sở khoa học vững chắc cho việc xác định yêu cầu,

Trang 20

tiêu chí và cách thức vận dụng các phương pháp, biện pháp dạy học vào tổ chức rèn luyện KNN cho HS lớp 1 trong quá trình dạy học tiếng Việt

- Phân tích những ưu điểm, hạn chế của thực trạng rèn KNN cho HS

lớp 1 hiện nay để làm cơ sở đề xuất các biện pháp hiệu quả trong việc rèn KNN cho HS thông qua dạy học môn Tiếng Việt

5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Phương pháp này được sử dụng để tiến hành dạy học thực nghiệm tại một trường tiểu học trên địa bàn quận Kiến An, thành phố Hải Phòng nhằm kiểm nghiệm và đánh giá tính khả thi cũng như hiệu quả của các biện pháp tổ chức rèn luyện KNN cho HS trong dạy học tiếng Việt mà luận văn đã xây dựng

5.4 Thủ pháp so sánh- đối chiếu

Thủ pháp này được dùng để so sánh, đối chiếu mục tiêu môn học với thực tế dạy học; đối chiếu kết quả học tập của HS trước và sau khi áp dụng các biện pháp được đề xuất thông qua thực nghiệm đối chứng

6 Giả thuyết khoa học

Hiện nay, việc rèn KNN cho HS lớp 1 còn chưa được GV chú trọng như các KN khác trong giao tiếp nên chưa đạt được kết quả mong muốn Vì vậy, nếu xây dựng và vận dụng được những nội dung rèn luyện KNN với các biện pháp, quy trình cụ thể dựa trên những cơ sở lí luận khoa học chắc chắn cùng việc khảo sát thực trạng được tiến hành chu đáo thì việc rèn KNN cho

HS lớp 1 sẽ đạt hiệu quả và chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học

sẽ được nâng cao

7 Đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao hiệu quả dạy học môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học nói chung và việc rèn KNN cho HS lớp 1 nói riêng Những đóng góp

đó được thể hiện ở những điểm sau:

- Xác lập một cách chọn lọc những vấn đề cơ bản trong lý thuyết ngôn ngữ học, tâm lí học và tâm lí học hoạt động… vận dụng vào quá trình dạy học tiếng Việt; nghiên cứu về Chương trình dạy học tiếng Việt ở bậc tiểu học và

Trang 21

khảo sát, đánh giá thực trạng rèn KNN cho HS lớp 1 hiện nay để làm cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng các biện pháp rèn KNN cho HS

- Đề tài đã đưa ra một số biện pháp rèn KNN cho HS lớp 1 trong giờ dạy tiếng Việt Đó là tổ chức cho HS nhận diện, ghi nhớ tiếng, thanh, âm, vần; xây dựng và sử dụng hệ thống BT thực hành rèn KNN cho HS trong dạy học tiếng Việt và tổ chức các trò chơi học tập để rèn KNN cho HS Những nội dung và biện pháp này được xác định một cách rõ ràng dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn Do vậy, những biện pháp đề xuất này có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho GV đồng thời cũng là những định hướng trong việc tổ chức dạy học môn Tiếng Việt cho HS lớp 1 hiện nay

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Một số biện pháp rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 1 trong giờ dạy tiếng Việt

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 22

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Những vấn đề chung về dạy học phát triển kĩ năng ngôn ngữ cho học sinh lớp 1

1.1.1 Kĩ năng và kĩ năng ngôn ngữ

Từ điển Tâm lí học đã định nghĩa một cách khái quát: “Kĩ năng là giai đoạn nắm vững cách hành động dựa trên quy tắc nào đó và hành động phù hợp với quy tắc ấy trong quá trình giải quyết nhiệm vụ đã xác định” [70] Tuy

nhiên, cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về KN và đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về nó Khái quát lại, có thể thấy có ba nhóm quan điểm chính như sau:

Nhóm quan điểm thứ nhất coi KN là mặt kĩ thuật thao tác hành động hay hoạt động Đại diện cho quan niệm này là V.A.Cruchetxki, V.V.Tseb-seva, A.V.Petrovxki, Trần Trọng Thuỷ, Hà Nhật Thăng Theo đó, KN là cách thức hoạt động dựa trên cơ sở tri thức và kỹ xảo Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập, KN tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà trong những điều kiện đã thay đổi Như vậy, theo quan niệm này, KN là phương tiện thực hiện hành động mà con người đã nắm vững Người có KN hoạt động nào đó là người nắm được các tri thức về hoạt động đó và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu cần có mà không cần tính đến kết quả của hành động Như vậy, nhóm quan điểm này chủ yếu nhấn mạnh đến mặt kĩ thuật của KN, coi KN

Trang 23

như là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động, chưa xem xét đến kết quả của hành động

Nhóm quan điểm thứ hai nhìn nhận xem xét KN nghiêng về mặt năng lực của con người Đó là quan niệm của các tác giả N.Đ.Levitôv, P.A.Ruđich, X.I.Kixegof, K.K.Platonov, X.Roegiers, K.Barry, KenKing, Trần Quốc Thành, Nguyễn Quang Uẩn, Lê Văn Hồng, Ngô Công Hoàn, Vũ Dũng Theo đó, KN là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hành động phức tạp hơn, bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định Kỹ năng có liên quan nhiều đến thực tiễn, đến việc áp dụng tri thức vào thực tiễn Như vậy, theo quan niệm này, KN không chỉ là kĩ thuật, thao tác thực hiện hoạt động mà còn là năng lực đem lại kết quả cho hoạt động Đây là quan niệm tương đối toàn diện và khái quát về KN Tuy nhiên, các tác giả trên còn chưa thực sự quan tâm đến mặt thao tác, hành động của KN

Theo chúng tôi về thực chất hai luồng ý kiến trên không phủ định nhau,

sự khác biệt chỉ là ở chỗ mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc của KN cũng như những đặc tính của chúng Trên cơ sở hai cách tiếp cận trên, chúng tôi quan niệm: KN là sự thực hiện có hiệu quả một hành động bằng cách vận dụng những kiến thức, kỹ xảo để giải quyết nhiệm vụ mới một cách linh hoạt, sáng tạo Quan niệm này không thiên về mặt kỹ thuật mà cũng không nặng về mặt năng lực, nó được xem xét trên cả hai phương diện

