Hiện trạng này là do GV tiểu học chưa được tiếp cận với những tài liệu hướng dẫn về cách tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học ở trường tiểu học, Với những lý do nêu trên, chúng tôi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
TÍCH HỢP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI LỚP 3
TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN KHUYẾN
QUẬN NGÔ QUYỀN - HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC TIỂU HỌC
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Thị Thấn Nếu phát hiện có bất kỳ sự
gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học
Ngày 03 tháng 05 năm 2017
Người cam đoan
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu được sự tận tình giúp đỡ của các
thầy cô, các nhà khoa học tôi đã hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu
ội lớp 3 trường tiểu học Nguyễn Khuyến - Ngô Quyền - Hải Phòng”
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học
trường Đại học Hải Phòng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Thị Thấn đã tận tình hướng
dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường tiểu học Nguyễn
Khuyến - Ngô Quyền - Hải Phòng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá
trình nghiên cứu đề tài
Ngày 03 tháng 05 năm 2017
Người cảm ơn
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 3
2.1 Các hoạt động quốc tế về 3
2.2 Nghiên cứu về ở Việt Nam 4
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 6
4 KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6
4.1.Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6
4.2.Phạm vi nghiên cứu 6
5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 7
6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 7
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
8 CẤ ỦA LUẬN VĂN 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬ ỦA VIỆC TÍCH HỢP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC 9
MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 9
9
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 9
1.1.2 Giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học 14
1.1.3 Đặc trưng của giáo dục môi trường 18
1.1.4 Vai trò của môi trường địa phương trong giáo dục môi trường 21
1.1.5 Giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 23
1.1.6 Một số đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh tiểu học có tác động đến giáo dục môi trường 25
1.1.7 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục môi trường 28
29
1.2.1 Thực trạng môi trường tại Hải Phòng 29
Trang 6ỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN KHUYẾN - NGÔ
QUYỀN - HẢI PHÒNG 32
39
2.1 CÁC NGUYÊN TÁC ĐỀ XUẤT TÍCH HỢP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI LỚP 3 39
2.2 ĐỀ XUẤT NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TÍCH HỢP TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN KHUYẾN - NGÔ QUYỀN - HẢI PHÒNG 40
2.3 QUY TRÌNH DẠY HỌC TÍCH HỢP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI LỚP 3 43
2.3.1 Xác định các kiến thức giáo dục môi trường tích hợp vào bài học 43
2.3.2 Xây dựng kế hoạch dạy học các bài Tự nhiên xã hội lớp 3 có khả năng tích hợp nội dung giáo dục môi trường 44
2.4 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG 45
2.4.1 Phương pháp thảo luận 46
2.4.2 Phương pháp quan sát 47
2.4.3 Phương pháp trò chơi 47
2.4.4 Phương pháp tìm hiểu, điều tra 48
2.5 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN ĐỂ ĐẢM BẢO CHO VIỆC TÍCH HỢP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 49 2.5.1 Công tác quản lý, chỉ đạo của các cấp quản lý 49
2.5.2 Đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy 49
2.5.3 Các yếu tố môi trường tự nhiên 50
2.5.4 Các yếu tố môi trường xã hội 50
2.6 THIẾT KẾ GIÁO ÁN TÍCH HỢP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN XÃ HÔI LỚP 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN KHUYẾN - NGÔ QUYỀN - HẢI PHÒNG 51
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆ 70
Trang 770
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 70
3.1.2 Thời gian thực nghiệm 70
3.1.3 Đối tượng thực nghiệm 70
3.1.4 Nội dung thực nghiệm 70
3.1.5 Tổ chức thực nghiệm 70
3.1.6 Xác định tiêu chuần và thang đánh giá kết quả thực nghiệm 71
3.1.7 Phương pháp xử lý, phân tích kết quả thực nghiệm 73
3.2 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 73
3.2.1 Đánh giá kết quả trước thực nghiệm 73
3.2.2 Đánh giá kết quả sau thực nghiệm 79
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86
1 KẾT LUẬN 86
2 KHUYẾN NGHỊ 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Nhận thức của giáo viên về nội dung giáo dục môi trường tích hợp
trong các môn học 34
Bảng 1.2 Mức độ sử dụng và hiệu quả của các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tích hợp giáo dục môi trường của GV tiểu học 34
Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra kiến thức đầu vào 74
Bảng 3.2 Kết quả phân loại mức độ kiến thức đầu vào 74
Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra thái độ đầu vào 75
Bảng 3.4 Kết quả phân loại mức độ thái độ đầu vào 75
Bảng 3.5 Kết quả kiểm tra hành vi đầu vào 76
Bảng 3.6 Kết quả phân loại mức độ hành vi đầu vào 77
Bảng 3.7 Kết quả kiểm tra kiến thức sau thực nghiệm 79
Bảng 3.8 Kết quả kiểm tra thái độ sau thực nghiệm 80
Bảng 3.9 Kết quả kiểm tra hành vi sau thực nghiệm 81
Bảng 3.10 Bảng so sánh kết quả kiểm tra kiến thức trước 82
và sau thực nghiệm 82
Bảng 3.11 Bảng so sánh kết quả kiểm tra thái độ trước 83
và sau thực nghiệm 83
Bảng 3.12 Bảng so sánh kết quả kiểm tra hành vi trước 84
và sau thực nghiệm 84
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục là nền tảng văn hóa của một đất nước, là sức mạnh trí tuệ của cả tương lai dân tộc nhằm sớm đạt cơ sở ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển toàn diện của thế hệ trẻ Việt Nam trong xu thế hội nhập với thế giới hiện nay Trong lĩnh vực khoa học nói chung giáo dục chiếm vị trí rất quan trọng Giáo dục không những cung cấp cho học sinh những hiểu biết về tri thức khoa học tiến bộ của loài người đồng thời vừa hình thành nhân cách cho học sinh là điều quan trọng cốt yếu, đặc biệt là lứa tuổi học sinh tiểu học
Thế kỷ XXI là thế kỷ của sự phát triển công nghệ, của tri thức thì việc giáo dục có vị trí hết sức quan trọng trong việc xây dựng con người mới
nhằm đáp ứng sự phát triển chung của toàn nhân loại, đào tạo các em trong tương lai trở thành những người có đủ cả đức và tài để xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Hiện nay đang còn ngồi trên ghế nhà trường ở bậc học tiểu học các em còn bỡ ngỡ rất nhiều đối với mọi hoạt động của nhà trường các em phải có nghĩa vụ phải học tập nghiêm túc để tiếp thu kiến thức và đạo đức làm người
Hiện tượng Trái đất đang nóng lên kéo theo tốc độ tan băng ngày càng nhanh ở Nam cực và Bắc cực là một thực tế buộc cả nhân loại phải ứng phó Sự dâng lên của mực nước biển sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng trăm triệu người, đặc biệt là ở các quốc gia và các vùng lãnh thổ ven biển Biến đổi khí hậu còn làm cho các thiên tai như lũ lụt, hạn hán, bão, áp thấp nhiệt đới ngày càng khắc nghiệt hơn Việt Nam được đánh giá là một trong năm quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu Với đặc điểm một thành phố ven biển, Hải Phòng là một trong những thành phố chịu ảnh hưởng rõ nét nhất của biến đổi khí hậu nước ta, đặc biệt là tác động tồi tệ của nước biển dâng Biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng đến phát triển đô thị và đô thị hóa của thành phố Các hiện tượng thời tiết cực đoan với số lượng ngày càng nhiều, cường độ ngày càng lớn góp phần kìm hãm quá trình đô thị hóa của thành phố
Trang 10Giáo dục môi trường là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục hình thành và phát triển ở học sinh sự hiểu biết và quan tâm tới những vấn đề về môi trường, tạo điều kiện cho các em tham gia vào sự phát triển một xã hội bền vững về sinh thái nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự hiểu biết và nhạy cảm về môi trường, những tình cảm và mối quan tâm trong việc bảo vệ môi trường Đó cũng chính là hình thành ở các em thói quen, hành vi ứng xử văn minh, lịch sự, thân thiện với môi trường, bồi dưỡng cho các em tình yêu thiên nhiên, những xúc cảm và kĩ năng sống bảo vệ môi trường không chỉ ở trường mà mọi lúc, mọi nơi
