1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Vận dụng phương pháp tích cực để tổ chức dạy học phân môn luyện từ và câu

110 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

------ VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TÍCH CỰC ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌC PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 2 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN NGÔ QUYỀN – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LUẬN VĂN THẠC S

Trang 1

- -

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TÍCH CỰC ĐỂ TỔ CHỨC

DẠY HỌC PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO

HỌC SINH LỚP 2 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC

QUẬN NGÔ QUYỀN – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu Học

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Phương Nga

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

HẢI PHÒNG NĂM 2017

www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 2

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và

đƣợc trích dẫn đúng quy định Luận văn ―Vận dụng phương pháp tích

cực để tổ chức dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 2 ở một

số trường tiểu học quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng" đƣợc trình bày

là do chính tác giả nghiên cứu và thực hiện

Đề tài này phù hợp với vị trí, chức vụ, đơn vị công tác của tôi và

chƣa đƣợc triển khai thực hiện trong thực tiễn

Hải Phòng, tháng 3 năm 2017

Tác giả

www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Lê Phương Nga

người đã dành cho em sự hướng dẫn tận tình, tâm huyết và những gợi ý quý

báu trong suốt quá trình em thực hiện luận văn

Em xin chân thành cảm ơn các quý thầy cô đang công tác tại trường Đại

học Hải Phòng, đặc biệt tại khoa Giáo dục Tiểu học đã tận tình truyền đạt

kiến thức và kinh nghiệm cho chúng em

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh các

trường: Trường Tiểu học Lê Hồng Phong, Tiểu học Nguyễn Trãi đã tạo điều

kiện cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động

viên tôi hoàn thành luận văn !

Hải Phòng, tháng 3 năm 2017

Tác giả

www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8

1.1 Cơ sở lí luận 8

1.1.1 Tầm quan trọng của phương pháp tích cực 8

1.1.2 Khái niệm phương pháp tích cực 9

1.1.3 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp tích cực 10

1.1.4 Điều kiện để dạy và học theo phương pháp tích cực 13

1.1.5 Những điểm cần lưu ý khi vận dụng phương pháp tích cực trong dạy học 14

1.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.1 Phân tích chương trình, nội dung dạy học, hệ thống bài tập Luyện từ và câu lớp 2 15

1.2.2 Thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 2 ở một số trường tiểu học quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng 33

1.2.3 Đánh giá chung về việc dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 2 39

1.3 Tiểu kết chương 1 40

CHƯƠNG 2 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TÍCH CỰC VẬN DỤNG ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 2 41

2.1 Nguyên tắc đề xuất các phương pháp 41

2.1.1 Vận dụng phương pháp tích cực trong dạy học phân môn Luyện từ và câu phải đảm bảo tính tích hợp 41

2.1.2 Vận dụng phương pháp tích cực để tổ chức dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 2 phải đảm bảo tính thực hành giao tiếp 41 2.1.3 Vận dụng phương pháp tích cực để tổ chức dạy học Luyện từ và câu

Trang 5

lớp 2 phải đảm bảo tính vừa sức 43

2.2 Một số phương pháp tích cực trong tổ chức dạy học Luyện từ và câu 45

2.2.1 Vận dụng phương pháp thực hành giao tiếp để tổ chức dạy học Luyện từ và câu lớp 2 45

2.2.2 Vận dụng phương pháp trò chơi học tập để tổ chức dạy học Luyện từ và câu lớp 2 48

2.2.3 Vận dụng phương pháp hợp tác nhóm để tổ chức dạy học Luyện từ và câu lớp 2 53

2.2.4 Vận dụng phương pháp sử dụng tình huống có vấn đề để tổ chức dạy học Luyện từ và câu lớp 2 58

2.3 Tiểu kết chương 2 64

CHƯƠNG 3 TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM DẠY HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 2 THEO PHƯƠNG PHÁP TÍCH CỰC 65

3.1 Những điểm cần lưu ý khi thiết kế bài dạy Luyện từ và câu lớp 2 theo phương pháp tích cực 65

3.2 Tổ chức thực nghiệm 68

3.2.1 Mục đích thực nghiệm 68

3.2.2 Đối tượng thực nghiệm 68

3.2.3 Nội dung thực nghiệm 69

3.2.4 Cách tiến hành thực nghiệm 69

3.2.5 Xử lý và phân tích kết quả thực nghiệm 70

3.3 Tiểu kết chương 3 76

KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 89

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1 Trong bối cảnh biến đổi nhanh chóng của đời sống xã hội hiện đại,

tư duy và tầm nhìn chiến lược không chỉ đối với từng quốc gia, dân tộc mà ngay cả đối với từng tổ chức, từng cá nhân Với bốn trụ cột lớn của nền giáo

dục hiện đại hiện nay đó là: "Học để hiểu biết và sáng tạo, học để làm, học

để chung sống và học để làm người" (Unessco) Trong quá trình phát triển từ

nền giáo dục truyền thống sang nền giáo dục hiện đại, xu hướng của các nước phát triển trên thế giới về đánh giá trong giáo dục tiến tới chuẩn hóa, đánh giá thực tiễn và đánh giá sáng tạo

Nghị quyết Trung ương 29 của Đảng ta đã chỉ rõ ―Giáo dục là quốc

sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân‖ Đổi mới

căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cấp thiết Đó là chuyển mạnh từ quá trình giáo dục chủ yếu từ truyền thụ kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất của người học Học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội nhằm phát triển con người Việt Nam một cách toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, biết yêu Tổ quốc, yêu gia đình, sống tốt và làm việc hiệu quả

Cụ thể đối với giáo dục tiểu học, tập trung phát triển trí tuệ, hình thành phẩm chất, năng lực, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục truyền thống, đạo đức, lối sống, năng lực, phẩm chất và kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, phát triển khả năng sáng tạo và tự học Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực

và phẩm chất người học hài hòa đức, trí, thể, mĩ Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, tích hợp cao

ở các lớp dưới, phân hóa dần ở các lớp trên, giảm số môn học bắt buộc và tăng số môn học, chủ đề và các hoạt động giáo dục tự chọn Đổi mới mạnh

Trang 9

mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đồng thời chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng hợp tác, vận dụng kiến thức vào thực tiễn nhằm hình thành và phát triển các năng lực chung, năng lực chuyên biệt cho học sinh

Chính vì vậy, nâng cao chất lượng giáo dục theo hướng hiện đại hoá giáo dục là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác phát triển sự nghiệp giáo dục ở nước ta mà Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt ra đối với hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó có giáo dục Tiểu học Nhiệm vụ này đòi hỏi nhà trường tiểu học phải đổi mới tất cả các hoạt động quản lý, giảng dạy và học tập của nhà trường Đổi mới ở đây không chỉ là xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật hiện đại, đổi mới chương trình, nội dung sách giáo khoa mà chủ yếu là dạy và học theo phương pháp mới

Điều 24.2 Luật giáo dục đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông

phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh ”

Tuy nhiên muốn sử dụng phương pháp nào là tuỳ vào khả năng linh hoạt, sáng tạo của từng giáo viên, nhưng vẫn phải đảm bảo mọi đối tượng học sinh đều đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng cơ bản của môn học trong chương trình bằng sự nỗ lực đúng mức của bản thân, đồng thời đáp ứng được nhu cầu phát triển năng lực riêng của từng học sinh trong từng môn học hoặc từng chủ đề của mỗi môn học

