Mỗi một hành vi, quyết định của lực lượng Công an nhân dân là nhân danh Nhà nước thực thi pháp luật, đều có ảnh hưởng nhất dịnh đến người dân cả về tính mạng, danh dự, nhân phẩm, tài sản
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HẢI HÀ
GI¸O DôC PH¸P LUËT CHO C¸N Bé, CHIÕN SÜ
LùC L¦îNG C¤NG AN NH¢N D¢N - QUA THùC TIÔN CñA C¶NH S¸T PHßNG CH¸Y CH÷A CH¸Y THµNH PHè H¶I PHßNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HẢI HÀ
GI¸O DôC PH¸P LUËT CHO C¸N Bé, CHIÕN SÜ
LùC L¦îNG C¤NG AN NH¢N D¢N - QUA THùC TIÔN CñA C¶NH S¸T PHßNG CH¸Y CH÷A CH¸Y THµNH PHè H¶I PHßNG
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 8380101.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ PHƯƠNG NGA
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Hải Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Lê Thị Phương Nga, người hướng dẫn khoa học và có công rất lớn giúp tôi thực hiện luận văn này Cô rất tận tâm, nhiệt tình để giúp tôi rõ hơn về vấn đề giáo dục pháp luật, các vấn đề lý luận và thực tiễn, cung cấp nhiều tài liệu quý báu cho tôi và rất chu đáo trong việc xem xét, hướng dẫn tôi chỉnh sửa luận văn
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo lớp Cao học Khóa 22 chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật đã giúp tôi lĩnh hội những kiến thức cơ bản và kiến thức liên quan đến nội dung luận văn
Xin trân trọng cảm ơn Khoa Luật Đại học Quốc gia, các thầy cô giáo Khoa Luật, Phòng Đào tạo và Bộ môn Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
đã tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt thời gian khóa học và thực hiện luận văn
Xin cảm ơn các bạn đồng môn, Lãnh đạo và cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát phòng cháy chữa cháy thành phố Hải Phòng, Công an thành phố Hải Phòng, Công an thành phố Hà Nội, các cá nhân đã trao đổi, thảo luận và cung cấp những thông tin, tư liệu hữu ích liên quan đến đề tài luận văn
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình và những người bạn đã ủng hộ, động viên, khích lệ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 26 tháng 02 năm 2019
Tác giả Luận văn
Lê Thị Hải Hà
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ CÔNG AN NHÂN DÂN 7
1.1 Cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật 7
1.1.1 Khái niệm về giáo dục pháp luật 7
1.1.2 Đặc điểm của giáo dục pháp luật 9
1.1.3 Vị trí, vai trò của giáo dục pháp luật 17
1.2 Một số yếu tố tác động đến giáo dục pháp luật 18
1.2.1 Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật 19
1.2.2 Trình độ phát triển kinh tế 19
1.2.3 Điều kiện xã hội, văn hóa, tư tưởng 20
1.3 Giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân 21
1.3.1 Nhận thức chung về lực lượng Công an nhân dân 21
1.3.2 Đặc thù giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân 27
1.3.3 Sự cần thiết phải giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân 34
1.3.4 Cơ sở pháp lý về hoạt động giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân 36
Kết luận chương 1 40
Chương 2: THỰC TIỄN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ CỦA CẢNH SÁT PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 41
Trang 62.1 Khái quát về lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy
thành phố Hải Phòng 41 2.2 Giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát phòng
cháy chữa cháy thành phố Hải Phòng 51
2.2.1 Quan điểm của cấp ủy, lãnh đạo Cảnh sát phòng cháy chữa
cháy thành phố Hải Phòng về công tác giáo dục pháp luật cho
cán bộ, chiến sĩ 51 2.2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục pháp luật của
Cảnh sát phòng cháy chữa cháy thành phố Hải Phòng 53 2.2.3 Nội dung giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát
phòng cháy chữa cháy thành phố Hải Phòng 56 2.2.4 Hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ
Cảnh sát phòng cháy chữa cháy thành phố Hải Phòng 60 2.2.5 Công tác kiểm tra 68
2.3 Nhận xét chung về công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ,
chiến sĩ Cảnh sát phòng cháy chữa cháy thành phố Hải Phòng 71
2.3.1 Những kết quả đạt được, hạn chế tồn tại 71 2.3.2 Nguyên nhân của những kết quả đạt được và hạn chế tồn tại
trong công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ của Cảnh
sát phòng cháy chữa cháy thành phố Hải Phòng 72
Kết luận chương 2 75 Chương 3: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ LỰC LƯỢNG
CÔNG AN NHÂN DÂN 76 3.1 Quán triệt nghiêm túc đường lối, quan điểm và định hướng
của Đảng, Nhà nước; nâng cao hơn nữa nhận thức và trách
nhiệm của tổ chức đảng, cấp ủy, lãnh đạo công an các cấp 76 3.2 Tăng cường đổi mới nội dung và hình thức giáo dục pháp luật 77
Trang 73.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục
pháp luật 79
3.4 Phát huy tính chủ động, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ 81
3.5 Tăng cường nguồn kinh phí cho công tác giáo dục pháp luật trong Công an nhân dân 82
3.6 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật 82
Kết luận chương 3 84
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội và giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật, giúp đưa pháp luật đi vào đời sống Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa to lớn của công tác giáo dục pháp luật mà trong rất nhiều văn kiện của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã đề cấp đến công tác giáo dục pháp luật Nhiệm vụ giáo dục pháp luật đã được Đảng ta xác định là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, có tầm quan trọng rất lớn trong quản lý nhà nước và đời sống xã hội, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Công an nhân dân là lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng và Nhà nước, được giao những thẩm quyền đặc biệt, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh và trật tự an toàn cho xã hội Trải qua 73 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng Công an nhân dân luôn gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, được Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện, được nhân dân chăm lo, tin yêu, đùm bọc và giúp đỡ Qua mỗi giai đoạn cách mạng, với tư cách là lực lượng nòng cốt, lực lượng Công an nhân dân đã kịp thời tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ nhân dân, phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển của đất nước Bước vào thời kỳ đổi mới, Công an nhân dân tiếp tục được xác định là lực lượng vũ trang tin cậy, sắc bén của Đảng, Nhà nước, là nòng cốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh trật tự; yêu cầu xây dựng trở thành lực lượng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đấu tranh có hiệu quả với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản
Trang 92
động, tội phạm, giữ vững an ninh trên các địa bàn, lĩnh vực trọng điểm, tạo chuyển biến rõ nét về trật tự an toàn xã hội, đẩy mạnh cải cách hành chính, rèn luyện lễ tiết, tác phong, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường đoàn kết thống nhất nội bộ, gắn bó chặt chẽ với nhân dân Mỗi một hành vi, quyết định của lực lượng Công an nhân dân là nhân danh Nhà nước thực thi pháp luật, đều có ảnh hưởng nhất dịnh đến người dân cả về tính mạng, danh dự, nhân phẩm, tài sản.Vì vậy, khi mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân thực hiện nhiệm vụ, trước hết phải nhận thức sâu sắc trách nhiệm và thẩm quyền của mình để đảm bảo tối đa các quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân Việc giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân giúp trang bị cho cán bộ, chiến sĩ những kiến thức cơ bản và cần thiết về pháp luật để họ có thể vận dụng vào xử lý, giải quyết các công việc hàng ngày Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân cũng chính là những người tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân thông qua các nhiệm vụ, công tác chuyên môn của mình Vì vậy, cần thiết, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân phải có trình