Sự thiếu hiểu biết về môi trường là một trong những nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm, suy thoái môi trường Do đó là một nội dung giáo dục quan trọng nhằm đào tạo con người có kiến thức, có đạo đức về môi trường, có năng lực phát hiện và xử lý các vấn đề môi trường trong thực tiễn Thực tế hiện nay, môi trường Việt Nam và trên thế giới đang bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng đã gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người Bảo vệ môi trường đang là vấn đề cấp thiết đặt ra, là việc làm cần thiết không thể thiếu trong sự nghiệp giáo dục
Việc giáo dục môi trường ở trường Tiểu học hiện nay chủ yếu mới được tiến hành thông qua các bài học trong sách giáo khoa mà ít được GV tích hợp, lồng ghép, liên hệ với thực tiễn môi trường địa phương Do vậy, học sinh chủ yếu mới nắm được những kiến thức về bảo vệ môi trường chung, chưa hiểu rõ ràng về môi trường xung quanh mình cũng như chưa có các kĩ năng, thái độ ứng
xử phù hợp để cải thiện môi trường Hiện trạng này là do GV tiểu học chưa được tiếp cận với những tài liệu hướng dẫn về cách tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học ở trường tiểu học,
Với những lý do nêu trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tích hợp trong dạy học môn Tự nhiên ã hội lớp 3 trường tiểu học Nguyễn Khuyến - Ngô Quyền - Hải Phòng”
Trang 112 Tổng quan nghiên cứu vấn đè
2.1 Các hoạt động quốc tế về
Năm 1972 tại thủ đô Stôckhôm (Thụy Điển) đã diễn ra một cuộc Hội nghị quốc tế về môi trường con người Hội nghị đã nhất trí rằng: việc bảo vệ thiên nhiên và môi trường là một trong hai nhiệm vụ hàng đầu của nhân loại (cùng với nhiệm vụ bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh) Vì thế ngày 5 tháng 6 hàng năm trở thành “Ngày môi trường thế giới” Hội nghị còn nhận ra vai trò của giáo dục môi trường nhằm tạo ra sự hiểu biết của cộng đồng về những vấn đề môi trường Trong kiến nghị thứ 96 của hội nghị, giáo dục môi trường được coi là yếu tố quyết định trong sự cố gắng để tấn công vào khủng hoảng môi trường toàn cầu Đặc biệt hội nghị còn quan tâm đến giáo dục môi trường trong trường học
Từ ngày 17 đến 21 tháng 8 năm 1987 tại Matxcơva một cuộc Hội nghị quốc tế về giáo dục môi trường do UNESCO và UNEP tổ chức, gồm các chuyên gia của 100 nước và các quan sát viên IUCN (Hội Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
và quốc tế) cùng các tổ chức quốc tế khác tham gia Hội nghị đã đề ra 9 mục tiêu
và chiến lược hành động quốc tế trong lĩnh vực giáo dục môi trường và đào tạo giáo viên cho thập kỉ 90 Các chương trình được phát triển trong thời kì này yêu cầu phải nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa con người và sinh quyển trong mọi lĩnh vực kinh tế xã hội, văn hóa và sinh thái Hội nghị đã đặt tên cho thập kỉ này
là “Thập kỉ toàn thế giới cho giáo dục môi trường”
Nghiên cứu của Michael Little Dyke (Mỹ, 2008) “Giáo dục nâng cao nhận thức về môi trường: phương pháp tiếp cận tích hợp lĩnh vực nhận thức và tình cảm” Tác giả cho rằng khoa học giáo dục có một phần quan trọng trong việc phát triển sự hiểu biết về các kinh nghiệm nền tảng cho các vấn đề môi trường dẫn đến hành vi có khả năng ủng hộ môi trường Lĩnh vực nhận thức và tình cảm cần phải được lồng ghép một cách rõ ràng trong một nền khoa học giáo dục môi trường, như một cảm giác của mối quan hệ là điều cần thiết cho việc chăm sóc môi trường và trách nhiệm dẫn đến hành động thông tin Các tính năng của những phương pháp này để giáo dục khoa học được thảo luận thông qua phân tích
Trang 12về tác động của các mô hình hiện đại về giáo dục môi trường và chiến lược có thể
để làm cho các kết nối giữa nhận thức và tình cảm được đề xuất [22]
Nghiên cứu của Kim Hyers (Mỹ, 2008) “Nuôi dưỡng nâng cao nhận thức
về môi trường ở trẻ em” đã nhấn mạnh thực tế là trẻ em của ngày hôm nay sẽ không được thừa hưởng một hành tinh khỏe mạnh ngày mai nếu không được giáo dục và nhận thức được tác động của con người lên bầu khí quyển, nước, đất, rừng và đại dương Để làm được điều này đòi hỏi người giáo viên cần có sự thay đổi trong quan điểm không cần phải là một kho kiến thức về môi trường mà cần có sự nhiệt tình và chân thành trong công tác giáo dục môi trường cho trẻ [21]
Nghiên cứu của Louise Pretty (09/01/2017) “Nâng cao nhận thức về môi trường cho trẻ em - ý tưởng cho giáo viên” đưa ra mười tám hoạt động cụ thể để giúp trẻ có được những trải nghiệm cụ thể về môi trường tự nhiên xung quanh chúng như trồng hạt giống, tạo một bản đồ thời tiết, thực hiện một tuabin gió, đóng vai người làm vườn, tìm hiểu về các nguồn năng lượng tái tạo, đi bộ đến khóa học từ đó giáo dục về ý thức bảo vệ môi trường [23]
Giáo dục môi trường ngày càng phát triển rộng khắp Giáo dục môi trường
đã vượt qua biên giới chính trị và tư tưởng Nó đòi hỏi sự cố gắng của tất cả các quốc gia Không có một nhóm, một quốc gia, một nền văn hóa hay một trường phái tư tưởng nào có được toàn bộ câu trả lời đối với những vấn đề xung quanh
sự pha trộn giữa phát triển kinh tế và môi trường lành mạnh
Ở Việt Nam, từ năm 1981 chương trình giáo dục môi trường bắt đầu được đưa vào trường phổ thông Từ đó, các công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:
“Vị trí và bước đầu định hướng nội dung, biện pháp giáo dục môi trường ở bậc tiểu học ở Việt Nam” của tác giả Phạm Đình Thái “Một số biện nâng cao chất lượng giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học” của tác giả Nguyễn Thị Vân Hương (2002) Nghiên cứu đã chỉ ra những nội dung giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học cũng như những biện pháp giáo dục môi trường như nâng
Trang 13cao nhận thức cho học sinh tiểu học về môi trường và bảo vệ môi trường, tăng cường các hoạt động thực tiễn về giữ gìn, bảo vệ môi trường [9]
Trong giáo dục và đào tạo ở cấp tiểu học, năm 2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng bộ tài liệu giáo dục bảo về môi trường qua các môn học: Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Lịch sử và Địa lý, Mỹ thuật và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Tài liệu nhằm tập huấn, bồi dưỡng cho giáo viên về mục tiêu, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn học, phương pháp và hình thức dạy học lồng ghép, tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường, cách khai thác nội dung và soạn bài để dạy học lồng ghép, tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn học [1]
“Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học các môn Tự nhiên và Xã hội” của tác giả Nguyễn Thị Thấn (2009) đã chỉ rõ mục tiêu, nội dung và các phương pháp nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường ở trường tiểu học [17]
Luận văn thạc sĩ của tác giả Đinh Thị Thùy (2011) nghiên cứu về “Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học môn đạo đức ở tiểu học” Tác giả đã làm
rõ những vấn đề lý luận về tích hợp, môi trường, đạo đức môi trường; Xác định
hệ thống các bài đạo đức có khả năng tích hợp nội dung giáo dục môi trường;
Đề xuất quy trình và cách sử dụng trong dạy học môn đạo đức [19]
Nghiên cứu “Tích hợp giáo dục môi trường địa phương trong dạy môn khoa học lớp 5 cho học sinh tiểu học tại thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh” của
tác giả Hoàng Thị Lan Hương Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của
giáo dục môi trường nói chung và giáo dục môi trường của thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh nói riêng Nghiên cứu việc giáo dục môi trường địa phương thông qua môn Khoa học lớp 5 cho học sinh tiểu học [10]
Luận án Tiến sĩ Khoa học giáo dục của tác giả Võ Trung Minh (2015) nghiên cứu về “Giáo dục môi trường dựa vào trải nghiệm trong dạy học môn khoa học ở tiểu học” Tác giả đã hệ thống hóa và mở rộng lý luận về học tập trải nghiệm, giáo dục môi trường dựa vào trải nghiệm trong dạy học ở tiểu học Đề xuất nguyên tắc, xác định nội dung và quy trình giáo dục môi trường dựa vào trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học ở tiểu học dựa trên mô hình học tập
Trang 14trải nghiệm của Kolb Tác giả đã mô tả thực trạng giáo dục môi trường, giáo dục môi trường dựa vào trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học ở tiểu học, đánh giá thực trạng nhận thức, thái độ, quan điểm và quy trình thực hiện giáo dục môi trường ở giáo viên tiểu học trong dạy học môn Khoa học nói riêng và trong các hoạt động giáo dục ở tiểu học nói chung [13]
