------ KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG LÀNG TRÚC ĐỘNG VÀO VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯU KIẾM – THỦY NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ G
Trang 1- -
KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA
TRUYỀN THỐNG LÀNG TRÚC ĐỘNG VÀO VIỆC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 4
TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯU KIẾM – THỦY NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục tiểu học
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Quốc Tuấn
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
HẢI PHÒNG NĂM 2017
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Đinh Minh Ngọc - sinh viên lớp Cao học Giáo dục Tiểu học Khóa I
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong
luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hải Phòng, ngày 5 tháng 4 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện luận văn "Khai thác các giá trị văn hóa
truyền thống làng Trúc Động vào việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học
sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Kiếm - Thủy Nguyên" tôi đã nhận được sự
quan tâm, giúp đỡ của các tập thể, cá nhân trong và ngoài nhà trường Trước
hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học cùng
các thầy, cô giáo Trường Đại học Hải Phòng đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Quốc Tuấn
-Trưởng khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non người hướng dẫn khoa học đã
tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn Xin được gửi
lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo cùng
học sinh trường Tiểu học Lưu Kiếm - Thủy Nguyên đã giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực nghiệm để thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã
động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình công tác, học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, ngày 5 tháng 4 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN……… i
LỜI CẢM ƠN……… ii
MỤC LỤC………iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… v
DANH MỤC BẢNG……… vi
DANH MỤC HÌNH……… vii
PHẦN MỞ ĐẦU……… 1
PHẦN NỘI DUNG……… 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI……… 8
1.1 Cơ sở lí luận……… 8
1.1.1 Văn hóa và văn hóa truyền thống……… 8
1.1.2 Cơ sở tâm lí học và giáo dục đạo đức trong dạy học ở cấp Tiểu học….17 1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và giáo dục……… 24
1.2 Cơ sở thực tiễn……… 27
1.2.1 Lễ hội truyền thống của người dân làng Trúc Động……… 27
1.2.2 Thực trạng việc giáo dục văn hóa truyền thống và việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh trường Tiểu học Lưu Kiếm - Thủy Nguyên………… 28
1.3 Tiểu kết chương 1……… 30
CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯU KIẾM - THỦY NGUYÊN - HẢI PHÒNG THÔNG QUA CÁC NÉT ĐẸP VĂN HÓA LÀNG 2.1 Các yếu tố nền tảng tạo nên các giá trị văn hóa xã hội của làng Trúc Động Lưu Kiếm - Thủy Nguyên……… 32
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên làng Trúc Động……….32
2.1.2 Không gian văn hóa – xã hội làng Trúc Động………33 2.2 Một số giá trị văn hóa truyền thống làng Trúc Động có ảnh hưởng tới sự
Trang 5hình thành đạo đức, lối sống cho HS trường Tiểu học Lưu Kiếm………36
2.2.1 Truyền thống văn hóa……….36
2.2.2 Phong tục, tập quán……… 39
2.2.3 Tín ngưỡng dân gian……… 43
2.3 Nguyên tắc và biện pháp giáo dục đạo đức……….……… 44
2.3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp……….44
2.3 2 Một số biện pháp giáo dục đạo đức, lối sống cho HS trường Tiểu học Lưu Kiếm - Thủy Nguyên……….45
2.4 Tiểu kết chương 2……….51
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM………52
3.1 Mục đích, ý nghĩa thực nghiệm sư phạm……….52
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm………52
3.3 Nội dung thực nghiệm……… 53
3.4 Tổ chức thực nghiệm………53
3.5 Kết quả thực nghiệm………54
3.6 Tiểu kết chương 3………60
PHẦN KẾT LUẬN……….61
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 63
PHỤ LỤC………
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã để lại nhiều truyền thống vô cùng quý giá
Đó là truyền thống yêu nước; truyền thống đoàn kết cộng đồng; truyền thống nhân ái, khoan dung; truyền thống hiếu học và nhiều truyền thống tốt đẹp khác Những giá trị văn hóa truyền thống đó của dân tộc đã tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh trên thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc Văn hóa truyền thống Việt Nam được lưu giữ và bảo tồn qua hoạt động văn hóa làng Vì vậy nói đến văn hóa Việt Nam thì phải nói đến văn hóa làng Văn hóa làng Việt truyền thống rõ nét nhất là văn hóa làng Việt Bắc Bộ Làng Việt Bắc Bộ là nơi bao đời nay cư dân Việt cư trú, lao động, sản xuất và
tổ chức mọi sinh hoạt văn hóa, sinh hoạt tinh thần; đồng thời là nơi cố kết
quan hệ dòng tộc, xóm giềng
Làng là mô hình để người xưa theo đó mà mở rộng ra xây dựng tổ chức quốc gia, đô thị Làng còn là pháo đài để chống giặc ngoại xâm cùng mọi yếu
tố ngoại lai, bảo vệ sự bình yên cho dân tộc, cho đất nước Văn hóa làng chính
là hệ thống những giá trị hình thành qua bao đời trong toàn bộ các hoạt động
đó, không những thế nó cũng chính là công cụ, là phương tiện tổ chức và duy trì toàn bộ các hoạt động này Nó đi vào ký ức người Việt Nam bằng hàng loạt những giá trị vật chất và tinh thần gần gũi thân thương Văn hóa làng được quy ước thành lệ làng, đúc kết trong hương ước làng, bộc lộ một cách phong phú qua hội làng Tất cả chắt lọc lại, tạo nên bản sắc văn hóa làng, mà trong đó tính cộng đồng làng và tính tự trị của làng là những giá trị nổi trội nhất Tính cộng đồng đã in đậm dấu ấn trong tâm lý, tính cách, trong bản sắc
Trang 10văn hóa Việt Nam, chi phối đến đời sống và các quan hệ ứng xử của người Việt không những thế tính cộng đồng còn tạo nên truyền thống ứng xử tốt đẹp của dân tộc ta, đó là tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, là sự gắn bó, sẻ chia lúc khó khăn hoạn nạn Cuộc sống cộng đồng ở làng xã đã tạo ra sự đoàn kết gắn bó, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, đó là ngọn nguồn của nếp sống trọng tình trong truyền thống ứng xử của người Việt, đó cũng là một nét nổi trội trong đặc trưng văn hóa truyền thống Việt Nam Cả cuộc đời và qua nhiều đời, người dân quê Việt Nam làm ăn, sinh sống ở làng, mọi người hiểu nhau rành rọt, thân quen, gắn bó với nhau từ tấm bé với các mối quan hệ bền chặt nhau lối sống giàu tình cảm, trọng tình nghĩa là một nét đẹp trong truyền
thống của dân tộc
Chính vì vậy văn hóa làng có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng tới đời sống văn hóa, xã hội, kinh tế, giáo dục của cộng đồng làng Riêng đối với giáo dục, văn hóa làng có vai trò vô cùng quan trọng Văn hóa là môi trường
để hình thành nuôi dưỡng nhân cách, con người, văn hóa giúp con người hoàn thiện phẩm chất đạo đức, cách ứng xử giữa người và người; giữa người với thiên nhiên Trong những ảnh hưởng của văn hóa làng tới cộng đồng làng thì
sự ảnh hưởng tới lớp trẻ nói chung và đặc biệt học sinh tiểu học nói riêng là rất lớn Từ truyền thống văn hóa làng học sinh biết yêu thương con người hơn, biết đoàn kết, lễ phép, có những hành vi chuẩn mực đạo đức đúng đắn, biết nhìn nhận về sự bao dung, cái thiện, nhân cách sống trong các mối quan
hệ, biết phân biệt cái tốt và cái xấu để hoàn thiện nhân cách của mình
Mặc dù văn hóa làng đã trở thành bản sắc, thành một hằng số của văn hóa Việt Nam, nhưng theo thời gian, không có cái gì là không biến đổi Với cuộc sống đang hiện đại hóa, với xã hội đang công nghiệp hóa và đô thị hóa, với thế giới đang toàn cầu hóa và hội nhập Văn hóa làng trong đời sống nông thôn Việt Nam hôm nay đang biến đổi rất nhanh chóng, mạnh mẽ và sâu sắc