Xem xét các nhóm quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy, để tiếp cận vấn

đề KN, cần nắm được năm nội dung sau đây: Một là, nói tới KN là nói tới

hành động có mục đích Kỹ năng luôn gắn liền với những hành động cụ thể như: KN sư phạm, KN giao tiếp, KN dạy học Không có KN chung chung, trừu tượng, tách khỏi hành động Cấu trúc của KN phụ thuộc vào cấu trúc của hoạt động mà chủ thể đang thực hiện, chẳng hạn KN dạy học phụ thuộc vào cấu trúc tâm lý của hoạt động dạy, KN học tập phụ thuộc vào cấu trúc tâm lý

hoạt động học Hai là, nghiên cứu khái niệm KN cần quan tâm ở hai khía

Trang 24

cạnh là mặt kỹ thuật của hành động, thao tác, kết quả của hành động và mặt

năng lực của con người Ba là, KN có hai cấp độ: KN bậc thấp và KN bậc

cao Ở cấp độ KN bậc thấp, công việc hoàn thành trong hoàn cảnh thông thường, điều kiện không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục và còn phải tập trung chú ý Ở cấp độ KN bậc cao, công việc được tiến hành một cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo phù hợp với mục tiêu, yêu cầu

trong các điều kiện, hoàn cảnh biến đổi phức tạp và đạt hiệu quả cao Bốn là,

KN không phải là bẩm sinh của mỗi cá nhân, KN là sản phẩm của hoạt động thực tiễn Đó là quá trình con người vận dụng những kiến thức, kỹ xảo vào

hoạt động thực tiễn để đạt được mục đích đã đề ra Năm là, để đánh giá một

cá nhân có KN, cần phải dựa vào những tiêu chuẩn như: cá nhân đó hiểu biết

về mục đích của hành động cũng như các điều kiện, phương tiện triển khai hành động đó; hành động diễn ra đúng đắn và thành thạo trong thực tiễn; KN

đó diễn ra trong các tình huống khác nhau, thời gian ngắn nhưng kết quả cao Một hành động diễn ra còn nhiều sai sót, tốn nhiều thời gian, năng lượng thần kinh, cơ bắp thì chưa thể gọi là hành động có KN

Như vậy, có thể định nghĩa một cách khái quát về KN như sau:“Kỹ năng là khả năng của con người thực hiện có kết quả một công việc để đạt được mục đích đã xác định bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức hành động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và phương tiện nhất định”

ý nghĩa nhất định, tạo nên một hệ thống tín hiệu hay ký hiệu dùng làm công

cụ giao tiếp giữa người với người trong một xã hội nhất định Trong tất cả các phương tiện mà con người sử dụng để giao tiếp thì ngôn ngữ là phương tiện

duy nhất thoả mãn được nhu cầu của con người “Ngôn ngữ là công cụ để tư

Trang 25

duy, tư duy là hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ” [2, tr.13] “Ngôn ngữ không

chỉ có chức năng làm phương tiện tư duy mà còn là phương tiện giao tiếp

quan trọng nhất của con người” [54, tr.44]

Như vậy, từ các khái niệm về ngôn ngữ, có thể hiểu KN ngôn ngữ là khả năng của một người có thể lựa chọn hệ thống những âm, những từ và những quy tắc kết hợp chúng để làm phương tiện giao tiếp với nhau

1.1.1.2 Các loại kỹ năng ngôn ngữ và mối quan hệ giữa các kỹ năng

a) Các loại kỹ năng ngôn ngữ

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đưa ra những vấn đề về

KN ngôn ngữ tiếng Việt Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho HS Năng lực ngôn ngữ của HS được thể hiện chủ yếu ở bốn dạng hoạt động, tương ứng với đó là bốn KN: nghe, nói, đọc, viết

- Kỹ năng nghe

Việc nghe được chia thành hai loại: “nghe trong hội thoại (mang tính chủ động, vùa được nghe, vừa được nói) và nghe đơn thoại (mang tính bị động, chỉ được nghe)” [49, tr.211]

Nghe trong hội thoại và nghe trong đơn thoại có những điểm tương đồng, như phụ thuộc vào chất lượng âm thanh, tiếng ồn, độ chú ý hay phân tán của người nghe Tuy nhiên nghe trong hội thoại và nghe trong đơn thoại còn có những điểm khác biệt sau:

+ Nghe trong hội thoại: Là hoạt động nghe với sự hiện diện trực tiếp của những người tham gia hội thoại trong điểm không gian hẹp Sự chuyển đổi từ vai nghe sang vai nói và ngược lại từ nói sang nghe không diễn ra thường xuyên Việc nghe trong hội thoại không cần ghi chép vì người nghe cũng là người xây dựng nội dung giao tiếp, và hơn nữa những nội dung này

đa dạng, phong phú, nhiều khi tản mạn nên khó có thể ghi chép được

+ Nghe trong đơn thoại: Nghe trong đơn thoại là hoạt động nghe thường gặp trên lớp, trong hội trường, hoặc những nơi công cộng khác Nghe

Trang 26

trong đơn thoại, không có sự chuyển đổi vai như trong hội thoại Nội dung của đơn thoại do người nói quy định, người nghe không tham dự trực tiếp vào việc xác lập nội dung nói

- Kỹ năng nói

Ngôn ngữ nói là phương tiện để mã hoá các thông tin (những suy nghĩ, tri thức…) trong đầu con người (GV dạy học, người học hoạt động chẳng hạn) khi chuyển tải ra ngoài bằng lời (giao tiếp, truyền đạt) Trong dạy học, những thông tin từ GV sẽ giúp cho HS hiểu đúng ý tưởng của GV, nội dung khoa học, thực hiện chính xác các yêu cầu của GV, lưu trữ các thông tin từ