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về giáo dục môi trường ở Việt Nam đã tập trung nghiên cứu đạt được kết quả ở các lĩnh vực như: làm rõ mục tiêu, phương pháp, hình thức chung khi tổ chức giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học; Phương pháp và hình thức dạy học cụ thể đối với từng môn học; Xây dựng và hướng dẫn khai thác nội dung giáo dục môi trường địa phương trong các môn học và hoạt động dạy học Cho đến nay chưa có nghiên cứu về việc tích hợp giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học ở Hải Phòng, nhất là nghiên cứu
ở trường Tiểu học Nguyễn Khuyến - Hải Phòng Vì vây, chúng tôi lựa chọn
nghiên cứu: “Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học môn Tự nhiên và Xã
hội lớp 3 Trường tiểu học Nguyễn Khuyến - Ngô Quyền - Hải Phòng”
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng tại trường tiểu học, qui trình tích hợp trong dạy học môn Tự nhiên
4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình ở tiểu học
Đối tượng nghiên cứu: Tích hợp trong dạy học môn
4.2.Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về nội dung: nghiên cứu qui trình
trường tiểu học Nguyễn Khuyến - Ngô Quyền - Hải Phòng
và học sinh trường tiểu học Nguyễn Khuyến - Ngô Quyền - Hải Phòng
Trang 15Giới hạn : Trường Tiểu học Nguyễn Khuyến - Ngô Quyền - Hải Phòng
5 Giả thuyết khoa học
Nếu biết tích hợp những nội dung theo một quy trình nhất định, phù hợp với đặc điểm môi trường địa phương nơi trường đóng, phù hợp với nội dung dạy học thông qua dạy học môn lớp 3 thì kết quả giáo dục được nâng cao
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc tích hợp trong dạy học ở trường tiểu học
6.2 Nghiên cứu thực trạng cho học sinh tiểu học trường tiểu học Nguyễn Khuyến - Ngô Quyền - Hải Phòng
lớp 3 và thực nghiệm sư phạm kiểm tra tính khả thi của việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trường tiểu học Nguyễn Khuyến - Ngô Quyền - Hải Phòng
7 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, ử dụng phối hợp các phương pháp sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
7.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết: Thông qua đọc tài liệu sách, báo, tạp chí và các tài liệ ơng pháp này để phân tích, tổng hợp lý thuyết liên quan đến đề tài để thu thập thông tin cần thiết
7.1.2 Phương pháp phân loại, hệ thống hoá lý thuyết: Trên cơ sở phân loại,
hệ thống hoá lý thuyết cần thiết để làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 16- Phương pháp phỏng vấn: Trực tiếp trò chuyện với giáo viên bộ môn và học sinh để tìm hiểu nhận thức về vai trò, ý nghĩa và việc thực hiện giáo dục bảo
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Để kiểm nghiệm tính khoa học, khả thi của việc tích hợp trong dạy học môn
lớp 3
7.3 Các phương pháp thống kê toán học: Để có những nhận xét khách
quan về kết quả nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu thu được từ thực tiễn
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp
Chương 2 Quy trình tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 ở trường Tiểu học Nguyễn Khuyến – Ngô Quyền – Hải Phòng
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 17CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TÍCH HỢP
GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
- Theo điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường (2014) “Môi trường là hệ thống các
yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [12, tr1]
Môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, đất, nước và không khí, ánh sáng, công nghệ, kinh tế, chính trị, đạo đức, văn hoá, lịch sử và mĩ học
Môi trường sống của con người được phân thành: môi trường sống tự nhiên và môi trường sống xã hội
* Môi trường tự nhiên: Bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa
học, sinh học tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động vật, thực vật, đất nước… Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
* Môi trường xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định… ở các cấp khác nhau như: Liên hợp quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ
Trang 18tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể… Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với thế giới sinh vật khác
Ngoài ra người ta còn phân biệt khái niệm: Môi trường nhân tạo: Bao gồm
tất cả các nhân tố vật lí, sinh vật, xã hội do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên… và chịu sự chi phối của con người
* Môi trường nhà trường: Bao gồm không gian trường, cơ sở vật chất
trong trường như phòng học, phòng thí nghiệm, thầy giáo, cô giáo, HS, nội quy của trường, các tổ chức xã hội như Đoàn, Đội
Theo các nhà sinh học, coi môi trường bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, cả các yếu tố vô sinh, hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên
sự sống, sự phát triển và sinh sản của sinh vật
Theo ngân hàng thế giới, môi trường là tổng hợp tất cả các nhân tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế và xã hội có tác động tới một cá thể, một quần thể hay một cộng đồng những nhân tố này bao gồm cả biện pháp quản lý việc sử dụng
và duy trì các nguồn tài nguyên thiên nhiên đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của loài người hiện nay và trong tương lai
Trong Từ điển Tiếng Việt, môi trường là toàn thể hoàn cảnh tự nhiên tạo
thành những điều kiện sống bên ngoài của một sinh vật [15, tr361]
Như vậy, môi trường là tập hợp tất cả các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể, một sự kiện hay một cơ thể sống Bất cứ một vật thể, một
sự kiện hay một cơ thể sống nào cũng tồn tại và biến đổi trong một môi trường nhất định
1.1.1.2 Tích hợp
Trong các tài liệu nghiên cứu về khoa học tích hợp, người ta phân chia chúng thành hai xu hướng, đó là xu hướng tích hợp các khoa học trong quá trình phát triển và xu hướng tích hợp các môn học trong quá trình dạy học Chúng khác nhau cả về nội dung và nguyên nhân Xu hướng tích hợp khoa học khi
Trang 19nghiên cứu đối tượng đều tuân theo luật nhận thức từ tổng quát – phân tích – tổng hợp, về thực chất đó là quá trình nhận thức về tổng thể - bộ phận theo từng tầng bậc xoáy ốc Ngày nay, khoa học tiếp tục phân hóa sâu song song với tích hợp liên môn Đặc biệt do hình thái khoa học ở thế kỷ XX đã chuyển từ phân tích – cấu trúc tổng hợp – hệ thống làm xuất hiện các gian ngành, liên ngành với tốc độ phát triển ngày càng nhanh, các thông tin khoa học cập nhập ngày càng nhiều Trong khi đó dạy học phản ánh sự phát triển của khoa học và vì thời gian học tập trong trường không thể kéo dài nên xuất hiện xu hướng dạy từ các môn học riêng rẽ sang dạy tích hợp các môn học Làm được như vậy thì chúng ta sẽ nâng cao được hiệu quả giáo dục và học sinh sẽ tiếp nhận được nhiều nguồn thông tin mà không bị tụt hậu với thời đại
Tích hợp được hiểu là sự dồn lại, gộp chung lại, là sự kết hợp, lắp ghép một cách có hệ thống nội dung kiến thức của một lĩnh vực giáo dục nào đó vào kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau
Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức, khái niệm quen thuộc, các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong môn học đó
1.1.1.3 Giáo dục môi trường
Giáo dục môi trường là một quá trình (thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy) hình thành và phát triển ở người học sự hiểu biết, kĩ năng, giá trị và quan tâm tới những vấn đề về môi trường, tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái
Mục đích của giáo dục môi trường nhằm vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sử dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh những thảm hoạ môi trường, xoá nghèo đói, tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tài nguyên Hơn nữa, nó bao hàm cả việc đạt được những kỹ năng, có những động lực và cam kết hành động, dù với tư cách cá nhân hay tập
Trang 20thể, để giải quyết những vấn đề môi trường hiện tại và phòng ngừa những vấn đề mới nảy sinh
Giáo dục môi trường nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự hiểu biết và nhạy cảm về môi trường cùng các vấn đề của nó (nhận thức); những khái niệm cơ bản về môi trường và bảo vệ môi trường (kiến thức); những tình cảm, mối quan tâm trong việc cải thiện và bảo vệ môi trường (thái độ, hành vi); những kĩ năng giải quyết cũng như cách thuyết phục các thành viên khác cùng tham gia (kĩ năng); tinh thần trách nhiệm trước những vấn đề về môi trường và
có những hành động thích hợp giải quyết vấn đề (tham gia tích cực)
1.1.1.4 Tích hợp giáo dục môi trường