độ hiểu biết pháp luật toàn diện, sâu sắc, có thái độ tôn trọng pháp luật, có hành vi chấp hành pháp luật nghiêm chỉnh
Nhận thức rõ vị trí, vai trò quan trọng của công tác giáo dục pháp luật đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, trong suốt hơn 73 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, bên cạnh nhiệm
vụ bảo vệ an ninh, trật tự, Đảng ủy Công an trung ương và lãnh đạo Bộ Công
an đã có những quan tâm, chỉ đạo cụ thể, thiết thực đối với công tác giáo dục pháp luật trong Công an nhân dân Đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật trong Công an nhân dân nhằm xây dựng lực lượng Công an nhân dân thực sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng, cơ cấu hợp lý, xây dựng lực lượng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức Đẩy mạnh các phong trào “Học
Trang 103
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, “Học tập và thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân”, “Xây dựng phong cách người Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ”… bằng những biện pháp phong phú, sáng tạo, thiết thực để không ngừng nâng cao chất lượng cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân
có chuyên môn nghiệp vụ, có đức, có tài trở thành yêu cầu khách quan, cấp bách của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta hiện nay
Với ý nghĩa thiết thực của công tác giáo dục pháp luật đối với cán bộ,
chiến sĩ Công an nhân dân, việc nghiên cứu đề tài luận văn “Giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng Công an nhân dân - qua thực tiễn của Cảnh sát phòng cháy chữa cháy thành phố Hải Phòng” có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn sâu sắc, đáp ứng yêu cầu công tác giáo dục pháp luật, chính trị, tư tưởng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân, đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
2 Tình hình nghiên cứu
Các nghiên cứu về giáo dục pháp luật ở Việt Nam khá phong phú, đề cập tới các lĩnh vực khác nhau, từ vai trò, vị trí, phương pháp, giáo dục pháp luật đối với các đối tượng, tại các địa phương cụ thể có thể chia các nghiên cứu đó ra thành các nhóm như sau:
* Các đề tài khoa học, luận văn, luận án
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới‟‟, do Bộ Tư pháp chủ trì
thực hiện, hoàn thành năm 1995;
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, „„Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chương trình quốc gia về phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn tới‟‟, do Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện, hoàn
thành năm 2004;
Trang 114
- Đề tài khoa học cấp tỉnh, “Nghiên cứu đề xuất giải pháp đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Trị‟‟, do Sở Tư pháp Quảng Trị
chủ trì thực hiện, hoàn thành tháng 4 năm 2015;
- Vũ Ngọc Bích, “Giáo dục pháp luật trong quân đội nhân dân Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Đề tài thạc sĩ Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội năm 2011;
- Phạm Kim Dung, “Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cơ quan hành chính ở thành phố Hà Nội hiện nay‟‟, Đề tài thạc sĩ Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội năm 2011;
- Nguyễn Thị Thu Phương, “Báo chí công an nhân dân với việc giáo dục pháp luật cho lực lượng công an nhân dân‟‟, Đề tài thạc sĩ truyền thông
đại chúng, Đại học khoa học xã hội và nhân văn năm 2006;
- Trần Phúc Lộc, “Giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên ở thành phố Hà Nội hiện nay - thực trạng và giải pháp‟‟, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2011
* Các sách tham khảo, chuyên khảo
- Tác giả Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai (chủ biên), “Bàn về giáo dục pháp luật”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1995;
- Tác giả Đào Trí Úc (chủ biên), “Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật”, Hà Nội năm 1995
Kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên giúp làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giáo dục pháp luật, giúp cho các chủ thể có thẩm quyền có cơ sở trong việc xây dựng
kế hoạch, thực hiện các phương nhằm tổ chức pháp giáo dục pháp luật một cách hiệu quả
Tác giả lựa chọn đề tài “Giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng Công an nhân dân - qua thực tiễn của Cảnh sát phòng cháy chữa cháy thành phố Hải Phòng” với mong muốn qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn
Trang 125
công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân từ đó đưa
ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng Công an nhân dân hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu công tác giáo dục pháp luật đối với cán bộ, chiến
sĩ Công an nhân dân
- Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về giáo dục pháp luật đối với cán bộ, chiến sĩ Công
an nhân dân và đánh giá thực trạng công tác giáo dục pháp luật đối với cán bộ, chiến sĩ của Cảnh sát phòng cháy chữa cháy thành phố Hải Phòng từ năm 2014 đến năm 2018, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị về phương hướng nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Đề tài căn cứ vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sử dụng phương
pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, luận văn sử
dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
+ Thu thập, hệ thống và phân tích các Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật, tư liệu, báo cáo liên quan đến giáo dục pháp luật và công tác chỉ đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước đối với công tác giáo dục pháp luật
thời gian qua;
+ Khảo sát thực tiễn, đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục pháp luật
đối với cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát phòng cháy chữa cháy thành phố Hải Phòng
Trang 136
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Luận văn đã đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn, góp phần làm sáng tỏ thực trạng công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân và đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện, nâng cao chất lượng giáo
dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân trong giai đoạn hiện nay
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn được cấu trúc làm ba chương gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật và giáo dục pháp luật
cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân
Chương 2: Thực tiễn giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ của Cảnh
sát phòng cháy chữa cháy thành phố Hải Phòng
Chương 3: Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ
lực lượng Công an nhân dân
Trang 147
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ CÔNG AN NHÂN DÂN
1.1 Cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật
1.1.1 Khái niệm về giáo dục pháp luật
Thuật ngữ “giáo dục” xuất hiện từ khá sớm, được sử dụng nhiều với nhiều nghĩa khác nhau, nhưng đều phản ánh một hình thức hoạt động sáng tạo đặc biệt, chỉ một lĩnh vực hoạt động có vị trí hết sức quan trọng trong đời sống xã hội của con người
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam, năm 1992, định nghĩa thì: “Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực yêu cầu đề ra” [59]
Từ quan điểm tiếp cận này, giáo dục vừa là hoạt động vừa là công cụ nhận thức có nhiệm vụ chính là hình thành và phát triển một cách toàn diện, có định hướng đối với con người, giúp con người đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển trong xã hội đương đại Do đó, giáo dục giúp thúc đẩy sự phát triển
xã hội, làm cho con người ngày càng nâng cao trình độ nhận thức, văn minh, nhân ái, sống tốt hơn Thông qua hoạt động giáo dục, con người ngày càng hiểu biết, nắm được các tri thức nhân loại, hiểu được các quy luật vận động của xã hội và biết cách để vận dụng chúng để thúc đẩy sự phát triển xã hội theo hướng có lợi cho đời sống con người