GV, giao tiếp giữa người học với nhau Ngoài tính chính xác về từ ngữ, ngôn ngữ nói của GV còn cần đạt đến tính nghệ thuật về mặt ngữ âm, cấu trúc câu sao cho lời nói được biểu đạt ngắn gọn, trong sáng, súc tích, giàu hình ảnh (kể

cả tình cảm), dễ hiểu và mang tính thuyết phục cao Sử dụng đúng và phù hợp các tính chất vật lí của lời nói như cường độ, cao độ, tốc độ nói cũng là một nghệ thuật nói Kỹ năng nói chính là nói đúng về mặt ngữ âm, sử dụng từ đúng nghĩa, đặt câu đúng, sử dụng câu phù hợp với bối cảnh giao tiếp Kỹ năng nói có thể chia thành ba kiểu tình huống nói: tương tác, tương tác cục

bộ, không tương tác “Kỹ năng nói đòi hỏi phải sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (từ ngữ, câu, đoạn, ngữ điệu) và các phương tiện phụ trợ khác (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…) Khi rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh, cần rèn luyện các dạng nói theo một đề tài, trả lời câu hỏi theo các thể văn khác nhau và tham gia vào đối thoại, thảo luận” [2, tr.31-32]

- Kỹ năng đọc

“Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn

vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm) [43, tr.3].“Đọc là hoạt động tiếp nhận thông tin bằng chữ viết, gồm hai hình thức đọc thành tiếng và đọc thầm Trình độ đọc của học sinh được quy định căn cứ vào các mặt quan hệ

Trang 27

mật thiết dưới đây: Kỹ năng đọc thành tiếng, đọc thầm, khả năng thông hiểu

văn bản đọc” [2, tr.31]

Tập đọc là một phân môn có ý nghĩa quan trọng ở tiểu học, nó trở thành đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học Đầu tiên trẻ phải học đọc, sau đó trẻ đọc để học Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được một ngôn ngữ dùng trong giao tiếp và học tập, nó cũng là công cụ để học tập các môn học khác, nó tạo

ra hứng thú và động cơ học tập, đồng thời nó tạo điều kiện để HS có khả năng

tự học và tinh thần học tập, tập đọc là một khả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh Biết đọc sẽ giúp các em biết nhiều hơn, hướng cho các em tới lòng yêu cái thiện, yêu cái đẹp

- Kỹ năng viết

“Kỹ năng viết bao gồm các kỹ năng viết chữ, kỹ năng viết đúng chính tả, từ

và câu, kỹ năng viết các bài văn theo các đề tài và thể loại khác nhau” [2, tr.32]

Đối với người GV, KN này cũng hết sức cần, chủ yếu thể hiện ở soạn bài giảng, giáo án và viết bảng Ngôn ngữ viết không những cần có yêu cầu như

đã nói ở trên để thể hiện trong các giáo án, đặc biệt là các câu hỏi, yêu cầu HS hoạt động sao cho rõ ràng, hướng đích và đơn trị,… mà còn cần có yêu cầu khả năng lựa chọn từ ngữ để viết tóm tắt những nội dung giảng bài lên bảng, tránh việc viết quá nhiều trên bảng

Viết theo nghĩa đơn giản là hành động đặt chữ, biểu tượng, số, từ, ý lên giấy theo quy luật, cấu trúc của ngôn ngữ (hoặc lên màn hình máy tính) Viết thường là để nhấn mạnh hoặc giải thích ý tưởng Một bài viết tốt là một bài viết rõ ràng, súc tích, đúng ngữ pháp và cú pháp, đúng hình thức trình bày, người đọc có thể dễ dàng hiểu được đúng và chính xác ý tưởng, mục đích của người viết Viết là một công cụ tốt để giao tiếp có hiệu quả, muốn rèn luyện

KN viết tốt cần phải luyện tập Viết giúp người gửi thông tin có thể xem xét tất cả các khía cạnh chi tiết của thông tin mà mình gửi dưới dạng văn bản chính xác Viết làm người nhận thông tin có thể xem qua thông tin sau đó

Trang 28

nghiên cứu nó chi tiết hơn, lưu lại thông tin lâu dài, đồng thời để truyền tải

thông tin

b) Mối quan hệ giữa các kỹ năng

“Môn Tiếng Việt dạy ở trường tiểu học nhằm trang bị cho học sinh một công cụ giao tiếp, phát triển tư duy và tạo cơ sở cho việc học tập các môn học khác Trong bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết chúng ta không thể quá coi trọng

kỹ năng này mà coi nhẹ kỹ năng khác” [48, tr.8] Bốn KN nghe, nói, đọc, viết

đều có vai trò quan trọng như nhau, chúng luôn hỗ trợ, bổ sung và có mối

quan hệ mật thiết với nhau.“Nghe, nói, đọc, viết là những hình thức khác nhau trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

+ Nghe, nói là hoạt động giao tiếp bằng âm thanh

+ Đọc, viết là hoạt động giao tiếp bằng chữ viết

+ Nghe, đọc là hoạt động tiếp nhận lời nói

+ Nói viết là hoạt động tạo lập lời nói

Chính vì những đặc điểm này mà trong dạy học tiếng nói chung và tiếng Việt nói riêng, chúng ta không chỉ rèn cho học sinh kỹ năng viết mà còn rèn cả kỹ năng nói, không chỉ rèn kỹ năng đọc mà còn cần cả kỹ năng nghe

cho học sinh” [33, tr.81-82] Nếu nghe - nói tốt thì tiếp thu kiến thức các môn

học cũng tốt hơn, tư duy phát triển nhanh hơn và KN đọc - viết cũng tốt hơn

Và ngược lại, nếu đọc - viết tốt thì tác dụng cũng tương tự như vậy, nghĩa là

cũng sẽ giúp KNN phát triển có hiệu quả hơn “Một học sinh có khả năng nghe nói tốt thì việc tiếp thu kiến thức các môn học sẽ tốt hơn, tư duy phát

triển nhanh hơn dẫn đến kỹ năng đọc, viết cũng tốt hơn” [48, tr.8] Vì thế

theo nguyên tắc giao tiếp người ta thường đồng thời rèn luyện cả bốn KN nghe, nói, đọc, viết

