1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Dạy học câu cho học sinh lớp 4 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp

108 188 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 909,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng của việc dạy học câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực giao tiếp ...27 1.4.1.. Một số phương pháp và hệ thống bài tập d

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

DẠY HỌC CÂU CHO HỌC SINH LỚP 4

TRƯỜNG TIỂU HỌC HOÀNG ĐỘNG, THỦY NGUYÊN

THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC TIỂU HỌC

MÃ SỐ: 60.14.01.01

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thuận

HẢI PHÒNG - 2017

www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 2

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,

kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kì

công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận

văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hải Phòng, ngày 2 tháng 5 năm 2017

Tác giả

www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

A.Anh – xtanh – nhà bác học vĩ đại của thế kỉ XX từng nói: “Mọi con

đường đi đến khoa học đều chông gai, nếu thiếu nhiệt tình và nghị lực thì

không thể vượt qua” Sau khi thực hiện đề tài, tác giả càng cảm thấy thấm thía

điều đó

Để thực hiện thành công đề tài này, trước tiên, tôi xin bày tỏ sự kính

trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Thị Thuận, người đã tận tình

hướng dẫn cũng như truyền cảm hứng nghiên cứu khoa học cho tôi trong suốt

quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trường Đại học Hải

Phòng, trường Đại học Sư phạm Hà Nội và các quý thầy cô trong Ban giám

hiệu, phòng Đào tạo sau Đại học – trường Đại học Hải Phòngđã tạo mọi điều

kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận

văn

Tôi xin chân thành cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của Ban giám hiệu, các

thầy cô giáo và các em học sinh Trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên

đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu, điều tra và thực

nghiệm để hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn tạo điều

kiện, cũng như luôn động viên, khích lệ tôi hoàn thành luận văn

Hải Phòng, ngày 2 tháng 5 năm 2017

Tác giả

www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 10

1.1 Cơ sở lí luận 10

1.1.1 Năng lực 10

1.1.2 Năng lực giao tiếp 12

1.1.3 Dạy học phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 4 15

1.2 Nhận xét về dạy học câu trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4 19

1.2.1 Nhiệm vụ của dạy học câu ở Tiểu học 19

1.2.2 Nội dung dạy học câu ở Tiểu học 19

1.2.3 Hệ thống bài tập dạy học câu của lớp 4 23

1.3 Một số đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh lớp 4 26

1.4 Thực trạng của việc dạy học câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực giao tiếp 27

1.4.1 Mục đích nghiên cứu thực trạng 27

1.4.2 Đối tượng khảo sát 27

1.4.3 Nội dung và phương pháp khảo sát thực trạng 27

1.4.4 Kết quả khảo sát thực trạng và nhận xét 29

1.5 Tiểu kết chương 1 37

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC CÂU CHO HỌC SINH LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC HOÀNG ĐỘNG, THỦY NGUYÊN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP 38

2.1 Nguyên tắc xây dựng phương pháp 38

Trang 5

2.1.1 Bám sát mục tiêu, nội dung chương trình dạy học tiếng Việt ở Tiểu

học 38

2.1.2 Nguyên tắc gắn liền lí thuyết với thực hành 38

2.1.3 Nguyên tắc trực quan 39

2.1.4 Nguyên tắc phát huy tính tích cực trong hoạt động giao tiếp của học sinh 39

2.2 Một vài lưu ý khi tổ chức dạy học câu cho học sinh Tiểu học theo hướng phát triển năng lực giao tiếp 39

2.3 Một số phương pháp và hệ thống bài tập dạy học câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực giao tiếp 41

2.3.1 Vận dụng một số phương pháp dạy học tiếng Việt tiêu biểu vào dạy câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên nhằm phát huy năng lực giao tiếp 41

2.3.2 Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập dạy học câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực giao tiếp 55

2.4 Tiểu kết chương 2 62

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 64

3.1 Mục đích thực nghiệm 64

3.2 Nội dung thực nghiệm 65

3.3 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 65

3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 65

3.3.2 Địa bàn thực nghiệm 66

3.4 Thời gian thực nghiệm 67

3.5 Phương pháp thực nghiệm 67

3.6 Tổ chức thực nghiệm 68

3.6.1 Tiến hành thực nghiệm 68

Trang 6

3.6.2 Kết quả thực nghiệm 68

3.7 Tiểu kết chương 3 70

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

NGỮ LIỆU KHẢO SÁT 77 PHỤ LỤC

Trang 8

1.2 Bảng tổng hợp kết quả khảo sát giáo viên 29

1.3 Bảng tổng hợp kết quả khảo sát học sinh 34

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học nhằm hình thành và phát triển ở HS

cả bốn kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy Môn Tiếng Việt cung cấp cho

HS những kiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người, văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài Môn Tiếng Việt còn bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành ý thức giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Dạy học tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp có thể được hiểu như một nguyên tắc hay một phương pháp dạy học nhưng đều có chung một mục đích: Làm cho HS có khả năng sử dụng thành thạo ngôn ngữ,

có khả năng vận dụng tốt các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết khi trực tiếp tham gia vào các hoạt động giao tiếp của cộng đồng

Dạy học câu theo hướng phát triển năng lực giao tiếp có thể được hiểu là quan tâm đến việc phát triển năng lực tạo ra câu nói, hành động nói (câu là đơn vị nhỏ nhất dùng để giao tiếp, ngoài đoạn văn và văn bản cũng có chức năng giao tiếp thì câu là đơn vị đầu tiên, nhỏ nhất đảm nhiệm được chức năng này) Tuy nhiên, khả năng tạo câu dù quan trọng nhưng cũng không phải là năng lực duy nhất mà người học cần được cung cấp Năng lực giao tiếp không chỉ dừng lại ở việc nghe, nói, đọc, viết câu mà quan trọng hơn là còn phải biết

sử dụng những câu đó như thế nào để đạt hiệu quả giao tiếp trong những tình huống khác nhau

Luyện từ và câu là một phân môn mới Mục tiêu của phân môn này đặt

ra là nhằm mở rộng, làm giàu vốn từ ngữ cho HS và hướng dẫn cho các em sử dụng từ - câu một cách chính xác và hiệu quả trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể

Trang 10

Khi HS bước vào lớp 4 – độ tuổi đầu của giai đoạn thứ hai ở bậc Tiểu học, các em đã quen với hoạt động chủ đạo là học tập Những kiến thức khoa học và kĩ năng giao tiếp của HS đang dần được hoàn thiện Khác với lớp 2 –

3, đặc điểm ngôn ngữ của HS lớp 4 phát triển cả ba mặt: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Vốn từ của các em được tăng lên do được học nhiều môn học, phạm vi tiếp xúc được mở rộng Bên cạnh đó, kiến thức dạy học về câu ở lớp

4 mới bắt đầu được hình thành rõ nét và có hệ thống lí thuyết chặt chẽ Vì thế, nếu học tốt về câu ở lớp 4 theo quan điểm giao tiếp sẽ giúp HS có nền tảng vững chắc để sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt hiệu quả trong các cấp học tiếp theo và trong thực tiễn cuộc sống

Tuy nhiên, khả năng sử dụng ngôn ngữ khi giao tiếp còn hạn chế thể hiện qua việc các em hiểu vấn đề nhưng chưa biết cách diễn đạt hay diễn đạt khô khan, nghèo ý Ngôn ngữ của HS đang dần phát triển qua hoạt động giao tiếp Việc dạy và học câu mới chủ yếu dừng lại ở việc phân tích cấu trúc ngữ pháp, nặng tính hình thức thông qua con đường nhận diện, phát hiện các hiện tượng ngôn ngữ theo sách giáo khoa và sách giáo viên một cách cứng nhắc mà chưa gắn với kĩ năng sử dụng tiếng Việt của HS Chính vì vậy, việc dạy học câu chưa đi tới đích là hình thành năng lực giao tiếp cho HS để vận dụng chúng trong lời nói và để nói Vì vậy, cần có những phương pháp, cách thức tổ chức dạy học phù hợp vừa gây hứng thú học tập cho HS vừa phát huy năng lực giao tiếp của HS

Mặt khác, để tìm hiểu sâu hơn, bao quát hơn về thực trạng dạy học câu

trong phân môn Luyện từ và câu cho HS lớp 4, người viết đã lựa chọn trường

Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên là địa điểm cụ thể để nghiên cứu, vì trường là nơi chúng tôi đang trực tiếp công tác và giảng dạy nên có điều kiện hiểu biết sâu sắc đặc điểm của trường và đặc điểm dạy học câu cho HS lớp 4 Người viết mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt cho nhà trường nói chung và bản thân người viết nói riêng

Trang 11

Hiện nay việc dạy học câu cho HS lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực giao tiếp vẫn còn nhiều bất cập Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến kết quả dạy học câu cho HS còn mang nặng tính hình thức vẫn đang là vấn đề được tranh cãi Tuy nhiên, việc tìm ra cách dạy học câu cho HS theo hướng phát triển năng lực giao tiếp vẫn là hướng đi cần thiết hiện nay Làm thế nào để dạy học câu cho HS Tiểu học đạt kết quả tốt nhất? Làm thế nào để dạy học câu cho HS Tiểu học trong hoạt động và bằng hoạt động? Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài “Dạy học câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực giao tiếp”

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trong những năm gần đây, xu hướng dạy học tiếng Việttheo hướng phát triển năng lực giao tiếp đang là một hướng đi mới mang lại hiệu quả cao cho quá trình dạy học trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Vận dụng quan điểm dạy học này nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của người học; phát huy hiệu quả sử dụng tiếng Việt trong việc thực hiện chức năng quan

trọng của ngôn ngữ - chức năng giao tiếp

Đối với các nước trên thế giới, xu hướng dạy học tiếng mẹ đẻ cũng như ngôn ngữ thứ hai không phải là quá mới Dạy học ngôn bản nói và dạy học ngôn bản viết trong giao tiếp và để giao tiếp được xem là kim chỉ nam cho quá trình xây dựng chương trình dạy học các nước

Chương trình tiếng Pháp của bang Quebec (Canada) [2, tr.24] nêu rõ:

“Việc giảng dạy tiếng Pháp phải dựa trên việc thực hành ngôn ngữ và trong lớp học tiếng Pháp, HS phải luôn đặt vào những tình huống giao tiếp” Chương trình còn nhấn mạnh: “Cơ bản là phải đặt học sinh trong một tình

huống giao tiếp làm sản sinh lời nói hoặc sự thông hiểu”

Chương trình giáo dục của Cộng hòa dân chủ Đức (cũ) những năm 80 [2, tr.25] đã xác định: “Nguyên tắc chỉ đạo việc quy hoạch và dạy học tiếng mẹ

đẻ ở nhà trường là triệt để phục vụ cho kĩ năng giao tiếp của họ”

Trang 12

Những quan điểm chỉ đạo trên khẳng định rằng: “Dạy tiếng trong giao tiếp, bằng giao tiếp và để giao tiếp” là phương hướng tiến bộ và hiện đại của

việc giảng dạy tiếng mẹ đẻ mà rất nhiều nước phát triển trên thế giới đang áp dụng Theo quan điểm này, việc dạy học ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết phải lấy giao tiếp làm môi trường và phương pháp, lấy việc phục vụ giao tiếp làm nhiệm vụ và mục đích cho việc dạy học tiếng hiện nay

Ở Việt Nam, tổ chức dạy học tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực giao tiếp cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỉ XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Tuy nhiên việc xây dựng chương trình giáo dục theo hướng phát triển năng lực ở nước ta mới được thực hiện trong những năm gần đây Vì vậy, việc dạy học theo hướng phát triển này đã được sự quan tâm sâu sắc của nhà trường và xã hội Để tạo cơ sở vững chắc cho việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi xin điểm qua các công trình nghiên cứu, sách, tài liệu đề cập tới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực giao tiếp

Trong “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II” [29, tr.56], tác giả Lê Phương Nga đãcung cấp các cơ sở khoa học, những đặc điểm HS Tiểu học trong quá trình chiếm lĩnh tiếng Việt Trong đó có phần phương pháp dạy

học Luyện từ và câu được tác giả nêu lên khái quát và đầy đủ về cách thức tổ

chức dạy học, các dạng bài tập của phân môn Luyện từ và câu

Giáo trình “Hoạt động giao tiếp với dạy học tiếng Việt ở Tiểu học” [24, tr.46], Đặng Kim Nga và Phan Phương Dung đã nghiên cứu khá sâu và rõ ràng những vấn đề về hoạt động giao tiếp trong việc dạy học tiếng Việt ở Tiểu học Giáo trình gồm ba chương Chương một đề cập đến vấn đề giao tiếp và hoạt động giao tiếp; chương hai xoáy sâu vào từ và câu trong hoạt động giao tiếp; chương ba – phần trọng tâm, có ý nghĩa thực tiễn – dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp Giáo trình đã vạch ra hướng đi cụ thể cho hoạt động dạy học trong nhà trường theo quan điểm giao tiếp: từ việc lựa chọn các tri thức tiếng Việt, xác lập các quy tắc sử dụng tiếng Việt đến việc xác định các

Trang 13

kĩ năng sử dụng tiếng Việt cần rèn luyện cho HS và việc lựa chọn, sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức nào trong dạy học tiếng Việt

Trong tạp chí “Khoa học và Giáo dục” số 68, tháng 5/2011 [36, tr.25], tác giả Đỗ Ngọc Thống viết bài “Xây dựng chương trình giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực” Bài viết đề cập đến việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực Trong bài, tác giả tập trung vào một vài cách tiếp cận cơ bản được nhiều nước vận dụng trong các lần phát triển chương trình gần đây nhất, đặc biệt là hướng tiếp cận năng lực

Trong bài viết “Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy học trong nhà trường phổ thông hiện nay” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 4/2006) [14, tr.32], Vũ Thị Thanh Hương đã đề cập và phân tích khá sâu khái niệm năng lực giao tiếp, đã dẫn ra những ý kiến khác nhau của các học giả (Chomsky, Cambell & Wales, Hymes, Bachman ) xoay quanh khái niệm “năng lực giao tiếp” Tác giả bài viết so sánh, đối chiếu nội dung kiến thức tiếng Việt được trình bày trong các chương trình tiếng Việt hiện hành (của Bộ Giáo dục và Đào tạo) với các nội dung của mô hình lí thuyết về năng lực giao tiếp Tác giả

nhận xét: “Có thể nói trong tất cả các tài liệu về chương trình mà chúng tôi

được tiếp cận cho đến bây giờ, quan điểm giao tiếp là sợi chỉ đỏ xuyên suốt

toàn bộ mục tiêu giảng dạy tiếng Việt ở tất cả các cấp trong nhà trường phổ thông hiện nay.” Tác giả bài viết tiến hành khảo sát chương trình tiếng Việt ở các cấp học để làm rõ vấn đề: “liệu nội dung của chương trình có thực sự

đảm bảo cung cấp đủ kiến thức để giúp các em hình thành và rèn

luyện tốt năng lực giao tiếp?” Tác giả có trình bày kết quả khảo sát và kết

thúc bài viết với vài lời nhận xét ngắn gọn

Nhóm tác giả Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán trong cuốn

“Phương pháp dạy học Tiếng Việt” [3, tr.19] cũng nêu rõ: “Ngôn ngữ là hệ thống hoạt động chức năng, tách khỏi hoạt động chức năng thì nó không còn sức sống, trở thành một hệ thống khô cứng Nói cách khác, ngôn ngữ phải được thể hiện trong các dạng lời nói khác nhau, mọi quy luật, cấu trúc và hoạt

Trang 14

động của hệ thống ngôn ngữ chỉ được rút ra trên cơ sở nghiên cứu lời nói sinh động” Các tác giả trên cũng cho rằng giao tiếp là một trong bốn phương pháp

cơ bản, đặc thù của việc dạy tiếng Việt trong nhà trường; là phương pháp quan trọng trong việc tổ chức dạy học tiếng Việt “Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp Phương pháp giao tiếp trở thành phương pháp chủ yếu để phát triển lời nói cho học sinh Phương pháp này có thể được áp dụng khi dạy từ ngữ, câu, phong cách và đặc biệt là trong các bài thuộc phân môn tập làm văn”

Theo tác giả Lê A [2, tr.36], “Dạy tiếng Việt là dạy cho các em một hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, một loại hoạt động cơ sở của mọi loại hoạt động của con người Trong hoạt động học phải hướng tới hoạt động giao tiếp

và được tiến hành bằng chính hoạt động giao tiếp” “Học sinh phải học ngôn ngữ với tư cách là một yếu tố trong giao tiếp nghĩa là dạy ngôn ngữ khi nó thực hiện chức năng giao tiếp Khi nắm được quy tắc nội bộ ngôn ngữ và ảnh hưởng của những yếu tố ngoài ngôn ngữ đối với ngôn ngữ thì học sinh có thể

sử dụng ngôn ngữ phù hợp với tình huống giao tiếp và đạt được hiệu quả giao tiếp” từ đó “giúp học sinh làm quen với môi trường sống của các em”

Tác giả Lê Phương Nga – người có nhiều công trình và chuyên đề nghiên cứu về dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp thì cho rằng cần đặt ra vấn đề đổi mới phương pháp dạy học trong các phân môn Tiếng Việt ở Tiểu học, vấn đề bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng cho học sinh Tiểu học Với

“Dạy học ngữ pháp ở Tiểu học” [25, tr.63], tác giả đã tìm hiểu thực trạng dạy ngữ pháp ở Tiểu học, những khó khăn và hạn chế của GV trong quá trình dạy học, các lỗi ngữ pháp trong đó có lỗi về câu mà HS thường mắc phải Từ thực trạng trên, tác giả đã đưa ra phương hướng dạy ngữ pháp ở Tiểu học Để thực hiện phương hướng này, giáo viên phải tuân theo một số nguyên tắc cụ thể và quan trọng nhất là nguyên tắc giao tiếp Nói cách khác, những đóng

Trang 15

góp của tác giả có vai trò quan trọng trong việc định hướng và triển khai quá trình dạy học Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực giao tiếp

Các đề tài trên đã nghiên cứu về dạy học theo quan điểm giao tiếp, tuy nhiên phần lớn các đề tài lại chủ yếu đi vào xây dựng hoặc thiết kế hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng theo hướng giao tiếp cho HS mà chưa có nhiều công trình đi sâu vào việc nghiên cứu dạy lí thuyết câu theo hướng phát triển năng lực giao tiếp cho HS Tiểu học, tức là ngay ở phần hình thành kiến thức về câu cho HS cần phải gắn các nội dung dạy học với các nhân tố giao tiếp như: mục đích giao tiếp, nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp trước khi học sinh làm bài tập thực hành Chúng tôi hi vọng đề tài sẽ đóng góp một phần nhỏ vào đổi mới phương pháp dạy học và phát huy được khả năng sử dụng câu trong hoạt động giao tiếp cho HS Tiểu học; đồng thời hi vọng kết quả nghiên cứu của chúng tôi là những gợi ý giúp GV tiến hành nội dung bài giảng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dạy học câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực

giao tiếp

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian có hạn chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu dạy học câu cho HS lớp 4 trong phạm vi cả nước, mà chỉ giới hạn nghiên cứu dạy học câu theo hướng phát triển năng lực giao tiếp cho HS lớp 4 của một trường cụ thể, nơi chúng tôi đang công tác – Trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

4 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở khảo sát hệ thống lí thuyết về câu lớp 4, đề tài nghiên cứu nhằm xác lập cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn cho việc lựa chọn phương pháp dạy học câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên

Trang 16

theo hướng phát triển năng lực giao tiếp; đồng thời xây dựng bài tập giao tiếp hình thành khái niệm về câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên Từ đó tổ chức thực nghiệm các bài tập giao tiếp cũng như các phương pháp, hình thức dạy học câu theo hướng phát triển năng lực giao tiếp phù hợp với mục tiêu chương trình, khắc phục những hạn chế hiện thời của SGK Tiếng Việt hiện nay khi dạy học câu cho HS Tiểu học

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng đề tài

- Tìm ra một số biện pháp dạy học câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực giao tiếp

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá khả năng thực thi của

hệ thống bài tập giao tiếp và các phương pháp dạy câu đã đề ra đồng thời phân tích kết quả thực nghiệm

6 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các vấn đề mà đề tài đặt ra, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp điều tra, khảo sát: Khảo sát bài làm của HS, phỏng vấn

GV, dự giờ để quan sát việc sử dụng phối hợp các biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học câu của GV Nghiên cứu những kinh nghiệm dạy học câu trước đây và hiện nay cho HS Tiểu học theo hướng phát triển năng lực giao tiếp

- Phương pháp thống kê– phân loại: Sử dụng toán thống kê để phân tích,

so sánh, đối chiếu số liệu, rút ra kết luận cần thiết

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Dùng để phân tích tổng hợp các tài liệu liên quan tới đề tài

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Dạy thực nghiệm một số tiết về câu trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động,

Thủy Nguyên để đánh giá tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất , kiểm tra giả thuyết đã nêu ra bằng thực tế dạy học

Trang 17

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được triển khai thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Một số phương pháp dạy học câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực giao tiếp

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 18

Từ điển tiếng Việt [33] có giải thích: Năng lực là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”

Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của HS do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành năm

2014 [9, tr.10] thì năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt

và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố

(phẩm chất của người lao động, kiến thức và kĩ năng) được thể hiện thông qua

Trang 19

các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các năng lực chung, cốt lõi Định hướng chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 đã xác định một số những năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải có như:

– Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm:

+ Năng lực tự học

+ Năng lực giải quyết vấn đề

+ Năng lực sáng tạo

+ Năng lực quản lí bản thân

– Năng lực xã hội, bao gồm:

+ Năng lực giao tiếp

+ Năng lực hợp tác

– Năng lực công cụ, bao gồm:

+ Năng lực tính toán

+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ

+ Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin

Cho dù khái niệm về năng lực được diễn đạt dưới nhiều dạng không giống nhau nhưng có thể rút ra một số đặc điểm chung cơ bản về năng lực: Nói đến năng lực là đề cập đến xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thể, do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực tự quản lí bản thân, không tồn tại năng lực chung chung)

Năng lực là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể Vì vậy, năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của hoạt động nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó

Từ đó, chúng ta có thể nhận định năng lực của HS phổ thông chính là khả năng vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm

vụ học tập, giải quyết có hiệu quả những vấn đề có thực trong cuộc sống của

Trang 20

các em Vì vậy, muốn hình thành, rèn luyện, đánh giá năng lực ở HS tất yếu phải tăng cường đưa các em vào tình huống thực, tăng cường tham gia vào hoạt động để làm ra sản phẩm

1.1.2 Năng lực giao tiếp

Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa các thành viên trong xã hội

có tính mục đích Đây là loại hoạt động xã hội mang tính đặc thù, là loại hoạt động cơ bản và thiết yếu làm cho xã hội tồn tại và phát triển Có nhiều phương tiện để giao tiếp, trong đó ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất

cơ bản nhất

Thuật ngữ “năng lực giao tiếp” tuy xuất hiện sau thuật ngữ “năng lực ngôn ngữ” nhưng nhờ sự xuất hiện ấy mà “năng lực giao tiếp” đã làm thay

đổi quan điểm dạy học tiếng Việt hiện nay, trở thành mục đích cuối cùng của

việc dạy và học tiếng Việt Khái niệm “năng lực giao tiếp” được hiểu thông qua sự đối lập với khái niệm “năng lực ngôn ngữ” Năng lực ngôn ngữ là khả

năng của con người tạo ra được những câu đúng trên cơ sở nắm vững những kiến thức ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm, tu từ của ngôn ngữ đó Còn năng lực giao tiếp, đó là việc lựa chọn và hiện thực hóa những chương trình của hành vi lời nói tùy thuộc vào khả năng định hướng trong hoàn cảnh này hoặc khác, khả năng phân loại các tình huống sao cho phù hợp với chủ đề, nhiệm

vụ và mục đích giao tiếp ở người học trước khi giao tiếp và trong quá trình

mô phỏng các tình huống giống và gần giống như giao tiếp thực Nói cách khác, năng lực giao tiếp chính là khả năng tham gia vào giao tiếp

Hoạt động giao tiếp gồm hai quá trình xảy ra tương tác lẫn nhau là tạo lập và tiếp nhận lời nói Giao tiếp đều diễn ra ở hai dạng: dạng nói và dạng viết Theo đó, để dạy cho HS năng lực giao tiếp phải dạy các em cả 4 hoạt động: nghe, nói, đọc, viết Bốn hoạt động này xảy ra trong những tình huống giao tiếp cụ thể gồm nhiều nhân tố ảnh hưởng tương hỗ lẫn nhau Hoạt động

sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp chi phối bởi các nhân tố giao tiếp khác như nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, đối tượng giao tiếp và đặc biệt là mục

Trang 21

đích giao tiếp Muốn tham gia vào hoạt động giao tiếp, HS vừa phải biết tiếp nhận, vừa phải biết sản sinh ra văn bản (bao gồm cả nói và viết) nhưng các kĩ năng đó phải có sự biến đổi, chuyển hóa về chất, tức là tạo ra và làm giàu năng lực sử dụng lời nói của cá nhân, vì dạy giao tiếp chính là dạy lời nói Theo hướng này, người học sẽ ít quan tâm đến các quy tắc ngôn ngữ, sẽ quan tâm đến việc tạo ra câu nói, lời nói cụ thể Lời nói thì vô cùng phong phú, sinh động, vô hạn, biến đổi trong các hoàn cảnh sử dụng (giao tiếp) khác nhau

Có thể định nghĩa năng lực giao tiếp như sau: “Năng lực giao tiếp là khả năng giao tiếp có liên quan đến những người khác với độ chính xác, rõ ràng,

dễ hiểu, chặt chẽ, chuyên môn, hiệu quả phù hợp Đó là một thước đo để xác

định mức độ các mục tiêu nào có sự tương tác đang đạt được” [14, tr.28] Tuy

nhiên năng lực giao tiếp còn tùy thuộc vào tình huống hay ngữ cảnh mà trong

đó sự tương tác diễn ra Giao tiếp được coi là thành công đối với một nhóm trong một tình huống nào đó nhưng nó có thể không được coi là thành công đối với nhóm khác trong một tình huống khác

Giao tiếp là sự chia sẻ ý nghĩa, tình cảm, thông tin với một hoặc nhiều người Nhưng giao tiếp chỉ đơn thuần là nói chuyện với ai đó thì có thực sự mang lại kết quả như ta mong đợi chưa? Không chỉ đơn giản là thế, giao tiếp còn bao hàm rất nhiều vấn đề khác như: Bạn nói như thế nào? Bạn hiểu đối tượng giao tiếp với mình như thế nào? Làm thế nào để hai bên có thể hiểu rõ

về các thông tin cùng trao đổi? Bạn làm thế nào để lần giao tiếp đó đạt được hiệu quả như mong đợi ? Vì vậy, kĩ năng giao tiếp liên quan tới nhiều hoạt động từ kĩ năng viết đến kĩ năng nói, kết hợp với tư thế, cử chỉ điệu bộ, động tác để diễn tả quan điểm và mục đích của vấn đề muốn đề cập

Phát triển năng lực giao tiếp cho HS Tiểu học là quá trình tổ chức các

hoạt động giáo dục nhằm giúp người học hình thành và rèn luyện các thao tác, hành động để trao đổi, tiếp nhận, xử lí thông tin bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong các mối quan hệ của HS ở gia đình, nhà trường, xã hội

Trang 22

Thông qua giao tiếp, con người được tiếp nhận thông tin để biến nó thành tri thức, kĩ năng sống của mỗi người Giáo dục nhằm phát triển năng lực giao tiếp cho HS giữ vai trò quan trọng bởi vì: Phát triển năng lực giao tiếp giúp hình thành và phát triển nhân cách của HS Việc vận dụng kĩ năng giao tiếp vào trong cuộc sống của mỗi con người chính là năng lực vận dụng

có hiệu quả những tri thức về giao tiếp, giúp cá nhân tạo dựng được chỗ đứng trong xã hội Xét trong quan hệ liên nhân, nếu kĩ năng giao tiếp tốt sẽ giúp cá nhân tạo dựng được hình ảnh tốt về bản thân và các mối quan hệ hợp tác tốt trong xã hội Đối với lứa tuổi HS đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách thì năng lực giao tiếp đóng vai trò quan trọng bởi nhờ có kĩ năng giao tiếp các em học tập hiệu quả, nhờ có kĩ năng giao tiếp các em tự tin tham gia vào hoạt động giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội, trải nghiệm bản thân

Phát triển năng lực giao tiếp tạo nên hệ giá trị sống tích cực của HS Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho HS tiểu học giữ vai trò rất to lớn trong việc bắt đầu tạo nên hệ giá trị sống cho các em, giúp các em thể hiện được giá trị của bản thân vào cuộc sống và từ đó các em trưởng thành với một hệ giá trị tích cực bởi thành quả của quá trình giáo dục Bên cạnh đó, việc dạy học nhằm phát triển năng lực giao tiếp còn xây dựng và tạo nên nét văn hóa trong nhà trường Đó là văn hóa ứng xử và văn hóa giao tiếp

Phát triển năng lực giao tiếp cho HS, giúp các em tạo lập các mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống Năng lực giao tiếp ảnh hưởng trực tiếp tới việc thiết lập các mối quan hệ, đến công việc ở mọi lứa tuổi Năng lực giao tiếp tốt là một thế mạnh đối với bất cứ ai trong công việc nói chung và đối với HS Tiểu học trong học tập, rèn luyện nói riêng Đối với lứa tuổi học trò, giao tiếp là phương tiện cho phép HS xây dựng cầu nối với bạn bè, với các nền văn hóa của nhân loại, với thầy cô giáo và với người khác, với chính bản thân mình, thuyết phục người khác chấp nhận ý kiến của các em để giải quyết các vấn đề học tập, rèn luyện và bày tỏ được nhu cầu của bản thân

Trang 23

1.1.3 Dạy học phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 4

So sánh giữa cách dạy học trang bị kiến thức với dạy học theo định hướng phát triển năng lực:

STT Tiêu chí

so sánh

Dạy học trang bị kiến thức

Dạy học theo định hướng phát triển

Trường học là một phần của cuộc sống

Thông tin, khái niệm và các ý tưởng là phương tiện

để xây dựng năng lực cần cho việc học tập suốt đời một cách hiệu quả và là một thành viên làm việc

có năng suất của xã hội

5 Phương pháp

dạy học

Cuốn chiếu theo sách giáo khoa, nhồi nhét kiến thức cho HS theo cách mà GV hiểu, chứ không theo tư duy người học Chủ yếu sử

Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, chú ý cho

HS thực hành, vận dụng kiến thức vào tình huống thực tiễn, các tình huống có

Trang 24

dụng phương pháp dạy học truyền thống

tính phức hợp, tìm tòi, khám phá, nghiên cứu, thực hiện các dự án học tập, thảo luận, thuyết trình,

6 Lĩnh vực

môn học

Ngôn ngữ, ngữ pháp, tiếng

mẹ đẻ, toán học, các khoa học, các nghiên cứu lịch sử

- xã hội, ngoại ngữ

Ngôn ngữ, ngữ pháp, tiếng

mẹ đẻ, toán học, các khoa học, các nghiên cứu lịch

sử - xã hội, ngoại ngữ, các

kĩ năng xúc cảm - xã hội, các năng lực sống khác

7 Sự thích ứng

HS phải thích ứng với các quy định của trường lớp liên quan đến nội dung, cách tiếp cận, thời gian biểu

và tiến độ

Việc học tập được cá nhân hóa, thích ứng với các ưu thế, nhu cầu học tập, phong cách học và hoàn cảnh cá nhân của HS

Dựa vào trường học: các cách tiếp cận được xác định bởi GV, căn cứ đầu vào của HS

9 Các tiêu chí

thực hành

Được xác định bởi GV và các nhà quản lí: kiểm tra vấn đáp và điểm thi, bài tập, sự tham dự lớp học, sự chú ý, thái độ

Được xác định bởi GV và

HS theo nhu cầu, mục đích, sự quan tâm, sức khỏe và hoàn cảnh cá nhân

Trang 25

10 Phân loại Chủ yếu là đánh giá định

lượng, theo thang điểm 10

HS đáp ứng đủ các tiêu chí

Qua bảng so sánh trên có thể thấy, dạy học theo hướng phát triển năng lực có những điểm được kế thừa và phát huy của dạy học truyền thống

Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) [30] về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”

Trước đây mục tiêu giáo dục toàn diện thường được hiểu đơn giản là:

HS phải học đầy đủ tất cả các môn học thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, nghệ thuật, thể dục thể thao Không những thế, việc thực hiện mục tiêu giáo dục cũng nghiêng về truyền thụ kiến thức càng nhiều càng tốt; chú trọng dạy chữ hơn dạy người, chú trọng truyền bá kiến thức hơn đào tạo, bồi dưỡng năng lực của người học; ít yêu cầu người học vận

Trang 26

dụng kiến thức vào thực tế Tình hình này đã dẫn đến hiện tượng "quá tải", vừa thừa vừa thiếu đối với người học và đối với mục tiêu giáo dục

Mục tiêu giáo dục theo tinh thần đổi mới là: phát triển toàn diện năng

lực và phẩm chất người học Toàn diện ở đây được hiểu là chú trọng phát

triển cả phẩm chất và năng lực con người, cả dạy chữ, dạy người, dạy nghề Giáo dục và đào tạo phải tạo ra những con người có phẩm chất, năng lực cần

thiết như trung thực, nhân văn, tự do sáng tạo, có hoài bão và lí tưởng phục

vụ Tổ quốc, cộng đồng; đồng thời phải phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, làm chủ bản thân, làm chủ đất nước và làm chủ xã hội; có hiểu biết và kĩ năng cơ bản để sống tốt và làm việc hiệu quả… như Bác Hồ từng mong muốn: "một nền giáo dục sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em"

Có thể khái quát việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:

Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp HS

tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn GV là người tổ chức và chỉ đạo HS tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn

Hai, chú trọng rèn luyện cho HS biết khai thác SGK và các tài liệu học tập,

biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới Định hướng cho HS cách tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo

Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở

thành môi trường giao tiếp GV – HS và HS – HS nhằm vận dụng sự hiểu biết

và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung

Trang 27

Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt

tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học) Chú trọng phát triển kĩ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của HS với nhiều hình thức như theo lời giải hay đáp án mẫu, theo hướng dẫn hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót

Có thể nói dạy học câu cho HS lớp 4 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp đáp ứng nhu cầu đổi mới về quan điểm dạy học của nước ta, vừa nâng cao chất lượng học của HS vừa chú trọng phát triển các năng lực vốn có của các em

1.2 Nhận xét về dạy học câu trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp

4

1.2.1 Nhiệm vụ của dạy học câu ở Tiểu học

- Cung cấp cho HS một số kiến thức câu cơ bản, sơ giản, tối cần thiết và vừa sức với lứa tuổi của HS

- Trang bị cho HS một hệ thống khái niệm, sự hiểu biết về cấu trúc ngôn ngữ và quy luật hành chức của nó (những hiểu biết về câu, cấu tạo và các kiểu câu )

- HS nắm được quy tắc chính tả, dấu câu, nắm chuẩn văn hóa lời nói

- Rèn luyện tư duy, giáo dục thẩm mĩ cho HS

1.2.2 Nội dung dạy học câu ở Tiểu học

Bảng 1.1 Bảng thống kê thời lượng và nội dung dạy học câu ở Tiểu học

Trang 28

Đặt và trả lời câu hỏi Khi nào? 8; 18

Đặt và trả lời câu hỏi Như thế nào? 45

Đặt và trả lời câu hỏi Vì sao? 64

Ôn tập cách đặt và trả lời câu hỏi Khi nào? 8

Ôn tập cách đặt và trả lời câu hỏi Ở đâu? 26

Ôn tập cách đặt và trả lời câu hỏi Như thế nào? 44

Ôn tập cách đặt và trả lời câu hỏi Vì sao? 61

Ôn tập cách đặt và trả lời câu hỏi Để làm gì? 85

3

II

Đặt và trả lời câu hỏi Bằng gì? 102; 117

13 tiết

Giữ phép lịch sự khi đặt câu hỏi 151

Trang 29

Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho câu 129 Thêm trạng ngữ chỉ thời gian cho câu 134 Thêm trạng ngữ chỉ nguyên nhân cho câu 140 Thêm trạng ngữ chỉ mục đích cho câu 150 Thêm trạng ngữ chỉ phương tiện cho câu 160

Trang 30

các kiểu bài đều không tập trung vào việc nhận diện các hiện tượng ngôn ngữ,

mà chú trọng rèn luyện khả năng sử dụng câu phục vụ cho hoạt động giao tiếp

Cấu trúc của một bài học về câu của lớp 4 được SGK trình bày thường gồm 3 phần: Nhận xét, Ghi nhớ, Luyện tập

- Nhận xét là phần cung cấp ngữ liệu và nêu câu hỏi (bài tập) gợi ý cho

HS phân tích nhằm rút ra kiến thức lí thuyết Theo quan điểm tích hợp, ngữ liệu thường rút ra từ những bài tập đọc mà HS đã học Các ngữ liệu đều mang tính điển hình cao và có số lượng chữ hạn chế, để đảm bảo tính hiệu quả của việc phân tích và tránh làm mất thời gian học tập của HS

- Ghi nhớ là phần chốt lại những điểm chính yếu về kiến thức được rút ra

từ việc phân tích ngữ liệu

- Luyện tập là phần bài tập nhằm củng cố và vận dụng kiến thức đã học Các bài tập này có hai nhiệm vụ ứng với hai dạng bài tập

+ Bài tập nhận diện, phân loại, phân tích có mức độ cụ thể hóa các kiến thức về câu trên những ngữ liệu mới Chúng luyện cho HS kĩ năng nhận ra các hiện tượng, các đơn vị ngôn ngữ đã được học Đó là: nhận diện, xác định được các kiểu câu (Câu kể Ai là gì?, Ai làm gì?, Ai thế nào?; câu hỏi, câu khiến, câu cảm), nhận diện, phân tích được thành phần câu (chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ) Mức độ tối thiểu, những hiện tượng này được nêu sẵn trong các

ngữ liệu khác (Ví dụ: “Tìm chủ ngữ, vị ngữ trong các câu sau”; “Tìm trạng ngữ trong những câu dưới đây”)

+ Bài tập vận dụng tạo điều kiện cho HS sử dụng những đơn vị ngữ pháp

đã học vào hoạt động nói năng của mình Ví dụ: “Viết một đoạn văn khoảng 5

câu kể về công việc trực nhật lớp của tổ em, trong đó có dùng kiểu câu Ai làm gì?” (Tiếng Việt 4, tập 2, Tr.14)

Cấu trúc bài học được trình bày rõ ràng và khoa học như vậy sẽ giúp cho

HS nắm chắc kiến thức lí thuyết về câu, đồng thời có thể vận dụng lí thuyết

đó để làm các bài tập thực hành khắc sâu kiến thức

Trang 31

1.2.3 Hệ thống bài tập dạy học câu của lớp 4

Dựa vào nội dung lí thuyết về câu có thể phân chia các bài tập dạy học

về câu theo các mạch kiến thức như sau:

a) Câu phân loại theo chức năng của vị ngữ - kĩ năng nhận diện, sử dụng đúng kiểu câu phân loại theo chức năng của vị ngữ Ví dụ:

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

Hàng trăm con voi đang tiến về bãi Người các buôn làng kéo về nườm nượp Mấy anh thanh niên khua chiêng rộn ràng Các bà đeo những vòng bạc, vòng vàng Các chị mặc những chiếc váy thêu rực rỡ Hôm nay, Tây Nguyên thật tưng bừng

Theo Lê Tấn

1, Tìm các câu kể Ai làm gì? trong đoạn văn trên

2, Xác định vị ngữ trong mỗi câu vừa tìm được

3, Nêu ý nghĩa của vị ngữ

4, Cho biết vị ngữ trong các câu trên do từ ngữ nào tạo thành Chọn ý đúng: a) Do danh từ và các từ kèm theo nó (cụm danh từ) tạo thành

b) Do động từ và các từ kèm theo nó (cụm động từ) tạo thành

c) Do tính từ và các từ kèm theo nó (cụm tính từ) tạo thành

(Tiếng Việt 4, tập 1, Tr.171) b) Câu phân loại theo mục đích nói - kĩ năng nhận diện, sử dụng đúng kiểu câu phân loại theo mục đích nói Ví dụ:

Cho câu kể sau đây:

Nhà Vua hoàn gươm lại cho Long Vương

Hãy chuyển câu kể thành câu khiến bằng một trong những cách sau:

- Thêm hãy, đừng, chớ, nên, phải, vào trước một động từ

- Thêm đi, thôi, nào, vào cuối câu

- Thêm đề nghị, xin, mong, vào đầu câu

- Thay đổi giọng điệu

(Tiếng Việt 4, tập 2, Tr.92)

Trang 32

c) Thành phần câu (cấu tạo câu) - kĩ năng nhận diện thành phân câu, viết câu đúng cấu tạo

Tìm trạng ngữ trong các câu sau:

a) Ngày xưa, Rùa có một cái mai láng bóng (Theo Võ Quảng)

b) Trong vườn, muôn loài hoa đua nở (Theo Xuân Quỳnh)

c) Từ tờ mờ sáng, cô Thảo đã dậy sắm sửa đi về làng Làng cô ở cách làng Mỹ Lý hơn mười lăm cây số Vì vậy, mỗi năm cô chỉ về làng chừng hai

ba lượt (Theo Thanh Tịnh)

(Tiếng Việt 4, tập 2, Tr.126) d) Dấu câu - kĩ năng sử dụng dấu câu

1, Tìm những câu có chứa dấu gạch ngang (dấu -) trong đoạn văn sau: Thấy tôi sán đến gần, ông hỏi tôi:

* Bài tập theo mẫu

Sử dụng nhiều trong phần tìm hiểu hiện tượng nghiên cứu của phần Nhận xét Chính vì vậy, những ngữ liệu đưa ra trong giờ lí thuyết về câu với

tư cách là ví dụ phải là những mẫu điển hình, mang tính khái quát

* Bài tập cấu trúc, sửa chữa

Bài tập cấu trúc, sửa chữa có mục đích giúp HS viết đúng các quy tắc ngữ pháp - chính tả Nếu ở bài tập theo mẫu, HS thực hiện một cách vô thức, bắt chước máy móc thì ở bài tập này HS phải dựa vào quy tắc ngữ pháp để làm bài Bài tập này gồm:

+ Bài tập yêu cầu sắp xếp lại các từ để tạo câu, bài tập biến đổi các kiểu

Trang 33

câu nhằm mục đích luyện nắm cấu trúc câu

Ví dụ: Chuyển các câu kể sau thành câu khiến:

- Nam đi học

- Thanh đi lao động

- Ngân chăm chỉ

- Giang phấn đấu học giỏi

M: Nam đi học đi !

M: Nam phải đi học !

M: Nam hãy đi học đi !

(Tiếng Việt 4, tập 2, Tr.93) + Kiểu bài tập cho sẵn bộ phận chủ ngữ hoặc vị ngữ của câu, yêu cầu HS điền thêm bộ phận còn thiếu cho thành câu

+ Bài tập xây dựng câu theo cấu trúc đã cho

Ví dụ:

Đặt câu khiến theo những yêu cầu dưới đây:

Câu khiến có hãy ở trước động từ

Câu khiến có đi hoặc nào ở sau động từ

Câu khiến có xin hoặc mong ở trước chủ ngữ

(Tiếng Việt 4, tập 2, Tr.93)

* Bài tập sáng tạo

Bài tập sáng tạo là những bài không bị quy định bởi mẫu hay cấu trúc câu cho sẵn Đó là các bài tập đặt câu, viết đoạn gồm:

+ Bài tập cho trước đề tài, yêu cầu đặt câu

+ Dựa vào tranh, đặt câu hoặc cho những bức tranh, yêu cầu đặt những câu có khả năng liên kết thành bài

+ Bài tập viết đoạn văn

1.3 Một số đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh lớp 4

Khi HS bước vào lớp 4 – độ tuổi đầu giai đoạn thứ hai ở bậc Tiểu học, các em đã không còn bỡ ngỡ với hoạt động học tập và học tập trở thành hoạt

Trang 34

động chủ đạo của HS Ở lứa tuổi này, mặt tâm sinh lí của HS vẫn chưa ổn định, những cấu tạo tâm lí mới chủ yếu do hoạt động học tập mang lại và được hình thành dần dần với quá trình hình thành hoạt động học tập Tri giác của các em mang tính trực quan và cảm xúc nhiều Các em thích quan sát các

sự vật hiện tượng có nhiều màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn Vì vậy muốn thu hút sự tập trung, chú ý của HS, GV cần sử dụng linh hoạt các đồ dùng trực quan như tranh ảnh, hình ảnh, bài giảng điện tử phù hợp với nội dung dạy học để HS

dễ hình dung, tưởng tượng hơn

Khả năng tư duy của HS lớp 4 không chỉ là trực quan cụ thể mà đã chuyển dần sang tính khái quát Trí tưởng tượng của các em tuy còn đơn giản, chưa bền vững nhưng đã bắt đầu hình dung một cách đầy đủ, trọn vẹn một hình ảnh tưởng tượng Để phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em người GV cần biến các kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho HS những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để HS có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lí tính của mình một cách toàn diện

Ở lứa tuổi HS lớp 4 bằng hoạt động học tập và giao tiếp với thầy cô, bạn

bè mà HS tiếp thu lĩnh hội những chuẩn mực và quy tắc đạo đức xã hội, tạo nên ý thức tập thể, những tình cảm, hành vi đạo đức, hình thành nhân cách của HS Phạm vi giao tiếp của HS lớp 4 chưa rộng, chủ yếu quan hệ giao tiếp hàng ngày với những người thân trong gia đình, với thầy cô, bạn bè cùng lớp, cùng làng, cùng phố Nội dung giao tiếp của HS ở lứa tuổi này tập trung xung quanh các vấn đề học tập và cuộc sống vui chơi, hoạt động tập thể trong nhà trường hoặc địa phương

Đặc điểm ngôn ngữ của HS lớp 4 phát triển cả ba mặt: ngữ âm, từ vựng

và ngữ pháp Vốn từ của các em được tăng lên do được học nhiều môn học, phạm vi tiếp xúc được mở rộng Tuy nhiên, khả năng sử dụng ngôn ngữ khi giao tiếp còn hạn chế thể hiện qua việc các em hiểu vấn đề nhưng chưa biết cách diễn đạt hay diễn đạt khô khan, nghèo ý Ngôn ngữ của HS đang dần

Trang 35

phát triển qua hoạt động giao tiếp Vì vậy, cần có những phương pháp, cách thức tổ chức dạy học phù hợp vừa gây hứng thú học tập cho HS vừa phát huy năng lực giao tiếp của HS

1.4 Thực trạng của việc dạy học câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực giao tiếp

1.4.1 Mục đích nghiên cứu thực trạng

Nghiên cứu thực trạng của việc dạy học câu cho HS lớp 4 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp để có cơ sở thực tiễn nhằm điều chỉnh phương pháp, lựa chọn nội dung và hình thức tổ chức dạy học giúp HS hiểu và vận dụng tốt kiến thức về câu đạt hiệu quả trong quá trình giao tiếp

1.4.2 Đối tượng khảo sát

Để thực hiện khách quan trong đánh giá về thực trạng dạy học câu cho học sinh lớp 4 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp, chúng tôi đã tiến hành trao đổi trực tiếp và dùng phiếu điều tra khảo sát với 8 GV giảng dạy trong khối lớp 4 và 100 HS lớp 4 của trường Tiểu học Hoàng Động

1.4.3 Nội dung và phương pháp khảo sát thực trạng

a) Đối với giáo viên

* Nội dung khảo sát

- Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc dạy học câu cho HS lớp

4 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp

- Tìm hiểu việc nắm bắt mức độ nội dung chương trình từng bài

- Tìm hiểu sự chuẩn bị nội dung và phương pháp dạy học của GV nhằm phát huy năng lực giao tiếp cho HS

- Tìm hiểu những khó khăn của GV khi tổ chức dạy học về câu theo hướng phát triển năng lực giao tiếp cho HS

- Tìm hiểu cách đánh giá của GV về khả năng nhận diện và vận dụng kiến thức về câu tới năng lực giao tiếp của HS

- Tìm hiểu những đề xuất nâng cao hiệu quả dạy học về câu nhằm phát triển năng lực giao tiếp cho HS

Trang 36

* Phương pháp khảo sát

Chúng tôi xây dựng câu hỏi qua hệ thống phiếu thăm dò ý kiến của GV, với các vấn đề liên quan đến việc dạy học câu cho HS lớp 4 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp (phiếu được trình bày ở phần phụ lục – Tr.1)

Những nội dung mà chúng tôi đưa ra được thể hiện ở dạng câu hỏi trong phiếu điều tra và được gửi tận tay GV Ngoài ra, trong quá trình khảo sát, chúng tôi có tiến hành trao đổi với một số GV về thực trạng hiểu và vận dụng các kiểu câu trong giao tiếp của chính GV đó Việc trao đổi trực tiếp này giúp chúng tôi có những kết luận chính xác hơn về vấn đề nghiên cứu

b) Đối với học sinh

* Nội dung điều tra

- Tìm hiểu nhu cầu, hứng thú của HS khi học các kiểu bài về câu trong

phân môn Luyện từ và câu

- Tìm hiểu khả năng nhận diện các kiểu câu (thông qua một số bài tập cơ

bản) trong chương trình Luyện từ và câu lớp 4

- Tìm hiểu khả năng vận dụng các kiểu câu được học vào trong quá trình nói và giao tiếp của HS

* Phương pháp điều tra

Nội dung trên được chúng tôi thể hiện trong phiếu điều tra (phiếu được trình bày ở phần phụ lục – Tr.4) bằng hệ thống câu hỏi ngắn, dễ hiểu kết hợp với việc tiến hành thực nghiệm và phỏng vấn trực tiếp

1.4.4 Kết quả khảo sát thực trạng và nhận xét

1.4.4.1 Những thuận lợi và khó khăn của giáo viên trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên khi dạy câu cho học sinh lớp 4 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp

Để nắm được những thuận lợi và khó khăn của GV trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên khi dạy câu cho học sinh lớp 4 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp, chúng tôi đã tiến hành trao đổi trực tiếp và dùng phiếu điều tra khảo sát với 8 GV giảng dạy trong khối lớp 4 Nội dung điều tra

Trang 37

GV tập trung vào một số vấn đề của phương pháp dạy học phân môn Luyện từ và câu nói chung và phương pháp dạy học câu nói riêng Có 7 nội dung điều tra cơ

bản được chúng tôi thống kê, tổng hợp thành bảng sau:

Bảng 1.2 Bảng tổng hợp kết quả khảo sát giáo viên

Mục đích Các phương án lựa chọn Số lượng

B Phương pháp thực hành luyện tập

C Phương pháp giảng giải minh họa

Tìm hiểu sự chuẩn bị nội

dung dạy học của GV

nhằm phát huy năng lực

giao tiếp cho HS

A Sử dụng toàn bộ các bài tập, câu hỏi gợi ý trong SGK, sách giáo viên và dự kiến trước các tình huống

và câu trả lời của HS

Trang 38

tầm những bài tập, câu hỏi phù hợp với mục đích của bài dạy, tăng cường các tình huống giao tiếp cho

HS vận dụng kiến thức đã học

C Làm phiếu bài tập

D Dự kiến phân chia nhóm cho một số bài mà GV thấy phù hợp

1

2

12,5% 25%

Tìm hiểu mức độ xây

dựng tình huống giao tiếp

trong tiết dạy học về câu

Tìm hiểu những khó

khăn của GV khi tổ chức

dạy học về câu theo

hướng phát triển năng lực

giao tiếp cho HS

A Khó khăn trong việc hướng dẫn HS nhận biết các kiểu câu

B Khó khăn trong việc hướng dẫn HS vận dụng các kiểu câu vào thực tiễn giao tiếp, nói năng trong cuộc sống

B Hiểu, nhận biết được các

5

3

62,5%

37,5%

Trang 39

giao tiếp của HS kiểu câu, biết sử dụng các

kiểu câu trong thực tiễn giao tiếp

Từ bảng tổng hợp trên có thể rút ra một số nhận xét sau:

Về nhận thức, có 8/8 GV (100%) nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy học câu cho HS lớp 4 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp với lí

do học câu phải gắn liền với giao tiếp và phục vụ thực tiễn nói năng của HS

Cô giáo Nguyễn Thị Mai Hoa (GV lớp 4A3) cho rằng: “Trong việc dạy học câu, đích đến cuối cùng là HS phải biết vận dụng kiến thức đó để giao tiếp một cách hiệu quả” GV sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học mới

nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của HS, biết phối hợp nhiều hình thức dạy học để tổ chức các hoạt động dạy học giúp HS tự tin và bộc lộ năng lực của mình

Về phương pháp, một số GV còn lúng túng trong việc xác định phương

pháp dạy học phân môn Luyện từ và câu nói chung và các bài tập về câu nói

riêng, vì dạy học câu tập trung vào việc tổ chức các hoạt động học tập mang tính thực hành là chính 4/8 GV (50%) đã đọc kĩ phần hướng dẫn gợi ý trong SGK và sách giáo viên, thậm trí sử dụng toàn bộ câu hỏi gợi ý trong SGK và sách giáo viên; đồng thời dự tính câu trả lời của HS, nhưng phần dự kiến không sinh động như thực tiễn nói năng của HS nên lúng túng khi các em không trả lời đúng hoặc không làm theo dự kiến của mình Có rất ít GV (1/8

GV – chiếm 12,5%) làm phiếu bài tập vì mất quá nhiều thời gian, chi phí không rẻ Có 2 GV (25%) sử dụng hình thức chia nhóm với những nội dung dạy học phức tạp Qua phỏng vấn trực tiếp, có thể thấy khó khăn lớn nhất của đại đa số GV (5/8 GV – chiếm 62,5%) là không có biện pháp cụ thể để kích thích nhu cầu nói của HS Theo một số GV cho rằng, chương trình có nhiều nội dung dạy học khó, câu hỏi bài tập dài, có nhiều câu hỏi quá khó so với

Trang 40

trình độ HS trung bình, yếu và một khó khăn nữa đó là kĩ năng sử dụng câu đúng mục đích nói của HS còn hạn chế

Về việc dạy học phát huy năng lực giao tiếp của HS, 4/8 thầy cô (50%) cho rằng sử dụng phương pháp gợi mở - vấn đáp sẽ phát huy tốt khả năng giao tiếp của HS Tuy nhiên không có phương pháp nào là vạn năng vì vậy

GV cần kết hợp nhiều phương pháp khác để giờ dạy đạt kết quả cao hơn Theo phỏng vấn trực tiếp, khi hướng dẫn HS giải bài tập, 6/8 GV (75%) thường sử dụng phương pháp rèn luyện theo mẫu Tức là, GV chọn và giới thiệu các mẫu hoạt động ngôn ngữ rồi hướng dẫn HS phân tích để hiểu và nắm vững cấu trúc của chúng, bắt chước sáng tạo vào lời nói của mình Khi

sử dụng phương pháp này, nhiều GV đã không phân biệt được sự bắt chước

vô thức và học tập mẫu một cách có ý thức của HS Hậu quả cho ra hàng loạt các mẫu câu giống nhau, áp dụng một cách máy móc, không linh hoạt trong lời nói và không phù hợp với tình huống giao tiếp

Có 3/8 GV (37,5%) chưa chú ý vận dụng phương pháp tích hợp kiến thức, kĩ năng trong các phân môn Chương trình tiếng Việt ở Tiểu học được xây dựng theo quan điểm tích hợp giữa các phân môn Do đó, việc dạy học

câu cho HS không chỉ là nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu mà còn để

HS hiểu được giá trị thực tiễn của câu trong việc diễn đạt nội dung ở các môn học khác Một số GV (4/4 GV – chiếm 50%) chỉ chú tâm vào việc dạy cho

HS nhận biết các kiểu câu còn việc vận dụng chúng vào các tình huống giao tiếp cụ thể thì chưa được chú ý nhiều

Việc xây dựng hệ thống bài tập phù hợp nhằm làm đa dạng hóa các hoạt động học tập tạo hứng thú cho HS để HS học tập có hiệu quả cao đòi hỏi người GV cần có kiến thức nhất định về phong cách học Thế nhưng qua trao đổi trực tiếp, đa số GV (7/8 GV – chiếm 87,5 %) tổ chức cho HS luyện tập chỉ trong phạm vi những bài tập trong SGK, rất ít GV (1 GV – chiếm 12,5%) sáng tạo ra các bài tập mới, các tình huống mới tạo ra hoàn cảnh sử dụng câu

Ngày đăng: 02/01/2020, 17:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w