1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Sử dụng câu đố trong dạy học tiếng Việt

108 172 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu đố không chỉ đơn thuần là một trò chơi giải trí thông thường mà là một sân chơi trí tuệ bổ ích bằng ngôn từ,đóng góp một vai trò đặc biệt và rất quan trọng trong đời sống xã hội.Bằng

Trang 1

- -

SỬ DỤNG CÂU ĐỐ TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN

QUẬN NGÔ QUYỀN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC

Chuyên ngành: giáo dục Tiểu Học

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Lê Phương Nga

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

HẢI PHÒNG, NĂM 2017

Trang 2

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng ,đƣợc

trích dẫn đúng quy định Đề tài ―" Sử dụng câu đố trong dạy học Tiếng Việt

ở một số trường Tiểu học trên địa bàn Quận Ngô Quyền – Thành phố Hải

Phòng" đƣợc trình bày là do chính tác giả nghiên cứu và thực hiện

Đề tài này phù hợp với vị trí, chức vụ, đơn vị công tác của tôi và chƣa

đƣợc triển khai thực hiện trong thực tiễn

Hải Phòng, tháng 3 năm 2017

Tác giả

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Lê Phương Nga

người đã dành cho em sự hướng dẫn tận tình, tâm huyết và những gợi ý quý

báu trong suốt quá trình em thực hiện luận văn

Em xin chân thành cảm ơn các quý thầy cô đang công tác tại trường

Đại học Hải Phòng, đặc biệt tại khoa Giáo dục Tiểu học đã tận tình truyền đạt

kiến thức và kinh nghiệm cho chúng em

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh các

trường: Trường Tiểu học Lê Hồng Phong, Tiểu học Chu Văn An đã tạo điều

kiện cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ,

động viên tôi hoàn thành luận văn !

Hải Phòng, tháng 3 năm 2017

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÂU ĐỐ TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT 8

1.1 Giới thuyết về câu đố và phân loại câu đố 8

1.1.1 Khái niệm câu đố 8

1.1.2 Đặc trưng của câu đố 9

1.1.3 Phân loại câu đố 16

1.2 Khả năng dụng câu đố trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 18

1.2.1 Câu đố phù hợp với mục tiêu dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 19

1.2.2 Câu đố phù hợp với hứng thú và đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học 22

1.3 Nhận xét về việc sử dụng câu đố trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học 24

1.4 Tiểu kết chương 1 30

CHƯƠNG 2 SỬ DỤNG NGÂN HÀNG CÂU ĐỐ ĐỂ DẠY HỌC TIẾNG VIỆTỞ TIỂU HỌC 31

2.1 Nguyên tắc lựa chọn câu đố trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 31

2.1.1 Lựa chọn câu đố phải phù hợp với mục tiêu dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 31

2.1.2 Lựa chọn câu đố đảm bảo yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh Tiểu học 32

2.1.3 Lựa chọn câu đố đảm bảo phù hợp với hứng thú và đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học 32

2.2 Sử dụng ngân hàng câu đố để dạy học các tri thức, kĩ năng Tiếng Việt ở Tiểu học 33

2.2.1 Sử dụng ngân hàng câu đố để daỵ học chính tả 33

Trang 5

2.2.2 Sử dụng ngân hàng câu đố để dạy học Luyện từ và câu 34

2.3 Sử dụng câu đố làm ngữ liệu xây dựng bài tập dạy học các tri thức, kĩ năng Tiếng Việt 41

2.3.1 Sử dụng câu đố làm ngữ liệu xây dựng bài tập chính tả 41

2.3.2 Sử dụng câu đố làm ngữ liệu xây dựng bài tập dạy quy tắc viết hoa 46

2.3.3 Sử dụng câu đố làm ngữ liệu để xây dựng bài tập Luyện từ và câu 47

2.4 Mở rộng phạm vi sử dụng câu đố 50

2.4.1 Sử dụng câu đố để giới thiệu bài 51

2.4.2 Sử dụng câu đố để củng cố nội dung bài học 52

2.4.3 Sử dụng câu đố để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 54

2.4.4 Phối hợp sử dụng câu đố với các hình thức tổ chức dạy học tích cực, gây hứng thú 57

2.5 Tiểu kết chương 2 59

CHƯƠNG 3THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 60

3.1 Mục đích thực nghiệm 60

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 60

3.3 Nội dung thực nghiệm 61

3.4 Cách thức tiến hành thực nghiệm 61

3.4.1 Phương pháp tổ chức thực nghiệm 61

3.4.2 Triển khai thực nghiệm 62

3.5 Xử lý và phân tích kết quả thực nghiệm 66

3.5.1 Đo đạc kết quả thực nghiệm 66

3.5.2 Kết quả thực nghiệm 66

3.6 Tiểu kết chương 3 68

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

1 Kết luận 70

2 Kiến nghị 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 73

Trang 6

3.2 Kết quả kiểm tra về kiến thức - kĩ năng của học

3.3 Mức độ hứng thú của học sinh lớp thực nghiệm và

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

3.1 Kết quả kiểm tra về kiến thức - kĩ năng của học

3.2 Kết quả kiểm tra về kiến thức - kĩ năng của học

3.3 Mức độ hứng thú của học sinh lớp thực nghiệm và lớp

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu

1.1 Câu đố là một thể loại của văn học dân gian, chiếm một vị trí rất đáng kể, là một món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống sinh hoạt của người dân Việt Nam Câu đố ra đời trong sinh hoạt của người dân, bà con thường đố nhau khi sinh hoạt tập thể như khi cấy hái, cùng nhau đắp đê, tát nước Cũng như mọi loại hình văn học khác, câu đố không chỉ có giá trị

về mặt nhận thức mà nó còn hấp dẫn người đọc ở tính chất trữ tình, truyền cảm Có lẽ nhờ vậy mà câu đố đã đi vào từng ngõ ngách của gia đình Việt Nam, vào trong tư duy của các em bé thơ ngây đến cụ già đầu bạc Câu đố trở thành một bộ phận quan trọng, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân ta, đóng vai trò là một phương tiện nhận thức đặc biệt, rất linh hoạt

và tinh tế Chắc hẳn ai ai cũng biết vài ba câu đố và không ít lần tham gia vào các trò chơi đố giải

1.2 Câu đố không chỉ đơn thuần là một trò chơi giải trí thông thường

mà là một sân chơi trí tuệ bổ ích bằng ngôn từ,đóng góp một vai trò đặc biệt

và rất quan trọng trong đời sống xã hội.Bằng việc giải câu đố, người chơi được nâng cao năng lực tư duy, óc phán đoán đồng thời được rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ linh hoạt trong mọi hoàn cảnh, với sự đa nghĩa của Tiếng Việt trong ngữ cảnh nhất định.Đặc biệt với trẻ em, câu đố là một trong những phương tiện đắc lực góp phần giúp trẻ có được bộ não phát triển toàn diện để các em phát triển về trí tuệ Câu đố thực sự phù hợp với tâm hồn ngây thơ, hồn nhiên, thỏa mãn được trí tò mò, niềm khao khát muốn tìm hiểu môi trường xung quanh của trẻ Đồng thời câu đố còn bồi dưỡng năng lực thẩm

mĩ, năng lực sử dụng ngôn ngữ và cảm thụ văn học

1.3 Câu đố còn có tác dụng giáo dục, có vai trò quan trọng trong trường học Đề tài của các câu đố thường rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau có liên quan tới đời sống xã hội của con người.Bằng việc sử dụng những hình ảnh kiểu ví von với hình thức có vần, điệu, câu đố làm cho người

Trang 9

đọc, người nghe dễ nhớ Chính vì vậy, câu đố được xem như một ngữ liệu có nhiều lợi thế để dạy học nói chung và dạy học tiếng mẹ đẻ nói riêng trong trường Tiểu học.Đối với học sinh Tiểu học tâm hồn ngây thơ, trong sáng, với tâm lý lứa tuổi thích tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh về các hiện tượng

tự nhiên, những con vật, sự vật thì việc sử dụng các câu đố trong dạy học sẽ đem đến cho các em sự tò mò, óc quan sát, trí tưởng tượng phong phú của các em.Câu đố làm kích thích trí tò mò, say mê hiểu biết của các em Một trong những đặc trưng cơ bản của câu đố là tính trí tuệ.Để có những câu đố hay,khó, đòi hỏi người ra đố phải vận dụng toàn bộ vốn sống, vốn hiểu biết, vận dụng trí tưởng tượng và khả năng liên tưởng của mình Ngược lại, người giải đố cũng phải tiến hành những thao tác tư duy tương tự Việc sử dụng câu