2 Trong chương trình dạy học ở bậc Tiểu học, Tiếng Việt là một môn học có vị trí đặc biệt quan trọng Bao gồm 6 phân môn, Tiếng Việt vừa là môn khoa học, vừa là môn công cụ cho các môn học khác Dạy tiếng Việt ở tiểu học là dạy phát triển ngôn ngữ cho người bản ngữ vì bản thân các em đã biết tiếng mẹ đẻ Xuất phát từ mục tiêu của môn Tiếng Việt trong trường tiểu học nhằm tạo cho học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt, văn hoá và hiện đại

Trang 10

để suy nghĩ, giao tiếp và học tập Thông qua việc học tiếng Việt rèn cho học sinh năng lực tư duy, phương pháp suy nghĩ, giáo dục cho các em tư tưởng, tình cảm trong sáng

Nội dung sách giáo khoa tinh giản, tích hợp các kiến thức thiết thực mang tính cập nhật, phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học trong thời đại mới hiện nay

Một trong những phân môn của môn Tiếng Việt, giúp học sinh nắm được nghĩa của từ, biết dùng từ đặt câu, sử dụng đúng các kiểu câu trong giao tiếp,… là phân môn Luyện từ và câu Muốn nói hay, viết giỏi đều phải dùng

từ Từ là vật liệu để cấu thành ngôn ngữ Hiểu được nghĩa của từ đã khó, còn phải biết dùng từ như thế nào cho hợp văn cảnh, đúng ngữ pháp còn khó hơn

Cho nên, việc dạy cho học sinh nắm vững tiếng Việt không thể không coi trọng việc dạy phân môn Luyện từ và câu, đặt nền móng cho việc tiếp thu tốt các môn học khác ở các lớp học trên Tuy nhiên, với học sinh lớp 2, là lớp đầu tiên làm quen và học phân môn này thì thật không dễ chút nào

Phương pháp dạy học tích cực mang lại cho học sinh những trải nghiệm

vô cùng thú vị Nội dung học tập trở nên nhẹ nhàng, hấp dẫn, vừa gần gũi lại không kém phần mới lạ Phương pháp dạy học tích cực cũng tạo cơ hội cho học sinh không chỉ tiếp nhận tri thức mới mà còn trở thành trung tâm của quá trình dạy học, luôn được thể hiện mình, bên cạnh đó không ngừng phát triển năng lực làm việc nhóm, hợp tác với nhóm Việc áp dụng các phương pháp tích cực để gây hứng thú vào giờ dạy Luyện từ và câu chính là việc giáo viên khơi dậy niềm hứng thú, niềm say mê học tập, phát huy tính tích cực của học sinh, tạo không khí sôi nổi cho giờ học

Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Vận dụng phương pháp

tích cực để tổ chức dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 2 ở một số trường tiểu học quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng”

Trang 11

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Những nghiên cứu về phân môn Luyện từ và câu

Vấn đề sử dụng từ - câu của học sinh nói chung và học sinh tiểu học

nói riêng đã và đang được rất nhiều người quan tâm Trong cuốn ―Dạy học từ

ngữ ở tiểu học” các tác giả Phan Thiều, Lê Hữu Tỉnh đã chỉ ra rằng: ― Muốn

dạy học cho học sinh nắm chắc được các nội dung từ ngữ ở tiểu học trước hết giáo viên dạy từ ngữ phải nắm chắc nội dung dạy học và có phương pháp dạy học thoả đáng.‖

Bàn về vai trò của phân môn Luyện từ và câu và phương pháp dạy học

ngữ pháp ở tiểu học, tác giả Lê Phương Nga đã viết cuốn Dạy học ngữ pháp ở

tiểu học

Ngoài ra còn khá nhiều công trình nghiên cứu khác đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến các vấn đề này ở mức độ nông sâu khác nhau như

Câu tiếng Việt và nội dung dạy học câu ở trường phổ thông – Nguyễn Thị

Thìn, Dạy vốn từ tối thiểu - Nguyễn Thế Lịch, Từ vựng - ngữ nghĩa Tiếng

Việt - Lê Hữu Tỉnh, Thành phần câu tiếng Việt - Nguyễn Minh Thuyết,

Nguyễn Văn Hiệp…

2.2 Những nghiên cứu về phương pháp dạy học tích cực

Cùng với quá trình đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, việc đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với nội dung dạy học là một trong những vấn đề quan trọng

Năm 1998, hai tác giả Lê Phương Nga và Nguyễn Trí đã viết cuốn

Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học Cuốn sách không phải là chuyên

luận đi sâu vào một đề tài nhất định mà trình bày kết quả nghiên cứu của các tác giả về nhiều vấn đề: vấn đề đổi mới các phương pháp dạy học các phân môn của chương trình tiếng Việt tiểu học, những lưu ý khi bồi dưỡng, kiến thức, kĩ năng cho học sinh… Tuy nhiên sự thống nhất trong cả cuốn sách chính là quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt, một phương pháp dạy học nhằm phát triển ở học sinh công cụ giao tiếp và công cụ tư duy

Trang 12

Năm 2003, Trần Bá Hoành cùng các tác giả Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga, Nguyễn Trí,…đã viết nhiều cuốn sách nhằm đi sâu nghiên cứu

vấn đề đổi mới phương pháp theo hướng tích cực như: “Áp dụng dạy và học

tích cực trong môn Tiếng Việt”, ―Áp dụng dạy và học trong môn Văn học” …

Bài viết ―Dạy học lấy học sinh làm trung tâm‖ của tác giả Trần Bá

Hoành đã đề cập tới phương pháp hợp tác hay phương pháp học tập nhóm với

ý nghĩa là một trong những phương pháp lấy học sinh làm trung tâm

Nhằm phục vụ cho yêu cầu dạy học môn Tiếng Việt lớp 2 theo hướng đổi mới, nhóm soạn giả Trần Mạnh Hưởng, Lê Phương Nga, Nguyễn Thị

Hạnh đã viết cuốn Trò chơi học tập Tiếng Việt 2 Với tư tưởng học và chơi

không tách với nhau, cuốn sách cung cấp nhiều các trò chơi thú vị mà dữ liệu của các trò chơi này đều là kiến thức về tiếng Việt mà học sinh đã được học Những tình huống gây cười hoặc tranh luận xuất hiện khi chơi sẽ khuyến khích học sinh tham gia học tập tích cực

Có thể nói rằng, nghiên cứu về phương pháp dạy học có thể vận dụng một cách hiệu quả cho từng môn học đã và đang được các nhà giáo dục quan tâm ở những bình diện khác nhau Mỗi phương pháp dạy học đều có ưu thế riêng và chúng được vận dụng một cách khác nhau trong từng môn học nhằm tạo ra môi trường học tập và phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh Ngành giáo dục và đào tạo Hải Phòng đang tích cực đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, tuy nhiên những

đề tài nghiên cứu chưa nhiều, đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu Qua tìm hiểu thực tế, các luận văn thạc sĩ ở Hải Phòng chủ yếu là chuyên ngành Quản

lí giáo dục, có rất ít luận văn về phương pháp dạy học ở tiểu học Bởi vậy, nghiên cứu và tổ chức dạy học phân môn Luyện từ và câu theo phương pháp tích cực cho học sinh lớp 2 là rất cần thiết trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Tổng quan nghiên cứu về vấn đề dạy Tiếng Việt ở tiểu học của các tác giả trong nước thông qua việc tìm hiểu, tập hợp tài liệu tham khảo