Thực tiễn cho thấy, hoạt động giáo dục là quá trình hoạt động một cách
có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người đạt được những yêu cầu đề ra như phẩm chất đạo đức, tri thức cần thiết
để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội
Trang 158
Từ đó, giáo dục pháp luật có thể hiểu là công tác, lĩnh vực hoạt động có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức của chủ thể giáo dục pháp luật tác động đến đối tượng được giáo dục thông qua các phương pháp, hình thức nhất định giúp họ hình thành và phát triển hệ thống tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành Giáo dục pháp luật bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện giáo dục pháp luật như định hướng công tác giáo dục pháp luật; xây dựng và triển khai các chương trình, kế hoạch giáo dục pháp luật thông qua việc áp dụng các hình thức, biện pháp cụ thể; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chương trình, kế hoạch giáo dục pháp luật
Như vậy, giáo dục pháp luật có thể hiểu là hoạt động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức của cơ quan, người có thẩm quyền tác động lên đối tượng giáo dục một cách hệ thống và thường xuyên nhằm trang
bị cho họ những tri thức pháp luật cần thiết, để từ đó xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật, niềm tin vào pháp luật, giúp họ hình thành thói quen và hành
vi xử sự tích cực phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành
Giáo dục pháp luật giúp nâng cao tri thức pháp luật của mỗi công dân, giúp họ tuân thủ, chấp hành và sử dụng các quy định của pháp luật một cách
tự giác, chủ động, tích cực, xây dựng tình cảm và thói quen tuân thủ pháp luật, biến những đòi hỏi khách quan của pháp luật thành nhu cầu của bản thân, góp phần phát huy vai trò, hiệu lực pháp luật; nâng cao hiệu quả, hiệu lực của quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
So với hoạt động tuyên truyền và phổ biến pháp luật thì giáo dục pháp luật có mục tiêu cao hơn, có nội dung phong phú hơn, cách thức tiến hành toàn diện và hệ thống hơn Giáo dục pháp luật phải vừa có tính định hướng, vừa có tính hệ thống nhằm đảm bảo cho đối tượng giáo dục được nâng cao cả
Trang 169
về kiến thức pháp luật, kỹ năng thực hiện pháp luật và qua đó nâng cao ý thức, thái độ tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành và bảo vệ pháp luật Xét dưới góc độ nhất định có thể coi tuyên truyền, phổ biến pháp luật là các phương pháp giáo dục pháp luật cụ thể
1.1.2 Đặc điểm của giáo dục pháp luật
1.1.2.1 Mục đích, yêu cầu giáo dục pháp luật
Mục đích của giáo dục pháp luật được xem xét trên nhiều góc độ phụ thuộc vào các yếu tố như đối tượng, nội dung, quy mô, hình thức giáo dục pháp luật, nhưng phải đáp ứng được các yêu cầu cụ thể của xã hội ở từng giai đoạn, điều kiện lịch sử cụ thể Việc xác định rõ mục đích, yêu cầu của giáo dục pháp luật cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định nội dung, hình thức, phương tiện, phương pháp giáo dục pháp luật Mục đích của giáo dục pháp luật được nhìn nhận qua ba tiêu chí cụ thể, đó là:
Một là, mục đích về nhận thức, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao khả
năng nhận thức pháp lý, sự hiểu biết về pháp luật để hình thành một tri thức pháp luật cần thiết, đúng đắn, giúp nâng cao nhận thức về quyền và trách nhiệm của mỗi công dân
Đây là mục đích hàng đầu bởi vì giáo dục pháp luật giúp hình thành, làm sâu sắc văn hóa pháp lý của mỗi người dân, giúp tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật Pháp luật là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, pháp luật phản ánh ý chí, nguyện vọng của người dân Một trong những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là thượng tôn pháp luật, pháp luật phải luôn được đặt ở vị trí cao nhất, không một cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào đứng ngoài pháp luật, “phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật” [31],
“thường xuyên giáo dục pháp luật, xây dựng ý thức sống và làm việc theo
Trang 1710
pháp luật” [29] Tuy nhiên thực tế, do nhiều yếu tố, mức độ hiểu biết pháp luật của người dân còn thấp, không đồng đều, còn chịu nhiều ảnh hưởng bởi thói quen, nếp sống, tư tưởng thì không phải lúc nào tất cả người dân cũng đều tự biết hay chủ động tìm hiểu, ủng hộ và chấp hành pháp luật Thông thường người dân chỉ tìm hiểu pháp luật xuất phát từ nhu cầu nhất định của
họ trong cuộc sống, bên cạnh đó, điều kiện đời sống chưa đồng đều, khả năng tiếp cận pháp luật của nhiều người dân còn thấp, công tác giáo dục đôi khi chưa được coi trọng dẫn đến tình trạng giảm sút lòng tin của nhân dân đối với pháp luật, với Đảng và Nhà nước
Vì vậy, muốn pháp luật được thực hiện nghiêm túc, phát huy được đầy
đủ vai trò, chức năng của mình đòi hỏi pháp luật phải được thẩm thấu trong nhận thức mỗi người dân Tuy nhiên, bản thân pháp luật không thể tự nó đến với mỗi người mà bắt buộc phải thông qua hoạt động giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật cần thông qua nhiều hình thức, biện pháp khác nhau tác động đến ý thức của người dân, tạo ra sự quan tâm đối với pháp luật từ chỗ không để ý đến pháp luật, người dân bắt đầu hình thành sự quan tâm và chủ động tìm kiếm tri thức, dần nâng cao văn hóa pháp lý ở họ Tóm lại, giáo dục pháp luật chính là phương tiện truyền tải những thông tin, những yêu cầu, nội dung và các quy định pháp luật đến với người dân, giúp cho người dân nắm bắt pháp luật một cách kịp thời, hỗ trợ tích cực để nâng cao nhận thức pháp luật cho nhân dân
Hai là, mục đích cảm xúc, giáo dục pháp luật giúp hình thành, khơi dậy
ở người dân tình cảm tích cực, niềm tin và thái độ đúng đắn đối với pháp luật Pháp luật chỉ có thể được thực hiện hiệu quả khi người dân tin tưởng vào các quy định của pháp luật Chỉ có niềm tin vào pháp luật mới khiến cho người dân thực hiện các quy định của pháp luật một cách tự giác mà không cần đến bất kỳ một biện pháp cưỡng chế nào Nếu chỉ có kiến thức pháp luật mà
Trang 18sẽ lấy lợi ích của đông đảo nhân dân trong xã hội làm tiêu chí, thước đo Giáo dục pháp luật cần phải tạo nên sự đồng tình ủng hộ pháp luật Cần thiết phải giáo dục ý thức trách nhiệm ở mọi lúc mọi nơi, lên án, phê phán những biểu hiện coi thường pháp luật, có như vậy mới hình thành lòng tin vào pháp luật của đông đảo nhân dân trong xã hội
Pháp luật chỉ có thể được mọi người thực hiện nghiêm chỉnh khi họ có niềm tin vào những quy định của pháp luật, sự công bằng của pháp luật Pháp luật được xây dựng là để bảo vệ cho quyền và lợi ích chính đáng của người dân, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, đảm bảo công bằng và dân chủ xã hội Vì vậy, nếu người dân hiểu và nhận thức đầy đủ thì mọi người sẽ tự giác thực hiện pháp luật mà không cần bất kỳ một biện pháp cưỡng chế nào Cần thiết phải giáo dục cho mỗi người niềm tin vào tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật, thái độ về sự công bằng, trách nhiệm, đấu tranh không khoan nhượng đối với các hành vi vi phạm pháp luật,
Ba là, mục đích hành vi, giáo dục pháp luật giúp hình thành động cơ,
hành vi nhằm hình thành thói quen xử sự theo pháp luật Động cơ và hành vi hợp pháp là kết quả của quá trình nhận thức, đấu tranh tâm lý từ không đồng tình đến đồng tình, từ bất mãn đến chấp nhận Từ đó mỗi người dân xây dựng cho bản thân thói quen tuân thủ theo pháp luật Giáo dục pháp luật hướng tới
Trang 1912
hình thành ở đối tượng được giáo dục động cơ, hành vi xử sự theo các nguyên tắc, quy định của pháp luật, chính là hiện thực hóa mục tiêu nhận thức và mục tiêu tình cảm, thể hiện sự chuyển hóa từ nhận thức sang hành vi