đố trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, tạo được niềm hứng thú, phấn khởi, làm cho giờ học trở nên sôi nổi, kích thích sự tìm tòi, suy nghĩ trong học tập của các em

1.4 Câu đố chính là một phương tiện nhận thức đặc biệt, nhất là đối với học sinh Tiểu học Bởi vậy, mỗi giáo viên Tiểu học cần phải xác định và hiểu

rõ giá trị này của câu đố Từ đó vận dụng và nâng cao hiệu quả việc sử dụng câu đố trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học Đã có không ít công trình nghiên cứu về câu đố, song phần lớn các công trình này chỉ dừng lại ở việc sưu tầm các câu đố rồi đưa ra giải đáp Cũng có một số tài liệu nghiên cứu câu đố nhưng ở mức khái quát Có một số tác giả đi sâu vào việc nghiên cứu câu đố được sử dụng trong các trường học phổ thông nhưng ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào việc sử dụng câu đố trong dạy học ở Tiểu học

Hơn nữa, trong dạy học Tiếng Việt ở trường Tiểu học, việc sử dụng câu

đố còn hạn chế Trong sách giáo khoa, câu đố được dạy như một đối tượng cần tiếp nhận trong các bài học làm giàu vốn từ và một số bài tập đọc

Ở các phân môn Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu khi câu đố được

sử dụng như một ngữ liệu để thực hiện các mục tiêu dạy học thì nhiều trường

Trang 10

hợp, việc lựa chọn câu đố chưa phù hợp do đó chưa khai thác hết các lợi thế của câu đố nên hiệu quả dạy học chưa cao Có nhiều lí do dẫn đến hạn chế trên, nhưng theo chúng tôi, nguyên nhân cơ bản là do việc dạy câu đố chưa được hoạch định cụ thể, chưa tính toán đầy đủ mục đích sử dụng chúng

Chúng tôi thiết nghĩ, việc đầu tiên của công việc này là phải tập trung

đi từ những căn cứ để lựa chọn câu đố và bước đầu xây dựng ngân hàng ngữ liệu câu đố để chỉ ra những khả năng sử dụng chúng trong dạy học Tiếng

Việt.Vì lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu việc " Sử dụng câu đố

trong dạy học Tiếng Việt ở một số trường Tiểu học trên địa bàn Quận Ngô Quyền – Thành phố Hải Phòng"

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Câu đố ra đời từ rất sớm, việc xác định chính xác nguồn gốc của câu đố vẫn còn là một ẩn số từ trước tới nay.Mặt khác câu đố xuất phát từ địa phương nào cũng còn nhiều giả thuyết, nhiều nghi vấn,chỉ biết rằng câu đố và sinh hoạt giải đố có mặt ở cả ba miền.Nhưng có thể khẳng định một điều, khi

mà con người lấy lao động làm lẽ sống, khi nền nông nghiệp phát triển và khi lòng ham hiểu biết thế giới xung quanh trở thành một nhu cầu tất yếu thì khi

đó câu đố ra đời

Trong kho tàng văn học dân gian nước ta, so với các loại truyện thần thoại, cổ tích, truyện cười, ca dao, tục ngữ, hò vè câu đố có một chỗ đứng nhất định.Tuy nhiên, trong thực tế việc thưởng thức văn hoá dân gian hiện nay, thì câu đố hầu như ngày càng bị lãng quên trong các sinh hoạt xã hội mang tính cổ truyền Điểm lại tình hình nghiên cứu, tư liệu của chúng tôi cho thấy có khoảng hơn 40 công trình nghiên cứu về câu đố, trong đó có 11 công trình mang tích chất sưu tập, tuyển chọn và biên soạn lại tuỳ theo mục đích của người biên soạn Số còn lại là những công trình, những bài nghiên cứu về một góc nào đó của câu đố Có thể kể ra dưới đây một số công trình sưu tập

về câu đố tiêu biểu:

Trang 11

- Câu đố Việt Nam (Thiên Lữ, Võ Hồng sưu tầm), Nxb Thanh Hoá,

2000

- Câu đố Việt Nam (Hồ Anh Thái biên soạn), Nxb Hải Phòng, 2004

- Câu đố dân gian (Lữ Huy Nguyên, Trần Gia Linh, Nguyễn Đình Chỉnh sưu tầm), Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1989

- Câu đố dân gian Việt Nam (Xuân Thu sưu tầm), Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1998

- Câu đố Việt Nam (Ninh Viết Giao sưu tầm), Nxb Khoa học Xã hội,

1) Văn học dân gian Việt Nam của Đinh Gia Khánh (chủ biên)), NXB Giáo dục, Hà Nội ( 2002)

2) Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian của Đỗ Bình Trị

3) Văn học dân gian Việt Nam của Hoàng Tiến Tựu

4) Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 3) do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam biên soạn

Ngoài ra cũng thấy đây đó một số bài nghiên cứu về câu đố như:

1) ―Hiện tượng đồng dạng khác nghĩa và đồng nghĩa khác dạng của câu đố‖ của tác giả Phạm Văn Tình

2)―Các hình thức chơi chữ trong câu đố‖- tác giả Triều Nguyên

3)―Câu đố và tư duy nghệ thuật‖ của Hồ Quốc Hùng

Trang 12

4) ―Câu đố và văn chương bình dân‖ của Phạm Văn Đang

Bên cạnh đó, chúng tôi còn được biết những khoá luận, luận văn hay luận án tiến sĩ nghiên cứu về câu đố có số lượng rất ít.Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về câu đố thường nặng về sưu tầm, tuy đưa ra nhận xét song

đó chỉ là những gợi ý đối với người đọc Có những công trình nghiên cứu chỉ chọn một số câu đố tiêu biểu để tìm hiểu, phân tích về một phương diện nào

đó Với luận văn thạc sĩ như “ Một số vấn đề về bản chất thể loại câu đố Việt

Nam với trẻ em” – Trần Thị Lan đã đề cập một phần về câu đố nhưng hướng

vào cách sử dụng trong quá trình giảng dạy ở trường Trung học cơ sở và Phổ thông trung học, chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu việc sử dụng câu đố trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học nhằm phát triển tư duy cho học sinh Tiểu học

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Xác lập những căn cứ để lựa chọn câu đố và sử dụng ngân hàng câu đố

để dùng làm ngữ liệu trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Tổng quan nghiên cứu về vấn đề sử dụng các câu đố trong dạy học Tiếng Việt của các tác giả trong nước thông qua việc tìm hiểu, tập hợp tài liệu tham khảo

- Hệ thống hóa, phân tích cơ sở lí luận khoa học về việc sử dụng câu đố trong dạy và học Tiếng Việt ở Tiểu học

- Đề xuất danh mục câu đố để dạy học Tiếng Việt

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm các biện pháp sử dụng câu đố trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học đã được đề xuất và đưa ra kết luận, kiến nghị cần thiết

Trang 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Việc sử dụng câu đố trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê phân loại

Sử dụng phương pháp nghiên cứu này để thống kê các kiểu câu đố theo các tiêu chí đã định trước

5.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp

Phương pháp nghiên cứu này được vận dụng để phân tích tư liệu thống

kê và tổng kết lại các kết quả phân tích Phân tích những ưu điểm và hạn chế của thực trạng sử dụng câu đố trong dạy học Tiếng Việt hiện nay để làm cơ sở

đề xuất các biện pháp hiệu quả trong việc sử dụng câu đố trong dạy học Tiếng

Việt

5.3 Phương pháp khảo sát, điều tra

Khảo sát thực trạng về khả năng sử dụng câu đố trong dạy học Tiếng Việt ở một số trường Tiểu học bằng việc dùng phiếu khảo sát, trao đổi trực tiếp với Giáo viên và Học sinh, dự giờ một số tiết học

5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Phương pháp này được sử dụng để tiến hành dạy học thử nghiệm tại một trường Tiểu học tại quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng nhằm kiểm nghiệm và đánh giá tính khả thi cũng như hiệu quả của các biện pháp tổ chức việc sử dụng câu đố trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học mà luận văn đã xây dựng

Trang 14

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của sử dụng câu đố, những hiểu biết xung quanh về vấn đề câu đố

- Làm rõ thêm cơ sở lý thuyết về ngữ liệu trong dạy học Tiếng Việt

- Cung cấp danh mục câu đố theo mục tiêu dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, làm tài liệu tham khảo cho học sinh, giáo viên và những người quan tâm đến câu đố

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương:

- Chương 1 : Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng câu

đố trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

- Chương 2: Một số biện pháp sử dụng ngân hàng câu đố để dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÂU ĐỐ TRONG

DẠY HỌC TIẾNG VIỆT 1.1 Giới thuyết về câu đố và phân loại câu đố

1.1.1 Khái niệm câu đố

Câu đố là một thể loại của văn học dân gian không đơn thuần là hiện tượng ngôn ngữ, nó cũng không phải là một tác phẩm có các yếu tố được sắp xếp theo bố cục, diễn biến nhất định nhằm thể hiện một tư tưởng chủ đạo nào

đó Nhưng mỗi câu đố đều có một nội dung hoàn chỉnh, được thể hiện bằng một thứ nghệ thuật riêng

Theo Aristôt định nghĩa : ―Câu đố là một kiểu ẩn dụ hay‖ và coi cái hay đặc biệt của câu đố ở chỗ‖ trong khi nói về cái tồn tại thực tế, câu đố đồng thời kết hợp với cả cái hoàn toàn không thể có được‖ Về phía các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam, quan niệm câu đố cũng rất đa dạng

Theo tác giả Vũ Ngọc Phan:‖ Câu đố là một loại hình sáng tác phản ánh các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan theo lối nói chệch‖ ( nói một đằng hiểu một nẻo)

Theo tác giả Triều Nguyên : ― Câu đố là một thể loại văn học dân gian, gồm hai bộ phận, bộ phận lời đố và bộ phận lời giải vật đố bằng văn vần, nhằm miêu tả vật đố một cách xác thực, hợp lý nhưng làm lạ hóa để khó đoán nhận lời giải nêu tên vật đố, là những sự vật, hiện tượng phổ biến, ai cũng từng biết, từng hay‖

Theo G.S Nguyễn Văn Trung, quan niệm về câu đố của tác giả dựa trên hai mặt: mặt cấu tạo và mặt xã hội Về mặt cấu tạo, câu đố có cấu trúc của một đối thoại gồm hai phần: lời đố và lời giải

Theo từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học thì ― Câu đố là câu văn vần mô tả người, vật, hiện tượng một cách lắt léo hoặc úp

mở, dùng để đố nhau.‖

Trang 16

Khái niệm câu đố mới trong sách Giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học thì: ― Câu đố mới là câu văn vần miêu tả người, vật, hiện tượng một cách lắt léo,mô tả một cách xác thực, gần gũi với học sinh Tiểu học do một số nhà biên soạn sách soạn nhằm phát triển tư duy của trẻ, làm nền tảng cho việc học câu đố dân gian sau này‖

Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về câu đố, nhưng chung quy lại, câu

đố là lời nói có tính nghệ thuật, mô tả sự vật, hiện tượng bằng lối nói ám chỉ, giấu không cho biết sự vật, hiện tượng mà để cho người đọc tự đoán ra

1.1.2 Đặc trưng của câu đố

1.1.2.1 Câu đố là một trò chơi trí tuệ bằng ngôn từ

a) Câu đố cung cấp cho con người vốn tri thức phong phú và đa dạng

về thế giới khách quan

Câu đố là một bộ bách khoa toàn thư trong đó có rất nhiều khách thể được nói đến Về thế giới động thực vật, câu đố đã cung cấp cho chúng ta một vốn hiểu biết vô cùng phong phú, đa dạng, vượt khỏi phạm vi tiếp xúc hàng ngày của bất kì một người nào trong chúng ta Đây là một thế mạnh của câu

đố mà các thể loại khác không có được.Cả câu đố và tục ngữ đều có đặc điểm giống nhau là đều ngắn gọn, giàu vần điệu, hình ảnh, nhằm đúc rút kinh nghiệm , truyền bá tri thức Song tục ngữ thiên về đúc kết kinh nghiệm,nêu lên những chân lý phổ biến, những tri thức thực tiễn đã được nhiều người thừa nhận,còn câu đố thường nêu lên những thuộc tính, những đặc điểm của từng sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan bằng một phương pháp miêu tả riêng biệt của nó

Ví dụ: Cùng nói về hạt mưa:

Tục ngữ : ― Trời nắng tốt dưa, trời mưa tốt lúa‖

Câu đố: ― Không gõ mà kêu, không khều mà rụng‖

( Sấm và mưa)

Câu tục ngữ trên đã sử dụng hình thức nhận xét khái quát về tác dụng của hạt mưa còn câu đố trên lại nêu lên đặc điểm của hạt mưa

Trang 17

Hay, cùng là bó mạ, khi thì về tên gọi:

" Vừa đánh vừa trói

Bị đói thâu đêm Sáng mai chặt đầu Lại đặt tên khác"

Khi thì được nêu đặc điểm về hình dáng:

" Vừa bằng thằng bé lên ba

Thắt lưng con cón chạy ra ngoài đồng"

Khi thì lại nói về sức sống:

" Chặt đuôi, xâu hông, bỏ xuống sông vẫn sống"

Câu đố còn đem đến cho chúng ta một khía cạnh nữa đó chính là tính sinh động của nó Thế giới sự vật, hiện tượng trong câu đố trở nên có hồn,các

sự vật, hiện tượng đó đều mang một màu sắc mới, sinh động nhưng cũng rất chân thực Vì vậy, thế giới sự vật, hiện tượng trong câu đố không hiện lên một cách cô lập, tĩnh tại mà luôn luôn có sự vận động và phát triển Nếu như thế giới sự vật, hiện tượng này đến với trẻ em thì các em không chỉ được làm giàu

tư duy hình tượng Tư duy logic đi từ hình ảnh để so sánh, đối chiếu và tìm ra vật đố Tư duy hình tượng theo chiều ngược lại, cố hình dung vật đố gần với hình ảnh, hình tượng Đây là sự phối hợp tuyệt vời nhất để con người đặc biệt

là trẻ em có được một bộ não phát triển toàn diện

Trang 18

Ví dụ: Cùng nói về hạt mưa:

Ca dao : ― Thân em như hạt mưa rào

Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày‖

Câu đố: ― Không gõ mà kêu, không khều mà rụng‖

( Sấm và mưa)

Câu ca dao trên đã mượn hình ảnh của hạt mưa để làm phương tiện bộc

lộ nỗi niềm tâm sự và phản ánh thân phận của người con gái trong xã hội cũ còn câu đố trên lại nêu lên đặc điểm của hạt mưa

Ngay trong hát đố, ca dao không đòi hỏi một câu trả lời thật đúng Câu hát trả lời có thể sai hoàn toàn nhưng lại được công nhận là đúng từ một phương diện khác

Ví dụ:

- ―Đố anh biết đá mấy hòn

Núi cao mấy ngọn, trăng tròn mấy đêm?

- Đá kia chỉ có một hòn

Núi cao một ngọn, trăng tròn đêm nay‖

Xét theo logic, đá không chỉ một hòn, núi cao không chỉ một ngọn, nhưng từ phương diện tình cảm thì số một ở đây lại chấp nhận được vì đó là con số của tình yêu yêu nhau chỉ có một lần, chỉ có một tình yêu duy nhất được bộc lộ, trăng tròn trong tâm tưởng chứ chưa tròn ngoài đời thực

Câu đố đòi hỏi con người phải khám phá về một sự vật hiện tượng chứ không chỉ dừng lại ở sự tiếp nhận đơn thuần Bởi lẽ, nếu không giải đố thì không hiểu được câu đố, do đó chỉ khi nào giải đố xong thì con người mới hoàn thành khâu tiếp nhận qua đó sự vận động và tư duy được phát triển Câu

đố đòi hỏi một sự suy luận khách quan có căn cứ Người giải đố phải biện minh căn cứ của mình Quá trình tìm ra vật đố lời giải là quá trình vận động của tư duy logic kết hợp với tư duy hình tượng Tư duy logic đi từ hình ảnh để

Trang 19

so sánh, đối chiếu và tìm ra vật đố Tư duy hình tượng theo chiều ngược lại,

cố hình dung vật đố gần với hình ảnh, hình tượng

Như vậy, câu đố vừa là mục đích, vừa là phương tiện phát triển nhận thức, tư duy con người Mỗi lần giải đố là mỗi lần con người phải tiến hành một loạt các hoạt động tư duy và mỗi khi giải được câu đố, con người lại có thêm một nhận thức mới Đối tượng nhận thức chủ yếu của câu đố là trẻ em Đưa câu đố đến cho trẻ em là cách tốt để chúng có điều kiện phát triển nhanh

về trí tuệ

1.1.2.2 Câu đố là một bài toán đặc biệt

Câu đố được ví như " bài toán bằng văn học", được thể hiện qua yếu tố

dữ kiện và lời giải Dữ kiện là những yếu tố cho trước có thể gần, có thể xa so với đặc điểm của vật đố nhưng luôn bảo đảm hợp lí để có thể giải đố được Những đặc điểm khác nhau đó có khi được thể hiện đồng thời, có khi chỉ là một trong số đó.Với hát đố không cần một câu trả lời chính xác, không lấy mục đích giải đố làm trọng Người giải có thể đưa ra những lời giải bâng quơ,

có thể tự do đi chệch hướng của người đố để nói về việc khác Ví dụ:

- Đố:

Trong chùa chi chua hơn chanh

Chi vàng hơn nghệ, chi xanh hơn chàm?

- Giải:

Trong chùa khế chua hơn chanh

Anh nhớ em vàng hơn nghệ, anh sầu xanh hơn chàm

Bản thân lời đố trong ví dụ trên không tạo ra dữ kiện để hướng tới một vật cụ thể Vì thế, người giải có thể trả lời tự do theo của mình Câu đố thì khác, nó không phải phương tiện để trao đổi tâm tình Điều đáng quan tâm trong câu đố là tìm được lời giải hợp lí Câu đố giống như một bài toán có thể chỉ có một đáp số, cũng có thể có một vài ba đáp số tương đương, phù hợp với những dữ kiện đã nêu Thêm vào đó, đối tượng mà hát đố hướng tới là người lớn, còn đối tượng mà câu đố hướng tới là trẻ em Mục đích của câu đố

Trang 20

là phát triển tư duy cho các em Câu đố có sức hấp dẫn đặc biệt, kích thích trí

tò mò ở trẻ em, làm cho các em say mê trong việc tìm ra lời giải đáp.Ở câu

đố, người giải không thể lồng chủ quan vào được mà buộc phải tư duy theo các dữ kiện đã cho để tìm ra câu đố Tuy ở mức độ khó, dễ khác nhau, song câu đố bao giờ cũng mở ra cho người giải một hướng suy nghĩ , một hướng tiếp cận sự vật Dữ kiện càng xa đặc điểm thực của sự vật thì câu đố càng khó nhưng không thể có dữ kiện tách rời khi sự vật, hiện tượng Mất đi mối liên hệ này, câu đố sẽ không còn là câu đố nữa và trò chơi trí tuệ dân gian không thể tồn tại, hấp dẫn các thế hệ như từ trước tới nay

Lời giải là mục đích của sự tìm kiếm Kiến thức trò chơi trí tuệ bao giờ cũng là việc tìm ra lời giải đúng Tuy nhiên, một câu đố có thể có vài lời giải đúng, giống như ta chấp nhận một bài toán có nhiều nghiệm số Các lời giải đều thỏa mãn những dữ kiện đã nêu

Ví dụ câu đố ―con gì càng lớn càng nhỏ‖ là đố về con cua (có hai càng: một càng to, một càng nhỏ) , song có thể lí giải theo một trường hợp khác, con người chẳng hạn, khi trẻ thì cao lớn đẫy đà, khi về già thì gầy còm ốm yếu Đương nhiên, người ra câu đố không chấp nhận cách giải thích này Sau lời giải, mỗi người tham gia cuộc chơi đều lớn lên một chút về nhận thức và khả năng suy luận Câu đố tạo ra sự hấp dẫn chính trong quá trình phân tích, biện luận cho lời giải Đây là lúc mối liên hệ logic giữa dữ kiện và vật đố được khẳng định Từ những dữ kiện khá xa xôi, một mối liên hệ bất ngờ với vật đố được phát hiện ra, đầy sức thuyết phục Quá trình giải đố trong trò chơi câu đố là quá trình đưa cái phi lí trở nên hợp lí Câu đố là một bài toán đặc biệt,là một kiểu toán mẹo Bài toán này có thể giải được rất nhanh, tư duy con người có thể đi tới đích ngay tức khắc, không cần qua các khâu trung gian Khả năng giải nhanh được quyết định bởi vốn sống, vốn thực tế Sự hiểu biết sâu sắc cụ thể, rộng lớn về thế giới khách quan kết hợp với trí tưởng tượng phong phú giúp cho người giải đố có thể tìm ra sự vật, hiện tượng một cách

dễ dàng Tính chất đặc biệt của bài toán câu đố chủ yếu được thể hiện qua hệ

Trang 21

thống hình tượng Bài toán câu đố là bài toán về hình tượng nghệ thuật Vật

đố được thay thế bằng những hình tượng phong phú, đa dạng và cực kì sinh động Câu đố đưa con người vào thế giới của hình tượng đầy sức hấp dẫn.Hệ thống hình tượng trong câu đố có một đặc điểm riêng, tạo nên sự độc đáo nhờ tính chất kì lạ, phi lí Có thể nhìn bề ngoài chúng ta không thấy sự hợp lí của câu đố song trong câu đố , cái phi lí và các hợp lý lại quan hệ với nhau mật thiết và có sự chuyển hóa tài tình Cái kì lạ, phi lí trong câu đố tạo nên giá trị nghệ thuật độc đáo, đưa con người vào một thế giới khác, có thể gây những cảm xúc chân thành:

Trước hết, đố là dịp để những người tham gia được thử sức mình Giải được các câu đố, nhất là các câu đố khó, bao giờ cũng mang lại cho người ta niềm vui - niềm vui của sự tự khẳng định Niềm vui ấy sẽ giúp cho họ quên đi những lo toan, căng thẳng, bực bội trong cuộc sống thường nhật

Hai là, đố kích thích tính tò mò, khám phá của người chơi Tham gia các trò đố vui cũng giống như trò chơi trốn - tìm, trò chơi đuổi - bắt của trẻ

em mỗi khi nhàn rỗi

Ba là, xét trên phương diện giao tiếp xã hội, đố cũng là một quá trình giao lưu văn hoá Tham gia vào các hoạt động đố vui, người ta được giao lưu với người khác, được trao đổi tư tưởng, tình cảm lẫn nhau, để có thêm những

Trang 22

người bạn mới Thực tế cho thấy, các cuộc đố vui được tổ chức trong các lễ hội văn hoá dân gian, trong các buổi sinh hoạt văn hoá cộng đồng đều được mọi người hưởng ứng nhiệt liệt

Cũng giống như các trò chơi dân gian khác, trong các cuộc đố vui tập thể, bao giờ cũng có người thắng, kẻ thua Người thắng cuộc thì mừng vui, thích thú đã đành, nhưng người thua cuộc cũng cảm thấy hài lòng, mãn nguyện, vì tiêu chí hàng đầu mà họ luôn xác định: lấy vui làm chính

b,Tính giáo dục

Đề tài của các câu đố thường rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau có liên quan tới đời sống xã hội của con người Qua các câu đố, người ta hiểu biết thêm về nguồn gốc, bản chất của các sự vật, hiện tượng xung quanh

Điều đó có nghĩa, đố tham gia vào việc giáo dục tri thức Từ đó, mối quan hệ

giữa con người đối với thế giới cũng trở nên thân quen, gần gũi

Từ sự nâng cao nhận thức, con người có thêm mối quan hệ mật thiết với môi trường tự nhiên, với thế giới đồ vật… Những câu đố về đề tài lịch sử,

về các danh nhân văn hoá giúp ta bồi dưỡng lòng yêu nước, ý thức tự hào dân tộc

Những câu đố về đề tài khoa học - kỹ thuật góp phần củng cố và nâng cao kiến thức khoa học phổ thông Điều này rất cần thiết với mọi người nói chung, cũng như tuổi trẻ học đường nói riêng.Tình cảm,thái độ sống của con người, vì thế, cũng được nâng cao một bước.Điều này rất cần thiết với mọi người nói chung, cũng như tuổi trẻ học đường nói riêng

Như vậy, câu đố là một bài toán đặc biệt.Câu đố cũng như các thể loại khác của văn học dân gian, có sức sống mãnh liệt, được truyền tụng qua nhiều thế hệ Đến ngày nay, câu đố vẫn còn cảm hóa được nhiều người và vẫn giữ được vai trò tích cực của mình đối với trẻ em

Trang 23

1.1.3 Phân loại câu đố

1.1.3.1 Phân loại câu đố theo chủ đề

Nội dung căn bản của câu đố là tri thức mọi mặt của cuộc sống vì thế cách phân loại thường áp dụng cho thể loại này là cách phân loại theo đề tài Muốn xác định chủ đè, phải căn cứ vào vật đố Mỗi nhóm vật đố sẽ tạo ra một chủ đề

- Câu đố về các thực thể và hiện tượng tự nhiên, vũ trụ

- Câu đố về công cụ sản xuất và các loại đồ dùng

- Câu đố về thực vật, động vật

- Câu đố về con người và hoạt động của con người

1.1.3.2 Phân loại câu đố theo đối tượng và hình thức diễn tả

Căn cứ vào hình thức diễn tả chia ra hai loại nhỏ :

- Câu đố trực tiếp : Câu đố trực tiếp là loại câu đố không sử dụng đến

kĩ thuật so sánh, ẩn dụ hay bất kì phương tiện tu từ nào khác ngoài việc miêu

Câu đố về trạng thái đang hoạt động của con chuồn chuồn:

Con gì cánh mỏng đuôi dài

Lúc bay, lúc đậu cánh thời đều giương

( Con chuồn chuồn)

- Câu đố gián tiếp

Câu đố gián tiếp là câu đố sử dụng các kỹ thuật ví, so sánh, ẩn dụ xây dựng hình ảnh của vật đố Ví dụ so sánh dùng các từ: như, là, bằng, vừa bằng…

Vừa bằng cánh cửa, nằm ngửa giữa trời

( Tàu lá chuối)

Trang 24

Vừa bằng lá tre, le the mặt nước

Hai ông tướng tá đi trước vung gươm

Hai bà đi sau quạt hầu lia lịa

( Con trâu)

Có khi vừa ẩn dụ, vừa so sánh:

Mình bằng cái phản,đầu đội bốn sào

Vừa ngăn lá thắm, vừa rào chim xanh

Căn cứ đối tượng phản ánh, câu đố được chia 2 loại: loại thuộc tự nhiên, loại thuộc văn hóa.Loại thuộc tự nhiên là loại do con người làm ra, nghĩa là chế biến thiên nhiên thành đồ dùng còn gọi là loại đồ dùng văn hóa vì

sự chế tạo tùy thuộc vào những quan niệm và trình độ văn hóa khác nhau

1.1.3.3 Phân loại câu đố cổ truyền và hiện đại

Trong luận văn thạc sĩ Khoa Ngữ văn Trần Thị Lan lại phân câu đố thành câu đố cổ truyền và câu đố hiện đại.Trong câu đố cổ truyền và hiện đại, tác giả lại phân thành câu đố dành cho người lớn và câu đố dành cho trẻ em.Câu đố cho người lớn thường có những ẩn dụ phức tạp mang mối quan hệ giữa vật đố và vật thay thế là rất mong manh Do vậy, câu đố cho người lớn thường là những câu đố làm theo phương pháp gián tiếp, còn những câu đố dành cho trẻ em làm theo phương pháp miêu tả trực tiếp

Trang 25

Chẳng hạn: Cùng đố về trăng ( mặt trăng) , song câu đố sau có thể dành cho người lớn:

Thuở bé em có hai sừng

Đến tuổi nửa chừng mặt đẹp như hoa

Ngoài hai mươi tuổi đã già

Gần ba mươi lại mọc ra hai sừng

Còn câu đố dành cho trẻ em như sau:

Mặt gì mát dịu đêm nay

Cây đa, chú Cuội đứng đây rõ ràng?

Hay cùng đố về con ruồi, câu đố dành cho người lớn:

Cô kia nho nhỏ rứa mà khôn

Đã từng ăn ở chốn công đường

Cao lương mĩ vị thường được nếm

Trai hiền, gái đẹp đã từng hôn

Đối với trẻ em, câu đố về con ruồi như sau:

Vừa bằng hạt đỗ, ăn dỗ cả làng

Tuy nhiên, giữa câu đố người lớn và câu đố trẻ em, gianh giới giữa hai loại câu đố này chỉ mang tính chất tương đối bởi có những câu đố dành cho cả trẻ em và người lớn.Ngày nay, khi cuộc sống vật chất và tinh thần của con người ngày càng được nâng cao thì ngoài sự tồn tại của câu đố cổ truyền thì còn có sự ra đời của câu đố hiện đại phù hợp với sự phát triển của xã hội ngày nay Tuy nhiên, với câu đố hiện đại thì tỉ lệ câu đố dành cho trẻ em ngày càng nhiều và đa dạng.Đây cũng là đặc điểm để các nhà biên soạn câu đố hiện đại

dễ dàng hơn trong việc ra các câu đố Khi xem câu đố là ngữ liệu dạy học Tiếng Việt, chúng ta sẽ chú ý hơn đến tiêu chí phân loại câu đố theo mục tiêu dạy học

1.2 Khả năng dụng câu đố trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Đối với lứa tuổi học sinh Tiểu học, cách học của các em phải cụ thể, trực quan, nhiều hình ảnh và màu sắc Do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi như

Trang 26

vậy nên ngoài các câu đố dân gian có sẵn thì các nhà viết sách còn phải nghĩ

ra những câu đố phù hợp với lứa tuổi các em trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, ngữ liệu của câu đố dùng trong dạy học Tiểu học nói chung và phân môn Tiếng Việt nói riêng không chỉ dừng lại ở những câu đố cổ truyền mà còn có những câu đố hiện đại chính là những câu đố do các nhà viết sách nghĩ ra hoặc sưu tầm từ các kênh khác nhau Trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt, việc lựa chọn các ngữ liệu câu đố có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển cũng như lưu giữ, ghi nhớ những kiến thức nền tảng cho các em Việc lựa chọn các câu đố phù hợp với nội dung dạy học cũng như tâm sinh lí lứa tuổi các em góp phần thực hiện những mục đích và yêu cầu trong quá trình giảng dạy

1.2.1 Câu đố phù hợp với mục tiêu dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

1.2.1.1 Câu đố đáp ứng yêu cầu hướng tới giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt

Đối với con người, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất

và Tiếng Việt là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của người Việt Nam.Theo quan điểm này thì dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học phải coi giao tiếp là mục tiêu, là nội dung dạy học và cũng là cách thức của hoạt động giao tiếp.Giao tiếp không chỉ là mục đích của dạy học mà còn là môi trường

để củng cố, rèn luyện tri thức và kĩ năng cho người học để chúng trở thành kĩ xảo trong hoạt động giao tiếp Như vậy, trong quá trình học tập, việc nắm vững tri thức thôi chưa đủ mà còn phải thành thạo trong kĩ năng, kĩ xảo Chính vì vậy, việc gắn liền mục tiêu cung cấp tri thức với kĩ năng thực hành tiếng Việt cùng với việc thực hiện các nhiệm vụ giao tiếp trong môi trường xã

hội là nội dung tất yếu để đảm bảo cho việc dạy học đạt kết quả cao hơn

1.2.1.2 Câu đố góp phần giảng dạy môn Tiếng Việt theo hướng tích hợp hiện nay

Trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt thì mục tiêu đơn thuần không chỉ là dạy học tiếng mà còn lồng vào nội dung của bài học nội dung của các

Trang 27

môn học khác như: Toán học, lịch sử, địa lí, khoa học, tự nhiên – xã hội, vì dạy học tích cực là cách tiếp cận dạy học liên ngành

nó còn lồng ghép các tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường hay rèn luyện kĩ năng sống cho các em Như vậy, tác dụng của câu đố mang tính tổng hợp, toàn diện Sự tiếp thu đối với câu đố là sự tiếp thu có tính chất thường xuyên, liên tục và mang tính xã hội cao Đây là một lợi thế của câu đố mà không phải ngữ liệu nào cũng có được

Trang 28

1.2.1.3 Câu đố được sử dụng như một ngữ liệu dạy học các tri thức kĩ năng Tiếng Việt

Câu đố với hình thức vần vè, vần điệu, dễ nhớ, dễ thuộc, bằng những hình ảnh so sánh, liên tưởng độc đáo không chỉ rèn luyện trí thông minh, khả năng sáng tạo, phán đoán linh hoạt trong cuộc sống nói chung mà còn có tác dụng tích cực trong việc cung cấp, củng cố, luyện tập những tri thức, kĩ năng Tiếng Việt thông qua cơ chế đố và giải đố bằng những đặc trưng thuộc về cấu trúc, chức năng của Tiếng Việt, câu đố phục vụ tốt cho việc dạy học vần, chính

tả, từ ngữ, ngữ pháp, cũng như nhiều vấn đề của ngôn ngữ và Tiếng Việt

Để nguyên – có nghĩa là mình Nặng vào – mười yến góp thành, chẳng sai Sắc vào – bằng đúng mười hai

Chữ gì? Nào hãy trổ tài đoán xem

Ngoài ra có những câu đố có tác dụng giúp học sinh hiểu và nắm được cấu trúc âm tiết Tiếng Việt Đó là những câu đố dựa vào cơ chế nói lái để tạo

ra đường gianh giới giữa phụ âm đầu và vần:

Khi đi cưa ngọn khi về cũng cưa ngọn?

(Đố về chữ “ Y” )

Trang 29

Tóm lại, việc nhận thức đúng đắn cơ sở ngôn ngữ học của ngữ liệu câu

đố không những có tác dụng tích cực trong việc dạy học Tiếng Việt mà còn góp phần thúc đẩy các hoạt động giáo dục khác đối với học sinh Dạy học môn Tiếng Việt trong trường học nói chung và trường Tiểu học nói riêng, câu

đố không chỉ cung cấp cho học sinh những tri thức có tính lí thuyết về hệ thống Tiếng Việt, hệ thống ngôn ngữ mà bước đầu còn rèn luyện được tính tư duy, nhạy bén, logic cho học sinh Đây là một ưu thế rất lớn của câu đố khi nó được dùng như một ngữ liệu trong quá trình giảng dạy Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học

1.2.2 Câu đố phù hợp với hứng thú và đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học

1.2.2.1 Câu đố kích thích hứng thú nhận thức của học sinh Tiểu học

Khoa học đã chứng minh rằng, quá trình dạy học là một quá trình nhận thức.Trong hoạt động nhận thức, con người luôn luôn định hướng, chú đến đối tượng và nhờ đó mà tập trung được suy nghĩ , gạt bỏ những tác động từ bên ngoài ảnh hưởng đến kết quả nhận thức Cho nên trong dạy học,việc lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học không chỉ đáp ứng những nhu cầu của xã hội đặt ra mà còn phải quan tâm tới khả năng, nhu cầu

và hứng thú của người chọn lọc.Trong quá trình nhận thức và học tập, thái độ nhận thức, hứng thú học tập của học sinh có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả tiếp nhận tri thức và rèn luyện kĩ năng Muốn nhận thức có hiệu quả, bản thân người học phải phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác, phải có hứng thú học tập , kích thích quá trình nhận thức từ việc tri giác, hiểu, ghi nhớ đến việc vận dụng kiến thức bài học Phát triển hứng thú nhận thức là một yêu cầu quan trọng kích thích quá trình nhận thức từ việc tri giác, hiểu, ghi nhớ đến vận dụng kiến thức bài học Đối với trẻ thơ nhất là lứa tuổi học sinh Tiểu học thì câu đố càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong việc bồi dưỡng và nâng cao trí tuệ, tình cảm cho các em Nó như chất men say làm kích thích trí tò mò, say mê hiểu biết của học sinh

Trang 30

1.2.2.2 Câu đố phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh

a) Về nhận thức

Vốn sống trẻ em lứa tuổi Tiểu học chưa phong phú nhưng có sự phát triển rất lớn về mặt nhận thức dù thiên về nhận thức cảm tính, tư duy hình tượng đặc biệt phát triển Các em thường nhận thức sự vật, hiện tượng ở những đặc điểm bề ngoài, cụ thể chứ chưa thể đi sâu vào bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng Học sinh Tiểu học cũng rất hay tưởng tượng nhận thức thế giới khách quan một cách đầy đủ hơn, đồng thời giúp ta cải tạo thực tế xung quanh.Tuy nhiên, tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít có tổ chức Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, chưa có tính bền vững Thêm vào đó, học sinh Tiểu học rất hay thắc mắc Các em thường đặt ra cho người lớn những câu hỏi như: Là cái gì ?Tại sao ?Như thế nào? Trẻ luôn tò

mò, ham hiểu biết, thích khám phá những điều mới lạ Thể loại câu đố đã mở

ra trước mắt các em một thế giới rất phong phú, sống động , kích thích trí tưởng tượng, trí tò mò, lòng ham hiểu biết của các em

Ví dụ: Bài thơ Quê hương ( Đỗ Trung Quân – SGK Tiếng Việt 3, tập 1 ) có

sử dụng phép so sánh:

" Quê hương là chùm khế ngọt

Cho con trèo hái mỗi ngày

Quê hương là đường đi học

Con về rợp bướm vàng bay "

Nhờ các biện pháp nghệ thuật này mà sự vật, hiện tượng trở nên gần gũi, cụ thể, sống động, rất có hồn và rất dễ lôi cuốn các em Có thể nói lối nói

Trang 31

so sánh và nhân hóa là một đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ trẻ thơ Nó phù hợp với lối tư duy hình tượng rất phát triển của trẻ, đồng thời cũng rất phù hợp với chất hồn nhiên, ngây thơ, giàu tưởng tượng của trẻ Trong khi đó, câu

đố lại sử dụng rất nhiều các biện pháp so sánh, nhân hóa để miêu tả sự vật, hiện tượng

đố càng trở nên sôi nổi Tâm lí muốn thắng cuộc sẽ thúc đẩy trẻ phát triển nhanh các chiều hướng tư duy để tìm ra đúng vật đố

Như vậy, có thể nói, câu đố là một thể loại rất phù hợp với học sinh Tiểu học trên nhiều phương diện: Nhận thức, ngôn ngữ, hoạt động Do vậy, câu đố đã, đang và sẽ là phương tiện đắc lực trong quá trình hình thành nhân cách và phát triển trí tuệ của các em

1.3 Nhận xét về việc sử dụng câu đố trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học

Trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học cũ, câu đố được đưa vào phần

đọc thêm mà chưa được đưa vào chương trình chính khóa Như vậy, câu đố

đã không phát huy được thế mạnh của mình bởi câu đố - bản thân nó không

chỉ đơn thuần là văn bản để đọc mà nó là một hoạt động , trong đó hoạt

động đố - giải là một cuộc chơi và cuộc chơi đó phải có người tham gia đố và giải đố Phải huy động vốn sống, vốn kiến thức hay sử dụng tư duy để có thể giải được câu đố Có nghĩa là câu đố sẽ không còn là câu đố nếu nó chỉ dùng để ―đọc‖, càng không thể khi chỉ ―đọc thêm‖

Trang 32

Bên cạnh đó, trong chương trình sách giáo khoa cũ lại in phần giải đố

ở cuối cuốn sách trong khi mục đích cuối cùng của câu đố là tìm ra lời giải.Như vậy, muốn tổ chức cho học sinh chơi trò giải đố trong giờ sinh hoạt tập thể hoặc ngoại khóa thì không thể sử dụng được như một ngữ liệu vì học sinh đã biết trước lời giải đố

Trong chương trình Tiếng Việt mới ( chương trình 2000) và chương

trình Tiếng Việt 1 Công nghệ Giáo dục : từ việc khắc phục từ chương trình sách giáo khoa cũ đã đưa câu đố vào giờ học chính khóa, ở các phân môn khác nhau như Học vần, Chính tả, L uyện từ và câu

Qua bảng thống kê câu đố trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học hiện hành, có thể đưa ra một số nhận xét sau:

a, Về sự phân bố câu đố ở các khối lớp trong Sách giáo khoa Tiếng Việt Tổng số câu đố được đưa vào chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học là

56 lượt Đây chỉ là con số mang tính chất tương đối vì có một số câu đố được đưa vào chương trình Tiếng Việt ba lần, cũng có những câu đố khác nhau nhưng đáp án lại giống nhau, hay có những câu đố rất dài có thể phân tách thành những câu đố nhỏ hơn

*Ví dụ: Đố về trăng nhưng sử dụng hai câu đố khác nhau và ở hai lớp

khác nhau: Câu thứ nhất dùng trong phân môn Chính tả ( lớp 3, tập 1/ 138) :

Thuở bé em có hai sừng Đến tuổi nửa chừng mặt đẹp như hoa Ngoài hai mươi tuổi đã già Gần ba mươi lại mọc ra hai sừng

(Là gì?)

Câu thứ hai dùng trong phân môn Chính tả lớp 4, tập 1/ 17:

Để nguyên – vằng vặc trời đêm Thêm sắc – màu phấn cùng em tới trường

(Là chữ gì?)

Trang 33

* Đố về cây bút chì nhưng sử dụng hai câu đố khác nhau và ở hai lớp

khác nhau: Câu thứ nhất dùng trong phân môn Chính tả (lớp 1, tập 2/155) :

Ruột dài từ mũi đến chân Mũi mòn ruột cũng dần dần mòn theo

(Là cái gì?)

Câu thứ hai dùng trong phân môn Chính tả ( lớp 3, tập1 /22) :

Tên nghe nặng trịch Lòng dạ thẳng băng Vành tai thợ mộc nằm ngang Anh đi học vẽ, sẵn sàng đi theo

Sông gì lại hóa được ra chín rồng?

Làng quan họ có con sông Hỏi rằng sông ấy là sông tên gì?

Sông tên xanh biếc sông chi?

Sông gì tiếng vó ngựa phi vang trời?

Sông gì chẳng thể nổi lên Bởi tên của nó gắn liền dưới sâu?

Hai dòng sông trước, sông sau Hai hai sông ấy ở đâu sông nào?

Sông nào nơi ấy sóng trào Vạn quân Nam Hán ta đào mồ chôn?

(Là những sông gì?)

* Câu thứ hai trong phân môn Chính tả lớp 5 (tập 2/58):

Ai từng đóng cọc sông Hồng

Trang 34

Đáng tan thuyền giặc, nhuộm hồng sóng xanh

Vua nào thần tốc quân hành Mùa xuân đại phá quân Thanh tơi bời?

Vua nào tập trận đùa chơi

Cờ lau phất trận một thời ấu thơ

Vua nào thảo Chiếu dời đô?

Vua nào chủ xướng Hội thơ Tao Đàn?

- Thống kê trong 56 câu đố thì:

Trang 35

Trong phân môn Học vần: Có 3câu đố.Tất cả các câu đố này đều được đưa vào tiết 2, phần câu ứng dụng và đều có tranh minh họa cho lời giải

Ví dụ: Lớp 1 Chương trình công nghệ Giáo dục

Bà già mặc áo đỏ

Trẻ nhỏ mặc áo xanh

- Trong phân môn Luyện từ và câu: Có 5 câu đố, được đưa vào các bài:

Cấu tạo của tiếng – 1 câu( L ớ p 4 , t ậ p 1 / 7 )

Luyện tập về cấu tạo của tiếng – 1 câu( Lớp 4, tập 1/12)

Mở rộng vốn từ: Du lịch – thám hiểm, 1 câu ( Lớp 4, tập 2/105)

Từ đồng âm – 2 câu ( Lớp 5, tập 1/52)

- Trong phân môn Chính tả: Đây là phân môn có số lượng câu đố nhiều nhất Các câu đố được đưa vào các bài tập chính tả dạng lựa chọn, chủ yếu là dạng bài tập để chữa các lỗi chính tả đặc trưng của học sinh từng vùng miền phân biệt s /x, tr/ ch, r/ d, r/ gi, l/ n, của học sinh miền Bắc, điền dấu hỏi hay dấu ngã, điền uôt/ uôc, ên/ ênh, uôn/ uông, iên /iêng, … của học sinh miền Nam

Giải những câu đố sau:

- Tên con vật chứa tiếng bắt đầu bằng l hay n

Mẹ thì sống ở trên bờ Con sinh ra lại sống nhờ dưới ao

Có đuôi bơi lội lao xao Mất đuôi tức khắc nhảy nhao lên bờ

(Là con gì?)

- Tên con vật chứa tiếng có vần en hoặc eng

Chim gì liệng tựa con thoi Báo mùa xuân đẹp giữa trời say sưa

(Là con gì?) (SGK, Tiếng Việt lớp 4, tập 1/48)

Như vậy, các câu đố được đưa vào phân môn chính tả bao gồm các dạng bài tập như điền âm đầu dễ lẫn như phụ âm đầu tr/ch, gi/r/d/, l/n, s/ x , điền các vần dễ lẫn như an/ ang, iên/ iêng điền dấu hỏi hay dấu ngã, tìm các

Trang 36

tiếng bắt đầu bằng l/n, tr/ch , tìm các tiếng có vần an/ ang, ên/, ênh ghi vào

vở lời giải của câu đố

c, Các câu đố được đưa vào chương trình Tiếng Việt Tiểu học gồm cả câu đố hiện đại và câu đố cổ truyền

Chẳng hạn, những câu đố về cấu tạo của tiếng là câu đố hiện đại, ví dụ:

Để nguyên – lấp lánh trên trời Bớt đầu – thành chỗ cá bơi hằng ngày

(Là chữ gì?) (Luyện từ và câu, lớp 4, tập 1/17)

Còn những câu đố sau là câu đố cổ truyền:

Vừa bằng hạt đỗ , ăn giỗ cả làng

(Là con gì?) (Chính tả, lớp 3, tập 1/105)

Trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học, các câu đố hiện đại và câu đố cổ truyền được sử dụng đan xen nhau, phù hợp với nội dung của từng bài học

d, Thế giới vật đố trong câu đố ở chương trình Tiếng Việt Tiểu học rất phong phú và đa dạng

Các câu đố không chỉ đơn thuần là câu đố về thế giới động vật, thực vật, các hiện tượng tự nhiên và cả câu đố chữ, câu đố lịch sử Tuy nhiên, chưa

có sự phân bố đồng đều ở các khối lớp, và so với trình độ của các em

e, Các câu đố được đưa vào chương trình Tiếng Việt Tiểu học hầu hết đều có tranh minh họa

Trong tổng số 56 câu đố thì có đến 41 câu đố có tranh minh họa cho lời giải chiếm 73,2% Tất cả các câu đố có tranh minh họa đều tập trung ở các phân môn và đều tập trung ở chương trình Tiếng Việt lớp 1, 2,3 , chỉ có hai câu đố ở phân môn Chính tả lớp 5 , tập 2 là có tranh minh họa Việc đưa tranh minh họa cho lời giải của câu đố sẽ giúp các em đưa ra lời giải nhanh hơn nhất là đối với học sinh lớp 1, 2, 3 ở đầu cấp Tiểu học, khi các em bắt đầu làm quen với câu đố cũng như tư duy trực quan của các em vẫn chiếm ưu thế

Ví dụ với trường hợp câu đố khá trừu tượng với các em như " Vừa bằng hạt

Trang 37

đỗ, ăn giỗ cả làng" hay như câu đố không quen thuộc với trẻ em thành phố

như " Vừa bằng cái nong, cả làng đong chẳng hết" Còn đối với học sinh

lớp 4,5 tư duy trừu tượng của các em đã phát triển hơn nên việc để các em

tự tìm ra lời giải dựa trên ngữ liệu của câu đố sẽ giúp các em nâng cao được

nhận thức, phát triển tư duy

Như vậy, từ những nhận xét trên có thể nhận thấy rằng câu đố được

đưa vào chương trình Tiếng Việt Tiểu học còn rất ít so với tổng số các ngữ

liệu mà sách giáo khoa đã sử dụng Bên cạnh đó, sự phân bố câu đố cũng như

thế giới vật đố không đồng đều giữa các khối lớp, các phân môn và không

phải tất cả các câu đố đó đều được giáo viên vận dụng để phát triển tư duy

cho các em

1.4 Tiểu kết chương 1

Câu đố chính là một sân chơi trí tuệ , một bài toán đặc biệt " bài toán có

linh hồn" mà ở đó con người được cung cấp một kho tàng lớn các tri thức về

mọi mặt của đời sống xã hội.Các ngữ liệu câu đố trực tiếp hay gián tiếp đều

phản ánh các mức độ khác nhau nội dung dạy học Tiếng Việt trong nhà

trường Tiểu học.Đó là những tri thức, những quy luật ngôn ngữ học được tác

giả thể hiện qua những sáng tác của mình Như vậy, câu đố vừa là mục đích,

vừa là phương tiện phát triển nhận thức, tư duy của con người Nếu chỉ tìm

hiểu câu đố qua một số lượng nhỏ, ta không thấy rõ điều này Song nếu có

một lượng lớn câu đố tác động trong thời gian dài vào tư duy của chúng ta,

chắc chắn sẽ có sự thay đổi đáng kể trong lối nghĩ và sựu phát hiện cái

mới.Câu đố đã và đang ngày càng được đánh giá cao và được nhiều người sử

dụng hơn, là nguồn tư liệu phong phú cho quá trình dạy và học trên lớp cũng

như các tiết ngoại khóa của học sinh bởi sự phù hợp với mục tiêu dạy học, đặc

điểm tâm lý, hứng thú của học sinh Điều quan trọng là cần phải sử dụng

trong dạy học một cách khoa học, hợp lý để đem lại hiệu quả cao nhất

Trang 38

CHƯƠNG 2

SỬ DỤNG NGÂN HÀNG CÂU ĐỐ ĐỂ DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

Ở TIỂU HỌC 2.1 Nguyên tắc lựa chọn câu đố trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Ở góc độ lí luận dạy tiếng, khi lựa chọn câu đố trong dạy học Tiếng Việt cần chú ý, câu đố phải chứa đựng những nội dung ngôn ngữ cần cung cấp cho học sinh Câu chữ trong câu đố phải có cấu trúc đơn giản, lời lẽ phải dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thuộc với học sinh Tiểu học Ngoài ra, việc lụa chọn câu đố cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

2.1.1 Lựa chọn câu đố phải phù hợp với mục tiêu dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Khi lựa chọn và sử dụng câu đố cần phải đặt câu hỏi: Sử dụng ngữ liệu này để làm gì? Có tác dụng gì trong việc cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng, phát triển tư duy, bồi dưỡng nhân cách? Ngữ liệu có phát huy được tính sáng tạo, vai trò chủ động học tập, tiếp thu bài học, phát huy hứng thú nhận thức, tạo không khí và những điều kiện thuận lợi cho quá trình học tập của học sinh hay không? Tất cả những câu hỏi trên nhằm làm cho việc lựa chọn

và sử dụng câu đố bám sát được mục đích, yêu cầu, nội dung bài học

Phải bám sát nội dung, yêu cầu trong từng bài học, từng ý cụ thể, không lựa chọn tùy tiện, ngẫu hứng, làm cho nhận thức của học sinh bị lệch hướng Ngoài ra, nếu không bám sát nội dung trong từng bài học thì việc phân tích các ngữ liệu có thể là đúng nhưng không phù hợp, không đúng với nội dung, yêu cầu bài học

Chính vì vậy, những bài học có nội dung sâu sắc được thể hiện bằng một hình thức, phương pháp hấp dẫn, có sự chuyển tiếp, đan xem giữa tư duy trừu tượng với tư duy trực quan – hình tượng sẽ làm cho học sinh có hứng thú nhận thức và tiếp thu một cách hiệu quả hơn

Như vậy, khi sử dụng ngữ liệu câu đố, cần phải có sự tìm hiểu, phân tích để nắm vững nội dung ngôn ngữ học chứa trong ngữ liệu và nội dung đó

Trang 39

có đảm bảo được tính giáo dục, phát triển trong quá trình dạy học hay không?

Có như vậy, việc sử dụng ngữ liệu câu đố mới phát huy được những tác dụng tiềm tàng của nó, hạn chế được những tiêu cực có thể xảy ra trong quá trình dạy học

2.1.2 Lựa chọn câu đố đảm bảo yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh Tiểu học

Việc dạy học Tiếng Việt không chỉ dừng lại ở việc cung cấp tri thức và rèn luyện kĩ năng thực hành Tiếng Việt mà còn bao hàm cả việc giáo dục các nội dung khác Chính vì vậy, những bài học Tiếng Việt có sử dụng câu đố không chỉ đơn thuần cung cấp những tri thức và kĩ năng Tiếng Việt mà còn

có tác dụng giáo dục tư tưởng, tình cảm, thẩm mĩ, và những tình cảm tốt đẹp của con người Khai thác, sử dụng toàn diện những nội dung đó, chúng ta sẽ làm cho nội dung bài học trở nên phong phú hơn, bớt đi sự khô khan đồng thời lồng ghép được nội dung giáo dục khác

2.1.3 Lựa chọn câu đố đảm bảo phù hợp với hứng thú và đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học

Trong thời lượng một tiết học, việc dẫn ngữ liệu câu đố, phân tích và khái quát không thể chiếm thời gian quá lớn trong tương quan với các ngữ liệu khác Cho nên, cần phải có định hướng về thời gian, về yêu cầu bài học

để xác định ngữ liệu câu đố để phát huy hiệu quả tối đa của việc sử dụng

Mặt khác, việc lựa chọn và sử dụng ngữ liệu câu đố phải phù hợp với trình độ và tâm lí của học sinh ở từng độ tuổi nhất định, đảm bảo tính phát triển trong dạy học, vừa hàm chứa được nội dung dạy học, vừa tránh được sự quá tải trong việc sử dụng ngữ liệu câu đố

Một vấn đề nữa đó là khả năng sử dụng câu đố trong thực tế của giáo viên Cùng một ngữ liệu, một bài học, có người sử dụng thành công, có người

sử dụng kém hiệu quả, điều đó phụ thuộc vào sự am hiểu, phụ thuộc vào phương pháp dạy học và năng lực sư phạm của giáo viên Như vậy, thành

Trang 40

công của việc sử dụng ngữ liệu câu đố phụ thuộc rất lớn vào năng lực vận dụng thực tế của giáo viên

2.2 Sử dụng ngân hàng câu đố để dạy học các tri thức, kĩ năng Tiếng Việt ở Tiểu học

2.2.1 Sử dụng ngân hàng câu đố để daỵ học chính tả

2.2.1.1 Sử dụng ngân hàng câu đố để dạy học chính tả âm/vần

Chúng ta có thể sử dụng nhiều ngữ liệu câu đố để dạy học chính âm cho học sinh Đối với Bắc Bộ,đó là việc phân biệt giữa ch/ tr, l/ n , s /x ,r /d , , phân biệt giữa các thanh điệu ở Trung Bộ, phân biệt giữa an/ ang , ên/ ênh, uôt /uôc, … ở Nam Bộ

Với dạng này giáo viên có thể đưa ra ngữ liệu câu đố để dạy học chính

tả phương ngữ và quy tắc Tiếng Việt

Ví dụ khi đố về chữ A, chữ A được nhìn như hai người đang bắt tay nhau:

Hai người đứng bắt tay nhau Chạm trán, chạm đầu mà chẳng chạm chân?

Hay chữ A được ví như một cái " đầu nhọn" có " hai chân dạng ra mãi"

Ngày đăng: 02/01/2020, 17:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w