Tuy vậy, Nhà nước vẫn trao quyền sản xuất, kinh doanh, tàng trữ, vận chuyển những hàng hoá này cho một số ít các chủ thể đặc biệt, chủ yếu là các Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÂM VĂN TUÂN
TộI TàNG TRữ, VậN CHUYểN HàNG CấM
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÂM VĂN TUÂN
TộI TàNG TRữ, VậN CHUYểN HàNG CấM
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: TS CHU THỊ TRANG VÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lâm Văn Tuân
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM 6
1.1 Khái niệm hàng cấm và Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm 6
1.1.1 Khái niệm hàng cấm 6
1.1.2 Khái niệm Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm 9
1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trong luật hình sự 16
1.2 Khái quát lịch sử các quy định pháp luật hình sự về Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm 17
1.2.1 Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên năm 1985 17
1.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 20
1.2.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay 23
1.3 Phân biệt Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm với một số tội phạm khác có liên quan 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
Chương 2: QUY ĐỊNH VỀ TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG THỜI GIAN VỪA QUA 33
2.1 Quy định về Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trong Bộ luật hình sự năm 2015 33
Trang 52.1.1 Dấu hiệu pháp lý của Quy định về Tội tàng trữ, vận chuyển
hàng cấm trong Bộ luật hình sự năm 2015 33 2.1.2 Hình phạt được áp dụng đối với Tội tàng trữ, vận chuyển hàng
cấm trong Bộ luật hình sự năm 2015 40
2.2 Thực tiễn áp dụng Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm tại
địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2013-2017 (5 năm) 45
2.2.1 Khái quát tình hình tội phạm nói chung và tình hình Tội tàng trữ,
vận chuyển hàng cấm tại thành phố Hải Phòng giai đoạn
2013-2017 (5 năm) 45 2.2.2 Đánh giá việc xử lý và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với Tội
tàng trữ, vận chuyển hàng cấm tại thành phố Hải Phòng giai đoạn
2013-2017 47 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65
Chương 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VỀ TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM VÀ MỘT
SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT VỀ TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM 66 3.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự về Tội tàng trữ,
vận chuyển hàng cấm 66
3.1.1 Tiếp tục hướng dẫn phân biệt giữa tội tàng trữ hàng cấm với tội
vận chuyển hàng cấm 66 3.1.2 Tiếp tục hướng dẫn phân biệt tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
với tội sản xuất, buôn bán hàng cấm, tội buôn lậu, tội vận chuyển
hàng hoá trái phép qua biên giới và các tội phạm khác 67 3.1.3 Tiếp tục hướng dẫn các nội dung định lượng tại Điều 191 Bộ luật
hình sự năm 2015 71 3.1.4 Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về hàng cấm 74
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về
Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm 78
Trang 63.2.1 Quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong việc phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng quá trình
điều tra, truy tố và xét xử tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm 78
3.2.2 Nâng cao năng lực của cán bộ áp dụng pháp luật về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm 82
3.2.3 Hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác phát hiện và xử lý hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm 83
3.2.4 Nâng cao nhận thức pháp luật của giới doanh nhân và quần chúng nhân dân 85
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 88
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương đổi mới nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tiếp đó, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Hiến pháp năm 1992 chính thức thừa nhận đường lối phát triển kinh tế của nước ta là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thừa nhận các quy luật vận hành của thị trường, thừa nhận sự phát triển của nhiều thành phần kinh tế bao gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các chủ thể kinh doanh được tự do kinh doanh những ngành nghề, lĩnh vực mà pháp luật không cấm Nền kinh tế thị trường có những mặt tích cực nhưng cũng có những mặt trái, do đó, nền kinh tế thị trường xã hội đòi hỏi có sự điều tiết của nhà nước nhằm phát huy những mặt tích cực, đồng thời kiểm soát, hạn chế những mặt trái của nó
Đường lối phát triển kinh tế đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta đã làm cho nền kinh tế có sự chuyển mình vượt bậc Từ một nước nghèo, gặp nhiều khó khăn do hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh trong thế kỷ 20 Đến nay, GDP bình quân đầu người đã đạt 2.400 USD Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, vẫn tồn tại những yếu kém trong quản lý kinh tế tạo kẽ
hở cho các hoạt động kinh tế phi pháp diễn ra gây thiệt hại lớn cho xã hội
Trong nền kinh tế thị trường, không phải các chủ thể kinh doanh có thể kinh doanh tất cả các hàng hoá, dịch vụ mà họ muốn Trên thực tế, có những hàng hoá có khả năng gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường, làm lây lan
Trang 8dịch bệnh, gây nguy hại nghiêm trọng cho an ninh, trật tự xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người, Những hàng hoá đó bị cấm hoặc hạn chế kinh doanh Như vậy, hành vi sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ hàng cấm là hành vi trái pháp luật Tuy nhiên, việc kinh doanh hàng hoá cấm mang lại siêu lợi nhuận, nên nhiều chủ thể vẫn bất chấp các quy định nghiêm cấm của Nhà nước, sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, tàng trữ hàng cấm Thực tế, các hoạt động kinh doanh, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm ngày càng trở lên tinh vi và nguy hiểm
Hải Phòng là thành phố cảng, là điểm trung chuyển hàng hoá từ thị trường nước ngoài vào thị trường nội địa Việt Nam Hải Phòng cũng là một trong những trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam Vì vậy tình hình tội phạm buôn lậu, tội phạm tàng trữ, vận chuyển hàng cấm rất phức tạp Hoạt động tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong thời gian gần đây không chỉ có chiều hướng tăng về số lượng, chủng loại mà còn diễn biến phức tạp về cả tính chất, quy mô Các đối tượng phạm tội có rất nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, táo bạo và manh động nhằm che mặt cũng như chống trả các lực lượng chức năng Trong khi đó, hoạt động xử lý các đối tượng phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu trước tình hình thực tế tại địa phương, làm ảnh hưởng tình hình an ninh trật tự
và sự phát triển toàn diện các mặt kinh tế xã hội Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là các quy định của pháp luật liên quan đến tội vận chuyển, tàng trữ hàng cấm vẫn còn nhiều hạn chế, vướng mắc Ngoài ra, các
cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương vẫn còn nhiều mặt cần phải tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm ở nước ta nói chung và trên địa bàn Hải Phòng nói
riêng Vì vậy tác giả chọn đề tài “Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm theo
Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)” để làm Luận văn thạc sĩ luật học
Trang 92 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu ở những khía cạnh nhất định về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Cuốn “Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm)”, của Khoa Luật, Đại học Quốc gia
Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2011; cuốn “Giáo trình luật hình sự Việt Nam”, tập II, của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân; Cuốn
“Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (phần các tội phạm)”, của TS Phùng Thế Vắc, TS Trần Văn Luyện, LS.ThS Phạm Thanh Bình, TS Nguyễn Đức Mai, ThS Nguyễn Sĩ Đại, ThS Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001 đã nêu ra những vấn đề cơ bản về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Cuốn sách “Tìm hiểu các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và các tội phạm
về môi trường”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2014 của tác giả TS Nguyễn Đức Mai đã có một số bình luận về tội sản xuất, buôn bán, tàng trữ và vận chuyển hàng cấm
Các công trình trên nghiên cứu tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trong bối cảnh Bộ luật hình sự năm 2015 chưa có hiệu lực pháp luật Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm theo pháp luật hình sự Việt Nam trên cơ sở
thực tiễn địa bàn thành phố Hải Phòng Vì lẽ đó, đề tài luận văn “Tội tàng trữ,
vận chuyển hàng cấm trong luật hình sự Việt Nam - trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hải Phòng” vẫn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có mục đích nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hải Phòng, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm cũng như nâng cao hiệu xử lý tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Trang 10Để thực hiện được mục đích trên, luận văn phải giải quyết được những nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm bao gồm khái niệm, đặc điểm pháp lý, các yếu tố cấu thành tội phạm, so sánh với các tội phạm có liên quan, nghiên cứu sơ lược lịch sử pháp luật qui định về tội phạm này…
Thứ hai, luận văn phân tích dấu hiệu pháp lý và hình phạt của tội phạm theo qui định pháp luật hiện hành và đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Thứ ba, luận văn đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm và nâng cao hiệu quả xử lý tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trên địa bàn thành phố Hải Phòng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Luận văn tập trung nghiên cứu Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự năm 2015 liên quan đến tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Luận văn cũng chỉ tập trung nghiên cứu thực tiễn xử lý tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm 2012 đến hết năm 2017
5 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai luận văn này, tác giả luận văn dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cũng như đường lối và chính sách của
Trang 11Đảng Cộng sản Việt Nam về đấu tranh phòng và chống tội phạm nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội
Để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể trong luận văn, tác giả luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê và các phương pháp khác
6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của luận văn
Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn xử lý tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, luận văn chỉ ra những bất cập, vướng mắc của các quy định của pháp luật liên quan đến tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Đồng thời, cũng từ nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trên địa bàn thành phố Hải Phòng, luận văn đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trên địa bàn thành phố Hải Phòng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Chương 2: Quy định về Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trong Bộ
luật hình sự 2015 và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hải Phòng trong thời gian vừa qua
Chương 3: Hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự về Tội tàng trữ,
vận chuyển hàng cấm và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI TÀNG TRỮ,
Trong nền kinh tế thị trường, hàng hoá và dịch vụ được cung ứng trên
cơ sở nhu cầu của thị trường Nghĩa là có cung thì có cầu, chứ không theo các lệnh hành chính như trong nền kinh tế kế hoạch tập trung Nhà kinh doanh sẽ phải dựa trên nhu cầu của thị trường để lên kế hoạch giải đáp các câu hỏi: Kinh doanh cái gì? Quy mô kinh doanh ra sao? Giá cả thế nào? Như vậy, sẽ tránh được tình trạng sản xuất dư thừa, gây lãng phí, cũng như
sự tránh được hiện tượng phân phối hoặc là cào bằng hoặc là không đồng đều, không phù hợp với nhu cầu thực tiễn Quy luật cung cầu cũng đòi hỏi các chủ thể kinh doanh không ngừng nỗ lực cải tiến công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả cạnh tranh Có thể nói rằng quy luật cung cầu bảo đảm sự phân
bổ và sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn lực khan hiếm trong xã hội Mặc dù, có những mặt tích cực như phân tích ở trên, nhưng quy luật cung cầu cũng có mặt trái Trong xã hội, không phải tất cả người tiêu dùng đều có những nhu cầu đúng đắn Trên thực tế, vẫn có những nhóm người có những
Trang 13nhu cầu sai lệch, mà nếu chúng ta cổ suý sẽ gây ra những hậu quả tai hại cho
xã hội Ví dụ, mặc dù pháo nổ đã bị cấm ở nước ta trên 20 năm nay Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn có một bộ phận người dân thiếu hiểu biết vẫn có nhu cầu đốt pháo trong lễ hội, ngày Tết hoặc đám cưới Pháo nổ không chỉ gây lãng phí về tiền của mà còn gây nguy hiểm cho tính mạng, sức khoẻ của con người, gây thiệt hại về tài sản Vì vậy, nhu cầu sử dụng pháo nổ không được
cổ suý mà thậm chí phải cấm đoán
Vấn đề đặt ra là nếu chỉ cấm sử dụng (tức là cấm đoán nhu cầu sai lệch) thì sẽ như thế nào? Chúng ta cùng quay lại câu chuyện pháo nổ Theo truyền thống của cha ông ta, vào ngày Tết (đêm 30 Tết và các ngày Tết), lễ cưới, lễ mừng thọ, lễ mừng tân gia và các tiệc hỉ khác, người dân thường đốt pháo ăn mừng Tuy nhiên, vì hậu quả do pháo gây ra cho tính mạng, sức khoẻ của con người và tài sản của Nhà nước và người dân là rất nghiêm trọng, Nhà nước ta
đã cấm sử dụng pháo nổ Nếu chỉ cấm sử dụng pháo nổ nhưng không cấm sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển pháo nổ thì sao? Thực tế cho thấy, nếu vẫn có hiện tượng bán pháo nổ thì nhu cầu sử dụng vẫn cao và người dân vẫn
cứ ngấm ngầm sử dụng Điều này dẫn đến việc kiểm soát là rất khó khăn Do
đó, cần phải cấm cả cầu lẫn cung
Từ những phân tích trên có thể thấy Nhà nước cần phải kiểm soát từ khâu sản xuất, nhập khẩu, phân phối, bán lẻ, vận chuyển, tàng trữ những hàng hoá gây nguy hại nghiêm trọng cho xã hội, môi trường, con người, tài sản và các quan hệ quan trọng khác trong xã hội mà những thiệt hại này lớn hơn rất nhiều so với lợi ích mà hàng hoá mang lại Các biện pháp kiểm soát chủ yếu của Nhà nước bao gồm:
- Hạn chế bằng biện pháp hành chính: Theo biện pháp này, Nhà nước
sẽ giới hạn mức cầu tối đa và mức cung tối đa Việc vượt quá mức tối đa do nhà nước quy định là trái luật Ví dụ, đối với một số mặt hàng, Nhà nước vẫn kiểm soát bằng hạn ngạch
Trang 14- Hạn chế bằng biện pháp tài chính: Bằng biện pháp này, Nhà nước đánh thuế tiêu thụ đặc biệt vào những mặt hàng mà Nhà nước không muốn người tiêu dùng sử dụng nhiều như rượu, bia, thuốc lá,… Hoạt động sản xuất, kinh doanh các hàng hoá này không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất,…
- Cấm đoán: Đối với những mặt hàng gây hoặc đe doạ gây nguy hại nghiêm trọng cho xã hội, môi trường, con người, tài sản,… thì việc hạn chế bằng biện pháp hành chính và biện pháp tài chính tỏ ra không hiệu quả và không triệt để Trong trường hợp này, Nhà nước cấm kinh doanh, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng những hàng hoá này Trong từng thời kỳ, trên cơ sở đánh giá mức độ nguy hại của hàng hoá, mà Nhà nước có danh sách hàng cấm, hàng bị hạn chế kinh doanh
Theo một nhà nghiên cứu thì hàng cấm là hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh [2, tr 6] Như vậy, nhà nghiên cứu này đã tập trung vào dấu hiệu
“hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh” để xác định hàng cấm Tuy nhiên, khái niệm kinh doanh được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi (Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014) Trên thực tế, mặc dù có trường hợp chủ thể thực hiện hành vi không vì mục đích sinh lợi nhưng Nhà nước vẫn cấm nhằm ngăn ngừa việc chủ thể sử dụng hoặc đưa người khác sử dụng Vì vậy, bên cạnh việc cấm hành vi sản xuất, buôn bán, lưu hành một số hàng hoá nhất định Nhà nước nghiêm cấm cả hành vi tàng trữ, vận chuyển loại hàng hoá này Hàng hoá bị cấm sản xuất, buôn bán, lưu hành, tàng trữ, vận chuyển bao gồm hàng hoá mà Nhà nước cấm tuyệt đối và hàng hoá chưa đủ điều kiện để lưu thông, lưu hành trên thị trường nên bị cấm lưu thông, lưu hành trên thị trường
Trang 15Tuy vậy, Nhà nước vẫn trao quyền sản xuất, kinh doanh, tàng trữ, vận chuyển những hàng hoá này cho một số ít các chủ thể đặc biệt, chủ yếu là các
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung) định nghĩa:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý) [6, tr 105]
Như vậy, theo định nghĩa tại Điều 8 của Bộ luật hình sự năm 2015 và định nghĩa của Giáo luật hình sự Việt Nam (phần chung) thì tội phạm có các
Trang 16yếu tố sau: (1) hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội; (2) tính trái pháp luật hình sự; (3) tính có năng lực chịu trách nhiệm hình sự; và (4) tính có lỗi
Hành vi trái pháp luật muốn được coi là tội phạm trước hết phải là hành
vi có tính nguy hiểm cho xã hội Như phần trên đã phân tích, hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là hành vi trái pháp luật vì hành vi này trái với điều cấm của pháp luật Nhưng vấn đề đặt ra là có phải tất cả các hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm đều là hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội?
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có sự thể hiện về chất lượng và
số lượng là: a) tính chất nguy hiểm cho xã hội (1) – sự thể hiện về chất lượng
và là đại lượng để so sánh tính nguy hiểm cho xã hội của các nhóm tội phạm khác nhau về khách thể loại, thông thường nó được xác định bằng ý nghĩa và tầm quan trọng của các nhóm khách thể (loại) tương ứng bị tội phạm xâm hại đến; và (b) mức độ nguy hiểm cho xã hội (2) – thể hiện về số lượng và đại lượng để so sánh tính nguy hiểm cho xã hội các loại tội phạm cụ thể cùng khách thể loại, thông thường nó được xác định bằng thiệt hại do chính mỗi tội phạm tương ứng được thực hiện gây nên hoặc có thể gây nên [6, tr 106]
GS Võ Khánh Vinh cũng cho rằng tính nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội thể hiện ở chỗ, hành vi đó gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đáng
kể cho quan hệ xã hội mà pháp luật hình sự bảo vệ.[29, tr 109]
Như vậy, cần phải đánh giá phải chăng hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội? Hàng cấm thường là những mặt hàng nguy hại hoặc có nguy cơ nguy hại cho môi trường, xã hội, tính mạng, sức khoẻ của con người, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội hoặc những mặt hàng cần được đánh giá độ an toàn cho môi trường, xã hội, tính mạng, sức khoẻ con người trước khi được lưu hành Do đó, đối với hành
vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc danh mục là hàng hoá gây nguy hại
Trang 17trực tiếp cho tính mạng, sức khoẻ của con người như thuốc, thực phẩm, chất bảo quản thực phẩm, thì hành vi tàng trữ, vận hàng loại hàng hoá này dù với
số lượng hoặc giá trị nhỏ cũng có tính nguy hiểm cho xã hội Hành vi này cần được tội phạm hoá nhằm bảo đảm tính răn đe, ngăn chặn những nguy hiểm cho tính mạng, sức khoẻ con người
Hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng hoá gây nguy hại hoặc có nguy cơ gây nguy hại cho an ninh quốc gia cũng là hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội mà không phụ thuộc vào số lượng hay giá trị của hàng hoá Bởi vì an ninh quốc gia gắn liền với sự tồn tại của Nhà nước, sự tồn vong của dân tộc Đương nhiên, hành vi này cũng được tội phạm hoá nhưng đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển một số loại hàng hoá đặc biệt như vũ khí thì nhà làm luật
sẽ xác định là một tội phạm khác mà không xác định là tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Đối với hàng hoá còn lại thì mức độ nguy hiểm cho tính mạng, sức khoẻ của con người hoặc an ninh quốc gia thấp hơn thì liệu có nhất thiết phải tội phạm hoá và xử lý bằng biện pháp hình sự? Rõ ràng, nếu hành vi tàng trữ, vận chuyển các loại hàng hoá này với số lượng nhỏ hoặc giá trị nhỏ mà tội phạm hoá thì chưa chắc hiệu quả xử lý đã cao Hiệu quả xử lý cần được xác định trong mối quan hệ giữa nhiều yếu tố, như sự hiệu quả thực thi của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khả năng của các trại giam, chi phí mà xã hội phải bỏ ra để xử lý, Nếu tội phạm hoá, việc xử lý tội phạm phải tuân thủ theo quy trình rất chặt chẽ, phức tạp và mất nhiều thời gian Đồng thời, việc tội phạm hoá tràn lan có thể gây sự quá tải cho các cơ quan tiến hành tố tụng, các trại tạm giam, các trại giam, trại cải tạo, Trong khi đó, biện pháp hành chính với thủ tục nhanh gọn hơn lại tỏ ra hiệu hơn đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm nhưng không thuộc danh mục hàng hoá trực tiếp gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ con người hoặc an ninh quốc gia Vì vậy,
Trang 18chỉ nên tội phạm hoá hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm không thuộc danh mục hàng hoá trực tiếp gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ con người hoặc an ninh quốc gia nếu như số lượng, giá trị lớn hoặc thu lợi bất chính lớn Ngoài ra, đối với trường hợp tàng trữ, vận chuyển các hàng hoá này với số lượng, giá trị và thu lợi bất chính không lớn nhưng người vi phạm thuộc trường hợp đã bị xử lý vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về một trong số hành vi vi phạm trật tự quản lý kinh tế hoặc tội phạm kinh tế nhất định thì cũng cần tội phạm hoá Vì đây thuộc trường hợp người vi phạm có nhân thân xấu, ý thức pháp luật kém, tỏ ra coi thường pháp luật
Yếu tố thứ hai của tội phạm là tính trái pháp luật hình sự, điều đó có nghĩa là hành vi phạm tội phải là hành vi được quy định trong Bộ luật hình
sự Bên cạnh đó, còn có các yếu tố khác như tính có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và tính có lỗi Hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được thực hiện với lỗi cố ý
Từ các phân tích trên có thể định nghĩa tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm như sau:
Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là hành vi cố ý của người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại tàng trữ, hoặc vận chuyển hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối, sơ chế, chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản và muối hoặc hàng hoá khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành có số lượng, giá trị lớn hoặc thu lợi bất chính lớn hoặc mặc dù tàng trữ, vận chuyển hàng hoá trên với số lượng, giá trị và thu lợi bất chính không lớn nhưng thuộc trường hợp đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi vi phạm trật tự quản lý kinh tế được liệt kê trong Bộ luật hình sự hoặc đã bị kết án về
Trang 19một trong số các tội phạm kinh tế được liệt kê trong Bộ luật hình sự chưa được xoá án tích mà còn vi phạm
1.1.2.2 Đặc điểm, dấu hiệu pháp lý
Từ định nghĩa trên có thể thấy tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm có những đặc điểm pháp lý (dấu hiệu pháp lý) cơ bản sau:
Đặc điểm về khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm là những
quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ bị tội phạm xâm hại [4, tr 136] Đối với tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thì khách thể của tội phạm này là trật tự quản lý kinh tế, cụ thể hơn là độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm [1, tr 254]
Cũng như các quan hệ xã hội khác, khách thể của tội phạm cũng được cấu thành bởi ba bộ phận: (1) chủ thể của quan hệ xã hội; (2) hoạt động của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội hay trạng thái của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội; (3) Các vật, hiện tượng thuộc thế giới khách quan có khả năng thoả mãn các nhu cầu khác nhau của con người, liên quan đến các chủ thể khác nhau trong xã hội [4, tr 140]
Các bộ phận cấu thành quan hệ xã hội bị tội phạm trực tiếp tác động vào gọi là đối tượng tác động của tội phạm [4, tr 141] Đối tượng tác động của tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm chính là các hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh, lưu thông, lưu hành hoặc chưa cho phép lưu hành
Đặc điểm về mặt khách quan của tội phạm: Những biểu hiện của tội
phạm ra bên ngoài bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các dấu hiệu biểu hiện sự thực hiện hành vi phạm tội và gắn liền với hành vi như: công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội, thời gian, địa điểm và hoàn cảnh phạm tội [4, tr 145] Toàn bộ những dấu hiệu vừa mô tả trên tạo lên một chỉnh thể thống nhất gọi là mặt khách quan của tội phạm Mặt khách
Trang 20quan của tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm cũng biểu hiện ở những dấu hiệu chung nêu trên
Thứ nhất, dấu hiệu hành vi khách quan: Hành vi khách quan của tội
tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được biểu hiện ở các hành vi sau:
- Hành vi tàng trữ hàng cấm: Hành vi tàng trữ hàng cấm là hành vi cất giữ, giấu, để hàng cấm trong người, phương tiện vận tải (đang đứng im), đồ vật, thiết bị, nhà, động vật hoặc bất kỳ nơi nào hoặc vật nào mà không quan trọng về thời gian
- Hành vi vận chuyển hàng cấm: Hành vi vận chuyển hàng cấm được biểu hiện ở hành vi đưa hàng cấm từ nơi này đến nơi khác Người phạm tội có thể sử dụng bất kỳ phương tiện nào để đưa hàng cấm từ nơi này sang nơi khác bao gồm đi bộ, chạy bộ, sử dụng xe súc vật kéo, xe máy, ô tô, Hàng cấm cũng có thể được vận chuyển bằng đường bộ, đường thuỷ nội địa, đường biển hoặc đường hàng không
Một vấn đề lý luận đặt ra là nếu tại thời điểm bị phát hiện, hàng cấm đang được cất giấu trên phương tiện vận tải thì đây cần coi là hành vi tàng trữ hay vận chuyển hàng cấm? Nếu phương tiện đang chuyển động thì có thể coi
là hành vi vận chuyển hàng cấm Nếu như phương tiện vận tải đang dừng mà
bị phát hiện thì sẽ coi là tàng trữ hàng cấm nếu như không xác định được lịch trình di chuyển của hàng cấm hoặc nếu xác định được lịch trình di chuyển của hàng cấm thì đây là hành vi vận chuyển hàng cấm
Một vấn đề nữa, nếu phát hiện một người cất giấu hàng cấm trong người và di chuyển từ nhà ra vườn thuộc mảnh đất thuộc quyền sử dụng của người này thì coi là tàng trữ hay vận chuyển hàng cấm? Tác giả luận văn cho rằng, đây cần được coi là tàng trữ hàng cấm Vì bản chất, khoảng cách từ điểm xuất phát đến điểm đến không đáng kể và được coi là một nơi thì không coi là hành vi vận chuyển hàng cấm
Trang 21Để tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, người phạm tội thường sử dụng các thủ đoạn sau đây:
- Cất giấu hàng cấm ở những nơi khó phát hiện, như chôn dưới đất, giấu trong các bộ phận khó phát hiện của các phương tiện vận tải;
- Cất giấu hàng cấm lẫn với các hàng hoá được phép lưu thông;
- Che đậy việc tàng trữ, vận chuyển hàng cấm bởi các hoạt động trá hình như kinh doanh hàng hoá, dịch vụ được phép kinh doanh
- Nhờ người chưa thành niên, người già, người thiểu năng trí tuệ, xe ôm, vận chuyển hàng cấm; và
- Các thủ đoạn tinh vi xảo quyệt khác
Thứ hai, dấu hiệu về hậu quả của hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng
cấm: Đây là dấu hiệu quan trọng để phân biệt giữa hành vi phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm với hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là hành vi vi phạm hành chính
Thứ ba, dấu hiệu về nhân thân xấu: Pháp luật hình sự Việt Nam thừa
nhận dấu hiệu nhân thân xấu có thể là dấu hiệu định tội trong một số tội phạm
cụ thể Nhân thân xấu được coi là dấu hiệu định tội danh đối với tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trong trường hợp hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm không gây ra hậu quả tối thiểu theo quy định của Bộ luật hình sự
Đặc điểm về mặt chủ quan của tội phạm: Cố ý phạm tội là phạm tội
trong trường hợp nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho
xã hội; thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra [10, tr 126] Cố ý trực tiếp là trường hợp, chủ thể lựa chọn hành vi phạm tội vì chủ thể mong muốn hành vi đó [10, tr 126] Như vậy, đối với tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, chủ thể nhận thức rõ hành vi của mình có tính nguy hiểm cho xã hội; thấy trước hậu quả của hành vi đó (số lượng, giá trị hàng cấm được tàng trữ, vận chuyển, khoản lợi bất chính thu
Trang 22được) và mong muốn hậu quả xảy ra Vì vậy, đối với tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, hình thức lỗi là cố ý trực tiếp
Động cơ phạm tội là những những nhân tố bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội [4, tr 185] Đối với, tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm Tuy nhiên, có thể thấy, trong trường hợp này, động cơ phạm tội là
vì tư lợi Những lợi ích không chính đáng có được từ hành vi phạm tội đã thôi thúc người phạm tội thực hiện tội phạm
Mục đích phạm tội cũng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Mục đích của hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm rất đa dạng có thể là mục đích sử dụng, vì lợi nhuận cao,
Đặc điểm về mặt chủ thể của tội phạm: người có đủ năng lực trách
nhiệm hình sự và pháp nhân thương mại có thể là chủ thể của tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trong luật hình sự
Việc quy định tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm tạo cơ sở pháp lý để
cơ quan nhà nước có thẩm quyền đấu tranh phòng ngừa và chống hành vi buôn bán, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Hàng cấm gây nguy hại hoặc có nguy cơ gây nguy hại cho tính mạng, sức khoẻ của con người, an toàn, trật
tự xã hội, an ninh quốc gia, thuần phong và mỹ tục của Việt Nam Vì vậy, Nhà nước cần có cơ chế kiểm soát chặt chẽ đối với hàng cấm thông qua biện pháp cấm hoặc cơ chế kiểm soát chặt chẽ khác Các biện pháp hành chính mặc dù có hiệu quả trong việc ngăn chặn và xử lý kịp thời hành vi phòng ngừa và chống hành vi buôn bán, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Tuy nhiên, các biện pháp hành chính không đủ sức răn đe, ngăn chặn hành vi buôn bán, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Các biện pháp hình sự với các chế tài
Trang 23nghiêm khắc nhất là công cụ góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa và chống hành vi buôn bán, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Hiệu quả này được thể hiện thông qua công tác điều tra, truy tố và xét xử các chủ thể phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Hoạt động này góp phần xử lý nghiêm minh những đối tượng coi thường pháp luật, coi thường trật tự chung của xã hội, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm đe doạ đến trật tự kinh tế
mà Nhà nước bảo vệ Bên cạnh đó, hoạt động điều tra, truy tố và xét xử cũng góp phần giáo dục cộng đồng tránh xa và đấu tranh cương quyết với hành vi buôn bán, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Việc quy định về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm cũng góp phần giáo dục quần chúng nhân dân trong việc nói không với tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm cũng như đấu tranh kiên quyết với các hành vi phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Hoạt động giáo dục được thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật dưới nhiều hình thức đa dạng và hấp dẫn
1.2 Khái quát lịch sử các quy định pháp luật hình sự về Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
1.2.1 Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên năm 1985
Sau khi giành được chính quyền từ tay thực dân Pháp, Nhà nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ đã bắt tay thực hiện những công việc cần thiết nhằm bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng trước sự chống phá điên cuồng của thù trong giặc ngoài Trong đó, Nhà nước đã quan tâm ngay đến công tác kiểm soát việc kinh doanh, buôn bán các hàng hoá có ảnh hưởng đến
an ninh, trật tự mà trọng tâm là những hàng hoá thiết yếu phục vụ cho công cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc ta
Trước hết, ngày 09/10/1945, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 50
về cấm xuất cảng ngũ cốc Điều I của Sắc lệnh quy định: “Từ ngày ký sắc lệnh này cho đến khi có lệnh mới, khắp toàn cõi Việt Nam, cấm hẳn việc xuất
Trang 24cảng ra ngoại quốc thóc, gạo, ngô, đỗ hoặc các chế phẩm thuộc về ngũ cốc.” Điều II của Sắc lệnh quy định về chế tài như sau: “Ai trái với sắc lệnh này sẽ
bị phạt theo quân luật và tài sản sẽ bị tịch thu” Sắc lệnh này ra đời khi Việt Nam trải qua nạn đói lịch sử với mục đích bảo đảm an ninh lương thực của quốc gia non trẻ Trong bối cảnh lịch sử như vậy, Sắc lệnh này rất có giá trị thực tế góp phần bảo đảm dân sinh cũng như bảo vệ vững chắc Nhà nước cách mạng non trẻ
Để bảo đảm vật lực cho cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 160 ngày 21/8/1946, cấm xuất khẩu máy móc, đồ vật bằng kim khí, xe hơi và các đồ phục vụ xe hơi Tiếp đó, Sắc Lệnh số 192/SL ngày 28/5/1948 cấm buôn bán, tàng trữ, chuyên chở có tính cách buôn bán các xa xỉ phẩm ngoại hoá Ngày 15/8/1951, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Điều lệ tạm thời số 116/TTg quy định các hình thức xử phạt
vi phạm Điều lệ về xuất nhập khẩu [32, tr 14] Nhận thức được tác hại của thuốc phiện đến sức khoẻ của người dân và an ninh, trật tự, Thủ tướng Chính phủ ta đã ban hành Nghị định số 150/TTg ngày 5/3/1952 quy định đối với những hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện Theo quy định của Nghị định này thì người trồng cây thuốc phiện có nghĩa vụ nộp thuế bằng hiện vật
là 1/3 số thuốc phiện nhựa, phần còn lại phải bán toàn bộ cho mậu dịch quốc doanh; và nghiêm cấm việc tàng trữ, vận chuyển nhựa thuốc phiện [48] “Tiếp theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 225/TTg ngày 22/12/1952 quy định những người có hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện bị xử lý như: tịch thu thuốc phiện tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép; phạt tiền từ một đến năm lần trị giá số thuốc phiện lậu Người vi phạm có thể
bị truy tố trước Toà án Nhân dân” [47]
Sau khi kháng chiến chống Pháp thành công và sau khi thống nhất đất nước, Nhà nước ta lại tập trung kiến thiết đất nước, khắc phục hậu quả cho chiến tranh để lại Tuy vậy, không vì thế mà Nhà nước ta lơ là công tác phóng
Trang 25chống buôn lậu, sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Ngày 30/06/1982, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh số PL/1982 trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hang giả, kinh doanh trái phép Pháp lệnh này phản ánh quan điểm phát triển nền kinh tế kế hoạch tập trung của Đảng
và Nhà nước ta trong giai đoạn này Theo quy định của Pháp lệnh này thì tội tàng trữ hàng cấm và tội vận chuyển hàng cấm được quy định tại hai Điều luật độc lập:
Điều 3 của Pháp lệnh quy định về tội buôn lậu, tàng trữ hàng cấm như sau:
1- Người nào buôn lậu, tàng trữ vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, ngoại tệ, vật tư kỹ thuật hoặc các loại hàng khác mà Nhà nước cấm buôn bán, tàng trữ thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm và
bị phạt tiền gấp ba lần trị giá hàng phạm pháp
2- Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng quy định ở khoản
1, Điều 9 Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm, bị phạt tiền từ ba lần đến năm lần trị giá hàng phạm pháp, và có thể bị tịch thu một phần tài sản
3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng quy định ở khoản 2, Điều 9 Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ tám năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân, bị phạt tiền từ năm lần đến mười lần trị giá hàng phạm pháp, và có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
Điều 4 của Pháp lệnh quy định về tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới như sau:
1- Người nào buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm và bị phạt tiền gấp ba lần trị giá hàng phạm pháp
2- Phạm tội buôn bán hoặc vận chuyển hàng hoá thuộc loại
Trang 26cấm xuất khẩu, nhập khẩu hoặc phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng quy định ở khoản 1, Điều 9 Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm, bị phạt tiền từ ba lần đến năm lần trị giá hàng phạm pháp, và có thể bị tịch thu một phần tài sản
3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng quy định ở khoản 2, Điều 9 Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân, bị phạt tiền từ năm lần đến mười lần trị giá hàng phạm pháp, và có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
Có thể thấy trong thời kỳ đầu của Nhà nước cách mạng, chúng ta đã nỗ lực ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật có giá trị thực tế và lịch sử trong công cuộc phòng, chống buôn bán, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm góp phần bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội Tuy nhiên, rõ ràng, các văn bản quy phạm pháp luật trong thời kỳ này vẫn còn mang tính đơn lẻ, rời rạc, thiếu tính bao quát Vì vậy, việc pháp điển hoá các quy định pháp luật hình sự trong
đó có các quy định tội sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là rất cần thiết
1.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Ngày 27/8/1985, Quốc hội nước ta đã thông qua Bộ luật hình sự năm
1985, lần đầu tiên pháp điển hoá các quy định của pháp luật hình sự Đây là bước tiến quan trọng trong công tác lập pháp của nước ta Điều 166 Bộ luật hình sự năm 1985 là Điều luật quy định riêng về tội buôn bán, tàng trữ hàng cấm Khoản 1 Điều luật này quy định như sau: “1 Người nào buôn bán, tàng trữ chất ma tuý, ngoại tệ hoặc buôn bán kim khí quý, đá quý thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm” Như vậy, theo quy định của Bộ luật hình sự năm
1985, hàng cấm bao gồm chất ma tuý, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý Tuy nhiên, trên thực tế, khái niệm hàng cấm đã được mở rộng bởi các văn bản
Trang 27dưới luật Điều 3 Quyết định số 193-HĐBT ngày 23/12/1988 của Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định hàng cấm như sau:
Mọi hàng hoá đều được tự do lưu thông theo pháp luật, trừ những mặt hàng dưới đây:
a) Cấm kinh doanh:
1- Thuốc phiện và các hoạt chất từ thuốc phiện (Trường hợp
sử dụng trong chế biến dược phẩm thì theo quy định riêng của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng)
2- Vũ khí, một số quân trang, quân dụng theo quy định của
Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ
3- Hiện vật thuộc di tích văn hoá, lịch sử và các sản phẩm văn hoá phản động, đồi truỵ theo quy định của Bộ Văn hoá và Bộ Thông tin
b) Kinh doanh có điều kiện:
1- Một số vật tư - kỹ thuật do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quy định và công bố trong từng thời kỳ
2- Kim khí quý, đá quý, ngoại tệ thì theo quy định riêng của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
3- Dược phẩm thì theo quy định của Bộ Y tế
4- Rượu, bia do hệ thống quốc doanh sản xuất và lưu thông với mạng lưới đại lý bán lẻ của mình cùng thực hiện; ngoài ra, các cửa hàng kinh doanh ăn uống được bán lẻ trực tiếp cho khách hàng
5- Thuốc lá điếu thì những xí nghiệp quốc doanh sản xuất thuốc lá và thương nghiệp quốc doanh cùng các đại lý của hệ thống quốc doanh được phép lưu thông, các cửa hàng kinh doanh ăn uống được bán lẻ trực tiếp cho khách hàng
6- Pháo, chỉ những xí nghiệp quốc doanh được giao nhiệm vụ
Trang 28và những cơ sở sản xuất khác được cấp đăng ký sản xuất và được tổ chức kinh tế của Nhà nước được giao nhiệm vụ đến gia công, đặt hàng mới được phép sản xuất; chỉ thương nghiệp quốc doanh cùng mạng lưới đại lý bán lẻ của hệ thống quốc doanh mới được bán trên thị trường
7- Các dịch vụ sửa chữa súng săn và các phương tiện phát sóng vô tuyến viễn thông, khắc dấu, đánh máy chữ thì theo quy định của Bộ Nội vụ
Như vậy, trên thực tiễn, khái niệm hàng cấm được hiểu rộng hơn so với phạm vi hàng cấm được liệt kê tại Điều 166 Bộ luật hình sự năm 1985 Điều này gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong xử lý hành vi buôn bán, tàng trữ các hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh nhưng không được liệt kê trong Bộ luật hình sự năm 1985 Vì lẽ đó, ngày 28/12/1989, Quốc hội nước ta đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự năm 1985, trong đó Khoản 1 Điều 166 Bộ luật hình sự năm 1985 được sửa đổi bổ sung như sau: “Người nào buôn bán hang hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”
Mục 1 Thông tư liên ngành số 11/TTLN ngày 20/11/1990 của Tòa
án nhân dân tối cao (TANDTC) - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp -
Bộ Nội vụ hướng dẫn xử lý một số loại tội phạm đã có hướng dẫn về xử lý hành vi nhập khẩu trái phép, buôn bán thuốc là điếu của nước ngoài như sau:
a) Đối với các trường hợp lần đầu nhập khẩu trái phép, buôn bán thuốc lá điếu của nước ngoài với số lượng dưới 500 bao (mỗi bao
20 điếu) thì chưa coi là phạm tội, nhưng phải xử phạt hành chính
b) Đối với các trường hợp nhập khẩu trái phép, buôn bán thuốc lá điếu của nước ngoài với số lượng từ 500 bao trở lên hoặc dưới 500 bao, nhưng đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, tái
Trang 29phạm, thực hiện nhiều lần, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp hoặc kèm theo việc chống người thi hành công vụ khi bị phát hiện hoặc xử lý, thì tuỳ trường hợp cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội buôn lậu qua biên giới, tội vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới (Điều 97 Bộ luật hình sự), tội buôn bán hàng cấm (Điều 166 Bộ luật hình sự) hoặc tội đầu cơ (Điều 165 Bộ luật hình
sự nếu thuộc trường hợp đã nêu tại điểm 5 Thông tư liên ngành số 08-TTLN ngày 18-9-1990)
c) Đối với các trường hợp nhập khẩu trái phép, buôn bán thuốc lá điếu của nước ngoài với số lượng từ 1.500 bao đến dưới 4.500 bao thì phải coi là phạm tội trong trường hợp "vật phạm pháp
có số lượng lớn", "hàng phạm pháp có số lượng lớn" (khoản 2 các Điều 97, 165, 166 Bộ luật hình sự); nếu số lượng hàng phạm pháp là
từ 4.500 bao trở lên thì phải coi là "phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng" (khoản 3 các Điều 97, 165, 166 Bộ luật hình sự)
d) Trong mọi trường hợp, hàng phạm pháp là thuốc lá điếu của nước ngoài phải bị tịch thu và xử lý theo quy định chung
Mặc dù đã khắc phục được vướng mắc về khái niệm “hàng cấm” nhưng trong lần sửa đổi, bổ sung này, các nhà làm luật không còn đề cập đến tội tàng trữ hàng cấm
1.2.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay
Mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần (28/12/1989, 12/8/1991, 22/12/1992 và 10/5/1997), nhưng Bộ luật hình sự năm 1985 được ra đời trên
cơ sở Hiến pháp năm 1980 trên nền tảng kinh tế kế hoạch tập trung Vì vậy, nhiều quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985 không phù hợp với nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta
Trang 30đã được thể chế hoá trong Hiến pháp năm 1992 Điều 15 Hiến pháp năm
1992 quy định:
Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trừng có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng
xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức
tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng
Kể từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986, trên cơ
sở Hiến pháp năm 1992, nước ta đã chuyển mình từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tự do kinh doanh được thừa nhận trong khuôn khổ của pháp luật Vì vậy, các quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985 đã tỏ ra không còn phù hợp với thực trạng kinh tế của nước ta Vì vậy, ngày 21/12/1999, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (gọi tắt là “Bộ luật hình sự năm 1999”)
Bộ luật hình sự năm 1999 đã khắc phục được hạn chế của Bộ luật hình
sự năm 1985 tạo cơ sở pháp lý xử lý hành vi sản xuất, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển hàng cấm So với Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự năm
1999 đã quy định về các tội sản xuất, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển hàng cấm Tội sản xuất, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển hàng cấm được quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng hoá
mà Nhà nước cấm kinh doanh có số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại các điều 153, 154, 156, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật
Trang 31này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm
Năm 2013, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Hiến pháp năm 2013 với sự đồng thuận của toàn thể nhân dân Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới kinh tế đúng đắn của Nhà nước ta và đặt nền tảng cho một thời kỳ phát triển mới của đất nước Điều 51 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định:
1 Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
2 Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật
3 Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa
Bên cạnh đó, Điều 33 Hiến pháp năm 2013 khẳng định một cách dứt khoát rằng: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề
mà pháp luật không cấm” Như vậy, quyền tự do kinh doanh được Hiến pháp ghi nhận miễn rằng không thuộc ngành nghề mà pháp luật cấm một cách minh thị Với nguyên tắc hiến định này, đòi hỏi các quy định của pháp luật
Trang 32phải minh bạch, rõ ràng Vì vậy, một loạt các văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục được ban hành để thay thế các văn bản quy phạm pháp luật không còn phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 Hơn nữa, thực tiễn trên thế giới và Việt Nam cho thấy, nhiều pháp nhân thương mại đã có hành vi xâm phạm nghiêm trọng trật tự quản lý kinh tế và môi trường, gây ra hậu quả nặng
nề về kinh tế, môi trường và đời sống cho xã hội Vì vậy, cần thiết phải có pháp nhân là chủ thể của tội phạm Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua Bộ luật hình sự ngày 27 tháng
11 năm 2015 thay thế Bộ luật hình sự năm 1999 Tiếp đến, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 2015 Bộ luật hình sự năm 2015 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sau đây gọi chung là
“Bộ luật hình sự năm 2015”) có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 thay thế Bộ luật hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) Bộ luật hình sự năm
2015 có xu hướng minh bạch, cụ thể hơn so với Bộ luật hình sự năm 1999 Đồng thời, Bộ luật hình sự năm 2015 thừa nhận pháp nhân thương mại là chủ thể của tội phạm
Khác với Bộ luật hình sự năm 1999, Bộ luật hình sự năm 2015 đã chia tội sản xuất, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển hàng cấm thành hai Điều luật độc lập Khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306,
309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
Trang 33a) Thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 50 kilôgam đến dưới 100 kilôgam hoặc từ 50 lít đến dưới 100 lít;
b) Thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao; c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;
d) Hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
đ) Hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
e) Hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189,
190, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết
án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
1.3 Phân biệt Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm với một số tội phạm khác có liên quan
Trong Bộ luật hình sự năm 2015, có một số tội có hành vi khách quan
là tàng trữ, vận chuyển một loại hàng cấm cụ thể nhưng không cấu thành tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm mà là tội phạm khác vì khách thể của tội phạm
và đối tượng của tội phạm khác với khách thể và đối tượng của tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Hành vi tàng trữ, vận chuyển chất thải từ bên ngoài vào lãnh thổ Việt Nam cấu thành tội đưa chưa thải vào lãnh thổ Việt Nam theo Điều 239 Bộ
Trang 34luật hình sự năm 2015 Bởi vì khách thể của tội này là bảo vệ môi trường sống, cân bằng sinh thái và đối tượng của tội phạm là chất thải Hành vi tàng trữ, vận chuyển động vật, bộ phận của cơ thể động vật hoặc sản phẩm của động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp có thể cấu thành tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm theo Điều 244 Bộ luật hình sự Khách thể của tội này là bảo vệ môi trường sống và cân bằng sinh thái và đối tượng là động vật hoang dã thuộc danh mục ưu tiên bảo vệ hoặc nguy cấp Hành vi nhập khẩu hoặc phát tán trái phép động vật, thực vật ngoại xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại cho môi trường cấu thành tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại Khách thể của tội phạm này cũng là bảo vệ môi trường sống và cân bằng sinh thái
Đối với các tội phạm được quy định tại Điều 249, 250, 253, 254 là các tội phạm về ma tuý có khách thể là độc quyền quản lý của nhà nước về ma tuý và các sản phẩm từ ma tuý, cũng như sự kiểm soát của nhà nước đối với tác hại nghiêm trọng của ma tuý đối với trật tự, an toàn xã hội Đối tượng của các tội phạm này là ma tuý, tiền chất dùng cho sản xuất trái phép chất ma tuý, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy Vì vậy, hành vi tàng trữ, vận chuyển các đối tượng này có thể cấu thành các tội thuộc Điều 249, 250, 253, 254 Bộ luật hình sự năm 2015 chứ không phải là tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Các tội được quy định tại Điều 304, 305, 306, 309 và 311 Bộ luật hình
sự năm 2015 có khách thể là an toàn cộng cộng Vì vậy, hành vi tàng trữ, vận chuyển vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, vật liệu nổ, chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân, chất cháy, chất độc là dấu hiệu khách quan của
Trang 35các tội phạm được quy định tại 304, 305, 306, 309 và 311 Bộ luật hình sự năm 2015, chứ không phải là tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Tội phạm được quy định tại Điều 232 và 234 Bộ luật hình sự mặc dù có cùng khách thể là trật tự quản lý kinh tế như tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Tuy nhiên, chủ thể có hành vi tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép từ 1,5 mét khối (m3
) gỗ thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài thuộc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp;
từ 10 mét khối (m3) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài thuộc Phụ lục
II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; từ 20 mét khối (m3) gỗ loài thực vật rừng thông thường; hoặc tàng trữ, trái phép loài thực vật rừng ngoài gỗ trị giá từ 300.000.000 đồng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, chứ không phải tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Chủ thể có hành vi tàng trữ, vận chuyển nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc thuộc Phụ lục II của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp có giá trị từ 300.000.000 đồng trở lên; động vật hoang dã thông thường khác có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên; hoặc tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp trị giá từ 150.000.000 đồng trở lên hoặc của động vật hoang dã khác trị giá từ 300.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về quản
lý, bảo vệ động vật hoang dã theo Điều 234 Bộ luật hình sự năm 2015 chứ không phải là tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Trang 36Một vấn đề đặt ra là một chủ thể sản xuất hàng cấm rồi tàng trữ hàng cấm để tiêu thụ hoặc vận chuyển hàng cấm đi nơi khác thì bị phát hiện Trong trường hợp này, chủ thể có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hai tội
là sản xuất hàng cấm và tàng trữ hàng cấm không? Tác giả luận văn cho rằng cần phân biệt các trường hợp sau:
Thứ nhất, nếu chủ thể sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và tiêu thụ hàng cấm chỉ là một thì cần coi toàn bộ các công việc bao gồm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và tiêu thụ hàng cấm chỉ là các công đoạn của toàn bộ quy trình sản xuất hàng cấm Vì vậy, trong trường hợp này, chủ thể chỉ phải chịu trách nhiệm sự với tội sản xuất hàng cấm mà không phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Thứ hai, nếu trong toàn bộ chuỗi sản xuất bao gồm công đoạn sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và buôn bán hàng cấm mà mỗi công đoạn do một hoặc một số chủ thể độc lập đảm nhiệm thì mỗi chủ thể sẽ chịu trách nhiệm hình sự cho từng tội tương ứng với hành vi của chủ thể Ví dụ, chủ thể sản xuất hàng cấm sẽ chịu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất hàng cấm, còn chủ thể vận chuyển hàng cấm sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội vận chuyển hàng cấm
Vấn đề khác, nếu như xác định được mục đích của chủ thể tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là kinh doanh thì việc xác định trách nhiệm hình sự của chủ thể này như sau:
Thứ nhất, nếu chủ thể hành vi “vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, kể cả hàng bị cấm xuất, nhập khẩu không qua các cửa khẩu đường bộ, cảng biển – nơi có các cơ quan chức năng quản lý để trốn tránh, không chịu
sự quản lý của cơ quan hải quan tại các cửa khẩu đã được quy định hoặc qua các cửa khẩu đã được quy định hoặc các cửa khẩu nhưng giấu giếm tinh vi, trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan chức năng” [46, tr 414] hoặc
Trang 37bất kỳ hành vi nào vận chuyển hàng cấm qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa thì hành vi này có thể cấu thành tội buôn lậu được quy định tại Điều 188 Bộ luật hình sự năm 2015
Thứ hai, nếu chủ thể tàng trữ, vận chuyển hàng cấm để chế biến, sản xuất hàng cấm khác thì cần coi là phạm tội sản xuất hàng cấm nếu thoả mãn các dấu hiệu khác của tội sản xuất hàng cấm
Thứ ba, nếu chủ thể tàng trữ hoặc vận chuyển hàng cấm để bán ra thị trường thì hành vi này cần được coi là tội buôn bán hàng cấm nếu thoả mãn các dấu hiệu khác của tội buôn bán hàng cấm
Thứ tư, nếu chủ thể tàng trữ hoặc vận chuyển hàng cấm để được hưởng thù lao hoặc lợi ích từ chủ thể khác thì truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm nếu theo mãn các dấu hiệu khác của tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Trường hợp vận chuyển hàng cấm qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào thị trường nội địa hoặc ngược lại thì có thể là dấu hiệu khách quan của tội vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới theo quy định tại Điều 189 Bộ luật hình sự năm 2015
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là hành vi cố ý của người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại tàng trữ, hoặc vận chuyển hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối, sơ chế, chế biến,
bảo quản nông, lâm, thủy sản và muối hoặc hàng hoá khác mà Nhà nước cấm
kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành có số lượng, giá trị lớn hoặc thu lợi bất chính lớn hoặc mặc dù tàng trữ, vận chuyển hàng hoá trên với số lượng, giá trị và thu lợi bất chính không lớn nhưng thuộc trường hợp đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi vi phạm trật tự quản lý kinh tế được liệt kê trong Bộ luật hình sự hoặc đã bị kết án về một trong số các tội phạm kinh tế được liệt kê trong Bộ luật hình sự chưa được xoá án tích
mà còn vi phạm
Ngay từ ngày đầu mới thành lập, Nhà nước Việt Nam non trẻ đã quan tâm đến việc kiểm soát hàng hoá có ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và đời sống của nhân dân Vì vậy, pháp luật hình sự của Nhà nước cách mạng Việt Nam đã quy định về các hành vi phạm tội liên quan đến buôn bán, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Tuy nhiên, với kỹ thuật lập pháp còn sơ khai nên các quy định về các tội phạm này vẫn còn những hạn chế nhất định Vì vậy, qua mỗi giai đoạn phát triển, Nhà nước ta lại tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự trong đó có các quy định về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Cho đến nay, tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015
Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm có nhiều dấu hiệu khá tương đồng với các tội phạm khác.Vì vậy, đòi hỏi các nhà áp dụng pháp luật phải đánh giá
kỹ lưỡng khách thể của tội phạm và đối tượng của tội phạm để xác định chính xác tội danh
Trang 39Chương 2 QUY ĐỊNH VỀ TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG THỜI GIAN VỪA QUA
2.1 Quy định về Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trong Bộ luật hình sự năm 2015
2.1.1 Dấu hiệu pháp lý của Quy định về Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trong Bộ luật hình sự năm 2015
Về khách thể của tội phạm: Khách thể của tội tàng trữ, vận chuyển
hàng cấm là độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Đối tượng trực tiếp của tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là mặt hàng mà Nhà nước cấm kinh doanh Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam thì các hàng hoá sau được bị cấm kinh doanh:
(1) Vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyện dùng quân sự, công an; quân trang (bao gồm cả phù hiệu, cấp hiệu, quân hiệu của quân đội, công an), quân dụng cho lực lượng vũ trang; linh kiện, bộ phận, phụ tùng, vật tư và trang thiết bị đặc chủng, công nghệ chuyên dùng chế tạo chúng;
(2) Các chất ma tuý (3) Hóa chất bảng 1 (theo Công ước quốc tế) (4) Các sản phẩm văn hóa phản động, đồi trụy, mê tín dị đoan hoặc có hại tới giáo dục thẩm mỹ, nhân cách
(5) Các loại pháo (6) Đồ chơi nguy hiểm, đồ chơi có hại tới giáo dục nhân cách
và sức khỏe của trẻ em hoặc tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội (bao gồm các chương trình trò chơi điện tử)
Trang 40(7) Thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật cấm hoặc chưa được phép sử dụng tại Việt Nam;
(8) Thực vật, động vật hoang dã (bao gồm cả vật sống và các
bộ phận của chúng đã được chế biến) thuộc danh mục điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên quy định và các loại thực vật, động vật quý hiếm thuộc danh mục cấm khai thác và sử dụng
(9) Thủy sản cấm khai thác, thủy sản có dư lượng chất độc hại vượt quá giới hạn cho phép, thủy sản có độc tố tự nhiên gây nguy hiểm đến tính mạng của con người
(10) Phân bón không có trong danh mục được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng tại Việt Nam
(11) Giống cây trồng không có trong danh mục được phép sản xuất, kinh doanh; giống cây trồng gây hại đến sản xuất và sức khỏe con người, môi trường, hệ sinh thái
(12) Giống vật nuôi không có trong danh mục được phép sản xuất, kinh doanh; giống vật nuôi gây hại cho sức khỏe con người, nguồn gen vật nuôi, môi trường, hệ sinh thái
(13) Khoáng sản đặc biệt, độc hại (14) Phế liệu nhập khẩu gây ô nhiễm cho môi trường (15) Các loại thuốc chữa bệnh cho người, các loại vắc xin, sinh phẩm y tế, mỹ phẩm, hóa chất và chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn trong lĩnh vực gia dụng và y tế chưa được phép sử dụng tại Việt Nam
(16) Các loại trang thiết bị y tế chưa được phép sử dụng tại Việt Nam
(17) Phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, vi chất dinh dưỡng, thực phẩm chức năng, thực phẩm có nguy cơ cao,