Việc chấp hành pháp luật của người dân chỉ có thể được nâng cao khi công tác giáo dục pháp luật cho người dân được tiến hành thường xuyên, kịp thời và có tính thuyết phục Giáo dục pháp luật không chỉ là tuyên truyền các văn bản pháp luật mà còn hình thành, định hướng dư luận xã hội theo hướng lên án, đấu tranh các hành vi vi phạm pháp luật, ủng hộ các hành vi thực hiện đúng pháp luật Giáo dục pháp luật giúp mỗi người hình thành, củng cố tình cảm tốt đẹp của họ với pháp luật, đồng thời ngày càng nâng cao
sự hiểu biết đối với các văn bản pháp luật và các hiện tượng pháp luật trong đời sống, từ đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật biểu hiện qua hành vi, và ngược lại, khi người dân có thói quen tuân thủ pháp luật thì niềm tin vào pháp luật sẽ ngày càng được củng cố, người dân sẽ chủ động cập nhật các kiến thức pháp luật
Tóm lại, mục đích của giáo dục pháp luật là nhằm cung cấp những thông tin, những yêu cầu, nội dung quy định pháp luật đến người dân, giúp người dân hiểu biết, nâng cao nhận thức pháp luật, hình thành lòng tin vào pháp luật, tạo thói quen hành xử, ý thức tự giác, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của họ Giáo dục pháp luật còn thể hiện tính công khai, minh bạch, công bằng của pháp luật hướng tới mục đích cuối cùng là thực hiện quản lý nhà nước bằng pháp luật, tạo sự ổn định, phát triển xã hội, đảm bảo cao nhất các quyền con người, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Để có thể thực hiện hiệu quả công tác giáo dục pháp luật phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:
Một là, giáo dục pháp luật phải đảm bảo đúng đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng về giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật là khâu đầu
Trang 2013
tiên của hoạt động thực thi pháp luật, là mắt xích quan trọng để chuyển tải pháp luật vào đời sống, vì thế, giáo dục pháp luật là một công tác quan trọng, đòi hỏi phải được tổ chức chặt chẽ, có định hướng, có kế hoạch và có sự phối hợp giữa nhiều có quan nhà nước, tổ chức xã hội, nhiều cấp, nhiều ngành
Hai là, giáo dục pháp luật phải bảo đảm tính khoa học, chính xác, trung
thành với nội dung của văn bản pháp luật Giáo dục pháp luật khác với các loại hình giáo dục khác ở chỗ nội dung được giáo dục là những quy định về quy tắc xử sự được nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện Các quy định này được cấu trúc chặt chẽ từ tinh thần đến lời văn thể hiện Do đó việc giáo dục pháp luật phải đảm bảo nguyên tắc khoa học, chính xác, trung thành với nội dung của văn bản pháp luật Đối với các điều luật thì khi thực hiện giáo dục phải hết sức chuẩn xác, không được nói sai, thông tin sai hoặc thiếu chính xác, gây nhầm lẫn
Ba là, giáo dục pháp luật phải đảm bảo tính chính xác của hệ thống
các quy định của Hiến pháp, luật, pháp lệnh, các văn bản pháp luật khác (Nghị quyết của Quốc Hội, nghị định của Chính phủ, thông tư liên tịch, thông tư của Bộ trưởng, nghị quyết của Hội đồng nhân dân ) về một hoặc một số nội dung pháp luật cụ thể để người được giáo dục pháp luật hiểu đúng, đầy đủ và có hệ thống quy phạm pháp luật về một hoặc một số nội dung pháp luật cần giáo dục
Bốn là, giáo dục pháp luật phải đảm bảo tính kịp thời, thường xuyên và
có trọng tâm, trọng điểm Pháp luật là hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc
xã hội, phản ánh cơ sở kinh tế, vì thế, pháp luật thường xuyên được xây dựng, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển từng giai đoạn của đất nước
Là khâu đầu tiên, cầu nối để đưa các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống
vì vậy giáo dục pháp luật phải đảm bảo tính kịp thời, thường xuyên và có trọng tâm, trọng điểm, gắn liền với việc thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước
Trang 2114
Năm là, giáo dục pháp luật phải bảo đảm tính đại chúng, phù hợp đối
tượng, dễ hiểu, dễ áp dụng Đối tượng của giáo dục pháp luật đa dạng với nhiều thành phần trong xã hội Trình độ hiểu biết, nhận thức, nhu cầu về pháp luật và điều kiện, khả năng tìm hiểu, tiếp cận pháp luật cũng rất khác nhau Vì vậy thực hiện công tác giáo dục pháp luật phải xuất phát từ đối tượng, phải hiểu họ thiếu những gì, phải nắm được trình độ văn hóa, nghề nghiệp, giới tính, dân tộc, điều kiện môi trường xung quanh, của đối tượng
để xác định, lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp, cách thức giáo dục pháp luật cho phù hợp Bên cạnh đó trình độ văn hóa pháp lý, ý thức pháp luật của người dân còn chưa đồng đều vì thế việc giáo dục pháp luật cần phải đảm bảo tính đại chúng, giản dị, ngôn ngữ pháp luật đơn giản, cách thức diễn đạt dễ hiểu, nhất quán
1.1.2.2 Chủ thể giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật được tiến hành bởi nhiều chủ thể, là tất cả những cá nhân, tổ chức có trách nhiệm xã hội phải tham gia vào việc thực hiện các mục đích, mục tiêu giáo dục pháp luật cho đối tượng tiếp nhận pháp luật Các chủ thể giáo dục pháp luật rất đa dạng, với địa vị pháp lý, phương pháp khác nhau nhưng cùng chung một mục đích là hướng đến việc hình thành nhận thức, tình cảm, thói quen hành xử theo pháp luật của đối tượng giáo dục Theo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, chủ thể có trách nhiệm giáo dục pháp luật
là các cơ quan trong bộ máy nhà nước, Ủy ban Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên, các tổ chức hành nghề về pháp luật, tổ chức xã hội nghề nghiệp về pháp luật, cơ sở đào tạo luật, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chức danh tư pháp, của các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân và các gia đình,
cá nhân trong xã hội , có thể chia thành các nhóm:
- Nhóm chủ thể được giao nhiệm vụ chuyên làm công tác giáo dục pháp luật như các giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật
- Nhóm chủ thể không chuyên làm công tác giáo dục pháp luật nhưng
Trang 2215
trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao họ cũng tiến hành giáo dục pháp luật như cán bộ Tòa án, Viện kiểm sát, các cán bộ quản lý, các cán bộ công chức, viên chức,
- Nhóm chủ thể không được giao nhiệm vụ giáo dục pháp luật nhưng
do có trách nhiệm với cộng đồng họ cũng thực hiện hoạt động giáo dục pháp luật như các thành viên của các tổ chức chính trị, tổ chức quần chúng, cá nhân công dân am hiểu pháp luật
Trong giáo dục pháp luật, việc phân nhóm chủ thể là cần thiết phụ thuộc vào nội dung, đặc thù công việc, cùng với đối tượng giáo dục pháp luật cũng rất đa dạng và ở nhiều trình độ khác nhau, nhu cầu cần được giáo dục pháp luật cũng khác nhau nên việc xác định chủ thể phù hợp với đối tượng giáo dục pháp luật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luật
1.1.2.3 Đối tượng giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật có đối tượng tiếp nhận giáo dục rộng lớn, đa dạng
Tùy từng hình thức, nội dung giáo dục pháp luật mà đối tượng được xác định
cụ thể phù hợp, nhưng tựu trung, đối tượng tiếp nhận giáo dục có thể là tất cả các thành viên trong xã hội, ở bất cứ lứa tuổi, giới tính, trình độ, tôn giáo nào, trừ những đối tượng có nhược điểm về tâm thần theo quy định của pháp luật
Nhóm đối tượng giáo dục pháp luật có thể phân thành nhiều loại dựa vào các tiêu chí khác nhau Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã nhấn mạnh đến nhóm đối tượng là người dân ở vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và ngư dân; nhóm người lao động trong các doanh nghiệp; nhóm nạn nhân bạo lực gia đình; người khuyết tật; người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; người đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Trang 2316
Việc phân hóa đối tượng giáo dục pháp luật như vậy để có thể xác định phương pháp, nội dung và mức độ giáo dục phù hợp, phát huy tối đa hiệu
quả giáo dục
1.1.2.4 Nội dung giáo dục pháp luật