1.1.2 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của học sinh lớp 1

Sự phát triển ngôn ngữ của HS lớp 1 có quan hệ chặt chẽ với vai trò của GV trong việc bồi dưỡng phát triển ngôn ngữ cho các em Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng khả năng ngôn ngữ của trẻ phát triển

Trang 29

mạnh nhất trong 3 năm đầu tiên của cuộc sống, đó là thời gian bộ não của trẻ phát triển mạnh nhất và đầy đủ nhất Ngay từ một tuổi rưỡi đến hai tuổi trẻ em

đã bắt đầu tập nói Ngôn ngữ của trẻ phát triển dần theo thời gian Đến 5 tuổi, hầu hết trẻ em biết vài nghìn từ và nắm được hầu hết toàn bộ các quy tắc ngữ pháp Trẻ em phát triển ngôn ngữ theo tốc độ khác nhau và theo nhiều cách khác nhau Sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ nhỏ còn là một trong những dự báo tốt nhất về sự thể hiện sau này của đứa trẻ ở trường Đến tuổi lên 5, đứa trẻ chậm phát triển ngôn ngữ hoặc lời nói thường thể hiện khó khăn trong suốt thời gian học phổ thông Trẻ có vốn từ vựng lớn và nắm chắc các quy tắc ngữ pháp sẽ dễ dàng đọc và viết Khi 6 tuổi, trẻ đến trường, lúc này ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh cả về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Ở giai đoạn này, ngôn ngữ của các em tăng lên nhanh, cú pháp được phát triển, trình bày ngắn gọn,

rõ ràng vấn đề do tiếp xúc với các khái niệm mang tính khoa học và yêu cầu của hoạt động học tập, của hoạt động trí tuệ Nhờ tham gia các hoạt động học tập, vui chơi và giao tiếp với những người xung quanh, được tiếp thu các tri thức qua các môn học mà vốn từ ngữ của các em dần phong phú và giàu hình ảnh hơn Tuy nhiên, do chưa có ý thức luyện tập nên các em phát âm còn sai đối với âm, vần khó, KN vận dụng cấu trúc câu vào diễn đạt ý còn nhiều hạn chế và lúng túng

Từ 7 tuổi trở đi, trẻ em trở nên khó học ngôn ngữ hơn Quá trình tư duy của trẻ thay đổi kéo theo việc học ngôn ngữ cũng thay đổi Chính vì thế, trường tiểu học là môi trường giáo dục tốt nhất hướng dẫn trẻ phát triển vốn

từ, học các cấu trúc chính xác của tiếng mẹ đẻ, mở mang hiểu biết, hoàn thiện

nhân cách

Việc hình thành và nâng cao KNN cho HS là bước đầu tiên trong quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ Để phát triển ngôn ngữ của trẻ, GV cần có ý thức luyện ngôn ngữ nói cho HS (chủ yếu là ngôn ngữ đối thoại) trong giao tiếp, vì ngôn ngữ giao tiếp có ảnh hưởng tới mọi mặt trong đời sống nhà trường của trẻ em GV cần chú ý lựa chọn từ ngữ, phát âm chuẩn xác, sử dụng

Trang 30

cách diễn đạt ngắn gọn, dễ hiểu, giản dị, trong sáng, phù hợp với tâm lí và nhận thức của HS lớp 1

Để hoạt động học tập được thực hiện tốt thì GV cần động viên, khuyến khích các em Sự động viên khuyến khích kịp thời giúp các em tự tin hơn và hình thành phát triển những phẩm chất tâm lí tích cực, mang lại hiệu quả học tập tốt đẹp Những điều trên cho ta thấy, việc học tiếng Việt nói chung và việc rèn các KN ngôn ngữ nói riêng ở tiểu học cần dựa trên nền tảng vốn sống, kinh nghiệm sử dụng ngôn ngữ của trẻ để tiếp tục phát huy năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy bằng ngôn ngữ của các em Việc tìm ra những biện pháp

và hình thức tổ chức phù hợp để phát triển KN ngôn ngữ cho HSTH nói chung, trước hết là HS lớp 1 là hết sức cần thiết để góp phần thực hiện mục tiêu của môn học và bậc học này

1.1.3 Vấn đề phát triển kĩ năng nói cho học sinh lớp 1

1.1.3.1 Vai trò của kĩ năng nói đối với học sinh lớp 1

a) Kĩ năng nói với sự hình thành và phát triển nhân cách

Trong cuộc sống cá nhân, các KN giao tiếp bằng ngôn ngữ, trong đó có KNN đóng vai trò vô cùng quan trọng Việc vận dụng KNN vào trong cuộc sống của mỗi con người chính là năng lực vận dụng có hiệu quả những tri thức về giao tiếp, giúp cá nhân tạo dựng được chỗ đứng trong xã hội Đối với lứa tuổi HS đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách thì KNN đóng vai trò quan trọng, vì nhờ có KNN mà các em có thể tự tin giao tiếp, cũng như tham gia vào hoạt động giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội

b) Kĩ năng nói là phương tiện giúp học sinh lĩnh hội tri thức

Trong chương trình giáo dục phổ thông, việc rèn KNN gắn liền với phần phát triển ngôn ngữ Kỹ năng nói trở thành động lực phát triển tình cảm ngôn ngữ và thính giác ngôn ngữ cho HS Kỹ năng nói chính là một trong bốn

KN trong giao tiếp, là điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển ngôn ngữ của HS Trong quá trình dạy học, thông qua giao tiếp bằng lời nói, GV truyền thụ kiến thức, những kinh nghiệm của xã hội, bản thân, giúp các em