- Hệ thống hoá, phân tích cơ sở khoa học của việc vận dụng phương pháp tích cực để tổ chức dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 2

- Đề xuất một số phương pháp tích cực để tổ chức dạy học phân môn Luyện từ và câu

- Tổ chức thực nghiệm sư phạm các phương pháp tích cực trong dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 2 đã được đề xuất và đưa ra kết luận, kiến nghị

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Một số phương pháp tích cực để tổ chức dạy học phân môn Luyện từ

và câu cho học sinh lớp 2

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát thực trạng, từ đó đề xuất một

số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực học tập cho học sinh lớp 2

Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu và khảo sát thực trạng tại một số trường tiểu học trên địa bàn quận Ngô Quyền: trường Tiểu học Lê Hồng Phong, trường Tiểu học Nguyễn Thượng Hiền, trường Tiểu học Chu Văn An, trường Tiểu học Kim Đồng, trường Tiểu học Trần Quốc Toản, trường Tiểu học Nguyễn Trãi…

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp sau:

1 Phương pháp quan sát: Chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát nhằm thu nhận những biểu hiện về hứng thú của học sinh trên các tiết học Luyện từ và câu lớp 2 ở một số trường tiểu học

2 Phương pháp điều tra khảo sát: Chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng dạy và học Luyện từ và câu lớp 2 của giáo viên và học sinh Trên cơ sở

đó đề xuất những phương pháp tích cực có thể vận dụng trong dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 2

3 Phương pháp thống kê: Chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê nhằm xử lý các số liệu một cách chính xác và tin cậy

4 Phương pháp thực nghiệm: Phương pháp này có vị trí quan trọng với khoa học giáo dục và công tác nghiên cứu Trong luận văn này, chúng tôi tiến hành thực nghiệm để kiểm tra khả năng vận dụng của đề tài vào thực tiễn dạy học

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Đề xuất một số phương pháp tích cực vận dụng để tổ chức dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 2

Chương 3: Tổ chức thực nghiệm dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 2 theo phương pháp tích cực

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Tầm quan trọng của phương pháp tích cực

Để nâng cao chất lượng giáo dục, bên cạnh việc cải tiến nội dung sách giáo khoa, phương pháp dạy học cũng phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện và phát triển năng lực suy nghĩ và làm việc một cách tự chủ, năng động, sáng tạo Trong mỗi con người, ai cũng có một tiềm năng về một mặt nào đó Nếu biết khai thác tiềm năng quý giá đó trong nhận thức, trong học tập thì vô cùng quan trọng bởi vì ―Khả năng tiềm tàng của bộ óc trong hoạt động trí tuệ của con người còn lâu mới sử dụng hết, chỉ mới sử dụng khoảng 10 - 15 % và

do đó sự khác biệt về mặt trí tuệ mà người ta nhận thấy giữa người này với người khác phụ thuộc không hẳn vào bản tính sinh học của họ mà chủ yếu vào những ảnh hưởng khác nhau của môi trường và giáo dục‖ [31 - tr 32]

Sử dụng phương pháp tích cực sẽ giúp chúng ta phát hiện ra những năng lực tiềm tàng trong mỗi học sinh, khai thác được vốn sống phong phú của các em Áp dụng phương pháp tích cực sẽ tạo cơ hội để phát huy trí tuệ tập thể của học sinh

Sử dụng phương pháp tích cực sẽ hình thành ở học sinh lòng say mê học tập, tập trung mọi ý chí, sức lực cho học tập Chính vì vậy mà cố vấn Phạm Văn Đồng có nói: ― Điều hay thứ hai của phương pháp này là nó giúp người ta có phương pháp tự học và lòng ham học Đó là cái quý giá nhất Như vậy nhà trường đã đem lại cho học trò các phương pháp và sự ham học, cái sự cần thiết phải học Sự cần thiết này cũng bức xúc như ta cần khí để thở, cần ăn để có dinh dưỡng, cần đi chơi cho thoải mái.‖ [17]

Tóm lại, sử dụng phương pháp tích cực trong dạy học sẽ giúp chúng ta đào tạo nên những con người năng động, tích cực, linh hoạt trong cuộc sống, thích ứng với nền kinh tế hiện nay Học sinh học theo cách này sẽ biết cách học và cách làm, lúc đầu là tập làm, sau làm dần dần sẽ biết làm, biết ứng xử

Trang 16

trong sinh hoạt và trong cuộc sống hằng ngày Lối học này tạo cho con người sống rất thực tế, thích hoạt động, hoà nhập và cộng đồng để tận dụng và khai thác trí tuệ của cộng đồng và bổ sung cho mình thêm hoàn thiện

1.1.2 Khái niệm phương pháp tích cực

Cho đến nay vẫn chưa có một sự thống nhất về định nghĩa phương pháp tích cực Đây còn là vấn đề đang được xem xét và nghiên cứu tiếp

Theo Dewey thì phương pháp tích cực là sáng tạo ra những tình huống xác thực cho những hành động liên tục mà học sinh quan tâm

Một số tác giả khác thì cho rằng phương pháp tích cực chính là phương pháp lấy học sinh làm trung tâm Nghĩa là toàn bộ quá trình dạy học đều phải

hướng vào nhu cầu, khả năng và năng lực độc lập học tập và giải quyết vấn đề

của học sinh, sử dụng phương pháp tích cực sẽ tạo ra không khí thân mật, cởi

mở giữa thầy và trò; thầy trò như hai người bạn cùng nhau khảo sát, thăm dò

và xử lí từng khía cạnh của vấn đề GS Trần Hồng Quân có viết:‖ Muốn đào tạo con người khi vào đời là con người tự chủ, chủ động, năng động sáng tạo thì phương pháp giáo dục phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện và phát triển Phương pháp nói trên nằm trong hệ thống các phương pháp giáo dục tích cực, là phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, người học giữ vai trò chủ động, tích cực trong quá trình học tập, người học không thụ động nghe thầy giảng và truyền đạt kiến thức mà học tích cực bằng hành động của chính mình.‖ [18]

Đồng chí Cố vấn Phạm Văn Đồng thì quan niệm phương pháp tích cực chính là phương pháp phát huy sáng tạo, tạo cơ hội cho người học phát huy trí tuệ, khả năng sáng tạo của mình ―Chữ tích cực này thể hiện ở chỗ nó có chiều sâu, nó tạo cơ hội cho người học, cho các đối tượng trung tâm phát huy được cái trí tuệ, cái tư duy, cái thông minh của mình‖ [18]

Có thể nói rằng phương pháp tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước, để chỉ những phương pháp giáo dục dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học ―Tích cực‖ trong phương pháp tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa

Trang 17

với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực [3] Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải tập trung phát huy tính tích cực của người dạy, đành rằng để dạy học theo phương pháp tích cực thì người giáo viên phải nỗ lực nhiều hơn so với dạy theo phương pháp thụ động

Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Rõ ràng là cách dạy chỉ đạo cách học nhưng ngược lại thói quen học tập của của trò có ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được Cũng có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng phương pháp tích cực nhưng thất bại vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen lối học tập thụ động Vì vậy giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao Theo tinh thần đó người ta còn dùng thuật ngữ