Đầu thập kỉ 80, trong quá trình triển khai cải cách giáo dục và thay thế sách giáo khoa, các cơ quan chỉ đạo và nghiên cứu của Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã bước đầu nêu ra các định hướng về giáo dục môi trường trong các trường học Từ đó đến nay, nội dung giáo dục môi trường được tích hợp vào chương trình giảng dạy các môn học có nhiều khả năng tích hợp giáo dục môi trường như: Tự nhiên và xã hội, Khoa học, Đạo đức, Sinh học, Địa lý Chương trình giảng dạy ở tiểu học, trung học đã bước đầu được biên soạn và thử nghiệm ở một số địa phương Tuy nhiên, trong nội dung của chương trình giáo dục môi trường vẫn còn nhấn mạnh quá nhiều các khía cạnh nhận thức, các thành phần như giá trị, thái độ còn ít được quan tâm, đôi lúc còn ít được đề cập trong chương trình giáo dục hiện hành
Giáo dục môi trường đã được tích hợp vào toàn bộ hệ thống giáo dục ở tất
cả các bậc học từ mầm non đến trung học phổ thông ở nhiều nước trên thế giới
Ở Châu Á, giáo dục môi trường đã được tích hợp ở tất cả các bậc học
Tích hợp giáo dục môi trường được hiểu là sự kết hợp các khía cạnh của môi trường vào trong quá trình giáo dục chính quy, pha trộn nội dung có liên quan đến các vấn đề môi trường khác nhau vào các môn học tự nhiên hoặc các môn khoa học xã hội
Tích hợp là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức giáo dục môi trường và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ
Trang 21với nhau, dựa trên cơ sở các mối quan hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong bài học
Khi tiến hành tích hợp kiến thức giáo dục môi trường vào trong bài học có
ba mức độ chính:
Mức độ tích hợp: Ở mức độ này một phần nội dung của môn học chính là nội dung giáo dục môi trường được đưa vào chương trình và sách giáo khoa Nội dung giáo dục môi trường có thể là một chủ đề hay một số bài trọn vẹn
Mức độ lồng ghép: Ở mức độ này một số kiến thức môn học cũng chính là kiến thức giáo dục môi trường được đưa vào chương trình và sách giáo khoa theo các mức độ khác nhau (có thể chiếm một mục, một đoạn hay một vài câu trong bài học, hoặc có thể là các bài đọc thêm sau bài học chính nhằm bổ sung kiến thức về giáo dục môi trường
Mức độ liên hệ: Ở mức độ này các kiến thức giáo dục môi trường không được nêu rõ trong sách giáo khoa nhưng dựa vào kiến thức bài học, giáo viên có thể bổ sung các kiến thức bằng cách liên hệ các kiến thức giáo dục môi trường vào bài giảng cho phù hợp
Dựa vào các mức độ tích hợp giáo dục môi trường trên, có thể phân biệt được ba loại bài khác nhau cho phép tiến hành giáo dục môi trường:
Loại một: Toàn bài có nội dung lồng ghép với giáo dục môi trường
Loại hai: Bài học có một số nội dung lồng ghép với giáo dục môi trường Loại ba: Bài học có một hoặc nhiều chỗ có khả năng liên hệ, bổ sung thêm kiến thức về môi trường
Tương ứng với loại bài, việc tích hợp, lồng ghép giáo dục môi trường vào các môn học được phân chia thành ba mức độ: mức độ toàn phần, mức độ bộ phận và mức độ liên hệ
Mức độ toàn phần: khi mục tiêu, nội dung của bài phù hợp hoàn toàn với mục tiêu, nội dung giáo dục môi trường
Mức độ bộ phận: một số đơn vị kiến thức của nội dung giáo dục môi trường được đưa vào nội dung bài học và trở thành một bộ phận hữu cơ của bài học, được thể hiện bằng một mục riêng, một đoạn hay một vài câu trong bài học
Trang 22Mức độ liên hệ: các kiến thức giáo dục môi trường không được nêu trong sách giáo khoa nhưng dựa vào kiến thức bài học, giáo viên có thể bổ sung, liên
hệ các kiến thức giáo dục môi trường vào bài giảng Mục tiêu, nội dung của bài
có điều kiện liên hệ một cách logic với nội dung giáo dục môi trường
1.1.2 Giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học
Giáo dục môi trường phải được tiến hành từ khi trẻ mới lớn để tạo những hành vi tốt đẹp và trách nhiệm đối với môi trường, từ lứa tuổi mẫu giáo tới khi trưởng thành Việc giáo dục môi trường không chỉ tiến hành trong nhà trường
mà nó cần có sự tham gia phối hợp chặt chẽ cả với gia đình và toàn xã hội Toàn
bộ chương trình giáo dục môi trường cần được phát triển dựa trên mối quan hệ giữa đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của đối tượng giáo dục và khả năng nhận thức của họ về môi trường xung quanh
Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa ra mục tiêu giáo dục môi trường chung cho các trường phổ thông như sau: Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông nhằm đạt đến mục đích cuối cùng là: Mỗi trẻ được trang bị một ý thức trách nghiệm đối với sự phát triển bền vững của trái đất, một khả năng đánh giá vẻ đẹp của thiên nhiên và một nhân cách được khắc sâu nền tảng đạo lý về môi trường
Ở nước ta, trong chiến lược giáo dục môi trường, giai đoạn đầu tiên là tập trung vào học sinh ở phổ thông, giáo dục môi trường cho học sinh không chỉ đạt kết quả trước mắt mà còn đạt kết quả lâu dài vì thế hệ trẻ vẫn còn ở trong quá trình phát triển nhận thức, thái độ và hành vi Sự thành đạt của họ trong tương lai phụ thuộc vào quá trình giáo dục của chúng ta hơn bất cứ nhóm nào khác
Hiện nay, trường học được coi là một trong những nơi phù hợp và hiệu quả nhất để giáo dục môi trường Vì trường học có khả năng thực hiện chương trình học tập theo khuôn khổ chính quy, có cấu trúc và được hỗ trợ chính thức
Trong các bậc học, bậc tiểu học là bậc nền móng của toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Khi đứa trẻ bước vào lớp 1, hoạt động chủ đạo của trẻ hoạt động học tập thay cho hoạt động vui chơi như khi các em còn ở tuổi mẫu giáo
Trang 23Trong giai đoạn nền móng này, khi các em đang dần định hình về nhân cách, ý thức trách nhiệm với cộng đồng, nếu chúng ta quan tâm giáo dục một cách khoa học, phong phú về môi trường và ý thức đối với môi trường cho học sinh sẽ để lại những dấu ấn sâu sắc không thể phai mờ trong toàn bộ cuộc đời sau này của các em Bản chất của tuổi thơ vốn dồi dào tình cảm gắn bó thiên nhiên bao quanh và ý thức sẵn sàng tham gia vào hoạt động công ích Đó là những thuận lợi để việc giáo dục môi trường ở bậc tiểu học đạt hiệu quả cao
Mục tiêu giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học được thể hiện ở các nội dung sau:
Về kiến thức: Học sinh có những hiểu biết cơ bản, ban đầu về tự nhiên, môi trường của nước ta; Nhận thức được mối quan hệ khăng khít, tác động lẫn nhau giữa con người và môi trường tự nhiên, môi trường xã hội
Về kĩ năng: học sinh có kĩ năng đánh giá tác động của con người tới tự nhiên, dự đoán những hậu quả của chúng; Kỹ năng đề ra cách giải quyết đúng, thực hiện những biện pháp nhằm bảo vệ môi trường; Kỹ năng phổ biến những tư tưởng và thái độ quan tâm tới môi trường
Về thái độ: Học sinh có lòng yêu quý thiên nhiên, có tình cảm trân trọng
tự nhiên và có nhu cầu bảo vệ môi trường; Có ý thức về tầm quan trọng của môi trường trong sạch đối với sức khỏe con người, về chất lượng cuộc sống của chúng ta, phát triển thái độ tích cực đối với môi trường; Thể hiện sự quan tâm tới việc cải thiện môi trường để có ý thức sử dụng hợp lý, không khoan nhượng trước thái độ và việc làm hủy hoại môi trường, gây ô nhiễm môi trường; Có ý thức vận động, tuyên truyền mọi người cùng tham gia bảo vệ môi trường sống
Tóm lại, mục tiêu giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học không chỉ dừng lại ở việc hình thành hiểu biết về môi trường mà còn giáo dục cho các em thái độ và hành vi bảo vệ môi trường
1.1.2.2 Nhiệm vụ và phương hướng giáo dục môi trường ở tiểu học
Giáo dục môi trường là một quá trình nâng cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ và hành vi đúng đắn cho học sinh về vấn đề môi trường, do đó nó có nhiệm vụ:
Trang 24- Làm cho học sinh hiểu biết về thiên nhiên, về môi trường nói chung và môi trường Việt Nam nói riêng Nhận thức rõ mối quan hệ khăng khít với sự tác động tương hỗ giữa sinh vật với các yếu tố môi trường Tầm quan trọng của môi trường đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
- Trên cơ sở những hiểu biết đó, giáo dục cho học sinh ý thức quan tâm thường xuyên đến môi trường dần dần hình thành lòng yêu thiên nhiên, muốn được bảo vệ môi trường sống, các phong cảnh đẹp, các di tích văn hóa - lịch sử của đất nước và cuối cùng là làm cho việc bảo vệ môi trường trở thành phong cách, nếp sống của học sinh
Ở nước ta hiện nay, việc giáo dục môi trường ở tiểu học chỉ có thể tích hợp, lồng ghép vào các môn học Vì vậy để thực hiện các mục tiêu nêu trên, phương hướng giáo dục môi trường ở trường tiểu học hiện nay là:
- Thông qua kiến thức của các môn học để lồng ghép hoặc liên hệ các kiến thức giáo dục môi trường nhằm trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức về môi trường và các biện pháp bảo vệ môi trường tương đối đầy đủ