Trang 31

hiểu và vận dụng được các tri thức đó vào trong hoạt động học và trong cuộc sống thường ngày của các em Cũng nhờ có ngôn ngữ nói mà GV biết được

năng lực mọi mặt của HS để có phương pháp dạy học hiệu quả

c) Kĩ năng nói tạo nên hệ giá trị sống tích cực của học sinh

Học sinh tiểu học là lứa tuổi đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý Chính vì vậy, hình thành phát triển nhân cách HSTH có tính chất nền tảng cho sự phát triển nhân cách Do đó, phát triển KNN cho HSTH có tầm quan trọng rất lớn trong sự phát triển sau này của HS Phát triển KNN cho HSTH sẽ giúp các em hướng tới giá trị sống tích cực, hành vi văn hóa ứng xử và giá trị sống tích cực; đó là giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ, giá trị về lòng khoan dung, đức độ, giá trị về trí tuệ, sáng tạo Việc rèn KNN cho HSTH giữ vai trò rất to lớn trong việc bắt đầu tạo nên hệ giá trị sống cho các

em, giúp các em thể hiện được giá trị của bản thân vào cuộc sống và từ đó, các em trưởng thành với một hệ giá trị tích cực bởi thành quả của quá trình giáo dục Bên cạnh đó, việc giáo dục KNN còn góp phần xây dựng và tạo nên nét văn hóa trong nhà trường, đó là văn hóa ứng xử và văn hóa giao tiếp

d) Kĩ năng nói giúp học sinh tạo lập các mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống

Đối với HSTH, giao tiếp giúp cho HS trao đổi tri thức, thông tin trong học tập, rèn luyện, chia sẻ các vấn đề trong cuộc sống Nhờ có giao tiếp, HS biết cách bày tỏ thái độ và quan điểm của mình trong quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội Vì vậy, đối với HSTH, chúng ta cần hướng dẫn các em, giúp các em biết - hiểu - hành động và cộng tác trong quan hệ giao tiếp với người khác Ở đây, ta thấy vai trò của KN giao tiếp - KN ngôn ngữ trong hình thành các mối quan hệ ở lứa tuổi học trò ở bậc tiểu học Những tiếp xúc rộng rãi với bạn bè, quan hệ với các thầy cô giáo thông qua việc học, sinh hoạt, vui chơi mà các em đã xuất hiện nhu cầu giao tiếp, hình thành các mối quan hệ

xã hội mới trong lớp, trong trường Yêu quý thầy cô, thân thiết với bạn bè, chia sẻ đồ chơi, háo hức khám phá đã làm cho các mối quan hệ của các em trở thành rộng hơn, sinh động hơn

Trang 32

1.1.3.2 Mục đích, yêu cầu rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 1

a) Mục đích

Luyện nói trong nhà trường là giúp HS có thói quen nói trong những môi trường giao tiếp khác nhau Nó được thực hiện một cách hệ thống theo những chủ đề nhất định, gắn với những vấn đề quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày, đảm bảo những yêu cầu cơ bản về ngôn ngữ và phi ngôn ngữ (lời, mạch lạc, liên kết, các hình thức lời nói, các quy tắc hội thoại, cử chỉ, nét mặt, âm lượng, sức hấp dẫn )

Đối với HS lớp 1, KNN có vai trò hết sức quan trọng Trong bốn KN: nghe, nói, đọc, viết thì KNN có vị trí thứ hai trong yêu cầu cơ bản cần đạt của

HS Chính vì vậy việc rèn KNN cho HS lớp 1 nhằm mục đích giúp các em diễn đạt rõ ràng, mạch lạc ngôn ngữ tiếng Việt, để từ đó các em học tốt các môn học khác

b) Yêu cầu rèn kỹ năng nói

Yêu cầu quan trọng nhất khi rèn KNN là GV cần chú ý đến chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt Để HS nói chuẩn ngữ âm, GV cần phải rèn cho HS có những khả năng sau:

- Rèn luyện khả năng nghe lời nói (rèn luyện thính giác ngôn ngữ)

+ Luyện cho trẻ khả năng nghe được các âm vị và sớm phân biệt chúng (“nhà” khác “già”, “cơm” khác “rơm”, “cơm” khác “cam”…)

+ Luyện cho trẻ tri giác được tính biểu cảm của ngôn ngữ (sự âu yếm, giận dữ, sự du dương của một bài hát ru…)

+ Luyện khả năng nghe: Chú ý nghe, nghe cao độ, nghe từng âm vị, tri giác tốc độ, nhịp độ lời nói…

Cần đặt HS vào trong môi trường âm thanh, HS phải được nghe âm và

âm thanh ngôn ngữ Trẻ càng thu nhận được nhiều tín hiệu ngôn ngữ bao nhiêu thì sự phát triển lời nói càng nhanh chóng bấy nhiêu Khả năng nghe tốt

sẽ tạo điều kiện cho khả năng nói phát triển

- Rèn luyện khả năng phát âm

Trang 33

+ Rèn luyện bộ máy phát âm: Phát triển sự linh hoạt của lưỡi, môi, hàm dưới… Sự chuyển động nhịp nhàng, linh hoạt của bộ máy phát âm sẽ giúp cho âm thanh ngôn ngữ chuẩn hơn

+ Luyện thở ngôn ngữ: Luồng hơi từ phổi ra giúp cho sự cấu âm gọi là thở ngôn ngữ Thở ngôn ngữ đúng tạo điều kiện cho HS phát âm rõ nét, giữ được cường độ nói phù hợp, lời nói khúc triết, nhịp nhàng, ngữ điệu biểu cảm…

+ Luyện giọng: Giọng nói thể hiện đầy đủ tất cả các mặt âm thanh ngôn ngữ Luyện giọng giúp HS biểu hiện thái độ, tình cảm của mình bằng lời nói, trong lời nói Luyện giọng là rèn luyện đặc tính của giọng nói (cao độ, cường

độ, âm sắc…) Phương pháp cơ bản để luyện giọng là đọc và kể diễn cảm dưới nhiều cách (bằng nói, bằng trò chơi đóng kịch…)

Yêu cầu cuối cùng của nhiệm vụ rèn luyện khả năng phát âm là HS phải phát âm đúng tất cả các âm vị trong tiếng Việt