― Dạy và học tích cực‖ phân biệt với ― Dạy và học thụ động‖ Thuật ngữ rút gọn ― Phương pháp tích cực‖ hàm chứa cả phương pháp dạy học và phương pháp học

1.1.3 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp tích cực

Để phân biệt phương pháp tích cực với phương pháp thụ động, có thể nêu ra 4 dấu hiệu đặc trưng cơ bản sau:

a) Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh:

Trong phương pháp tích cực người học - đối tượng của hoạt động

―dạy‖ đồng thời là chủ thể của hoạt động ―học‖ - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mà mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức

đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực

tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó vừa nắm được kiến thức, kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp ―làm ra‖ kiến thức, kĩ năng đó, không rập

Trang 18

theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộc và phát huy tiềm năng sáng tạo

b) Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão thì không thể nhồi nhét vào đầu óc trẻ khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho trẻ phương pháp học ngay từ bậc tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng

Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn

luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học

thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay, người ta nhấn mạnh

hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học

tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong

trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên

c) Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hoá này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập

Trang 19

thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới

Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp học, trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách, năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ

d) Kết hợp đánh giá của thầy với sự đánh giá của trò

Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy Trước đây, giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh, trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan tới điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh

Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức,

giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập

hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình

Trang 20

Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên

1.1.4 Điều kiện để dạy và học theo phương pháp tích cực

a) Dạy học theo phương pháp tích cực đòi hỏi một số điều kiện, trong

đó quan trọng nhất là người giáo viên Giáo viên phải được đào tạo chu đáo

để thích ứng với những thay đổi chức năng, với những nhiệm vụ đa dạng, phức tạp của mình, nhiệt tình với những công cuộc đổi mới giáo dục Giáo viên vừa có tri thức chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề, biết ứng xử tinh tế, biết sử dụng các công nghệ thông tin vào dạy học, biết định hướng sự phát triển của học sinh theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo

sự tự do của học sinh trong hoạt động nhận thức

b) Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh phải dần dần có được

những phẩm chất và năng lực thích ứng với phương pháp tích cực như giác

ngộ mục đích học tập; tự giác trong học tập, có ý thức trách nhiệm về kết quả học tập của mình và kết quả chung của cả lớp, biết tự học và tranh thủ học ở mọi nơi mọi lúc, bằng mọi cách, phát triển các loại hình tư duy biện chứng, lôgic, hình tượng, tư duy kinh tế

c) Chương trình và sách giáo khoa phải giảm bớt khối lượng kiến thức

nhồi nhét, tạo điều kiện cho thầy trò tổ chức những hoạt động học tập tích cực, giảm bớt những thông tin buộc học sinh phải thừa nhận và ghi nhớ máy móc, tăng cường các bài toán nhận thức để học sinh tập giải, giảm bớt những câu hỏi tái hiện, tăng cường loại câu hỏi phát triển trí thông minh, giảm bớt những kết luận áp đặt, tăng cường những gợi ý để học sinh nghiên cứu, phát triển bài học

d) Phương pháp tích cực yêu cầu có những thiết bị dạy học thuận tiện

cho học sinh thực hiện các công tác độc lập hoặc hoạt động nhóm Hình thức

tổ chức lớp học phải dễ dàng thay đổi linh hoạt, phù hợp với dạy học cá thể, dạy học hợp tác Hiện nay có rất nhiều trường tiểu học trên cả nước đã có

Trang 21

phòng máy vi tính, bàn ghế được thiết kế hiện đại Tuy nhiên những trường

ở nông thôn hoặc miền núi thì việc đầu tư trang thiết bị rất khó khăn

e) Việc kiểm tra, đánh giá phải chuyển biến mạnh theo hướng phát

triển trí thông minh sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạt

các kĩ năng đã học vào tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của học sinh trước những vẫn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng Chừng nào việc đánh giá chưa thoát ra khỏi quỹ đạo học tập thụ động thì chưa thể phát triển dạy và học tích cực Trong dạy học cần để học sinh tự đánh giá mình và đánh giá bạn

g) Các cấp quản lí phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc đổi mới

phương pháp ở trường mình, đặt vấn đề này ở tầm quan trọng đúng mức trong

phối hợp với các hoạt động toàn diện của nhà trường Hiệu trưởng cần trân trọng, ủng hộ, khuyến khích mỗi sáng kiến, cải tiến dù nhỏ của giáo viên nhưng cũng cần biết hướng dẫn, giúp đỡ giáo viên vận dụng các phương pháp tích cực thích hợp với môn học, đặc điểm của học sinh, điều kiện dạy và học

ở địa phương, làm cho phong trào đổi mới phương pháp dạy học ngày càng

rộng rãi, thường xuyên và có hiệu quả hơn

1.1.5 Những điểm cần lưu ý khi vận dụng phương pháp tích cực trong dạy học

a) Kế thừa và phát huy những phương pháp dạy học hiện hành đã có

yếu tố tích cực như: phương pháp thực hành giao tiếp, phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp rèn luyện theo mẫu, phương pháp nêu vấn đề Bổ sung vào các phương pháp dạy học truyền thống những biện pháp và kĩ thuật dạy học mới nhằm giúp cho người học phát huy được tính tích cực trong học tập Những phương pháp dạy học trước đây được dùng theo kiểu làm cho người học dễ thụ động như phương pháp thuyết trình sẽ được cách tân bởi những kĩ thuật mới như: phối hợp giữa thuyết trình với đặt và giải quyết vấn

đề, phối hợp giữa thuyết trình với thảo luận, giữa thuyết trình với hướng dẫn quan sát các phương tiện trực quan…

Trang 22

b) Vận dụng một số phương pháp dạy học có khả năng tích cực hóa hoạt động học của học sinh mà nhiều nước trên thế giới đã sử dụng có hiệu

quả vào thực tiễn dạy học trong nhà trường Việt Nam: dạy học phát hiện, dạy học hợp tác trong nhóm, Việc lựa chọn phương pháp dạy học phải căn cứ vào từng loại bài học, từng nội dung dạy học ở từng lớp, phải căn cứ vào điều kiện và phương tiện dạy học của từng vùng, từng trường để các phương pháp dạy học được chọn phát huy tối đa tác dụng đối với việc thực hiện mục tiêu của từng bài học trên từng đối tượng học sinh ở một lớp học cụ thể Các phương pháp thực hành giao tiếp, đóng vai sẽ có mặt thường xuyên trong loại bài rèn luyện những kĩ năng đọc, viết, nghe, nói Các phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, thuyết trình tích cực sẽ được chọn nhiều hơn để dạy loại bài cung cấp kiến thức mới về ngôn ngữ và tiếng Việt (lý thuyết về từ vựng, ngữ pháp ) Phương pháp sử dụng trò chơi học tập được dùng để dạy cả hai loại bài nói trên

c) Để phát huy cao tính hiệu quả của việc sử dụng phương pháp dạy

học, cần dùng phối hợp nhiều phương pháp dạy học trong một bài dạy Việc

sử dụng chỉ một hoặc một số ít phương pháp dạy học trong một bài sẽ làm cho bài học trở nên đơn điệu, nhàm chán đối với người học, do đó sẽ làm hạn chế kết quả học tập của học sinh Bởi trong một bài học có nhiều kiến thức cần phải cung cấp cho học sinh Giáo viên phải căn cứ vào nội dung dạy học của từng phần, từng bài cụ thể để lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Phân tích chương trình, nội dung dạy học, hệ thống bài tập Luyện từ và câu lớp 2