- Việc giáo dục môi trường phải triển khai đồng bộ, có tính hệ thống cho học sinh tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5
- Việc giáo dục môi trường phải chú ý khai thác tình hình thực tế môi trường địa phương và có những nhận thức, biện pháp ngăn ngừa các vấn đề có hại cho môi trường địa phương và đất nước
- Nội dung và phương pháp giáo dục môi trường phải phù hợp với mục tiêu đào tạo của trường tiểu học, của từng lớp và đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học
Vậy, nhiệm vụ và phương hướng giáo dục môi trường ở tiểu học giúp học sinh có những hiểu biết về thiên nhiên, về môi trường, thấy được tầm quan trọng của môi trường đối với con người Từ đó học sinh đưa ra biện pháp để bảo vệ môi trường Để làm được điều này người giáo viên cần biết tích hợp, lồng ghép kiến thức giáo dục môi trường vào nội dung bài dạy một cách phù hợp
Trang 251.1.2.3 Nội dung cho học sinh tiểu học
Môi trường là nơi nuôi dưỡng con người cả về vật chất lẫn tinh thần nhưng cũng chính con người trong quá trình tồn tại và phát triển đã gây nên sự mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt các nguồn tài nguyên, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống Môi trường bao gồm cả yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo
có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên Việc giáo dục bảo
vệ môi trường là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp con người có được những hiểu biết và kĩ năng, tạo điều kiện cho họ tham gia và phát triển vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái
Giáo dục môi trường là quá trình giáo dục có mục đích, nhằm làm cho con người trong cộng đồng quan tâm đến các vấn đề của môi trường, có sự hiểu biết
về môi trường, có thái độ, kĩ năng và hành vi tốt trong bảo vệ môi trường giáo dục bảo vệ môi trường nhằm mục đích vận dụng những kiến thức và kĩ năng vào việc giữ gìn, bảo tồn, sử dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai Tức là giúp cho mọi người giải quyết được những vấn đề môi trường hiện tại, đáp ứng được nhu cầu của bản thân mà không làm phương hại đến thế hệ mai sau
Giáo dục môi trường cho học sinh trong trường tiểu học là cung cấp cho học sinh những hiểu biết ban đầu về môi trường sống của bản thân nói riêng và của con người nói chung, biết cách sống tích cực với môi trường, nhằm đảm bảo
sự phát triển lành mạnh về cơ thể và trí tuệ Giáo dục môi trường trong trường tiểu học bao gồm nhiều mặt và cần có sự phối hợp đồng bộ mới có thể đem lại hiệu quả thiết thực Trong đó việc xây dựng môi trường thân thiện, gần gũi với thiên nhiên có ý nghĩa quan trọng nhất
Trang 261.1.3 Đặc trưng của giáo dục môi trường
1.1.3.1 Giáo dục môi trường mang tính địa phương cao
Giáo dục môi trường khác với nhiều lĩnh vực giáo dục khác hay các môn học là nó phụ thuộc vào địa điểm, đặc trưng của môi trường nơi giáo viên tiến hành các hoạt động giáo dục
Chẳng hạn như môn Toán hay Tiếng Việt, cho dù ở bất cứ hoàn cảnh môi trường địa phương nào thì nội dung học tập, phương pháp và các phương tiện dạy học cũng ít thay đổi Điều này giúp ta có thể chỉ đạo và xây dựng những tài liệu dạy học chung cho toàn quốc Trong khi đó đối với giáo dục môi trường, các phương pháp “giáo dục trong môi trường”, “giáo dục qua môi trường” mà không được tiến hành thì khó có thể mang lại hiệu quả Nói cách khác, nếu giáo dục môi trường mà được tiến hành theo cách tách rời với môi trường địa phương – môi trường gần gũi xung quanh học sinh - hoặc là chỉ tuân thủ theo các tài liệu giáo dục đồng nhất hóa cho mọi địa phương thì không thể mang lại hiệu quả Vì
để tiến hành giáo dục môi trường, giáo viên cần sử dụng môi trường địa phương làm mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện học tập, thực hiện nhiều thao tác sư phạm để làm cho tài liệu học tập phù hợp với giai đoạn phát triển của học sinh…
Trong khi đó từng môi trường xung quanh trẻ - môi trường địa phương –
do nằm ở các vị trí địa lý khác nhau nên có những địa điểm tự nhiên khác nhau Các đặc điểm tự nhiên khác nhau này lại tạo ra những môi trường xã hội và văn hóa khác nhau Cuối cùng, các vấn đề môi trường xảy ra trong các khung địa phương khác nhau này cũng khác nhau
Như vậy, tuy giáo dục môi trường đều hướng tới bảo vệ môi trường chung môi trường toàn cầu, song ở từng địa phương, khu vực khác nhau thì mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện giáo dục cụ thể lại khác nhau Vì vậy, hiệu quả giáo dục môi trường phụ thuộc vào trình độ nhận thức về vấn đền môi trường và bảo vệ môi trường, khả năng sáng tạo của giáo viên trong việc lựa chọn và việc sử dụng các phương pháp sư phạm phù hợp với tình hình của từng địa phương cụ thể
Trang 271.1.3.2 Giáo dục môi trường cần hình thành ở người học không chỉ những nhận thức mà cả những hành vi cụ thể
Giáo dục môi trường yêu cầu phải hình thành ở người học ở bất cứ độ tuổi nào không chỉ những nhận thức về môi trường, các vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường mà còn phải hình thành những kỹ năng, thái độ và hành vi cụ thể đối với môi trường Hay nói cách khác, giáo dục môi trường cần phải hình thành ở người học ở hệ thống kỹ năng, thái độ, hành vi “Vì môi trường” Trong khi đó, những hành động từ địa phương hay hành động tại chỗ là những hành động cần tác động lên những đối tượng cụ thể và được thể hiện trong những môi trường
cụ thể Môi trường cụ thể đó bao giờ cũng là môi trường gần gũi với học sinh, còn các vấn đề môi trường cụ thể là những vấn đề môi trường của địa phương Hay nói các khác, những hành động cụ thể, hành động tại chỗ đó không thể tách rời với môi trường địa phương mà còn phải xuất phát từ địa phương để giải quyết những vấn đề môi trường, bảo vệ và cải thiện môi trường địa phương
Như đã đề cập ở phần trên, từng địa phương khác nhau do những đặc điểm
tự nhiên, kinh tế, xã hội, khác nhau nên những vấn đề môi trường từng địa phương cũng khác nhau Như vậy, ở điểm này tính địa phương cũng biểu thị rõ rệt, giáo dục môi trường đòi hỏi ở giáo viên không những tri thức vững chắc về môi trường, các vấn đề môi trường, bảo vệ và giáo dục môi trường chung vào các hoàn cảnh môi trường cụ thể của từng địa phương
1.1.3.3 Giáo dục môi trường cần được tiến hành thông qua mọi môn học
và các hoạt động trong trường học
Môi trường con người bao gồm toàn bộ hệ thống tự nhiên và xã hội do con người tạo ra trong đó con người sinh sống và lao động đã khai thác những tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo cho phép thỏa mãn những nhu cầu khác nhau của mình Vì vậy, môi trường và các vấn đề môi trường mang tính chất đa khoa Cũng vì lý do đó mà lĩnh vực giáo dục môi trường ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới không được xây dựng thành một môn học riêng biệt mà nó được đưa vào các môn học và hoạt động giáo dục trong trường học Ở nước ta, giáo dục môi trường được đưa vào hầu hết các môn học và các hoạt động của
Trang 28trường tiểu học Tùy theo đặc thù của từng môn học mà nội dung giáo dục môi trường được đưa vào thành các tiết, các chủ đề Tự nhiên xã hội, Khoa học, Lịch
sử, Địa lý, Đạo đức, Kỹ thuật Những môn học còn lại nội dung giáo dục môi trường được lồng ghép, liên hệ trong quá trình dạy học Tuy trong từng môn học nội dung giáo dục môi trường được đưa vào nhiều hay ít song chúng không thể thay thế nhau trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục môi trường Chẳng hạn, các môn Tự nhiên và xã hội, Khoa học, Lịch sử, Địa lý và Toán học cũng cung cấp cho học sinh những kiến thức về môi trường, về tình trạng suy thoái,
về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường… hay nói gọn lại là những tri thức
về môi trường Các môn Tiếng Việt, Mỹ thuật, Âm nhạc lại có tác dụng giúp cho học sinh thấy được vẻ đẹp của môi trường, giáo dục tình cảm với môi trường Còn môn Kỹ thuật thì lại có tác dụng hình thành các kỹ năng bảo vệ và cải thiện môi trường Môn Đạo đức giúp cho việc giáo dục tinh thần trách nhiệm, ý thức bảo vệ môi trường…
Tóm lại, mỗi môn học đều hướng tới thực hiện những mục tiêu giáo dục môi trường quan trọng riêng Như vậy, để thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục môi trường cần phải coi trọng và tiến hành đồng đều mọi môn học và hoạt động
ở trường tiểu học
1.1.4 Vai trò của môi trường địa phương trong giáo dục môi trường