Tùy từng quốc gia, hệ thống pháp luật cũng như đối tượng giáo dục pháp luật khác nhau mà nội dung pháp luật có sự khác nhau nhất định Theo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, nội dung giáo dục pháp luật bao gồm quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật ; các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các thỏa thuận quốc tế; ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật
Tóm lại, nội dung giáo dục pháp luật là các vấn đề liên quan đến pháp
luật và đời sống pháp lý, bao gồm các loại thông tin về pháp luật và thực tiễn
thi hành, bảo vệ pháp luật một cách có hệ thống và thường xuyên, qua đó bồi dưỡng các đối tượng giáo dục pháp luật những nhận thức, tình cảm đúng đắn, lòng tin vào pháp luật, biết cách vận dụng những tri thức pháp luật để phân tích, lý giải những vấn đề thực tiễn, làm cơ sở định hướng và lựa chọn cách
xử sự phù hợp trong những hoàn cảnh cụ thể
1.1.2.5 Hình thức, phương pháp của giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật có phương pháp và hình thức giáo dục phong phú, xuất phát từ sự đa dạng về chủ thể, đối tượng giáo dục mà giáo dục pháp luật
có thể áp dụng nhiều phương pháp và hình thức Phương pháp, hình thức giáo dục pháp luật hiểu cơ bản là cách thức, loại hình mà các chủ thể giáo dục tiến hành giáo dục pháp luật cho các đối tượng tiếp nhận nhằm hiện thực hóa các mục tiêu giáo dục pháp luật Hình thức giáo dục pháp luật là cách thức mà chủ thể giáo dục sử dụng để thực hiện quá trình tác động có mục đích các nội
Trang 2417
dung, yêu cầu giáo dục pháp luật vào ý thức và tâm lí của đối tượng được giáo dục nhằm định hướng cho các hoạt động pháp lý Do nội dung giáo dục, đối tượng giáo dục khác nhau nên cần đa dạng hóa các hình thức giáo dục và phương pháp giáo dục bảo đảm thực hiện có hiệu quả cao nhất
Việc xác định phương pháp, hình thức giáo dục pháp luật phù hợp góp phần quyết định chất lượng, hiệu quả của hoạt động này Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã quy định khá nhiều hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật như họp báo, thông cáo báo chí; phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật; thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; thi tìm hiểu pháp luật; qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và hoạt động khác của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở; các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác phù hợp với từng đối tượng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để bảo đảm cho công tác giáo dục pháp luật đem lại hiệu quả
1.1.3 Vị trí, vai trò của giáo dục pháp luật
Thực tế cho thấy hoạt động quản lý của nhà nước chỉ có thể đạt hiệu quả khi được sự đồng thuận của nhân dân và pháp luật chỉ có thể thực sự trở thành công cụ điều chỉnh khi được người dân ghi nhận, tự nguyện chấp hành Tuy nhiên thực tế không phải bất kỳ trường hợp nào người dân cũng có thể tự hiểu và nhận thức được sự cần thiết của pháp luật đối với xã hội, vì vậy hoạt động giáo dục pháp luật giúp cho người dân hiểu được giá trị của pháp luật, lợi ích của việc tuân thủ, chấp hành pháp luật, nhận ra tính công bằng của pháp luật, từ đó tự nguyện chấp hành pháp luật, tôn trọng và bảo vệ pháp luật
Một trong những nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp luật là do nhận thức pháp luật, hiểu biết pháp luật, văn hóa pháp lý của một bộ phận
Trang 2518
nhân dân còn hạn chế Do đó, việc nâng cao nhận thức pháp luật, văn hóa pháp lý có quan hệ gắn bó mật thiết đến việc tăng cường pháp chế, xây dựng nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Giáo dục pháp luật bằng những hành động cụ thể, tác động trực tiếp đến trình độ văn hóa pháp lý của mỗi thành viên trong xã hội Vì vậy, không chỉ đòi hỏi nâng cao trình độ pháp lý của người dân mà cùng với đó đòi hỏi ở mỗi cán bộ, công chức, những người thực thi pháp luật ở các cơ quan nhà nước cũng phải có nhận thức pháp luật đúng đắn, ý thức gương mẫu chấp hành, tuân thủ, bảo vệ pháp luật và tăng cường năng lực thực thi pháp luật
Công tác phổ biến giáo dục pháp luật luôn có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; là khâu then chốt, quan trọng
để chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước thực sự đi vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức, hành động của từng cá nhân; góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật Giáo dục pháp luật là trách nhiệm của tất cả mọi cá nhân, tập thể
Các quy định pháp luật chỉ có hiệu quả khi được mọi thành viên trong
xã hội chấp hành nghiêm chỉnh Và việc đưa pháp luật vào cuộc sống, áp dụng pháp luật sẽ giúp bộc lộ những bất cập, không khả thi của một hoặc một số các quy định pháp luật, từ đó để kiến nghị, nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng văn bản mới để điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển của xã hội
1.2 Một số yếu tố tác động đến giáo dục pháp luật
Hoạt động giáo dục pháp luật tiến hành như thế nào phụ thuộc vào các điều kiện, đảm bảo xã hội của giáo dục pháp luật Các điều kiện này có thể thuộc về ý thức của chủ thể, đối tượng giáo dục pháp luật, cũng có thể là yếu
Trang 2619
tố bên ngoài Giữa chúng có quan hệ qua lại, cùng có tác động gián tiếp hoặc
trực tiếp lên giáo dục pháp luật
1.2.1 Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật
Giáo dục pháp luật là hoạt động mang tính định hướng, tác động vào các đối tượng tiếp nhận giáo dục nhằm làm cho các đối tượng này nhận thức một cách đúng đắn, đầy đủ nội dung, tinh thần chính sách, pháp luật của Nhà nước, các vấn đề pháp luật liên quan khác, từ đó hình thành tư duy, ứng xử phù hợp pháp luật giáo dục pháp luật phải tuân theo những quy định pháp luật cụ thể từ quy trình, nguyên tắc, định hướng, các điều kiện về chủ thể
Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật là yếu tố ảnh hưởng đến công tác giáo dục pháp luật, được đánh giá qua các tiêu chí: tính hệ thống, tính đồng
bộ, tính phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý cao Thể hiện mức độ đầy đủ của
hệ thống quy phạm pháp luật, nguyên tắc, mục đích và định hướng của pháp luật, là cơ sở để cung cấp toàn diện, đầy đủ, có hệ thống các kiến thức về pháp luật, còn nếu pháp luật không có tính hệ thống thì hoạt động giáo dục pháp luật
sẽ không được chủ động, đầy đủ, mang tính chắp vá và chồng chéo
Vì vậy, các quy định pháp luật không chỉ quyết định nội dung giáo dục pháp luật, nó còn tạo ra cơ sở pháp lý cho toàn bộ hoạt động giáo dục pháp luật, cho quá trình thực hiện quyền, trách nhiệm của Nhà nước và các chủ thể liên quan Nó cũng tạo ra hệ các tiêu chí để đánh giá hiệu quả hoạt động giáo dục pháp luật trong thực tiễn, là cơ sở pháp lý để xử lý các vi phạm pháp luật tương ứng phát sinh
1.2.2 Trình độ phát triển kinh tế
Kinh tế phát triển, nguồn thu ngân sách tăng cao là động lực thúc đẩy công tác giáo dục pháp luật diễn ra chất lượng và hiệu quả hơn, với nguồn lực kinh tế đủ mạnh, nhà nước có thể tập trung tạo điều kiện để đầu tư cho việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các cơ sở phục vụ công tác giáo dục
Trang 2720
pháp luật Chính sách đãi ngộ đối với chủ thể giáo dục pháp luật cũng tăng cao, việc mua sắm, trang bị các tài liệu, máy móc hệ thống cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giáo dục pháp luật sẽ cao và đầy đủ Nền kinh tế kém phát triển thì những cơ sở vật chất phục vụ việc giáo dục pháp luật cũng sẽ thiếu đồng bộ do đó công tác giáo dục pháp luật sẽ không thu được kết quả cao Kinh tế có tác động quyết định, tỷ lệ thuận với sự phát triển, hiệu quả của giáo dục pháp luật ở các khía cạnh như phạm vi, quy mô, nguồn lực thực hiện