1.2.1.1 Mục tiêu chương trình và chuẩn kiến thức kĩ năng

Luyện từ và câu là một trong những phân môn của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học Việc xác định mục tiêu là cơ sở, định hướng cho việc xây dựng nội dung chương trình dạy học Xác định mục tiêu đúng, chính xác, khoa học và hợp lý thì mới xây dựng được nội dung dạy học khoa học, phù

Trang 23

hợp với đối tượng người học Xác định mục tiêu sai thì dạy học không có kết quả Trong quá trình dạy học, mục tiêu một môn học nói chung thường nêu lên ba mặt: giáo dưỡng (nhận thức: những kiến thức cần trang bị cho học sinh), phát triển (các thao tác tư duy cơ bản) và mặt giáo dục (tư tưởng, tình cảm, thái độ) Do đặc thù của bộ môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Luyện

từ và câu nói riêng nên mục tiêu giáo dưỡng của các phân môn Tiếng Việt thường đề cập đến hai nhiệm vụ: Học để nắm các tri thức khoa học về ngôn ngữ và học để giao tiếp - giao tiếp bản ngữ Hoạt động giao tiếp vừa là mục đích vừa là phương tiện dạy các phân môn này

Theo tài liệu hướng dẫn dạy học tiếng Việt 2, mục tiêu của phân môn Luyện từ và câu lớp 2 được xác định như sau :

* Mở rộng vốn từ để cung cấp cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về:

- Cấu tạo từ: phân biệt từ đơn, từ phức

- Từ loại: các từ chỉ tên người, tên sự vật, tên cây cối, từ chỉ hoạt động,

từ chỉ màu sắc Các em chưa làm quen với khái niệm danh từ, động từ, tính từ

- Cấu tạo câu: Câu giới thiệu Danh là danh, câu miêu tả Danh - động, câu miêu tả Danh - tính

- Dấu câu: Dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấy phẩy, dấu chấm than

* Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu

* Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói, viết thành câu;

có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp và thích học tiếng Việt

Mục tiêu của phân môn Luyện từ và câu định hướng cho việc lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học phân môn này Với việc xác định mục tiêu như trên thì dạy học Luyện từ và câu phải tổ chức sao cho học sinh sử dụng được tiếng mẹ đẻ một cách chuẩn mực, tức là sử dụng được được chuẩn trong lời nói Mục tiêu mở rộng, làm giàu vốn từ giúp các em học và sử dụng tiếng

mẹ đẻ như một công cụ và phương tiện giao tiếp, đồng thời phát triển ngôn ngữ, phát triển lời nói cho các em Mục tiêu về kiến thức xác định được

Trang 24

những kiến thức sơ giản, tối cần thiết, vừa sức với lứa tuổi học sinh lớp 2 Phân môn Luyện từ và câu hình thành và phát triển, rèn luyện cả bốn kỹ năng

sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết)

1.2.1.2 Cấu trúc của chương trình Luyện từ và câu lớp 2

Sách Tiếng Việt lớp 1 chưa có bài Luyện từ và câu riêng Qua các ngữ liệu phục vụ việc luyện đọc trong phần Học vần và qua các bài tập đọc, giáo viên bước đầu giáo dục cho học sinh nhận thức về từ và câu Hệ thống Luyện

từ và câu lớp 2 bao gồm 31 bài Mỗi tuần một bài và được dạy trong một tiết, trừ tuần 9, 18, 27, 35 là những tuần ôn tập giữa kỳ và cuối kỳ Các bài tập Luyện từ và câu được bố trí xen kẽ với các phân môn khác Bài Luyện từ và

câu được xếp sau bài tập đọc thứ hai trong tuần Cụ thể như sau: Tập đọc —>

Kể chuyện —> Chính tả —> Tập đọc —> Luyện từ và câu —> Tập viết —> Tập đọc —> Chính tả —> Tập làm văn

Mỗi bài Luyện từ và câu đều là những bài thực hành gồm các bài tập về

từ, câu, dấu câu Không có phần đóng khung bài học - không có phần lý thuyết (trừ một bài ở tuần 5) và cũng không có tên bài học Tên các bài Luyện

và câu chỉ được ghi trong phần mục lục sách

1.2.1.3 Nội dung dạy học Luyện từ và câu lớp 2

Trang 25

Thầy cô 7 Mở rộng vốn từ: từ ngữ về các môn học Từ

Trang 26

trả lời câu hỏi Vì sao?

lời câu hỏi Để làm gì?

về từ, câu và dấu câu, đồng thời rèn luyện hệ thống kỹ năng sử dụng, giao tiếp tiếng Việt

Trang 27

a) Hệ thống tri thức tiếng Việt cung cấp cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Luyện từ và câu lớp 2

Kiến thức sơ giản về tiếng Việt qua phân môn Luyện từ và câu bao gồm: kiến thức về ngữ âm và chữ viết, kiến thức về từ vựng, kiến thức về ngữ pháp, kiến thức về phong cách Trong đó kiến thức về từ vựng - ngữ pháp có

vị trí trung tâm Mức độ kiến thức về từ và câu cung cấp cho học sinh lớp 2 cụ thể như sau:

* Kiến thức về ngữ âm và chữ viết:

- Một số quy tắc viết hoa danh từ riêng chỉ tên người, địa danh Việt Nam

- Một số quy tắc chính tả: Viết hoa chữ cái đầu câu và vấn đề sử dụng dấu câu

* Kiến thức về từ vựng:

- Mở rộng theo chủ điểm của bài học: học một số biện pháp giải nghĩa

từ thông dụng, học về cấu tạo từ và làm quen với biện pháp tu từ so sánh

- Học một số thành ngữ, tục ngữ quen thuộc Vốn từ địa phương cũng được chú ý khai thác cho trẻ hiểu rộng hơn về vốn từ nước nhà

Cụ thể:

- Về vốn từ: ngoài các từ được dạy qua các bài tập đọc, những thành ngữ được cung cấp qua các bài tập viết, học sinh được học một cách tương đối có hệ thống vốn từ theo các chủ điểm của bài học Đó là các từ chỉ:

+ Đơn vị thời gian (ngày, tháng )

+ Đơn vị hành chính (xã, phường )

+ Đồ dùng học tập (tên gọi, tác dụng….)