Trang 11đã làm thay đổi không nhỏ đến ý thức đạo đức, lối sống của lớp trẻ, đặc biệt là học sinh Tiểu học
Văn hóa làng Trúc Động - Lưu Kiếm - Thủy Nguyên - Hải Phòng cũng không nằm ngoài quy luật đó Với sự phát triển của kinh tế thị trường làng Trúc Động ngày càng thay da đổi thịt, cũng đã làm thay đổi rất nhiều đến đạo đức, lối sống, làm gia tăng tệ nạn xã hội và làm biến dạng những nhân cách đang được hình thành ở tuổi trẻ Trước tình hình này, việc giáo dục các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc cho học sinh nói chung và học sinh tiểu học nói riêng cần được đặt ra một cách cấp thiết Những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương sẽ tác động tới đạo đức và lối sống của học sinh, mặt khác cũng chính những mầm non tương lai của đất nước ấy sẽ là người trực tiếp bảo tồn và giữ vững các giá trị văn hóa truyền thống đó theo thời gian Đó
cũng chính là lí do chúng tôi lựa chọn đề tài: "Khai thác các giá trị văn hóa
truyền thống làng Trúc Động vào việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Lưu Kiếm - Thủy Nguyên - Hải Phòng"
Trên tinh thần đó luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu những tác động tích cực của các giá trị văn hóa truyền thống làng Trúc Động đến việc giáo dục đạo đức lối sống của học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học Lưu Kiếm, từ đó học sinh cũng có tác động ngược lại bằng hành động và ý thức trong việc bảo tồn
và gìn giữ các giá trị văn hóa đó
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Để tạo cơ sở vững chắc cho việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi xin điểm qua những công trình nghiên cứu, sách, tài liệu đề cập tới văn hóa truyền thống làng và giáo dục đạo đức lối sống cho HS
Làng và văn hóa làng đã được đề cập tới trong các tác phẩm khác nhau, đặc biệt với các tác giả viết về văn hóa học Có rất nhiều công trình, tác
phẩm quy mô mà chúng ta có thể kể tên như: “Làng văn hóa cổ truyền Việt Nam” của Giáo sư Vũ Ngọc Khánh chủ biên [26].Cuốn sách giới thiệu về
Trang 12hàng chục ngôi làng của nhiều vùng, miền trong cả nước ở miền xuôi, miền biển và bản làng miền núi Do vị trí địa lý - khí hậu, mà ở mỗi làng xã, hay buôn làng lại có một nghề truyền thống cơ bản nuôi sống con người Việt Nam trong suốt mấy nghìn năm là nghề nông nghiệp lúa nước
Văn hóa làng Việt Nam - Qua ca dao dân ca của Bùi Xuân Mỹ [33] ,
Cuốn sách phản ánh phần nào cái hay, cái đẹp và giá trị bất hủ của kho tàng
ca dao trong văn hóa làng từ xa xưa cho đến hiện tại
Văn hóa làng Việt Nam - Tín ngưỡng dân gian của Thạc sĩ Vũ Kim
Yến [58] Cuốn sách được biên soạn, sắp xếp và hệ thống lại từ nhiều nguồn
tư liệu, nói về đời sống tín ngưỡng truyền thống trong phạm vi làng Việt, trong đó đặc biệt chú trọng giới thiệu biểu hiện của các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian trong đời sống văn hóa, tinh thần ở làng Qua đó, góp phần khẳng định trong chừng mực nào đó, tín ngưỡng dân gian không chỉ làm nên những giá trị tinh thần, tâm thức và tâm linh của văn hóa mà còn góp phần tạo bản sắc lâu bền của văn hóa làng
Về văn hóa địa phương cũng có một số tác phẩm , năm 2012 hai tác giả
là Văn Duy và Lê Xuân Lựa đã sưu tầm và biên soạn cuốn "Văn hóa dân gian vùng ven sông Bạch Đằng huyện Thủy Nguyên" Cuốn sách nằm trong
chương trình Dự án "Công bố và phổ biến tài sản văn hóa - văn nghệ dân gian các dân tộc Việt Nam" do Hội văn nghệ dân gian Việt Nam chủ trì Nội dung của sách mang tính liệt kê về các địa chỉ văn hóa và tín ngưỡng của nhân dân
huyện Thủy Nguyên [16] Hay cuốn sách Địa chí Thủy Nguyên do Tiến sĩ
Đoàn Trường Sơn chủ biên cũng liệt kê về tình hình, kinh tế chính trị, xã hội văn hóa của các xã trong huyện
Về giáo dục đạo đức và lối sống có rất nhiều các tác phẩm : Bộ sách “Tủ
sách đạo đức” gồm nhiều cuốn sách như : Một trái tim yêu thương, Người bạn đích thực, Hãy nói bạn có thể, Mình không phải kẻ hèn nhát, Vòng tay nối những vòng tay…[2] mỗi câu chuyện nhỏ đều có nội dung gần gũi với cuộc
Trang 13sống, không phô trương, không thần thánh huyền bí hóa, nhưng đều mang tính chất giáo dục rất cao Mỗi câu chuyện là một bài học giá trị về cuộc sống do nhà xuất bản Dân Trí ấn hành
Hay bộ sách Truyện đọc giáo dục lối sống gồm 5 cuốn tương ứng với 5
chủ đề: Từ sân nhà đến sân trường, soi gương mỗi ngày, không ai đi một mình, thế giới rộng vô cùng, viện bảo tàng kì thú[12] Trong mỗi chủ đề là những câu
chuyện tự nhiên, nhẹ nhàng, sinh động theo phương châm học mà chơi, chơi mà học, tạo sự hứng thú trong học tập, rèn luyện nhằm giáo dục đạo đức, lối sống cho các em học sinh
Nhìn chung viết về văn hóa, truyền thống của làng đặc biệt vấn đề giáo dục đạo đức lối sống cho HS không phải là vấn đề mới Song vấn đề giáo dục đạo đức cho HS qua văn hóa, truyền thống của địa phương thì chưa có công trình hay tài liệu nào đề cập đến Với những định hướng trên chúng tôi chọn
đề tài “Khai thác các giá trị văn hóa truyền thống làng Trúc Động vào việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Kiếm – Thủy Nguyên” Chúng tôi hi vọng đóng góp nhỏ bé của luận văn là những thể
nghiệm có tính khả thi cho quá trình giáo dục đạo đức ở trường Tiểu học Lưu Kiếm hiện nay Đồng thời cũng hi vọng kết quả nghiên cứu của chúng tôi sẽ
là những gợi ý giúp GV tiến hành nội dung bài giảng
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là đi tìm hiểu khai thác những giá trị văn hóa truyền thống làng Trúc Động - Lưu Kiếm vào việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh lớp 4 Trường tiểu học Lưu Kiếm Từ đó giúp các em
có ý thức tôn trọng và giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống địa phương, dân tộc, góp phần vào việc hình thành nhân cách đạo đức toàn diện của mình
Trang 143.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống trong việc giáo dục học sinh trong nhà trường
- Nghiên cứu các giá trị văn hóa truyền thống, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lễ hội mà có ảnh hưởng tích cực đến việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh tiểu học
Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh lớp 4 trường tiểu học Lưu Kiếm - Thủy Nguyên - Hải Phòng thông qua các giá trị truyền thống văn hóa đó
- Chương trình, nội dung và hiện trạng việc giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học hiện hành tại trường tiểu học Lưu Kiếm - Thủy Nguyên
- Tổ chức thực nghiệm thông qua một số biện pháp đã nêu trên để kiểm tra tính khả thi của đề tài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những biện pháp giáo dục đạo đức, lối sống cho HS lớp 4 trường Tiểu học Lưu Kiếm thông qua khai thác những giá trị văn hóa truyền thống của làng
Trang 155 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ của luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Thu thập thông tin từ các công trình khoa học, tài liệu lưu trữ có liên quan đến nội dung nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Nghiên cứu lý thuyết và tổng hợp kinh nghiệm nhằm xác định được mục đích, nhiệm vụ và đề xuất biện pháp giải quyết vấn đề
- Điều tra – khảo sát: Sử dụng phiếu khảo sát để thực nghiệm
- Phương pháp điền dã dân tộc học (quan sát; phỏng vấn; ghi âm; ghi chép; chụp ảnh…)
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của luận văn
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần tài liệu tham khảo và phần phụ lục luận văn được chia làm 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài
Chương 2: Một số biện pháp giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh
lớp 4 trường Tiểu học Lưu Kiếm – Thủy Nguyên - Hải Phòng thông qua các nét đẹp truyền thống văn hóa làng