- Rèn luyện ngữ điệu của lời nói

Ngữ điệu là tổng hợp các phương tiện biểu cảm ngữ âm của lời nói, bao gồm giai điệu, tốc độ, nhịp điệu, trọng âm, âm sắc… Rèn luyện ngữ điệu của lời nói giúp HS biết cách điều chỉnh hơi thở ngôn ngữ để tạo nên sự hợp lý của

âm thanh ngôn ngữ về cường độ, nhịp điệu, tốc độ của lời nói Rèn luyện cho

HS sử dụng ngữ điệu để tạo nên sự biểu cảm về phương diện âm thanh lời nói

1.2 Một số lí thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.2.1 Lí thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ và việc vận dụng vào rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1

1.2.1.1 Lí thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

a) Giao tiếp và giao tiếp ngôn ngữ

Giao tiếp là nhu cầu và điều kiện tất yếu không thể thiếu của cuộc sống con người Thông qua giao tiếp, cá nhân gia nhập vào các quan hệ xã hội với toàn cộng đồng, nhờ có giao tiếp con người tiếp thu nền văn hoá xã hội và biến thành của riêng mình, qua giao tiếp con người biết được giá trị xã hội của

Trang 34

người khác và của bản thân, trên cơ sở điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực xã hội Vì vậy giao tiếp không chỉ quan trọng đối với cuộc sống con người, với tồn tại và phát triển của xã hội loài người nói chung mà còn có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành nhân cách mỗi cá nhân trong cộng đồng…

Trong cuốn giáo trình Giản yếu về ngữ dụng học, Đỗ Hữu Châu viết “Giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin (bao gồm cả tri thức, tình cảm, thái

độ, ước muốn, hành động,…) giữa ít nhất hai chủ thể giao tiếp (kể cả trường hợp một người giao tiếp với chính mình) diễn ra trong một ngữ cảnh và một tình huống nhất định, bằng một hệ thống tín hiệu nhất định” [13, tr.8]

Với cách hiểu như trên, có thể thấy giao tiếp đóng một vai trò quan trọng đối với con người và xã hội loài người Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người Nhu cầu của con người trước hết là nhu cầu được tiếp xúc với người khác Đó là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống con người đồng thời cũng là một trong những nhu cầu đặc trưng và xuất hiện sớm nhất ở con người Nó quy định hành vi của con người không kém gì cái được gọi là nhu cầu sống Điều đó là tự nhiên bởi vì giao tiếp là điều kiện cần thiết cho sự phát triển bình thường của con người như là thành viên của xã hội, như là

nhân cách C Mác cũng chỉ rõ rằng: “Sự phát triển của một cá nhân được quy định bởi sự phát triển của tất cả các cá nhân khác mà nó giao lưu một cách trực tiếp” Có thể nói, ở đâu có sự tồn tại của con người thì ở đó có sự

giao tiếp giữa con người với con người Giao tiếp là cơ chế bên trong của sự

tồn tại và phát triển của con người Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu “vĩ đại nhất”, “phong phú nhất” Sự phát triển của nhu cầu này trong một con người chính là “một điều kiện làm cho con người trở thành con người”

Các hình thức giao tiếp hết sức đa dạng Đó có thể là điệu bộ, cử chỉ, các loại dấu hiệu, kí hiệu, tín hiệu (như hệ thống kí hiệu toán học, hóa học, sinh học, hệ thống tín hiệu thông tin liên lạc, hệ thống tín hiệu đèn giao thông, biển báo giao thông, ), là các bản nhạc với nhiều cung bậc âm thanh, các tác phẩm điêu khắc, hội họa được thể hiện qua những hình khối, màu sắc,

Trang 35

Mục đích của giao tiếp có thể chỉ là sự trao đổi thông tin đơn thuần (như việc sử dụng các kí hiệu toán học, hóa học) mà cũng có thể là sự trao đổi

tư tưởng, tình cảm, sự biểu lộ cảm xúc (như trong âm nhạc, hội họa)

Đối với xã hội loài người, trong số các hình thức giao tiếp mà con người sử dụng thì hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ là hình thức giao tiếp

phổ biến, quan trọng nhất và hiệu quả nhất Nói như Lênin: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” So với các phương

tiện giao tiếp khác, ngôn ngữ vượt trội hơn hẳn

b) Các nhân tố trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

Nhân tố giao tiếp là những nhân tố có mặt trong cuộc giao tiếp, ảnh hưởng, chi phối hiệu quả của cuộc giao tiếp đó Có thể thấy rõ rằng mỗi nhân

tố giao tiếp đều để lại dấu ấn của mình trong lời nói - sản phẩm của hoạt động giao tiếp và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc tổ chức xây dựng lời nói Chính vì thế, từ việc xác định lại các nhân tố này và chỉ ra sự tác động của chúng trong hoạt động giao tiếp, một lần nữa chúng tôi muốn khẳng định đây là những nhân tố thể hiện đậm nét nhất việc chi phối của các nhân tố bên ngoài ngôn ngữ tới việc sử dụng ngôn ngữ và chi phối trực tiếp đến hiệu quả của việc giao tiếp Để hiểu sâu hơn về điều này, chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng nhân tố đó

- Mục đích giao tiếp

Mỗi một văn bản (bài viết, bài nói) thường có một hoặc một vài mục đích giao tiếp riêng Có thể mục đích đó là sự thông báo tin tức mới, trao đổi một vài vấn đề được mọi người quan tâm, hoặc cũng có thể là sự phê phán động viên, cổ vũ, hoặc cũng có thể đó là sự đe dọa, lên án,… Mục đích giao tiếp rất đa dạng và sẽ được xác định một cách cụ thể tuỳ thuộc vào từng cuộc giao tiếp Mục đích của một văn bản có thể chia nhỏ ra thành: Mục đích tác động về nhận thức, mục đích tác động về tình cảm và mục đích tác động về hành động Hiệu quả của việc giao tiếp được đánh dấu bằng mức độ những mục đích giao tiếp đã đạt được đến chừng mực nào Mục đích đó không phải