Đặc trưng của giáo dục môi trường là mang tính địa phương vì giáo dục môi trường phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm môi trường nơi hoạt động giáo dục đang diễn ra vì môi trường địa phương chính là mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện học tập của lĩnh vực giáo dục này
Thực tế thì mỗi quốc gia hay mỗi địa phương có những đặc thù khác nhau
về đặc điểm khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng… Bên cạnh đó việc xây dựng nội dung giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học bắt đầu từ những vấn đề cụ thể đến khái quát Điều này vừa phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, lại vừa có ý nghĩa thực tiễn Do đó, xây dựng nội dung giáo dục môi trường cần dựa trên đặc thù của từng địa phương Chẳng hạn như vấn đề ô nhiễm môi trường nước xảy ra trên phạm vi cả nước Việt Nam nhưng tại mỗi địa phương
Trang 29thì nguyên nhân gây ô nhiễm lại khác nhau tùy theo đặc điểm địa hình cũng như hoạt động sản xuất đặc trưng của mỗi vùng miền Theo kết quả điều tra thực tế thì một trong những nguyên nhân ô nhiễm nguồn nước của tỉnh Hà Tây là do nước nhuộm màu vải trực tiếp xuống mặt đất và các dòng chảy trong vùng Tại Thái Bình thì một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nước
là do thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng tùy tiện trong nông nghiệp Còn tại Vĩnh Phúc, một trong những nguyên nhân chính lại do hoạt động sản xuất công nghiệp…
Do đó, khi giáo dục môi trường cho đối tượng học sinh địa phương nào thì cần phải cung cấp cho họ những hiểu biết cụ thể về thực trạng môi trường của địa phương đó Từ đó có thể dần dần hình thành những hành vi bảo vệ môi trường thiết thực cho học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục môi trường Bởi vì giáo dục môi trường không chỉ có mục đích đơn thuần là hình thành nhận thức
về môi trường mà còn cần giáo dục hành vi, đạo đức môi trường cho thế hệ trẻ Việc địa phương hóa trong giáo dục môi trường cũng phù hợp với quy luật trong giáo dục cho trẻ Muốn tạo cho trẻ có tình yêu thương nhân loại trước hết nó phải biết thương yêu những người trong gia đình, tiếp theo là những người gần gũi và sau đó là những người khác trong cộng đồng xã hội Để một học sinh có những hành vi tốt trong việc bảo vệ môi trường, giữ gìn môi trường ở lớp học, trong nhà trường, gia đình và rộng hơn là nơi làng xóm, phố phường, quê hương rồi sau đó đến phạm vi đất nước mình và rộng hơn nữa là phạm vi địa cầu
Tuy mục đích cuối cùng của giáo dục môi trường là hướng tới bảo vệ môi trường địa cầu, song ở từng địa phương, từng khu vực khác nhau lại có mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện cụ thể khác nhau Do đó hiệu quả của giáo dục môi trường phụ thuộc vào nhận thức về vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường của người giáo dục Để nâng cao chất lượng giáo dục môi trường cho học sinh, đòi hỏi người giáo viên không chỉ nhận thức được vấn đề môi trường địa phương mà còn có khả năng sáng tạo trong việc lựa chọn và sử dụng phương pháp, phương tiện sao cho phù hợp với tình hình của tình địa phương cụ thể
Trang 30Giáo dục môi trường qua môn học thường bằng nhiều hình thức khác nhau như liên hệ, lồng ghép, tích hợp Ở phạm vi nghiên cứu đề tài chúng tôi chỉ đề cập đến vấn đề tích hợp giáo dục môi trường qua môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 cho học sinh tiểu học Do đó chúng tôi đi nghiên cứu một vấn đề chung về tích hợp giáo dục môi trường
1.1.5 Giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3
1.1.5.1 Mục tiêu và nội dung giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học
Giáo dục môi trường là một quá trình nâng cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ và hành vi đúng đắn cho học sinh về vấn đề môi trường Nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra mục tiêu giáo dục môi trường trong nhà trường tiểu học như sau:
*Mục tiêu hoạt động là xác định các yêu cầu giáo dục cần đạt Mục tiêu hoạt động thể hiện ở ba yêu cầu: Kiến thức, kĩ năng , thái độ
Về kiến thức: sau khi học xong môn Tự nhiên ớp 3 học sinh sẽ có biểu tượng ban đầu về môi trường như cây cối, các con vật, Mặt Trời, Trái Đất và môi trường nhân tạo như nhà ở, trường học, phố phường, làng mạc
- Biết và kể được một số hoạt động của người làm môi trường bị ô nhiễm
- Biết và nêu được một số ảnh hưởng của môi trường xung quanh đến sức khỏe con người
- Biết một số biện pháp bảo vệ môi trường
Về kĩ năng: Học sinh biết phát hiện ra mối quan hệ giữa các yếu tố của môi trường; Tham gia một số hoạt động bảo vệ môi trường; Thuyết phục người thân, bạn bè tham gia bảo vệ môi trường
Về thái độ: Học sinh biết yêu quý thiên nhiên, mong muốn được tham gia bảo vệ môi trường sống cho cây cối, con vật và con người
- Có thái độ tích cực đối với công việc bảo vệ môi trường, phê phán các hoạt động phá hoại môi trường, làm ô nhiễm môi trường
Trang 31*Nội dung chương trình môn Tự nhiên ớp 3 gồm ba chủ đề chính: Con người và sức khỏe; Xã hội; Tự nhiên
- Con người và sức khỏe: Cơ quan hô hấp và một số bệnh lây qua đường
hô hấp; Cơ quan tuần hoàn, bảo vệ cơ quan tuần hoàn; Giữ vệ sinh cơ quan bài tiết nước tiểu; Cơ quan thần kinh: nghỉ ngơi và học tập điều độ
- Xã hội: Quan hệ trong gia đình và vấn đề giữ gìn môi trường sống: Giữ
vệ sinh trường, lớp học; Làng quê, đô thị, giữ vệ sinh nơi công cộng, liên hệ đến thực trạng môi trường địa phương
- Tự nhiên: Thực vật, động vật, ích lợi và tác hại đối với cuộc sống con người, cách bảo vệ chúng; Mặt trời và trái đất, khí hậu ảnh hưởng đối với ự sống của con người
Đối với các môn học về Tự nhiên và xã hội, giáo dục môi trường đã trở thành một phần nội dung quan trọng trong chương trình học tập của các môn học này Nói cách khác, nội dung giáo dục môi trường đã được các tác giả tích hợp trong khi xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa Việc cần thực hiện với giáo viên đứng lớp và bổ sung, liên hệ với các nội dung của môi trường từng địa phương để thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục môi trường đã được đề cập trong từng bài học
Để có thể thực hiện việc giáo dục môi trường thông qua các môn học, cần phải tìm hiểu những nội dung đã được tích hợp vào chương trình và sách giáo khoa và những nội dung có thể tích hợp thêm, trong đó chủ yếu là các nội dung của môi trường địa phương để vừa thực hiện tốt những mục tiêu đã được tích hợp, vừa gắn việc giáo dục môi trường nói chung với các môi trường địa phương cụ thể
Nhận thức được điều đó chúng tôi đã mạnh dạn nghiên cứu việc tích hợp giáo dục môi trường thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội cho học sinh lớp 3
Tích hợp hoàn toàn nội dung giáo dục môi trường vào bài học tự nhiên xã hội Gắn hoàn toàn nội dung giáo dục môi trường qua nội dung của bài học
Trang 32Tuy nhiên không phải bài họ ể thực hiện được ý đồ sư phạm này mà tuỳ theo nội dung bài học mà giáo viên có thể khai thác khả năng tích hợp và tiến hành giáo dục môi trường cho học sinh
Tích hợp từng phần nội dung bài học với giáo dục môi trường
Giáo viên căn cứ vào nội dung bài học, lựa chọn những nội dung chiếm
ưu thế có thể tích hợp giáo dục môi trường cho học sinh để tiến hành tích hợp giáo dục môi trường
ọc về giáo dục môi trường cho học sinh thông qua bài học tự nhiên xã hội Giáo viên tiến hành bài học một cách bình thường Sau mỗi phần kết luận của bài họ ết luận về giáo dục môi trường cho học sinh
và yêu cầu học sinh học tập rèn luyện theo định hướng mà giáo viên đề xuất
Tuỳ theo nội dung bài học giáo viên có thể lựa chọn hình thức tích hợp cho phù hợp
1.1.6 Một số đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh tiểu học có tác động đến giáo dục môi trường
Đặc điểm thể chất: Một trong những mục tiêu của giáo dục môi trường là
nhằm hình thành ở trẻ những hành vi tương ứng, để thực hiện được những hành
vi này buộc các em phải trực tiếp tham gia vào các hoạt động, vì vậy nếu không xét đến đặc điểm cơ thể sẽ có những hoạt động ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như sự phát triển về thể lực của các em Thời kỳ này khung xương của các em đang trong giai đoạn phát triển và vẫn còn nhiều mô sụn Do đó cần tránh cho trẻ mang vác nặng và chú ý đến các tư thế hoạt động của trẻ khi tham gia các phong trào bảo bệ môi trường mà nhà trường, xã, phường…tổ chức
Hơn nữa hệ thần kinh của các em đang trong thời kỳ phát triển mạnh, khả năng kìm hãm của hệ thần kinh còn yếu cho nên trẻ rất dễ bị kích thích, kích động Do đó trong quá trình hình thành thói quen và hành vi bảo vệ môi trường giáo viên phải là người thường xuyên quan sát, theo dõi hoạt động của các em