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16Theo UNESCO, hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 400 định nghĩa
về văn hoá điều đó cho thấy việc xây dựng một định nghĩa khoa học, đầy đủ
về văn hoá là vô cùng khó khăn Từ những góc độ và những cơ sở lí giải khác nhau, mỗi nhà văn hoá học đều cố gắng đưa ra một định nghĩa khả dĩ Để tìm hiểu mối quan hệ giữa văn hóa với giáo dục và thẩm mỹ, trước hết, chúng ta cần hiểu được khái niệm về văn hóa cũng như những chức năng của chúng
Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu định nghĩa của Hồ Chí Minh – một trong
số những định nghĩa tương đối phổ biến đang được nhiều nhà văn hoá học
chú ý: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng
tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn
ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức
là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu
Theo định nghĩa trên thì văn hoá bao gồm những yếu tố cơ bản sau:
- Lí giải nguồn gốc của văn hoá là các phương thức hoạt động và giao tiếp của con người (tổ chức đời sống và xã hội)
- Chỉ ra bản chất của văn hoá là cơ chế tổng hợp, phổ quát và là động lực để hình thành, phát triển xã hội và con người Vì vậy, muốn đổi mới xã hội, đổi mới con người thì phải xây dựng một nền văn hoá mới
Trang 17Xác lập các yếu tố cấu thành văn hoá, gồm:
- Các yếu tố vật chất: ăn, ở, mặc, ngôn ngữ, chữ viết; trong đó ngôn ngữ là công cụ tư duy và giao tiếp chỉ con người mới có
- Các yếu tố tinh thần: đạo đức, phát luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật; trong đó pháp luật, đạo đức là thể chế xã hội; văn học, nghệ thuật là hoạt động tinh thần
Khi bàn về khái niệm văn hóa, bên cạnh định nghĩa của Hồ Chí Minh nêu trên, một số định nghĩa cũng được nhiều nhà văn hóa học chú ý là định nghĩa của UNESCO, Ra – hát - ma Nê Ru và của Trần Ngọc Thêm Theo
UNESCO năm 1982: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc, quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống Những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng; Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ Văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ
và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân” Theo định nghĩa này có hai yếu tố quyết định văn hóa của một vùng đó
là điều kiện tự nhiên như trời, đất (nảy sinh ra núi, sông, mưa, gió, bão lụt…)
và điều kiện xã hội (mối quan hệ giữa con người với con người hoặc là chung sống hòa bình, hoặc là xâm lược để thôn tính lẫn nhau)
Còn Trần Ngọc Thêm cũng cho cho rằng văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần, nó thể hiện trình độ của mỗi dân tộc trong quá trình lịch sử của mình Đặc biệt, ông còn nhấn mạnh điểm thống nhất căn bản mang tính nhân loại khi nhận thức về văn hóa là tính sáng tạo, đó là cốt lõi của
Trang 18văn hóa Điểm khác biệt giữa các nền văn hóa của mỗi cộng đồng dân tộc là
ở mức độ của tinh thần nhân văn của nền văn hóa ấy [46, tr 10]
Bên cạnh đó, Ra - hát - ma Nê Ru lại đề cao văn hóa ở các giá trị tinh thần bao gồm các vấn đề về tư tưởng, đạo đức và lối sống của một cộng đồng dân tộc Trong đó, tư tưởng vừa là thước đo sự tiến bộ, vừa là tầm vóc của một thời đại, một dân tộc và một cá nhân nào đó Ngay cả một tác phẩm nghệ thuật, nếu không có tư tưởng thì coi như cũng chẳng có gì cả, tất nhiên đó là tầng tư tưởng đã được hình tượng hóa, nằm ở chiều sâu của hình tượng
b) Các chức năng của văn hoá
1) Chức năng giáo dục:
Văn hoá là những chuẩn mực xã hội, là những khuôn mẫu xã hội được tích luỹ trong quá trình lâu dài của mỗi cộng đồng dân tộc; nó được cố định hoá dưới dạng ngôn ngữ, biểu tượng, phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, đạo đức Tất cả những yếu tố trên cấu thành một nền văn hoá nhất định; nó
có vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách, lối sống, nếp nghĩ, cách đối nhân xử thế của các thành viên trong cộng đồng
Xét về bản chất, văn hoá là nội dung của giáo dục và cũng là mục tiêu của giáo dục Các quốc gia trên thế giới đều coi giáo dục là con đường cơ bản nhất để gìn giữ và phát triển văn hoá bởi phát triển văn hoá chính là động lực
để phát triển xã hội Với ý nghĩa ấy, UNESCO đã nêu ra 4 mục tiêu (nguyên lí) của nền giáo dục tương lai cho nhân loại là:
- Học để biết
- Học để làm
- Học để chung sống
- Học để làm người, để tự khẳng định mình
Bốn mục tiêu trên đã bao hàm trong nó dường như đầy đủ các thuộc tính
của văn hoá: tri thức, quan hệ, phát triển và hoàn thiện, ý thức về cái bản ngã
Trang 19Nhờ chức năng giáo dục của văn hoá mà con người có thể tồn tại, phát triển, hoàn thiện trong trạng thái cân bằng động với thiên nhiên và xã hội Đây
là chức năng bao trùm nhất, cơ bản nhất và mang tính quyết định
2) Chức năng chuyển giao giá trị văn hoá
Văn hoá bao giờ cũng được hình thành trong một quá trình, được tích luỹ qua nhiều thế hệ, mang trong nó tính lịch sử, bồi đắp cho nó một bề dày, một chiều sâu nhất định Thế nhưng, mỗi thế hệ, mỗi đời người đều là hữu hạn trong dòng chảy vô tận của lịch sử văn hoá, vậy làm cách nào để chuyển
giao các giá trị văn hoá một cách có hiệu quả? Trong thực tế, mỗi thế hệ và
mỗi đời người đều sống trong những thời đại cụ thể, những điều kiện lịch sử
cụ thể trong hai mối quan hệ chủ yếu: Quan hệ đồng đại: Chịu sự giáo dục, tác động, chi phối của văn hoá thời đại và quan hệ lịch đại: Tiếp thu, kế thừa,
chọn lọc, phát triển những tinh hoa văn hoá trong lịch sử
Như vậy, mỗi thế hệ và mỗi con người đã vô tình hay có ý thức vừa sáng tạo, vừa chuyển giao các giá trị văn hoá Nói cách khác, con người vừa
là sản phẩm của lịch sử văn hoá, vừa là chủ thể sáng tạo ra những giá trị văn
hoá của thời đại
Có thể nói một cách tổng quát: Văn hoá là những giá trị đã ổn định và
những giá trị đang hình thành, đó chính là chức năng chuyển giao giá trị văn hoá
3) Chức năng kích thích sáng tạo văn hoá
Quá trình thẩm thấu những giá trị văn hoá là quá trình mà con người
nhận biết và được giáo dục bởi văn hoá, quá trình ấy giúp cho con người có những hiểu biết mới và những khát vọng mới Tri thức và khát vọng gây hưng phấn cho con người, kích thích con người lao động và sáng tạo theo quy luật của cái đẹp
Trang 20Văn hoá bao gồm một hệ thống các giá trị, vì vậy con người cũng được kích thích theo nhiều thang giá trị khác nhau, ở những lĩnh vực khác nhau, chẳng hạn:
- Kích thích khát vọng chiếm lĩnh tri thức đỉnh cao
- Kích thích khát vọng sáng tạo nghệ thuật (con người văn hoá - nghệ sĩ)
- Kích thích khát vọng tạo lập quan hệ xã hội (văn hoá - xã hội)
- Kích thích khát vọng khẳng định bản thân (văn hoá - bản ngã)
Với chức năng này, văn hoá sẽ trở thành một động lực và một nguồn năng lượng vô tận giúp cho con người sống có ích và không ngừng phát
triển, hoàn thiện
4) Chức năng liên kết xã hội
Cùng với tư cách là một giá trị, văn hoá còn đồng thời là những hình thái hoạt động đặc thù có chức năng liên kết xã hội rất hiệu quả, chẳng hạn:
Lễ hội là nơi gặp gỡ, giao lưu rộng rãi của vùng, miền, quốc gia Thông qua lễ hội, con người ngày càng xích lại gần nhau, đồng cảm với nhau trong cuộc sống hơn
Giỗ Tết cũng là nơi tụ họp gia đình, gia tộc và hàng xóm láng giềng; nó giúp cho con người có thể bỏ qua những bất hoà để tìm ra tiếng nói chung về huyết thống hoặc tình làng nghĩa xóm truyền thống
Phong tục tập quán giống như một chất keo gắn bó các thành viên trong
cộng đồng với nhau, ở một mức độ nào đó nó còn có khả năng điều tiết hài hoà các mối quan hệ, góp phần tạo ra sự ổn định cho xã hội
Tín ngưỡng cũng là một hình thái hoạt động góp phần giáo hoá con người rất có hiệu quả Con người đến với tôn giáo để hướng thiện, phục thiện, hành thiện và đó chính là nhân tố có thể làm nên sức mạnh kì diệu tử vì đạo!