Trang 36

lúc nào cũng có thể được nhận ra ngay tức thời Trong đại đa số trường hợp, chúng ta có thể dễ dàng nhận diện ngay được hiệu quả của việc giao tiếp Tuy nhiên, trong thực tế, cũng có những cuộc giao tiếp mà người ta chỉ có thể nhận ra hiệu quả của nó sau một thời gian dài, thậm chí năm, mười năm sau mới có thể thấy được Nhìn một cách khái quát nhất, một văn bản được coi là đạt hiệu quả giao tiếp khi văn bản đó có sự tác động tới người đọc, làm cho họ thay đổi về nhận thức, biến đổi về tình cảm và tác động về hành động Ngược lại, những văn bản không đạt được đích đặt ra là những văn bản không đạt hiệu quả giao tiếp

- Nhân vật giao tiếp

Người viết, người nói (người phát) và người đọc, người nghe (người nhận) - những nhân vật tham dự quá trình giao tiếp - được gọi chung là những nhân vật giao tiếp Trong hoạt động giao tiếp, nếu người phát ngôn luôn là một, thì người nhận không phải như vậy Có khi người nhận là một nhưng có khi người nhận lại là số đông (như trường hợp giáo viên giảng dạy trong nhà trường, trường hợp một báo cáo viên nói trước công chúng, ) Nhưng cũng

có những trường hợp, mặc dù người nhận là số đông nhưng vẫn có đối tượng giao tiếp đích thực mà người phát hướng tới Ở những trường hợp ấy, người nhận đích thực sẽ nhận ra trong văn bản những tín hiệu dành cho bản thân mình Có người đã nghĩ rằng khi mình đã là người phát thì mình muốn trình bày nội dung văn bản thế nào cũng được, tuỳ thuộc vào ý thích của bản thân Đây là ý nghĩ sai lầm Bởi lẽ, hoạt động giao tiếp, như chúng ta đã nói tới ở trên bao giờ cũng gồm người phát và người nhận Vì vậy, hiệu quả giao tiếp không phải chỉ phụ thuộc vào người phát mà còn phụ thuộc vào cả người nhận Nói, viết những vấn đề mà người nhận không hiểu hoặc không muốn nhận; hoặc nói viết những vấn đề không phù hợp với nếp nghĩ, với thói quen trong đời sống thường ngày của người nhận,… thì có thể nói rằng cuộc giao tiếp đã không đạt hiệu quả Sự hiểu biết về đối tượng giao tiếp càng sâu sắc bao nhiêu thì hiệu quả của việc giao tiếp càng cao bấy nhiêu

Trang 37

- Nội dung giao tiếp

Nội dung giao tiếp chính là mảng hiện thực được đề cập tới trong văn bản Đó có thể là hiện thực trong thực tế khách quan bên ngoài con người (những sự vật hiện tượng của tự nhiên, xã hội được con người nhận thức) cũng có thể là hiện thực thuộc về con người, thuộc nội tâm con người, kể cả nội tâm người phát và người nhận (những tư tưởng, tình cảm những câu chuyện tưởng tượng,…) Và đó cũng có thể là ngôn ngữ và các hành động ngôn ngữ hay bản thân cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ Tuy nhiên, giữa ý định của người phát (nội dung dự kiến) với sản phẩm của việc thực hiện ý định đó (văn bản) thường bao giờ cũng có một khoảng cách nhất định Không phải lúc nào người phát cũng có thể thể hiện hết, hoàn toàn chính xác những ý định của mình trong văn bản bởi nhiều lý do: khả năng sử dụng ngôn từ, hoàn cảnh giao tiếp, tình trạng tâm, sinh lý,… Do đó, giữa văn bản và nội dung dự kiến ban đầu của người viết, người nói bao giờ cũng có một khoảng cách nhất định

- Hoàn cảnh giao tiếp

Hoạt động giao tiếp cũng như mọi hoạt động khác của con người bao giờ cũng diễn ra trong một hoàn cảnh nhất định Xét ở phạm vi rộng thì hoàn cảnh giao tiếp bao gồm từ hoàn cảnh xã hội tự nhiên đến bối cảnh lịch sử, thời đại, kinh tế, chính trị,… cộng đồng ngôn ngữ mà ở đó cuộc giao tiếp đang diễn ra Xét ở phạm vi hẹp hơn, cụ thể hơn hoàn cảnh giao tiếp bao gồm những hiểu biết và cách ứng xử về thời gian, địa điểm, hình thức giao tiếp, tình trạng sức khoẻ, tâm lý, những sự vật xung quanh,… tồn tại trong quá trình giao tiếp Tất cả các yếu tố trên dù trực tiếp hay gián tiếp đều tác động đến hoạt động giao tiếp, chi phối hoạt động giao tiếp và nếu xử lý tốt các yếu

tố này trong khi xây dựng văn bản sẽ đem lại hiệu quả giao tiếp cao

- Ngôn ngữ được sử dụng

Trong một cuộc giao tiếp, người ta có thể sử dụng nhiều phương tiện khác nhau để giao tiếp như cử chỉ, nét mặt, trang phục… nhưng ưu việt, quan trọng nhất chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ được sử dụng chính là chất liệu để

Trang 38

tạo thành lời nói trong giao tiếp Không có ngôn ngữ thì không có lời nói, song cuộc giao tiếp chỉ thực hiện tốt khi tất cả các nhân vật giao tiếp sử dụng chung một thứ tiếng Hiệu quả giao tiếp có được như mong muốn hay không còn phụ thuộc vào sự thông hiểu ngôn ngữ và năng lực sử dụng ngôn ngữ của các nhân vật giao tiếp