+ Việc nhà (đồ dùng, việc làm )

+ Họ hàng (tình cảm, quan hệ…)

+ Vật nuôi (tên gọi, đặc điểm con vật)

+ Thời tiết (tên các mùa, đặc điểm từng mùa )

+ Các loài chim (tên gọi, màu sắc, tiếng kêu )

+ Các loài thú (tên gọi, đặc điểm )

Trang 28

+ Sông biển (tên gọi các động vật sống ở biển)

+ Cây cối (tên gọi, công dụng, bộ phận của cây )

+ Bác Hồ (tình cảm của Bác với thiếu nhi, của thiếu nhi đối với Bác Hồ) + Nghề nghiệp (tên gọi )

- Về các lớp nghĩa của từ:

Bước đầu làm quen với các từ cùng nghĩa, từ trái nghĩa, tìm từ trái nghĩa, giải nghĩa từ bằng các từ trái nghĩa

* Kiến thức về ngữ pháp:

- Nhận diện cách dùng dấu câu

- Nhận biết một số câu miêu tả, giới thiệu, câu hỏi, câu cảm thán, câu khẳng định, phủ định, câu khiến

- Nhận biết, sử dụng từ loại, một số phó từ, trợ từ

Cụ thể:

+ Về cấu tạo câu: nắm được các kiểu câu: danh là danh, danh - động,

danh - tính; biết đặt các kiểu câu này và sử dụng chúng để miêu tả và giới

thiệu theo yêu cầu nào đó Nắm được các kiểu câu hỏi có các cụm từ để hỏi:

khi nào, ở đâu, như thế nào, vì sao, để làm gì; biết đặt và trả lời các câu hỏi

với những cụm từ này, sử dụng chúng trong hoạt động học tập và giao tiếp Nhận biết các bộ phận câu

+ Về dấu câu: bước đầu biết đặt các dấu chấm, dấu hỏi, dấu phẩy, dấu chấm than vào đúng chỗ

* Kiến thức về phong cách:

- Biết được khả năng lựa chọn, kết hợp từ, dùng từ chuẩn, đúng phong cách

- Biết cách dùng từ đặt câu, tạo văn bản phù hợp với ngữ cách giao tiếp

- Có ý thức sử dụng các chuẩn lời nói trong giao tiếp

b) Hệ thống kỹ năng giao tiếp tiếng Việt cần luyện cho học sinh qua

phân môn Luyện từ và câu

Phân môn Luyện từ và câu lớp 2 góp phần hình thành những cơ sở ban

Trang 29

đầu cho việc học đọc, học viết trên cơ sở vốn tiếng Việt mà học sinh đã có; đồng thời định hướng cho việc học nghe, học nói Các bài học đều là những bài học thực hành kỹ năng đọc, viết, nghe, nói Việc dạy thực hành nghe, nói được tiến hành trong những tình huống giao tiếp có thực ở trường học, ở gia đình, ở địa phương nhằm làm cho học sinh biết chủ động khi nghe và chủ động khi diễn đạt ý nghĩ của bản thân; đồng thời tạo cơ sở cho việc đọc, viết

Phân môn Luyện từ và câu rèn luyện cả 4 kỹ năng sử dụng tiếng cụ thể:

* Kỹ năng nghe: nghe trong hội thoại và nghe hiểu văn bản

+ Nghe trong hội thoại:

- Nghe đúng và nắm được nghĩa của từ

- Nghe, hiểu yêu cầu của người đối thoại và trả lời được câu hỏi của người đối thoại

+ Nghe hiểu văn bản

- Nghe hiểu những đoạn văn ngắn có nội dung gần gũi với học sinh

* Kỹ năng nói: nói trong hội thoại

- Nói rõ ràng, rành mạch, thành câu

- Biết trả lời câu hỏi và dùng câu hỏi để hiểu thêm về vấn đề vừa nghe

- Biết dùng các cặp từ xưng hô đơn giản trong giao tiếp

* Kỹ năng đọc: bao gồm đọc thành tiếng và đọc hiểu

- Đọc yêu cầu bài tập, lời giải bài tập

- Đọc và hiểu đoạn văn cần điền dấu

* Kỹ năng viết: bao gồm viết chính tả và viết chữ

- Viết chính tả: Rèn luyện thói quen sửa lỗi chính tả qua việc dùng các dấu câu điền vào đúng chỗ và viết lại cho đúng câu

- Viết chữ: Viết đúng, đều nét, đẹp các tiếng, từ, câu

1.2.1.4 Hệ thống bài tập Luyện từ và câu lớp 2

a) Khảo sát hệ thống bài tập Luyện từ và câu lớp 2

Mục đích cuối cùng của dạy học Luyện từ và câu giúp học sinh làm giàu vốn từ và hiểu biết về cấu trúc ngôn ngữ và quy luật hành chức của nó

Trang 30

Cụ thể việc dạy Luyện từ và câu ở lớp 2 giúp học sinh phát triển và mở rộng vốn từ, hiểu nghĩa từ và sử dụng từ theo 15 chủ điểm gần gũi, quen thuộc với đời sống sinh hoạt của các em; đồng thời giúp các em có thể hiểu về cấu tạo

từ, từ loại, cấu tạo câu và dấu câu, sử dụng từ và đặt câu để sử dụng trong giao tiếp Các mục đích, nhiệm vụ này chỉ có thể thực hiện thông qua hệ thống qua các bài tập tương ứng, nói cách khác, thông qua việc thực hành luyện tập của học sinh, dưới sự hướng dẫn của giáo viên

Vì các bài học Luyện từ và câu được cấu trúc là hệ thống các bài tập nên tổ chức thực hiện tốt các bài tập Luyện từ và câu có vai trò quyết định đối với chất lượng dạy học phân môn này Hệ thống bài tập là phương tiện và công cụ để dạy và học bởi nó thể hiện rõ hướng khai thác nội dung dạy học và phương pháp dạy học của phân môn này Chính vì vậy việc xem xét hệ thống bài tập có vai trò quan trọng trong việc tổ chức dạy học Luyện từ và câu lớp 2 ở tiểu học

Có nhiều cách để phân loại hệ thống bài tập:

- Phân loại theo hình thức thực hiện: bài tập trả lời miệng, bài tập trả lời viết, bài tập thực hành, bài tập trắc nghiệm

- Phân loại theo đối tượng thực hiện bài tập: có bài tập cho cả lớp làm chung, có bài tập dành cho nhóm học sinh, có bài tập cá nhân, có bài tập cho học sinh đại trà, có bài tập cho học sinh yếu, có bài tập cho học sinh khá giỏi

- Xét theo phạm vi kiến thức: bài tập mở rộng vốn từ, bài tập về cấu tạo

từ, bài tập về từ loại, bài tập về cấu tạo câu, bài tập về dấu câu

- Xét theo mục đích của bài tập: bài tập nhận diện từ - câu, bài tập tạo lập từ - câu, bài tập sử dụng dấu câu

- Xét theo hình thức ra bài tập, có các loại sau: tìm từ - câu theo yêu cầu nhất định, điền từ hoặc dấu câu vào chỗ trống, phân loại từ, đặt câu theo mẫu, trò chơi

Trình bày hệ thống bài tập Luyện từ và câu với một sự phân loại chặt chẽ, lôgic là một việc làm khó Khi xem xét các tiêu chí phân loại bài tập cần

Trang 31

tính toán đầy đủ để xử lý mối quan hệ giữa nội dung và hình thức bài tập, cần xem xét đầy đủ các bình diện, các yếu tố của văn bản, cần xem xét mối quan

từ - câu, có bài tập yêu cầu học sinh phải phân tích và suy luận để đƣa ra ý kiến của mình, có những bài tập yêu cầu học sinh phải làm việc sáng tạo Theo cách chia này, ta có thể gọi tên các dạng bài tập nhƣ sau: bài tập nhận diện, bài tập phân tích - suy luận - sáng tạo

Trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 các nhà soạn giả đã xây dựng hệ thống bài tập gồm 146 bài tập và đƣợc phân thành các dạng nhỏ nhƣ sau:

* Bài tập nhận diện: 68 bài = 46,57%

Trang 32

từ ngữ cùng liên quan tới việc hiển thị một phạm vi hiện thực nào đó để sử dụng trong giao tiếp ngôn từ

Dạng 2: Bài tập yêu cầu nhận diện từ theo lớp từ vựng (6 bài)