Có thể nói, tất cả các hình thái hoạt động văn hoá lành mạnh đều có chức năng liên kết xã hội và cải tạo con người
Trang 215) Chức năng thẩm mỹ
Bi - ê - lin - xki, nhà tư tưởng lớn của nước Nga thế kỉ XIX từng khẳng định:
“Cảm xúc về cái đẹp là một điều kiện làm nên phẩm giá con người Phải có
nó con người mới có được trí tuệ, phải có nó nhà bác học mới vươn tới những
tư tưởng tầm cỡ thế giới, mới hiểu được bản chất và các hiện tượng trong tính thống nhất của chúng Phải có nó con người mới có thể không gục ngã dưới sức đè nặng trĩu của cuộc đời để làm nên những chiến công Thiếu nó thì không có thiên tài, không có trí thông minh, mà chỉ còn lại cái thứ đầu óc tỉnh táo một cách ti tiện mưu cầu cho những toan tính nhỏ nhen bệnh hoạn.”
Trong ý kiến trên, tác giả đã đề cập đến phần linh hồn của văn hoá, bởi
văn hoá là sự sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần theo qui luật của cái đẹp; thấm nhuần văn hoá cũng tức là cảm nhận được cái đẹp trong sáng tạo,
thưởng thức và quan hệ Văn hoá là động lực cho sự sáng tạo, là bệ phóng cho
những thiên tài Như vậy, nói đến văn hoá tức là nói đến cái đẹp Vô cảm
trước cái đẹp thì chỉ còn lại thứ đầu óc tỉnh táo tầm thường, nhỏ nhen, ích kỉ
Hoạt động giải trí của văn hoá luôn mang ý nghĩa thư giãn về tinh thần,
do đó ngay trong chức năng giải trí nó đã bao hàm cả chức năng giáo dục, chức năng chuyển giao văn hoá, chức năng liên kết
Trang 227) Chức năng dự báo
Bản chất của hoạt động văn hoá là hoạt động trí tuệ, hoạt động sáng tạo; vì vậy trong quá trình hoạt động văn hoá, con người dần dần phát hiện ra những quy luật của tự nhiên, quy luật của xã hội, quy luật của con người
Những khám phá đó mở rộng tầm hiểu biết, khả năng phán đoán, suy luận và trí tưởng tượng của con người Nhờ các khả năng trên, con người có thể dự báo về thiên nhiên, xã hội, con người một cách khoa học và xây dựng được các phương án thích ứng cho sự tồn tại của chính mình
Những dự báo của văn hoá vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nhân văn cao; nó giúp cho con người ngày càng cộng sinh tốt hơn với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
Như vậy, văn hoá là hoạt động sáng tạo theo quy luật của cái đẹp, nó tạo nên một thiên nhiên thứ hai, một môi trường thứ hai nuôi dưỡng con người Với ý nghĩa đó, văn hoá đồng thời thực hiện nhiều chức năng như là những tác nhân góp phần quan trọng vào việc hình thành, phát triển và hoàn thiện con người văn hoá Con người văn hoá thường xuyên được các chức năng văn hoá chi phối, điều chỉnh một cách vừa tự giác vừa không tự giác Nói cách khác, khi nào con người thoát li khỏi các hoạt động văn hoá tức là khi ấy con người đã tha hoá Tìm hiểu các chức năng của văn hoá sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn bản chất của văn hoá và vị trí, vai trò của văn hoá
trong đời sống xã hội; đặc biệt là tầm văn hoá trong các sáng tác nghệ thuật
như: văn chương, âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc…
Các chức năng của văn hoá luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau, vì vậy không nên tuyệt đối hoá vai trò của một chức năng nào Có thể, trong những trường hợp cụ thể, cần nhấn mạnh chức năng giáo dục bởi nhờ chức năng này, văn hoá tạo nên sự phát triển liên tục của lịch sử nhân loại và lịch sử dân tộc Các chức năng khác là các phương diện, các lĩnh vực có vai trò cụ thể hoá chức năng giáo dục Hiểu biết đầy đủ về các chức năng của văn hoá chính
Trang 23là khẳng định mục tiêu cao cả của văn hoá: văn hoá vì con người, vì sự phát triển và hoàn thiện của con người
1.1.1.2 Văn hóa truyền thống
Mỗi dân tộc dù ở trình độ văn minh cao hay thấp đều có những văn hóa truyền thống đặc trưng riêng của mình Hệ thống giá trị đó chính là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất được chắt lọc qua nhiều thời đại lịch sử để tạo nên bản sắc riêng của một dân tộc Giá trị văn hóa truyền thống đó được truyền lại cho thế hệ sau và trở thành một động lực nội sinh để phát triển đất nước Vậy,
văn hóa truyền thống là gì? Theo Giáo sư Trần Văn Giàu: “Giá trị truyền thống được hiểu là những cái tốt, bởi vì những cái tốt mới được gọi là giá trị Thậm chí không phải bất cứ cái gì tốt đều được gọi là giá trị; mà phải là cái tốt cơ bản, phổ biến, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định, đánh giá và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa của khái niệm giá trị truyền thống Trần Ngọc Thêm cho rằng:
“Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và được cố định hóa dưới dạng những phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận" [46, tr 13] Một khái
niệm khác: “Nền văn hóa được truyền lại được gọi là truyền thống văn hóa Như vậy, nó phản ánh được những thành tựu con người, tích tập được trong quá trình tìm hiểu, thực hiện và truyền bá ý nghĩa sâu lắng nhất của cuộc sống Đó chính là truyền thống theo nghĩa hài hòa của nó như là một hiện thân của trí tuệ” Theo Trần Nguyên Việt thì: “Có thể coi truyền thống là một
bộ phận tương đối ổn định của ý thức xã hội, được lặp đi lặp lại trong suốt tiến trình hình thành và phát triển của các nền văn hóa tinh thần và vật chất, là một giá trị nhất định đối với từng nhóm người, từng giai cấp, cộng đồng và xã hội nói chung” [ 46, tr 113]
Trang 24Như vậy, có thể khái quát văn hóa truyền thống có những tính chất cơ bản sau đây:
Thứ nhất là tính giá trị: Cũng như văn hóa nói chung, văn hóa truyền thống mang tính giá trị Văn hóa truyền thống trở thành một bộ phận thiết yếu của cuộc sống và góp phần phát triển cuộc sống Văn hóa truyền thống mang tính giá trị bởi vì nó là chuẩn mực, là thước đo cho hành vi đạo đức, cho những quan hệ ứng xử giữa người và người trong một cộng đồng, một giai cấp, một quốc gia, một dân tộc nhất định Giá trị văn hóa truyền thống của một dân tộc là những nguyên lý đạo đức lớn mà con người trong một nước thuộc các thời đại, các giai đoạn lịch sử đều dựa vào để phân biệt phải trái, đúng, sai để định hướng cho các hoạt động vì mục đích xây dựng cuộc sống
tự do và tiến bộ của dân tộc đó
Thứ hai là tính lưu truyền: Văn hóa ra đời, phát triển trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Những giá trị của nó được chuyển giao tiếp nối, qua nhiều thế hệ và giá trị văn hóa truyền thống đó được giữ gìn phát huy lên một tầm cao mới Qua hàng nghìn năm lịch sử, các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam như chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, ý thức cộng đồng được lưu truyền phát triển tạo thành một hệ giá trị mới của dân tộc Việt Nam
Thứ ba là tính ổn định: Những giá trị của văn hóa truyền thống được gạn lọc, khẳng định qua nhiều thế hệ, nó trở thành cái chân, cái thiện, cái mỹ được lịch sử thừa nhận Nó là một trong những hệ giá trị của văn hóa dân tộc, một thành tố ổn định của ý thức xã hội Văn hóa truyền thống trở thành những khuôn mẫu được cố định hóa dưới dạng nghệ thuật, phong tục tập quán, nghi
lễ, dư luận xã hội, pháp luật… Ở Việt Nam đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, truyền thống “Lá lành đùm lá rách” trở thành những giá trị ổn định Nó là những thước đo, khuôn mẫu đánh giá nhân cách con người, hành vi của mỗi cá nhân và cả cộng đồng xã hội Như vậy, tính giá trị, tính ổn định và tính lưu truyền đã tạo nên dáng vẻ riêng của văn hóa truyền thống Việt Nam Trong
Trang 25những cuộc đối đầu lịch sử với những kẻ thù hung bạo nhất, dân tộc ta tìm thấy sức mạnh vĩ đại trong những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam Giữa truyền thống và truyền thống văn hóa có mối quan hệ thống nhất nhưng không đồng nhất Truyền thống mang trong nó tính hai mặt Một mặt, truyền thống góp phần suy tôn, giữ gìn những gì quý giá, là cốt cách, là nền tảng cho sự phát triển của cộng đồng dân tộc, ở góc độ này truyền thống mang những giá trị tích cực, là chỗ dựa không thể thiếu của dân tộc trên con đường đi đến tương lai Mặt khác, truyền thống còn là nơi dung dưỡng duy trì, làm sống lại mặt bảo thủ lạc hậu khi điều kiện và hoàn cảnh đã thay đổi Mặt này góp phần kìm hãm, níu kéo làm chậm trễ sự phát triển của một quốc gia dân tộc Như vậy, văn hóa truyền thống là một bộ phận của truyền thống, là mặt tích cực, mặt giá trị của truyền thống Vì vậy, khi nói đến văn hóa truyền thống là nói đến những truyền thống đã được lịch sử đánh giá, khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồng trong một giai đoạn lịch sử nhất định Đồng thời, khi xem xét đánh giá truyền thống và các giá trị văn hóa truyền thống cần phải có quan điểm biện chứng, quan điểm lịch sử cụ thể nghĩa là phải đặt chúng trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định của cả quá khứ và hiện tại
1.1.2 Cơ sở tâm lí học và giáo dục đạo đức trong dạy học ở cấp Tiểu học
Bản chất của hiện tượng tâm lí là hình ảnh của từng người về hiện thực khách quan Tâm lí bao gồm từ những hiện tượng đơn giản như tri giác đến những thuộc tính, phẩm chất phức tạp của nhân cách con người Tất cả các hiện tượng, thuộc tính phẩm chất tâm lí tồn tại ở trong não dưới dạng hình ảnh này
Trang 26hay hình ảnh khác với các mức độ phức tạp khác nhau Tóm lại tâm lí là phản ánh tồn tại khách quan Tâm lí là tổng hòa các hình ảnh chủ quan (hình ảnh tâm lí) về tồn tại khách quan Đó chính là thế giới nội tâm của con người.