Ngôn ngữ tồn tại dưới hai dạng: dạng nói (giao tiếp miệng) và dạng viết (giao tiếp viết) Vì vậy, ta cần quan tâm đến việc lựa chọn ngôn từ, văn phong, phong cách chức năng, phương thức biểu đạt sao cho phù hợp với hình thức tồn tại của ngôn ngữ, phù hợp với tình huống giao tiếp và mục đích giao tiếp Ngoài ra, để đạt được hiệu quả giao tiếp tối ưu, chúng ta còn cần nắm vững những biến thể của ngôn ngữ để thấy hết được cái hay, cái đẹp, sự đa dạng của ngôn từ và ngày càng nâng cao hơn nữa nghệ thuật sử dụng từ ngữ của chính mình Hiểu rõ được điều này, khi dạy học tiếng Việt cho HS, GV cần giúp cho các em mở rộng vốn từ, nắm chắc quy tắc sử dụng ngôn từ, tức

là phải cung cấp đầy đủ cho HS những cái có hạn để các em tạo ra vô hạn những lời nói khác nhau trong giao tiếp và học tập

Các nhân tố giao tiếp vừa nêu trên đây luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong hoạt động giao tiếp Cũng có thể nói nó là những điều kiện đảm bảo cho một hoạt động giao tiếp diễn ra đạt được hiệu quả mong muốn Khi giao tiếp chúng ta cần phải chú trọng tới tất cả các nhân tố giao tiếp này

1.2.1.2 Vận dụng lí thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ vào rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1

Trong quá trình rèn KNN, lí thuyết giao tiếp giúp GV có sự định hướng

về nội dung và phương pháp dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học đề ra Vận dụng lí thuyết giao tiếp để rèn KNN là nhằm phát triển năng lực sử dụng ngôn

ngữ nói cho từng cá nhân HS “Trong dạy học tiếng Việt phải tạo ra được

những tình huống giao tiếp giả định, sát hợp với thực tế” [33, tr.81] Vì thế,

GV cần phải xác định nội dung giao tiếp, tạo môi trường giao tiếp, cần dạy

HS biết sử dụng ngôn ngữ và biết thao tác giao tiếp đúng Muốn vậy, GV cần

Trang 39

biết chuyển nội dung dạy học thành những tình huống giao tiếp gần gũi, giúp

HS vận dụng những kinh nghiệm để thực hiện hoạt động giao tiếp Từ đó, HS

sẽ có KN giao tiếp và phát triển được lời nói Ngoài ra, GV cần xác định được những biện pháp và cách thức tổ chức luyện tập phù hợp với tâm lí nhận thức của HS lớp 1 Nắm chắc quy trình tổ chức và vận dụng những biện pháp hợp

lí trong quá trình rèn KNN cho HS dựa trên những nội dung đã xác định sẽ giúp HS luyện tập một cách hứng thú và có hiệu quả

“Phương pháp giao tiếp là phương pháp sắp xếp các tài liệu ngôn ngữ được sử dụng trong dạy học sao cho vừa đảm bảo được tính chính xác, chặt chẽ của chúng trong hệ thống ngôn ngữ, vừa phản ánh được đặc điểm chức năng của chúng trong hoạt động giao tiếp” [54, tr.51] Việc rèn KNN cho HS

lớp 1 bắt đầu từ việc luyện phát âm, luyện cách sử dụng từ ngữ thông qua việc làm giàu vốn từ, luyện cách tạo lập và diễn đạt câu, luyện cách liên kết câu tạo thành chuỗi lời nói Dựa trên vốn từ phong phú kết hợp với việc sử dụng câu phù hợp, HS được rèn KN sử dụng chúng trong các hoạt động giao tiếp thông qua cách sử dụng các nghi thức lời nói và diễn đạt các chủ đề dưới hình thức hội thoại

1.2.2 Lí thuyết hội thoại và việc vận dụng vào rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1

1.2.2.1 Những vấn đề chung về hội thoại

a) Khái niệm hội thoại

Theo Đỗ Hữu Châu “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác…” [14, tr.201] Theo Nguyễn Quang Ninh “Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng miệng giữa các nhân vật tham dự giao tiếp nhằm trao đổi những thông tin hoặc trao đổi tư tưởng, tình cảm… theo một mục đích đã được đặt ra” [50, tr.41]

Như vậy, hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Hội thoại có thể được phân loại dựa trên các tiêu chí như thoại trường, số lượng

Trang 40

người tham gia, cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại, tính

có đích hay không có đích và tính có hình thức hay không có hình thức

b) Những yếu tố trong cấu trúc hội thoại

- Cuộc thoại

Cuộc thoại là một lần trao đổi, nói chuyện giữa cá nhân trong hoàn cảnh xã hội nào đó Trong cuộc thoại, các nhân vật tham gia đều luân phiên trao đổi lượt lời với nhau Cuộc thoại hay còn gọi là cuộc tương tác là đơn vị hội thoại bao trùm lớn nhất Để xác định cuộc thoại, phải có một số nhân tố như: nhân vật, sự thống nhất về thời gian và địa điểm diễn ra hội thoại, sự thống nhất về chủ đề Tiêu chí để xác định ranh giới cuộc thoại thông thường trên bề mặt hình thức, có phần mở thoại, thân thoại, kết thoại

- Đoạn thoại

Đoạn thoại là một đoạn của cặp thoại do một hoặc một số cặp thoại liên kết với nhau về đề tài và về đích có tính hoàn chỉnh bộ phận để có thể cùng các đoạn thoại khác làm cho cuộc thoại thành công (đạt được đích) Như vậy,

“Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao - đáp liên kết chặt chẽ về ý nghĩa và mục đích sử dụng” [38, tr.229]

Trong tham thoại, nhiều khi việc phân định ranh giới giữa đoạn thoại

và cuộc thoại không rõ ràng, khó phân biệt, đôi khi phải dựa vào trực cảm và

võ đoán Một cuộc thoại có cấu trúc tổng quát là: đoạn mở thoại, tham thoại, kết thoại Đoạn thân thoại liên quan đến hành vi xin phép và hồi đáp là cặp trao - đáp có chứa phát ngôn xin phép và hồi đáp

gì dẫn tới việc gì, ai nói và sẽ nói khi nào… Trong một cặp thoại, lượt lời thứ

Ngày đăng: 02/01/2020, 17:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w