Bên cạnh đó cơ chế kinh tế cũng ảnh hưởng tới hoạt động giáo dục pháp luật, cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay với mặt tích cực của nó sẽ tạo ra tư duy năng động, sáng tạo, linh hoạt, coi trọng chất lượng, uy tín, hiệu quả, đời sống vật chất và tinh thần được đảm bảo, cơ hội tiếp cận với các kiến thức pháp lý của người dân được mở rộng góp phần nâng cao chất lượng dân trí, văn hóa pháp lý Tuy nhiên những mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng tạo ra tâm lý sùng bái đồng tiền, bất chấp các chuẩn mực xã hội cũng tác động không nhỏ đến nhận thức, ý thức của các chủ thể, đối tượng giáo dục pháp luật, đòi hỏi công tác giáo dục pháp luật phải được tiến hành mạnh mẽ, triệt để nhằm định hướng đúng đắn trong nhận thức của mỗi người dân
1.2.3 Điều kiện xã hội, văn hóa, tư tưởng
Với truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí đấu tranh kiên cường nhân dân ta luôn tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, là điều kiện thuận lợi cho công tác giáo dục pháp luật đến với từng người dân Tuy nhiên trình độ văn hóa của người dân nước ta còn thấp, nhiều phong tục tập quán lạc hậu đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân, do đó công tác giáo dục pháp luật cần phải thực hiện một cách thường xuyên, lâu dài
Thực trạng hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật của người dân nước ta
Trang 2821
cũng chưa cao Một thời gian dài do ảnh hưởng của cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp nên chưa phát triển ý thức pháp luật, lối sống theo pháp luật, vì thế mà việc thay đổi thói quen, nếp sống, ý thức của người dân cũng là việc khó khăn, lâu dài Mặt khác khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, với những mặt tiêu cực, các tệ nạn xã hội, các hành vi suy đồi đạo đức, các hành
vi vi phạm pháp luật ngày càng tăng, thái độ bất chấp, coi thường pháp luật, thêm vào đó một thời gian dài công tác giáo dục pháp luật không thực sự được coi trọng, sự tự giác tuân theo pháp luật của người dân chưa cao, nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động giáo dục pháp luật
Yếu tố văn hóa, tư tưởng thường được xác định trong một môi trường
và không gian xã hội xác định Văn hóa góp phần quyết định hình thành và đào luyện nhân cách con người trong xã hội Nhân cách con người về cơ bản
có sự tương đồng với các chuẩn mực xã hội, với chuẩn mực pháp luật Các khía cạnh cơ bản của văn hóa, tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến giáo dục pháp luật gồm: các giá trị văn hóa, tư tưởng truyền thống và hiện đại, phong tục, tập quán, văn hóa, ý thức pháp luật, dư luận xã hội
1.3 Giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân
1.3.1 Nhận thức chung về lực lượng Công an nhân dân
Ngay sau thành công của Cách mạng tháng Tám, Đảng đã chủ trương thành lập lực lượng Công an nhân dân, miền Bắc thành lập Sở Liêm phóng và
Sở Cảnh sát, miền Trung có tên Sở Trinh sát và miền Nam có tên Quốc gia tự
vệ cuộc Sau thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử (6/01/1946), cuộc đấu tranh chống phản cách mạng diễn ra ngày càng phức tạp, đòi hỏi phải có sự thống nhất chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương, cơ sở Quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng, ngày 21/02/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 23-SL hợp nhất các cơ quan công an trong toàn quốc thành Việt Nam công an
vụ, với hai nhiệm vụ chính là tìm kiếm và tập trung các tin tức và tài liệu liên
Trang 29Ra đời trong bão táp của cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng, lực lượng Công an nhân dân đã nhanh chóng khẳng định vai trò nòng cốt của mình trong trận tuyến đấu tranh chống phản, mưu trí, dũng cảm, giành được nhiều chiến công xuất sắc đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ sự bình yên của nhân dân Từ đấy, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân đã không ngừng chiến đấu, xây dựng, trưởng thành, đóng góp trí tuệ, sức lực và máu xương cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng
và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trải qua nhiều những khó khăn, thử thách, lực lượng Công an nhân dân ngày càng lớn mạnh, đối mặt và chiến thắng kẻ thù, thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với đất nước và nhân dân Việt Nam; đoàn kết, tận tuỵ trong công tác; dũng cảm, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu; cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
ta đánh thắng mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm; góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, được nhân dân hết lòng đùm bọc, giúp đỡ, lực lượng Công an nhân dân luôn thể hiện sự
Trang 3023
trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách Ngay từ khi mới ra đời trong cao trào Cách mạng tháng Tám năm 1945, được Đảng giao trọng trách đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, thay đổi nhiều tên gọi, cơ cấu tổ chức, đến nay, tổ chức lực lượng Công an được phân chia thành các cấp từ trung ương đến địa phương; bao gồm an ninh nhân dân, cảnh sát nhân dân và công an xã Công an nhân dân có chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội; thực hiện thống nhất quản lý
về bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội; đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và các vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia trật tự an toàn xã hội
Hành trình lịch sử hơn 73 năm qua kể từ ngày thành lập, lực lượng Công an nhân dân được Đảng, Bác Hồ chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện, được nhân dân hết lòng tin yêu, đùm bọc, giúp đỡ, đã từng bước lớn mạnh, trưởng thành Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, lực lượng Công an nhân dân vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng, vừa khám phá các ổ nhóm gián điệp biệt kích, nội gián, vừa tổ chức những trận đánh táo bạo, chớp nhoáng nhằm vào các cơ quan thiết yếu quan trọng, đầu não của địch, vừa bảo vệ vững chắc căn cứ của lực lượng Cách mạng, vừa giữ gìn an ninh vùng giải phóng; đã bóc gỡ hàng trăm tổ chức ổ nhóm gián điệp của tình báo nước ngoài Trấn áp và làm tan rã hàng trăm tổ chức phản động, bắt giữ nhiều toán gián điệp biệt kích xâm nhập, thu giữ hàng trăm tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh và hàng chục ngàn tài liệu tình báo quan trọng về âm mưu, kế hoạch của đối phương, góp phần quan trọng vào việc chặt đứt thế liên minh, hợp lực giữa các thế lực nội phản và giặc ngoại xâm, cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi cuộc chiến tranh vệ quốc, giúp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Trang 3124
Từ thực tiễn chiến đấu và công tác, các cán bộ, chiến sĩ lực lượng Công
an nhân dân đã đúc rút nhiều kinh nghiệm nâng lên thành lý luận đánh địch sáng tạo và độc đáo, điều khiển địch phải hoạt động theo sự sắp đặt của ta Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, các thế lực thù địch ở nước ngoài câu kết với các tổ chức, cá nhân người Việt phản động lưu vong giáo diết tiến hành kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt Lực lượng Công an nhân dân đã tiến hành nhiều chiến dịch phản gián với quy mô lớn, bóc gỡ mạng lưới nội gián trong kế hoạch của Mỹ - Ngụy, làm phá sản âm mưu trong nổi dậy ngoài đánh vào của chúng
Bước sang những năm đầu của thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình chính trị của thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp Các thế lực thù địch và phản động đẩy mạnh chiến lược diễn biến hòa bình, tấn công ta toàn diện trên mọi lĩnh vực Chúng tuyên truyền đa nguyên, đa đảng, kích động các phần tử quá khích, bất mãn, cuồng tín biểu tình bạo loạn, gây ra những điểm nóng làm mất ổn định chính trị của đất nước, âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, kịp thời của Đảng, Chính phủ và Bộ Công an, lực lượng Công an nhân dân đã chủ động đấu tranh chống lại âm mưu, ý đồ chống phá của các thế lực thù địch, tập trung vào các thế lực tình báo, gián điệp và một
số đối tượng phản động, lợi dụng tôn giáo ở trong và ngoài nước
Những năm gần đây, vấn đề tôn giáo, dân tộc tại các địa bàn chiến lược nổi lên rất phức tạp do các tác động của các thế lực thù địch Chúng tập trung tuyên tuyền, kích động tư tưởng ly khai, đòi độc lập tự trị, tách ra khỏi nhà nước Việt Nam, một số đối tượng lợi dụng tôn giáo diễn ra quyết liệt, nhất là
ở ba vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Tay Nam Bộ Lực lượng Công an nhân dân
đã tham gia giải quyết nhiều vụ việc nghiêm trọng điển hình là vụ Tiên Lãng (Hải Phòng), Văn Giang (Hưng Yên), Cẩm Giàng (Hải Dương), Formosa (Hà
Trang 32Trong lĩnh vực kinh tế, lực lượng Công an nhân dân đã lập nhiều chiến công xuất sắc góp phần bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về kinh tế, góp phần từng bước phát triển môi trường kinh tế để thu hút, huy động các nguồn lực trong nước và quốc tế phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước Lực lượng Công an nhân dân đã chỉ đạo và tổ chức đấu tranh, khám phá nhiều vụ án kinh tế lớn, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Thời gian gần đây lực lượng Công an nhân dân đã chủ động nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh và xử lý nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, trốn thuế, gian lận thương mại, góp phần minh bạch hóa môi trường đầu tư,
hỗ trợ cơ quan thuế hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách nhà nước, được Chính phủ đánh giá cao Lực lượng Công an nhân dân đã phát hiện, đấu tranh với các vụ án lớn về tham nhũng, lạm quyền, buôn lậu Thành công qua các vụ
án không chỉ làm rõ ra các sai phạm, xử lý đúng người đúng tội, bảo đảm được các yêu cầu về nghiệp vụ pháp luật, thu về cho Nhà nước một lượng tài
Trang 33Lịch sử truyền thống của lực lượng Công an nhân dân là những trang
sử hào hùng đáng tự hào của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ được thử thách, rèn luyện và trưởng thành trong gian khổ để bảo vệ Tổ quốc Vượt qua nhiều gian nan thử thách, lực lượng Công an nhân dân trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng nêu cao lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Cách mạng, hết lòng phục
vụ nhân dân, đi theo con đường Cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã chọn Trải qua hơn 73 năm xây dựng và trưởng thành, lực lượng công an nhân dân đã làm nên những thành tích rất đáng tự hào, được Đảng, Nhà nước tặng thưởng huân chương sao vàng, huân chương Hồ Chí Minh và các loại huân chương cao quý khác Nhiều đơn vị, cá nhân cán bộ, chiến sĩ được tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trong giai đoạn Cách mạng mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, lực lượng Công an nhân dân tiếp tục phát huy truyền thống cao đẹp hoàn thành tốt nhiệm vụ trên mọi mặt trận bảo
vệ an ninh trật tự, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch và bọn tội phạm khác, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trước yêu cầu phát triển của đất nước, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ Công
Trang 3427
an nhân dân phải luôn trau dồi trình độ năng lực công tác, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, không ngừng phấn đấu vươn lên, trước hết phải tự đổi mới phương pháp làm việc, nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, pháp luật, quyết tâm vượt qua mọi thử thách, luôn đoàn kết, kiên quyết đấu tranh mọi
âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, góp phần cùng toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
1.3.2 Đặc thù giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân
Với đặc thù về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an nhân dân, việc giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ bên cạnh những kiến thức căn bản như giáo dục pháp luật cho các đối tượng khác thì giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân cần đòi hỏi cao hơn về cả số lượng và chất lượng giáo dục Cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân là những người đã qua tuyển chọn khắt khe, đầu vào đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về đạo đức, tiêu chuẩn về chính trị, là những người có đạo đức, trình độ, kiến thức nhất định Cùng với quá trình đào trạo trong các trường chuyên nghiệp thì mỗi cán
bộ, chiến sĩ Công an nhân dân là những người đã nắm được những kiến thức pháp luật cơ bản và được giáo dục pháp luật chuyên ngành Vì vậy trong quá trình công tác, giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ không còn đơn thuần là cung cấp văn bản quy phạm pháp luật mà còn là giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật, thái độ tuân thủ, nghiêm túc chấp hành pháp luật, tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, vì nhân dân phục vụ, sẵn sàng nhận và phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; giáo dục về tình hình tội phạm,
vi phạm pháp luật, tình hình thi hành pháp luạt, tình huống thực tế xảy ra để cán bộ, chiến sĩ có thể biết cách áp dụng pháp luật và các cách thức vận dụng trong các trường hợp cụ thể mà mình đối mặt khi thực hiện nhiệm vụ, đảm
Trang 35- Cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân, cả học sinh, sinh viên trong các học viện, nhà trường, cơ sở bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ Công an nhân dân;
- Cán bộ và các tầng lớp nhân dân;
- Người đang chấp hành án phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc; người đang bị áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; người đang chấp hành hình phạt quản chế, cải tạo không giam giữ, người bị phạt tù được hưởng án treo, người được đặc xá, người đã chấp hành xong hình phạt tù, người sau cai nghiện ma túy, cư trú trên địa bàn xã, phường, thị trấn
Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ giới hạn đối tượng nghiên cứu
là giáo dục pháp luật đối với các cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân là các sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật, chiến sĩ nghĩa vụ - những người đang trực tiếp thực hiện các chức năng, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong hệ thống cơ quan công an từ trung ương đến địa phương không bao gồm học sinh, sinh viên đang học trong các trường thuộc lực lượng Công an nhân dân Cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân
là những người trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các quan hệ pháp luật với tư cách là người quản lý xã hội Cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình là người đại diện cho Đảng và Nhà nước thực hiện các quyền và nghĩa vụ cụ thể trong quan hệ với nhân dân, vì vậy, thái độ và hành vi xử sự
Trang 3629
của cán bộ, chiến sĩ là tấm gương phản chiếu tính pháp chế của Nhà nước, có tác động rất lớn đến nhận thức, thái độ của người dân đối với pháp luật Yêu cầu mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân phải có nhận thức đúng mực về trách nhiệm của bản thân và được trang bị kiến thức và kỹ năng áp dụng pháp luật để đáp ứng các yêu cầu công tác
Việc giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân không chỉ đơn thuần là cung cấp kiến thức pháp luật mà còn là giáo dục phong cách làm việc, thái độ ứng xử, đạo đức, lối sống cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân Bởi trong mối quan hệ của giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân thì họ là đối tượng được giáo dục, nhưng trong quan hệ với nhân dân thì mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân lại chính là chủ thể giáo dục pháp luật
1.3.2.1 Nội dung của giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân
Nội dung giáo dục pháp luật là yếu tố quan trọng trong công tác giáo dục pháp luật Xác định đúng nội dung giáo dục là đảm bảo cần thiết để công tác giáo dục pháp luật có hiệu quả thiết thực, phải được xác định với các mức
độ phù hợp với từng loại đối tượng Cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân là những công dân phục vụ trong lực lượng Công an, nên đối tượng giáo dục vừa là công dân vừa là cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân Xuất phát từ đặc thù của đối tượng giáo dục pháp luật, mục đích của giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân mà nội dung giáo dục pháp luật có những nét riêng Vì vậy, đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân, nội dung giáo dục pháp luật chung bao gồm:
- Các vấn đề lý luận nhà nước và pháp luật (như các quan điểm, học thuyết về nhà nước và pháp luật; bản chất, vai trò của nhà nước và pháp luật; chức năng và bộ máy nhà nước; hình thức pháp luật và quy phạm pháp luật;
Trang 3730
hệ thống pháp luật; quan hệ pháp luật; ý thức pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; thực hiện pháp luật, vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý ) Đây là những kiến thức cơ bản, cần thiết, giúp cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân có đầy đủ khả năng tiếp cận với các quy định pháp luật cụ thể một cách nhanh chóng, chính xác và vận dụng một cách sáng tạo, đúng đắn trong khi thực thi chức trách, nhiệm vụ
- Những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về pháp luật
- Các quy định pháp luật cụ thể Trong những năm gần đây, thực hiện Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm
2010, định hướng đến năm 2020 và các Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, hệ thống pháp luật của Nhà nước ta ngày càng hoàn chỉnh, hàng trăm dự án luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, thông tư liên tịch đã được cấp có thẩm quyền xem xét, thông qua, số lượng các văn bản pháp luật là rất lớn, vì vậy, nội dung giáo dục pháp luật cần được lựa chọn cho phù hợp với yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ và thực tiễn công tác, chiến đấu của lực lượng Công an nhân dân
Căn cứ quy định của Luật phổ biến, giáo dục pháp luật và Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 17/11/2014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an thì nội dung giáo dục pháp luật của lực lượng Công an nhân dân tập trung vào Hiến pháp và các văn bản pháp luật về an ninh, trật tự (bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn
xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh), như Luật an ninh quốc gia, Luật Công an nhân dân, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam, Luật thi hành án hình sự, Luật cư trú, Luật phòng cháy và chữa
Trang 3831
cháy, Luật căn cước công dân, Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, Luật luật sư, Luật bảo vệ môi trường, Luật phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự và những văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật nói trên
Bên cạnh đó, việc trang bị những kiến thức pháp luật cơ bản như Luật Dân sự, Luật Hình sự, luật Hôn nhân và gia đình, Luật Giao thông đường bộ, thì cũng cần giới thiệu, phổ biến, quán triệt các văn bản pháp luật thuộc các ngành luật khác như pháp luật dân sự, pháp luật kinh tế, pháp luật lao động, pháp luật tổ chức bộ máy nhà nước, pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, các quy định về thực hiện quy chế dân chủ là cần thiết để phục vụ công tác chuyên môn và nhiệm vụ giáo dục pháp luật cho cán bộ và các tầng lớp nhân dân
- Tình trạng tội phạm, vi phạm pháp luật và tình hình thi hành pháp luật Bên cạnh các nội dung thuộc về lý luận và các quy định pháp luật cụ thể nội dung giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân còn phải quan tâm đến các chuyên đề về tình trạng tội phạm, vi phạm pháp luật và tình hình thi hành pháp luật Các chuyên đề này một mặt cung cấp cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân nắm bắt được thực trạng tình hình, diễn biến của tội phạm, vi phạm pháp luật trong đời sống xã hội ở cùng thời điểm, mặt khác cung cấp, giới thiệu những cách làm hay, nêu ra những bất cập, khó khăn và bài học kinh nghiệm trong quá trình áp dụng, thực thi pháp luật, qua đó, giúp cho những nhà làm luật, những cán bộ có trách nhiệm điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung kịp thời để đảm bảo cho pháp luật đi vào cuộc sống
- Kỹ năng thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật
Thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật là quá trình tổ chức để đưa pháp luật vào cuộc sống Muốn thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật đúng
Trang 3932
đắn và có hiệu quả thì điều quan trọng không chỉ là hiểu biết, nắm vững quy định yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật mà còn phải biết làm như thế nào để thực hiện đúng đắn các quy định của pháp luật và đáp ứng được đòi hỏi, yêu cầu của việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ Vì vậy, một trong những nội dung không thể thiếu của giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân chính là giáo dục các kỹ năng thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật
- Ngoài ra phải trang bị cho cán bộ, chiến sĩ các quy định Điều lệnh, Điều lệ Công an nhân dân, các quy định của Bộ Công an, chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của Công an nhân dân, các chỉ thị, mệnh lệnh của cơ quan cấp trên, quy định của lãnh đạo, chỉ huy đối với đơn vị
- Giáo dục ý thức, tinh thần trách nhiệm, đạo đức, nhân cách bản lĩnh người cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quản lý
xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao đạo đức” [30]
1.3.2.2 Hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân
* Hình thức là cái chứa đựng hoặc biểu hiện nội dung, là cách thể hiện, điều hành một hoạt động cụ thể Từ thực tiễn công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân được thể hiện khá đa dạng, dưới hình thức giáo dục pháp luật được áp dụng như:
- Giáo dục pháp luật trực tiếp thông qua các hội nghị phổ biến, quán triệt, các cuộc họp giao ban, đọc báo, hội nghị chuyên đề của đơn vị;
- Giảng dạy pháp luật trong chương trình chính khóa hoặc các chương trình ngoại khóa và các hoạt động ngoài giờ lên lớp của các lớp học ở hệ thống các trường Công an nhân dân, lớp bồi dưỡng, tập huấn, tập huấn chuyên sâu ;
- Giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo viết,
Trang 4033
báo hình, báo tiếng, cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử, hệ thống loa truyền thanh ;
- Biên soạn và phát hành, cung cấp thông tin, tài liệu, sách báo pháp luật;
- Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật;
- Giáo dục pháp luật thông qua việc xây dựng và quản lý, khai thác tủ sách pháp luật;
- Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động thực thi nhiệm vụ theo chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị;
- Giáo dục pháp luật thông qua các loại hình văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt câu lạc bộ
Trong công tác giáo dục pháp luật nói chung, giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân cần phải kết hợp các hình thức giáo dục khác nhau nhằm phát huy tối đa các mặt tích cực của từng loại hình thức để đạt được kết quả tốt nhất
* Về phương pháp giáo dục pháp luật, là cách thức tiến hành hoạt động giáo dục pháp luật, là các biện pháp giúp cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân tiếp cận được với kiến thức pháp luật, thông tin pháp luật để từ đó xây dựng tình cảm, ý thức và hành vi Có thể khái quát một số phương pháp sử dụng trong giáo dục pháp luật đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân như:
- Phương pháp giáo dục thuyết phục;
- Phương pháp nêu gương;
- Phương pháp rèn luyện;
- Phương pháp xử lý tình huống;
- Phương pháp thi đua;
Ngoài ra còn có các phương pháp bắt buộc xử phạt, vừa thuyết phục vừa bắt buộc Cần phải tùy từng điều kiện đơn vị cụ thể, mục đích cụ thể để