Dạng bài này yêu cầu học sinh tìm từ theo một nét nghĩa nào đó hay theo một lớp nghĩa của từ (từ trái nghĩa, cùng nghĩa)

Dạng bài này vừa kiểm tra vốn từ trái nghĩa, cùng nghĩa, vốn từ theo một nét chung nào đó, vừa giúp các em thu thập thêm những từ trước nay các

em chưa biết hoặc chưa nhận ra, đồng thời giúp các em nhạy cảm để dễ dàng huy động các từ này trong giao tiếp

VD: (1) Trong các từ dưới đây, những từ nào nói lên phẩm chất của nhân dân Việt Nam ta?

anh hùng, cao lớn, thông minh, gan dạ, rực rỡ, cần cù, đoàn kết, vui mừng, anh dũng

(Tập 2, tập 2) (2) Những cặp từ nào dưới đây cùng nghĩa với nhau?

leo - chạy

chịu đựng - rèn luyện

luyện tập - rèn luyện

Dạng 3: Nhận diện từ theo từ loại và tiểu loại của từ (15 bài)

VD : (1) Tìm các từ chỉ màu sắc trong đoạn thơ dưới đây :

Xanh ngắt mùa thu

Dạng bài này yêu cầu học sinh tìm ra các danh từ, động từ hoặc tính từ

Trang 33

trong các câu, đoạn bài hay tranh vẽ

(2) Hãy viết

- Tên hai bạn trong lớp

- Tên một dòng sông (hoặc suối, kênh, rạch, hồ, núi .) ở địa phương em

(Tập 1 - trang 44) Dạng 4: Nhận diện từ theo cấu tạo (3 bài)

VD: Tìm các từ:

- Có tiếng học

- Có tiếng tập

(Tập 1 - trang 17) Dạng bài tập này chiếm 1 tỷ lệ nhỏ, nó giúp học sinh tạo lập được từ ngữ mới từ yếu tố cho trước

+ Bài tập nhận diện câu và các thành phần câu

Bài tập nhận diện câu và các thành phần của câu có 12 bài, chiếm 17,64% tổng số bài tập nhận diện

Dạng 1: Bài tập nhận diện câu (2 bài)

VD: Câu nào dưới đây được cấu tạo theo mẫu Ai là gì ?

- Tôi là Dế Mèn

- Tôi hát đây

- Ai hát đấy?

(Tập 1 - tr.76) Dạng 2: Bài tập nhận diện các thành phần câu (10 bài)

VD : Tìm các bộ phận trả lời cho từng câu hỏi Ai? Làm gì ?

- Chi đến tìm bông cúc xanh

- Cây loà xoà cành ôm cậu bé

- Em học thuộc đoạn thơ

- Em làm ba bài tập toán

(Tập 1 - Trang 108)

+ Bài tập nhận diện dấu câu (1 bài)

Trang 34

Dạng bài tập này tương đối dễ đối với đa số học sinh Chính vì vậy nó xuất hiện với số lượng bài rất ít, chiếm 1,47% tổng số bài tập nhận diện trong chương trình Luyện từ và câu lớp 2

VD: Đoạn văn ở bài tập 2 có những dấu câu nào ?

Các bài tập phân tích - suy luận có yêu cầu cao hơn so với dạng bài tập nhận diện Học sinh không chỉ hiểu được từ, nắm được dạng câu mà ở đây chủ thể phải biết lựa chọn, thay thế, kết hợp, ghép nối từ, câu trong những hoàn cảnh nhất định (hoàn cảnh ở đây có thể là 1 câu, 1 đoạn lời, 1 bài…) Trong sách giáo khoa tiếng Việt 2, các bài phân tích - suy luận - sáng tạo được giới thiệu cho học sinh là:

+ Bài tập yêu cầu giải nghĩa từ (5 bài = 6,41% tổng số bài phân tích -

suy luận) Dạng bài này chiếm số lượng không nhiều trong chương trình lớp 2

VD: (1) Tìm từ trong ngoặc đơn hợp với mỗi nghĩa sau:

- Dòng nước chảy tương đối lớn, trên đó thuyền bè đi lại được

- Dòng nước chảy tự nhiên ở đồi núi

- Nơi đất trũng chứa nước tương đối rộng và sâu, ở trong đất liền

Dạng bài này có yêu cầu rất đơn giản, cả từ và nghĩa của từ đều cho sẵn, học sinh chỉ cần xác lập sự tương ứng giữa từ và nghĩa của từ trong từng trường hợp

Trang 35

(2) Hãy giải nghĩa từng từ dưới đây bằng từ trái nghĩa với nó:

(Tập 2 - trang 137) Dựa vào từ trái nghĩa để nhận biết nghĩa của từ, nghĩa là dùng những từ

có nghĩa trái ngược với nghĩa của từ cần giải thích làm phương tiện để đạt mục đích nhận biết nghĩa của từ cần giải thích

Ngoài việc giúp học sinh nhận biết được nghĩa của từ cần giải thích, dạng bài tập trên còn giúp học sinh mở rộng, phát triển vốn từ ; góp phần hình thành khái niệm "từ trái nghĩa" cho học sinh

+ Bài tập điền từ: (6 bài = 7,69% tổng số bài phân tích - suy luận -

sáng tạo)

Loại bài tập này chiếm tỷ lệ không nhiều so với các loại bài tập khác Căn cứ vào mức độ khó dễ, có thể chia loại bài tập này thành 2 dạng:

Dạng 1: Cho sẵn nội dung, từ cần điền (3 bài)

VD: Chọn từ trong ngoặc đơn thích hợp điền vào chỗ trống : (giơ, chạy, đuổi, nhe, luồn)

vuốt, nanh

(Tập 1 - trang 67) Dạng 2: Yêu cầu học sinh tự tìm từ thích hợp điền vào chỗ trống

VD: Em chọn từ ngữ nào điền vào chỗ trống để tạo thành câu hoàn chỉnh ?

Trang 36

Dạng bài tập này có mục đích rèn luyện cho học sinh khả năng kết hợp các từ Các bài tập tạo ngữ cũng được chia trên 2 mức độ:

Dạng 1: Cho sẵn các yếu tố, yêu cầu học sinh ghép các yếu tố với nhau cho thích hợp

VD: Chọn cho mỗi con vật dưới đây một từ chỉ đúng đặc điểm của nó :

nhanh, chậm, khoẻ, trung thành

(Tập 1 - trang 142) Dạng 2: Yêu cầu học sinh tự tìm kiếm từ mới có khả năng kết hợp với

+ Bài tập tạo câu

Mục đích dạy câu là dạy học sinh thể hiện những ý nghĩ trọn vẹn trong một cấu trúc cú pháp đúng đắn Bài tập tạo câu gồm 61 bài trong tổng số 78 bài phân tích, suy luận, sáng tạo, chiếm 78,2% Dựa vào mức độ tính độc lập của học sinh khi thực hiện bài tập, có thể chia bài tập tạo câu thành 3 nhóm: bài tập theo mẫu, bài tập cấu trúc - sửa chữa và bài tập sáng tạo

Dạng 1: Bài tập theo mẫu (17 bài, chiếm 27,86% bài tạo câu)

Những bài này có mức độ sáng tạo thấp vì khi học sinh thực hiện các

em không cần có ý thức về lý thuyết ngữ pháp mà chỉ bắt chước theo mẫu

VD:(1) Đặt câu hỏi cho bộ phận câu được in đậm dưới đây:

- Trâu cày rất khoẻ

- Ngựa phi nhanh như bay

- Thấy một chú ngựa béo tốt đang ăn cỏ, sói thèm rỏ dãi

- Đọc xong nội quy, Khỉ Nâu cười khành khạch

Trang 37

(2) Dựa vào những bài tập đọc đã học, trả lời các câu hỏi sau:

- Bông cúc trắng mọc ở đâu ?