để từ đó nhắc nhở giúp hình thành ở trẻ tính tự chủ, lòng kiên trì, biết kìm hãm bản thân trước hoàn cảnh
Trang 33Trong thời kỳ này các cơ quan nội tạng của trẻ như hệ thần kinh tuần hoàn, hệ hô hấp,…vẫn chưa thật hoàn chỉnh Vì vậy, khi tổ chức các hoạt động cần tránh cho các em hoạt động mạnh, tiêu cực có thể làm ảnh hưởng đến tim Đồng thời cũng nên để tránh những nơi có ô nhiễm môi trường như ô nhiễm không khí (khói thuốc, bụi xe, bụi đường,…) làm ảnh hưởng và tổn thương đến phổi của các em
Đặc điểm nhận thức
Do có sự thay đổi về nội dung và tính chất của hoạt động chủ đạo lên hoạt động nhận thức ở học sinh tiểu học phát triển mạnh Nhận thức của các em mang tính trực quan, cụ thể đối với các sự vật hiện tượng
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính không chủ định, trẻ nhận ra các đối tượng không phải ở những dấu hiệu cơ bản, bản chất mà là những gì trực tiếp gây cho trẻ cảm xúc, đó là những gì rực rỡ, chuyển động, mới lạ Ở các em tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn Tri giác sự vật ở các
em có nghĩa là phải sò mó, cầm nắm và những gì phù hợp với nhu cầu, những
gì các em tham gia trực tiếp trong hoạt động của cuộc sống Vì vây, tổ chức cho trẻ được tiếp xúc một cách trực với sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, trong cuộc sống xung quanh giúp tri giác của trẻ ngày càng phát triển theo hướng chính xác hơn, đầy đủ hơn, phân hóa rõ ràng hơn, có chọn lọc hơn về dấu hiệu đặc trưng của sự vật, hiệng tượng Từ đó giúp trẻ phân biệt được sắc thái của sự vật, phân tích, tổng hợp và tìm ra mối liên hệ giữa các sự vật với nhau, giữa sự vật, hiện tượng với con người và môi trường sống
Tư duy của học sinh tiểu học có xuất phát điểm là trực quan, cụ thể Tư duy của học sinh phát triển khi học sinh được tiếp xúc với thực tế, được học tập, trao đổi trong môi trường xã hội Khi suy luận các em thường dựa trên trực quan các sự vật, hiện tượng Trong lĩnh hội, tiếp thu các khái niệm, học sinh tiểu học thường lấy các đối tượng cụ thể thay cho định nghĩa về đối tượng đó, các em suy luận được sự vật, hiện tượng một cách chính xác hơn, cụ thể hơn, hình thành được khái niệm về sự vật, hiện tượng đầy đủ, sâu sắc hơn
Trang 34Ở học sinh tiểu học trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - logic Các em ghi nhớ và nhớ lại các tài liệu trực quan tốt hơn tài liệu bằng lời, ghi nhớ và nhớ lại tốt những gì tác động trực tiếp Nói cách khác, trí nhớ của các em mang tính chất hình ảnh, cụ thể, trực tiếp
Tưởng tượng của học sinh tiểu học thường gắn với những hình tượng đã được các em tri giác trước đó Nếu trước đó các em có những hình tượng phong phú thì các chi tiết trong hình ảnh tưởng tượng của trẻ cũng phong phú Đặc điểm chú ý của học sinh tiểu học là sự chú ý không chủ định Khi tiếp xúc với những tài liệu học tập trực quan, trẻ tập trung chú ý hơn khi thực hiện hành động bên ngoài so với hành động trí óc
Qua phân tích những đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học cho thấy, việc tổ chức cho trẻ trực tiếp tham gia vào các hoạt động giáo dục môi trường giúp cho nhận thức của trẻ về sự vật, hiện tượng dễ dàng và đúng đắn hơn
Đặc điểm về nhân cách nổi bật của học sinh tiểu học
Nhân cách của học sinh tiểu học mang tính hồn nhiên Tất cả những gì trong cuộc sống với các em đều rất mới mẻ Học sinh phải tham gia vào các mối quan hệ xã hội để chiếm lĩnh cái mới mẻ đó, nhằm chuyển tải vào bên trong, biến thành những phẩm chất nhân cách của mình
Các nhà tâm lý học chỉ ra rằng, hứng thú của học sinh tiểu học ngày càng bộc lộ và phát triển rõ rệt, đặc biệt là hứng thú nhận thức, hứng thú tìm hiểu thế giới xung quanh Ở độ tuổi này, trẻ có thái độ và thói quen tốt đối với các hoạt động lao động, vận động như tham gia lao động công ích, vệ sinh đường phố, giúp các gia đình khó khăn, giúp đỡ bố mẹ trong các việc nhà Cũng trong độ tuổi này tình cảm của các em mang tính cụ thể,trực tiếp Đối tượng gây cảm xúc cho các em thường là những sự vật, hiện tượng, việc làm, con người cụ thể, sinh động mà trẻ đã nhìn thấy hoặc đã tiếp xúc Tình cảm thẩm mĩ cũng phát triển mạnh, các em yêu thích cái đẹp trong tự nhiên: hoa lá, cây cỏ, chim chóc Cái đẹp trong tự nhiên, những mối đe dọa đối với tự nhiên, với thực động vật mà trẻ được tiếp xúc trực tiếp sẽ có tác động mạnh mẽ đến dời sống tình cảm của trẻ
Trang 35Từ đó những kiến thức, kĩ năng, thái độ và hành vi được hình thành ở trẻ một cách sâu sắc, đúng đắn trong việc bảo vệ môi trường mà trẻ đang sống
1.1.7 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục môi trường
1.1.7.1 Yếu tố chủ quan
Công tác quản lí, chỉ đạo: Đối với giáo dục tiểu học, những người chỉ đạo trực tiếp việc triển khai thực hiện nội dung chương trình và các hoạt động giáo dục ở địa phương là cấp quản lí từ Sở Giáo dục và Đào tạo đến Phòng Giáo dục
và lãnh đạo trường tiểu học Trong đó, trường tiểu học, hiệu trưởng vừa là nhà thiết kế và tổ chức thực hiện qua văn bản xây dựng kế hoạch, bồi dưỡng lực lượng, giám sát và đánh giá, khen thưởng, động viên đội ngũ giáo viên trong nhà trường Ngoài ra, hiệu trưởng còn có nhiệm vụ tổ chức, điều hành và phối hợp các lực lượng thực hiện nhiệm vụ Vì vậy, công tác quản lí, chỉ đạo của các cấp lãnh đạo giáo dục có vai trò quan trọng, góp phần vào thành công trong việc triển khai áp dụng giáo dục môi trường trong dạy học
Năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy: giáo viên là những người trực tiếp lựa chọn, xác định các nội dung và tổ chức cho học sinh tham gia vào các hoạt động học tập, trải nghiệm nhằm giáo dục môi trường Giáo viên chính là người tạo điều kiện để học sinh được bộc lộ kinh nghiệm trong quá trình học tập, được chia sẻ với các bạn kinh nghiệm của bản thân về
sự vật, hiện tượng Giáo viên là người định hướng để học sinh tích lũy kinh nghiệm về sự vật, hiện tượng có liên quan đến nội dung mà học sinh sắp học hoặc kiểm nghiệm các kiến thức đã học thông qua các hoạt động tại gia đình, cộng đồng
Sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục: các lực lượng như Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên, Sao Nhi đồng và các lực lượng xã hội có vai trò cần thiết trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh Sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục tạo điều kiện thuận lợi trong việc triển khai kế hoạch giáo dục môi trường Môi trường học tập của học sinh phong phú, học sinh không chỉ trải nghiệm trong lớp học, trong trường học mà còn ngoài lớp học (gia đình, môi trường tự nhiện, xã hội, thôn xóm) Do đó, các lực lượng giáo dục
Trang 36trong và ngoài nhà trường có vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi về địa điểm, phương tiện vật chất, kinh phí khi nhà trường tổ chức cho các
em hoạt động giáo dục môi trường
1.1.7.2 Yếu tố khách quan
Môi trường tự nhiên: đó là các yếu tố có liên quan đến thiên nhiên, thực vật, động vật, vật chất và con người xung quanh các em Các yếu tố này ở từng khu vực địa lý khác nhau sẽ khác nhau Sự khác nhau đó có ảnh hưởng đến kinh nghiệm của từng học sinh, đến việc tổ chức các hoạt động giáo dục môi trường
Môi trường xã hội: các hoạt động ở địa phương, gia đình cũng góp phần quan trọng trong việc định hướng hành vi của các em đối với môi trường Các hoạt động môi trường ở địa phương là cơ hội cho học sinh tham gia để kiểm nghiệm những điều đã học trong môn tự nhiên và xã hội, đồng thời cũng là cơ hội để các
em tích lũy vốn kinh nghiệm về sự vật, hiện tượng mà các em tiếp xúc
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng môi trường tại Hải Phòng
Vị trí Hải Phòng là thành phố ven biển, phía Bắc giáp thành phố Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông - cách huyện đảo Bạch Long Vĩ khoảng 70
km Thành phố cách thủ đô Hà Nội 102 km về phía Đông Đông Bắc Thành phố gồm: 7 quận nội thành: Dương Kinh, Đồ Sơn, Hải An, Kiến An, Hồng Bàng, Ngô Quyền, Lê Chân; 6 huyện ngoại thành: An Dương, An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Thủy Nguyên; 2 huyện đảo: Bạch Long Vĩ, Cát Hải Hải Phòng còn được gọi là “ Thành phố Hoa Phượng đỏ”, là một thành phố cảng lớn nhất phía Bắc, là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ vùng duyên hải Bắc Thành phố còn là một trong năm thành phố trực thuộc trung ương, được xếp hạng đô thị loại I của quốc gia với tốc độ đô thị hóa ngày càng cao