Bản chất xã hội - lịch sử của tâm lí Từ khi có loài người, lúc đầu là hái lượm, săn bắn rồi đến trồng trọt, chăn nuôi…sản xuất ra của cải, vật chất, ra hàng hóa để tồn tại Đi theo đó nền văn minh chỉ có ở loài người - đó là tổ hợp toàn bộ kinh nghiệm hoạt động sống của từng người và cả cộng đồng liên tục nảy sinh và phát triển hàng chục vạn năm qua Các kinh nghiệm ấy được ghi lại trong các công cụ lao động, cách thức sản xuất, nhà ở, trang phục…
Để tồn tại và phát triển, thế hệ trước truyền đạt các kinh nghiệm lịch sử
và xã hội cho thế hệ sau Trên cơ sở đó thế hệ trẻ tiếp nối cha anh sáng tạo ra các kinh nghiệm mới Thế hệ tiếp nối thế hệ đã tạo ra nền văn minh, văn hóa
Từ đó ta hiểu tâm lí là kinh nghiệm xã hội - lịch sử chuyển thành kinh nghiệm của bản thân
Tâm lí có bản chất phản xạ Muốn có tâm lí nhất thiết phải có phản xạ
có điều kiện, có hệ thống chức năng thần kinh cơ động Nói cách khác, tâm lí
có bản chất phản xạ Và ở con người, bản chất phản ánh lại mang theo kinh nghiệm xã hội - lịch sử ở trong người phản ánh Tóm lại tâm lí người có bản chất phản ánh, bản chất xã hội - lịch sử và bản chất phản xạ
Đặc điểm tâm sinh lí của HS lớp 4, 5 có một số đặc điểm sau:
Thể lực của trẻ ở lứa tuổi này phát triển tương đối êm ả và đồng đều Trọng lượng não trẻ gần bằng trọng lượng não người lớn Các nhà khoa học đã xác định rằng trẻ 9 - 10 tuổi có trọng lượng não là 1300g, ở người trưởng thành
là 1360g Như vậy, trọng lượng não trẻ 9 - 10 tuổi đạt gần 90% [27, tr.20) Chức năng của não dần dần hoàn thiện, chức năng phân tích - tổng hợp của não đang được phát triển, các mối quan hệ giữa hai quá trình hưng phấn và ức chế được thay đổi dần nhưng khả năng ức chế của hệ thần kinh vẫn còn yếu nên
HS thường dễ bị kích thích Do đó, trong dạy học, GV cần giúp HS hình
Trang 27thành tính tự chủ, lòng kiên nhẫn, khả năng kìm hãm trước kích thích của hoàn cảnh xung quanh.
Hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh, các em chóng mệt và dễ xúc động Vì vậy, GV tránh gây cho các em những xúc động mạnh, đồng tời cần tạo ra không khí học tập sôi nổi,thoải mái cho HS
Trong quá trình tri giác, HS thường tập trung vào một vài chi tiết nào đó của đối tượng và cho đó là tất cả Tri giác của các em phụ thuộc vào đặc điểm của chính đối tượng, mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang nặng tính không chủ định HS thường dễ quên mục đích quan sát Tuy nhiên, đến cuối bậc Tiểu học, các em đã biết đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng hơn, biết phân tích, suy luận mỗi khi tri giác Khi HS tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn của bản thân nghĩa là các em phải làm gì đó với
sự vật Tri giác của các em thể hiện cảm xúc rất rõ Trẻ quan sát trước hết là những sự vật có dấu hiệu, đặc điểm trực tiếp gây cho các em cảm xúc (sự vật, hiện tượng trực quan rực rỡ sinh động) Do vậy, khi giáo dục đạo đức lối sống cho HS giáo viên cần chú ý gắn liền bài học với thực tiễn, tạo điều kiện cho các
em được tiếp xúc trực tiếp, quan sát bằng các giác quan của mình
Trí nhớ chủ định dần dần được phát triển và năng lực ghi nhớ cũng tăng dần Tuy nhiên các em vẫn có khuynh hướng học theo kiểu học vẹt Vì vậy HS khó khăn trong việc hiểu và vận dụng những chuẩn mực đạo đức đã học vào tình huống thực tiễn Để khắc phục tình trạng này, GV cần xuất phát từ thực tiễn để đưa ra các giá trị đạo đức, rồi từ đó lại đưa các giá trị đạo đức đó vào tình huống thực tiễn Muốn vậy, chính các em phải là người tìm ra các giá trị đạo đức đó nên GV cần tạo điều kiện cho HS được tham gia và tìm hiểu văn hóa truyền thống địa phương
1.1.2.2 Giáo dục đạo đức
Đạo đức là cái “gốc” của mỗi con người, vì vậy việc giáo dục đạo đức
là việc làm quan trọng và cần thiết trong việc hình thành nhân cách toàn diện
Trang 28Bác Hồ đã nói: Có tài mà không có đức là người vô dụng; có đức mà không
có tài thì làm việc gì cũng khó [10, tr.10]
Đạo đức là một bộ phận quan trọng trong các hình thái ý thức xã hội Theo quan niệm Mác - xít: đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực của đời sống xã hội và hành vi của con người Nó quy định những nghĩa vụ của người này với người khác, nghĩa vụ của con người đối với xã hội [10, tr.10]
Việc thực hiện các quy tắc, chuẩn mực đạo đức phản ánh các quan hệ, hành vi của cá nhân đối với cộng đồng, xã hội thông qua lợi ích nhất định
Đạo đức là một hiện tượng xã hội, xuất hiện ngay từ giai đoạn đầu tiên khi xã hội loài người mới hình thành Đạo đức ra đời, phát triển cùng quá trình biến đổi kinh tế - xã hội và sự tiến bộ về văn hóa vật chất, tinh thần của con người Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn gốc, bản chất của đạo đức Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, đạo đức là một hình thái
ý thức xã hội, có quan hệ với các hình thái ý thức xã hội khác, nảy sinh từ tồn tại xã hội, của các điều kiện sinh hoạt vật chất, hoàn cảnh lịch sử - xã hội khác nhau Nhưng, đạo đức khác với các hình thái ý thức xã hội khác ở chỗ nó điều chỉnh hoạt động của con người trong các mối quan hệ xã hội, giúp con người
tự hoàn thiện nhân cách của mình
Đạo đức là một phạm trù lịch sử Khi điều kiện kinh tế - xã hội sinh ra
nó thay đổi thì tất yếu các quan hệ xã hội và quan hệ đạo đức cũng thay đổi theo Vừa với tư cách như một sự định hướng cho các quan hệ xã hội; vừa với
tư cách phản ánh quan hệ đạo đức của xã hội mới thì sớm hay muộn ý thức đạo đức cũng thay đổi Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp Các giai cấp thống trị áp đặt hệ tư tưởng của mình, trong đó có ý thức đạo đức, nhằm bảo vệ địa vị, lợi ích của chúng Những ý thức, tư tưởng
đó luôn đối lập với ý chí, nguyện vọng, lẽ sống của giai cấp bị trị Trong xã hội hiện nay, sự thống nhất giữa các chuẩn mực đạo đức và pháp luật là cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa
Trang 29Những quy tắc, chuẩn mực đạo đức được xã hội thừa nhận, đó là ý thức
xã hội Nó chi phối đời sống đạo đức của các cá nhân trong xã hội Ý thức xã hội được cá nhân tiếp nhận chuyển hóa thành ý thức cá nhân, được cá thể hóa
và thể hiện ra thông qua hành vi đạo đức, dưới những biểu hiện: cảm xúc, tình cảm động cơ, ham muốn, niềm tin, hành động đạo đức,… [10, tr.12]
Giáo dục đạo đức là sự tác động có mục đích, có tổ chức từ nhiều phía, với những hình thức khác nhau nhằm hình thành cho con người hành vi phù hợp chuẩn mực đạo đức của xã hội
Vai trò, tầm quan trọng của giáo dục đạo đức từ xưa đến nay đã được nhiều nhà giáo dục, nhiều triết gia, nhiều học giả quan tâm và khẳng định
“Đạo đức như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối, sức mạnh của con người, sức mạnh mới gánh được nặng và đi được xa” Đạo đức là cái gốc trong nhân cách toàn diện của con người Chính vì vậy, giáo dục đạo đức cho mọi người là việc làm có tầm quan trọng đặc biệt và rất cần thiết, vì đạo đức không tự có, nó chỉ được hình thành qua con đường giáo dục và tự giáo dục
Nhờ giáo dục đạo đức, con người trau dồi được những phẩm chất tốt và không ngừng hoàn thiện bản thân mình Thực tiễn đạo đức đã chứng minh người được rèn luyện những phẩm chất đạo đức tốt, có thể không thể thành nhân tài nhưng sẽ rất hữu ích trong cuộc sống Người có tài nhưng thiếu đức chằng những khó thành công trong cuộc sống mà có khi trở thành kẻ phá hoại Nhất là trong thời đại kinh tế thị trường hiện nay nhiều giá trị đạo đức đang có nguy cơ bị mặt trái của cạnh tranh và cơ chế thị trường làm băng hoại thì giáo dục đạo đức cho mọi người nói chung cho học sinh nói riêng không chỉ là vấn đề quốc gia, mà còn là vấn đề quốc tế [10, tr.36]
Trong xu thế hội nhập toàn cầu không gì cưỡng lại hiện nay, vấn đề bảo
vệ môi trường, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa, vấn đề giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng đang là mối quan tâm của các quốc gia Trong sự phát triển nền giáo dục của mỗi nước, đồng thời với việc cập nhật thông tin
Trang 30khoa học, công nghệ vào nhà trường, còn cần phải quan tâm đến định hướng giá trị đạo đức và nhân văn cho thế hệ trẻ
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” - Đó là sự khẳng định vai trò, vị trí của trẻ em: Công dân - chủ nhân tương lai của đất nước - lớp người kế tục
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Do đó, các em phải được quan tâm giáo dục toàn diện và được hưởng một giáo dục đầy đủ, với điều kiện tốt nhất hiện có “Vấn đề đạo đức của thế hệ trẻ không chỉ là vấn đề của một đất nước,
mà là vấn đề mang tính toàn cầu của thời đại, là điều kiện quan trọng để bảo
vệ sự sống còn và tương lai của loài người” (Ô - rơ - lô Pơ - xây - Một trăm trang viết về tương lai - suy nghĩ của câu lạc bộ Rô - ma - Pa - ri, 1981)
Sinh thời, Hồ Chủ tịch rất mực yêu thương, quan tâm đến việc rèn luyện, giáo dục thế hệ trẻ, Người đã dạy: Bây giờ phải học, học để yêu Tổ Quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức Trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện hiện nay, giáo dục đạo đức cho học sinh là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của mỗi nhà trường
Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là quá trình tác động từ nhiều con đường khác nhau làm cho nhân cách của học sinh phát triển đúng về mặt đạo đức, tạo cơ sở để các em có hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ của các cá nhân với bản thân, với người khác và xã hội Kết quả của quá trình giáo dục đạo đức là học sinh có được các phẩm chất đạo đức tốt đẹp, bền vững, có hiểu biết để ứng xử đúng trong các mối quan hệ cụ thể
Giáo dục đạo đức cho học sinh có vai trò quan trọng, nó góp phần hình thành, phát triển nhân cách toàn diện cho các em, giúp trẻ em rèn luyện ý thức trách nhiệm, hành vi công dân ngay từ khi còn nhỏ, biết sống hợp đạo lí và tuân thủ pháp luật Không thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ xã hội này, sẽ làm cho nhân cách của học sinh phát triển méo mó, nhất là hiện nay, nhiều tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường đã ảnh hưởng không nhỏ đến ý thức,
Trang 31trách nhiệm, hành vi sống của trẻ em Một nhà giáo dục học đã tổng kết: Làm hỏng một đồ bằng vàng có thể làm lại, làm hỏng một viên ngọc quý có thể bỏ
đi, nhưng làm hỏng một con người là một tội lỗi
Với tầm quan trọng của đạo đức và giáo dục đạo đức trong quá trình hình thành nhân cách học sinh; trước nguy cơ tấn công và xâm nhập của tiêu cực và tệ nạn xã hội vào nhà trường; trước yêu cầu cấp bách của việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hương xã hội chu nghĩa, Luật Giáo dục 2005 đã xác định mục tiêu của giáo dục phổ thông: “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Trong đó, mục tiêu của giáo dục Tiểu học là: “Giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn
và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở” (điều 27) Được giáo dục và phát triển toàn diện là quyền và bổn phận của trẻ em đã được quy định trong luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, năm 1991
Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là vấn đề cần thiết, trước hết vì
vị trí của trẻ em trong tương lai nước nhà, làm cho các em trở thành những công dân tốt, đủ phẩm chất đạo đức và năng lực trí tuệ gánh vác vận mệnh của dân tộc Đó là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của nhà trường nói chung và trường tiểu học nói riêng
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng, cung cấp, rèn luyện, hình thành cho học sinh những kĩ năng cơ bản như: giao tiếp, đọc, viết, tính toán,….Giáo dục đạo đức một trong các con đường quan trọng để hình thành kĩ năng giao tiếp
có văn hóa, đạo đức, thẩm mĩ cho học sinh
Trang 32Mặt khác, thực tiễn đạo đức đầy biến động, những yếu tố tích cực và tiêu cực đan xen đang từng ngày từng giờ tác động vào học đường Do đó, giáo dục đạo đức là một nội dung giáo dục hết sức cần thiết và quan trọng nhằm trang bị cho học sinh kiến thức, kinh nghiệm, thái độ đứng mức trong lựa chọn hành vi ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức của xã hội
Từ sự cần thiết trên, nhiệm vụ của giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là: Giáo dục ý thức đạo đức: Cung cấp tri thức, giúp học sinh hình thành hiểu biết về một số nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức ở mức sơ giản, cụ thể, gần gũi với đời sống của học sinh, từ đó nhận thức đúng về sự phù hợp giữa hành vi ứng xử của mình với lợi ích xã hội, tích lũy kinh nghiệm đạo đức ứng xử đúng
Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức: Bồi dưỡng, giúp học sinh hình thành xúc cảm, tình cảm đạo đức, bền vững để đảm bảo cho hành vi đạo đức luôn nhất quán với yêu cầu đạo đức, hình thành niềm tin đạo đức, từ đó tạo ra động cơ đạo đức trong sáng trong việc thực hiện bổn phận, trách nhiệm đạo đức của mình
Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức: Giúp học sinh rèn luyện thói quen hành vi đúng chuẩn mực, biết hành động phù hợp với yêu cầu đạo đức của xã hội, kế thừa và phát triển truyền thống đạo đức của dân tộc trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa; góp phần giáo dục văn hóa ứng xử, hành vi văn minh trong giao tiếp, thực hiện “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”
Ba nhiệm vụ trên quan hệ mật thiết với nhau Để thực hiện các nhiệm
vụ đó đòi hỏi nhà giáo dục phải tổ chức tốt các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường để học sinh thường xuyên được vận dụng, thực hành trong các mối quan hệ của các em theo đúng chuẩn mực đạo đức [10, tr.39]
1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và giáo dục
Khi xem xét sự phát triển của con người nói chung và phát triển đạo đức nói riêng, các nhà khoa học liên ngành luôn chú ý đến mối quan hệ giữa sự phát
triển đó với văn hoá Sự thật này được biện giải từ những lý do như sau:
Trang 33- Văn hoá là nhân tố quan trọng bậc nhất của sự phát triển nói trên và trở thành một khái niệm trung tâm của việc nghiên cứu xã hội cũng như của
tâm lý học phát triển
- Văn hoá là những giá trị tinh thần và vật chất do con người tạo ra, là những gì mà con người bổ sung cho tự nhiên Vì thế, nó là một phần của môi trường sinh thái và luôn có ảnh hưởng, tác động đến đạo đức và rộng hơn là
nhân cách của cá nhân, đến sự phát triển của cộng đồng và xã hội
- Đạo đức là biểu hiện đặc trưng cho trình độ phát triển của con người Nói khác đi, xét trên mọi cấp độ chủng loại, người, cá thể và thực tại, cùng với trí lực sáng tạo ngày càng cao, đạo đức quyết định nhân diện, nhân tính
trong mọi bậc thang tiến hoá của con người
Trên bình diện khoa học, khái niệm “văn hoá” đã được sử dụng từ lâu
Ở nước ta, nhiều người thường nhắc đến sự xuất hiện của nó trong một cuốn
từ điển tiếng Anh vào năm 1920 Tuy nhiên, điều đó là không đúng và có thể Marcus Tullius Cicero (106 - 43 TCN), nhà hùng biện, nhà văn, chính khách Cộng hoà Roma là người đã chuyển nghĩa Cultura vào nghiên cứu con người, một thuật ngữ nói lên trình độ phát triển cao, đối lập với trạng thái tự nhiên của nòi giống chúng ta Từ đó, mối quan hệ giữa văn hoá và đạo đức ngày
càng được xác định rõ hơn cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn
Về khái niệm, ngoài hàng trăm định nghĩa giống và khác nhau thường thấy, đạo đức đã được hiểu là một cấu tạo tinh thần, tâm lý mang tính văn hoá Và ở đây, văn hoá là “sự tiến bộ của những tiến bộ” như A Schweitzer (1875 - 1965), người được giải thưởng Nobel về hoà bình 1953, quan niệm
Từ đó, có thể thấy nội hàm và phạm vi của khái niệm này phải được mở rộng theo tinh thần tiến hoá, văn minh văn hoá còn được hiểu là hoạt động tạo ra các giá trị chân, thiện, mỹ Muốn vậy, những người sáng tạo ra các giá trị văn hoá đó phải có tài và đức, hai mặt liên quan mật thiết với nhau và đều quan trọng, song đức là gốc Mối quan hệ cụ thể trong trường hợp này còn là các sản phẩm văn
Trang 34hoá của họ không chỉ mới mẻ, độc đáo mà còn phải có ý nghĩa, có ích đối với sự phát triển con người và xã hội đương đại Có người nói, đó là hiệu quả của quá
trình xuất thế, bộc lộ, chi phối của cái đức, cái tâm
Nói khác đi, con người có văn hoá và đạo đức không thể chỉ tận dụng môi trường (tác động tích cực) và đối phó với môi trường (tác động tiêu cực)
mà còn phải chủ động cải biến, sáng tạo ra môi trường
Xét về mặt ý nghĩa đối với giáo dục, mối quan hệ giữa văn hoá và đạo
đức thể hiện tập trung, đậm nét nhất ở lối sống của cá nhân
Việc giáo dục để hình thành lối sống có văn hoá sẽ có kết quả khi đáp ứng những điều kiện sau:
- Học sinh phải thích ứng với môi trường xung quanh và do vậy, thích ứng với cả văn hoá của môi trường đó Trong các nền văn hoá truyền thống như ở vùng Châu Phi của những người da đen, lnđônêxia hay Trung Quốc, các giá trị trung tâm thường là tinh thần trách nhiệm, sự vâng lời, trong khi ở các nền văn hoá phương Tây thì đó là tính độc lập và thành tích cá nhân
- Toàn bộ hệ thống môi trường mở cũng phải thích ứng với trẻ em Đây là khía cạnh lý luận và thực tiễn thứ hai của sự gắn kết giữa văn hoá, giáo dục và xã hội hoá
- Chú ý ngay từ đầu và đồng thời sự hình thành lẽ sống đúng đắn, nếp sống
có văn hoá và sự định phấn đấu vì các giá trị thiện - ích - mỹ đích thực, những cơ
sở tạo ra mức sống và chất lượng cuộc sống trong thời kỳ văn minh đương đại
Như vậy, mối quan hệ giữa văn hoá và đạo đức là hiện hữu, dù được nhìn nhận từ góc độ thế giới khách quan (quan hệ chủ thể - môi trường văn hoá) hay chủ quan (văn hoá và đạo đức đều là cái tinh thần, tâm lý) của con người
Thực ra văn hóa và giáo dục liên quan rất chặt chẽ với nhau Giáo dục gắn liền với văn hóa để hình thành nhân cách, đạo đức con người
Trang 35Theo Đỗ Nhật Tiến, không thể tách rời việc xem xét giáo dục và văn hóa
mà phải cùng xem xét hai khía cạnh này trên một bình diện Giáo dục cũng được coi là giải pháp mang tính lâu dài và bền vững để tôn vinh và lưu truyền những giá trị vô giá của những di sản, di tích văn hóa, lịch sử, là kênh truyền thống có tính hiệu quả cao nhất Thông qua những hoạt động ngoại khóa, những chương trình lồng ghép trong các môn học, dần dần đưa những giá trị cốt lõi, hồn dân tộc đến từng người, từng chủ nhân tương lai của đất nước
Truyền thống văn hóa tồn tại nhờ giáo dục Chức năng giáo dục là chức năng quan trọng của văn hóa Nhưng văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định ( truyền thống), mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành Hai loại giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ đó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách (trồng người) Từ chức năng giáo dục, văn hóa còn có chức năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử Nó là một thứ gien xã hội di truyền phẩm chất con người cho các thế hệ mai sau
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Lễ hội truyền thống của người dân làng Trúc Động
Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Lễ hội chùa Xối Sơn ( Trúc Động) được tổ chức vào ngày 4/3 âm lịch chương trình
lễ hội để kỉ niệm vào giáo dục những truyền thống tốt đẹp của dân tộc “Uống nước nhớ nguồn” Lễ hội là sự kiện thể hiện truyền thống quý báu đó của cộng đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng, được định danh là những vị
“Thần” - những người có thật trong lịch sử dân tộc đó là Trần Quốc Tuấn Hình tượng các vị thần linh đã hội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người Đó là những anh hùng chống giặc ngoại xâm; những người khai phá vùng đất mới, tạo dựng nghề nghiệp; những người chống chọi với thiên tai, trừ ác thú; những
Trang 36người chữa bệnh cứu người; những nhân vật truyền thuyết đã chi phối cuộc sống nơi trần gian, giúp con người hướng thiện, giữ gìn cuộc sống hạnh phúc
Làng còn tổ chức chúc thọ các cụ ông, cụ bà tuổi từ 80 trở lên vào dịp lễ hội Không những thế, trong lễ hội làng còn tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ thể dục thể thao khen thương các gia đình cá nhân có thành tích xuất sắc trong năm
Lễ hội chùa làng Xối Sơn còn là dịp con người được trở về nguồn cội của dân tộc nó có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người Lễ hội cũng là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư; là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc theo cách riêng, kết hợp giữa yếu tố tâm linh và các trò chơi đua tài, giải trí Lễ hội là dịp con người được giải toả, giãi bày phiền muộn, lo âu với thần linh, mong được thần giúp đỡ, chở che để vượt qua những thử thách đến với ngày mai tươi sáng hơn
1.2.2 Thực trạng việc giáo dục văn hóa truyền thống và việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh trường Tiểu học Lưu Kiếm - Thủy Nguyên
Học sinh tiểu học đang ở độ tuổi hình thành và phát triển nhân cách Việc giáo dục đúng hướng sẽ giúp các em trở thành những đứa trẻ ngoan, lễ phép,có ý thức lòng tự hào về truyền thống dân tộc của địa phương từ đó có lối sống lành mạnh Bên cạnh đó, các em cũng dễ tiếp thu, học đòi và bắt chước những hành vi lời nói không tốt Vì thế, công tác chăm lo giáo dục đạo đức, lối sống và giáo dục văn hóa truyền thống cho các em ở trường tiểu học đóng một vai trò rất quan trọng
Thực trạng việc giáo dục đạo đức cho học sinh trường Tiểu học Lưu Kiếm trong vài năm gần đây chưa được quan tâm Các cán bộ quản lí xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức chưa cụ thể, phù hợp với đặc điểm tình hình mà thường xây dựng chung với kế hoạch chuyên môn; nội dung các
Trang 37hoạt động giáo dục đạo đức thực hiện ở mức độ trung bình; các phương pháp giáo dục đạo đức chưa được tốt, học sinh chưa thấy được tác dụng hiệu quả của các phương pháp trong việc rèn luyện bản thân; vai trò các lực lượng giáo dục chưa có sự phối hợp nhịp nhàng, thống nhất và đồng bộ; việc kiểm tra đánh giá nhiều lúc còn chiếu lệ, qua loa, chưa mang tính động viên, khuyến khích, răn đe kịp thời; giáo viên chủ nhiệm còn chưa xây dựng được kế hoạch cụ thể hàng tuần phù hợp với đặc thù riêng của lớp, ít quan tâm và đầu
tư công sức vào công tác chủ nhiệm; ý thức thực hiện nội quy của học sinh chưa cao, nhiều em thường xuyên vi phạm Giáo dục đạo đức trong nhà trường cần giảm thiểu những vấn đề cao xa, lớn lao, thay vào đó cần kiên trì bồi đắp lòng nhân ái, tính trung thực, lòng tự trọng, nếp nghĩ và lối sống lành mạnh, trọng đạo lý, sống có kỷ luật Những giá trị đạo đức, ứng xử trong đạo
lý của người Việt Nam cần phải được chuyển tải trong những tình huống cụ thể, gần gũi để học sinh dễ tiếp cận, dễ nhớ Cần dạy cho học sinh những giá trị đạo đức cơ bản của con người thay cho quá nhiều kiến thức của các môn học khác mà thiếu vắng việc hình thành những thói quen đạo đức và kỹ năng sống phù hợp với những chuẩn mực xã hội Nội dung chương trình SGK còn nặng về kiến thức, chưa có chú trọng đến kĩ năng sống cho học sinh
Xuất phát từ thực trạng trên giáo viên gặp nhiều khó khăn khi truyền đạt những kiến thức về văn hóa truyền thống, phong tục, tập quán đến với học sinh Tiểu học Chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm tại trường tiểu học Lưu Kiếm - Thủy Nguyên Hải Phòng nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đưa ra thông qua việc khảo sát sau thử nghiệm Trên cơ
sở đó đổi mới phương pháp dạy học và giúp học sinh tiểu học đến gần hơn với văn hóa lịch sử của địa phương mình mà cụ thể là giữ gìn, bảo tồn lễ hội cũng như những nét phong tục tập quán tốt đẹp từ xưa đến nay
Trang 38Đề tài cũng đã chỉ ra vai trò của văn hóa đối với giáo dục đạo đức và lối sống cho các em nó giúp các em không chỉ hiểu thêm về văn hóa của làng xóm mình nơi đã sinh ra mà còn giúp các em phải giữ gìn và bảo vệ các nét đẹp của truyền thống văn hóa
Các đặc điểm tâm sinh lý của HS lớp 4, 5 như: bắt đầu có khả năng phân tích tổng hợp, tư duy trừu tượng cũng bắt đầu phát triển, tò mò ham hiểu biết, ghi nhớ sâu hơn những kiến thức lĩnh hội được qua các hoạt động thử thách các hoạt động ngoại khóa…tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng bài học theo hướng tích cực, khuyến khích cho HS được tham gia vào các hoạt động
để giải quyết vấn đề được giao
GV đã có những quan tâm nhất định đến việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương vào giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh tiểu học Tuy nhiên vì thời gian trên lớp ít mà kiến thức các môn học khác lại nhiều nên không có thời gian đầu tư vì thế tiết học chỉ mang tính liệt kê,hình thức mà HS không hiểu
GV đã có những nhận thức về thuận lợi và khó khăn của việc khai thác các giá trị văn hóa vào dạy đạo đức lối sống Tuy nhiên cũng có một số GV không nắm được vấn đề này nên không tận dụng được hết thời gian vào tiết dạy Vì vậy khi dạy học người GV phải chú ý khai thác khả năng và sự sáng tạo của HS trong giờ học Lịch sử, Đạo đức đồng thời phát huy các kỹ năng sống của
HS Dạy học Lịch sử, Đạo đức gồm có 2 tiết để tìm hiểu về địa phương vì vậy
GV cần chú ý dành thời gian cho HS tìm hiểu văn hóa truyền thống địa phương
Trang 39và liên hệ với thực tế kĩ hơn so với HS nơi khác Không những thế ngoài giờ học trên lớp GV cần tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho HS để các em được tham gia vào các lễ hội của địa phương hay tham quan những di tích lịch sử, văn hóa hoặc các cơ sở sản xuất điển hình của địa phương, tổ chức cho HS thăm các gia đình có công với cách mạng để giúp các em hiểu rõ hơn về văn hóa địa phương mình từ đó các em xây dựng một lối sống lành mạnh hơn và các em cũng có ý thức giữ gìn, bảo vệ và phát huy những truyền thống văn hóa đó Để đạt được điều đó đòi hỏi GV phải có trình độ chuyên môn sư phạm, có phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng HS, linh hoạt trong việc tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập của HS
Dạy học theo định hướng này, GV cần nghiên cứu, nắm vững các dấu hiệu đặc trưng và các mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lí: Hứng thú, tự giác, tích cực, sáng tạo, tưởng tượng…của học sinh theo từng giai đoạn lứa tuổi
Trang 40CHƯƠNG 2
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯU KIẾM - THỦY NGUYÊN THÔNG QUA CÁC NÉT ĐẸP VĂN HÓA LÀNG
2.1 Các yếu tố nền tảng tạo dựng nên các giá trị văn hóa truyền thống làng Trúc Động - Lưu Kiếm - Thủy Nguyên
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên làng Trúc Động
Thủy Nguyên, với vị thế riêng của mình, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, luôn có tầm quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh đối với thành phố Cảng Hải Phòng và với cả quốc gia Thủy Nguyên thuộc thành phố Hải Phòng; Đông là thành phố Quảng Yên và huyện Yên Hưng tỉnh Quảng Ninh, ranh giới là sông Bạch Đằng; Nam là huyện Cát Hải, các quận Hải An, Ngô Quyền, Hồng Bàng và huyện An Dương – ranh giới là cửa Nam Triệu, sông Cấm; Tây là huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương – ranh giới là sông Kinh Thầy; Bắc là huyện Đông Triều, thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh
Xã Lưu Kiếm là một đơn vị hành chính của huyện Thủy Nguyên Xã được thành lập sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, gần làng Lưu Kiếm, Đạo
Tú, Mỹ Liệt, Phúc Liệt, Trúc Động, Tổng Trúc Động huyện Yên Hưng, Quảng Yên trước đó thuộc huyện Thủy Đường; từ cuối năm 1958, thuộc Thủy Nguyên
Xã Lưu Kiếm là một xã miền núi nằm ở phía bắc của huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng cách thị trấn huyện 7km; Phía Bắc giáp xã Lưu
kỳ và xã Gia Minh; Phía Đông giáp xã Minh Tân; Phía Nam giáp xã Hòa Bình
và xã Kênh Giang Là một xã phát tiển chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, khai thác chế biến vật liệu xây dựng, dịch vụ thương mại và một số ngành nghề khác
Làng Trúc Động là một trong 5 làng văn hóa thuộc xã Lưu Kiếm huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng Là một làng quê gắn liền với truyền thống