- Chim sơn ca bị nhốt ở đâu ?

- Em làm thẻ mượn sách ở đâu ?

(Tập 2 - trang 27) Dạng 2: Bài tập cấu trúc - sửa chữa (29 bài, chiếm 47,54% bài tạo câu) Dạng bài này có mục đích giúp học sinh viết đúng các quy tắc ngữ pháp - chính tả Nếu ở bài tập theo mẫu, học sinh hoàn thành bài tập tương đối dễ dàng thì ở dạng bài bài tập cấu trúc - sửa chữa mức độ khó được nâng lên một bậc Có thể chia bài tập loại này thành các dạng nhỏ như sau :

* Bài tập chuyển đổi dạng câu (4 bài),

VD: (1) Sắp xếp lại các từ trong mỗi câu sau để tạo thành câu mới: Bác Hồ rất yêu thiếu nhi

Thu là bạn thân thiết của em

(Tập 1 - trang 17) (2) Tìm những cách nói có nghĩa giống với nghĩa của các câu sau :

- Mẩu giấy không biết nói

- Em không thích nghỉ học

- Đây không phải đường đến trường

(Tập 1 - trang 52)

* Bài tập đặt câu theo cấu trúc (5 bài)

VD: (1) Đặt câu theo mẫu dưới đây :

(Tập 1 - trang 11)

Dạng bài tập này luyện cho học sinh sử dụng dấu câu cho phù hợp với từng loại câu, vị trí của các thành phần trong câu

VD: Em chọn dấu chấm hay dấu chấm than để điền vào ô trống ?

Trang 38

Ông Mạnh nổi giận quát:

VD: (1) Ngắt đoạn văn sau thành 5 câu, rồi viết lại cho đúng chính tả:

Bố mẹ đi vắng ở nhà chỉ có Lan và em Huệ Lan lấy đồ chơi ra dỗ em

em buồn ngủ Lan đặt em nằm xuống giường rồi hát cho em ngủ

Dạng 3: Bài tập sáng tạo (11 bài, chiếm 18% tổng số bài tập phân tích - suy luận - sáng tạo) Đây là những bài tập không bị quy định bởi mẫu câu hay cấu trúc câu cho sẵn Loại bài này đòi hỏi ở học sinh mức độ làm việc độc lập rất cao Các bài tập đặt câu sáng tạo bao gồm:

* Đặt câu theo đề tài cho trước (4 bài),

VD: Đặt câu hỏi và trả lời về:

- Ngày, tháng, năm

- Tuần, ngày trong tuần (thứ )

(Tập 1 - trang 35)

* Đặt câu theo từ cho trước (5 bài),

VD: Đặt câu với mỗi từ tìm được ở bài tập l

(Tập 1 - trang 17)

* Đặt câu theo tranh vẽ (4 bài)

VD: (1) Kể lại nội dung mỗi tranh trên bằng một câu

(Tập 1 - trang 59)

Trang 39

(2) Mỗi tranh dưới đây kể một hoạt động của thiếu nhi kỷ niệm ngày sinh của Bác Hồ Em hãy ghi lại hoạt động trong mỗi tranh bằng 1 câu

(Tập 2 - trang 104) Bài tập đặt câu sáng tạo rất có ý nghĩa trong phát triển lời nói của học sinh vì nó đi theo quy trình tự nhiên của sản sinh lời nói: đi từ ý đến lời, từ nội dung đến hình thức câu cụ thể nhằm thoả mãn nhu cầu giao tiếp có thật chứ không phải là một tình huống học tập chỉ tồn tại trong nhà trường Bài tập đặt câu sáng tạo chỉ có thể thực hiện khi học sinh có trình độ cao, có ý cần diễn đạt

Chúng tôi đã phân chia hệ thống bài tập Luyện từ và câu lớp 2 thành 2 dạng lớn: Bài tập nhận diện và bài tập phân tích - suy luận - sáng tạo Sự phân chia này và kết quả nghiên cứu chỉ mang tính chất tương đối

b) Nhận xét về hệ thống bài tập Luyện từ và câu lớp 2

Mục đích cuối cùng của hệ thống bài tập Luyện từ và câu là giúp học sinh sử dụng từ, tạo lập và sản sinh lời nói trong hoạt động giao tiếp Các bài tập về từ cung cấp cho học sinh những tri thức về từ bằng cách nhận diện các lớp từ theo trường nghĩa, theo cấu tạo, theo bản chất ngữ pháp của từ loại và làm giàu vốn từ của học sinh thông qua việc giải nghĩa từ, phát triển và mở rộng vốn từ tạo ra những sản phẩm lời nói đúng đắn và biểu cảm Các bài tập

về câu cung cấp cho các em những tri thức về ngữ pháp thông qua các kỹ năng nhận biết một số đơn vị ngữ pháp như nhận biết bộ phận câu, từ loại

và rèn luyện nói, viết đúng quy tắc ngữ pháp, chính tả nhằm phát triển lời nói, phát triển kỹ năng giao tiếp

Hệ thống bài tập Luyện từ và câu lớp 2 rất phong phú và đa dạng về hình thức và thuộc nhiều kiểu loại khác nhau Tổng số 146 bài được phân thành 2 loại lớn là bài tập nhận diện (46,57%) và bài tập phân tích - suy luận - sáng tạo (53,43%) Hai loại lớn này lại được chia thành các kiểu, dạng nhỏ hơn Nội dung các bài tập đều đề cập đến những vấn đề quen thuộc, gần gũi với học sinh lớp 2 theo 15 chủ đề của bài học Các bài tập này đều vừa sức, phát huy được khả năng tư duy và sự làm việc độc lập của học sinh

Trang 40

1.2.2 Thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 2 ở một số trường tiểu học quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng

1.2.2.1 Mục đích khảo sát

Mục đích chính của việc khảo sát nhằm hiểu rõ hơn thực trạng dạy và học phân môn Luyện từ và câu lớp 2 Từ đó, có sự đề xuất các phương pháp tích cực để tổ chức dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 2 cho phù hợp với điều kiện thực tiễn

1.2.2.2 Đối tượng, nội dung khảo sát

*Đối tượng khảo sát

Để nắm được thực trạng hoạt động dạy - học phân môn Luyện từ và câu lớp 2, chúng tôi tiến hành khảo sát trên 45 giáo viên của 12 trường tiểu học trên địa bàn quận Ngô Quyền – thành phố Hải Phòng và trên 83 học sinh của 2 trường Tiểu học Lê Hồng Phong, Tiểu học Nguyễn Trãi - quận Ngô Quyền – thành phố Hải Phòng

* Nội dung khảo sát

+ Khảo sát thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 2 của một

- Phương pháp điều tra bằng ankét: được tiến hành riêng đối với giáo viên

- Phương pháp quan sát: được tiến hành trong sinh hoạt hằng ngày của học sinh

- Phương pháp phỏng vấn: được tiến hành đối với học sinh và giáo viên

Ngày đăng: 02/01/2020, 17:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w