Theo kết quả thống kê đất đai năm 2015, Hải Phòng có diện tích đất tự nhiên 152,338 nghìn ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 81,896 nghìn ha, chiếm 53,76 % Các nguồn tiềm ẩn gây ô nhiễm môi trường đất gồm: sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, hoạt động làng nghề, chất thải sinh hoạt, khu
Trang 37xử lý chất rắn thải do tiếp nhận các nguồn nước thải, chất thải rắn có hàm lượng ô nhiễm cao Cùng với sự phát triển KT – XH của thành phố, số lượng các nguồn ô nhiễm môi trường đất và mức độ ảnh hưởng của các nguồn ô nhiễm này có xu hướng gia tăng
Các nguồn ô nhiễm môi trường nước ngọt thành phố gồm: nước thải sinh hoạt; nước thải từ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề; nước thải bệnh viện, nước thải từ các bãi rác và các nguồn khác
Hải Phòng là thành phố cảng, có công nghiệp phát triển và là một trong năm đô thị trung tâm cấp quốc gia với tổng diện tích đất tự nhiên 1519 km2
, dân
số 1,814 triệu nguời, có 16 quận, huyện, thị xã trong đó có 2 huyện đảo, có vị trí địa lý - chính trị - kinh tế - quân sự hết sức quan trọng và tiềm năng lớn của đất nuớc; một cực tăng truởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có vị trí trọng yếu về quốc phòng, an ninh Ngay từ khi thành lập năm 1888 đến nay, thành phố Hải Phòng luôn giữ vững vai trò vừa là một đô thị cảng, vừa là thành phố công nghiệp ngày càng phát triển với các ngành công nghiệp truyền thống nhu đóng
và sửa chữa tàu biển, sản xuất thép, xi măng, hoá chất, dệt may và da giày công nghiệp phát triển nhanh, khá ổn định và đồng đều ở các khu vực Sự hình thành
và phát triển các khu công nghiệp đã góp phần to lớn trong việc thúc đẩy nền kinh tế của Hải Phòng nói riêng và của đất nuớc nói chung Các khu công nghiệp đem lại rất nhiều lợi ích về kinh tế cho xã hội và giải quết đuợc vấn đề lao động cho rất nhiều nhân lực Tuy nhiên đi theo đó là sự suy thoái, xuống cấp của môi trường nói chung và môi trường không khí nói riêng
Theo thống kê của Sở Tài Nguyên và Môi trường Hải Phòng, mỗi năm Hải Phòng phải tiếp nhận khoảng 60.000 tấn khói bụi; 7000 tấn SO2; 42.000 tấn khia CO2 từ các cơ sở công nghiệp thải ra Tại Hải Phòng, các nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí gồm: giao thông, xây dựng, sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, nông nghiệp, làng nghề, các bãi rác và dân sinh Các nguồn thải đang có xu hướng tăng cả về số lượng và qui mô nguồn thải Ngoài ra, các phương tiện giao thông như ô tô, xe máy cũng được xác định như một nguồn phát thải lớn Không khí tại các khu, cụm công nghiệp: Bị ô nhiễm chủ yếu bởi
Trang 38bụi, khí thải, nguyên nhân chính do một số cơ sở sản xuất có công nghệ sản xuất lạc hậu, chưa đầu tư hệ thống xử lý khí thải Tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp có các doanh nghiệp sản xuất cơ khí, nấu luyện kim loại, hóa chất, nến thơm…nên đang tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm do khói, bụi, tiếng ồn và nước thải công nghiệp
Hiện nay do quá trình đô thị hóa đang diễn ra rất mạnh mẽ nên các hoạt động xây dựng nhà cửa, đường xá, cầu cống đang diễn ra ở hầu hết các điểm trên địa bàn thành phố Hải Phòng Các hoạt động xây dựng như đào đất, đập phá công trình cũ, xây dựng các công trình mới, vật liệu xây dựng bị rơi vãi trong quá trình vận chuyển gây ô nhiễm bụi cho môi trường không khí xung quanh Ô nhiễm không khí do xây dựng chủ yếu do bụi ( TSP) SO2, CO, NO2; Sinh hoạt Nguồn ô nhiễm do sinh hoạt của con người chủ yếu là bếp đun sử dụng nhiên liệu than đá, củi, dầu hỏa và khí đốt, có nguồn gốc hóa thạch Nhìn chung nguồn
ô nhiễm này là nhỏ, nhưng đặc điểm của nó là thường gây ô nhiễm cục bộ trong một nhà hay trong một buồng, hoặc không gian nhỏ Cống rãnh và môi trường nước mặt như ao, hồ, kênh rạch, sông ngòi bị ô nhiễm cũng bốc hơi, thoát khí độc hại
Hoạt động nông nghiệp và làng nghề trong hoạt động sản xuất nông nghiệp thường phát thải các khí CH4, H2S, trong quá trình trồng trọt có sử dụng các loại phân bón hóa học và thuốc trừ sâu làm phát tán các khí thải có tính axit, kiềm rất độc hại vào môi trường Khí thải trong chăn nuôi do các quá trình phân hủy phân động vật phát sinh các khí độc hại như: CH4, H2S, NH3 Hoạt động sản xuất tại các làng nghề cũng gây ra những áp lực lên môi trường không khí Thải lượng chất thải tại các làng nghề rất đa dạng, trong đó một số loại hình sản xuất có đặc thù phát thải nhiều loại khí độc hại như làng nghề tái chế kim loại , giấy, nhựa, đúc đồng, làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, thực phẩm, chế tác
đá Các khí thải điển hình như bụi, khí SO2, NO2, hơi axit và kiềm sản sinh từ các quá trình như xử lý bề mặt, nung, sấy, tẩy, trắng, đục tạo hình các sản phẩm
Xuất phát từ thực trạng môi trường của thành phố Việc GDMT thông qua các môn học đặc biệt là qua môn TNXH là một điều cần thiết để HS có ý thức
Trang 39chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và bản thân các em cũng tự ý thức được trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ môi trường
1.2.2 Thực trạng giáo dục môi trường qua môn Tự nhiên và Xã hội lớp
3 trường Tiểu học Nguyễn Khuyến – Ngô Quyền – Hải Phòng
1.2.2.1.Khái quát về điều tra thực trạng
Vài nét về địa bàn nghiên cứu: Từ Ngã Sáu theo con phố Lương Khánh
Thiện khoảng vài ki-lô-mét là các bạn sẽ đến trường tiểu học Nguyễn Khuyến
Một ngôi trường tuy nhỏ gọn nhưng vững chãi trên bảng hiệu mang dòng chữ “Trường Tiểu học Nguyễn Khuyến ” Bên trong cổng trường là một khuôn viên gọn gàng, thoáng mát về mùa hè và ấm áp vào mùa đông Trong những năm học gần đây, thực hiện phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, trường tiểu học Nguyễn Khuyến thường xuyên phát động các phong trào trồng và chăm sóc cây cảnh ở các bồn hoa sân trường làm cho ngôi trường thêm đẹp và tươi mới
Hiện nay, nhà trường có 600 học sinh với 18 lớp Tổng số CB, GV, NV là
42 đồng chí Trong đó có: 10 GV giỏi cấp Thành phố; 14 GV giỏi cấp Quận chiếm 96% tổng số GV toàn trường 100% GV đạt chuẩn và trên chuẩn; trình độ tay nghề vững vàng, tâm huyết, có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy
và giáo dục học sinh Từ năm học 2014-2015 đến nay, nhà trường đã tích cực áp
dụng phương pháp dạy học mới với phương châm “Dạy thật, học thật” giúp cho
học sinh trường tiểu học Nguyễn Khuyến mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp, nhiều kỹ năng được phát triển tốt, học sinh hoạt động rất tích cực và hiệu quả
Với sự tham gia rất tích cực của cộng đồng và phụ huynh học sinh, khuôn viên, cơ sở vật chất của nhà trường ngày càng cải thiện, khang trang hơn, đẹp hơn, mô phạm hơn Mô hình chăm nuôi bán trú thường xuyên được nâng cấp về
cơ sở vật chất, chất lượng bữa ăn hàng ngày luôn được các cô nuôi thay đổi để đảm bảo về vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như các chất dinh dưỡng theo đúng
tiêu chuẩn để đáp ứng tốt nhu cầu dinh dưỡng và sự phát triển của học sinh
Mặc dù nằm giữa trung tâm thành phố nhưng trường có khuôn viên nhỏ, môi trường sạch sẽ, thoáng mát Tuy nhiên, trường nằm ngay sát đường tàu, học
Trang 40sinh bị ảnh hưởng bởi khói tàu, tiếng ồn của tàu mỗi khi chạy qua, trung bình một ngày tàu chạy trên 20 lần Đối diện với cổng trường là chợ Ga, một ngôi chợ to nhất, sầm uất nhất với các hoạt động mua bán, kinh doanh và các dịch vụ
di kèm theo nó gây ra tiếng ồn ào, náo nhiệt ảnh hưởng đến không gian và không khí học tập của các em học sinh Ngay sát cổng trường là tiệm cắt tóc Đức Thịnh, mùi hóa chất bay sang các lớp học ảnh hưởng đến chất lượng học tập và sinh hoạt của học sinh
Nội dung điều tra: Để có cơ sở thực tiễn đề xuất nội dung và quy trình
giáo dục môi trường trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3, chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng giáo dục môi trường ở trường tiểu học Nguyễn Khuyến
- Hải Phòng thông qua đối tượng là CBQL, GV (gọi chung là giáo viên) Các nội dung điều tra thực trạng gồm:
tích hợp trong các môn học
Nhiên và Xã hội
Đối tượng điều tra: Gồm 30 GV
Phương pháp điều tra: Điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn, quan sát, dự giờ dạy môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3
Thời gian điều tra: tháng 11/2016
Cách tiến hành: chúng tôi liên lạc trực tiếp với Ban giám hiệu nhà trường, nêu mục đích của buổi điều tra Sau đó tiến hành phát bảng hỏi cho GV, lên kế hoạch dự giờ GV
1.2.2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng
Nhận thức của giáo viên về nội dung giáo dục môi trường tích hợp trong các môn học được thể hiện ở bảng 1.1 dưới đây: